24/4/10

trungkhoi LƯU AVRIL - 2010 * 1

LS Lê Thị Công Nhân tham dự Thánh lễ vọng Phục sinh 2010 tại Thái Hà . 
Phái đoàn Quốc Hội Việt Nam CS  bị phản đối tại Quốc Hội California
Cuộc nội chiến : Nam Bắc của Hoa Kỳ ( 4-1865 ) và Trên quê hương tôi (04-1975)
Thông Cáo:TNCV  Ủng hộ biểu tình chống Việt gian Nguyễn Tấn Dũng đến Washington D.C.
NHẠC BẢN THANH NIÊN CỜ VÀNG
THÔNG BÁO CỦA HỘI HẢI QUÂN VÀ HÀNG HẢI VNCH MIỀN ĐÔNG BẮC HOA KỲ
Linh mục Nguyễn Văn Lý gặp Đại sứ Canada tại Việt Nam qua điện thoại
XE HƠI BAY * Terrafugia đã hoàn tất chuyến bay thử nghiệm
Chống cuộc viếng thăm của Hồng y Mẫn là chống một người đã sỉ nhục Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và Căn Cước Tỵ Nạn * Bác sĩ Vũ Linh Huy
CHÍNH ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN VN ĐÒI BỎ CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN - LÝ ĐẠI NGUYÊN
Liệt sĩ nước “lạ” trên đất Việt
Lê Thị Công Nhân – nạn nhân từ hai phía!
Hình Ảnh LM Nguyễn Văn Lý Chuẫn Bị Dự Lễ Phục Sinh 2010
Tin đồn về đời tư của tổng thống Pháp Sarkozy và phu nhân Carla Bruni
Sau 35 Năm Ly Hương Chúng Ta Nghĩ Gì? * Hướng Dương txđ
Thứ Sáu, 9/4/2010 - Đức TGM Ngô Quang Kiệt Bất Thần Trở Về Hà Nội

 

Washington DC - 12*13*14-04-10 BIỂU TÌNH ĐÒI GIẢI TÁN ĐẢNG CSVN
NHATRANG , NƠI BẠN TÔI NẰM ĐÓ - HQ Trung tá Hà Ngọc Lương

Văn hóa đấu tố, "Thánh Nữ" thành con thằng cuội!

http://trungkhoi.over-blog.com/ext/http://bienxua.over-blog.com/article-chinh-ng-vien-c-ng-s-n-vi-t-nam-oi-b-ch-ngh-a-mac-lenin-l-i-nguyen-48205048.html

Văn hóa đấu tố, Thánh Nữ thành con thằng cuội!


Ở miền quê, thường thì nhà nào cũng nuôi chó để giữ nhà. Việc nuôi chó ở Việt Nam ngày xưa rất đơn gỉản. Bao nhiều cơm thừa canh cặn, những đồ ăn thiu, kể cả thối, đều dành cho chó. Tuy thế, chó làm việc rất chăm chỉ, đắc lực để trả ơn. Đặc biệt về đêm, con chó thành một chiến tướng canh gác, bảo vệ cho cả nhà an giấc.


Trong xóm, gần nhà tôi, có một con chó rất dữ. bọn học sinh chúng tới có quậy mấy cũng phải né. Tôi nhớ, khi còn nhỏ, mỗi lần phải đi qua đầu ngõ căn nhà có con chó dữ ấy, tôi rất sợ. Tôi chỉ sợ nó nhẩy xổ ra và cắn tôi. Có lần sợ qúa, tôi níu chặt lấy mẹ tôi và không chịu đi ngang qua đó nữa. Mẹ tôi bảo: Ơ hay, con lại sợ con chó à? Sợ chứ mẹ, con là người còn nó là con chó. Nó có biết gì đâu! Mẹ tôi mỉm cười bảo tôi. Ừ con còn nhỏ, con sợ là phải. Mai một thì con hết sợ nó. Bởi lẽ, chả có con chó nào thấy bóng người mà không sủa. Nhưng đường con, con cứ di, đừng sợ tiếng sủa bên đường. Mẹ, mẹ nói sai rồi, mấy con chó không dám sủa khi thấy Việt cộng hay Hồ chí Minh đâu. Nó chỉ sủa người mình thôi. Ai bảo con thế? Bố. Bố bảo đấy! Khi chúng mò về làng, thôn ấp, con chó nào sủa, làm hỏng “sự nghiệp” ăn đêm của chúng là chúng nó bóp cổ chết ngay! Mẹ tôi bảo: Nhưng con không phải là Việt cộng, cứ ngay thẳng mà đi.


Câu chuyện ấy xảy ra lâu rồi, đến nay vẫn còn vài điểm đúng.
- Này anh, này chị, các anh chị nghĩ gì về việc Lê thị Công Nhân vửa chuyển nhiệm sở từ nhà tù nhỏ sang nhà tù lớn.
- Thì mừng cho chị ấy được vào nhà tù lớn với mình.
- Thưa cụ ông, cụ bà, cụ có vui khi Lê thị Công Nhân vừa thoát tù ngục cộng sản không ạ?
- Người ấy là ai? Là quân cướp của, giết người hay là đoàn đảng viên Việt cộng?
- Dạ thưa cụ, cô ấy còn trẻ lắm. Cô ấy là người có học. Cô áy lý luận đòi nhà nước phải trả Tự Do, Công Lý lại cho nhân dân ta ạ?
- Vậy thì chiều nay tôi làm cốc rượu mừng! May ra trời lại thương giống dân mình chăng?.
- Này em, em biết chị Lê thị Công Nhân không?
- Thưa, Sẽ là ánh đuốc của tuổi trẻ chúng em ạ.
- Còn anh chị cán nghĩ sao về việc nhà nước ta thả Lê thị Công Nhân về?
- Là một sai nhầm nhớn! Của ấy thì cứ cho tù rục xương mới phải?
- Đồng chí chỉ biết một mà không biết hai. Đảng ta cho nó về là để chúng nó giết nhau đấy. Chứ nhốt nó ở trong tù chỉ hoài cơm gạo xã hội chủ nghĩa, còn làm cái đích cho chúng tụ lại chống phá nhà nước thôi.
- Báo cáo đồng chí, sao không tống nó ra ngoại?
- Trải thảm cho nó lên máy bay, đưa tiền vào trương mục riêng cho nó, nó cũng không thèm đi!
- Thưa đại cán…. bút Duyên Lãng, ông nghĩ sao ạ?
- Nó là Thánh Nữ con của thằng cuội đấy!

Thì ra thế, cùng một người là Lê thị Công Nhân vừa ra khỏi nhà tù cộng sản mấy tuần trước. Nay lại có nhiều khuynh hướng trả lời khác nhau về cô. Câu trả lời có khi lại đối chọi nhau nữa. Nếu bên này là vì nhân bản là tình người, là chân thật nghĩa khí mà trả lời. Phía bên kia có lẽ cũng nhân danh sự thật bệnh hoạn của họ để trả lời đấy. Có khác, là trong những câu trả lời ấy không có tính Nhân Bản Thiện mà thôi!
Thật vậy, nếu trên đỉnh núi có muôn lời ca vang làm cho lòng người rung động trong niềm vui hoan lạc, trong hạnh phúc, thì thật khó tránh cảnh ở dưới lũng sầu luôn có lũ côn trùng, sâu bọ thi nhau phun nhả ra những mùi xú uế để làm vơi đi niềm vui đang hiện hữu của người. Như thế thì việc LTCN có bị đấu tố cũng không có gì là lạ.


1. Lý do và mục đich của những cuộc đấu tố:
Phải nói ngay, chẳng có một lý do nào khả dĩ được gọi là chính đáng để làm nền cho người ta mở ra một cuộc đấu tố người khác. Đơn giản hơn, chẳng có một loại luật pháp nào cho phép ngưòi ta mở những cuộc đấu tố, nếu như không muốn nói những cuộc đấu tố này hoàn toàn chống lại các trường hợp của pháp luật. Vì không có cơ sở dựa vào các nguyên tắc pháp lý nên tất cả mọi cuộc đấu tố, dưới mọi hình thức bạo lực hay truyên truyền đều tựa vào những lý do rất hàm hồ, nhưng lại có thể tạo ra mâu thuẫn. Từ điểm tự tạo ra mâu thuẫn này, kẻ đứng ra đấu tố sẽ khích động người khác cùng nhập cuộc để mong đạt được mục dích của cuộc đấu tố là: Triệt hạ sức sống hay sự sống về cả mặt tinh thần lẫn thể chất của đối tượng
Chứng minh cho đoạn viết trên là chính cuộc đấu tố do Hồ chí Minh phóng tay phát động trên toàn miền bắc 1953-1956, Việt cộng đã triệt tiêu sự sống của trên 100,000. đồng bào Việt Nam và hàng trăm ngàn người khác bị tổn hại về tinh thần, sức sống, cũng chỉ đặt trên một cái lý do rất mơ hồ là đối tượng thuộc thành phần Tri Phú Địa Hào! Nhưng tại sao thành phần Trí Phú Địa Hào lại phải bị đấu tố thì ngay cả cái tập đoàn bạo ác do Hồ chí Minh cầm đầu với tất cả quyền hạn ở trong tay, cũng không thể nào tạo ra được một vài cơ sở pháp lý để làm nền cho cuộc đấu tố này thành hợp pháp. Theo đó, lịch sử sẽ có đầy đủ chứng liệu để lên án những tội ác phạm đến con người của chúng . Riêng cá nhân Hồ chí Minh thật khó thoát cái tội là đồ tể của dân tộc Việt Nam.


2. Các loại đấu tố:

2.1 Đấu tố do tập thể lãnh đạo. Có thể nói một cách không sai lầm, đấu tố là sách lược cơ bản và quan trọng nhất trong số các sách lược do Việt cộng chủ trương mở ra với chủ đích nắm giữ lấy độc quyền chính trị. Theo đó, mặt đối ngoại, Việt cộng chưa bao giờ và sẽ không bao giờ có ý định ngưng lại các cuộc đấu tố đồng bào của mình. Có thể vì tình thế, chúng chỉ thay đổi ít nhiều về mặt hình thức của cuộc đấu tố. Nhưng mục đích vô đạo của các cuộc đấu tố là triệt hạ sự sống, sức sống của đồng bào trên cả phương diện tinh lần lẫn thể chất thì không đời nào thay đổi. Mặt đối nội, chúng gọi là đấu tranh phê bình kiểm thảo. Đây cũng chỉ là một hình thức khác của cuộc đấu tố trong nội bộ mà chúng dành cho nhau dưới một mỹ từ khác mà thôi. Với nghề đấu tố do tập thể lãnh đạo này, đối tưọng trong cũng như ngoài, hầu như không có lối thoát.



2.2 Đấu tố do cá nhân tổ chức. Bản chất của các cuộc đấu tố vốn dĩ đặt trên nền tảng của gian dối với những lý do mơ hồ. Từ đó người tổ chức đấu tố sẽ tạo ra những mẫu thuẫn từ những dẫn chứng sai lệch để lôi kéo, khích dộng người khác đứng về phía mình mà đấu tố đối tượng. Thí dụ như, thành phần phản động, phản quốc và thêm một cụm từ rất mới lạ “Thánh Nữ con của thằng cuội”. Từ vỏ bọc ngụy tạo, gian dối nên nó cũng rất khó che đậy những nhỏ nhen, ghen tương, bệnh hoạn, bạc nhược, đố kỵ. Kể cả cái bản chất bất lương của ngườì đấu tố cũng dễ bị phơi bày ra ánh sáng, công luận. Theo đó, đã có khá nhiều cuộc đấu tố do cá nhân khởi xướng, tưởng rằng đối tượng phải gục chết, bị tàn lụi sức sống. Kết qủa, kẻ khởi xướng rước lấy toàn bộ kết qủa tái quy. Đôi khi lại còn phải đáo tụng đình vì cái tội phỉ báng hay mạ lỵ, xúc phạm đến danh dự của đối tượng.


3. Nạn nhân của các cuộc đấu tố:


3,1 Những nạn nhân được gọi là thành phần Trí Phú Địa Hào.
Trên 100,000. ngàn ngưòi Việt Nam đã bị chết trong các cuộc đấu tố do Hồ chí Minh phóng tay phát động trong chiến dịch gọi là : Trí Phú Địa Hào. “Đào tận gốc, trốc tận rễ”. Cuộc đấu tố này đã thành công trên ít nhất hai mặt chính: Triêt hạ toàn bộ sức sống của những thành phần cơ bản của quốc gia. Gieo rắc kinh hoàng sợ hãi cho dân chúng để chúng tự tung tự tác nắm quyền lực, tự chuyên xây dựng một nền văn hóa vô dạo, phi luân lý cho những thế hệ kế tiếp, rồi đưa đất nước vào vòng nô lệ cho Tàu cộng. Vào lúc phát động mùa đấu tố, chưa ai nhìn ra được chủ đích của nó. Nay thì sự việc đã được nhà nước Việt cộng trình diễn trước mặt mọi người. Chúng tàn sát đồng bào ta để phục vụ cho chủ nghĩa bá quyền Trung cộng. Nhưng lịch sử không phải đã chấm hết vào ngày hôm qua, hay ngày hôm nay, hoặc vĩnh viễn khép lại với cái nghiệp chướng cộng sản. Theo đó lịch sử mai hậu sẽ có phán xét nghiêm minh về những tội ác này.



3.2 Tổng Giám Mục Hà Nội, Giuse Ngô Quang Kiệt.
Có thể nói rằng: Tổng Gíám Mục Hà Nội, Giuse Ngô Quang Kiệt nổi lên như một biểu tượng, như một vì sao dẫn đường cho người dân tạo lại niềm tin để đi tìm Chân Lý. Thật vậy, giữa cái thời mà người ta chỉ biết gian dối, chỉ biết lừa nhau, chỉ biết tính toán cho mình để mà sống thì việc quên mình, đến với tha nhân thật không dễ chút nào. Nó không dễ vì nhiều lý do, trong đó có thể kể đến sự kiện người ta đã mất niềm tin nơi nhau. Không tin nhau từ trong nhà ra xã hội. Ngay trong tôn giáo cũng không có ngoại lệ. Câu nóí “Tin đạo, chứ không tin người có đạo” đã phản ảnh đúng tâm trạng của mọi người vào lúc này. Họ đến nhà thờ đọc kinh, dâng lễ, nhưng tin ông cha, tin người cùng đi nhà thờ với mình hay không lại là một chuyện khác. Trường hợp gặp những thầy lừa như Trương bá Cần, Huỳnh Công Minh, Vương đình Bích, Phan khắc Từ… mà đặt niềm tin là chết không kịp trối! Vậy mà Đức Tổng Giám Mục Hà Nội lại có ngoại lệ.

Ông trở thành ngoại lệ là bởi, ở nơi ông, xem ra một vị Giám Mục đứng giật chuông treo trên cành cây nhãn ở Lạng Sơn trước giờ kinh hay một Tổng Giám Mục tươi cười với đoàn chiên sau giờ dâng thánh lễ ở giữa Hà Nội cũng không có gì là khác biệt. Bởi lẽ ở nơi ông, vẫn hiễn hiện một hình bóng của vị mục tử luôn khát khao đi tìm Chân Lý và dựng lại niềm tin cho đời đi tìm Tự Do trong cuộc sống. Hơn thế, ông không sủng ái quyền lực mà cũng không khinh chê đồng bào nghèo khó của mình. Ông đã công khai đọc Tuyên Ngôn Chân Lý ngay trước công đường của bạo quyền Hà Nội rằng: “Tự Do tôn giáo là cái quyền của con người, không phải là một ân huệ Xin – Cho”. Nhưng lại cũng con người ấy, tay chống gậy tre, quần lăn lên qúa gối, chân mang dép thô mà lội nước bùn đọng ngang đùi mà đi thăm đân trong cơn lũ lụt.
Kết qủa, Hà Nội bị chìm sâu trong gian dối sau mấy chục năm trời dưới chế độ cộng sản, đã bừng tỉnh, đã tìm lại được sự sống, đã tìm lại được niềm tin, đã dám thách thức đối đầu với bạo lực bằng những lời kinh và bằng những cành thiên tuế trong tay rảo bước khắp mọi ngã đường của thành phố để đòi một điều đáng sống: Tự Do và Công Lý!
Ở một chiều khác, khi bóng của Ông đã trỗi vượt lên đỉnh cao. Tiếng nói công lý của Ngài đã trải rộng ra đều khắp cả mọi nơi, khả dĩ tạo thành sức mạnh tiêu diệt tận căn, gốc rễ của gian dối. Tập đoàn cộng sản Hà Nội hoảng hốt. Chúng chỉ còn một từ duy nhất để đồi phó với ông: Đấu tố nó, đấu tố nó đi!
Kết qủa, Tổng Giám Mục Hà Nội, Ngài Ngô Quang Kiệt không chết. Trái lại còn chiếm được trọn vẹn trái tim của, không riêng dân thành Hà Nội, nhưng là trên cả nước và trải rộng ra hải ngoại. Tên Ngài trỗi vượt lên như một biểu tượng của Công Lý đối kháng với một tập thể gian dối và bạo lực. Ngài Ngô Quang Kiệt không chết, không phải là vì Việt cộng không muốn giết Ông, cũng không phải là chúng đã biết học cách làm người. Nhưng vì toàn bộ cuốn phim ghi âm, ghi hình còn đây. Âm thanh, tiếng nói, mang trọn niềm thương dân thương nước của ông còn đây. Nên từ đó, người ta tìm ra sự thật. Gian dối đã không lừa đảo được con người. Hơn thế, khát vọng của Ông với đất nước, sự biểu lộ tâm tình của Ông với người dân, cũng như hướng đi tìm Tự Do, Công Lý của Ông đã đuợc mọi người đón nhận. Họ theo ông, họ tin rằng hướng đi chân thật ấy sẽ là đường, là đèn soi, xóa tan đi bóng đêm của bạo tàn, để mở ra một một kỷ nguyên an bình cho đất nước, cho mọi người, hơn là cho bản thân Ông.


3.3 LS Lê thị Công Nhân,
Kể từ ngày 03-02-1930 đến nay đã có rất nhiều người Việt Nam, tuy không lên tiếng chống cộng sản cho đến chết. Nhưng họ đã lấy chính máu xương ra để bảo vệ quê hương thay cho muôn lời nói. Đó chính là những quân cán chính và đồng bào của Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng Lê thị Công Nhân, lại là một khác biệt. Cô sinh sau cái ngày Việt Nam đã rơi vào tay cộng sản. Và có lẽ, cô là người thứ hai đã công bố rõ ràng hướng đi của minh khi bước vào đường tranh đấu cho tự do Dân Chủ, Nhân Quyền và Công Lý cho Việt Nam.

Người thứ nhất là cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Khi đứng ra xây dựng toàn bộ hệ thống chống cộng sản cho miền nam Việt Nam, ông đã tuyên bố: ” Tôi tiến, đồng bào hãy tiến theo tôi. Tôi lùi, hãy bắn tối” Kết qủa, vị Tổng Thống đạo đức, liêm khiết, thương dân yêu nước của nền đệ Nhất Cộng Hòa đã không chết vì viên đạn của kẻ thù vô đạo, gian dối Hồ chí Minh. Nhưng lại chết vì viên đạn của những kẻ phản bội. Nói trắng ra, chỉ vì 3 triệu bạc của CIA, những danh hề mãi võ Sơn Đông là Minh, Đôn, Đính, Xuân, Mậu Nghiêm, Kim, Khiêm, Khánh…đã chia nhau túi tiền rồi giết ông và hai bào đệ của ông. Nghiệt ngã thay, lịch sử không dừng lại ở cái ngày chúng giết ông, nhưng còn kéo dài tới hôm nay để những ”gía áo túi cơm” này trở thành những “ma dại không nhà”, nương nhờ áo cơm nơi xứ người!
Người thứ hai là Lê thị Công Nhân: “Tôi sẽ chiến đấu tới cùng cho dù chỉ còn một mình tôi, trước hết là giành lấy nhân quyền cho chính mình, và giành lấy nhân quyền, dân chủ và tự do cho người Việt Nam. Và Cộng sản Việt Nam đừng có mong chờ bất kỳ một điều gì dù chỉ là thỏa hiệp, chứ đừng nói là đầu hàng từ phía tôi.”
Chỉ ba giờ sau khi công khai công bố hưóng đi của mình, Lê thị công Nhân đã bị Việt cộng bắt giam và đấu tố ròng rã trong 3 năm, từ nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội cho đến trại tù Thanh Hóa. Sau ba năm, cô cũng không chết và đã chuyển đổi nhiệm sở sang nhà tù lớn với toàn dân Việt Nam vào ngày 10-30-2010.
Rồi sau ngày ra khỏi lao tù nhỏ, trong bài trực tuyến nói chuyện với Ô. Cao Quang Ánh, Dân Biểu Hạ Viện Hoa Kỳ, trong dó có đoạn như sau: “ Biết nói thể nào đây nhỉ? Hai cái quốc hội này nó khác nhau nhiều qúa…. Tôi mong muốn là sẽ sớm hay gần đây Quốc Hội Việt Nam được một phần như Quốc Hội Hoa Kỳ. Một phần ở đây tức là bản chất của nó cần phải được thay đổi… Tôi mong muốn rằng sẽ có nhiều hơn nữa các cuộc giao lưu và cuộc làm việc giữa hai cấp quốc hội. Cho dù là quốc hội Việt Nam nó có thấp kém và tồi tệ thế nào chăng nữa thì cái việc, mà bây giờ mình thấy người ta không tốt mà cứ để mặc kệ thì bao giờ người ta mới thay đổi đây. Đấy, nên tôi nghĩ rằng tôi mong QH Hoa Kỳ sẽ có thể mạnh dạn hơn nữa, khoan hoà hơn nữa để có cái mối giao lưu tìm hiểu đối với QH Việt Nam, mà từ đó, cụ thể là các đại biểu QH Hoa Kỳ người ta sẽ biết và người ta sẽ có được những ảnh hưởng nhất định. Có đúng như thế không ạ? Nói một lần không được thì nói hai lần. Nói hai lần không được nhưng nói đến môt trăm lần… thì cũng chưa chắc chắn là đã có được ảnh hưởng tích cực. Nhưng cũng không nên cắt dứt quan hệ… cũng không nên tụt giao…”
Tôi không phải là người hiểu rộng, viết nhiều. Mà có lẽ cũng chả cần gì phải hiểu rộng, biết nhiều mới hiểu được ý, gỉải thích được nghĩa của đoạn văn nói này. Theo đó, tôi cho rằng: Đây là một đoạn văn nói rất chững chạc, mạch lạc, ý nghĩa sâu sắc. Đoạn văn gần như chuyên chở đầy đủ những bản lãnh của ngưòi đang trình bày là:


1. Tri , Trí, Thức: Nghĩa là biết mình, biết người. Biết tôn trọng mình, biết tôn trọng người và còn biết tôn trọng cả một tập thể có quyền lực phía sau người đối thoại với mình nữa. Tuy thế, rất hài hòa trong ngôn từ, không hề khúm núm.


2. Bao Dung- Khoan Hòa. Lê thị Công Nhân biết rõ, cộng sản, kẻ thù của dân tộc Việt Nam là một tập đoàn “ phát xuất từ một cái nền văn hóa thấp từ một cái văn hoá (tôi muốn nói đây là CSVN) thấp kém, một phương pháp đấu tranh hoàn toàn phi nhân đạo, phi nhân bản, là chuyên chính, bạo lực, vô sản để đàn áp, để trấn áp con người với một mục tiêu hoàn toàn phi đạo lý, vô chính trị và có thể nói là phi pháp nữa” Chúng có một cái bản chất như thế, nhưng cô lại không ôm mộng trả thù mà yêu cầu “ngoại bang”: hỗ trợ cô, giúp cô tiêu diệt chúng, hoặc gỉả, căt dứt ngoại giao, trừng phạt chúng. Trái lại, cô bao dung khoan hòa, kiên nhẫn, đề nghị với những người khách kia, trong phạm vi của họ có thể, xin hãy giáo dục, dạy dỗ chúng. Giáo hóa một lần chưa được thì hai lần và có thể hàng trăm lần cũng chưa được như ý, nhưng ít ra nó cũng ảnh hưởng được một phần nào trong số những lời giáo hóa về Nhân Bản, về Nhân Quyền, về Tự Do, về Dân Chủ để chúng có thể thay đồi đưọc một phần cái bản chất man rợ của chúng!


3. Đức Độ: Đoạn văn nói này còn nói lên tính Đức Độ là bản sắc của dân tộc Việt ẩn sâu trong tâm tình của một người đi tranh đấu cho sự nghiệp của quê hương. Cô không màng đến võ trang. Cô chấp nhận thiệt thòi cho mình bằng cách “nhập ngục cứu quốc” hơn là thấy máu xương của đồng bào, kể cả máu xuơng của kẻ thù phải đổ ra để giải quyềt vấn đề. Bởi lẽ, trong cô đã có sẵn ý niệm phải giáo dục, dạy dỗ chúng quay trở về với nhân bản tính của nòi giống Việt hơn là chém giết chúng. Cô đã thấm nhuần tinh thần của Bình Ngô Đại Cáo “Lấy chí Nhân để thay cường bạo”
Với kẻ thù xâm lược cha ông ta còn có tình thần tha thứ giáo huấn, tại sao ta không đem tinh thần ấy để cải tạo những chỗ còn có thể cải tạo ở trong những con ngừời trong tập đoàn cộng sản? Máu xương của dân tộc ta nên qúy trọng vì còn phải bảo vệ biên giới của quê hương. Nghĩa khí thay! Tôi tin rằng, cộng sản rất đau đớn khi nghe nhắc đến đọan văn nói này. Nhưng chúng không thể không tâm phục khẩu phục, một người có tấm lòng đức độ vì quê hương và với đồng loại như cô.


Theo đó, nếu tên tuổi của cô, vào lúc này, có được đồng bào nhắc nhở đến với lòng thương mến nhiền hơn Hồ chí Minh cũng không có gì lạ! Bởi lẽ từ tâm hồn đến thể chất cô đều tốt đẹp hơn Hồ. Tuy nói thì như thế, nhưng thật ra tên tuổi của Hồ chí Minh vượt trội hơn cô và tất cả những người Việt Nam khác rất nhiều. Cô cùng lắm là đứng vào hàng hậu duệ của hai bà Trưng bà Triệu thôi. Phần Hồ chí Minh thì đứng trên đỉnh cao chói lọi của gian ác, của bán nước hại dân và đứng trước cả những cái tên như Lê chiêu Thống, Trần ich Tắc, Mạc Đăng Dung nữa kìa!


Trở lại vấn đề, một bài nói trực tuyến chững chạc, đường hoàng, đanh thép, tri thức, bao dung, khoan hoà, chưa dám nói đến việc bao gồm cả tình thương đồng loại, yêu nước, nhưng rất tầm vóc như thế, có bị Việt cộng đem ra chặt chém, làm nền cho cuộc đấu tố cô, không có gì là lạ. Điểm lạ ở đây. Việt cộng chưa hề chém, chặt, ghép lại một chữ nào trong lời nói của cô để mở cuộc đấu tố như chúng đã làm với vị TGM thành Hà Nội vào sau ngày 20-9-2008. Nhưng quan cán…. bút Hà tiến Nhất của làng Duyên Lãng đất Thái Bình, đang hưởng lạc trong chuỗi ngày về chiều trên đất cờ hoa, lăn cao tay áo lên, dùng dao… phay mà chặt chém, ghép lại thành bài để mở cuộc đấu tố LTCN. Nghe nói, được cả ông quan thật, họ Phùng tên Sa, cựu thiếu tá hay là trung tá trong QLVNCH trước kia phụ họa, mới là chuyện kinh hoàng!


Xin bạn đọc, đọc lại đoạn tôi trích ở trên và đọc đoạn chặt chém của quan cán… bút Duyên Lãng ở dưới đấy thì hiểu biết về ông và chủ đích của ông trong đoạn chặt chém hơn là tôi trình bày: Quan cán chém vè như sau:“ Quốc-hội Mỹ và Quốc Hội VN cần phải giao lưu và làm việc với nhau. Mong Quốc Hội Mỹ hãy khoan hòa, bao dung, và giúp đỡ Quốc-hội VN, đừng đẩy họ vào con đường cùng. Cho dù 1 lấn, 2 lần, 5 lần hay 100 lần hoặc hơn nữa, Quốc Hội Mỹ cũng vẫn tiếp tục giúp đỡ Quốc-hội VN, như thế thì mới mong thay đổi được”.


Đoạn trích của quan cán bút họ Hà chả có mấy chữ dính với cái bản tôi ghi ở trên. Nhưng dựa trên đoạn chém này, quan đã viết một bài dài, toàn là những lý do hàm hồ để đấu tố Lê thị Công Nhân và đưa ra kết luận LTCN là “ Thánh Nữ con của thằng cuội gốc cây đa Tân Trào”. Tôi cho cái kết luận ấy là không công bằng. Nên ở đây tôi xin được mở một dấu ngoặc là. Nếu quan cán người đất Duyên Lãng họ Hà nhất định đề bạt LTCN vào cái chức “ Thánh Nữ con của thằng cuội gốc cây đa Tân Trào” thì không biết bản thân quan cán sẽ nhận cho mình một tước vị nào cho xứng tầm với bài viết này nhỉ? Tôi nghĩ có lẽ là “ Con, kẻ thừa tự của Thằng Chí Phẻo ở làng Vũ Đại”. Tiếc là nhà văn Nam Cao không đề là làng Duyên… Lãng!


3.4 LM Nguyễn văn Lý:
Tôi nghĩ, không cần nói, không cần quảng diễn thêm bất cứ một điều gì về nhân vật đã tạo nên tấm hình “bịt miệng” lich sử trong công cuộc tranh đấu cho Tự Do, Nhân Quyền, và Công Lý cho Việt Nam của ông nữa. Bởi lẽ, chính bức hình ấy, không cần giải nghĩa thêm, tự nó đã có khả năng truyền đạt di bằng cả hàng trăm thứ ngôn ngữ khác nhau cho tất cả mọi sắc dân cùng hiểu biết rồi. Nói thêm về ông, về cuộc tranh đấu của ông là thừa.


Tuy nhiên, sau ba năm ngày tạo ra bức hình lịch sử ấy, ông bị tai biến mạch máu não trong tù, Việt cộng cho ông về nhà chung Huế để cho gia đình và giáo hội chạy chữa cho ông. Đây không biết là vì lý do nhân đạo hay là vì sợ ông chết ở trong tù gây ra oan khiên cho bác và đảng, nên chúng phải cho ông trở về nhà Chung. Sau khi về, trong một bài phỏng vấn trả lời cho đài BBC ông nói”

“Nhưng tôi nghĩ quan trọng là phải nghiêm túc suy nghĩ, công việc hiện nay phải được hướng dẫn bởi một lãnh tụ tài đức vẹn toàn. Phải có một học thuyết đủ sức thay thế chủ nghĩa Marx - Lenin, có đường hướng sát thực tế để người ta nhìn vào mà hy vọng rằng con đường ấy, tổ chức ấy sẽ làm cho Việt Nam ổn định hơn Indonesia, Thái Lan, Philippines. Nếu chúng ta ảo tưởng thì sẽ thất bại.
Bao nhiêu người có tâm huyết, muốn thay đổi, nhưng thay đổi thế nào? Nếu thay đổi mà mất ổn định, tình hình xấu hơn cả Thái Lan, Indonesia, Philippines, thì thà cứ để yên cho Đảng Cộng sản lãnh đạo”


Muốn để Việt Nam huy hoàng hơn, thăng tiến hơn, đạo đức hơn, có nền tảng vững chắc hơn thì tổ chức ấy phải hội đủ nhiều điều kiện lắm. Nếu như không, cũng chỉ mơ tưởng với nhau vậy thôi còn trong thực tế, không thể thành công.”



Nguyên đoạn văn này rất đứng đắn và có tính xác thực, thực tế mà bất cứ một người Việt Nam nào còn tâm huyết với quê hương cũng phải nhắc đến và công nhận là đúng. Bởi nếu chúng ta không có một chương trình dài cho đất nước. Cứ tào lao mơ mơ hồ hồ như hiện nay, hay trước đây. Hết đảo chánh này đến đảo chính khác, hết đảo chánh sang chỉnh lý rồi lại đảo chánh… hụt! Không có được một giải pháp thống nhất cho một đường lồi của quốc gia lâu dài. Ai cũng là chúa, không ai chịu đứng thứ hai. Đây một tổ chức nhất đẳng, kia là đảng phải đứng đầu. Rồi bên kia lại gõ trống, không có tôi cầm cờ đầu là không xong thì có đến tết…. tết gì nhỉ? Chớ bảo là tết Công gô mới thành sự nghiệp đấy. Bởi lẽ Công gô cũng mỗi năm có một lần tết! ….. mới thành nghiệp. Bởi lẽ, đánh theo kiểu này thì cộng chưa chết, người phía ta đã theo ông bà cả rồi. Âý là chưa kể đến việc. Ta đánh ta tận tình lắm, nhưng đánh cộng thì… run !


Như thế, đoạn nói này của LM Lý phải được coi là một sự cảnh tình thành tâm, gởi đến những người còn nghĩ đến quê hương. Đề nghị họ phải thực tế ngồi lại mà đặt ra một hướng đi cho cặn kẽ thì mới mong đạt mục đích. Nếu không, cũng chả nên làm đổ máu và tạo thêm thống khổ cho dân nữa! Ấy là chưa kể đến mục đích cao xa hơn, một tầm với mới mà LM Nguyễn văn Lý đã sớm đặt ra cho một ước mơ lớn, Việt Nam sẽ trưởng thành, có tiếng nói trong trường quốc tế!


Ý nghĩa của nó rõ ràng như thế. Nhưng những tay bút, cũng có cả quan cán đất Duyên lãng nữa, hình như thuận nghề cầm dao hơn cầm bút đã chặt chém ra thành nhiều khúc và chỉ lấy một khúc giữa “Bao nhiêu người có tâm huyết, muốn thay đổi, nhưng thay đổi thế nào? Nếu thay đổi mà mất ổn định, tình hình xấu hơn cả Thái Lan, Indonesia, Philippines, thì thà cứ để yên cho Đảng Cộng sản lãnh đạo” . rồi tổ chức đấu tố ông. Chỉ căn cứ vào thái độ đấu tố ông thôi, người ta có thể đoán ra phần nào cái kết qủa tang thương của cuộc tranh đấu hiện nay. Tệ hơn thế, cái kế, thả ông ấy ra để cho chúng giết nhau của Việt cộng lại có cơ được thực hiện một cách tận tình bởi những người cứ cho mình là quốc gia, nhân bản!


Với tôi, tôi không tin là LM Lý sẽ chết vì những cuộc đấu tố kiểu này. Bởi lẽ, tuổi trẻ ngày nay thực tế hơn. Họ nhìn thấy vấn đề và dấn thân. Họ không bạc nhược vì những cú chém như thế. Có điều, người ta sẽ thắc mắc là: Không biết họ nhân danh ai, nhân cái gì mà ra hay chặt chém những người đã vào cuộc như thế? Ước mong họ đừng nhân danh đồng bào khốn khổ Việt Nam mà ra tay đấu tố LM Nguyễn văn Lý hay Lê thị Công Nhân. Được như vậy cũng là qúa hạnh phúc rồi, chứ nào dám mong cầu họ nhập cuộc cứu nạn khổ cho đời!!


4. Kết qủa của những cuộc đấu tố.
Một câu hỏi được đặt ra là: Sau hơn 70 năm bị Việt cộng đấu tố, dân ta được những gì?

1 : Có trên 170000 người Việt Nam đã mất cuộc sống và hàng trăm ngàn người khác bị tan nhà nát cửa và bị đày vào cuộc sống đầy bóng đêm.



2. Những người trục tiếp tham gia vào cuộc đấu tố 53-56 vẫn trắng tay, không có nhà không có đất. Vẫn lẫm than trong kiếp sống còn hơn nô lệ với cái cày trên các cánh đồng.
3 Mặt cá nhân thì thù hận thêm chồng chất. Có người chưa bao giờ có kẻ thù. Bỗng sau cuộc đấu tố, nhìn đâu cũng thấy toàn là kẻ thù.


4 Đời sống: Niềm tin giữa con người và con người đã bị hủy diệt. Cuộc sống mất hẳn ý nghĩa của sự liên đới. Ngươì ta tìm cách cho nhau gian dối hơn là sự thành thật.


5. Xã hội, cuộc sống của xã hội Việt Nam ngày nay xa đoạ như chưa bao giờ thấy, và nhân phẩm của con người thì bị chà đạp, bán rẻ.


6. Văn Hóa, Việt cộng đã nhập cư vào Việt Nam một nền văn hóa bất lương, vô đạo, tôn thờ tội ác. Không đặt trên nền tảng đạo đức và luân lý của xã hội. Không giáo hóa con người theo triết lý cơ bản của dân tộc là Nhân Lễ Nghĩa Trì Tín, Trung.


7. Chính trị: không có Tự Do. Không có Nhân Quyền. Không có dân chủ, Không có Công Lý. Đất nước không có Độc Lập.


Phía ngưòi đứng ra tổ chức đấu tố được những gì?


1. Việt cộng được tự do tổ chức một thể chế độc tài toàn trị trên đất nước. Được độc quyền điều hành guồng máy chính trị này bằng sách lược bạo lực và khủng bố. Độc quyền hưởng mọi bổng lộc và tài nguyên của đất nước

2. Chúng tự do tàn sát, áp bức đồng bào ta. Tự do bán hải đảo, bán biển, bán đất liền, vẽ lại đường biên giới, nhượng đất của tổ quốc cho ngoại bang. Đã thế, còn cho tàu cộng đặc quyền mở những đặc khu quân sự để độc quyền khai thác tài nguyên, Bauxite trên cao nguyên nước ta. Rồi tự do cho Tàu cộng thuê rừng đầu nguồn, tự do cho khai thác mặt bằng hủy hoại toàn bộ sinh thái của đất nước. Trong lúc nhân dân không có chỗ cắm dùi.



5. Dân ta còn lại gì? Di sản của tiền nhân còn lại gỉ?
Có phải chăng chỉ còn lại những cuộc đấu tố lẫn nhau để chúng ta tiếp tục giết đi toàn bộ niềm tin và sức sống của dân tộc? Để hủy diệt đi tất cả những Nhân Lễ Nghĩa còn xót lại theo căn bản của gia đình và tôn giáo?
Không! Không. Chắc chắn là không thể nào như thế được.
Hỡi tuổi trẻ Việt Nam, di sản của tiền nhân ta để lại là lòng tự hào và bất khuất. Cha ông ta không bao giờ chấp nhận cảnh nô lệ từ bất cứ một loại ngoại bang nào.

Di sản của tiền nhân để lại cho chúng ta là lòng bao dung, khoan hòa, nhân ái,. nghĩa khí. “”Lấy Đại Nghĩa để thắng hung tàn”, nhưng không phải là sự bạc nhược cúi đầu.
Di sản của tiền nhân để lại cho ta là nghĩa đồng bào, tình đồng hương.
Di sản của tiền nhân để lại cho dân ta là một nền văn hóa nhân bản Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín. Không phải là một nền văn hóa đấu tố, bất lương…
Vâng đó là phần di sản chúng ta phải giữ gìn và phát triển.



Thay lời kết. Ở nơi đây, tôi xin thưa một điều là: Thật ra, tôi không bao giờ có ý định viết bài này. Bởi lẽ, nếu trên đỉnh núi có muôn lời ca ngọt mềm của gió, của mây làm say đắm lòng người viễn khách, thì dưới đáy của lũng sầu kia, không thiếu gì những bài ca cay đắng của lũ côn trùng thiếu nắng. Đó là một định luật tự nhiên, nhưng tôi lại phải viết. Viết vì trách nhiệm với chính tôi và với những người tôi quen biết. Nó như việc ôn lại một bài học hơn là nhắm vào một cá nhân. Hoặc gỉa, nó như môt chút kinh nghiệm gởi các bạn trẻ khi lên đường. Đường ta… ta cứ đi. Đi và sống bằng chính lương tâm trong sáng của mình.
 
Bảo Giang

Dâng rượu cho vua Hùng

http://tuanvannguyen.blogspot.com/2010/04/dang-ruou-cho-vua-hung.html


Hôm nay đọc bài này thấy ngồ ngộ. Con cháu Vua Hùng xem ra có hiếu quá, mà có hiếu kiểu chẳng giống ai. Anh bạn tôi có lời bình như sau:

"Con cháu thật có hiếu.
Bố Lạc Long chắc mừng hết biết:
Hổ phụ sanh hổ tử. Nhậu tổ sanh nhậu tôn! Được! Được!
Mẹ Âu Cơ thì cằn nhằn:
Trời đất quỷ thần ơi!
Kiểu này thằng chả lại nhậu tới ... 4000 năm hổng hết!"

Trong tình trạng rượu chè đang là vấn nạn xã hội mà con cháu của ngài lại cho ngài uống đến 4000 lít rượu! Làm gương kiểu này thật là làm gương xấu. Nhưng tôi nghĩ chắc chỉ là một chiêu tiếp thị và quảng cáo của công ti làm rượu thôi. Cứ nhìn cái logo rất to tướng thì đủ biết rằng chủ ý chắc chẳng phải là cúng bái vua Hùng đâu, mà chỉ muốn mượn thần thánh để bán vodka thôi.

NVT

==


Ảnh của Vietnamnet


http://www.vietnamnet.vn/xahoi/201004/Cung-tien-Gio-to-Hung-Vuong-chai-ruou-khong-lo-905009/

Cung tiến Giỗ tổ Hùng Vương chai rượu khổng lồ

Lễ giỗ tổ Hùng Vương năm 2010 sẽ có một sự kiện đặc biệt: Một chai rượu cao 5,2m, đường kính 1,17m với dung tích khoảng 4.000 lít sẽ được cung tiến cho Lễ hội. Tính đến thời điểm này, đây là chai rượu lớn nhất thế giới sẽ là điểm nhấn trong dịp đại lễ năm nay.

Chai rượu lớn này là một kỷ lục mới của Việt Nam cũng như của thế giới, do Công ty Cổ phần AVINAA lên ý tưởng, triển khai thực hiện và cung tiến lên Vua Hùng.

Để có thể hoàn thiện chai rượu với dung tích lớn như trên, bắt đầu từ ngày 01/02, Công ty AVINAA đã tiến hành lễ khởi công chế tạo chai và kê đặt chai tại trung tâm vườn hoa khu di tích Đền Hùng.

Sau 72 ngày, chai rượu có một không hai này đã được làm xong phần chế tạo thô, làm vệ sinh, đánh bóng, dán chữ.

Tính đến ngày 17/4, công đoạn cuối cùng là lắp đặt kệ và chai vào vị trí đã được hoàn thiện.

Sáng nay (18/4), Công ty AVINAA sẽ tiến hành thủ tục bơm rượu vào chai, chuẩn bị cho Lễ dâng các Vua Hùng.

Đã có rất nhiều bạn trẻ, khách tham quan, khách du lịch đến khu vực trung tâm vườn hoa khu di tích Đền Hùng từ mọi miền tỏ ra hào hứng và phấn khích khi lần đầu được chiêm ngưỡng một chai rượu “ngoại cỡ” chưa từng thấy như chai rượu AVINAA, khiến không khí lễ hội Đền Hùng năm 2010 trở nên sôi động và đa dạng hơn.

Nói về ý tưởng thực hiện chai rượu đặc biệt này, ông Tô Văn Nhật, Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm TGĐ Công ty AVINAA cho biết: “Nối gót tiền nhân, Lang Liêu dâng bánh chưng bánh giày, An Tiêm dâng dưa hấu, tất cả các sản vật đặc biệt đều dâng lên các Vua Hùng. Để thể hiện lòng thành kính và tưởng nhớ các Vua Hùng có công ngàn năm dựng và giữ nước, Công ty AVINAA dâng cúng một món quà đặc biệt, đó chính là chai rượu này, như các cụ đã nói “Phi tửu bất thành lễ”.

Được biết, rượu trong chai kỷ lục này đã được sản xuất từ nhà máy rượu AVINAA vodka có công nghệ hiện đại nhất Đông Nam Á hiện nay. Điều đặc biệt hơn cả là rượu này đã được ủ 1 năm trước khi đóng chai.

Bên cạnh chai rượu kỷ lục với dung tích 4.000 lít này, Công ty AVINAA còn một chai rượu cỡ nhỏ hơn, cao hơn 1 m, được sử dụng để rước lên Đền Thượng làm lễ (do chai lớn kỷ lục không thể rước lên Đền Thượng).

Sáng nay (18/4), Công ty AVINAA sẽ tiến hành lễ rước chai rượu cao hơn 1m lên Đền Thượng. Riêng chai rượu kỷ lục 4.000 lít sẽ được đặt tại sân lễ hội trưng bày cho khách thập phương chiêm ngưỡng và thưởng thức miễn phí trong những ngày lễ - từ 11h trưa 5/3 đến 10/3 âm lịch.

Hương Quyên

Nhân sự kiện “tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích”, nghĩ về giáo dục văn hóa

http://tuanvannguyen.blogspot.com/2010/04/nhan-su-kien-tien-si-o-ngoc-bich-nghi.html

Bây giờ thì chúng ta đã biết rằng BBCVietnamese đã giới thiệu sai về cô Đỗ Ngọc Bích, tác giả của bài viết gây xôn xao mấy ngày qua. Theo một giáo sư tại Đại học Yale (nơi mà cô nói là giảng viên) thì cô Bích chưa tốt nghiệp tiến sĩ, và chưa bao giờ là giảng viên của Đại học Yale. Như vậy có khả năng là ai đó (có thể từ “nước lạ”) mạo danh cô Bích để viết bài khiêu khích người Việt, hay chính cô Bích muốn chơi nổi bằng một bài phỉ báng lịch sử Việt Nam. Nếu giả thuyết thứ 2 đúng thì có lẽ đây là một vụ Sokal trong truyền thông Việt ngữ và BBCVietnamese còn nợ công chúng một lời xin lỗi. Nhưng suy đi nghĩ lại tôi thấy chẳng có giả thuyết nào có lí hơn là chính cô Bích chấp bút bài viết đó và tự quảng bá mình, và motif thì cũng giông giống như sự kiện cô Lê Kiều Như muốn làm nổi với dâm thư Sợi xích.

(Xin nhắc lại giáo sư vật lí Alan Sokal chơi xỏ giới hậu hiện đại bằng cách viết một bài báo “rất kêu”, dùng toàn những ngôn từ đao to búa lớn và trừu tượng nhưng chẳng có ý nghĩa gì. Bài báo được một tập san hậu hiện đại đánh giá cao và cho công bố. Sau đó, Giáo sư Sokal viết một bài khác cho rằng bài ông viết trên tập san hoàn toàn vô nghĩa, vì chính ông cố ý sáng chế ra những từ ngữ đó một cách vô nghĩa để làm như ta đây là trí thức hậu hiện đại! Một xì căng đan lớn làm bẽ mặt ban biên tập của tập san).

Câu chuyện chung quanh bài viết và nhân thân của cô Đỗ Ngọc Bích làm tôi suy nghĩ về giáo dục. Tôi chẳng quan tâm gì đến cái bằng tiến sĩ của cô (mà cô chưa có) hay chức giảng viên của cô (cũng không có thật), nhưng tôi chỉ quan tâm đến ý kiến của cô liên quan đến những vấn đề hệ trọng về lịch sử, văn hóa và chủ quyền của Việt Nam. Nhiều người đã chỉ ra những sai lầm của cô Bích, nên có lẽ không cần phải lặp lại ở đây. Điều tôi quan tâm là tại sao cô ấy lại có một cái nhìn lệch lạc về sử Việt Nam đến như thế? Có phải nền giáo dục đã nhào nặn ra một con người mang họ Đỗ nhưng thiếu kiến thức trầm trọng về lịch sử và văn hóa nước nhà.

Đọc vài thông tin trên mạng, tôi thấy cô Bích cũng có ăn có học không đến nổi tệ. Trên website của Đại học Hawaii thì thấy nói cô Bích sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, tốt nghiệp cử nhân Anh văn và xã hội học. Trước khi đến Hawaii cô từng dạy tiếng Anh trong Bộ môn Xã hội học và Nghiên cứu quốc tế thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (trong hệ thống Đại học Quốc gia Hà Nội). Cô cũng từng làm phụ tá cho một tổ chức phi chính phủ của Úc ở Hà Nội, phụ tá giám đốc học vụ của Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Như vậy, cô Bích từng có thời gian dài hít thở không khí của đất “ngàn năm văn vật”, và trong thời gian trưởng thành, chắc chắn cô từng đi qua những con đường lịch sử của thủ đô của Việt Nam mà hàng ngàn thế hệ đã bỏ xương máu để gìn giữ. Hình như cô cũng biết vài ba chữ tiếng Anh, nhưng khả năng như thế nào thì chưa rõ. Nói tóm lại, cô Bích hấp thu nền giáo dục – nói theo ngôn ngữ sau 1975 là – ưu việt Xã hội Chủ nghĩa (XHCN).

Chúng ta thử đọc một suy nghĩ quan trọng của cô Bích: “Việt Nam thực ra cũng là một phần trong da thịt của Trung Quốc”. Chưa hết, cô ta lớn tiếng chất vấn “Chúng ta coi Trường Sa và Hoàng sa thuộc về Việt Nam từ khi nào?” Trong thời kì xung đột (hay chiến tranh), những quan điểm như của cô Bích có thể xem là “nội thù”, là “phản quốc”, nhưng ở thời điểm hòa bình này thì có thể xem là “tranh luận”. Thật ra thì chẳng có gì tranh luận cả, vì cô ấy có trình bày chứng cứ khoa học hay luận điểm gì cho logic để mà tranh luận. Toàn bài viết của cô là những ý tưởng chấp vá, rời rạc, với cách hành văn vô kỉ luật, cứ như là học sinh trung học cóp nhặt đây đó để nặn ra cho được một bài “luận văn”. Câu hỏi cô ta lên giọng “Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa có bao giờ tuyên ngôn chủ quyền các đảo đó không, hay chỉ mãi đến năm 1974 mới điều hải quân ra trấn giữ và bảo vệ? Chúng ta đã bao giờ dành thời gian nghiên cứu xác nhận thông tin trước khi đấu tranh đòi chủ quyền chưa nhỉ?” chứng tỏ cô ta chưa làm bài tập đến nơi đến chốn. Đã có người chỉ ra rằng Chính quyền VHCH lên tiếng về chủ quyền HS-TS từ năm 1951 ở một diễn đàn quốc tế tại San Francisco cô Bích à (nguyên văn tuyên bố của đại diện chính phủ VNCH, ông Trần Văn Hữu: "we affirm our right to the Spratly and Paracel Islands, which have always belonged to Vietnam"). Ấy thế mà cô Bích không biết xấu hổ; ngược lại, cô tự hào kí tên “tiến sĩ” trước tên mình! Như tôi nói, nếu là trong thời chiến, chúng ta phải tự hỏi còn bao nhiêu kẻ “nội thù” và “phản quốc” như thế nữa ở Việt Nam?

Những luận điểm sai trái của cô Bích đã được nhiều người khác tận tình dạy bảo rồi, nên tôi không nhắc lại ở đây. Nhưng tôi thắc mắc là chẳng lẽ một nền giáo dục có người tự hào là “ưu việt” mà lại cấy vào đầu của một cô mang họ Đỗ những quan điểm kì lạ (và sai lầm) như thế. Đọc qua những cuốn sách giáo khoa về sử lớp 5 đến lớp 12, chúng ta thấy nội dung về cổ sử (tức 1000 năm trước) chiếm một phần rất khiêm tốn so với sử cách mạng (vốn chỉ vài chục năm). Mà, ngay cả viết về cổ sử, sách giáo khoa cũng viết rất hời hợt, không hào hứng và “oai hùng” như sách sử thời tôi học trước 1975. Có lẽ những cuốn sách như thế đã sản sinh ra một thế hệ dốt sử, kém hiểu biết về văn hóa Việt. Có lẽ cách dạy sử như thế là tác nhân gián tiếp cho một số người Việt sang Trung Quốc múa hát ca ngợi viên tướng Mã Viện của Tàu.

Thế kỉ 21 là thế kỉ của văn hóa. Một khuynh hướng chung hiện nay là các quốc gia trên thế giới đang (hay sắp) qui tụ với nhau thành nhiều nhóm dựa trên văn hóa, mà không dựa trên ý thức hệ (như Chủ nghĩa Cộng sản và Chủ nghĩa Tư bản trong thời gian qua). Trong thế kỉ 21, người ta sẽ hỏi "Anh là ai", thay vì "Anh thuộc phe nào", tức là một sự chuyển biến về nhận dạng từ ý thức hệ sang văn hóa. Nhưng câu hỏi "Chúng ta là ai" tuy đơn giản, câu trả lời thì không đơn giản chút nào, vì trả lời câu đó đòi hỏi đòi hỏi nhiều nghiên cứu về văn hóa, mà nền giáo dục đóng vai trò quan trọng.

Hi vọng rằng sự kiện “tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích” đã gióng một hồi trống báo động về tình trạng xuống cấp trong giáo dục phổ thông, và nhất là lịch sử và văn hóa học. Quan trọng hơn, chúng ta hi vọng sẽ không thấy một quái thai khác xuất hiện trong tương lai.

NVT

Cắt đất đai tổ quốc trả nợ: Cái họa khôn cùng

http://www.tuanvietnam.net/2010-04-15-cat-dat-dai-to-quoc-tra-no-cai-hoa-khon-cung-

Mấy ngày trước, VTV1 đưa tin hai đứa trẻ Hy Lạp đã lấy những đồng tiền tiết kiệm trong lợn nhựa của chúng để đóng góp cho đất nước trả nợ chứ đừng mang một số hòn đảo, đất đai của tổ tiên chúng, gán nợ cho nước ngoài. Rất nhiều người lớn nghe tin đó đã cúi đầu…

Họ cúi đầu kính trọng và xấu hổ. Và như một sự vô tình, hành động của những đứa trẻ đã thổi vào lòng những người lớn trên nhiều quốc gia lòng tự trọng dân tộc và tình yêu tổ quốc.

Nợ là chuyện bình thường của mọi quốc gia. Ngay như nước Mỹ, nước Nhật còn là con nợ lớn của thế giới cơ mà. Vay là chuyện mà có lẽ người nào trong đời cũng phải vay ít nhất một lần và các quốc gia cũng như vậy. Nhưng vay để làm việc gì và trả nợ như thế nào mới là điều đáng nói? Tôi không biết vì lý do nào mà Hy Lạp nợ nước ngoài và vì lý do gì mà Hy Lạp không có cách nào trả nợ nước ngoài.

Nợ nước ngoài có nhiều cách. Nợ vì vay để đầu tư hồi phục nền kinh tế hoặc xây dựng những công trình chiến lược của đất nước. Không trả nợ được có thể vì những người lãnh đạo không biết điều hành đất nước mà cụ thể không biết xử dụng một cách hiệu quả nhất tiền vay. Không trả nợ được có thể vì nạn tham những ăn vào quá lớn những đồng tiền đi vay ấy.

Nhưng nợ đến mức làm cho các thế hệ sau nối nhau còng lưng trả nợ cho những người đi trước quả là họa lớn cho đất nước. Còn nợ đến nỗi phải bán cả một hay nhiều phần đất của tổ quốc đi để trả nợ thì đấy là cái họa khôn cùng cho đất nước.

Việc cắt đất cho nước ngoài không phải chuyện hi hữu. Lịch sử nhiều quốc gia trên thế giới do nhiều nguyên nhân đã bán đất cho nước ngoài. Bán có thời hạn hoặc bán vĩnh viễn. Cắt đất cho nước ngoài cũng có nhiều nguyên nhân. Có nguyên nhân là vì bại trận trong một cuộc chiến tranh, có nguyên nhân cắt đất để có được những lợi ích khác và cũng có nguyên nhân do hèn nhát trước những đe dọa của nước ngoài mà dâng đất. Và với nhiều trường hợp, cho mượn đất với những lý do nào đó đôi khi cũng là một cách dâng đất của tổ quốc cho người ngoài.

Nhưng sớm hay muộn thì những dân tộc đã bị cắt đất bán hoặc dâng đất cho nước ngoài sẽ đều tìm cách đòi lại lãnh thổ của mình cho dù lãnh thổ đã mất chỉ nhỏ bằng một thửa ruộng của một người nông dân. Lịch sử cũng cho chúng ta thấy nhiều vì dụ về chuyện đòi lại đất như thế.

Trước tòa nhà Quốc hội Úc có một ngôi nhà dựng lên gọi là "Đại sứ Thổ dân Úc". Tôi đã trò chuyện với Đại sứ thổ dân trong ngôi nhà này trong chuyến đến Úc năm 1999. Những người thổ dân Úc dựng "tòa đại sứ" này để đòi lại đất của tổ tiên, ông cha họ đã bị những người da trắng cướp cho dù những người thổ dân Úc còn lại không nhiều và họ không có một quân đội nào. Nhưng họ đã chiến đấu cho lẽ phải bằng chính lẽ phải hết đời này đến đời khác buộc chính quyền Úc phải thừa nhận chủ quyền của họ. Cuối cùng, chính quyền Úc đã phải công khai xin lỗi những người thổ dân.

Bây giờ, chính quyền Hy Lạp cắt một số hòn đảo để trả nợ nước ngoài. Có thể sau đó, họ đã xóa được món nợ tiền, nợ vàng nước ngoài thì họ lại mang một món nợ khác. Món nợ này lớn hơn và đau đớn hơn bất kỳ món nợ nào khác. Đó là món nợ với tổ quốc và nhân dân họ.

Chính vì thế mà cả những đứa trẻ như hai đứa trẻ Hy Lạp cũng phải đứng lên bảo vệ lãnh thổ của tổ quốc chúng bằng cách của những đứa trẻ nhưng ý nghĩa của hành động ấy thật sâu sắc, thật lớn lao và thật xúc động.

Qua hành động của hai đứa trẻ Hy Lạp ấy, tôi nghĩ, những người có lương tâm ở tất cả các quốc gia đã từng bán đất hay dâng đất cho nước ngoài cho với bất kỳ lý do nào và cho dù mảnh đất ấy chỉ đủ trồng một khóm hoa hay một gốc tre cũng đều cảm thấy hổ nhục.

Nguyễn Quang Thiều

Đạo văn cạnh tranh và đạo văn quan quyền

http://tuanvannguyen.blogspot.com/2010/04/ao-van-canh-tranh-va-ao-van-quan-quyen.html

Thế là vụ một giảng viên “đạo sách” của đồng nghiệp đã đi đến một kết cục buồn. Theo một bản tin mới nhất thì người giảng viên bị tố cáo đạo sách đó đã tự nguyện xin nghỉ việc. Nhưng có lẽ đây không phải là trường hợp đầu, càng không phải là trường hợp cuối cùng về nạn đạo văn ở nước ta. Có khác chăng là nhiều trường hợp khác dù đã được phát hiện, nhưng thủ phạm vẫn ung dung tại chức. Cần phải phân biệt 2 loại đạo văn, đạo văn cạnh tranh và đạo văn quan quyền, thì có thể giải thích tại sao một số người đạo văn bị tiêu tan sự nghiệp còn một số khác thì ok.


Thật ra, nhìn sang Trung Quốc chúng ta cũng thấy nạn đạo văn cũng tràn lan trong giới học thuật. Cái gì ở VN sao mà giống TQ quá! Giáo sư toán nổi tiếng của Đại học Harvard Yau Shing-tung cho biết một nghiên cứu sinh người Trung Quốc từng học dưới sự hướng dẫn của ông bị phát giác đạo văn của đồng nghiệp thuộc Đại học Harvard, nhưng khi về nước thì được trọng vọng và trở thành viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Trung Quốc. Một giáo sư xã hội học rất nổi tiếng của Đại học Bắc Kinh viết một cuốn sách mà trong đó 100,000 chữ được cóp từ 100,000 chữ trong một cuốn sách của một giáo sư xã hội học bên Mĩ. Một khoa trưởng khoa công nghệ của Đại học Shangdong phạm tội đạo văn, nhưng vẫn được phong chức viện sĩ Viện hàn lâm công nghệ Trung Quốc! Còn nhiều nhiều trường hợp như thế, những trường hợp mà thủ phạm đạo văn chẳng những không bị phạt mà còn thăng tiến trong sự nghiệp khoa bảng.


Trong khi đó, nhiều sinh viên, nghiên cứu sinh, và giáo sư phạm tội đạo văn thì bị phạt rất nặng, có người tiêu tan cả sự nghiệp. Câu hỏi đặt ra là có gì khác biệt giữa trường hợp với kết cục buồn, và những trường hợp nghiêm trọng khác mà thủ phạm không hề chịu hình phạt nào. Để tìm câu trả lời cho câu hỏi này, chúng ta cần phải hiểu thêm về bản chất của đạo văn, và phân biệt hai dạng đạo văn mà tôi sẽ bàn dưới đây.


Đạo văn và hiện tượng “tác giả ma”


Đạo văn được định nghĩa là sử dụng ý tưởng hay câu văn của người khác một cách không thích hợp (tức không ghi rõ nguồn gốc), đặc biệt là việc trình bày những ý tưởng và từ ngữ của người khác trước các diễn đàn khoa học và công cộng như là ý tưởng và từ ngữ của chính mình. Ở đây, “Ý tưởng và từ ngữ của người khác” có nghĩa là: sử dụng công trình hay tác phẩm của người khác, lấy ý tưởng của người khác, sao chép nguyên bản từ ngữ của người khác mà không ghi nguồn, sử dụng cấu trúc và cách lí giải của người khác mà không ghi nhận họ, và lấy những thông tin chuyên ngành mà không đề rõ nguồn gốc.


“Tác giả ma” là một thuật ngữ mới xuất hiện trong nghiên cứu y khoa (nhưng nay đã phổ biến trong các lĩnh vực học thuật khác) dùng để chỉ những người chuyên nghề viết mướn cho các công ti dược. Các tác giả ma phần lớn là những người viết văn chuyên nghiệp, nhưng cũng có thể là những nhà khoa học với trình độ tiến sĩ không còn hành nghề chuyên môn. Sở dĩ gọi là “tác giả ma” vì họ không đứng tên tác giả của các tác phẩm do chính họ tạo ra; thay vào đó, đứng tên tác giả là những nhà khoa bảng với chức danh giáo sư từ các đại học danh tiếng.


Ở Việt Nam, hiện tượng tác giả ma còn hiện hữu trong giới học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh, và giáo sư. Học sinh nhờ người khác làm bài tập; sinh viên hay nghiên cứu sinh mướn người khác viết luận án; hay các giáo sư nhờ (hay lợi dụng) nghiên cứu sinh của mình viết giáo trình và sách, tất cả đều là hiện tượng tác giả ma, tác phẩm ma.


Đối chiếu với định nghĩa đạo văn mà tôi trình bày trên, thì tác giả ma cũng là một hình thức đạo văn. Nói cách khác, những người đứng tên tác giả bài viết hay công trình nghiên cứu [do người khác viết] cũng phạm “tội” đạo văn.


Đạo văn cạnh tranh và đạo văn quan quyền


Đạo văn là một vi phạm rất nặng trong học thuật và khoa bảng. Người phạm tội thường chịu hình phạt nặng nề. Một tiến sĩ phạm tội đạo văn có thể bị tước học vị, và trong thực tế đã có nhiều trường hợp như thế trên thế giới. Ngay cả giáo sư phạm tội đạo văn cũng chịu hình phạt nặng nề, như bị tước chức danh giáo sư, thậm chí bị đuổi việc. Những hình phạt nặng nề dành cho người đạo văn là một biện pháp nhằm giữ gìn sự trong sạch của khoa bảng, và cũng là một cách phát biểu rằng trong học thuật không có nơi nào dành cho người đạo văn.


Năm 2002, Giáo sư David Robinson, hiệu trưởng trường đại học Monash (một trong những đại học hàng đầu của Úc) bị tố cáo đạo văn. Một số đoạn văn (chỉ một số đoạn văn) trong những sách ông xuất bản vào thập niên 1970s và 1980s mà ông trích dẫn từ các công trình trước nhưng ông không ghi nguồn. Để giữ danh dự cho trường và danh dự cho giới khoa bảng Úc, ông quyết định từ chức.


Tháng 3/2010 vừa qua, Giáo sư Li Lian-sheng thuộc Đại học Giao thông (Thượng Hải) bị tố cáo đạo văn để có được công trình nghiên cứu, và được thăng chức giáo sư. Khi sự việc được phơi bày ra ánh sáng, đại học quyết định cho ông nghỉ việc và rút lại chức danh giáo sư.


Năm 2008, bà Julie Bishop là cựu Bộ trưởng bộ Giáo dục của Úc đóng góp một chương trong cuốn sách Liberals and Power. Khi sách in ra, độc giả phát hiện một số đoạn trong chương sách được lấy (mà không ghi nguồn) từ một bài diễn văn của Roger Kerr, một thương gia người Tân Tây Lan. Khi sự việc bị báo chí phanh phui, thì tùy viên và cũng là người viết diễn văn cho bà là Murray Hansen đứng ra nhận lãnh trách nhiệm. Ông Hansen thú nhận là đã đạo văn. Bà Bishop vẫn làm bộ trưởng giáo dục, thậm chí sau này còn thăng chức phó lãnh tụ đảng đối lập. Câu hỏi đặt ra là tại sao ông Hansen viết mà bà Bishop lại đứng tên tác giả. Trong trường hợp này, ông Hansen là một “tác giả ma”, và bà Bishop phạm tội đạo văn.


Các chuyên gia về đạo văn (như Giáo sư Brian Martin hay Gavin Moodie) phân biệt 2 loại đạo văn, mà họ gọi là “competitive plagiarism” (tôi tạm dịch là đạo văn cạnh tranh), và “bureaucratic plagiarism” hay “institutionalized plagiarism” (đạo văn quan quyền). Bạn đọc nào có cao kiến để để dịch 2 cụm từ này hay hơn, xin ơn email cho tôi, tôi cám ơn trước.


Với đạo văn cạnh tranh, đương sự đạo văn có mục tiêu lấy ý tưởng người khác nhằm vào mục tiêu thăng tiến trong sự nghiệp. Những trường hợp sinh viên đạo văn để có một luận án tốt nghiệp là một ví dụ tiêu biểu. Cũng có trường hợp những người đạo văn cạnh tranh cần một công trình học thuật, hoặc một công trình nghiên cứu để làm cơ sở cho việc thăng chức. Tuy nhiên, nói chung những thủ phạm đạo văn cạnh tranh thường là những người không có quyền cao chức trọng, hay nói theo ngôn ngữ dân dã là “thấp cổ bé họng”.


Với đạo văn quan quyền, như tên gọi, là loại đạo văn tồn tại trong hệ thống công quyền, mà đương sự là người đứng tên tác giả cho những gì mình không sáng tạo ra. Những thủ phạm đạo văn quan quyền thường là người có quyền cao chức trọng, như trường hợp của bà bộ trưởng Bishop.


Đạo văn quan quyền hay hiện tượng tác giả ma rất phổ biến trong chính trị và quan chức cao cấp. Đại đa số các chính trị gia, quan chức cao cấp, tổng giám đốc các đại công ti, v.v… đều có những chuyên gia hay cố vấn chuyên viết diễn văn cho họ. Cũng như trường hợp bà Bishop vừa đề cập, các thủ tướng và bộ trưởng Úc đều có tùy viên viết diễn văn cho họ. Ở Việt Nam cũng chẳng là ngoại lệ. Rất nhiều những câu phát biểu trứ danh của cố tổng thống Mĩ như D. D. Eisenhower, J. F. Kennedy, L. J. Johnson, v.v… không phải là ý tưởng của họ mà là của người viết diễn văn cho họ; họ chỉ … lấy công người khác. Tôi đoán rằng hình thức đạo văn quan quyền này rất phổ biến ở Việt Nam.


Một vài câu hỏi không mấy thoải mái cần phải đặt ra là: tại sao không gọi những người có quyền cao chức trọng như tổng thống Eisenhower, Kennedy, Johnson, hay bà Bishop là những người đạo văn? Tại sao xã hội quyết tâm phạt những học sinh, sinh viên, và giáo sư (hay giới học thuật nói chung) đạo văn, mà xã hội lại chấp nhận việc những người có quyền thế đạo văn? Tại sao giới học thuật đạo văn thì bị phạt nặng nề, còn những quan đạo văn thì không hề bị phạt gì cả?


Có lẽ câu trả lời cho những câu hỏi trên nằm ở quyền lực. Những người đạo văn quan quyền thường ở vị trí có đặc quyền, và được sự yểm trợ của hệ thống chính trị, còn những người đạo văn cạnh tranh thường không có quyền thế và cũng không có cơ chế chính trị bảo trợ. Nhưng nếu xã hội dân chủ và bình đẳng, thì hình phạt dành cho người đạo văn cạnh tranh cũng phải áp dụng cả những thủ phạm đạo văn quan quyền.


NVT

CHÍNH ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐÒI BỎ CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN

LÝ ĐẠI NGUYÊN


Lần hội nghị thứ 12 của Ban Chấp Hành Trung Ương đảng Việtcộng khóa X, bế mạc ngày 28/03/2010, đã hoàn tất các dự thảo văn kiện cho Đại Hội XI của đảng Việtcộng, trong đó đảng vẫn kiên định các nguyên tắc xây dựng đảng trên cơ sở chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ chí Minh, được thể hiện ra Cương Lĩnh xây dựng đất nước trong “thời kỳ quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội”. Thì ngày 02/04/10 phóng viên Mạc Lâm của đài RFA phỏng vấn tiến sĩ Đỗ Xuân Thọ, một đảng viên trí thức Việtcộng, về bài viết của ông đã được phổ biến rộng rãi, nhằm phân tích việc: “Nên từ bỏ chủ nghĩa Mác Lênin để thay vào đó là chủ nghĩa Dân Tộc”. Theo TS. Thọ thì: “Nếu đảng không lấy chủ nghĩa dân tộc làm nền tảng tư tưởng thì cái chủ nghĩa Mác-Lênin sẽ bằm nát đảng ra, Với những mũi nhọn tấn công từ phiá ngoài, nó chỉ cần đánh vào cộng sản và tham nhũng là chết rồi, là tan đảng rồi”. “Thực chất công cuộc đổi mới là chúng ta dám phá bỏ những luận điểm cơ bản nhất của chủ nghĩa Mác-Lênin, đó là đấu tranh giai cấp, toàn bộ Mác là muốn giai cấp công nông là người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản, thì cái đó là chúng ta phản bội lại chủ nghĩa Mác-Lênin trong thời đổi mới này, cho nên mới được như ngày nay”.


Ông giải thích thêm: “Thế thì cái công cuộc đổi mới đang tiến hành, tức là chúng ta càng phát triển cái nền kinh tế nói là kinh tế xã hội chủ nghĩa, nhưng mà thực chất là kinh tế tư bản chủ nghĩa, có nghĩa là càng đổi mới thì càng phá bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, thế mà cái chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn được ghi vào điều lệ là nền tảng tư tưởng, vì thế nên là có một cái mâu thuẫn đảng bị chia ra làm ít nhất là có hai phe: Phe thứ nhất bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, phe thứ hai là không quan tâm đến sự thắng thua của chủ nghĩa Mác-Lênin, mà tất cả vì dân giầu, nước mạnh, tất cả vì dân tộc và cái quyền lợi kinh tế nữa chứ”…. “Tôi có thể khẳng định là ngay trong Bộ Chính Trị đã có sự phân rã, nếu chúng ta còn giữ chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng. Chủ nghĩa Mác-Lênin này nó làm cho chúng ta nhầm lẫn giữa ý thức hệ và dân tộc, ý thức hệ dân tộc và ý thức hệ tư tưởng”.


Thực ra chủ nghĩa Mác-Lênin và ngay cả tư tưởng Hồ Chí Minh nữa đối với Việtcộng nó cũng chỉ là cái phao rách nát, dù biết đã hết thời, mà bọn cầm đầu Việtcộng không dám bỏ, vì khi còn dùng cái tên đảng cộng sản để bám lấy chính quyền độc đảng, độc tài, tham nhũng, và phải dựa Trungcộng để yên tâm bóc lột dân thì không dám nghĩ tới chủ nghĩa dân tộc cũng dễ hiểu thôi. Chủ Nghĩa Dân Tộc tối kỵ đối với quan thầy Bắckinh. Vì chỉ có Trungcộng mới được quyền phát huy tinh thần Dân Tộc Đại Hán của Trunghoa, còn các nước đàn em như Việtcộng, mà dùng chủ nghĩa dân tộc làm nền tảng tư tưởng thì lập tức xuất hiện ngay mối thù truyền kiếp “Một Ngàn Năm nô lệ giặc Tầu, và bao nhiêu cuộc khởi nghĩa chống xâm lăng Phương Bắc với những chiến thắng lẫy lừng cuả các anh hùng dân tộc. Thế rồi giải thích làm sao với toàn dân, khi bọn cầm đầu Việtcộng ký dâng đất, hiến biển, nhường đảo, cúng tài nguyên, núi rừng cho Trungcộng khai thác, rồi trơ mắt ra nhìn những ngư dân Việtnam bị Trungcộng sát hại, bắt chuộc khi hành nghề ngay trên phần lãnh hải của Tổ Quốc. Nhất là việc toàn dân, toàn quân, toàn đảng đều nhìn rõ bọn cầm đầu Việtcộng đảng ngoan ngoãn thực hiện kế hoạch xâm lăng êm đềm của Bắckinh, nhằm “Hán Hóa toàn diện Việt Nam”. Chính vì vậy mà Việtcộng không dám bỏ chủ nghĩa Mác-Lê chết tiệt và tư tưởng nô lệ ngoại bang của Hồ Chí Minh.


Chỉ tội nghiệp cho những đảng viên khoa bảng như tiến sĩ Đổ Xuân Thọ, tiến sĩ Lê Đăng Doanh, giáo sư Tương Lai… cố công góp ý kiến, và những đảng viên còn tình tự dân tộc lo cho vận mệnh đất nước, nhưng bọn Trung Ương đảng Việtcộng khóa X, họ vừa mù, vừa điếc, lại vừa câm, họ đang bắt toàn đảng, toàn quân, toàn dân phải mù, câm, điếc như họ. Dù sao, phải nhận một điều, những phát biểu công khai của những người quan tâm tới tình hình đất nước hiện nay, nhất là dám nói huỵch toẹt ra như tiến sĩ Đỗ Xuân Thọ, điều đó chứng tỏ trong hàng ngũ đảng viên đang thực sự có “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.


Khiến cho Lê Văn Bảo phải viết bài bình luận trên tờ Quân Đội Nhân Dân: Làm Thất Bại Chiến Lược “ Diễn Biến Hòa Bình”. Phòng chống “tự diễn biến” từ bên trong và bên trên. Bài bình luận viết: “Thực hiện chiến lược “Diễn Biến Hòa Bình” chống phá cách mạng nước ta, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh nhiều hoạt động thâm độc, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gây chia rẻ, mất đoàn kết từ bên trong nội bộ Đảng và Nhà Nước ta; khi thời cơ đến chúng sử dụng tổng hợp các biện pháp cả vũ trang và phi vũ trang; kết hợp “nội công , ngoại kích”, trong đánh ra , ngoài đánh vào, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của đảng, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, chuyển hóa Việtnam theo con đường tư bản. Đặc biệc trong thời điểm hiện nay, khi đảng đang tiến hành các bước chuẩn bị cho Đại Hội XI thì thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến’ càng được chúng thực hiện ráo riết”.


Sau khi đưa ra bằng chứng về những bài học tan rã của Liênxô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, bài bình luận chuyển vào hiện tình Việtnam: “Trên thực tế, trong nội bộ các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước hiện nay có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của đảng, vào con đường đi lên và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Có một số cán bộ, đảng viên trước đây từng giữ cương vị, trọng trách trong cơ quan đảng, chính quyền nay có những ý kiến lệch lạc, nhìn nhận, phê phán lịch sử thiếu khách quan, toàn diện; đòi đa nguyên, đa đảng theo mô hình dân chủ phương Tây; cổ súy cho những mô hình xã hội xa rời thực tiễn Việtnam v.v… Hiện nay, với kinh nghiệm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” làm sụp đổ các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới, các lực lượng thù địch đang ráo riết thúc đẩy “tự diễn biến” đối với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó có Việtnam…Mảnh đất màu mỡ nhất để chúng thực hiện “tự diễn biến”, “tự chuyễn hóa” là tình trạng tiêu cực, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong bộ máy đảng, nhà nước chưa đẩy lùi, ngăn chặn; kỷ luật, kỷ cương trong đảng, trong cơ quan nhà nước còn nhiều mặt buông lỏng; công tác nghiên cứu lý luận chưa giải đáp có căn cứ khoa học, thuyết phục những vấn đề mà thực tiễn đặt ra; Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ trì…thiếu kiên định, vững vàng, phẩm chất và năng lực hạn chế, thiếu tu dưỡng rèn luyện, chạy theo lợi ích cá nhân…”.


Chỉ cần đọc bài bình luận trên đây, cũng thấy được số phận của đảng Việtcộng và chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa đã hết cứu vãn. Vì đảng không thấy đường đi, đảng viên không tin vào lãnh đạo, nội bộ vô kỷ cương, hủ hóa, tham ô…quân, dân oán ghét, thế giới khinh khi…Những người đấu tranh Dân Chủ ở trong nước, và ở Hải Ngoại chỉ cần đẩy mạnh công cuộc Đòi Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền, đừng để vướng vào những giải pháp nhất thời ở giai đoạn chuyển tiếp này, rồi tự rơi vào vòng chống báng nhau về chuyện “bán lúa non” là Việtnam sớm có Dân Chủ Hóa thôi.


Little Saigon ngày 06/04/2010.


LÝ ĐẠI NGUYÊN

2/4/10

Đà Nẵng Và Những Diễn Biến 35 Năm Trước

TT Thiệu: Kế Hoạch Tối Mật Bảo Vệ Miền Nam
…Kissinger: Sao VNCH không chết phức đi cho rồi…

Khi chúng tôi hỏi thêm nữa về vụ ‘beachhead’ TT Thiệu giải thích về: Một kế hoạch tối mật để bảo vệ Miền Nam

Ông nói là vào lúc bị áp lực ký Hiệp định Paris, ông đã tranh đấu thành công để Mỹ không những cam kết trên giấy tờ mà còn thiết kế một kế hoạch phòng thủ Miền Nam trong trường hợp bị tấn công. Kế hoạch này được bảo mật tối đa. Ông chỉ nói sơ qua là điều kiện Hoa Kỳ đặt ra để thi hành kế hoạch này là khi có tổng tấn công, quân đội VNCH phải giữ được ít nhất là hai tuần để Washington có đủ thời giờ sắp xếp. Trong cuốn hồi ký, Đại tướng Viên cũng viết về kế hoạch này (CVV, trang 81).

Để tìm hiểu cho rõ, ngày 10 tháng 10, 1985 chúng tôi đã phỏng vấn chính người có trách nhiệm trực tiếp thi hành kế hoạch này, đó là Tư lệnh Đệ thất Không lực Hoa Kỳ đóng ở Thái Lan, Tướng John W. Vogt. Tổng hợp lại cuộc phỏng vấn và các nguồn khác thì có thể tóm tắt như sau:

•Kế hoạch này lần đầu tiên được nói tới là do Tiến sĩ Henry Kissinger, khi ông họp với TT Thiệu vào ngày 19 tháng 10, 1972 để thuyết phục ông Thiệu ký Hiệp định Paris;
•Sau đó, nó được nhắc lại trong các văn thư do Tổng thống Nixon gửi Tổng thống Thiệu;
•Khi tiếp Phụ Tá Tổng thống Nguyễn Phú Đức tại Tòa Bạch Ốc ngày 29 tháng 11, 1972, TT Nixon cũng nhắc lại việc này. Trong cuốn ‘The Vietnam Peace Negotiations – Saigon’s Side of the Story,’ tiến sĩ Đức thuật lại: “Rồi Tổng thống Nixon nói với tôi: Hiệp định này chỉ là một miếng giấy. Điều quan trọng là quyết tâm của chúng tôi yểm trợ các ông. Tôi cam kết với quý ông những điều sau đây:

1. Quân viện và kinh viện cho Miền Nam sau Hiệp định;
2. Không lực Hoa Kỳ trấn đóng tại Thái Lan và trên các chiến hạm sẽ tái oanh tạc trong trường hợp Cộng sản vi phạm hiệp định được tình báo của chúng tôi phát hiện ra;
3. Chúng tôi nhất quyết ủng hộ TT Thiệu;
4. Hoa Kỳ đã đi tới thông cảm với Liên Xô và Bắc Kinh là họ sẽ giới hạn viện trợ cho Bắc Việt.

Ông Đức hỏi: “Trên căn bản luật pháp nào Ngài có thể tái oanh tạc?”

Tổng thống Nixon: “Trên căn bản phải tôn trọng DMZ (vùng phi quân sự), tôn trọng ngưng chiến, và sự trung lập của Lào và Kampuchia.” Theo như sự sắp xếp thì Ngũ Giác Đài sẽ theo dõi các đơn vị, căn cứ của quân đội Bắc Việt. Bước đầu của kế hoạch là sẽ yểm trợ quân lực VNCH bằng không lực. Có bốn phần của kế hoạch này:
•Lựa chọn và cập nhật những mục tiêu oanh tạc tại Việt Nam;
•Sắp đặt sẵn sàng một ‘Forward Air Control Team’ (Đội Kiểm Không Tiền Vệ) với những nhân viên nói được tiếng Anh và đã làm việc cho Không lực Hoa Kỳ;
•Một điều kiện đặt cho phía VNCH là khi bị tấn công, quân lực VNCH phải cầm cự được từ 7 tới 15 ngày để Washington có đủ thời giờ phản ứng (nhất là làm việc với Quốc Hội, có thể là trên căn bản những mật ước với TT Thiệu- lời tác giả); và
•Thủ tục để VNCH yêu cầu Hoa Kỳ can thiệp bắt đầu từ Bộ Tổng Tham Mưu VNCH tới TT Thiệu, tới Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, rồi tới Tòa Bạch Ốc.
•Một hệ thống liên lạc nối liền không lực Hoa Kỳ tại căn cứ ở Nakhon Phanom (Thái Lan) với lãnh đạo quân sự Miền Nam. Các tư lệnh quân lực VNCH gồm Tư lệnh Không Quân và Tư lệnh các quân khu có thể trực tiếp liên lạc thẳng với Tướng Vogt.

Tướng Vogt cũng được phép của Bộ Tổng Tham Mưu Liên Quân đi thăm các tướng tư lệnh Vùng của Việt Nam thường xuyên.

Trong cuộc phỏng vấn chính Tướng Vogt đã kể lại là vào mùa hè 1973, mặc dù Đại sứ Martin nói với ông: “Tôi không nghĩ rằng sự hiện diện của một vị tướng 4 sao, người phụ trách chiến dịch không tạc của chiến trường này, có lợi cho việc ổn định tình hình tại đây. Do đó, ông chỉ được trở lại xứ này nếu có lệnh của tôi.” Tướng Vogt vẫn cứ tiếp tục liên lạc, nhưng thay vì vào Miền Nam, ông mời các tướng lãnh sang gặp ông ở Thái Lan. Khi gặp, ông thường trấn an “là Vogt còn ở đây và kế hoạch can thiệp vẫn được điều chỉnh hằng ngày để sẵn sàng đem ra thi hành khi cần đến.” Chỉ cần một điều kiện: ‘khi bị tấn công, phải giữ được ít nhất hai tuần’

Một trong những người hay được mời là tướng Trưởng. Ông Trưởng cũng xác nhận với chúng tôi về việc này, và nói ông bay sang Thái Lan thường xuyên để được cập nhật tình hình, “Tướng Vogt luôn nói với tôi là ‘vì việc dùng không lực Hoa kỳ cần phải có Quốc Hội chấp thuận nên phải cần ít nhất là hai tuần để làm việc với Quốc Hội.’” Có nghĩa là khi có tổng tấn công, quân đội VNCH phải giữ được ít nhất là hai tuần. Sau 1975, khi biết về kế hoạch này tôi mới hiểu tại sao vào cuối năm 1974 – đầu 75, thỉnh thoảng tôi có nghe thấy ông Thiệu nói tới một ‘thời gian hai tuần cần thiết.’

Tại Luân Đôn, ông Thiệu cũng tâm sự: “Lúc tôi ở Mỹ (gặp TT Nixon vào tháng 4, 1973 tại San Clemente, California), họ đã giải thích thêm cho đầy đủ về kế hoạch này.” Trong một chuyến đi Washington, chính bản thân chúng tôi cũng đã ghé thăm căn cứ của Tư Lệnh Thái Bình Dương (CINCPAC) ở Honolulu do Phụ tá Quốc Phòng Eric von Marbod hướng dẫn. Vào xem phòng tình hình, tôi thấy trang bị hệ thống hết sức tối tân, trên tường có nhiều bản đồ Việt Nam thật lớn, với những bóng đèn xanh, đỏ chớp tắt liên tục. Một nhân viên kiểm báo cắt nghĩa sơ sơ cho tôi về các tuyến phòng thủ mà CINCPAC theo dõi, nhưng vì cá nhân tôi chỉ để ý tới vấn đề viện trợ tổng quát nên không hỏi chi tiết về quân sự. Xem như vậy, tôi có thể hiểu được là tại sao khi tôi hỏi TT Thiệu về lý do tử thủ Đà Nẵng thì ông đã trả lời là ngoài việc cần thời gian để sắp xếp lại quân đội, ông còn muốn giữ một ‘base’ ít nhất trong hai tuần theo điều kiện Mỹ đã đặt ra, như vậy là để phòng hờ trường hợp Mỹ giữ lời hứa là sẽ tiếp viện. Nhưng cuối cùng thì việc can thiệp là một hy vọng hão huyền và viện trợ cũng bị cắt hết.

Suy tư còn lại của Tổng thống Thiệu

Trong những cuộc đàm đạo với Tổng Thống Thiệu, riêng về vấn đề bỏ Huế và tử thủ Đà Nẵng, ông vẫn còn ưu tư về một vài điều: Lãnh Sự Mỹ ở Đà Nẵng Albert Francis Ông Thiệu thắc mắc về vai trò của ông này liên hệ tới việc Tướng Trưởng bỏ Đà Nẵng. Tôi biết rất ít về quân sự và luôn ngần ngại hỏi các tướng lãnh về vấn đề này, nhất là Tướng Trưởng vì ông rất ít tâm sự về việc chinh chiến. Nhưng có lần tôi nói chuyện với ông về việc này: “Tôi thấy ông Tổng thống cứ thắc mắc là tại sao cái anh Francis (đúng ra thì ông Thiệu dùng chữ xưng hô khác) anh ta cứ ôm sát ông Trưởng?” Dường như Trung tướng Trưởng hơi giật mình và hỏi lại tôi hai lần: “Tổng thống hỏi vậy hả?” Rồi ông nói sang chuyện khác. Như vậy, cũng có thể là ông Francis cũng đã nói với Tướng Trưởng về thông tin của tình báo Mỹ là tình hình đã tuyệt vọng chung quanh Đà Nẵng, và đã gợi ý với ông là không nên cố thủ. Đây hoàn toàn là suy nghĩ của cá nhân tôi mà thôi vì tôi thấy nó cũng có thể giống như việc Đại sứ Martin đã nói với TT Thiệu về tình hình nguy hiểm và tuyệt vọng chung quanh Sàigòn vào ngày 21 tháng 4, 1975 khi ông gặp ông Thiệu để cố vấn ông nên từ chức. Ông Francis lại là người tín nhiệm của đại sứ Martin.
Phó Đề đốc Thoại cũng có viết là ông có trông thấy ông Francis đứng ở bên trái phía ngoài trailer của tướng Lân, Tư lệnh TQLC. Khi ông bước vào trailer thì thấy tướng Trưởng đang ngồi hút thuốc lá, nét mặt rất suy tư (HVKT, trang 237). Ngoài ra, khi ông Thoại trở về tới Căn cứ Hải Quân thì “Ông Francis cho tôi biết theo tin tức tình báo thì đơn vị Cộng sản đã bố trí vùng Nam Ô và có lẽ sẽ pháo kích nặng vào Căn cứ Hải Quân vào khoảng 4 giờ sáng. Nhìn đồng hồ tôi thấy tôi còn bảy tới tám giờ đồng hồ để chuẩn bị di tản gia đình binh sĩ và nhân viên chuẩn bị hầm trú ẩn tránh pháo. Sau đó ông Francis xin phương tiện cho ông và hai người cùng tháp tùng ông ra tầu Hải Quân đang ở ngoài khơi” (HVKT, trang 239).

Sau này có lần Tướng Trưởng cũng nói với chúng tôi về một người Mỹ khác: “Khoảng đầu tháng 3 (1975) người phó cho ông Polgar (trạm trưởng CIA) có nói với tôi là: ‘Cộng sản sẽ đánh tới tuyến Phan Rang rồi ngừng 10 ngày.’ Tôi hỏi tại sao anh biết trước thì anh ta xoay sang chuyện khác.”
Khi tôi hỏi về ông Francis thì Thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình, Tư lệnh cảnh sát kiêm Giám đốc Trung ương Tình báo cũng nói: “Chính ông Francis có nói với tôi là ông ta đang ở Hồng Kông cùng với bà vợ để nghỉ ngơi nhưng đã được lệnh về ngay Đà Nẵng và gặp Tướng Trưởng.”

Như vậy theo ý kiến riêng của chúng tôi, cũng có thể là ông Francis đã được chỉ thị từ cấp trên là nên cố vấn cho tướng Trưởng bỏ ý định tử thủ Đà nẵng.

Giám mục Phạm Ngọc Chi: Về Đức Cha Phạm Ngọc Chi, Giám mục Đà Nẵng, ông Thiệu cho rằng ngài cũng cố vấn Tướng Trưởng không nên giữ Đà Nẵng. Về lời cố vấn của hai Giám mục Chi và Nguyễn Kim Điền (Huế), ông Thoại cũng ghi: “Không ai có thể biết được quyết định bỏ ngỏ Đà Nẵng của tướng Trưởng có bị ảnh hưởng bởi hai vị lãnh đạo tôn giáo hay không, nhưng có một điều là khi tướng Trưởng nói chuyện với Tổng thống Thiệu vào đêm 28 tháng 3, cho thấy rõ là ông Thiệu bị bất ngờ vì ông vẫn nghĩ là lực lượng ta đủ sức giữ Đà Nẵng và có thể cũng vì bị bất ngờ nên tổng thống không cho tướng Trưởng một chỉ thị dứt khoát… “(HVKT, trang 288).

[Ông Thoại ghi thêm là Tướng Trưởng có xác nhận với ông là "không" ngày 2/11/2006]. Ông Thoại cũng trích dẫn sách của Trung tướng Lâm Quang Thi (Tư lệnh phó Quân đoàn I) là “Đức cha Chi nhờ Tướng Thi chuyển lời lại cho Tướng Trưởng là ĐC Chi xin Tướng Trưởng bỏ ý định phòng thủ thành phố Đà Nẵng vì làm như vậy, thành phố Đà Nẵng sẽ bị tiêu diệt một cách vô
ích và sẽ gây chết chóc cho dân Đà Nẵng cũng như đồng bào tị nạn từ các tỉnh khác về” (HVKT, trang 234).

Nếu không tái phối trí?
Đại tướng Viên nhận xét rằng nếu không có tái phối trí thì Miền Nam đã có nhiều cơ hội hơn, vì “không có kế hoạch đó, có lẽ quân đội chúng ta không tan rã nhanh như vậy.” Thế nhưng, ông cho rằng “đó là cái nhìn về phương diện quân sự trong giai đoạn ngắn hạn.” Về lâu dài hơn, khả năng VNCH có chịu nổi áp lực hay không là còn tùy vào số quân viện, và ông đi tới kết luận: “Một sự thật không thể chối cãi là quân đội VNCH sẽ hết đạn và nhiên liệu vào tháng 6, 1975 nếu không nhận được số quân viện phụ trội. Và một quân đội sẽ không thể nào chiến đấu nếu không có những trang bị cần thiết để chiến đấu” (CVV, trang 134). Như sự việc xảy ra, VNCH không những đã không nhận được quân viện phụ trội mà Quốc hội Hoa Kỳ lại còn tiến hành tới việc cắt hết quân viện. Bởi vậy cuối cùng cũng vẫn là vấn đề hết phương tiện chiến đấu. Và cũng hết cả tiền, một sự việc mà chúng tôi đã ghi trong cuốn KĐMTC là
vào năm 1974 thì Chính phủ Sàigòn cũng đã sắp hết ngân khoản để trả lương cho lính, vì từ tài khóa 1975, Quốc hội Hoa Kỳ đã không cho phép được tiếp tục sử dụng tiền từ Quỹ Đối Giá (Counterpart Fund) để tài trợ cho ngân sách quốc phòng và ngân sách cảnh sát nữa. Quỹ này là khoản tiền đồng Việt Nam phát xuất từ tiền bán đồ nhập cảng và từ viện trợ Mỹ, nó là thu nhập quan trọng nhất của ngân sách quốc phòng. Như vậy thì chắc dần dần rồi VNCH cũng phải giải ngũ! (xem KĐMTC, trang 213-215).

Với bối cảnh ấy và khi màn chót của tấn bi kịch đã bắt đầu hạ, vấn đề tử thủ hay không tử thủ, xét cho cùng thì cũng chỉ còn một ý nghĩa hết sức tương đối. Vì khi đã hết đạn và hết tiền thì không thể nào cầm cự được lâu.

Có thể là cả chính phủ Ford cũng muốn kết thúc cho lẹ để Mỹ khỏi bị liên lụy. Nếu Đà Nẵng cứ kéo dài thì Mỹ sẽ có áp lực phải can thiệp. Có lẽ vì vậy nên khi vừa được tin mất Đà Nẵng thì Ngoại trưởng Kissinger đã thở dài mà than vãn: “Sao chúng (VNCH ) không chết phức đi cho rồi.”
Chúng tôi không phải là nhà quân sự, nhưng khi ghi lại những dòng này cũng nghĩ rằng có thể là Tổng thống Thiệu đã chỉ thị đúng về mặt chiến lược vì ba lý do như đề cập trên đây. Mặt khác, Tướng Trưởng đã hành động theo khía cạnh chiến thuật:

•thứ nhất, cán cân quân sự đã lệch hẳn về phía Bắc Việt;
•thứ hai trung ương không còn quân và phương tiện nào để yểm trợ ông nữa;
•thứ ba, đoàn người di tản từ Huế và Quảng Trị trở vào Đà Nẵng đã trở nên hỗn loạn, tràn ngập thành phố (một thành phố với một nửa triệu dân giờ đây đã lên gần hai triệu); và
•thứ tư, cũng chẳng thấy mặt Tướng Vogt đâu và ông không hy vọng gì Hoa kỳ sẽ tiếp viện như lúc ông lấy lại Quảng Trị.

Do đó chúng tôi cho rằng Tướng Trưởng đã quyết định không tử thủ Đà Nẵng vì có tử thủ cũng
không được lâu mà lại còn phải chịu cái cảnh tàn phá khôn lường.

Điều này thì chính Tổng thống Thiệu cũng đã xác nhận với chúng tôi: “Nếu không có thêm quân viện thì có giữ Đà Nẵng cũng chẳng được bao lâu.” Và sau 1975 thì liên lạc giữa hai người tốt đẹp. Tướng Trưởng có ghé thăm TT Thiệu ở Luân Đôn và TT Thiệu cũng hay nhắc đến Tướng Trưởng. Lúc chúng tôi gặp lại ông Thiệu lần đầu ông còn mua hai cái cà vạt gửi tôi đưa về thăm ông Trưởng (như đã thuật lại trong Chương 1). Sau này trong thư từ ông cũng hay nhắc: “Cho tôi gửi lời thăm T.T.Trưởng và gia đình” (xem thư của Tổng thống Thiệu đề ngày
18/2/1981).

Chúng tôi nghĩ rằng, nếu nhìn theo chiều dài của lịch sử thì có thể là cả hai đều đã có lý do riêng của mình. Và giờ đây, hai vị tư lệnh cao cấp ấy của quân lực VNCH đã gặp nhau ở thế giới bên kia, họ có thể bắt tay nhau cho thật chặt mà không còn phải “mang nặng một niềm đau gậm nhấm tâm can” nữa.

NGUYỄN TIẾN HƯNG