1/6/10

Những Bí Ẩn Về Nguyễn Tấn Dũng

Đăng bởi tinletrai on 05/30/2010
 
Sau ngày 30/04/1975 tôi được phân công nhiệm vụ kiểm soát việc tiêu hủy những thứ mà lúc ấy được người ta gọi là “văn hoá phẩm đồi trụy”. Sài Gòn những ngày ấy còn hỗn loạn, bề bộn, lòng người thì hoang mang, bất ổn. Song trong mắt bọn chúng tôi – những kẻ chiến thắng vừa từ rừng núi tiến vào – Sài Gòn đúng thật là “hòn ngọc viễn đông”. Nhà cửa thành phố hiện đại, hàng hoá nhiều vô kể, đặc biệt là sách báo, tranh ảnh, băng đĩa và những thứ sản phẩm bị coi là “tàn dư của chế độ cũ”.
Lúc ấy chúng tôi được ủy ban quân quản bố trí ở tại một ngôi biệt thự bỏ hoang ở khu Phú Thọ. Mặc dù là bỏ không nhưng thật ra đây là một biệt thự mới tinh chưa có người đến ở, chủ nhà có lẽ là một người giàu có, xây dựng mới xong thì bộ đội giải phóng vào nên có thể đã đi di tản hoặc không dám đến nhận nhà. Ngôi nhà có tới 13 phòng, mỗi phòng đều có trang bị đồ dùng đầy đủ và rất sang trọng. Một số những chiến sỹ trẻ lúc ấy thích đọc truyện tranh, truyện tuổi hoa niên thì mang về đầy phòng đủ các loại sách truyện từ Tây Du ký, Tam Quốc chí, đến cả Đát Kỷ – Trụ Vương, rồi chuyện kiếm hiệp không biết cơ man nào. Đối với những người sống ở miền Bắc nghèo khó và những người bao năm hoạt động ở trong rừng núi thiếu thốn thì đúng quả là bị choáng ngợp với các loại sách báo Sài Gòn ngày ấy.
Trong công việc hàng ngày tôi cũng thỉnh thoảng lần giở xem xét một số những cuốn sách cũ, một số tiểu thuyết lịch sử để hiểu thêm về chế độ Việt Nam Cộng Hoà, đặc biệt nhiều nhất là sách viết về nền đệ nhất cộng hoà như cuốn “Bên giòng lịch sử” của linh mục Cao Văn Luận, hay “Những ngày chưa quên” … Lúc ấy việc đọc sách chẳng qua cũng chỉ để cho dễ buồn ngủ vào mỗi buổi tối chứ thật ra cũng chẳng có ý nghĩa gì. Chúng tôi đều cho rằng đó là những sách báo nhảm nhí, viết không đúng sự thật. Một cuốn sách hình như có tựa đề là “Những bóng ma trong hồng trường” viết về những câu chuyện thâm cung bí sử trong Quảng trường đỏ thời Xô Viết, nói về chuyện dâm ô, loạn luân của các lãnh đạo Xô Viết, lúc bấy giờ đọc những chuyện ấy chỉ xem như những chuyện tiếu lâm, những hư cấu không có thật, chứ tuyệt nhiên không thể tin được.
Thế rồi thời gian thấm thoát trôi qua với bao nhiêu biến chuyển, đổi thay của xã hội. Sài Gòn ngày ấy bây giờ chỉ còn trong ký ức của mỗi con người mà đã gắn bó, đã trải qua vào những giai đoạn lịch sử ấy. Tôi cũng đã luân chuyển qua nhiều vị trí, công việc khác nhau. Trong quá trình công tác tôi có may mắn được làm việc một khoảng thời gian ngắn với cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Khoảng thời gian này không dài nhưng lại là khoảng thời gian rất quý báu đối với tôi bởi vì đã học được nhiều điều và hiểu được nhiều điều từ cơ quan quyền lực cao nhất, từ người đứng đầu bộ máy lãnh đạo Việt nam. Trong đó có những câu chuyện mà qua hàng chục năm giữ kín, “đào sâu chôn chặt”, suy xét, kiểm nghiệm đến ngày hôm nay mới dám nói ra, bởi vì nó có liên quan đến những con người và hoàn cảnh lịch sử của đất nước ta trước đây, ngày hôm nay, và có thể nó sẽ ảnh hưởng đến tương lai dân tộc ngày mai.
Trước khi giữ chức vụ Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt nam cụ Nguyễn Văn Linh đã từng hoạt động và làm việc tại miền Nam gần 50 năm (cụ vào Sài Gòn hoạt động từ 1939), và đã từng đảm nhiệm hầu hết các chức vụ lãnh đạo cao nhất tại miền Nam trước và sau chiến tranh. Vì thế dù sinh trưởng trên quê hương Hưng Yên miền Bắc nhưng cụ đã thực sự như một người con của Nam bộ. Đến khi lên giữ chức Tổng bí thư cụ Nguyễn Văn Linh vẫn rất thường xuyên làm việc tại Sài Gòn, cụ sinh hoạt rất giản dị, khiêm tốn và kín đáo. Cụ ở trong khu vực riêng của Ban quản trị tài chính Trung ương, gọi là T78, khu vực này là một đoạn đường Trần Quốc Toản được đơn vị cảnh vệ ngăn lại hai đầu phố tiếp giáp với đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và đường Trần Quốc Thảo, thành một khu vực riêng biệt, có lối ra thông với đường Lý Chính Thắng (sau này mở thêm khách sạn Dạ Lý Hương). Có những hôm cụ vẫn xuống ăn cơm chung với cánh cán bộ chúng tôi ở nhà ăn tập thể cũng nằm trong khu vực này, cụ ăn uống đơn giản và không đồng ý có thêm bất cứ chế độ đặc biệt gì phục vụ.
Hồi ấy phương tiện đưa đón cụ chỉ là loại xe Vonga đen của Nga sản xuất, mỗi lần xe của cụ đi thì trước đó lại có mấy cậu cảnh vệ mặc thường phục ngồi sẵn trên mấy chiếc xe Honda 67 “xoáy nòng” bí mật chạy trước chạy sau để xem xét, bảo vệ, chứ không phải dùng xe Police “còi hụ” hay xe “bồ câu trắng” bảo vệ như các cán bộ lãnh đạo sau này. Thế mà có lần tôi còn nghe cụ nhắc anh lái xe “chạy chậm chậm một tí không mấy cậu bảo vệ phải đuổi theo lại đụng vào dân thì khổ”, cụ biết và quan tâm đến tất cả những chuyện nhỏ như thế.
Tôi còn nhớ, vào khoảng năm 1988 có lần phải xuống làm việc với đặc khu ủy Vũng tàu (lúc ấy Vũng tàu vẫn còn là đặc khu Vũng tàu-Côn đảo), làm việc xong vào cuối buổi chiều cụ lại muốn đi tắm biển một chút cho khoan khoái. Thế là đám cán bộ địa phương và lực lượng bảo vệ lại phải cuống quýt lo bố trí địa điểm kín đáo, an toàn. Đến khi cụ xuống tắm lại phải bố trí hàng chục cán bộ bảo vệ cùng tắm quanh khu vực, thậm chí có người không kịp chuẩn bị đồ tắm đã phải mặc cả đồ lót đi tắm và mặc luôn đồ ướt đi về. Sau khi biết chuyện ấy cụ mới tự trách : biết các cậu phải lo lắng kỹ lưỡng như vậy thì tôi tắm luôn trong phòng cho xong.
Những ai đã sống trong thời điểm đó thì chắc đều không thể quên được chuyên mục “Những việc cần làm ngay” của cụ viết ký với bút danh N.V.L. Ngay từ khi những sự việc được báo chí đăng tải cụ đã trực tiếp đôn đốc hoặc phân công cho những cán bộ trực tiếp phụ trách theo dõi và phải hàng ngày báo cáo kết quả công việc cho cụ biết. Đúng theo tinh thần “Nói Và Làm”.
Tiếc rằng lãnh đạo đất nước ta từ đó đến nay đã không xuất hiện thêm một ông “Nói Và Làm” nào nữa . Tôi vẫn thường nghĩ rằng nếu các lãnh đạo sau này và các lãnh đạo chính quyền cấp dưới có được quan điểm làm việc, đạo đức và cách sống như cụ thì chắc rằng người dân Việt nam sẽ có được cuộc sống no đủ và công bằng hơn rất nhiều.
Vào khoảng thời gian trước khi về nghỉ, có lẽ nhận thấy sức mình không thể làm thay đổi được cả một bộ máy, một cơ chế cồng kềnh và bảo thủ, cũng lại do hiểu được tính bè phái và sự lộng quyền của những kẻ lãnh đạo cơ hội trong Đảng, cụ càng trở nên trầm tư hơn. Nếu ai có điều kiện lui tới gặp cụ tại nhà riêng thời gian này sẽ nhận thấy sự thất vọng và u uất thể hiện rõ trên khuôn mặt và thái độ của cụ. Ngoài quan hệ công việc tôi lại có quan hệ rất thân tình với cô Bình (Nguyễn Thị Bình) con gái cụ, tôi quen Bình từ lúc còn đang học ở Liên Xô, Bình cũng rất quý tôi, coi tôi như người anh . Có lẽ cũng vì thế mà mỗi lần tôi đến nhà cụ chơi hay có công việc gì đều thấy tự nhiên như người nhà.
Sau này khi cụ Nguyễn Văn Linh thôi giữ chức Tổng bí thư Đảng, tôi không còn được làm việc với cụ nữa, nhưng thỉnh thoảng có dịp ra vào công tác tôi vẫn ghé thăm cụ, hoặc là ghé thăm Bình, vài tháng một lần. Mỗi lần gặp cụ lại hỏi thăm tình hình công việc, tình hình tổ chức nội bộ, tình hình các địa phương. Cụ tỏ thái độ than phiền với những người kế nhiệm và đặc biệt kêu ca về khâu tổ chức cán bộ và quy hoạch lãnh đạo cao cấp.
Vài năm sau đó nữa, lúc này sức khỏe của cụ tỏ ra đã yếu hơn trước rất nhiều, cụ ít đi lại hơn. Một buổi tối tôi đến thăm cụ, thấy cụ có vẻ không được khỏe, tôi không dám nói chuyện nhiều, sau khi hỏi thăm cụ vài câu tôi định đứng dậy ra về, nhưng cụ bỗng khoát tay ra hiệu bảo tôi hãy ở lại chơi và sau đó lại kéo tôi vào buồng trong. Tôi hiểu là cụ muốn trao đổi một chuyện gì đó, chắc là quan trọng hơn.
Vừa ngồi xuống là cụ hỏi ngay : mấy hôm nay cậu có theo dõi vụ Tổng công ty Tracodi mà báo chí vừa đưa tin không ?
Tôi đáp : Dạ, có biết chứ ạ ! Nhưng cũng chưa rõ lắm đúng sai thế nào ?
Cụ lại quay sang hỏi : Thế cậu có biết cái tay Tổng Giám đốc Phan Thanh Nam là người như thế nào không ?
Tôi chợt hiểu ra có điều gì đó quanh vấn đề này, thời gian trước đó đã có dư luận xôn xao quanh chuyện Phan Thanh Nam là con rơi của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, cánh cán bộ văn phòng chúng tôi đều có nghe nhưng vẫn không biết thực hư thế nào, nên cũng chỉ coi như một tin đồn nhảm.
Bỗng cụ ghé sát gần tôi và nói : Những chuyện này mà tao không nói cho các cậu thì sau này sẽ chẳng có ai được biết đến nữa.
Thế là bỗng nhiên tôi trở thành một nhân chứng để ghi nhận những sự kiện ghê ghớm thế này, những sự kiện đã gắn liền với lịch sử Cách mạng Việt nam nhưng không bao giờ được chép trong sử sách và nó là một bộ mặt thật hoàn toàn khác với những gì mà nhân dân được biết về lãnh đạo Việt nam, nhất là về lãnh tụ tối cao nhất : Hồ Chí Minh, con người mà bản thân tôi cũng từng ngưỡng mộ và tôn kính từ khi còn rất bé.
Theo cụ Nguyễn Văn Linh kể thì Bộ chính trị lúc bấy giờ, (tất nhiên đứng đầu là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ chỉ đạo, điều này thì sau này không ai là không biết), biết rằng cụ Hồ gặp những thiếu thốn và khó khăn về tình cảm cá nhân, như chuyện muốn nối lại mối tình duyên với người vợ cũ ở Trung quốc nhưng đã bị phản đối (đây là một câu chuyện có thật đã được phía Trung quốc công bố từ những thập niên 80, 90 của thế kỷ trước. Về việc này tôi lại nhớ về sự kiện bài báo “Bác Hồ có vợ ?” được đăng trên báo Tuổi Trẻ của tác giả Kiến Phước – Trưởng đại diện báo Nhân dân tại TP. Hồ Chí Minh, chính vì bài báo này mà sau đó Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ là Nguyễn Kim Hạnh, cũng chính là vợ ông Kiến Phước, bị mất chức. Sau này có lần đến chơi với hai vợ chồng Kiến Phước – Kim Hạnh ở trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, cũng gần khu T78, nhắc lại chuyện này họ lại buồn và phản ứng ghê lắm). Do vậy sau đó Bộ chính trị có bí mật sắp xếp nhiều người phụ nữ khác để chăm sóc và phục vụ cụ Hồ về mặt sinh hoạt tính dục. Đặc biệt, từ thuở còn thanh niên cụ Hồ đã có một mối tình đầu rất đẹp với một người con gái miền Nam (sự thật này đã được nhà văn Sơn Tùng sưu tầm và công bố trong bài viết “đi tìm Út Huệ”), do vậy cụ Hồ có một ấn tượng và thiện cảm đặc biệt với những người phụ nữ Nam bộ. Biết thế nên Bộ chính trị đã chỉ đạo cho Trung ương cục miền Nam, mà lúc này Nguyễn Văn Linh là Bí thư Trung ương cục, phải kín đáo tìm kiếm trong số những cán bộ, du kích miền Nam một vài cô gái còn trẻ, đẹp để đưa ra miền Bắc phục vụ cụ Hồ và các vị trong Bộ chính trị. Thời điểm đó thì Võ Văn Kiệt đang là ủy viên Trung ương cục được cụ Nguyễn Văn Linh tin tưởng tuyệt đối và giao cho trực tiếp phụ trách nhiệm vụ đặc biệt này. Trong số vài cô gái tuyển lựa được lúc đó đang chuẩn bị bố trí bí mật đưa ra miền Bắc, có một cô còn trẻ và rất sắc sảo họ Phan. Giữa lúc đó thì tình hình chiến sự đang diễn ra khá ác liệt nên không thể đưa các cô đi ngay được và rồi không hiểu thế nào mà ông Kiệt lại quan hệ dan díu với chính cô gái họ Phan kia. Đến lúc sự việc vỡ lở thì cô gái đã có thai được mấy tháng rồi. Thế là cô ta phải ở lại và cái bào thai đó chính là vị tổng Giám đốc Tracodi : Phan Thanh Nam sau này.
Nghe đến đây tôi cảm thấy vô cùng sửng sốt và bỗng thấy rùng mình hết cả người. Rõ ràng người đang kể ra những sự việc đó là một người đã từng giữ trọng trách cao nhất trong Đảng cộng sản Việt nam, một người trong số vài ba người được biết rõ nhất, chính xác nhất về câu chuyện này, một người trong số vài ba người hiếm hoi biết được những chuyện thâm cung bí sử nhất trong Trung ương Đảng cộng sản, một người mà cái tuổi đã vượt quá ngưỡng “cổ lai hy” rồi . Như vậy không thể là nói thiếu chính xác hoặc vô căn cứ được, càng không thể là nói xấu tổ chức Đảng và lãnh tụ được. Như vậy những chuyện tày trời kia là có thật ư ?
Tôi đang bần thần như người ngủ mê và còn chưa biết phải nói thế nào, cụ Linh lại nói tiếp : … cũng không phải chỉ riêng có Sáu Dân đâu (bí danh của Võ Văn Kiệt), mấy ông tướng nhà ta cũng đầy con rơi ra đấy, còn thằng Ba Dũng là con Nguyễn Chí Thanh, rồi thằng Trần Nam là con Trần Văn Trà hiện đang làm bên Học viện lục quân ấy.
Thế là cụ lại kể cho tôi biết thêm những sự thật khác.
Theo cụ Nguyễn Văn Linh thì trong thời gian tướng Nguyễn Chí Thanh làm Bí thư liên khu ủy khu IV khoảng từ năm 1948 đến 1950 đã có quan hệ với một cán bộ phong trào ở đây và sinh ra Nguyễn Tấn Dũng, và cụ còn cho biết là sau Nguyễn Tấn Dũng vẫn còn một người em trai nữa cũng là con của tướng Thanh.
Còn tướng Trần Văn Trà thì có quan hệ với một người phụ nữ quê ở miền Bắc (hình như là họ Hoàng, điều này tôi không còn nhớ rõ) rồi sinh ra Trần Nam, cũng là một sỹ quan quân đội đang công tác tại Học viện lục quân Đà lạt.
Về Trần Nam thì hồi đó tôi không hề được biết một thông tin liên quan nào, chưa hề nghe đến danh tính. Rất gần đây tình cờ đọc báo về vụ công ty Rusalka của siêu lừa Nguyễn Đức Chi rồi hỏi thăm cán bộ ở dưới mới được biết Trần Nam chính là giám đốc công ty Lâm Viên thuộc Học viện lục quân – Bộ quốc phòng, có liên quan đến vụ án này.
Sau buổi tối hôm ở nhà cụ Nguyễn Văn Linh ra về tôi bàng hoàng và băn khoăn nhiều lắm. Như vậy những thứ được gọi là tư cách, đạo đức, mẫu mực của các lãnh đạo cao cấp của Đảng ta thật ra chỉ là những thông tin tuyên truyền thôi ư ? Và những kẻ bày ra những trò này chắc cũng không ngoài mục đích nhằm thao túng cụ Hồ và thao túng cả Bộ chính trị ? Vậy thì đã có biết bao cô gái trẻ đã bị đánh mất tuổi thanh xuân và sự trinh trắng ở đó, và để đảm bảo tuyệt đối bí mật những thông tin này, dứt khoát phải có nhiều người đã bị thủ tiêu hoặc làm cho mất trí nhớ hoàn toàn. Như vậy những câu chuyện đồn thổi về những bóng ma trong quảng truờng Ba đình phải chăng cũng là có thật ? Thật bi thảm và khủng khiếp quá !
Bắt đầu từ câu chuyện đó nên sau này tôi đã cố tìm hiểu thêm những thông tin khác liên quan đến Ba Dũng.
Khoảng năm 2000, trong cuộc trò chuyện với một thiếu tướng Quân đội đã nghỉ hưu có quan hệ khá thân thiết với tôi, ông này có thời gian đã công tác tại liên khu IV và V, ông ta cũng lại khẳng định với tôi rằng Nguyễn Tấn Dũng chính là con của Nguyễn Chí Thanh. Hiện nay vị tướng này vẫn còn sống và là ủy viên của Hội cựu chiến binh Việt nam, để tránh gây phiền phức cho ông nên tôi không dám nêu danh tính cụ thể lên ở đây
Tôi đã tìm xem trong số những tài liệu lưu ở văn phòng có liên quan đến Nguyễn Tấn Dũng nhưng không thấy lộ ra chi tiết nào nói về chuyện này. Thế nhưng nhìn vào lý lịch và quá trình công tác của Ba Dũng rõ ràng có những điều bí ẩn sau đó. Ông ta chỉ là một cán bộ tầm trung bình, không có chuyên môn nghiệp vụ (thật ra được đào tạo làm y tá quân đội), trình độ văn hoá thấp, chưa được đào tạo cơ bản chính quy, không có thành tích đặc biệt, không có năng khiếu gì xuất chúng, thế nhưng lại có quá trình thăng tiến nhanh vượt bậc ( ?).
Sau này, trong những lần làm việc với Nguyễn Tấn Dũng tôi lại càng thấy rõ những điều đó hơn và càng thất vọng rất nhiều. Quả là ông ta là một người năng lực rất kém. Về hình thức bề ngoài, từ trước đến nay ít có lãnh đạo Việt nam nào có được dáng dấp và khuôn mặt sáng láng như Ba Dũng, cái hình thức đó rất dễ làm cho những ai không biết tưởng rằng đó là một người rất thông minh, nhanh nhẹn. Thật ra tương phản với hình thức sáng láng đó là một não trạng rất tối tăm, dốt nát. Hồi mới về Trung ương có những lần nghe ông phát biểu mà mọi người đều không hiểu ông định diễn đạt điều gì, rất lủng củng, tối nghĩa, lại lúng túng, cụt lủn. Nhiều lần tham dự những cuộc họp do Ba Dũng chủ trì, tôi thấy ông ta không dám phát biểu gì, chỉ ngồi nghe các cơ quan cấp dưới phát biểu sau đó ông ta cũng chẳng dám có ý kiến kết luận gì cả. Phải trải qua năm, sáu năm “thực tập” ở cái ghế Phó thủ tướng thì ông ta mới tỏ ra là tự tin, biết chủ trì những cuộc họp lớn của cơ quan Đảng, Chính phủ, nhưng vẫn chỉ là cái kiểu nói lúng túng, nước đôi, nói hùa theo các ý kiến khác chứ không thấy tự tư duy được điều mới mẻ cả. Mặc dù có cả một cơ quan tham mưu giúp việc rất đồ sộ “mớm” cho từng văn bản, từng câu chữ nhưng mỗi lần phải “nói vo” anh ta đều phát biểu rất khó khăn, không có đầu đuôi gì cả. Suốt cả quá trình dài là người đứng đầu Chính phủ và phụ trách tất cả những mảng quan trọng nhất nhưng ông ta chưa làm được một việc gì đáng kể. Đặc biệt, Ba Dũng rất dốt ngoại ngữ, trong cuộc họp mà phát biểu những từ gì tiếng Anh thì toàn nói sai hoặc nói lung tung cho qua. Một con người năng lực yếu kém như vậy mà lại lên đến chức Phó thủ tướng, và nay là Thủ tướng Chính phủ thì quả là không hiểu nổi ? Quả là có một bí ẩn khủng khiếp !
Một dịp may khác ngẫu nhiên đến để tôi được kiểm chứng thêm lời nói của cụ Nguyễn Văn Linh. Đó là khoảng năm 2001, trong một lần tiếp xúc với lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh tại ủy ban thành phố có một vị khách đến làm việc theo lịch đã hẹn, và tôi được giới thiệu người khách đó là Tư Thắng (Nguyễn Tiến Thắng), em ruột Ba Dũng. Người này nhìn bề ngoài giống hệt Ba Dũng, từ chiều cao, dáng người đến nét mặt, mái tóc và kể cả giọng nói, thậm chí kể cả cử chỉ, dáng điệu (Ba Dũng hay có thói quen hất cằm và khuôn mặt ra phía trước). Tư Thắng giống Ba Dũng đến mức chỉ nghe giới thiệu là có thể tin ngay rồi, chỉ khác một chút là nước da đen hơn Ba Dũng một chút và khuôn mặt có vài vết rỗ. Riêng về cách ăn mặc thì ngược hẳn với ông anh, phóng khoáng tự do, thể hiện là người không làm việc trong cơ quan chính quyền. Có lẽ đã nghe tên tôi từ trước, Tư Thắng chủ động tự giới thiệu trước và đưa danh thiếp có số điện thoại cho tôi (tôi vẫn còn giữ danh thiếp ấy và số điện thoại di động là 090845846, lúc ấy ĐTDĐ chỉ có 9 con số, hiện nay đều đã thêm số 3 nên sẽ là 0903845846), sau đó Tư Thắng còn mời tôi lúc nào rảnh rỗi thì đến chỗ anh ta chơi.
Vì muốn tìm hiểu kỹ sự thật, có một buổi chiều sau giờ làm việc tôi đã lững thững đi bộ đến chỗ Tư Thắng. Theo địa chỉ Tư Thắng cho tôi biết thì đó là một căn nhà mặt tiền đường 3/2, gần ngã tư Cao Thắng (phía bên Nhà hát Hoà Bình), đó là một ngôi nhà lớn, vị trí rất đẹp, nhưng sau này tìm hiểu ra tôi mới được biết Tư Thắng có rất nhiều đất đai và biệt thự ở khắp các tỉnh Nam bộ, ngôi nhà này cũng chỉ là chỗ đi lại mà thỉnh thoảng ở Sài Gòn Tư Thắng mới ghé qua. Chính vì Tư Thắng muốn nhờ tôi giới thiệu thêm với một số lãnh đạo để giúp cho các công việc làm ăn của anh ta, tôi mới được biết là có rất nhiều công ty nằm dưới tay anh ta, đa phần là công ty TNHH. Các công ty này đều chỉ dựa vào thế lực và các mối quan hệ của Ba Dũng để tham gia vào rất nhiều lãnh vực khác nhau như : tài chính, ngân hàng, bất động sản, thương mại, xây dựng, tham gia các dự án nhà nước … Điều làm tôi quan tâm nhất là anh ta có quan hệ với rất nhiều người Đài Loan, đặc biệt trong mạng lưới các chân rết của Tư Thắng có một ngân hàng Đài loan hoạt động chui tại Việt nam là First China Bank (một đàn em tin cậy của ông ta được giao phụ trách việc này cũng tên là Dũng có số ĐTDĐ là 0913950661). Như vậy có thể hiểu được đây chính là những “sân sau” của Ba Dũng, và để tránh đụng chạm với các thế lực khác cạnh tranh, anh em ông Ba Dũng đã nhằm vào địa bàn hoạt động chủ yếu ở miền Trung và Nam bộ, sau đó việc rửa tiền và chuyển ngân lậu được thực hiện qua ngả Đài loan. Liệu có thế lực nào khác và bàn tay của cơ quan tình báo Đài loan nhúng vào những chuyện này không ? Chưa ai biết được chuyện đó !
Như vậy, đường đi và vị thế của ông tân thủ tướng Việt nam quả là có một quá trình đầy bí ẩn, đầy những bàn tay sắp đặt, chắc chắn đứng đằng sau ông ít nhất còn có hai người em là Nguyễn Tiến Thắng và Nguyễn Chí Vịnh (tổng cục trưởng Tổng cục tình báo quân đội, con trai chính thức được thừa nhận của tướng Nguyễn Chí Thanh) để lo thu xếp mọi việc từ tài chính đến an ninh chính trị.
Lại cũng dễ hiểu khi con đường quan lộ của Nguyễn Tấn Dũng rộng mở song hành với sự thao túng và lộng quyền của Tổng cục hai trong tay Nguyễn Chí Vịnh (sự lộng quyền này, trong mấy năm gần đây có rất nhiều cán bộ cao cấp và cán bộ lão thành đã phản ánh đến các cơ quan Đảng). Nó là hai mệnh đề luôn bổ sung và giải nghĩa cho nhau. Từ mệnh đề đó có thể giải đáp được rất nhiều những câu hỏi khác. Sự liên quan và ràng buộc này nếu nhìn trên góc độ thực tế chắc chắn đã và sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu đến tương lai của đất nước. Bởi vì sự bè phái và những âm mưu thâu tóm quyền lực là những nguyên nhân lớn nhất gây nên đổ vỡ tan rã trong Đảng, đây là điều mà Hồ Chí mInh đã cảnh báo từ rất sớm. Trong thực tế chế độ ta chỉ chấp nhận một Đảng duy nhất lãnh đạo, những chia rẽ và yếu kém trong Đảng dứt khoát có nguy hại đến sự phát triển của đất nước, đến đời sống nhân dân. Nhất là trong tình hình hiện nay hai căn bệnh lớn nhất tồn tại trong Đảng đang bị xã hội lên án rất gay gắt và là nguy cơ thật sự , đó là tham nhũng và tranh giành quyền lực.
Nếu những căn bệnh này còn tồn tại, không được giải quyết triệt để, sự tan rã chế độ sẽ là tất yếu. Rồi tập đoàn Dũng – Thắng – Vịnh sẽ đưa đất nước ta đến bờ vực thẳm nào ?
Những sự việc cụ Nguyễn Văn Linh đã kể lại cho tôi chắc chắn cũng phải còn ít nhất là một vài người khác được biết, thế nhưng cho đến nay vẫn chưa có ai dám công khai nêu lên. Trước thực trạng đầy bất ổn của tình hình chính trị đất nước cùng với tấm lòng cảm mến và kính trọng cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, tôi nhận thấy chính mình phải có trách nhiệm nói ra những điều này, tôi xin hoàn toàn đảm bảo về tính trung thực và chính xác của sự việc này. Tôi cũng mong rằng sau khi sự thật này được đưa ra ánh sáng thì sẽ có thêm nhiều bằng chứng khác của các vị lão thành Cách mạng, của những ai có may mắn được biết đến những sự việc trên sẽ bổ sung đầy đủ hơn để bạch hoá hoàn toàn những bí ẩn này.
Thứ nữa, tôi muốn thông báo đến giới trẻ, những người chủ tương lai của đất nước được biết rằng : có rất nhiều những sự thật mà các bạn không có cơ hội được biết đến, mà lẽ ra trong xã hội hiện đại truyền thông đa phương tiện ngày nay các bạn cần phải biết tất cả những sự thật, những điều trắng đen rõ ràng để tự xây dựng cho mình những tư duy sống, những quan điểm tự nhiên chứ không phải những ý thức hệ bị cưỡng bức, những tư tưởng bị chỉ đạo.
Cuối cùng, tôi muốn gửi thông tin này đến tất cả mọi người dân với mong muốn rằng nhân dân chúng ta đều càng ngày càng được cởi mở hơn trong tiếp nhận thông tin, tiếp nhận sự thật. Những sự thật lịch sử cần phải được tôn trọng và dần dần cần được giải mã trước công chúng. Những sự việc gây ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước cần phải được minh bạch và công khai. Từ đó mỗi người dân cần có thái độ và đóng góp trách nhiệm của mình một cách rõ ràng trước những điều hệ trọng của đất nước. Nhân dân cần phải thay đổi thói quen chấp nhận để đời sống chính trị bị lệ thuộc bởi một cá nhân nào, một đảng phái nào, hay một thể chế nào, một chính phủ nào, mỗi người phải có quyền và nghĩa vụ tự quyết định cho riêng mình trong một xã hội văn minh, dân chủ.
 
Hà Nội ngày 09/10/2006
 
Hoàng Dũng, Cán Bộ VPTƯ

21/5/10

Vì sao giáo dục đụng đâu… dở đó?

Văn Như Cương
“Thật hết sức sửng sốt… Chuyện “ngăn sông cấm chợ” một thời đã làm khó khăn cho việc lưu thông hàng hóa thì nay lại xuất hiện trong giáo dục – ngăn thầy ở nơi này không được dạy học sinh giỏi nơi kia, cấm trò giỏi ở miền núi không được học thầy miền xuôi. Nghĩa là nghiêm cấm việc “tầm sư học đạo” …
“Người viết bài này xin có vài ý kiến, vừa là nhận xét, vừa là đề nghị.
1) Việc đổi mới giáo dục nên bắt đầu bằng việc đổi mới mới tư duy, và cách quản lý giáo dục, trước hết ở cấp Bộ.
2) Muốn vậy phải cải tổ bộ máy hành chính và chuyên môn ngay trong cơ quan đầu não của Bộ GD và ĐT. Cần giảm bớt những người không có năng lực, chỉ ngồi ở bàn máy tính, không sâu sát thực tế, cần tăng cường những người có nghiệp vụ tinh thông, có tinh thần trách nhiệm, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
3) Không nên thay đổi xoành xoạch các chủ trương dầu là nhỏ, tránh tình trạng vừa thực hiện mới một lần rồi bỏ, thậm chí chưa thực hiện lần nào…”
GS Văn Như Cương
Người ta có quyền đặt câu hỏi: Các chủ trương do chính cán bộ quản lý các cấp Bộ xây dựng, và được người có thẩm quyền cao nhất Bộ GD và ĐT, ký duyệt ban hành. Vậy, tại sao các chủ trương này đụng đâu… dở đó?
Từ chuyện nhỏ cấm “tầm sư học đạo”…
Tôi xin bắt đầu từ câu chuyện nhỏ sau đây.
Ngày 29/12/2009 tôi đọc trên Vietnamnet bản tin “Không được mời thầy nơi khác về ‘luyện’ học sinh giỏi”. Tôi tò mò đọc tiếp thì mới hay là Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa hướng dẫn tổ chức kỳ chọn học sinh giỏi quốc gia năm 2010, theo đó Bộ “đặc biệt lưu ý các địa phương trong kỳ thi năm nay  không được mời các thầy, cô giáo ở nơi khác về tập huấn cho đội tuyển học sinh giỏi của mình dưới bất kỳ hình thức nào“.
Tôi lấy làm lạ và cố tìm hiểu đầu đuôi câu chuyện. Thì ra lệnh “cấm mời thầy nơi khác…” không phải là mới. Nó đã được ban hành từ năm 2007, nhưng có lẽ các địa phương không tuân theo nên năm nay Bộ phải nhắc lại.
Thật hết sức sửng sốt… Chuyện “ngăn sông cấm chợ” một thời đã làm khó khăn cho việc lưu thông hàng hóa thì nay lại xuất hiện trong giáo dục – ngăn thầy ở nơi này không được dạy học sinh giỏi nơi kia, cấm trò giỏi ở miền núi không được học thầy miền xuôi. Nghĩa là nghiêm cấm việc “tầm sư học đạo” …
clip_image001[1]
Có lẽ không cần bình luận gì thêm ngoài một câu ngắn gọn: Đó là một mệnh lệnh hết sức điên khùng và dốt nát…
May thay, ngày 27/02/2010 lại cũng trên Vietnamnet có tin lệnh cấm nói trên được bãi bỏ. Mặc dầu vậy, dư âm của sự kiện đó, cùng nhiều sự kiện tương tự, đã làm cho tôi suy nghĩ về một số khía cạnh khác nhau.
Thứ nhất, ai là người đã đưa ra “ý tưởng” cần phải ra một cái lệnh cấm như thế? Cố nhiên đó phải là một (hoặc một nhóm) quan chức của Bộ GD và ĐT, và chắc chắn đó là người có tư duy hết sức lệch lạc và cổ lỗ đến mức “bệnh hoạn”, mặc dầu anh ta bét ra cũng phải có cái bằng Cử nhân. Nếu tôi là người có quyền ở Bộ, tôi sẽ không ngần ngại cho anh ta thôi việc ngay lập tức.
Thứ hai, cái ý tưởng quái đản ấy đã được thảo luận, trao đổi và đi đến thống nhất trong một tập thể như thế nào? Chắc chắn rằng đa số trong tập thể đó đã tán thành hoặc thậm chí hoan nghênh nhiệt liệt cái “sáng kiến”  ấy. Thế thì hóa ra những người đó hoặc là vô trách nhiệm, hoặc là tư duy cũng cùng loại như “nhà sáng kiến” đó mà thôi.
Thứ ba, ai là người đã ký và cho công bố cái lệnh cấm?  Phải chăng vì người có thẩm quyền đọc và ký lệnh đó, chỉ đọc qua loa và vì đang nghĩ về chuyện khác nên ký xoẹt một cái là xong? Hay cũng là người rất tâm đắc về cái lệnh mới này. Hay phải chăng, vì lâu rồi trong việc thi học sinh giỏi chưa thấy gì đổi mới, nên ông ta sốt sắng ký và ra lệnh công bố ngay?… Trong bất kỳ trường hợp nào, ông ta cũng là nhà quản lý giáo dục… tồi.
…đến chuyện lớn về… tư duy giáo dục và quản lý GD
Tôi đã bắt đầu từ một câu chuyện nhỏ… Tuy nhiên, điều mà tôi rất lo lắng là số lượng các “câu chuyện nhỏ” như vậy lại không nhỏ tí nào. Thử liệt kê những chuyện gần đây.
+ Cấm các trường ĐH tư thục mở các ngành đào tạo: Sư phạm, Luật, Báo chí.
Đó là một điều khoản trong dự thảo, công bố ngày 23/2/2010, về điều kiện mở ngành đào tạo ở các trường ĐH, CĐ. Quy định này ngay lập tức gặp phải sự phản ứng dữ dội của dư luận. Ban đầu các nhà quản lý ở Bộ giải thích, nói cấm là không đúng, quy chế chỉ nói “không được mở” mà thôi, mà thực tế là chưa có trường nào xin mở (?). Sau thấy không ổn lắm, Bộ lại nói rằng đã công bố nhầm, thay vì công bố bản chính thì lại công bố bản nháp (!).
+ Dự thảo “Quy chế quản lý công dân Việt Nam đang học ở nước ngoài”.
Đây chỉ mới là dự thảo, tung ra để lắng nghe góp ý, nhưng đã gặp phải sự phê phán cực kỳ gay gắt. Phân tích dự thảo, nhiều người đi đến nhận định rằng đội ngũ các nhà soạn thảo dự án đó có trình độ  rất yếu kém, không am hiểu nghề nghiệp, không nắm chắc các văn bản luật pháp, không có kiến thức thực tế, không am hiểu tình hình… Nếu quả đúng như vậy thì thật đáng buồn, và là cái họa lâu dài cho việc quản lý giáo dục.
+ Môn Ngoại ngữ không phải là môn thi bắt buộc.
Từ trước đến nay thi tốt nghiệp THPT có 6 môn, trong đó có 3 môn cố định (tức là năm nào cũng thi): Toán, Văn, Ngoại ngữ. Ba môn còn lại thì thay đổi theo từng năm, tức không bắt buộc năm nào cũng thi.
“Đùng” một cái, đầu năm nay, khi công bố các điểm mới về thi tốt nghiệp, Bộ đã đặt môn Ngoại ngữ ra ngoài các môn cố định. Như vậy môn cố định chỉ còn Toán và Văn, môn Ngoại ngữ thì có thể thi cũng có thể không, tùy theo từng năm.
Dư luận lại một phen sửng sốt vì sự đổi mới này đi ngược với chủ trương tăng cường học ngoại ngữ của học sinh, sinh viên. Thậm chí Bộ đang nghiên cứu dự án học ngoại ngữ ở bậc phổ thông từ lớp 3 đến lớp 12.
May thay, lại “đoàng” một cái, Bộ lại tuyên bố các môn thi vẫn theo quy định cũ trước đây. Thế là cái mới này xóa bỏ không thương tiếc cái mới ngay trước đó, để trở thành cái như…cũ!
Trở lại như cũ là đúng là hợp lý. Chỉ có điều không hiểu tại sao Bộ lại “sáng đúng, chiều sai, sáng mai lại đúng” nhanh như chong chóng vậy?
+ Phần tự chọn trong các đề thi.
Năm ngoái, theo quy định thì trừ môn ngoại ngữ, các đề thi của các môn còn lại gồm hai phần: Phần bắt buộc và phần tự chọn. Phần tự chọn gồm hai đề, một đề theo chương trình chuẩn, một đề theo chương trình nâng cao.  Học sinh học theo chương trình nào thì phải “chọn” đúng đề của chương trình đó. Cái cấu trúc lôi thôi phức tạp ấy đã bị nhiều nhà giáo lên tiếng phản đối.
Người ta đặt ra các câu hỏi: – Tại sao phải có tự chọn trong kỳ thi tốt nghiệp phổ thông? -Tại sao môn Ngoại ngữ lại không có phần tự chọn? – Làm thế nào phát hiện ra thí sinh chọn không đúng phần tự chọn?
Nhưng, như thường lệ, Bộ cứ làm, và ngay trong kỳ thi năm ngoái, luật “chọn đúng”  đã bị bãi bỏ ngay trong khi chấm thi, nghĩa là ai muốn chọn đề nào thì làm đề đó, miễn là không làm cả hai.
Sang năm nay, Bộ vẫn giữ nguyên cấu trúc tự chọn, chỉ thay đổi ở chỗ, cho học sinh tự chọn phần tự chọn theo đúng nghĩa của “tự chọn”! Tôi thật tình không thể hiểu nổi tại sao các quan chức ở Bộ cứ làm rắc rối thêm vấn đề, làm cho sự việc đang đơn giản lại trở thành rất phức tạp như vậy? Hay đó mới là… đổi mới?clip_image002
+ Giảm từ 9.000 xuống còn 600.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm ngoái Bộ tung ra một lực lượng hùng hậu chưa từng thấy của thanh tra ủy quyền – 9000 người, gồm các giảng viên ĐH, CĐ. Ý định của Bộ muốn quyết tâm làm một kỳ thi nghiêm túc nhất, để trên cơ sở đó năm 2010 sẽ thực hiện dự án mà người ta quen gọi là thi “2 trong 1″ (nhập làm một hai kỳ thi tốt nghiệp và thi tuyển vào ĐH, CĐ).
Những giáo viên có kinh nghiệm cho rằng việc tăng cường thanh tra ủy quyền như vậy không phải là biện pháp hiệu quả để chống tiêu cực trong thi cử. Nếu hội đồng coi thi không nghiêm thì bao nhiêu thanh tra cũng chẳng thấm vào đâu!
Rồi không biết vì lý do gì, năm nay Bộ “sửa chữa sai lầm” bằng cách giảm mạnh số thanh tra ủy quyền đi 15 lần, chỉ còn 600 vị mà thôi. Tuy nhiên ông Phó Chánh Thanh tra của Bộ lại giải thích một cách khéo léo rằng: “Qua 3 năm thực hiện cuộc vận động “2 không”, công tác thi cử đã đi vào ổn định nên lực lượng thanh tra ủy quyền của Bộ cắm chốt tại các hội đồng coi thi không còn thực sự cần thiết nữa và gây lãng phí”.
Người nghe dễ dàng đưa ra hai câu hỏi khó trả lời: – Liệu việc giảm mạnh số thanh tra ủy quyền có làm cho việc thi cử trở nên tiêu cực như trước hay không? – Nếu quả thật việc thi cử đã ổn định, nền nếp, tại sao năm 2010 Bộ vẫn tổ chức hai kỳ thi như cũ mà không thực hiện “2 trong 1″ như đã báo trước?
Vì sao, vì sao và… vì sao?
Quả thật, nếu cứ làm công tác liệt kê các chủ trương, e quá dài dòng.
Nhưng người ta có quyền đặt câu hỏi: Các chủ trương do chính cán bộ quản lý các cấp Bộ xây dựng, và được người có thẩm quyền cao nhất Bộ GD và ĐT, ký duyệt ban hành. Vậy, tại sao các chủ trương này đụng đâu… dở đó?
Người viết bài này xin có vài ý kiến, vừa là nhận xét, vừa là đề nghị.
1) Việc đổi mới giáo dục nên bắt đầu bằng việc đổi mới mới tư duy, và cách quản lý giáo dục, trước hết ở cấp Bộ.
2) Muốn vậy phải cải tổ bộ máy hành chính và chuyên môn ngay trong cơ quan đầu não của Bộ GD và ĐT. Cần giảm bớt những người không có năng lực, chỉ ngồi ở bàn máy tính, không sâu sát thực tế, cần tăng cường những người có nghiệp vụ tinh thông, có tinh thần trách nhiệm, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
3) Không nên thay đổi xoành xoạch các chủ trương dầu là nhỏ, tránh tình trạng vừa thực hiện mới một lần rồi bỏ, thậm chí chưa thực hiện lần nào.
4) Đã hứa thì phải làm cho bằng được, bởi vậy đừng hứa trước những điều không dễ thực hiện. Chẳng hạn hứa rằng đến năm 2010 giáo viên có thể sống bằng lương, trong lúc đó lại bỏ việc phụ cấp chấm bài quá tiêu chuẩn…
5) Cần lắng nghe và hiểu rõ các ý kiến phản biện. Chẳng hạn vấn đề thi “2 trong 1″, vấn đề chọn nhà giáo được học sinh yêu quý, vấn đề lương giáo viên…

Tin tặc ở Việt nam: Không khảo mà xưng

Nhật Hiên, thông tín viên RFA
Trong tuần qua, dư luận trên các diễn đàn “lề trái” và cộng đồng bloggers được dịp nóng lên trước thông tin Trung tướng công an Vũ Hải Triều, Tổng cục phó Tổng cục an ninh, đã tự hào khoe thành tích: “Trong mấy tháng qua, bộ phận kỹ thuật của “ta” đã phá sập 300 báo mạng và blog cá nhân xấu”.

Ông Trương Tấn Sang – Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư phát biểu chỉ đạo "Hội nghị toàn quốc triển khai nhiệm vụ của các cơ quan báo chí năm 2010” ngày 5.5.2010. Photo courtesy of baodongnai.com.vn
Tướng công an thừa nhận
Lời tuyên bố này của ông Vũ Hải Triều được đưa ra trong bài nói chuyện tại “Hội nghị toàn quốc triển khai nhiệm vụ của các cơ quan báo chí năm 2010” ngày 5.5.2010, mà theo tường thuật của báo chí trong nước, là một hội nghị báo chí rất hoành tráng, dưới sự chủ trì của Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin Truyền thông và Hội Nhà báo Việt Nam, trước sự tham gia và chứng kiến của hàng trăm nhà báo, Tổng biên tập, Phó tổng biên tập, đại diện cho “178 báo và 528 tạp chí, 67 đài phát thanh – truyền hình, 21 báo điện tử, 160 trang điện tử của các cơ quan báo in và hàng ngàn trang tin điện tử, trên 17.000 nhà báo được cấp thẻ”.
Mặc dù có hàng trăm nhà báo tham gia, không một tờ báo nào đưa tin về việc này, nhưng một trong số họ đã gửi một bức thư ra hải ngoại. Bức thư được đăng trên trang diễn đàn và ngay lập tức nhiều trang mạng khác đã đăng lại. Trong thư, sau khi nhắc lại nguyên văn câu nói trên của ông Vũ Hải Triều, tác giả N.S.P viết: “Như vậy là các anh Huệ Chi, Phạm Toàn, Huy Đức khỏi thắc mắc, mất công đi tìm bọn “du côn mạng” nào đã cướp hộp thư điện tử (Huệ Chi, Huy Đức) và phá sập các mạng Bauxite, blog Osin, Dòng Chúa Cứu Thế, X-cafe, Dân luận, Talawas… cũng chẳng phải chứng minh rằng các cuộc đánh phá đều xuất phát từ những “thuê bao” của Viettel (Công ty viễn thông của Quân đội) nữa nhé.
“Trong mấy tháng qua, bộ phận kỹ thuật của “ta” đã phá sập 300 báo mạng và blog cá nhân xấu”.
Ô. Vũ Hải Triều
Lời khoe khoang thành tích của ông Triều thực ra cũng là một lời thú nhận chua cay: thay đổi một loạt Tổng biên tập, huýt còi cấm báo chí nhà nước ra khỏi “lề phải” không đủ, bắt một loạt nhà báo mạng tự do, không đủ, dựng tường lửa để ngăn chặn người trong nước truy nạp những nguồn tin “trái tai” Ban tuyên giáo và Bộ 4T không đủ, bây giờ người ra phải dùng đến phương pháp “cướp ngày” trên mạng. Có điều ông Triều quên rằng ông đã thú nhận mình vi phạm pháp luật quốc tế trước mấy trăm chứng nhân”.
Cáo buộc của Google
Điều này khiến mọi người nhớ lại sự kiện trong tháng 3 vừa qua, khi hai tập đoàn truyền thông hàng đầu trên thế giới là Google và McAfee lên tiếng cáo buộc Chính phủ Việt Nam có liên hệ với “tin tặc chính trị”. Bộ an ninh mạng của tập đoàn Google cho hay đã phát hiện ra chiến dịch tấn công các trang web nhạy cảm chính trị bằng tiếng Việt, nhất là các trang chứa thông tin phản đối dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên của chính quyền.
Còn hãng McAfee thì cho biết, trong quá trình điều tra, nghiên cứu cùng với Google, họ đã phát hiện ra cách thức tấn công của tin tặc cũng như địa chỉ IP của các máy chủ nằm tại Việt Nam và họ cho rằng tin tặc có thể có mục đích chính trị và có thể có liên hệ với Chính phủ CHXNCN Việt Nam.
Trước những cáo buộc được đưa ra từ những tập đoàn truyền thông lớn và đầy uy tín như Google và McAfee, người Việt trong và ngoài nước còn nhớ rõ phải mấy ngày sau, nhà nước Việt Nam mới lên tiếng thông qua phát biểu của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga với các nhà báo: “Đây là những ý kiến không có cơ sở” đồng thời cho biết: “Luật pháp Việt Nam có những quy định cụ thể về chống virus máy tính, phần mềm gây hại và bảo đảm an toàn, bí mật thông tin.” Chỉ có vậy.
- Việt Nam hiện có 24 triệu người sử dụng Internet.
- 41 triệu 700 ngàn người sử dụng điện thoại.
- Số người sử dụng điện thoại di động là 37 triệu 700 ngàn
Bức xúc trước sự việc, tác giả Trình Phụng Nguyên đã viết bài “Cáo buộc của Google và McAfee về vụ “Hack” trên mạng là vấn đề quốc thể” đăng trên trang bauxite Việt Nam, trong đó tác giả cho rằng lời tố cáo này “không còn gói gọn trong một cá nhân, một tổ chức hay một Chính phủ nữa, mà nó liên quan đến QUỐC THỂ của một dân tộc, dân tộc Việt Nam”, do vậy sự phủ nhận một cách đơn giản của nhà nước Việt Nam chỉ chứng tỏ “một đối đáp xuề xòa và hoàn toàn thiếu trách nhiệm”.
Và tác giả “khẩn thiết đề nghị và yêu cầu Chính phủ Việt Nam” phải “Lập thủ tục pháp lý kiện tụng đến cùng”. Mục đích:
1. Lấy lại danh dự cho dân tộc Việt Nam ở đây đang bị lăng mạ.
2. Xác định và trả lời với công luận trong và ngoài nước cũng như trước Quốc tế về hành vi này là không phải từ phía Chính phủ Việt Nam.
VIETNAM-LIFESTYLE-INTERNET-WI-FI
Lướt web bằng laptop trong tiệm cà phê wifi ở TPHCM đã trở nên thông dụng từ năm 2004. AFP PHOTO/HOANG DINH NAM
Lời đề nghị và yêu cầu này chẳng hề nhận được sự phản hồi nào từ phía Nhà nước Việt Nam. Thực tế, như tác giả Hoàng Linh Vương trong bài “Thế giới chán ghét, dân tình phẩy tay” đăng trên trang talawas đã viết: “Khi vụ khủng bố trên mạng bùng nổ, chỉ cần một chút suy luận, thêm một chút xíu kinh nghiệm, mọi người (trong đó có tôi) đều có thể luận ra rằng NCQVN (Nhà Cầm Quyền Việt Nam) chủ mưu. Tuy nhiên đây đã chỉ là sự phỏng đoán thiếu tang chứng.
Đến ngày 30.03.2010, hai Công ty Google và McAfee (USA) chính thức hóa vụ việc, cáo buộc NCQVN đứng sau những hành vi này, nhằm mục đích chính trị. Hiển nhiên là vi phạm Công ước Quốc tế”.
Trước sự nghiêm trọng của vấn đề, Nhà nước Việt Nam như đã thấy, chỉ còn mỗi một nước là đánh bài “lờ”.
Các trang mạng “lề trái” vẫn tiếp tục bị đánh phá dữ dội như Danchimviet, Talawas, Bauxite, X-Cafe, Thongluan, Danluan, Dòng chúa Cứu thế v.v. và hàng loạt trang blog cá nhân cũng bị đánh sập. Thậm chí dư luận còn đặt câu hỏi về sự “rút lui êm ả” gần đây của trang anhbasam.com, một trang web độc lập chỉ chuyên điểm tin, bài trên các báo, phải chăng cũng là từ một sức ép nào đó?
Bằng chứng của một sự phá hoại rất rõ ràng, như tác giả Nguyễn Văn Huy đã nêu lên trong bài “Tin tặc: một dịch bệnh cần phải loại trừ” đăng trên trang thông luận: “Có trang bị mất hẳn tên miền (domain name), có trang bị xóa hết nội dung và thay vào đó bằng những bài ca ngợi Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản, có trang chỉ còn hình thức nhưng nội dung là báo Nhân dân điện tử của Đảng Cộng sản, có trang bị khóa hẳn cổng vào khiến chủ nhà đích thực không mở ra được.
Điều làm nhiều người ngạc nhiên là ngay sau đó một loạt bài viết được phổ biến rộng rãi trên mạng lên án và chụp mũ là cộng sản những trang nhà đối lập với chế độ độc tài cộng sản trong nước, có bài còn chụp những trang nhà đã bị sửa đổi nội dung của phe đối lập để bôi nhọ uy tín những người chủ trương.
Càng ngạc nhiên hơn là có rất nhiều góp ý ở phần cuối bài, lên án những trang nhà bị đánh phá. Rõ ràng đang có một chiến dịch qui mô đánh phá những tiếng nói đối lập với chính quyền cộng sản”.
Khi vụ khủng bố trên mạng bùng nổ, chỉ cần một chút suy luận, thêm một chút xíu kinh nghiệm, mọi người đều có thể luận ra rằng Nhà cầm quyền Việt Nam chủ mưu.
Tác giả Hoàng Linh Vương
Tác giả Nguyễn Văn Huy cũng chỉ ra ai đứng đằng sau những vụ đánh phá này, đó là Tổng Công ty viễn thông quân đội Viettel, đặt dưới quyền quản trị của Tổng cục 2, tức Tổng cục Tình báo quốc phòng.
Trong khi đó, nhờ nắm vững kỹ thuật tin học, các trang mạng “lề trái” hầu hết đã phục hồi sau khi bị đánh phá, không những thế, còn khám phá và vạch mặt chỉ tên tin tặc là ai. Trang web Dòng chúa cứu thế đã công khai đưa IP của những hackers đã hits gần 500.000 lần vào địa chỉ www.dcctvn.net chỉ nội trong buổi chiểu ngày 26.4.2010. Trang Thông luận cũng có thư gửi tin tặc công khai những dữ liệu thông tin của những kẻ đánh phá. Cả hai trang web này đều cảnh báo tin tặc rằng họ chỉ gửi thư thân tình lần này, còn lần sau họ sẽ hành động mạnh mẽ hơn.
“Điếc không sợ súng”
Dù đã có những cảnh báo như vậy, có vẻ như phản ứng nhẹ nhàng của các trang mạng “lề trái” không đủ làm cho những kẻ tội phạm phải chùn tay, trong khi các nạn nhân lại có cả một lợi thế từ sự lên tiếng của hai tập đoàn truyền thông Google và McAfee. Nói như tác giả Hoàng Linh Vương: “Việc cáo buộc này sẽ không vô lý dừng ở đây nếu các tổ chức hoạt động cho dân chủ và nhân quyền, các tổ chức truyền thông “lề trái” biết khai thác tình huống, tác động đưa vụ việc ra được trước công luận quốc tế, tạo tình huống để hai Công ty Google và McAfee phải công khai hồ sơ.
Thêm một hướng nữa là chính những trang web từng bị đánh sập như Bauxite Việt Nam, talawas, X-cafe, Dân Luận… và một số blog bị thiệt hại khác có thể đồng thuận lập bản án làm đơn kiện trước quốc tế, đòi thủ phạm bồi thường mà tang chứng đang nằm sẵn trên bàn giấy của Google và McAfee. Thực chất việc bồi thường ở đây có thể chỉ là phụ, nhưng công khai được bộ mặt thật của NCQVN trước dư luận quốc tế mới là quan trọng”.
Nay thì với sự việc “không ai khảo mà tự xưng” của Trung tướng công an Vũ Hải Triều, các trang web và blog từng bị đánh lại có thêm một bằng chứng bằng vàng nữa.
Phản ứng trước lời tuyên bố của ông Vũ Hải Triều, tác giả Nguyễn Nhân Dân viết trong bài “Thì ra công an là tin tặc” đăng trên trang Tiền vệ: “Thế là công an Việt Nam đã vô tình vả vào mồm Bộ Ngoại giao Việt Nam một phát đẹp mắt.
EN0652C-LIFESTYLE-VIETNAM-INTERNET-BLOGS

Biểu đồ tỉ lệ sử dụng Internet ở Vietnam. AFP photo
Thế mới biết cái văn hóa đạo đức của những người cầm quyền của nước CHXHCN Việt Nam. Khi cần chối tội, thì họ chối phăng, chối biến, cho rằng mọi lời cáo buộc có bằng chứng khoa học đều chỉ “là những ý kiến không có cơ sở.” Đến khi cần khoe thành tích, thì họ lại khoe tuốt luốt tất cả những âm mưu và hành động của họ mà họ vừa gân cổ chối biến.
Cái dạng văn hóa đạo đức này có lẽ chỉ có đám xã hội đen mới có thể hiểu được. Mà đúng là xã hội đen, vì công an tự hào chính mình là tin tặc!”
Luật sư Cù Huy Hà Vũ thì gửi một bức thư ngỏ đến ông Vũ Hải Triều nói lên sự phẫn nộ của mình trước sự việc: “Thực tình khi mới đọc tin này, tôi vô cùng kinh tởm ông vì chỉ có loại dã man mới có hành vi phản văn minh đến như thế và hơn thế nữa, tôi coi ông là loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng vì đã ngang nhiên hủy diệt Quyền Tự do Ngôn luận, Quyền Tự do Báo chí, Quyền được Thông tin của công dân được quy định tại Điều 69 Hiến pháp Việt Nam, thậm chí là tội phạm quốc tế nếu máy chủ của báo mạng và blog cá nhân nằm ở nước ngoài.”
Tác giả yêu cầu: “ông cho tôi biết thông tin đã đăng trên Bauxite Việt Nam và các báo mạng nói trên là đúng hay sai sự thật” .
Và: “Sau một tuần kể từ hôm nay mà tôi không nhận được thư trả lời của ông, điều này đồng nghĩa với việc ông công nhận thông tin “Trung tướng Vũ Hải Triều, Phó Tổng Cục trưởng Tổng Cục An ninh – Bộ Công an tuyên bố đã chỉ đạo bộ phận kỹ thuật phá sập 300 báo mạng và blog cá nhân xấu là đúng sự thật!”
Giống như lá thư của tác giả Trình Phụng Nguyên gửi cho Chính phủ về cáo buộc của Google trước đây đã đặt nhà cầm quyền Việt Nam vào “thế kẹt”, lá thư gửi ông Tổng cục phó Tổng cục an ninh của luật sư Cù Huy Hà Vũ chắc chắn cũng làm cho ông Trung tướng này “khó bề ăn nói”, và chỉ có nước đánh bài “lờ” như nhà cầm quyền Việt Nam đã ứng xử trong vụ Google vậy.
Tin tặc là một sản phẩm bệnh hoạn được các chế độ độc tài dùng để trói tay, bịt mắt, cấm dân chúng bước vào xa lộ thông tin. Phải mạnh dạn tố cáo trước dư luận thế giới những hành vi để hèn của một chế độ không xứng đáng.
Tác giả Nguyễn Văn Huy
Vấn đề là Nhà nước Việt Nam từ xưa đến nay vẫn quen ứng xử theo kiểu luật rừng, coi thường mọi công ước, luật pháp quốc tế, và họ sẽ còn tiếp tục như vậy khi chưa bị trừng phạt. Trong cuộc chiến này, các trang báo đối lập với Nhà nước Việt Nam, đại diện cho những tiếng nói yêu tự do, dân chủ của đông đảo người dân Việt Nam hoàn toàn có lẽ phải, có lợi thế, và được sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới.
Bởi vì, như nhà báo Ngô Nhân Dụng trong bài “Nguyễn Huệ Chi, McAfee và Google” đã khẳng định: “Loài người đã tiến đến thế kỷ này, mọi người đều công nhận quyền được trao đổi thông tin, quyền được biết sự thật là một quyền thiêng liêng của mỗi con người. Ðó cũng là một động lực cần thiết giúp xã hội phát triển về kinh tế và văn hóa. Ngăn chặn quyền tự do đó, phá phách không cho người dân được thi hành những quyền đó, là phản tiến bộ, là chống lại cả loài người”.
Tác giả Nguyễn Văn Huy cũng viết: “tin tặc là một loại dịch bệnh cần phải loại trừ ra khỏi mọi sinh hoạt bình thường của loài người. Đây là một sản phẩm bệnh hoạn được các chế độ độc tài dùng để trói tay, bịt mắt, cấm dân chúng bước vào xa lộ thông tin. Phải mạnh dạn tố cáo trước dư luận thế giới những hành vi để hèn của một chế độ không xứng đáng”.
Phải chăng chỉ khi bị đưa ra trước công luận quốc tế, bị thế giới tẩy chay, thì lúc đó những kẻ phạm tội mới biết sợ?
NH
Nguồn: RFA, 19-05-2010

Những dự án kỳ vĩ: Tầm nhìn quá xa làm ta lóa mắt

clip_image002
Trần Huy Ánh
"Ngân sách hiện nay không còn tích lũy. Những năm trước còn dự trữ một ít nhưng vài ba năm nay phải đi vay cho đầu tư xây dựng cơ bản. Làm điện hạt nhân, xây đường cao tốc đều phải vay, quy hoạch Hà Nội cũng đi vay" – Chủ nhiệm UB Tài chính Ngân sách Phùng Quốc Hiển băn khoăn.
Chuyện ở xa
Có một bạn trẻ Việt kiều tại Nauy biết chúng tôi sắp "qua bển" đã ngỏ ý nhờ mua giúp bộ bát đĩa sứ. Chẳng nề hà, trong mỗi va li quần áo thêm chục cái bát đĩa nhỏ to, kể ra thì cũng hơi nặng. Sang tới nơi, mới biết ở đó đồ sứ bán bày la liệt ở các siêu thị. Hóa ra nhận làm cửu vạn hơn vạn cây số là để giúp bạn tiết kiệm vài trăm USD.
Nauy là quốc gia có GDP cao nhất nhì thế giới (gần 50.000 USD/người). Chỉ tính riêng quỹ  Dầu mỏ đã gần 200 tỷ USD (gấp 2 lần tổng GDP của VN) – Cả nước họ trưng cầu dân ý và thống nhất coi đó là tiền để dành cho tương lai, không được đưa vào tiêu dùng trong nước. Cuộc sống cả xã hội  rất đầy đủ nhưng của cải phân phối chi li. Cảnh ông chủ công ty vừa ăn trưa vừa ngồi họp, nhân viên làm việc tất bật, trẻ con nhặt cả bao tải vỏ chai nhựa để đưa vào máy ép nhận lại 1 curon/1 chai là bình thường. Cảm động nhất là có thanh niên mù ngày nào cũng gặp cần mẫn kéo Arcoordeon trên cầu và hôm nào cũng thấy bà cụ già chống nạng khó nhọc leo đến tận nơi tự tay bỏ giỏ vài đồng. Anh bạn Việt kiều lương khá cao, quy ra tiền Việt  gần trăm triệu đồng nhưng nhà cửa, đồ đạc, ô tô mua trả góp. Mới lấy vợ, con nhỏ, các khoản thuế… chi tiêu chặt chẽ từng xu.

Chuyện ở gần
Tháng 4/2008, nghe tin bà con Tây Hà Nội bán đất xây nhà, mua xe ầm ầm cũng thấy lo lo vì  thu nhập bình quân dẫu không nghèo, so với Nauy ta mới chỉ bằng 2%. Tháng 5/2010 lại rộ lên đợt mua bán đất rầm rĩ. Có nơi đền bù dự án đô thị cho 300 hộ nông dân lên tới 800 tỷ VNĐ… Không rõ là con số thống kê giàu nghèo liệu có đáng tin.

Dân giàu nước giàu thì còn gì vui hơn, nhưng nếu chưa giàu thì chuyện lập Quy hoạch giao thông cần cân nhắc nên dùng loại hình giao thông nào cho phù hợp. Ảnh minh họa: buckup
Trong bối cảnh thu Ngân sách TP khoảng 4 tỷ USD (72.000 tỷ VND) Quy hoạch Hà Nội đang được soạn thảo với dự kiến chỉ riêng khung kỹ thuật  hạ tầng trong 20 năm tới cần 30 tỷ USD, nếu đầu tư đô thị còn lớn hơn nhiều lần. Hàng ngày nghe tin lễ hội nơi nơi, xe hơi hàng khủng mới nhập, có người đã tậu máy bay riêng, hoa hậu toàn cầu tụ họp, đô thị hàng triệu mét sàn khởi công với khung cảnh hoa nở cây xanh thảm cỏ. Ở vùng quê người dân có tiền tỷ xây nhà mua một lúc mấy xe máy… Vậy thì dân ta giàu hay nghèo, nước ta đã giàu có chưa?
Dân giàu nước giàu thì còn gì vui hơn, nhưng nếu chưa giàu thì chuyện lập Quy hoạch giao thông cần cân nhắc nên dùng loại hình giao thông nào cho phù hợp và con đường nào nên làm trước để hỗ trợ sản xuất thay vì để trơn bánh ô tô chạy đến các căn hộ chia lô xây trên đất ruộng.
Ví dụ như mạng đường từ trung tâm TP Hà Nội  ra phía Tây để nối các đô thị có 1/5 dân số,  không cần nhiều trục giao thông lớn, chỉ đường Láng Hòa Lạc là đủ: Tổ chức tuyến xe buýt nhanh (RBT) thay vì làm đường sắt trên cao hay metro: vừa tốn tiền đầu tư và giá vé sẽ rất cao – không hợp với đa số người sử dụng giao thông công cộng còn nghèo.
Loại bỏ toàn bộ các trục đường Bắc Nam. Tây Thăng Long hay Đỗ Xá Quan Sơn: các con đường này xuyên qua Hành lang Xanh để nối các đô thị kinh doanh BĐS, tạo nguy cơ phá nát Hành lang Xanh. Chỉ cần nâng cấp đường sẵn có trên mái đê sông Đáy, sông Tích: vừa củng cố thủy lợi vừa an toàn do nền cao tránh được trũng ngập. Các đường vượt qua Hành lang Xanh cần đưa lên cao để đảm bảo thoát nước và triệt thoát đô thị bám đường  tự phát. Tăng cường vận tải thủy và đường sắt thường vận tải hàng hóa, chở khách rẻ tiền sẽ giảm 50-70% chi phí đầu tư giao thông ở phía Tây TP.
Giao thông nội đô với 8 tuyến chỉ cần ưu tiên 2 tuyến chính với đường sắt trên cao hay xe buýt nhanh -RBT,  nối Trung tâm TP với sân bay Nội Bài và đường sắt trên cao  Yên Viên – Ngọc Hồi (tuyến 1). Các tuyến Metro chỉ nên đầu tư sau khi cân đối được nguồn tài chính từ khai thác các trung tâm thương mại ngầm, bãi đỗ xe ngầm với các ga ngầm. Mặt khác cần kết hợp  thoát nước hay các trục đường cáp, tuynel kỹ thuật. Kết hợp đường trên cao với không gian phía dưới làm gara hay các dịch vụ sẽ huy động vốn xã hội. Khả năng giảm 50-70%  chi phí đầu tư giao thông nội đô TP.
Thông một con lộ mở cơ hội cho 6 tỉnh thành:
Các cụ xưa đã nói "lộ thông thì tài thông". Để tăng tính cạnh tranh thì phải hạ giá thành, chi phí vận chuyển phải thấp. Vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu thấp nhất tất yếu là đường biển. Biểu đồ dưới đây cho thấy 2 cảng biển quan trọng và Cảng Hải Phòng chiếm tỷ trọng vận chuyển không kém cảng Sài Gòn là bao nhiêu. Cảng Hải Phòng ngày càng có vị trí quan trọng khi Thủ tướng cho phép nghiên cứu dự án sân bay quốc tế: tương lai phát triển kinh tế Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Hải Dương và Hải Phòng gắn bó chặt chẽ với cảng Hải Phòng.
Thế kỷ XIX , đi từ Hà Nội xuống Hải Phòng  bằng đường thuỷ đi hết 7-8 ngày , đầu thế kỷ XX đường sắt đi hết 1 ngày sau đó giảm dần còn 4 giờ, đầu thế kỷ XXI đường bộ hết 2-2,5 giờ, đường sắt vẫn vậy và ngày càng tụt hậu. Mỗi ngày có hàng trăm ô tô chở container rầm rập trên đường trong khi lèo tèo vài chuyến tầu hỏa vắng khách. Nhiều diễn đàn tranh luận nên mở rộng đường sắt từ 1m lên 1,45m và tốt nhất là những toa tàu sang trọng lao trên đường cao tốc như những viên đạn với giá hàng tỷ USD.
Vốn ngành đường sắt đã hào phóng chi hàng triệu USD cho mỗi đầu tàu Diesel cực mạnh từ lâu rồi, nay chỉ cần vài trăm triệu USD nâng cấp hơn 100 km đường sắt, làm mới hệ thống tín hiệu, lập hành lang bảo vệ tuyến. Quan trọng nhất là ga chuyển đổi 2 đầu từ đường sắt sang đường bộ để chuyển container đến kho bãi các chủ hàng nhỏ lẻ. Thế là hàng trăm khu công nghiệp, nhà máy, khu đô thị bám đường QL 5,3,18… hạ thấp giá thành vận chuyển hàng hóa, tài lộc sẽ thi nhau tới, ngành đường sắt đường bộ cũng theo đà mà khấm khá theo. Các ông chủ sản xuất cứ bám theo hành lang này đảm bảo hàng trăm năm vượng thế làm ăn. Điều đó góp phần giảm áp lực giao thông trung tâm và Tây Hà Nội khoảng 60-80%.
Tuyến đường sắt Bắc – Nam dài 1.570 km, tốc độ 300 km/h. Tổng mức đầu tư 55 tỷ USD, bình quân là 35,6 triệu USD /km.Giai đoạn 2020 đưa vào vào khai thác đoạn từ Hà Nội – Vinh và đoạn Nha Trang – TPHCM. Giai đoạn đến 2030 xây dựng đưa vào khai thác đoạn Vinh – Đà Nẵng và hoàn thành toàn tuyến vào năm 2035. Đây thực sự thể hiện tầm nhìn rất xa của các nhà chiến lược giao thông. Chỉ e là tầm nhìn quá xa nên bỏ quên  những lợi ích vặt vãnh ngay trước mắt, nên nhân đây giới thiệu vài so sánh tham khảo. Nhất là các tổ chức tài chính quốc tế khuyến cáo: tỷ trọng đầu tư an toàn cho hạ tầng GT/GDP vào khoảng 7% là an toàn (Trung Quốc và Thái Lan 7-8%). Việt Nam  năm 2000-2006 đầu tư hạ tầng GT là 8,4-10,7% . Nếu có các dự án lớn, tỷ trọng sẽ tăng vọt.
THA
* Tài liệu tham khảo trên internet do Hanoidata ST&BT

24/4/10

HỒI KÝ CỦA MỘT THẰNG HÈN









“HỒI KÝ CỦA MỘT THẰNG HÈN”

VÌ SAO TÔI VIẾT HỒI KÝ?
    

Khi bắt tay vào viết hồi ký, ấy là lúc mọi khát vọng sáng tạo đã cạn, mọi ham mê, hoài bão đã tắt, và thần chết đã cầm lưỡi hái hiện trước cửa sổ... ”
Câu mở đầu đó, nếu tôi không nhầm, là của George Sand mà tôi đã đọc, đã thương cảm và đã tự nhủ rằng rồi đây chính mình cũng sẽ phải để lại cho đời ít dòng nói thật khi bước vào tuổi 70, nếu như cái chết lãng nhách không đến bất chợt!
Biết đâu đấy, rồi đây lịch sử sẽ có thêm được một số chi tiết trong “tội ác diệt văn hóa” của nhà cầm quyền Việt Nam trong một thời gian dài trên nửa thế kỷ nhờ những chứng liệu được ghi trong hồi ký của một kẻ từng làm thứ văn nghệ gọi là “vì Đảng vì dân” trong suốt đời mình.
Hãy nhìn lại lịch sử văn học nghệ thuật ở miền Bắc Việt Nam mà xem.
Một lỗ hổng lớn!
Đúng vậy! Hậu thế sẽ thắc mắc: làm sao mà từ năm 1945 đến đầu thế kỷ 21, nhân tài đất Việt ở miền Bắc Việt Nam —một thứ Đàng Ngoài của lịch sử lặp lại — ít ỏi đến thế?
Tác phẩm của họ đâu rồi, ngoài lèo tèo mấy bài thơ của Hữu Loan, Trần Dần, Phùng Quán...và chẳng có một tiểu thuyết, một đoạn văn nào đáng được trích giảng trong các trường từ tiểu, trung đến đại học? Vậy mà suốt thời kỳ đất nước nằm dưới “sự lãnh đạo vô cùng sáng suốt” và “duy nhất đúng đắn” của những tên “xuất thân thành phần cơ bản”, trình độ học thức ở mức “đánh vần được chữ quốc ngữ”, các văn nghệ sĩ công chức ở nơi này vẫn được nhà cầm quyền trao tặng “Giải thưởng Nhà Nước”, “Giải thưởng Hồ Chí Minh” và đủ thứ bằng khen giấy khen, được trang trọng lồng kính treo kín những bức tường phòng khách!
Thử hỏi những tác phẩm được khen nức khen nở ấy giờ ra sao?
Té ra tất cả đã bị lịch sử xếp xó.
Hơn thế nữa, những tác giả được Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa khen hàng loạt nọ, trong thực tế, còn là những kẻ bán rẻ lương tâm đã lợi dụng các loại hình văn nghệ để ca ngợi những điều bất nhân, bất nghĩa bị cả nhân loại phỉ nhổ: khuyến khích con đấu cha, vợ tố chồng; hô hào kích động người cùng một nước chém giết lẫn nhau; ra sức ngợi ca những tên sát nhân khét tiếng như Stalin, Mao Trạch Đông… thậm chí, còn quỳ gối khấu đầu tạ ơn những tên đao phủ và cái tổ chức tội ác là “Đảng đã cho ta một mùa xuân”, dạy những đứa trẻ bập bẹ biết nói: “tiếng đầu lòng con gọi Stalin!” Nhục nhã thay cho những kẻ cam tâm bợ đít, luồn trôn kẻ giết cha mình! Cho tới cuối thế kỷ 20 vẫn còn những kẻ u mê cứ tưởng các “tác phẩm” tuyên truyền cho cuộc chiến huynh đệ tương tàn, cho hận thù dân tộc, cho đấu tranh giai cấp của chúng là giá trị lắm! Cứ xem chúng tâng bốc nhau, nịnh bợ nhau, bôi xấu nhau, kiện cáo nhau, để được nhận cái… vết nhơ một thời làm lính văn nghệ của Đảng thì thấy.
Không thể nín nhịn mãi, nhân dịp người ta tổ chức mừng sinh nhật 70 tuổi của tôi để ghi công những năm làm nô bộc của tôi, tôi đã công khai phủ nhận tuốt tuột những gì tôi gọi là “tranh cổ động bằng âm thanh” trên Tivi Sài Gòn. Tôi kiên quyết không cho phát lại những gì tôi được nhà cầm quyền ngợi khen suốt quá trình sáng tác. Để nhắc đến những tác phẩm của tôi, tôi chỉ đồng ý lên một chương trình do chính tôi soạn thảo và đặt tên. Nó gồm những tiếng nói của trái tim bị cấm đoán, bị lên án, thậm chí bị trù dập suốt nửa thế kỷ.
Sau hết, dựa vào thời cơ “Đổi Mới”, nhờ những bạn bè đồng tình với tôi và còn giữ được một số quyền hành cuối cùng trước khi về hưu, chương trình Nửa Trái Tim Tôi của Tô Hải đã ra mắt trọn một tiếng đồng hồ với toàn những “tác phẩm bỏ tủ lạnh”, với những lời tuyên bố gây “sốc” mạnh trong giới làm nhạc ăn lương.
Những đồng nghiệp thực sự có tài và có tâm sự giống tôi thì hài lòng. Số này, khi trả lời phỏng vấn, cũng chỉ dám nhận một cách khiêm tốn con số ít ỏi những gì mình làm ra xứng đáng được gọi là tác phẩm.
Còn số khác, những “nhạc sĩ” bám chặt thành tích 500, 1000 bài hát ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác, động viên con em ra chiến trường hiện còn tiếp tục lải nhải kể công với Đảng để xin “tí tiền còm” nhân danh giải này giải nọ thì tự ái, nổi khùng, gọi tôi là “tên phản động”.
Trả lời những câu hỏi của báo chí hoặc truyền thanh truyền hình, tôi luôn nhắc lại nguyên lý bất diệt của nghệ thuật: “Chỉ những gì từ trái tim mới đến được trái tim”! Nhưng trái tim của tôi, hỡi ôi, gần một thế kỷ qua lại không đập vì...tôi! Nó bị trói buộc, bị cưỡng bức phải đập vì những cái xa lạ với tôi: vì Đảng, vì hai cuộc chiến, vì những tín điều nhập khẩu từ các nước cộng sản Nga, Tầu.
May thay, thời thế rồi cũng đổi thay.
Liên Xô, “quê hương của cách mạng vô sản toàn thế giới”, “ngọn đuốc soi đường cho nhân loại” sụp đổ cái rụp. Thần tượng Marx, Lénine, Stalin gần 70 năm được tôn thờ hơn cả Chúa Trời bị đập tan!
Đọc hồi ký, di bút của các văn nghệ sĩ vĩ đại của mọi thời đại như Beethoven, Modigliani, Rubinstein, Stravinsky, Litz... hay của các nhà chính trị như De Gaulle, Khrutchev, Nixon ... càng thấy cái cao thượng của họ bao nhiêu càng thấy cái bẩn thỉu, thấp hèn của các nhà “chính chọe” (politicaillerie) bấy nhiêu.
Biết bao tên tuổi lớn đã chịu sự hắt hủi, lên án, thậm chí săn đuổi, cách ly của một thể chế, của tập đoàn nắm quyền lực, kể cả bị lên án là “phản bội” đã để lại cho chúng ta các tác phẩm ghi lại những gì họ suy ngẫm qua những trải nghiệm trong cuộc đời, những buồn đau, khổ cực, những chịu đựng ghê gớm cả về vật chất lẫn tinh thần để tồn tại, để tìm tòi và sáng tạo.
Trong khi đó, hồi ký của các “lãnh tụ cách mạng” chỉ là những cuốn sách viết ra cốt tự đề cao mình một lần cuối, để giải thích (chống chế thì đúng hơn) cho những hành động sai lầm, đổ tội cho người khác về những thất bại mang tính lịch sử mà kẻ viết hồi ký chính là tội phạm. Vậy thì, tôi, Tô Hải, một cái tên được nhiều người biết ở cái thời “âm nhạc phục vụ công nông binh”, ở cái thời mà âm nhạc, nếu không làm đúng yêu cầu của Đảng sẽ lập tức bị bọn “quan văn nghệ” lên án là “mất lập trường”, là “cá nhân tiểu tư sản”, thậm chí là “âm nhạc phản động”, có gì để mà hồi với ký?
Bánh xe lịch sử quay với tốc độ kinh hoàng đã cuốn phăng những “tác phẩm”, và cả những tác giả của chúng từng đoạt giải thưởng này huân chương nọ — lại than ôi, có cả tôi trong đó!
Lẽ công bằng chậm chạp cho đến nay đã phục hồi một cách rụt rè (không cần một quyết định hành chính nào hết) những tác phẩm và những tác giả một thời bị đoạ đầy, bị cấm đoán. Cuộc Đổi Mới — thực tế là trở lại như cũ — với các quan niệm về cái đẹp đã cho những “tên tuổi lớn” một thời trong mọi lãnh vực quân sự, chính trị, văn học, nghệ thuật những cái tát tỉnh người!
Trong “cơn đau cuối đời”, một số cựu uỷ viên trung ương đảng không còn chỗ ngồi ghé trong các ban chấp hành mới, mấy ông tướng bị cho ra rìa, ngồi chơi xơi nước hoặc bị khai trừ khỏi đảng vì bất tuân thượng lệnh, đã tỉnh ngộ. Kinh nghiệm một đời theo Đảng đã cho họ cái để viết nên những trang “sám hối” có phần nào giá trị. Họ phải trả giá cho sự dám nhìn lại cuộc đời bằng con mắt khách quan và tỉnh táo bằng sự trừng trị tương đối nhẹ nhàng so với người đối kháng khác: bị giam lỏng tại nhà, bị cắt điện thoại, tịch thu computer...
Trong khi đó — tôi xin nhắc lại — mấy anh văn nghệ sĩ mơ ngủ vẫn xúm đen xúm đỏ chen lấn nhau để giành bằng được mấy cái giải thưởng cho những tác phẩm mà con cháu ngày nay chẳng còn coi là cái giống gì. Ấy là chưa kể những kẻ chẳng bao giờ góp mặt trong nền văn nghệ, kể cả văn nghệ “phục vụ cách mạng”, nhân dịp này dịp khác cũng được nhà nước vô sản hào phóng ban thưởng về “sáng tác”!
Một bức tranh cười ra nước mắt.
Riêng tôi, khi chẳng còn lao động nghệ thuật được nữa (đúng hơn là không còn muốn lao động nghệ thuật nữa) bỗng dưng lại được cái Nhà Nước công nông binh tặng cho cái “Huân Chương Lao Động Hạng Nhất”.
Và khi không còn sáng tác nữa (đúng ra là không muốn sáng tác nữa) lại được người ta treo lên cổ cái mề-đay “Giải thưởng Nhà Nước”! Sướng chưa?
Tội nghiệp cho mấy anh Văn Chung, Nguyễn Đình Phúc, Lê Yên, Vũ Trọng Hối, Trần Ngọc Xương... chẳng còn sống ở trên đời để mà hưởng cái “Giải thưởng Nhà Nước” nọ. Nói thêm chút cho vui: Cái giải thưởng này quy ra tiền cũng được gần bằng một phần mười giải thưởng tặng cho hoa hậu đấy. Mà để làm hoa hậu thì cần quái gì phải có học.
Bi kịch hay hài kịch đây?
Dù sao cái giải thưởng đáng giá hai năm lương hưu của tôi cũng là món tiền thêm vào cho hai năm tôi ngồi viết những trang tiếc nuối cuộc đời mà các bạn đang cầm trong tay. Không có nó tôi đành ôm cả núi ân hận mà về với đất. Vì không có nó thì lấy gì ăn để mà viết? Cho nên tôi cũng thấy cần ghi lại ở đây “lời tri ân” đối với Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi viết nên những dòng hồi ký này.
Thế là, với sức tàn còn lại, tôi bắt đầu...
Những hình ảnh đầu tiên đến với tôi rõ nét nhất chính là những thời gian, không gian, sự kiện và những con người đã mang lại cho tôi những cảm xúc, những niềm vui và nỗi buồn.
Trong đầu tôi tràn ngập hồi ức đòi được thoát ra.
Vì thế trong khi viết, tôi luôn phải cố gắng sao cho khỏi lạc “chủ đề tư tưởng” (cách nói méo mó trong ngôn từ văn nghệ cộng sản). Và trước hết, tôi phải đè bẹp được sự “hèn nhát” trong tôi là cái đã bén rễ sâu chặt do thời gian quá dài sống trong lồng kín, cách ly bầu trời tự do.
Tôi sẽ viết để bạn bè, con cháu hiểu và thông cảm nỗi đau của những người cả cuộc đời phải sống và làm việc với cái đầu và trái tim của tên nô lệ.
Tôi tình nguyện làm một trong những người vạch trần những bộ mặt chính trị dỏm, văn nghệ dỏm, những tên cơ hội, đã cản trở, giết chết tác phẩm, đẩy những tài năng vào hố sâu quên lãng.
Đáng buồn là những chuyện được giấu kín đó, tôi đều được biết, thậm chí còn được tham dự các kế hoạch hại người (được gọi là kiểm điểm, học tập, thu hoạch... ) ngay từ khi chúng mới được phác hoạ, trong suốt quá trình tôi ở cương vị cấp uỷ, lãnh đạo chỉ đạo nghệ thuật.
Để bảo vệ chỗ đứng của mình, tôi đã không dám cãi lại những lời chửi rủa bố tôi là đồ “phản động”, mẹ tôi là “Việt gian”, họ hàng nhà tôi là “tay sai đế quốc”!
Vậy thì làm sao tôi dám bảo vệ cho một Đoàn Phú Tứ là không phản bội, một Phạm Duy là không phải “dinh tê” chỉ vì không chịu được gian khổ”?
Tôi đã chọn con đường cúi đầu nín lặng mặc dù tôi biết rõ nguyên nhân vì sao ông cậu Đoàn Phú Tứ của tôi phải về Thành, biết rõ không ai không sợ chết mà lại dám một mình vác đàn, nhịn đói vượt U Bò, Ba Rền vào chiến trường Bình Trị Thiên ác liệt nhất để viết nên Bà Mẹ Gio Linh, Về Miền Trung như Phạm Duy. Tôi đã là thế đấy. Những âm mưu hạ tiện đó, tôi không phải không biết. Trái lại, tôi hiểu ra ngay từ lúc chúng mới được bàn bạc trong “nội bộ”. Lòng tôi chống lại thủ đoạn hại người, nhưng miệng tôi lại không dám nói ra.
Nỗi bất bình bị dồn nén ám ảnh tôi suốt mấy chục năm trời. Dần dà, nó biến tôi thành một núi mâu thuẫn. Mặc dầu tôi tự nguyện dồn nén, miệng núi lửa kia thỉnh thoảng lại bục ra. Những phản ứng không kìm được xảy ra ngày một nhiều và được các công bộc mẫn cán của Đảng ghi lại bằng giấy trắng mực đen trong lý lịch đảng viên của tôi, kèm theo nhận xét “không có ý thức bảo vệ Đảng”, “hay phát ngôn vô trách nhiệm”. Tôi mang tội “không có ý thức bảo vệ Đảng” chẳng qua vì tôi không chịu bảo vệ Đảng và những đảng viên có chức có quyền làm những điều sai trái.
Ngay cả với trưởng ban Tổ Chức Trung Ương Lê Đức Thọ ( ) quyền sinh quyền sát là thế mà tôi cũng có lần nói thẳng mặt: “Tại sao khi những người nhân danh Đảng làm bậy, chúng tôi phê phán họ thì lại bị ghép vào tội chống Đảng, chống chủ nghĩa cộng sản? Tại sao lẽ phải bao giờ cũng thuộc về họ, mặc dầu họ không có một xu kiến thức để đối thoại với chúng tôi?”
Đó là một trong những “cú liều” đem lại cho tôi nhiều thiệt thòi, cay đắng. Với những “cú liều” này, bạn bè bảo: “Tô Hải là thằng “có bản lãnh”. Những người cùng nghĩ như tôi nhưng biết giữ mồm giữ miệng thì khoái lắm, vì đã có Tô Hải nói thay! Số còn chức còn quyền nhưng không đến nỗi tồi tệ quá thì cố tìm cách “hãm phanh” tôi lại để các “anh trên” đỡ vì đau đầu mà phạng lung tung. Còn tôi, ở cái tuổi ngoài 70, chẳng còn gì để mất, lại được sự cổ vũ của số lớn bạn bè, tôi cứ “nổ” khi có điều kiện.
Cũng có người cho rằng tôi “dại” có cỡ, có kẻ nhắc là “cẩn thận kẻo vào tù!” Nhưng tôi đã quyết: 55 năm miệng bị lắp khoá kéo, nay đã già, đã về hưu, có chia xẻ với bạn đọc những hồi ức của đời mình thì cũng chẳng còn phải e ngại các lời ong tiếng ve rằng mình vì tư lợi, muốn kiếm chác cái gì.
Còn về Đảng ư ? Tôi đã cóc cần nó từ khuya rồi và hết sức vinh dự được trở lại hàng ngũ nhân dân đang bị một nhóm người bắt sống cuộc sống trại lính, ăn gì, mặc gì, xem gì, đọc gì, thậm chí chết kiểu gì cũng đều do họ quy định và cho phép!
Tôi đã nói và sẽ nói, nói tất, nói với bạn bè, với người thân, với con cháu, chắt, chút, chít những gì mà bộ não ông già 70 còn ghi nhớ được về cái thời tưởng mình là một cánh đại bàng bay bổng giữa trời.
Nhưng, than ôi! Gần hết cuộc đời, tôi vẫn chỉ là “con đại bàng... cánh cụt”, chạy lè tè trên mặt đất mà vẫn vấp ngã đến gãy mỏ, trụi lông.
Hi vọng rằng sau khi đọc hồi ký này người đọc sẽ thương cảm cho tôi, cho các bạn tôi, những người ngây thơ, tội nghiệp, cả cuộc đời bị lừa dối và đi dối lừa người khác một cách vô ý thức.
Biết đâu chẳng có ngày đất nước này hoàn toàn “đổi mới” thật sự, hồi ký này sẽ được in ra để làm tài liệu lưu trữ về một thời cay đắng và tủi nhục nhất trong lịch sử Việt Nam. Và, may ra, lạy trời, những “đại bàng cánh cụt” chúng tôi sẽ được nhắc tới, như những chứng nhân lịch sử.
Nhưng, “vừa là tội đồ vừa là tòng phạm” làm sao những con đại bàng cánh cụt kia có thể bay cao, bay xa? Thôi thì xin làm con sói của Alfred de Vigny, con bói cá của Musset tru lên tiếng rú cuối cùng, phanh ngực, xé lòng, hiến cho lịch sử một mẩu trái tim, một mẩu trí óc, một chút hơi tàn của thân xác.
Với niềm tin vô bờ bến rằng ngày tàn của chủ nghĩa cộng sản Việt Nam đã đến rất gần, dù có chậm hơn ở các nước bậc cha ông, anh cả, anh hai đến vài ba thập kỷ, niềm tin ấy vẫn cháy bỏng trong tôi thúc giục tôi vứt bỏ mọi sợ hãi, mọi hèn kém để ngồi vào computer.
Tôi bắt đầu...

ĐÔI ĐIỀU PHI LỘ VIẾT... SAU CÙNG

Tập Hồi Ký này tôi viết xong từ năm 2000, nhưng do... hèn, tôi đã không dám cho nó ra mắt bạn đọc. Vâng, do... hèn, chứ chẳng phải do cái gì khác, tôi đã giấu nó đi, lại còn cẩn thận ghi thêm một dòng ở ngoài bìa “Để xuất bản vào năm 2010”.
Như một lời di chúc dặn vợ con, khi tôi đã... chết!
Tới năm 2003, mang bản thảo ra đọc lại, thấy ngòi bút của mình sao vẫn rụt rè, vẫn lấp lửng mới biết mình vẫn chưa hết sợ sức mạnh tàn bạo của nền “chuyên chính vô sản” mà mình từng nếm trải. Nhất là sợ rồi đây vợ con mình phải chịu đựng những đòn thù bẩn thỉu của bầy dã thú đội lốt người, nếu chẳng may những gì mình viết ra rơi vào tay chúng.
Tôi thấy cần phải sửa lại cuốn sách — từ cách viết, từ cái nhìn chưa đủ tinh tường về những sự kiện lịch sử — và viết thêm về những con người cần được nhắc tới, mỗi người là một mảnh gương nhỏ, nhưng gộp lại người đọc có thể thấy hình ảnh một thời đại.
Và tôi viết thêm chương TÔI ĐÃ HẾT HÈN!
Nhưng đã đến chưa, cái thời cơ có thể đưa cuốn sách mà tôi ấp ủ bấy lâu ra trình diện người đọc? Vẫn chưa phải lúc chăng? Ngẫm ra, tuy viết là “Tôi đã hết hèn”, nhưng trong thực tế cái hèn vẫn còn đó, nó vẫn bám chằng chằng, như một bộ phận của cơ thể, cái sự mình khẳng định với mình rằng đã hết hèn mới chỉ là sự mạnh dạn với bản thân khi cầm bút mà thôi! Còn đấu tranh trực diện với cái sức mạnh tăm tối đang cai trị đất nước, kìm hãm sự phát triển của cả một dân tộc là chuyện khác, không phải là điều ai cũng dám làm!
Đặc biệt, ba bốn năm gần đây tôi may mắn có điều kiện làm quen với Internet, nhờ đó được tiếp cận với rất nhiều người mà tôi vô cùng cảm phục. Dù đang sống ở trong nước, họ không hề sợ hãi trước đàn áp, ngục tù. Đó là những Hoàng Minh Chính, Trần Độ, Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu. Bùi Minh Quốc. Đó là những Hoàng Tiến, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Thanh Giang, Vũ Cao Quận... Đó là những nhà sư, những linh mục thà chết không chịu đứng chung hàng với lũ tu sĩ “quốc doanh”, và nhiều, rất nhiều người khác nữa!
Cũng không thể không nói đến ảnh hưởng của hàng chục website cổ võ dân chủ trên khắp thế giới, cũng như những gì bạn bè tôi, đồng đội, “đồng chí” cũ của tôi như Bùi Tín, Vũ Thư Hiên phải bỏ nước, bỏ cả vợ con ra đi để được viết lên Sự Thật, mở mắt cho bao người còn đang sống hèn như tôi.
Không có những cái đó thì nhân dân còn tiếp tục bị lừa dối bởi lũ bồi bút cho đến nay vẫn ra rả ca tụng một chủ nghĩa đã lỗi thời với cả nhân loại.
Tôi cũng mong sao mỗi người trong số các văn nghệ sĩ sắp giã từ cõi đời nhầy nhụa này hãy để lại một “bản di chúc” nói lên Sự Thật, dù chỉ là 1/1000 Sự Thật, để tạ tội với đồng bào, về những gì mình đã vì miếng cơm manh áo, vì yếu hèn mà phải cúi đầu làm thân trâu ngựa. Được như Ba Người Khác của Tô Hoài cũng đã là tốt, làm được thế thì người viết cũng có thể được nhân dân “xá tội” cho phần nào.
Người đọc đang chờ xem “di cảo” của một Chế Lan Viên, một Nguyễn Đình Thi — hai nhân vật đứng đầu bầy nô lệ cầm bút. Đáng ngạc nhiên là theo Nguyễn Đình Chính (con trai Nguyễn Đình Thi) thì cuốn hồi ký của Nguyễn Đình Thi sẽ chỉ được phép công bố vào năm... 2014?!
Sao lại lâu đến thế? Nguyễn Đình Chính vẫn còn sợ, còn tính toán thiệt hơn, còn bắt linh hồn người cha ở thế giới bên kia tiếp tục đóng kịch mãi sao? Hay chính tác giả cuốn hồi ký doạ sẽ in năm 2014 vẫn còn chưa tin là chủ nghĩa cộng sản đã đến ngày tuyệt diệt?
Tôi sẽ phải đưa vào chương sẽ viết những nhận thức mới, tình cảm mới, những sự kiện bổ sung dưới ánh sáng mới, một chương gần như tóm tắt tất cả những gì tôi đã viết vào lúc chưa có được sự tiếp xúc và tiếp sức của phong trào đòi tự do, dân chủ, đòi quyền con người đang ào ào dâng lên mỗi giờ, mỗi ngày trong cái xã hội độc tài đảng trị đáng nguyền rủa.
Viết xong chương bổ sung cần thiết, tôi sẽ công bố cuốn hồi ký của đời mình trên mạng Internet toàn cầu để mọi người nếu đã biết rồi sẽ biết thêm về mặt trái với những góc khuất của một xã hội tồi tệ được sơn son thếp vàng bởi một lũ bồi bút hèn hạ, trong đó, than ôi, có cả bàn tay của kẻ viết những dòng này.
Tại sao lại phải công bố trên Internet?
Bởi vì không thể trông chờ sự xuất hiện của một nhà xuất bản tư nhân nhờ “ơn trên” nào đó sẽ ra đời trong một cuộc đổi mới giả hiệu, và tập hồi ký này sẽ được in. Trong cái quái thai “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” vẫn độc tài với tự do tư tưởng, với nhân quyền tối thiểu, chuyện đó quyết không thể xảy ra.
Thật tình, tôi những ước mong lời nhắn gửi của tôi sẽ đến tay đồng bào, bè bạn, đồng đội, “đồng chí” cũ của tôi, những thế hệ sau tôi, kể cả “kẻ thù” của tôi nữa, trong dạng một cuốn sách bằng giấy trắng mực đen hơn là một cuốn sách trên màn hình máy tính. Mạng thông tin toàn cầu cho tới nay vẫn còn là một cái gì xa lạ với tuyệt đại đa số dân chúng Việt Nam, kể cả nhiều người gọi là có học nhưng đã về già, không còn sức để đọc mấy trăm trang trên computer!
Cuối cùng, xin người đọc, nhất là các bậc thức giả, hãy lượng thứ cho những thiếu sót, những nhầm lẫn ở chỗ này chỗ khác về tên tuổi, địa danh, ngày, tháng... mà một cây bút “trẻ” ở tuổi 80, tài vốn hèn, sức đã kiệt, có thể mắc phải.



Sài Gòn ngày 1 tháng 5 năm 2007
TÔ HẢI

Trận Chiến Dựng Lại Quốc Kỳ.

Bản tổng hợp
Trận Chiến Dựng Lại Quốc Kỳ.


Phạm Bá Hoa


“Trận Chiến Dựng Lại Quốc Kỳ” là một trong hai trận chiến quan trọng tại hải ngoại (Trận Chiến Nhân Quyền), góp phần phát huy sức mạnh của Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn cộng sản, và góp phần hỗ trợ mạnh mẽ công cuộc dân chủ hóa chính trị trên quê hương Việt Nam.
Xin hiểu nhóm chữ “Quốc Kỳ Việt Nam” hay “Cờ Vàng” trong bản tổng hợp này là “quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ”, để phân biệt với cờ của cộng sản Việt Nam. Bản tổng hợp gồm 7 phần: (1) Quốc Kỳ Việt Nam. (2) Kỳ đài. (3) Bia đá tưởng niệm chiến sĩ. (4) Tượng đài tưởng niệm Chiến Sĩ. (5) Bia và tượng đài tưởng niệm Thuyền Nhân. (6) Các địa phương công nhận Quốc Kỳ Việt Nam. (7) Hạ cờ cộng sản.


Phần một. Quốc Kỳ Việt Nam.


1. Quốc Kỳ Việt Nam trên đỉnh Everest.


Ngày 17 tháng 5 năm 2004, quốc kỳ Việt Nam chúng ta đã được cắm trên đỉnh Everest dãy Hy Mã Lạp Sơn. Đây là đỉnh núi cao nhất thế giới (8.848 thước), cũng là nơi mà nhiều người trên thế giới mong muốn thực hiện cuộc hành trình gian khổ để chinh phục đỉnh núi nổi tiếng này.


Qua địa chỉ , tóm lược bài viết trong tờ Thời Báo số 117 ngày 25/6/2004 phát hành ở Portland, Oregon: Kỹ sư Huỳnh Lương Vinh quen biết với ông Craig Van Hoy, 46 tuổi. Ông có vợ người Lào tên Malysone. Có thể do mối liên hệ với quê hương bên vợ mà ông Craig dễ thông cảm với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương, cùng trong hoàn cảnh bị chế độ cộng sản độc tài cai trị. Nhận ra tình cảm đó, ông Huỳnh Lương Vinh tâm sự với ông Craig về những thành công ngoạn mục của Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn tại Hoa Kỳ, về cuộc vận động các địa phương chánh thức công nhận quốc kỳ Việt Nam. Kỹ sư Vinh mong muốn ông Craig, với tư cách Trưởng Đoàn chinh phục đỉnh núi Everest, cắm lá quốc kỳ Việt Nam trên đỉnh núi.

Ông Craig vui vẻ chấp nhận và ông nói thêm rằng: Ông cắm quốc kỳ này trên đỉnh Everest, không chỉ dành riêng cho ông Huỳnh Lương Vinh và Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn trên thế giới, mà ông còn dành danh dự này cho hơn 80 triệu dân trên đất nước Việt Nam nữa. Trong đoàn leo núi này, ngoài ông Craig Van Hoy, còn có 1 người Đài Loan và 4 người Hoa Kỳ. Ông Craig Van Hoy đã thực hiện lời ông đã hứa với kỹ sư Huỳnh Lương Vinh, và ông mang về cho ông Vinh tấm hình ông chụp lá quốc kỳ Việt Nam trên đỉnh Everest để chứng minh lời hứa đó.

2. Quốc kỳ Việt Nam tại Iraq.

Từ địa chỉ e-mail của Tuyến Nguyễn ngày 1/10/2004 cho biết, đơn của Trung sĩ Quân Cảnh Bùi Thanh Thảo trong Lục Quân Hoa Kỳ đang chiến đấu tại Iraq, xin được cắm quốc kỳ Việt Nam tại đơn vị của Anh, đã được cấp trên của Anh chấp thuận. Anh Bùi Thanh Thảo đã cắm quốc kỳ Việt Nam chúng ta cùng với quốc kỳ Hoa Kỳ vào ngày 6/9/2004 ngay trước đơn vị mà anh đang phục vụ tại thủ đô Iraq. Trong ảnh kèm theo e-mail cho thấy, anh Thảo đứng giữa 2 quốc kỳ Việt Nam-Hoa Kỳ. Trong thư gởi cho nhật báo Người Việt ở California, có đoạn anh Thảo viết: Dù là một quân nhân đã phục vụ hơn 7 năm trong quân đội Hoa Kỳ, nhưng tôi vẫn không quên mình là người Việt Nam. Một đoạn khác: Nhân danh cá nhân tôi và các người lính Mỹ gốc Việt đang tham dự vào công cuộc chiến đấu chống khủng bố trên thế giới, tôi sẽ không bao giờ quên truyền thống Việt Nam của tôi, và tôi sẽ theo bước các thế hệ ông cha, tôi tiếp tục chiến đấu cho lý tưởng tự do và dân chủ.

3. Quốc kỳ Việt Nam tại tiểu bang S. Australia.

Chiều ngày 12 tháng 8 năm 2005, một buổi tiếp tân trọng thể do ông Michael Atkinson, Bộ Trưởng Nội Vụ, Bộ Trưởng Đa Văn Hoá và Sắc Tộc tiểu bang Nam Úc, tổ chức tại phòng khánh tiết trong tòa nhà Quốc Hội tiểu bang, để “Vinh Danh Cộng Đồng Việt Nam 30 Năm Tị Nạn tại tiểu bang Nam Úc”. Buổi lễ do ông Mike Rann, Thủ Hiến tiểu bang Nam Úc chủ tọa. Hằng trăm quan khách Việt Nam và Úc Đại Lợi, trong số đó có nhiều viên chức của cơ quan lập pháp lẫn hành pháp tiểu bang tham dự. Trong phòng khánh tiết, hai đại kỳ Australia và Việt Nam, được đặt vào vị trí trang trọng nhất. Quan khách Việt Nam có mặt rất xúc động khi đứng trước quốc kỳ mà mình đã từng chiến đấu bảo vệ. Giờ đây, trong hoàn cảnh chế độ tự do đã sụp đổ 30 năm trước, nhưng quốc kỳ vẫn tồn tại một cách vinh dự trong những hoàn cảnh thích hợp trên những quê hương thứ hai. Phần chánh của buổi tiếp tân, Thủ Hiến Mike Rann đã đọc một bài diễn văn thật ý nghĩa, xin trích dẫn một số đoạn:

… Chúng ta không bao giờ được quên những người đã bỏ mình trong cuộc vượt thoát chế độ cộng sản Việt Nam trong thập niên 70. Chúng ta phải vinh danh Họ, và chúng tôi phải vinh danh quí vị, là những người đã sống sót để thuật lại câu chuyện như một chiến thắng vinh quang của mình, một câu chuyện về vô số người Việt Nam đã trốn chạy chế độ cộng sản ác ôn áp bức từ năm 1975. Cuộc trốn chạy can trường của người Việt Nam, đã làm cho cả thế giới nói chung, và nước Úc nói riêng, phải kinh ngạc!

… Quí vị phải đương đầu với bão tố và hải tặc, với niềm hy vọng trông thấy một dãi đất nhân hậu bên kia chân trời để bắt đầu cho cuộc sống mới. … Sự đóng góp của quí vị đã tạo ra của cải cho tiểu bang Nam Úc, không chỉ về phương diện kinh tế, mà còn cả về phương diện xã hội và văn hoá nữa.

.. Tên của những người Úc gốc Việt trẻ tuổi học hành tận tụy, đã chiếm nhiều hàng tít lớn trên báo chí vào tháng Giêng hằng năm, khi mà kết quả các kỳ thi được công bố với số điểm tối ưu hoặc rất cao. Các em đó cũng học hành xuất sắc như thế ở bậc đại học. Thật ra, tuổi trẻ Việt Nam đã được đứng vững trên đôi vai phi thường của các bậc phụ huynh vĩ đại …”

…Cộng Đồng người Việt cũng đã tiến hành những cuộc tranh đấu đòi hỏi những quyền căn bản cho mọi người dân đang sống tại Việt Nam. Đó là những quyền mà mỗi con người đương nhiên được hưởng, như quyền tự do ngôn luận, quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do đi lại, quyền không bị ngược đãi bằng bất cứ hình thức nào, ..v..v..

… Chánh phủ do tôi lãnh đạo, và cá nhân tôi, đứng về phía quí vị trong cuộc đấu tranh không ngưng nghỉ, nhằm mang lại tự do và những quyền căn bản cho mỗi con người Việt Nam trên quê hương của quí vị. Vì vậy, trong khi chúng ta tán dương những thành tựu của Cộng Đồng người Việt hôm nay, chúng ta cũng công nhận sự nghiệp đấu tranh cho người dân tại Việt Nam.”

4. Quốc kỳ Việt Nam tại Đức.

Ngày 21 tháng 8 năm 2005, một thánh lễ bế mạc Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 20, được tổ chức trên sân cỏ Marienfield thành phố Koln, Cộng Hòa Liên Bang Đức do Đức Giáo Hoàng chủ lễ. Trong buổi lễ này, ước lượng có khoảng 800.000 người tham dự, và cũng do ước lượng có đến hằng tỷ người trên thế giới theo dõi qua các phương tiện truyền thông. Điều nhấn mạnh ở đây là khán giả theo dõi buổi lễ trên màn ảnh TV đều trông thấy rất rõ quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ, cùng với mấy lá cờ nữa được giương cao và tung bay phất phới ngay sau chiếc ghế mà Đức Giáo Hoàng đang ngồi chủ tọa. Vậy là không phải chỉ có Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn cộng sản trên thế giới đều biết được quốc kỳ Việt Nam chúng ta, đã xuất hiện chánh thức với những văn bản hoặc trong một số lễ hội của chánh quyền bản xứ nơi có tổ chức Cộng Đồng Việt Nam, ít nhất là từ đầu năm 2003 và vẫn tiếp tục, còn có hằng tỷ người trên thế giới trông thấy nữa. Sự nhức nhối của lãnh đạo cộng sản Việt Nam, nhất là nhân viên các cơ quan ngoại giao của họ tại ngoại quốc nhức nhối như con bệnh ung thư ngày thêm trầm trọng. Cái đau của họ là họ thấu hiểu sự nhức nhối đó nhưng không có bất cứ phương cách nào ngăn chận được .

5. Quốc kỳ Việt Nam trong diễn hành văn hoá quốc tế.

Đáp lời kêu gọi của Ủy Ban Tổ Chức Ngày Văn Hoá Quốc Tế tổ chức hằng năm tại New York, Cộng Đồng Việt Nam tị nạn tại Hoa Kỳ bắt đầu tham gia Diễn Hành Ngày Văn Hoá Quốc Tế từ năm 2000, sau khi đánh bại sự khiếu nại của cộng sản giành quyền đại diện Việt Nam tại Cơ Quan Di Dân Quốc Tế của Liên Hiệp Quốc. Đây là lần diễn hành năm thứ 22 trong khi Cộng Đồng Việt Nam tham dự lần thứ 8, tổ chức ngày 18 tháng 6 năm 2007. Phái đoàn của Cộng Đồng Việt Nam tham dự hơn 2.000 người từ 44 Cộng Đồng địa phương qui tụ đến đây, cũng là dịp biểu dương sức mạnh của Cộng Đồng tị nạn ngay trước mặt phái đoàn cộng sản Việt Nam do ông Nguyễn Minh Triết dẫn đầu đang có mặt nơi đây.

Đội hình đoàn diễn hành với quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ và quốc kỳ Hoa Kỳ cùng với banner “International Immigrants Presents Vietnam” dẫn đầu. Tiếp đó là banner “Vietnamese American Community”, lần lượt theo sau là đại diện 44 Cộng Đồng, đoàn nữ giới với trang phục Hoàng Triều, đến đại kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ, đoàn Không Quân, xe hoa của hoa hậu Bích Trâm, đoàn nam giới mặc quốc phục cổ truyền, đến màu sắc rất đẹp của đoàn nữ giới với trang phục ba miền Nam Trung Bắc, xe hoa với ảnh Phù Đổng Thiên Vương + bản đồ Việt Nam + lá quốc kỳ Việt Nam và xướng ngôn viên Tố Uyên giới thiệu, đến đoàn nữ giới với chiếc áo dài tha thướt và những chiếc nón lá duyên dáng, rồi đoàn thanh thiếu niên nam nữ với chiếc áo tứ thân và khăn đóng áo dài, đến xe hoa của hoa hậu Bích Liên, đoàn nữ giới với những chiếc áo dài thời trang, và sau cùng của đoàn diễn hành là đông đảo bà con đồng hương. Từ đầu đến cuối đoàn diễn hành của Cộng Đồng là một rừng cờ vàng ba sọc đỏ phất phới suốt 8 block phố trên đại lộ số 6. Đoàn diễn hành của Cộng Đồng Việt Nam tị nạn đã tạo được tình cảm của Ban Tổ Chức Liên Hiệp Quốc và tất cả mọi người có mặt. Đặc biệt là những đơn vị Cảnh Sát bảo vệ trật tự, khi đi ngang đoàn Việt Nam đều hoan hô “Việt Nam, Việt Nam”.

Đoàn diễn hành của Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản đã thành công ngoạn mục.

6. Quốc kỳ Việt Nam trong diễn hành Chiến Sĩ Trận Vong 2007.

Tại Washington DC, một cuộc diễn hành qui mô tổ chức ngày 28/5/2007 nhân Ngày Chiến Sĩ Trận Vong Hoa Kỳ (National Memorial Day). Tham dự có 164 đoàn cựu chiến binh thuộc các quân binh chủng Hoa Kỳ. Đặc biệt có đoàn mô-tô của Rolling Thunder hằng mấy chục chiếc mà đa số là cựu chiến binh Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Trong số rất ít cựu chiến binh thời đệ nhị thế chiến tham dự, có một chiến binh 106 tuổi được Ban Tổ Chức vinh danh. Lúc 11 giờ trưa, Tổng Thống Bush đặt vòng hoa tại đài chiến sĩ vô danh trong nghĩa trang quốc gia Arlington. Đoàn bắt đầu diễn hành lúc 2 giờ trưa từ đường số 7 West, theo đại lộ Constitution, và chấm dứt tại đầu đường số 17.

Đây là lần đầu tiên, Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa vùng đông bắc Hoa Kỳ được mời tham dự. Dẫn đầu đoàn diễn hành Việt Nam là biểu ngữ lớn với dòng chữ “Republic of Vietnam Associations Coalition” do các bà các chị trong chiếc áo dài trắng với khăn quàng màu tím và nón lá bài thơ, những chiếc áo tứ thân với chiếc nón quai thao, cùng căng biểu ngữ chiếm trọn bề ngang đoàn diễn hành. Kế đến là toán thủ quốc kỳ quân kỳ cùng với các toán cựu quân nhân trong quân phục đại diện các quân trường, quân chủng, binh chủng, sau cùng là xe hoa với toán cựu quân nhân Thủy Quân Lục Chiến trong tư thế lúc dựng lại quốc kỳ Việt Nam ngay sau khi tái chiếm cổ thành Quảng Trị. Chen lẫn trong đoàn là những chiếc áo dài dịu dàng mềm mại với những màu sắc khác nhau của các toán thuộc gia đình cựu nữ sinh Gia Long, gia đình cựu nữ Quân Nhân, gia đình cựu sinh viên sĩ quan Thủ Đức, cựu sinh viên trường Võ Bị Đà Lạt, gia đình Không Quân, Hải Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Nhẩy Dù, Thiết Giáp, Truyền Tin, Thiếu Sinh Quân, Quốc Gia Nghĩa Tử, Chiến Tranh Chính Trị, các Sư Đoàn Bộ Binh 1, 5, 7, 9, và nhóm Hậu Duệ trong chiếc áo dài xanh rất dễ thương cùng với Tập Thể Chiến Sĩ vùng đông bắc Hoa Kỳ, là những hình ảnh nổi bật trong đoàn diễn hành.

Đoàn diễn hành của Cộng Đồng Việt Nam tị nạn với hơn 100 người tiêu biểu các tổ chức khác nhau, từ nhiều địa phương khác nhau, mang theo những tấm bảng ghi các địa danh từng là chiến trường ác liệt mà hầu hết cựu chiến binh Hoa Kỳ đều biết, khi đi ngang khán đài danh dự, quan khách cùng đứng lên chào lá đại kỳ Việt Nam. Đây là một thành công nữa trong mục đích giương cao quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ trong vùng đông bắc Hoa Kỳ.

7. Quốc kỳ Việt Nam tại Paris.

Theo e-mail của ông Nguyễn Bắc Ninh từ Paris. Do vận động của Cộng Đồng Việt Nam tị nạn tại địa phưong, tòa thị chánh “Voisins Le Bretonneux” cách Paris 35 cây số, cho phép treo quốc kỳ Việt Nam trên một trong bốn cột cờ chánh của tòa thị chánh trong 3 ngày từ 8 giờ 30 sáng ngày 27/6/2008 đến 8 giờ 30 sáng ngày 30/6/2008. Tuy không được như Cộng Đồng Việt Nam tị nạn tại Hoa Kỳ, Canada, Australia, nhưng bà con trong Cộng Đồng tại đó rất vui mừng vi được thấy quốc kỳ chúng ta lần đầu tiên chánh thức tung bay trên bầu trời Paris cùng với quốc kỳ Pháp suốt thời gian ngắn ngủi ấy.

8. Quốc kỳ Việt Nam trong Ngày Giới Trẻ Quốc Tế tại Sydney.

“Ngày Giới Trẻ Quốc Tế lần thứ 23” tổ chức tại Sydney, Australia, từ ngày 15 đến 20 tháng 7 năm 2008. Trong tổng số giới trẻ tín đồ Thiên Chúa tham dự đại hội có 100.000 giới trẻ bản xứ, 125.000 người từ khắp nơi trên thế giới đến, trong số đó có 15.000 giới trẻ -gồm cả giới trẻ Mỹ gốc Việt- từ Hoa Kỳ đến, và khoảng 600 giới trẻ đến từ Việt Nam.



Ngày 17/7/2008, trong lúc trên du thuyền gần Cầu Hải Cảng và Nhà Hát Con Sò, thanh niên Phạm Vũ Anh Dũng đã kể chuyện với Đức Giáo Hoàng về cuộc sống của gia đình anh trong Cộng Đồng tị nạn cộng sản, nhân đó anh dâng dãi quốc kỳ lên Đức Giáo Hoàng. Ngài liền ban phép lành và tự choàng lên cổ. Tấm hình (bên trên) lịch sử này được chiếu trên đài truyền hình Australia.

Ngày 20/7/2008, trong Thánh Lể bế mạc Đại Hội, Cộng Đồng tị nạn đã thành công cao hơn dự tưởng, vì không một lá cờ đỏ nào của cộng sản Việt Nam xuất hiện trong khi rừng cờ vàng rực rỡ giữa rừng người dự lễ mà cơ quan truyền thông Australia ước lượng khoảng 500.000 người.

Tuổi trẻ Việt Nam đến Sydney từ khắp nơi vào khoảng 3.000 người và Ban Tổ Chức sắp xếp ở chung nhau. Do dễ dàng tâm sự bên nhau nên được biết trước khi rời Việt Nam, mỗi người phải mang theo cờ của đảng cộng sản và được lệnh phải giương cao 400 lá cờ đỏ trong ngày thánh lễ bế mạc, nhưng các bạn này quyết định không thực hiện, một phần vì Ban Tổ Chức bảo cất nó trong cặp, phần khác vì biết tin ngày bế mạc có đến 5.000 người Việt Nam cùng giương cao cờ vàng ba sọc đỏ. Quả thật, ngày bế mạc cả rừng cờ vàng giữa rừng người đến nửa triệu, lúc ấy nhận thấy quyết định không giương cờ đỏ lá đúng, dù biết rằng sẽ gặp khó khăn khi về nước. Rất nhiều bạn trẻ chụp hình kỷ niệm, dù chụp từ góc cạnh nào cũng có cờ vàng ba sọc đỏ trong hình nhưng các bạn cho biết không sợ, cứ tới đâu hay đó. Các bạn cũng cho biết, có vài bạn bị phóng viên báo Thanh Niên kéo ra một góc kẹt, căng cờ đỏ lên để họ chụp hình về VN làm báo cáo.

Tờ Sydney Morning Herald phát hành ngày 21/7/2008, trong bài viết ngắn “A Flag For Freedom” (Lá Cờ Cho Tự Do) được ông Trần Hưng Việt tại Brisbane, Queensland, Australia, dịch từ Anh ngữ như sau: “Cuộc chiến có thể đã chấm dứt, nhưng đối với nhiều người trong Cộng Đồng người Việt ỏ Sydney thì không. Quốc kỳ của Nam Việt Nam là biểu tượng được trông thấy rõ ràng nhất giữa rừng quốc kỳ và các biểu ngữ về tôn giáo trong buổi Thánh Lễ của Đức Giáo Hoàng, mặc dù đó là một biểu ngữ không có quốc gia và bị cấm ở nơi chốn nguyên thủy của nó. Đây là quốc kỳ của nước Việt Nam Tự Do. Một người hành hương trong nhóm người Việt đang đứng dưới lá đại kỳ màu vàng ba sọc đỏ: Hôm nay, chúng tôi mang lá cờ này để nhắc nhớ mọi người rằng, có những nhà cầm quyền vẫn đàn áp quyền tự do tôn giáo”.


9. Quốc kỳ Việt Nam trong trường Mt. Tahoma.


Từ địa chỉ e-mail
kèm theo thư của cháu Nguyễn Anh Thùy, đang học tại trường Mt. Tahoma, Tacoma, tiểu bang Washington. Theo đó, năm 2008 trong ngày văn hoá tại trường, cháu thấy học sinh gốc quốc gia nào có cờ của quốc gia đó, riêng Việt Nam thì không là cháu suy nghĩ. Trong một lớp học, cháu thấy cô giáo có bộ sưu tập các quốc kỳ, trong đó có cờ đỏ sao vàng với kích thước khá nhỏ do một học sinh Việt Nam tặng. Từ đó cháu cùng nhóm học sinh Việt Nam quyết định ghi tên tham dự Ngày Văn Hóa của trường vào ngày 27/03/2009. Cháu Thùy nói: “... Và thật hãnh diện khi lá cờ Việt Nam tung bay sánh bước cùng cờ tiểu bang liên bang, chúng con bước đi trong niềm hạnh phúc và cháy bỏng trong tim để bạn bè và cô giáo thấy biết đây chính là lá cờ thật sự của nước Việt Nam chúng ta. Chúng con rất vui khi đem lá cờ tự do Việt Nam và những điệu múa dân gian cùng tà áo dài truyền thống của người con gái Việt đến những bạn trẻ Việt Nam sống nơi đây cũng như bạn bè khắp nơi biết được nét đẹp và văn hoá dod65c đáo của đất nước chúng ta. Và từ hôm ấy lá cờ vàng ba sọc đỏ được treo tại trường cùng lá cờ các quốc gia bạn”.

Phần hai. Những kỳ đài.

1. Kỳ đài tại San Jose, Hoa Kỳ.

Ghi nhớ đến kỳ đài, tuy có muộn màng nhưng rất cần tuyên dương Liên Hội Người Việt tại thành phố San Jose, tiểu bang California. Giữa những năm 80, một công viên văn hoá Việt Nam được xây dựng tại thành phố này, và trong dự án kỳ đài có quốc kỳ Việt Nam sẽ phất phới trên đó. Hội Đồng Quản Trị Công Viên thành phố San Jose hỏi ý kiến Bộ Ngoại Giao về việc Cộng Đồng Việt Nam treo quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa trước kia trên kỳ đài trong công viên. Trong văn thư ngày 22/9/1986 của Bộ Ngoại Giao, theo đó “Bộ Ngoại Giao không thấy trở ngại nào, về việc quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa (cũ) treo trên kỳ đài của đài tưởng niệm những chiến sĩ Việt Nam và Hoa Kỳ, đã dũng cảm hi sinh cho dân chủ tự do trong cuộc chiến tại Việt Nam”.

2. Kỳ đài tại Houston, Hoa Kỳ.

Lần lượt các Hội Đồng Đại Diện Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Houston, từ năm 1994 đến năm 2005, với sự hỗ trợ tích cực của đồng hương trong Cộng Đồng, đã thực hiện được 12 kỳ đài tại các khu phố thương mại sầm uất của Houston và ven ngoại ô. Tại mỗi kỳ đài có 3 lá cờ ngang nhau: quốc kỳ Hoa Kỳ, quốc kỳ Việt Nam, và cờ tiểu bang Texas. Tất cả tuy chưa phải là qui mô như tên gọi, nhưng điều quan trọng là quốc kỳ Việt Nam chúng ta, cùng với quốc kỳ liên bang Hoa Kỳ và cờ tiểu bang Texas, tung bay trên các vùng Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Bắc, Đông Nam, Tây Bắc, và Tây Nam của thành phố.

3. Kỳ đài tại Pomona, Hoa Kỳ.

Nguồn tin từ bác sĩ Võ Đình Hữu, Cộng Đồng Người Việt thành phố Pomona Valley, tiểu bang California, Hoa Kỳ, đã khánh thành kỳ đài ngày 30/4/2000. Kỳ đài được thành phố cấp giấy phép số 812 ngày 20/4/2000. Trên đỉnh hai cột cờ có chiều cao 45 feet (khoảng 15 thước), là quốc kỳ Việt Nam và quốc kỳ Hoa Kỳ tung bay trong gió.

4. Kỳ đài tại Seattle, Hoa Kỳ.

- Ngày 25 tháng 4 năm 2004, một kỳ đài với 2 cột cờ cao 36 feet được khánh thành trong buổi lễ trang trọng tại khuôn viên đài phát thanh Sài Gòn SRBC ở thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Rất đông đồng hương tham dự.

5. Kỳ đài tại Greer, Hoa Kỳ.

Nguồn tin từ anh Phạm Bá Hân. Với văn thư chánh thức ngày 12/12/2005, Disabled American Veterans Greer Chapter 39, đồng ý cho Việt Nam thực hiện các bia đá đen ghi tên các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hi sinh vì Dân chủ Tự Do. Các bia đá đen này đặt cạnh các bia đá đen ghi tên các tử sĩ Hoa Kỳ có sẳn nơi đây. Mỗi bia đá đen ghi danh được 57 tử sĩ với chi phí chung là 5.630 mỹ kim (hay là chi phí riêng cho mỗi tử sĩ là 98.78 mỹ kim). Hội Cựu Quân-Cán-Chánh tại South Carolina, đang vận động gây quỹ để thực hiện những tấm bia đá đen này, khắc tên từng tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa, để các thế hệ mai sau nhớ mãi gương hi sinh cao quí của những bậc cha ông.

Lễ khánh thành kỳ đài trong công viên Victor Memorial Veterans tại thành phố Greer, tiểu bang South Carolina, tổ chức lúc 11 giờ sáng ngày 29/4/2006, do Hội Cựu Quân-Cán-Chánh và Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia thành phố Greenvill, phối hợp với Hội Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ tổ chức. Công trình này do Clayton Monuments thực hiện. Hai quốc kỳ Việt Nam và Hoa Kỳ trên đỉnh hai cột cờ, trong nhóm kỳ đài có sẳn trong công viên này.

Phần ba. Bia đá tưởng niệm chiến sĩ.

1. Bia tưởng niệm tại Honolulu, Hoa Kỳ.

Tài liệu từ Giáo Sư Nguyễn Văn Canh, “Ủy Ban Dựng Bia Đá & Vinh Danh” gọi tắt là “Ủy Ban Vinh Danh” được thành lập, do Luật Sư Đỗ Doãn Quế Chủ Tịch, cô Nina Nguyễn Ngọc Nhung, Phó Chủ Tịch Điều Hành, cựu Đại Tá Gene Castagnetti, Phó Chủ Tịch Đối Ngoại, và một số vị trách nhiệm những bộ phận khác nhau. Giáo Sư Nguyễn Văn Canh là Cố Vấn. Bia đá ghi danh tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa được phép đặt cạnh bia đá của Không Quân Hoa Kỳ, cùng hàng với khoảng 50 bia đá của Hoa Kỳ và các quốc gia khác, trong khuôn viên “Nghĩa Trang Quốc Gia Thái Bình Dương” (National Memorial Cemetery of the Pacific = NMCP) tại Honolulu, tiểu bang Hawaii. Nghĩa trang nằm trên miệng núi lửa Puowaina, rộng 112 mẫu. Puowaina có nghĩa là “Hi Sinh”. Ngoài bia đá nặng khoảng 2.000 lbs. trên đỉnh núi Kapa’a do Giám Đốc công ty sở hữu núi Kapa’a tặng.

Ngày 30/4/2006, Bia Đá Vinh Danh Tử Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã được khánh thành trong buổi lễ rất trang nghiêm, trọng thể, và cảm động.

Phần trên của bia đá: Chính giữa là bản đồ Việt Nam. Bên trái là quốc kỳ Hoa Kỳ với dòng chữ “Duty - Honor - Country”. Bên phải là quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ với dòng chữ “Tổ Quốc Ghi Ân - Vị Quốc Vong Thân”. Phần dưới là một khung lớn với những dòng chữ bằng Anh ngữ “Vinh Danh Quân Lực Hoa Kỳ, Quân Lực & Nhân Dân Việt Nam Cộng Hòa, và các quốc gia Đồng Minh Australia, New Zealand, South Korea, Phillippines, Taiwan, và Thailand, đã chiến đấu chống cộng sản để bảo vệ dân chủ tự do và nhân quyền cho thế giới”.

Trong e-mail lochuong65@yahoo.com.au viết về lễ khánh thành Bia Đá này, có bài thơ Vị Quốc Vong Thân, như sau: Vị Quốc Vong Thân Ất Mão niên. Quốc suy Tướng sĩ chết theo thành. Vong linh tuế nguyệt trầm hương tỏa. Thân thế thiên thu khắc hãn thanh”.

2. Bia tưởng niệm tại Fayetteville, Hoa Kỳ.

Nguồn tin từ tác giả Nguyễn Văn Lập. “Hội Ngộ Mũ Đỏ” (Red Hat Reunion) được tổ chức tại thành phố Fayetteville, tiểu bang North Carolina, từ ngày 11-14 tháng5/2006. Khoảng 300 Mũ Đỏ Hoa Kỳ và Mũ Đỏ Việt Nam tham dự. Nhiều cơ quan truyền thông Hoa Kỳ và Việt Nam cũng có mặt. Trong số Mũ Đỏ Hoa Kỳ, có nhiều vị trước kia là cố vấn Sư Đoàn Nhẩy Dù Việt Nam mà nay là Tướng Lãnh. Một đoạn trong lời phát biểu, Trung Tướng James B. Vaught -Cố Vấn Sư Đoàn Nhẩy Dù Việt Nam năm 1971- nhấn mạnh: “… Tưởng rằng làm cố vấn giúp các bạn chiến đấu, nhưng thật sự thì chúng tôi học tinh thần chiến đấu anh dũng tuyệt vời của các bạn. Và buổi lễ tưởng niệm này để tưởng nhớ sự hy sinh của trên 20.000 Người Lính Nhẩy Dù Việt Nam Cộng Hòa trong suốt cuộc chiến, trong đó có nhiều Cố Vấn thuộc Team 162 đã nằm xuống vì tự do cho Việt Nam…”

Lễ đặt Bia Đá Tưởng Niệm và khánh thành Khu Bảo Tàng dành cho Mũ Đỏ Việt Nam được thực hiện ngày 12/5/2006, rất trang trọng với đầy đủ lễ nghi quân cách của quân lực Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa. Trên Bia Đá có dòng chữ “Dedicated to the 20,000 + Vietnamese Airborne who died fighting for freedom and democracy in South Vietnam 1960-1975. Military Assistance Command Vietnam Advisory Team 162 The Red Hats”. Tấm bia này được khắc xuống nền sân trước của Bảo Tàng Viện. Trích lời phát biểu của Đại Tá Paul Devries, Trưởng Ban Tổ Chức trong lễ khánh thành “Khu Bảo Tàng” bên trong Bảo Tàng Viện: “… Phải gọi là lịch sử, vì đây là lần đầu tiên và duy nhất, một Binh Chủng thiện chiến của quân đội Đồng Minh (Việt Nam Cộng Hòa) được đặt Bia Tưởng Niệm và có một Khu Bảo Tàng vĩnh viễn trong Bảo Tàng Viện nổi tiếng của Lục Quân Hoa Kỳ …”

Chủ Tịch Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam, ông Nguyễn Thành Phúc, đã cảm tạ Toán Cố Vấn Nhẩy Dù 162 thuộc MACV về nghĩa cử và hành động ghi nhớ sự hy sinh của chiến sĩ Nhẩy Dù Việt Nam Cộng Hòa.

Phần bốn. Tượng đài tưởng niệm Chiến Sĩ & Thuyền Nhân.

1. Tượng đài tại Fairfield, Australia.

Ngày 31/8/1991, lễ khánh thành Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa & Úc Đại Lợi rất trọng thể, do Đề Đốc Peter Sinclair, Thủ Hiến tiểu bang New South Wales, Australia chủ tọa. Tượng đài đặt trong công viên Cabra-Vale, thành phố Fairfield, ngoại ô của Sydney, với quốc kỳ Việt - Úc cùng phất phới trên kỳ đài.

2. Tượng đài tại Perth, Australia.

Ngày 7 tháng 12 năm 2002, Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn chúng ta tại Australia nói chung và miền Tây Australia nói riêng, đã thực hiện và khánh thành Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Việt - Úc đã hi sinh vì dân chủ tự do tại thành phố Perth, miền Tây Australia. Tại đó, quốc kỳ Việt Nam chúng ta đã chánh thức phất phới trên kỳ đài, dù rằng đại sứ cộng sản Việt Nam tại Australia đã phản đối mạnh mẽ, nhưng họ đã thất bại như đã thất bại với tượng đài năm 1991.

3. Tượng đài tại Westminster, Hoa Kỳ.

Ngày 27/4/2003, Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Việt Nam-Hoa Kỳ đã được long trọng khánh thành tại công viên tòa thị sảnh thành phố Westminster, tiểu bang California, nơi được xem là “thủ đô” của Cộng Đồng tị nạn chúng ta. Trong buổi lễ này, rất đông nhân vật chánh quyền địa phương, chánh quyền tiểu bang và liên bang Hoa Kỳ, nhiều quan khách ngoại quốc mà trước kia có quân đội tham chiến bên cạnh quân đội Việt Nam Cộng Hòa, và hằng chục ngàn đồng hương Việt Nam tại địa phương, từ nhiều tiểu bang khác, cùng với đồng hương từ nhiều quốc gia xa xôi đến tham dự.

4. Tượng đài tại Dandenong, Australia.

Ngày 30/4/2005, tượng đài được khánh thành trong buổi lễ thật trang trọng tại Dandenong, tiểu bang Victoria, Australia, với sự tham dự rất đông bà con Việt Nam từ các tiểu bang qui tụ về đây. Trên bệ tượng đài là Người Lính Australia & Người Lính Việt gần như đâu lưng nhau trong tư thế sẳn sàng chiến đấu trên đường hành quân.

5. Tượng đài tại Houston, Hoa Kỳ.

Ngày 11/6/2005, rất đông bà con trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn tại thành phố Houston và vùng phụ cận, và một số nhân vật Hoa Kỳ địa phương -kể cả cựu chiến binh Hoa Kỳ- đã tham dự ngày khánh thành tượng đài Chiến Sĩ Việt Nam & Hoa Kỳ trong buổi lễ rất trang trọng. Tượng chiến sĩ Việt Nam và Hoa Kỳ, súng trong tay, cùng nhìn về phía trước trong tư thế sẳn sàng tác chiến. Tượng đài xây dựng tại số 11360 đại lộ Bellaire, khu tây nam thành phố Houston, nơi qui tụ đông đảo đồng hương cư trú lẫn kinh doanh thương mãi.

6. Tượng đài tại Brisbane, Australia.

Ngày 16/9/2005, tại miền Đông Australia, tượng đài Chiến Sĩ Việt Nam & Australia được khánh thành rất trang trọng trong Công Viên Roma Street tại trung tâm thành phố Brisbane, tiểu bang Queensland, cách Sydney khoảng 1.000 cây số về phía bắc. Lễ khánh thành do bà Anna Bligh, Phó Thủ Hiến Queensland chủ tọa, với sự tham dự khoảng 700 người Việt và Úc. Theo tài liệu của anh Nguyễn Văn Sanh từ Brisbane cung cấp, Ủy Ban Xây Dựng thành lập từ tháng 4 năm 2001. Trách nhiệm thực hiện do Ban Điều Hành với hai vị đồng Trưởng Ban là cựu Đại Úy Huỳnh Bá Phụng và cựu Thiếu Tá Alan Cunningham. Tượng Người Lính Việt Nam Cộng Hòa & Người Lính Australia, do điêu khắc gia Dean Rusling, nhà tạc tượng Frederick Whitehouse, và kiến trúc sư Lê Cương thực hiện.

7. Tượng đài tại Adelaide, Nam Australia.

Tại thành phố Adelaide, sau hơn 3 năm phối hợp công tác của Hội Cựu Chiến Binh Úc tham chiến tại Việt Nam và Hội Cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, ngày 15/10/2006, tượng đài Chiến Sĩ Việt Nam & Australia trong công viên Torrens Parade Ground trước Trung Tâm Quân Sự Tiểu Bang Nam Úc, được khánh thành trong buổi lễ rất trang nghiêm và cảm động, do ông Mike Rann, Thủ Hiến tiểu bang Nam Úc chủ tọa. Khoảng 4.000 quan khách Việt Nam và Australia tham dự, trong số đó có nhiều chính khách của thành phố Adelaide, tiểu bang, và liên bang. Đặc biệt, có mặt của Trung Tướng Donald Dunstan, cựu Tư Lệnh quân đội Úc tại Việt Nam Cộng Hòa năm 1971-1972.

Tượng chiến sĩ Việt-Úc cùng đứng bên nhau trên bệ đá hoa cương. Mặt Nam là mặt chánh, có dòng chữ “Vietnam War Memorial” mạ vàng. Mặt Đông khắc huy hiệu Hải Lục Không Quân Úc và huy hiệu Hải Lục Không Quân VNCH. Mặt Bắc ghi tên 58 chiến sĩ của Nam Úc đã hi sinh trên chiến trưowfng.