Tranh luận trên các diễn đàn công cộng là một hình thức trao đổi ý kiến không thể thiếu được trong một xã hội văn minh. Ở nhiều nước, lưu lượng của những tranh luận cởi mở và nghiêm túc được xem là một dấu hiệu của một xã hội lành mạnh. Ở các nước phương Tây, hầu như ngày nào báo chí cũng có những bài của những cây bỉnh bút tranh luận về một vấn đề nóng nào đó. Trên tivi cũng có những cuộc tranh luận trực tiếp giữa hai hay nhiều người về những chủ đề từ “đại sự” đến những vấn đề tưởng như nhỏ nhất. Trong các hội nghị khoa học, trước một vấn đề còn trong vòng nghi vấn, người ta cũng có những chuyên gia tranh luận dưới dạng những bài giảng khoa học.
Nhưng thế nào là tranh luận nghiêm túc? Nói một cách ngắn gọn, cũng như trong một cuộc đấu võ, một tranh luận nghiêm túc là một cuộc tranh luận có qui tắc, mà trong đó người tham gia không được, hay cần phải tránh, phạm luật chơi. Những qui tắc chung và căn bản là người tham gia chỉ phát biểu bằng cách vận dụng những lí lẽ logic, với thái độ thành thật và cởi mở, chứ không phát biểu theo cảm tính, lười biếng, hay biểu hiện một sự thiển cận, đầu óc hẹp hòi.
Để đạt những yêu cầu này, người tranh luận nghiêm túc trước khi phát biểu hay đề xuất ý kiến, đưa ra lời bình phẩm của mình, cần phải xem xét tất cả các trường hợp khả dĩ, phải cân nhắc những quan điểm và những cách giải thích khác nhau, phải đánh giá ảnh hưởng của sự chủ quan và cảm tính, phải tập trung vào việc tìm sự thật hơn là muốn mình đúng, phải sẵn sàng chấp nhận những quan điểm không được nhiều người ưa chuộng, và phải ý thức được định kiến và chủ quan của chính mình. Khi tranh luận phải nhất quán là chỉ xoay quanh chủ đề bàn luận, luận điểm bàn luận chứ không đi lạc đề. Không công kích vào cá nhân và nhân thân của người tham gia tranh luận.
Đó là những đòi hỏi khó khăn cho một cuộc tranh luận nghiêm túc có ý nghĩa, và không phải ai cũng có khả năng đạt được những yêu cầu này, nhất là đối với người Việt vốn chưa quan với văn hóa tranh luận. Do đó, không mấy ai ngạc nhiên khi thấy có quá nhiều trường hợp chất lượng của những cuộc tranh luận giữa người Việt rất thấp. Chỉ cần xem qua những cái-gọi-là “tranh luận” trên các diễn đàn báo chí (và nhất là các “chat room” hay blog), người ta có thể thấy đó không phải là tranh luận, mà là những cuộc đụng độ giũa các cá nhân tham gia tranh luận, những cuộc chửi bới, chẳng có lí luận của người tranh luận. Ngoài ra, đối với một số người tham gia bình luận về một câu chuyện nào đó là một cuộc dàn xếp, một sự đóng kịch, nhằm tung hỏa mù hoặc lên lớp, hoặc a dua theo đám đông. Đó là những kịch bản ngớ ngẩn đến tội nghiệp. Ngớ ngẩn là vì người xuất hiện chẳng nói được gì cho đầy đủ, mà cũng chẳng phân tích một vấn đề gì cho đến nơi đến chốn.
Thật vậy, rất nhiều trường hợp, những cuộc tranh luận giữa người Việt chỉ là những cuộc chửi lộn, mà trong đó người ta tha hồ vung vít, ném liệng vốn liếng chữ nghĩa qua lại một cách hỗn độn, mà chẳng cần để ý đến logic hay các nguyên tắc của tranh luận là gì. Hơn nữa, rất dễ dàng nhận thấy rằng trong các cuộc tranh luận đó người ta nhắm vào mục tiêu là nhân thân, cá nhân của người tranh luận chứ không nhắm vào quan điểm và lí lẽ của người đó. Thay vì tranh luận thẳng vào vấn đề, người ta tìm cách gắn cho đối phương một nhãn hiệu, và từ đó làm lu mờ đi quan điểm của họ. Trong hầu như những tranh luận, nhiều người cố tìm hay tạo cho mình một vị trí đạo cao đức trọng cả bằng cách gắn cho đối phương những danh từ và tính từ mang tính miệt thị, một thủ đoạn có khả năng làm cho một cuộc tranh luận trở nên một cuộc ẩu đã ngôn từ đinh tai nhức óc thay vì là một trao đổi khoa học.
Thực ra, đó là một hình thức ngụy biện, một lỗi lầm cơ bản nhưng nghiêm trọng trong tranh luận. Nói một cách đơn giản, ngụy biện là những nhầm lẫn trong lí luận và suy luận. Ngụy biện khác với logic. Logic, nói một cách ngắn gọn trong trường hợp này, là những qui ước quản lí tính nhất quán trong việc sử dụng ngôn ngữ. Giới triết học Tây phương đã bỏ khá nhiều công sức để phân biệt thế nào là logic và thế nào là ngụy biện. Aristotle có lẽ là một nhà logic học đầu tiên có công phát triển các qui tắc và hệ thống suy luận. Trong quá trình làm việc, ông phát hiện ra nhiều lỗi lầm mà sau này người ta quen gọi là những “ngụy biện.” Mặc dù Aristotle là một nhà nhà logic học đầu tiên có công liệt kê và phân loại những loại ngụy biện, thầy của ông (Plato) mới xứng đáng được vinh danh như là một nhà triết học đầu tiên đã có công sưu tầm những ví dụ về ngụy biện. Kể từ khi Plato và Aristotle, đã có khá nhiều nhà triết học và logic học như John Locke, John Stuart Mill, Jeremy Bentham, và Arthur Schopenhauer cũng có nhiều cống hiến quan trọng trong việc nghiên cứu về ngụy biện.
Điều đáng chú ý là những lỗi lầm về ngụy biện ở người Việt lại hay thấy trong giới có học. Chỉ cần điểm qua báo chí, websites, blog, v.v... chúng ta dễ dàng thấy rất nhiều cái-gọi-là "tranh luận" thật ra chỉ là ngụy biện. Tuy nhiên, nhiều người vẫn chưa biết đó là những ngụy biện, mà thậm chí còn hết lời khen ngợi kẻ ngụy biện là ... uyên bác! Điều này cho thấy trong những người Việt học cũng có người rất lười biếng suy nghĩ và chẳng phân biệt được thật và giả, không có khả năng nhận dạng được ngụy biện. Phải ghi nhận một điều là internet đã rất tuyệt vời, vì qua những "tranh luận" và chửi bới của những kẻ tham gia trên internet, chúng ta biết được bộ mặt xấu xí đằng sau những người mang nhãn mác "trí thức" hay "có học". Những kẻ này tương đối nguy hiểm, vì với cái nhãn mác "có học" đó, họ có cơ hội làm lũng đoạn xã hội và trở thành những con vi khuẩn làm nhiễm trùng nền học thuật nước nhà. Do đó, cần phải giúp họ nhận ra đâu là ngụy biện và đâu là logic.
Thực ra, nhận dạng ngụy biện không phải là một việc làm khó khăn. Nói chung chỉ với một lương năng bình dân, người ta có thể phân biệt một phát biểu mang tính ngụy biện với một phát biểu logic. Tuy nhiên, cũng có nhiều dạng thức ngụy biện mà vẻ bề ngoài hay mới nghe qua thì rất logic, nhưng thực chất là phi logic. Những loại ngụy biện núp dưới hình thức “khoa học” này không dễ nhận dạng nếu người đối thoại thiếu kiến thức về logic học hay thờ ơ với lý lẽ. Do đó, một điều quan trọng trong tranh luận là cần phải phát hiện và nhận dạng những hình thức ngụy biện, và quan trọng hơn, cần phải hiểu tại sao chúng sai. Có thể phân loại ngụy biện thành nhiều nhóm khác nhau liên quan đến việc đánh lạc vấn đề, lợi dụng cảm tính, thay đổi chủ đề, nhầm lẫn trong thuật qui nạp, lý luận nhập nhằng, phi logic, và sai phạm trù. Trong khuôn khổ giới hạn, người viết bài này không có tham vọng trình bày tất cả những loại ngụy biện một cách chi tiết (vì việc này đã được hệ thống hóa trong nhiều sách về logic học), mà chỉ muốn liệt kê ra những loại ngụy biện thường hay gặp trong báo chí và truyền thông, hầu giúp bạn đọc có thể phân biệt giữa chân và giả.
Liệt kê sau đây là một loạt những ngụy biện phổ biến hay thấy ở người Việt. Những ngụy biện này có thể phân thành 7 nhóm như sau:
• Đánh tráo chủ đề
• Lợi dụng cảm tính và đám đông
• Làm lạc hướng vấn đề
• Qui nạp sai
• Nhập nhằng đánh lận con đen
• Phi logic
• Các nhầm lẫn khác
Nhóm 1. Đánh tráo chủ đề
1. Công kích cá nhân (ad hominem). Đây là một loại ngụy biện phổ biến nhất, thấp kém nhất, nguy hiểm nhất, nhưng có “công hiệu” nhất, vì nó tấn công vào cá nhân của người tranh luận, và tìm cách trốn tránh luận điểm của cá nhân đó. Hình thức ngụy biện này thường xuất hiện dưới dạng: Ông A phát biểu về một vấn đề; ông B tấn công vào cá nhân ông A, và làm cho người ta nghi ngờ luận điểm của ông A. Tuy nhiên, có thể không có mối liên hệ nào giữa cá nhân và luận điểm của ông A.
Có hai hình thức thuộc loại ngụy biện này. Thứ nhất là dưới hình thức sỉ nhục, hay chửi rủa. Khi bất đồng ý kiến, người ngụy biện chỉ việc công kích vào cá nhân của người phát biểu. Chẳng hạn như “Ông nói là những người vô thần có đạo đức, vậy mà chính ông là người từng li dị với vợ con,” hay “Ông là người làm kinh tế, không biết gì về khoa học, mà nói chuyện khoa học”. Đây là một ngụy biện, bởi vì sự thật của phát biểu không tùy thuộc vào cá nhân của người phát biểu, mà là logic của lời phát biểu. Cũng nằm trong loại ngụy biện này là thói dùng một đặc điểm của một vật thể nào đó để ứng dụng cho một cá nhân hay một vật thể khác. Ví dụ: “Anh học của Tây có vài chữ mà đã quay lại chửi bới đồng nghiệp à? Anh là con công cháu cha, anh không hiểu gì về sự nghèo khổ của chúng tôi.”
2. Lợi dụng quyền lực (ad verecundiam). Đây là loại ngụy biện dùng những nhân vật nổi tiếng hay được nhiều người ái mộ để tìm sự ủng hộ cho luận điểm của mình. Chẳng hạn như “Isaac Newton là một thiên tài, và ông tin vào Thượng đế,” làm như ông Newton là người có thẩm quyền để chúng ta tin vào Thượng đế. Thẩm quyền không thuyết phục được ai; chỉ có sự thật, lí lẽ và logic mới quan trọng và có khả năng thuyết phục.
3. Lợi dụng nặc danh. Trong trường hợp này, người ngụy biện không nêu danh tính người có thẩm quyền, và vì không ai biết tên người có thẩm quyền nên không ai có thể kiểm chứng sự chính xác của lời phát biểu. Một loại ngụy biện khác có quan hệ với loại này là dùng lời đồn đại để làm cơ sở lập luận. Giới công an hay sử dụng ngụy biện này, ví dụ như “Một viên chức tình báo cho biết chính anh từng hoạt động cho địch.”
4. Lợi dụng tác phong. Loại ngụy biện này dùng tác phong hay cách làm việc hay một đặc tính nào đó của đối tượng để cố thuyết phục về tính hợp lí của phát biểu. Tiêu biểu cho loại ngụy biện này là những phát biểu như “Nixon thất cử vì ông ta thường hay ra mồ hôi trên trán,” hay “Tại sao anh không nghe theo lời khuyên của anh chàng ăn mặc bảnh bao đó?” Thực ra, “bảnh bao” và “mồ hôi trên trán” chẳng có dính dáng gì đến vấn đề đang bàn thảo.
5. Luận điệu cá trích. Loại ngụy biện này thường hay được ứng dụng khi một người nào đó đưa vào những phát biểu không dính dáng gì đến vấn đề đang tranh luận, nhằm mục đích đánh lạc hướng vấn đề. Ví dụ: “Anh có thể nói rằng tử hình là một hình thức không có hiệu quả trong việc chống lại tội phạm, nhưng còn nạn nhân của tội phạm thì sao? Gia đình của nạn nhân sẽ nghĩ gì khi họ thấy tên sát nhân người thân của họ bị giam giữ trong nhà tù bằng đồng tiền của chính họ. Họ có nên nuôi dưỡng những tên sát nhân như thế không?”
6. Luận điệu ngược ngạo. Bằng chứng luôn luôn là gánh nặng của người phát biểu. Do đó, tìm cách chuyển gánh nặng đó cho một người khác là một thủ đoạn của những người ngụy biện. Chẳng hạn như trong câu này “Anh nói rằng ăn nhiều mỡ không liên quan đến cholesterol, nhưng anh có thể chứng minh điều đó không?” Đáng lẽ người phát biểu phải chứng minh, nhưng công việc đó lại được chuyển cho người đối thoại!
Nhóm 2. Lợi dụng cảm tính và đám đông
7. Dựa vào bạo lực (ad baculum). Ngụy biện dựa vào bạo lực thực chất là một sự đe dọa, nhằm mục đích gây áp lực cho người đối thoại phải chấp nhận một kết luận nào đó. Loại ngụy biện này thưởng được giới chính khách dùng, và có thể tóm gọn bằng một câu “chân lí thuộc về kẻ mạnh”. Sự đe dọa không hẳn chỉ xuất phát từ người phát biểu, mà có thể từ một người khác. Ví dụ như “Những ai không tin vào chính sách của Nhà nước sẽ phải trả giá đắt”, hay “Được rồi, tôi đã biết số điện thoại của anh và biết anh đang ở đâu. À, tôi có nói cho anh biết là tôi mới mua một cây súng ngắn chưa nhỉ?”
8. Lợi dụng lòng thương hại (ad misericordiam). Đây là một loại ngụy biện dựa vào lòng trắc ẩn của người đối thoại để người đối thoại chấp nhận lí lẽ của mình. Ví dụ như “Anh ấy không có giết người bằng búa. Làm ơn đừng tuyên án anh ấy có tội, anh ấy đang trải qua một giai đoạn khủng hoảng tinh thần,” hay “Tôi hi vọng anh sẽ chấp nhận đề nghị này, chúng ta đã tiêu ra ba tháng nay để bàn rồi đấy.”
9. Lợi dụng hậu quả (ad consequentiam). Ngụy biện loại này thường được biểu hiện qua cách phát biểu “A hàm ý B, B là sự thật, do đó A là sự thật”. Ví dụ: “Nếu vũ trụ được một đấng chí tôn thượng đế tạo nên, chúng ta có thể thấy những hiện tượng được tổ chức một cách thứ tự. Và hiện tượng chung quanh chúng ta quả rất thứ tự, vậy đấng chí tôn thượng đế chính là người tạo nên vũ trụ,” hay “Anh phải tin vào Đảng Cộng hòa, chứ nếu không cuộc đời này sẽ chẳng có ý nghĩa” (hay là nói một cách ngược lại: cuộc sống này chẳng có ý nghĩa gì nếu không có Đảng cộng hòa!)
10. Lạm dụng chữ nghĩa. Đây là một loại ngụy biện dựa vào dùng những chữ mang cảm tính cao để gắn một giá trị đạo đức vào một đề nghị hay một câu phát biểu. Chẳng hạn như trong câu “Bất cứ một người có lương tri nào cũng phải đồng ý rằng về Việt Nam ăn Tết là làm lợi cho cộng sản,” chữ “lương tri” được cài vào nhằm cho người đối thoại phải nghiêng theo những người có lương tri.
11. Dựa vào quần chúng (ad numerum). Loại ngụy biện này tin rằng nếu có nhiều người ủng hộ một đề nghị nào đó, thì đề nghị đó phải đúng. Ví dụ như “Đại đa số người dân trong cộng đồng ủng hộ ông Minh, vậy phát biểu của ông Minh ắt phải đúng.”
Nhóm 3. Làm lạc hướng vấn đề
12. Lí lẽ chẻ đôi. Loại ngụy biện này thường phân định một vấn đề thành hai giá trị: trắng và đen, bạn và thù, có và không, v.v.. dù trong thực tế, có hơn hai lựa chọn. Chẳng hạn như “Hoặc là anh hợp tác với tôi hay là anh chống tôi, anh chọn hướng nào, yes hay là no?”
13. Lí lẽ ngờ nghệch (ad ignorantiam). Loại ngụy biện này, như tên gọi ám chỉ, xuất phát từ sự ngớ ngẩn. Một trong những cách nói thông thường nhất trong loại ngụy biện này mà giới ngụy biện hay dùng là nếu một điều gì đó chưa được chứng minh là sai (hay giả) thì điều đó là đúng (hay thật). Ví dụ: “Bởi vì các nhà khoa học chưa chứng minh dioxin có thể gây ra dị thai, do đó dioxin không thể gây ra dị thai,” hay kiểu lí luận của “nền kinh tế phát triển và xã hội ổn định mấy năm nay, không có lý do gì phải cần đến dân chủ”.
14. Lí luận lươn trạch. Loại ngụy biện này cho rằng nếu một sự kiện xảy ra, các sự kiện có hại khác sẽ xảy ra. Chẳng hạn như “Nếu chúng ta hợp pháp hóa cần sa, công chúng sẽ bắt đầu hút cần sa, và chúng ta cũng sẽ phải hợp pháp hóa á phiện. Rồi chúng ta sẽ là một quốc gia với những người ăn bám vào xã hội. Do đó, chúng ta không thể hợp pháp hóa á marijuana”. Hay một đoạn ví dụ khác:” Tiếc thay một cuộc cải cách về kinh tế, bình bị, tài chánh, xã hội, nông nghiệp như vậy, đang trên đường thành công rực rỡ: bị tan vỡ, bị huỷ bỏ chỉ vì tham vọng đánh Đại việt của Vương An Thạch. Mà đau đớn biết bao, khi người phá vỡ chỉ là một thiếu phụ Việt ở tuổi ba mươi. Giá như Thạch không chủ trương Nam xâm, chỉ cần mười năm nữa, toàn bộ xã hội Trung quốc thay đổi; rồi với cái đà đó, thì Trung quốc sẽ là nước hùng mạnh vô song, e rằng cứ muôn đời mặt trời vẫn nở phương Đông chứ không ngả về Tây như hồi thế kỉ 18 cho đến nay bao giờ.”
15. Mệnh đề rời rạc. Đây là loại ngụy biện dùng hai (hay nhiều hơn hai) mệnh đề chẳng dính dáng gì với nhau để làm thành một phát biểu hay kết luận. Ví dụ: “Anh ủng hộ tự do dân chủ và quyền mang vũ khí hay không?” hay “Anh đã ngưng làm ăn trái phép chưa?” Câu hỏi sau thực ra hỏi hai vấn đề “Anh từng làm ăn trái phép?” và “Anh đã ngừng hoạt động hay chưa?”
16. Đơn giản hóa. Đây là một loại ngụy biện mà người phát biểu cố tình biến một quan niệm trừu tượng thành một điều cụ thể để bắt lấy thế thượng phong trong đối thoại (nhưng là ngụy biện). Ví dụ: “Tôi để ý thấy anh mô tả ông ta là một người quỉ quyệt. Vậy tôi hỏi anh cái “quỉ quyệt” đó nó nằm ở đâu trong bộ não? Anh không chỉ ra được cho tôi; do đó, tôi có thể nói cái quỉ quyệt không có thực.”
Nhóm 4. Qui nạp sai
17. Khái quát hóa vội vã. Loại ngụy biện này cũng khá phổ biến. Nó dùng một ví dụ hay trường hợp nhỏ và từ đó khái quát hóa cho một cộng đồng. Chẳng hạn như “Ông ấy là một tay đạo đức giả. Do đó, các bạn bè của ông ấy cũng giả dối.”
18. Khái quát hóa không đúng chỗ. Đây là loại ngụy biện mà người sử dụng chúng thường áp dụng một qui luật chung cho một tình huống hay một cá nhân. Chẳng hạn như “Người cộng sản là vô thần. Anh là người theo chủ nghĩa cộng sản, vậy anh chắc chắn là một người vô thần.”
19. Kéo dài tính tương đồng. Trong loại ngụy biện này, người dùng nó đề nghị một điều lệ chung chung, rồi áp dụng nó cho mọi trường hợp và cá nhân. Ví dụ: “Tôi tin rằng chống luật pháp bằng cách phạm luật pháp là một điều sai trái”, hay “Nhưng quan điểm đó ghê tởm lắm, vì nó ám chỉ rằng anh sẽ không ủng hộ tôi,” hay “Anh muốn nói rằng luật về mật mã cũng có tầm quan trọng tương đương với phong trào giải phóng sao? Sao anh dám nói thế?”
20. Lí lẽ quanh co. Loại ngụy biện này thường luẩn quẩn trong vài giả định và kết luận. Chẳng hạn như “Những người đồng tính luyến ái nhất định không thể nắm chính quyền. Do đó, phải tống khứ những viên chức chính phủ đồng tính luyến ái. Vì thế, những người đồng tính luyến ái sẽ làm mọi cách để dấu diếm hành tung của họ, và họ có nguy cơ bị tống tiền. Do vậy, những người đồng tính luyến ái không được giữa chức vụ gì trong chính phủ.” Tức là trong một lí giải như thế, cả hai giả thuyết và kết luận đều giống nhau.
21. Đảo ngược điều kiện. Loại ngụy biện này thường được biểu hiện qua hình thức “Nếu A xảy ra thì B sẽ xảy ra, do đó, nếu B xảy ra thì A sẽ xảy ra.” Ví dụ: “Nếu tiêu chuẩn giáo dục bị hạ thấp, chất lượng tranh luận sẽ bị tồi đi. Do đó, nếu chúng ta thấy chất lượng tranh luận suy đồi trong những năm sắp đến, thì điều đó cho thấy tiêu chuẩn giáo dục của ta bị xuống cấp.”
22. Lợi dụng rủi ro. Ngụy biện này thường dùng một qui luật chung và áp dụng nó cho một trường hợp cá biệt. Ví dụ: “Luật giao thông không cho anh chạy quá 50 km/h. Cho dù cha anh sắp chết anh cũng không được chạy quá tốc độ đó.”
23. Lợi dụng trường hợp cá biệt. Ngụy biện này thường dùng một trường hợp cá biệt để đem ra ứng dụng cho một đám đông. Ví dụ: “Chúng ta cho phép bệnh nhân sắp chết dùng á phiện, chúng ta nên cho phép mọi người dùng á phiện.”
24. Kết luận lạc đề. Loại ngụy biện này thường xuất hiện khi một kết luận chẳng dính dáng gì đến lí lẽ mà người biện luận trình bày. Một ví dụ tiêu biểu cho trường hợp ngụy biện này là: “Độ nhiễm arsenic trong nước ở Việt Nam chưa cao và còn trong mức độ cho phép. Dữ kiện của Bangladesh cho thấy tình trạng nhiễm arsenic ở Việt Nam rất trầm trọng.”
25. Ngụy biện rơm. Loại ngụy biện này cố tình xuyên tạc, bóp méo quan điểm hay phát biểu của người khác, để làm luận điểm tấn công. Đây là một ngụy biện, vì nó không đương đầu với cái lí lẽ đang bàn. Chẳng hạn như: “Chúng ta nên ủng hộ chế độ cưỡng bách quân dịch. Người ta không thích tòng quân vì họ không muốn cuộc sống bị đảo lộn. Nhưng họ cần nhận thức rằng có nhiều điều quan trọng hơn tiện nghi trong cuộc sống.”
Nhóm 5. Nguyên nhân giả tạo
26. “Post hoc”. Loại ngụy biện này phát biểu rằng hai sự kiện xảy ra, một trước và một sau, có quan hệ với nhau như nguyên nhân và hậu quả. Ví dụ: “Liên Xô sụp đổ sau khi nhà nước theo chủ nghĩa vô thần. Do đó, chúng ta phải từ bỏ chủ nghĩa vô thần để khỏi bị suy sụp.”
27. Ảnh hưởng liên đới. Một sự kiện được cho là có ảnh hưởng đến một sự kiện khác, nhưng thực chất thì cả hai sự kiện đều có cùng một nguyên nhân. Đây cũng chính là một trường hợp ngụy biện dưới dạng “post hoc”. Ví dụ: “Chúng ta đang chứng kiến một tình trạng thất nghiệp rất cao, vì do thiếu nhu cầu của người tiêu thụ.” (Nhưng có thể cả hai sự kiện có nguyên nhân từ tiền lời quá cao.)
28. Ảnh hưởng không đáng kể. Đây là một loại ngụy biện mang tính phóng đại từ một ảnh hưởng rất nhỏ. Chẳng hạn như “Hút thuốc gây ra ô nhiễm môi trường ở Sydney” là một phát biểu đúng, nhưng ảnh hưởng của thuốc lá đến môi trường rất khiêm tốn khi so với ảnh hưởng của khói xe và các hãng xưởng.
29. Ảnh hưởng ngược chiều. Mối quan hệ giữa nguyên nhân và hậu quả bị đảo ngược chiều để tìm đến một kết luận mang tính ngụy biện. Ví dụ: “Ung thư gây ra thói quen hút thuốc lá”.
30. Nguyên nhân phức tạp. Một sự kiện xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng người ngụy biện có thể đơn giản hóa thành một liên hệ đơn giản. Chẳng hạn như “Tai nạn xe cộ là do đường xá xấu” có thể đúng, nhưng tai nạn cũng có thể do người lái xe ẩu trong một điều kiện xấu.
31. Nguyên nhân sai (Non causa pro causa). Loại ngụy biện này xảy ra khi một điều nào đó được cho là nguyên nhân của một sự kiện, nhưng nó chưa thực sự được chứng minh là nguyên nhân. Ví dụ: “Tôi uống một viên aspirin và cầu nguyện thượng đế, và tôi không còn bị nhức đầu. Như vậy thượng đế đã chữa trị tôi khỏi nhức đầu.”
Nhóm 6. Phi logic (non sequitur) và nhần lẫn trong tam đoạn luận
32. Phi logic. Ngụy biện phi logic thường xảy ra trong trường hợp một lí lẽ mà kết luận được rút ra từ những tiêu đề không dính dáng gì với nhau. Chẳng hạn như “Người Ai Cập đã từng làm nhiều khai quật để xây dựng những kim tự tháp, họ chắc chắn phải rất thạo về cổ sinh vật học.”
33. Loại bỏ tiền đề. Ngụy biện loại này thường xảy ra dưới hình thức “nếu A thì B, không phải A thì không phải B.” Ví dụ: “Nếu tôi ở Sydney thì tôi đang ở New South Wales. Tôi hiện không ở Sydney, do đó, tôi không ở New South Wales”.
34. Nhét chữ vào miệng người khác. Đây là một loại ngụy biện bằng cách dùng kĩ thuật phỏng vấn. Một trường hợp cổ điển là “Ông đã ngưng đánh vợ chưa?” Tức là một câu hỏi với một giả định rằng người được hỏi từng hành hung vợ. Đây là một mẹo mà giới luật sư thường hay dùng trong thẩm vấn. “Ông dấu tiền ăn cắp đó ở đâu?” Giới chính khách cũng thích mẹo này, đại khái như “Bao giờ thì nhóm EU này sẽ không còn xâm phạm vào công việc của chúng ta?”
35. Ngụy biện tứ ngữ. (Một tiêu chuẩn của tam đoạn luận gồm có 3 chữ). Ví dụ như trong câu phát biểu “Tất cả chó là thú vật, và tất cả mèo là loài động vật có vú, do đó tất cả chó là loài động vật có vú,” có bốn chữ: chó, mèo, động vật, và động vật có vú.
36. Đứt đoạn. Hai sự vật riêng biệt được xem là có liên hệ nhau nếu chúng có chung đặc tính. Người ngụy biện lợi dụng chữ giữa của một phát biểu để đưa đến một kết luận sai. Chẳng hạn như trong câu “Tất cả người Nga là nhà cách mạng, và tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ cũng là nhà cách mạng, do đó, tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ là người Nga,” chữ chính giữa là “nhà cách mạng”. Nhưng kết luận này sai, vì dù những người theo chủ nghĩa vô chính phủ và người Nga là những người cách mạng, nhưng họ có thể là hai nhóm cách mạng khác nhau.
Nhóm 7. Các nhầm lẫn khác
37. Dẫn chứng bằng giai thoại. Một trong những ngụy biện phổ biến nhất và đơn giản nhất là dựa vào những câu chuyện có tính vụn vặt, hay giai thoại. Chẳng hạn như “Có hàng khối bằng chứng cho thấy thượng đế hiện hữu và vẫn ban phép mầu hàng ngày. Mới tuần rồi đây, tôi có đọc được một câu chuyện về một cô gái sắp chết vì ung thư, cả gia đình cô đi cầu nguyện trong nhà thờ, và chỉ vài ngày sau cô hết bệnh.” Dùng kinh nghiệm cá nhân để minh họa cho một luận điểm là một điều hoàn toàn hợp lí, nhưng dùng những giai thoại như thế sẽ chẳng chứng minh gì. Một anh bạn có thể cho rằng anh từng gặp Elvis ở một siêu thị nào đó, nhưng những người chưa gặp Elvis bao giờ thì cần nhiều bằng chứng xác thực hơn.
38. Lợi dụng cổ tích. Đây là một loại ngụy biện cho rằng những gì đúng hay tốt chỉ đơn giản vì chúng là cổ xưa, và những người theo cách ngụy biện này thường nói “hồi nào đến giờ ai cũng vậy.” Chẳng hạn như “Hàng trăm năm nay, Úc chịu dưới sự cai trị của Hoàng gia Anh, và là một nước thịnh vượng. Một thể chế tồn tại lâu dài như thế ắt phải là một thể chế ưu việt.”
39. Dựa vào cái mới (ad novitatem). Ngược lại với loại ngụy biện dựa vào cái cũ, ngụy biện dựa vào cái mới cho rằng một điều gì đó tốt hơn và đúng hơn đơn giản chỉ vì nó mới hơn cái khác. “Windows 2000 phải tốt hơn Windows 95, Windows 2000 mới được thiết kế lại năm ngoái.”
40. Lí lẽ của đồng tiền. Loại ngụy biện này thường dựa vào một niềm tin duy nhất rằng đồng tiền là một tiêu chuẩn của sự đúng đắn. Những người có nhiều tiến có khả năng đúng hơn những người ít tiền. Chẳng hạn như “Nhu liệu của hãng Microsoft đương nhiên là tốt hơn; nếu không thì làm sao Bill Gates có thể trở nên tỉ phú như thế”.
41. Dựa vào cái nghèo. Ngược lại với ngụy biện dựa vào sự giàu có, có một loại ngụy biện khác dựa vào sự nghèo khổ. Chẳng hạn như “Các vị sư có khả năng hiểu thấu được ý nghĩa của cuộc sống, bởi vì họ từ bỏ mọi xa hoa của cuộc sống.”
42. Điệp khúc (ad nauseam). Loại ngụy biện này cho rằng một lí lẽ càng được lặp đi lặp lại nhiều chừng nào thì nó sẽ được người ta chấp nhận là đúng. Do đó, người ngụy biện thường chỉ lặp đi lặp lại những phát biểu, bất kể đúng sai ra sao, cho đến khi người đối thoại mệt mỏi không còn muốn nghe nữa, như “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lí”.
43. Lạm dụng thiên nhiên. Đây là một ngụy biện rất thông thường trong giới chính trị gia, mà trong đó họ tìm cái tương đồng giữa một kết luận nào đó và một khía cạnh của thế giới tự nhiên, rồi từ đó phát biểu rằng kết luận đó là không thể tránh khỏi. Chẳng hạn như “Đặc điểm của thế giới tự nhiên là cạnh tranh; động vật đấu tranh chống nhau để làm chủ tài nguyên thiên nhiên. Chủ nghĩa tư bản, một hình thức cạnh tranh để làm chủ tư liệu, chỉ đơn giản là một phần của con người sống trong thế giới tự nhiên. Đó cũng là cách mà thế giới tự nhiên vận hành.”
Một hình thức khác của lạm dụng thiên nhiên là lí luận cho rằng bởi vì con người là sản phẩm của thế giới tự nhiên, chúng ta phải bắt chước hành động theo những gì chúng ta thấy trong thế giới tự nhiên, và làm khác đi là “phi tự nhiên”. Ví dụ: “Đồng tính luyến ái dĩ nhiên là không tự nhiên.”
44. Ngụy biện “anh cũng vậy”. Đây là một trong những ngụy biện rất phổ biến. Nó dựa vào lí lẽ rằng một hành động có thể chấp nhận được bởi vì người đối nghịch đã làm. Chẳng hạn như “Anh là một người lừa dối.” “Rồi sao? Anh cũng là một tay lừa dối vậy.”
45. Lạm dụng thống kê. Thống kê thường được giới ngụy biện sử dụng tối đa, vì theo họ thống kê có thể dùng để “chứng minh” bất cứ điều gì. Người ta có thể vặn vẹo hai con số 1 và 3 điểm để sản xuất những phát biểu như “khác nhau 2 điểm”, “cao gấp 3 lần”, hay “tăng 200%”; người ta có thể dựa vào ý kiến đồng tình của 4 người trong 5 người để cho là “80% người được thăm dò”, hay thậm chí “đa số cộng đồng” đồng ý với một luận điểm nào đó. Tức là những khái quát hoá một cách vội vã, hay dựa vào một mẫu số cực kỳ thấp, thấp đến độ nó không có nghĩa lí gì. Thực ra, thống kê không chứng minh điều gì cả. Thống kê chỉ là một phương tiện hay thuật toán dùng để loại bỏ những trường hợp khả dĩ hay không khả dĩ. Vì có quá nhiều ngụy biện thống kê, nên vấn đề này sẽ được bàn tiếp trong một dịp khác.
Nhận xét
Có thể nói những loại ngụy biện trên đây có những đặc điểm chung là (a) phát biểu không dựa vào lí lẽ logic; (b) các định đề không vững để đi đến một kết luận; và (c) đưa ra giả định không đúng. Ngụy biện, do đó, nói cho cùng, là một sản phẩm của sự lười biếng suy nghĩ. Và hầu như trong chúng ta, ai cũng có ít nhất là một lần lười suy nghĩ. Do đó, nếu điểm qua những loại ngụy biện trên đây, chúng ta tự cảm nhận rằng trong quá khứ mình chắc cũng có lần phạm vào lỗi lầm của ngụy biện. Điều này có thể đúng, và không nên lấy làm ngạc nhiên, vì các nhà thông thái, và ngay cả giới có huấn luyện về logic học cũng đôi khi, vì cố ý hay vô tình, ngụy biện. Giới chính trị gia và truyền thông là những người cực kì nổi tiếng về ngụy biện.
Nhưng tại sao những ngụy biện vẫn còn có mặt trên báo chí? Theo tôi, bởi vì chúng vẫn có khách hàng. Vẫn có người, dù ít hay nhiều, tin tưởng vào ngụy biện, vì nó thuận nhĩ, trơn tru, và nhất là không thách thức. Sờ một hòn đá trơn tru đem lại cho chúng ta một cảm giác khoan khoái dễ chịu hơn là sờ một hòn đá lởm chởm, hay ngồi trên một cái ghế ghồ ghề. Người ta thích sự trơn tru, bởi vì trơn tru là dấu hiệu của sự khoan khoái, dễ chịu, là cái khoảng thời gian giải lao, không cần sự thách thức.
Có lẽ, ở một khía cạnh nào đó, điều này cũng không đến nỗi tệ, bởi vì những ngụy biện phản ánh sự thành công [hay có người nói sự phong phú] của ngôn ngữ trong việc tách rời giữa những gì thô thiển, gồ ghề với những gì hoàn thiện, mĩ miều. Nhưng sự trơn tru của các vật thể và ngôn ngữ ngày nay đem lại cho chúng ta một cảm giác giả tạo về thế giới thực của các vật thể. Những kì kẹt xe trên đường xá mới để lộ trái tim phức tạp của một thành phố. Tương tự, một sự cố của internet sẽ nhắc nhở chúng ta về tình trạng hỗn mang và phức tạp của hệ thống thông tin điện tử. Sự hỗn mang và phức tạp là thực. Trơn tru, tròn trĩnh có thể là giả tạo. Những câu văn ngụy biện có thể chỉ là những lời phát biểu lém lỉnh thay vì lịch thiệp, hàm chứa mánh khóe thay vì thân thiện. Có thể nói, ngụy biện là những lối sáo ngữ liến thoắng nhằm vào mục đích lôi cuốn người nghe/đọc, thay vì cung cấp cho họ một sự thực.
Bởi vì ngụy biện là những lí lẽ mà bề ngoài có vẻ logic, nên chúng có khả năng thuyết phục những người không chịu khó suy nghĩ, nhất là những người còn mang nặng cảm tính. Điều này giải thích tại sao nhiều người tiếp nhận một cách thụ động quá nhiều những điều quái gở về thế giới chung quanh, kể cả những niềm tin tôn giáo, những mê tín dị đoan, những triết lí quái đảng, những thông tin sai lạc, v.v.. Cái tác hại của việc tiếp nhận thụ động này là nó làm cho người ta trở nên nô lệ với cảm tính, và dễ dàng trở thành những tín đồ cuồng tín của những người “lãnh đạo” chính trị hay tôn giáo.
Để không trở thành những nô lệ, cần phải suy nghĩ nghiêm túc. Suy nghĩ nghiêm túc là một quá trình hoạt động tri thức nhằm ý niệm hóa, ứng dụng, phân tích, tổng hợp, và đánh giá những thông tin được thu thập từ quan sát, kinh nghiệm, phản ánh, lí luận, hay liên lạc, như là một niềm tin cho hành động. Cần phải dựa vào những giá trị tri thức với những đặc điểm như trong sáng, chính xác, nhất quán, có liên hệ, bằng chứng tốt, lí lẽ hợp lí, có chiều sâu, và công bằng. Tức là, trước một câu phát biểu hay một đề nghị, cần phải thẩm định lại kết cấu và nguyên tố của phát biểu hay đề nghị đó. Những kết cấu và nguyên tố này là: mục đích, vấn đề, giả định, quan niệm, bối cảnh, kết luận, ngụ ý, hậu quả, phạm vi tham khảo, và quan điểm khác.
Người Việt chúng ta thường rất tự hào về những đối thoại [mà chúng ta cho là “thông minh”] giữa Trạng Quỳnh và Chúa Trịnh ngày xưa. Nhưng nói một cách công bằng và theo tiêu chuẩn của lí luận logic, thì những trao đổi của Trạng Quỳnh hay tương tự chỉ là những ngụy biện ở trình độ thô sơ nhất. Nhưng có điều đáng buồn là những đối thoại kiểu Trạng Quỳnh, mà trong đó sự hơn thua nhau từng câu nói, bắt bẽ nhau từng chữ, vặn vẹo ý nghĩa của từng câu văn, v.v… lại đi vào sử sách, như thể để làm gương cho thế hệ sau này. Mà làm gương thật. Cho đến ngày nay, có người vẫn còn cho đó là một biểu tượng của sự thâm thúy, thông minh của dân tộc, là phản ánh sự phong phú của ngôn ngữ Việt, và đem ra ứng dụng trong tranh luận.
Theo dõi báo chí, chúng ta thấy những hình thức tấn công cá nhân (thay vì tấn công vào luận điểm), xuyên tạc ý tưởng, chụp mũ, suy luận theo cảm tính, mỉa mai, đơn giản hóa vấn đề, v.v… xuất hiện hầu như hàng ngày, có khi hàng giờ. Vì những tần số của những loại ngụy biện xuất hiện quá nhiều như thế, nó thành một sự rập khuôn. Theo thời gian, rập khuôn trở thành “truyền thống”. Hậu quả của cái truyền thống này là những ai ra ngoài cái khuôn sáo của ngụy biện đều có thể bị xem là phi chính thống, dẫn đến một lối suy nghĩ và phán xét kì quặc kiểu “anh/chị không thuộc nhóm của tôi, vậy thì anh/chị thuộc nhóm bên kia,” “anh chê ‘quốc gia’, vậy anh phải là cộng sản,” “anh khen Việt Nam, vậy anh là cộng sản,” “giọng nói anh ‘Bắc kỳ 75’, vậy anh là cộng sản,” hay “Nhà nước cho anh ra ngoài này trình diễn, chắc anh là cộng sản đi tuyên truyền”… Anh ở phía này, tôi bên kia. Nói tóm lại, đó là một lối phân định theo hai giá trị: xấu và tốt, đen và trắng, hay địch và ta một cách cứng nhắc. Cách phân định này thể hiện một sự nghèo nàn về trí tuệ, hay lười biếng suy nghĩ. Chỉ cần đặt vấn đề ngược lại một chút, hay phát triển vấn đề xa hơn một chút, ai cũng có thể thấy lối phân chia có/không này không thể đem đến một đáp số cho một vấn đề nào cả.
Trong cái sự thực phức tạp, mờ mờ ảo ảo của vấn đề, có cái đẹp riêng. Không phải cái đẹp trơn tru, tròn trĩnh, nhưng là cái đẹp khắt khe của sự thật. Tương tự, một lời phát biểu nghịch lí có cái đẹp của nó, vì nó có thể đánh thức chúng ta về một thế giới phức tạp, một thế giới không nằm gọn trong đúng/sai, tốt/xấu, bạn/thù. Có lẽ đã đến lúc chúng ta nên vượt qua chính mình bằng cách cho các tế bào trí tuệ có cơ hội làm việc.
BTĐ
30/6/10
Học tiến sĩ ở Việt Nam
Bài dưới đây tôi sưu tầm từ một website có tên ngồ ngộ là “Thanh niên xa mẹ”. Tác giả mô tả quá trình “làm” tiến sĩ ở VN. Xin nói trước, bài viết có nhiều đoạn rất gay gắt, bạn đọc nào không chịu nổi thì … ráng chịu nhé.
Tôi không hiểu nổi tại sao người ta (ai đó?) lại ra những qui định rất máy móc và phản khoa học như thế này. Chẳng hạn như tại sao tên đề cương nghiên cứu không được thay đổi, tại sao những cái nhỏ nhặt như tên đề cương phải có động từ, hay tại sao nghiên cứu sinh phải chi tiền túi ra để chăm sóc buổi lễ “phản biện” mà ai cũng biết là chẳng có phản biện, v.v… Đọc qua những qui định ở trong nước thì bất cứ ai đang học tiến sĩ ở nước ngoài ắt hẳn thấy mình may mắn biết bao.
Tuy qui định máy móc như thế, nhưng đầu ra thì ... khó nói quá. Người viết bài này đã đọc qua nhiều luận án TS ở trong nước (chỉ trong ngành y thôi) thì thấy chưa xứng tầm với một luận án tiến sĩ theo chuẩn mực ở ngoài này. Chẳng hạn như mỗi thí sinh chỉ làm một nghiên cứu, mà nghiên cứu cũng rất sơ sài, rất đơn giản và không có gì mang tính "original". Đó là chưa nói đến vấn đề y đức. Hầu hết đều không có công bố quốc tế. Còn phần tổng quan tài liệu thì cũng rất thiếu thốn, không đầy đủ, nó chứng tỏ ứng viên thiếu thông tin. Phần phân tích thì ôi thôi mỗi người một phách chẳng đâu vào đâu. Phần trình bày kết quả cũng chỉ dừng lại ở mức độ mô tả là chính vì các phân tích mang tính suy luận đều có vấn đề về phương pháp. Muốn sửa những khiếm khuyết này không khó, vì chỉ cần tham khảo cách làm của các đại học trên thế giới là sẽ có một qui định tốt cho VN. Nhưng vấn đề là của hệ thống: muốn sửa thì phải sửa từ hệ thống, và phải bắt đầu từ những người đề ra những qui định này.
NVT
===
http://tathy.com/thanglong/showpost.php?p=638774&postcount=125
Làm tiến sĩ ở Việt Nam như thế nào?
Số tiền 80tr kia là chi phí chứ không phải là để trả cho giáo viên hướng dẫn (mặc dù đúng là giáo viên hướng dẫn chỉ được thù lao 2tr/năm).
Việc làm TS ở Vn cực kỳ nhiêu khê, phản khoa học, và phản động (theo nghĩa chổng mông vào tất cả các quy chuẩn tiên tiến của thế giới). Làm TS ở VN cực kỳ dễ mà cũng cực kỳ khó. Cực kỳ dễ là cực kỳ dễ về mặt chuyên môn khoa học, cực kỳ khó là về các thủ tục hành chính rườm rà và vô lý đến độ gây ức chế cho cả thầy và trò. Người làm NCS trong nước mà làm nghiêm túc có 2-3 bài quốc tế (tức là định lượng tương đương với một PhD ở đại học tiên tiến của thế giới) thì bản thân mình thấy rất rất đáng kính phục (mình cho là cực giỏi), vì ngoài những cái ức chế trên còn phải đủ mọi khó khăn về cơ sở vật chất (sách, báo không có, không có tiền dự hội nghị quốc tế), cuộc sống (vừa phải làm vừa phải lo kiếm tiền để sống và trả chi phí cho việc làm PhD của mình), và quan trọng nhất là quỹ thời gian thường rất eo hẹp (chắc chỉ độ bằng 1/4-1/5 các bạn xa mẹ), may mà gặp thầy ngon (rất hiếm) thì còn có cái thực chất không thì đa phần kết thúc là "tiến sỹ tắm giặt".
Ở VN người ta tự đặt ra các chuẩn, các quy định hành chính để lấy sự rườm rà, phức tạp của nó thay cho các quy chuẩn về khoa học và chuyên môn. Hãy lấy quá trình làm TS ở VN để thấy điều này (và qua đó sẽ lý giải cái 80tr kia).
Đầu vào:
- NCS phải đảm bảo điều kiện tối thiểu gồm có: Thi chuyên ngành, thi ngoại ngữ -> Tiền (tiền đóng phí và tiền tiêu cực phí cho nhiều anh nhất là ngoại ngữ).
- NCS phải có ít nhất 1-2 bài báo chuyên ngành đã đăng về lĩnh vực nghiên cứu của mình. Cái này hết sức thừa thãi và hình thức vì NCS thi vào làm PhD là học làm nghiên cứu khoa học chứ không phải đã là giỏi, Standford cũng không đòi hỏi tiêu chuẩn cứng như vậy. Vậy là nhiều NCS phải lo cho đủ tiêu chuẩn cứng này, thôi thì các loài bài báo trên các tạp chí củ chuối ra đời cho đủ điều kiện và thường là kèm với phí (phí cho các báo này để đăng cho nhanh cho kịp kỳ thi NCS)
- Sau khi phải đạt các tiêu chuẩn cứng trên rồi (thường là đỗ vì nói vậy chứ chỉ tiêu của bộ cho số TS hàng năm nhiều trường không có đủ học viên thi vào đâu, chắc tại chỉ tiêu 20ngàn nên mưa chỉ tiêu hàng năm về các trường), học viên phải bảo vệ research proposal. Cái này thì cũng bình thường đối với các đại học tiên tiến trên thế giới NCS nào cũng phải submit research proposal lúc đầu vào cả. Nhưng cái đặc trưng rất VN của RP của NCS trong nước là:
- Có tên chết cứng, nghĩa là lúc mới thi tên thế nào thì 3-4 năm sau bảo vệ tên luận văn cũng phải thế ấy. Việc thay đổi cực kỳ khó khăn và rườm rà về mặt hành chính. Do đó thường ở VN thầy và trò phải đối phó bằng cách đặt tên luận văn cực kỳ "mênh mông biển rộng" (Ví dụ: "Mạng Neural Mờ", "Tâm Lý Tắm Giặt Tập Thể" ....).
- Yêu cầu NCS phải đưa cả dự kiến nội dung luận văn (chi tiết đến từng đề mục trong từng chương). Một quy định ngu xuẩn và phi lý như vậy mà biết bao người đã góp ý mà bộ GD vẫn cứ trơ lấc (có lẽ là vì toàn những người mặt dầy và não trang như anh Phúc phát biểu "bằng giả" ở phía trên).
Làm luận văn và bảo vệ
Quá trình làm luận văn của NCS thì vô cùng gian nan vất vả, vừa phải lo chuyện gia đình, cơ quan, xã hội (khóc, cười, văn nghệ quần chúng, họp, học chính trị etc) vừa phải lo về kinh tế (để nuôi bản thân, gia đình, vừa để đóng cho những khoản này, khoản nọ trong quá trình làm NCS). Cơ sở vật chất thì thiếu thốn, sách báo không có, kinh phí cho nghiên cứu khoa học không có, NCS phải tự bỏ tiền túi ra hết . Những nghiên cứu nào phải làm thí nghiệm tốn kém thì tiền tấn (đối với mức sống ở VN). Không chỉ thế ở VN thiếu thầy giỏi làm khoa học thực sự nghiêm túc ở tầm quốc tế, môi trường làm nghiên cứu khoa học, học thuật nghiêm túc gần như trống vắng (không seminar, không nhóm nghiên cứu, không hội nghị, hội thảo etc). Thậm chí NCS có khi cả năm mới chỉ gặp thầy 1 hướng dẫn 1 lần, vào nơi đào tạo còn bị lạc etc là những "chuyện thường ngày ở huyện".
Sau khi hoàn thành xong luận văn, NCS bước vào một ma trận bảo vệ làm tốn kém rất nhiều thời gian và tiền bạc. Để bảo vệ NCS phải trình luận văn (với nhiều tiêu chuẩn hay hay như luận văn phải có ít nhất 120 tài liệu tham khảo etc, số bài báo - phải in ra và có chứng nhận của các đồng tác giả), in ấn rất nhiều bản (tự bỏ tiền túi ra nhé). NCS phải bảo vệ hai lần trước hai hội đồng. Đầu tiên NCS phải bảo vệ tại hội đồng cơ sở, trình bày luận văn sau đó các thành viên đánh giá và góp ý sửa đổi. Nghe thì hợp lý, nhưng có chứng kiến các hội đồng kiểu này mới thấy hài, thậm chí ngay giữa hội đồng bảo vệ TS nọ, vị chủ tịch hội đồng còn hồn nhiên phát biểu là vị ấy chẳng biết tý quái gì về lĩnh vực nghiên cứu của NCS. Việc chọn hội đồng đa phần là theo cạ và bằng cấp, phẩm hàm (mà rất nhiều là rởm) thuần túy. Cũng nên nói, tiền bồi dưỡng các thành viên hội đồng, chủ tịch hội đồng, thư ký hội đồng (hai ông này mức cao hơn thành viên), thậm chí cả người ngồi nghe (thường là 100K/người; đâm ra bản thân mình thích đi ngồi dự nghe mấy cái này lắm), tiền thuê địa điểm (dù vẫn là phòng ốc của cơ sở đào tạo), tiền hoa, tiền hoa quả, trà thuốc, etc đều tự NCS phải bỏ tiền túi ra trả. Có những quy định bán chính thức của bộ về các mức tiền bồi dưỡng này chứ không phải là tiêu cực nhé (xin không đưa con số ra đây vì nó chỉ là quy định về số tối thiểu, NCS nào mà chỉ có bám vào đưa số tối thiểu thì kẹo quá, còn hơn thì nó rất ... vô cùng).
Sau khi bảo vệ xong hội đồng cơ sở thì thí sinh phải đợi ít nhất 6 tháng (thường là 1 năm) để hoàn thiện luận văn và chờ bảo vệ hội đồng quốc gia. Luận văn được phản biện kín (trên hình thức thì là thế), NCS còn phải tự bỏ tiền ra đăng tin trên đài báo có tầm vực quốc gia về việc bảo vệ (ngày, giờ, địa điểm) của mình, phải in 20 bản tóm tắt luận văn phát đi khắp nơi trong nước đến các chuyên gia và phải có ít nhất 12 phản hồi (đây là thứ rất hình thức và rắm rối, nhận xét luận văn 200 trang chỉ qua việc đọc tóm tắt 20 trang). Ngày bảo vệ đến lại các thủ tục, tiền nong như buổi bảo vệ hội đồng cơ sở (quên còn cả mục mời các thầy hội đồng liên hoan sau buổi bảo vệ cũng phải bỏ tiền túi ra nhé). Trong khi bảo vệ cũng nhiều tình huống cười ra nước mắt, những chuyện như GS Cao Xuân Hạo từng kể (cho một ông bảo vệ luận văn TS Ngữ văn 3 điểm vì như lời GS là:"Đọc luận văn anh này tôi khẳng định anh này chưa học hết lớp 3", nhưng đến hội đồng quốc gia thì người ta loại những ủy viên có nhận xét bất lợi và cài cắm cạ vào để TS trên có được 7 điểm và đạt TS). Và rồi mưa nhận xét đánh giá xuất sắc, xuất sắc, hoặc chí ít cũng là đạt. Thường thì phần bất ngờ nhất của buổi bảo vệ hội đồng cấp nhà nước chỉ là phần sau bảo vệ (ăn gì ở nhà hàng nào), chứ còn đa phần các hội đồng này mang tính hình thức sau khi thầy và trò đã lo chu đáo mọi chuyện (nếu để xảy ra tranh luận nảy lửa bất đồng sâu sắc tại buổi bảo vệ thì NCS nên trách thầy hướng dẫn không lo cho chu đáo, trách mình kẹo). Và tất nhiên hoa, lời chúc, ... chẳng mấy chốc số 20ngàn TS của anh Nhân đặt ra trở thành một con số khiêm tốn đến thảm hại.
Tổng kết thiệt hại thì thế này: Nếu NCS không được nhà nước trả tiền cho (nếu được thì nhà nước chỉ trả mức tối thiểu còn phụ trội NCS từ bỏ tiền túi) thì số tiền phải bỏ từ túi ra sẽ phụ thuộc vào từng ngành nhưng không thể dưới 50tr (ngành nào phải tốn kém chuyện làm thí nghiệm etc thì còn cao hơn), đó là không kể "tiêu cực phí", chỉ làm đúng các quy định vô cùng cứng nhắc và cũng vô cùng mềm dẻo của bộ. Nếu có tiêu cực phí thì con số này là ... vô cùng, không xác định chính xác được.
Nguyên nhân? Để lúc khác có thời gian, nhưng một trong những nguyên nhân chính là ta đa phải hứng chịu hậu quả của một thế hệ các "trí thức hữu nghị XHCN Liên Xô và Đông Âu", những người đang có quyền (hay tự cho là có quyền) ra các quy định và quyết định về đào tạo và nghiên cứu khoa học ở VN.
Tôi không hiểu nổi tại sao người ta (ai đó?) lại ra những qui định rất máy móc và phản khoa học như thế này. Chẳng hạn như tại sao tên đề cương nghiên cứu không được thay đổi, tại sao những cái nhỏ nhặt như tên đề cương phải có động từ, hay tại sao nghiên cứu sinh phải chi tiền túi ra để chăm sóc buổi lễ “phản biện” mà ai cũng biết là chẳng có phản biện, v.v… Đọc qua những qui định ở trong nước thì bất cứ ai đang học tiến sĩ ở nước ngoài ắt hẳn thấy mình may mắn biết bao.
Tuy qui định máy móc như thế, nhưng đầu ra thì ... khó nói quá. Người viết bài này đã đọc qua nhiều luận án TS ở trong nước (chỉ trong ngành y thôi) thì thấy chưa xứng tầm với một luận án tiến sĩ theo chuẩn mực ở ngoài này. Chẳng hạn như mỗi thí sinh chỉ làm một nghiên cứu, mà nghiên cứu cũng rất sơ sài, rất đơn giản và không có gì mang tính "original". Đó là chưa nói đến vấn đề y đức. Hầu hết đều không có công bố quốc tế. Còn phần tổng quan tài liệu thì cũng rất thiếu thốn, không đầy đủ, nó chứng tỏ ứng viên thiếu thông tin. Phần phân tích thì ôi thôi mỗi người một phách chẳng đâu vào đâu. Phần trình bày kết quả cũng chỉ dừng lại ở mức độ mô tả là chính vì các phân tích mang tính suy luận đều có vấn đề về phương pháp. Muốn sửa những khiếm khuyết này không khó, vì chỉ cần tham khảo cách làm của các đại học trên thế giới là sẽ có một qui định tốt cho VN. Nhưng vấn đề là của hệ thống: muốn sửa thì phải sửa từ hệ thống, và phải bắt đầu từ những người đề ra những qui định này.
NVT
===
http://tathy.com/thanglong/showpost.php?p=638774&postcount=125
Làm tiến sĩ ở Việt Nam như thế nào?
Số tiền 80tr kia là chi phí chứ không phải là để trả cho giáo viên hướng dẫn (mặc dù đúng là giáo viên hướng dẫn chỉ được thù lao 2tr/năm).
Việc làm TS ở Vn cực kỳ nhiêu khê, phản khoa học, và phản động (theo nghĩa chổng mông vào tất cả các quy chuẩn tiên tiến của thế giới). Làm TS ở VN cực kỳ dễ mà cũng cực kỳ khó. Cực kỳ dễ là cực kỳ dễ về mặt chuyên môn khoa học, cực kỳ khó là về các thủ tục hành chính rườm rà và vô lý đến độ gây ức chế cho cả thầy và trò. Người làm NCS trong nước mà làm nghiêm túc có 2-3 bài quốc tế (tức là định lượng tương đương với một PhD ở đại học tiên tiến của thế giới) thì bản thân mình thấy rất rất đáng kính phục (mình cho là cực giỏi), vì ngoài những cái ức chế trên còn phải đủ mọi khó khăn về cơ sở vật chất (sách, báo không có, không có tiền dự hội nghị quốc tế), cuộc sống (vừa phải làm vừa phải lo kiếm tiền để sống và trả chi phí cho việc làm PhD của mình), và quan trọng nhất là quỹ thời gian thường rất eo hẹp (chắc chỉ độ bằng 1/4-1/5 các bạn xa mẹ), may mà gặp thầy ngon (rất hiếm) thì còn có cái thực chất không thì đa phần kết thúc là "tiến sỹ tắm giặt".
Ở VN người ta tự đặt ra các chuẩn, các quy định hành chính để lấy sự rườm rà, phức tạp của nó thay cho các quy chuẩn về khoa học và chuyên môn. Hãy lấy quá trình làm TS ở VN để thấy điều này (và qua đó sẽ lý giải cái 80tr kia).
Đầu vào:
- NCS phải đảm bảo điều kiện tối thiểu gồm có: Thi chuyên ngành, thi ngoại ngữ -> Tiền (tiền đóng phí và tiền tiêu cực phí cho nhiều anh nhất là ngoại ngữ).
- NCS phải có ít nhất 1-2 bài báo chuyên ngành đã đăng về lĩnh vực nghiên cứu của mình. Cái này hết sức thừa thãi và hình thức vì NCS thi vào làm PhD là học làm nghiên cứu khoa học chứ không phải đã là giỏi, Standford cũng không đòi hỏi tiêu chuẩn cứng như vậy. Vậy là nhiều NCS phải lo cho đủ tiêu chuẩn cứng này, thôi thì các loài bài báo trên các tạp chí củ chuối ra đời cho đủ điều kiện và thường là kèm với phí (phí cho các báo này để đăng cho nhanh cho kịp kỳ thi NCS)
- Sau khi phải đạt các tiêu chuẩn cứng trên rồi (thường là đỗ vì nói vậy chứ chỉ tiêu của bộ cho số TS hàng năm nhiều trường không có đủ học viên thi vào đâu, chắc tại chỉ tiêu 20ngàn nên mưa chỉ tiêu hàng năm về các trường), học viên phải bảo vệ research proposal. Cái này thì cũng bình thường đối với các đại học tiên tiến trên thế giới NCS nào cũng phải submit research proposal lúc đầu vào cả. Nhưng cái đặc trưng rất VN của RP của NCS trong nước là:
- Có tên chết cứng, nghĩa là lúc mới thi tên thế nào thì 3-4 năm sau bảo vệ tên luận văn cũng phải thế ấy. Việc thay đổi cực kỳ khó khăn và rườm rà về mặt hành chính. Do đó thường ở VN thầy và trò phải đối phó bằng cách đặt tên luận văn cực kỳ "mênh mông biển rộng" (Ví dụ: "Mạng Neural Mờ", "Tâm Lý Tắm Giặt Tập Thể" ....).
- Yêu cầu NCS phải đưa cả dự kiến nội dung luận văn (chi tiết đến từng đề mục trong từng chương). Một quy định ngu xuẩn và phi lý như vậy mà biết bao người đã góp ý mà bộ GD vẫn cứ trơ lấc (có lẽ là vì toàn những người mặt dầy và não trang như anh Phúc phát biểu "bằng giả" ở phía trên).
Làm luận văn và bảo vệ
Quá trình làm luận văn của NCS thì vô cùng gian nan vất vả, vừa phải lo chuyện gia đình, cơ quan, xã hội (khóc, cười, văn nghệ quần chúng, họp, học chính trị etc) vừa phải lo về kinh tế (để nuôi bản thân, gia đình, vừa để đóng cho những khoản này, khoản nọ trong quá trình làm NCS). Cơ sở vật chất thì thiếu thốn, sách báo không có, kinh phí cho nghiên cứu khoa học không có, NCS phải tự bỏ tiền túi ra hết . Những nghiên cứu nào phải làm thí nghiệm tốn kém thì tiền tấn (đối với mức sống ở VN). Không chỉ thế ở VN thiếu thầy giỏi làm khoa học thực sự nghiêm túc ở tầm quốc tế, môi trường làm nghiên cứu khoa học, học thuật nghiêm túc gần như trống vắng (không seminar, không nhóm nghiên cứu, không hội nghị, hội thảo etc). Thậm chí NCS có khi cả năm mới chỉ gặp thầy 1 hướng dẫn 1 lần, vào nơi đào tạo còn bị lạc etc là những "chuyện thường ngày ở huyện".
Sau khi hoàn thành xong luận văn, NCS bước vào một ma trận bảo vệ làm tốn kém rất nhiều thời gian và tiền bạc. Để bảo vệ NCS phải trình luận văn (với nhiều tiêu chuẩn hay hay như luận văn phải có ít nhất 120 tài liệu tham khảo etc, số bài báo - phải in ra và có chứng nhận của các đồng tác giả), in ấn rất nhiều bản (tự bỏ tiền túi ra nhé). NCS phải bảo vệ hai lần trước hai hội đồng. Đầu tiên NCS phải bảo vệ tại hội đồng cơ sở, trình bày luận văn sau đó các thành viên đánh giá và góp ý sửa đổi. Nghe thì hợp lý, nhưng có chứng kiến các hội đồng kiểu này mới thấy hài, thậm chí ngay giữa hội đồng bảo vệ TS nọ, vị chủ tịch hội đồng còn hồn nhiên phát biểu là vị ấy chẳng biết tý quái gì về lĩnh vực nghiên cứu của NCS. Việc chọn hội đồng đa phần là theo cạ và bằng cấp, phẩm hàm (mà rất nhiều là rởm) thuần túy. Cũng nên nói, tiền bồi dưỡng các thành viên hội đồng, chủ tịch hội đồng, thư ký hội đồng (hai ông này mức cao hơn thành viên), thậm chí cả người ngồi nghe (thường là 100K/người; đâm ra bản thân mình thích đi ngồi dự nghe mấy cái này lắm), tiền thuê địa điểm (dù vẫn là phòng ốc của cơ sở đào tạo), tiền hoa, tiền hoa quả, trà thuốc, etc đều tự NCS phải bỏ tiền túi ra trả. Có những quy định bán chính thức của bộ về các mức tiền bồi dưỡng này chứ không phải là tiêu cực nhé (xin không đưa con số ra đây vì nó chỉ là quy định về số tối thiểu, NCS nào mà chỉ có bám vào đưa số tối thiểu thì kẹo quá, còn hơn thì nó rất ... vô cùng).
Sau khi bảo vệ xong hội đồng cơ sở thì thí sinh phải đợi ít nhất 6 tháng (thường là 1 năm) để hoàn thiện luận văn và chờ bảo vệ hội đồng quốc gia. Luận văn được phản biện kín (trên hình thức thì là thế), NCS còn phải tự bỏ tiền ra đăng tin trên đài báo có tầm vực quốc gia về việc bảo vệ (ngày, giờ, địa điểm) của mình, phải in 20 bản tóm tắt luận văn phát đi khắp nơi trong nước đến các chuyên gia và phải có ít nhất 12 phản hồi (đây là thứ rất hình thức và rắm rối, nhận xét luận văn 200 trang chỉ qua việc đọc tóm tắt 20 trang). Ngày bảo vệ đến lại các thủ tục, tiền nong như buổi bảo vệ hội đồng cơ sở (quên còn cả mục mời các thầy hội đồng liên hoan sau buổi bảo vệ cũng phải bỏ tiền túi ra nhé). Trong khi bảo vệ cũng nhiều tình huống cười ra nước mắt, những chuyện như GS Cao Xuân Hạo từng kể (cho một ông bảo vệ luận văn TS Ngữ văn 3 điểm vì như lời GS là:"Đọc luận văn anh này tôi khẳng định anh này chưa học hết lớp 3", nhưng đến hội đồng quốc gia thì người ta loại những ủy viên có nhận xét bất lợi và cài cắm cạ vào để TS trên có được 7 điểm và đạt TS). Và rồi mưa nhận xét đánh giá xuất sắc, xuất sắc, hoặc chí ít cũng là đạt. Thường thì phần bất ngờ nhất của buổi bảo vệ hội đồng cấp nhà nước chỉ là phần sau bảo vệ (ăn gì ở nhà hàng nào), chứ còn đa phần các hội đồng này mang tính hình thức sau khi thầy và trò đã lo chu đáo mọi chuyện (nếu để xảy ra tranh luận nảy lửa bất đồng sâu sắc tại buổi bảo vệ thì NCS nên trách thầy hướng dẫn không lo cho chu đáo, trách mình kẹo). Và tất nhiên hoa, lời chúc, ... chẳng mấy chốc số 20ngàn TS của anh Nhân đặt ra trở thành một con số khiêm tốn đến thảm hại.
Tổng kết thiệt hại thì thế này: Nếu NCS không được nhà nước trả tiền cho (nếu được thì nhà nước chỉ trả mức tối thiểu còn phụ trội NCS từ bỏ tiền túi) thì số tiền phải bỏ từ túi ra sẽ phụ thuộc vào từng ngành nhưng không thể dưới 50tr (ngành nào phải tốn kém chuyện làm thí nghiệm etc thì còn cao hơn), đó là không kể "tiêu cực phí", chỉ làm đúng các quy định vô cùng cứng nhắc và cũng vô cùng mềm dẻo của bộ. Nếu có tiêu cực phí thì con số này là ... vô cùng, không xác định chính xác được.
Nguyên nhân? Để lúc khác có thời gian, nhưng một trong những nguyên nhân chính là ta đa phải hứng chịu hậu quả của một thế hệ các "trí thức hữu nghị XHCN Liên Xô và Đông Âu", những người đang có quyền (hay tự cho là có quyền) ra các quy định và quyết định về đào tạo và nghiên cứu khoa học ở VN.
28/6/10
Cả ngàn hecta rừng lọt ngoài báo cáo
Bùi Liêm – Đức Bình
Đăng bởi bvnpost3 on 23/06/2010
Đăng bởi bvnpost3 on 23/06/2010
Theo ông Bình, Bộ NN&PTNT cũng như ngành nông nghiệp ở địa phương không hề quản lý, cấp phép cho các doanh nghiệp nước ngoài thuê rừng mà việc này do địa phương quyết định.
Trong khi đó, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát cho biết theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, hiện Bộ Kế hoạch – Đầu tư (chủ trì) phối hợp cùng Bộ Tài nguyên – Môi trường, Bộ NN&PTNT rà soát việc cho thuê đất rừng ở các địa phương trên toàn quốc. Dự kiến trong tuần tới, việc rà soát mới cho kết quả.
Nguồn tin từ Sở NN&PTNT tỉnh Bình Phước cho hay tỉnh này đã cho Công ty Vina Phygen (Đài Loan) thuê 966ha đất lâm nghiệp để trồng rừng. Toàn bộ diện tích 966ha đất thuê thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Đồng Nai, tiểu khu 199, 2005 (xã Đồng Nai, huyện Bù Đăng). Mục đích trồng cây xoan lấy gỗ, dầu, làm nguyên liệu sản xuất thuốc bảo vệ thực vật.
Ngay sau khi giao đất, công ty đã tiến hành trồng phủ kín diện tích đất thuê, đến nay đã ba năm tuổi. Theo một lãnh đạo Sở NN&PTNT tỉnh Bình Phước, việc chọn Công ty Vina Phygen để giao đất do đơn vị này đủ năng lực, xoan là loại cây mới phù hợp với phát triển quy hoạch rừng của tỉnh.
BL – ĐB
Nguồn: http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/Khoa-hoc-moi-truong/385135/Ca-ngan-hecta-rung-lot-ngoai-bao-cao.html
1/6/10
Bí ẩn "thành phố ngầm" NewYork:
Kỳ 1: Vương quốc của 'người chuột“
Steve Duncan
tka23 post
,
Steve Duncan dẫn chúng tôi khám phá "vương quốc bí ẩn" nằm dưới những con phố ở Manhattan. Anh tự đặt cho mình biệt hiệu là "nhà sử học du kích".
Lạ hơn lên mặt trăng
"Khốn nạn rồi" - Steve buột miệng khi chúng tôi bị một xe tuần tra chặn lại. Hai viên cảnh sát nhìn chúng tôi chằm chằm đầy ngờ vực. Tôi và Steve nhìn lại ngây ngô, như thể việc đang đêm hôm mưa gió có hai người cầm đèn pin, đeo balô mang theo xẻng và dây thừng làm một cuộc du ngoạn trong công viên
"Khốn nạn rồi" - Steve buột miệng khi chúng tôi bị một xe tuần tra chặn lại. Hai viên cảnh sát nhìn chúng tôi chằm chằm đầy ngờ vực. Tôi và Steve nhìn lại ngây ngô, như thể việc đang đêm hôm mưa gió có hai người cầm đèn pin, đeo balô mang theo xẻng và dây thừng làm một cuộc du ngoạn trong công viên
Riverside ở New York là một việc bình thường nhất thế gian.
Du ngoạn ư? Thế thì nói hơi giảm đi. Hai chúng tôi bò lổm ngổm qua các bụi cây, chui qua một rừng dương xỉ, cho tới khi đụng phải một hàng rào.
Tôi và Steve trèo qua hàng rào ấy, rồi chui xuống đường ray ngầm phía dưới. "Nhanh lên! Không họ phát giác bây giờ!“ - Steve giục.
Nhưng thực ra, hai viên cảnh sát không đi theo chúng tôi nữa. Hai thằng chạy khom lưng trong đường hầm rồi đến nấp sau một tấm tôn chờ đoàn tàu đang đến.
Steve không tìm kiếm sự phiêu lưu ở những nơi xa xôi, mà ở ngay trong thế giới bí ẩn dưới lòng thành phố của anh. Anh bảo, chúng ta đang sống trong một thế giới nhàm chán, mọi đất nước đều đã được khám phá, các ngọn núi đều đã bị chinh phục, các đại dương đều đã bị vượt qua.
"Phải còn gì đó cho chúng ta chứ?“ - anh nói rồi chỉ tay về phía lối đi bí mật dẫn vào "vương quốc ngầm" dưới lòng New York hoa lệ. "Chúng ta có thể đi dạo qua một nửa Manhattan bằng đường hầm này“ - anh khoe.
Đó là một thế giới mà cư dân phía trên không hay biết gì về nó. Còn lạ lẫm hơn một chuyến đi trên mặt trăng.
"Kho báu" dưới lòng đất
New York nằm trên một lớp phún thạch 500 triệu năm tuổi. Từ thế kỉ 17, lớp đá này đã bị khoan xuyên, đục thủng, đào bới. Nhưng đa số người New York không hề biết gì về điều đó, về thế giới dưới chân họ. Nhiều đoạn trong tổng số hơn 1.000 km đường hầm có thể đi lại được đã bị bỏ quên từ nhiều thế kỷ nay.
Từ hơn một năm nay, người vô gia cư này đã sống trong một đoạn đường tàu điện ngầm dưới lòng phố 39 phía Tây Manhattan |
Họ cũng không hề biết đến sự tồn tại của 750.000 hố ngầm, mà lượng dây điện xếp trong đó nếu nối lại có thể kéo dài đến... mặt trời.
Hệ thống ngầm phân nhánh chằng chịt và đan nhau dưới lòng New York chính là chốn khám phá bất tận của "nhà nghiên cứu lòng đất" Steve Duncan.
Chúng tôi trèo xuống một cái cống ngầm tối thăm thẳm, như bao cái khác. Một nơi khuấy động nỗi sợ. Ở đây, không bắt được tín hiệu di động, do đó trở thành nơi cánh gà của các loại "sân khấu tội ác": Các tên giết người hàng loạt và đám thần kinh biến thái trốn ở đâu, nếu không phải nơi này? Sẽ chẳng ai nghe thấy tiếng hét của chúng tôi cả. Ngoài kia, tiếng còi xe cảnh sát văng vẳng len lỏi qua các khe thoát nước.
Chúng tôi bước qua những chiếc giầy lẻ, những miếng da lộn, chăn, ví rỗng. Mùi nước tiểu khăm khẳm khắp nơi.
Rồi dưới ánh đèn pin, các tác phẩm graffiti đầy nghệ thuật hiện ra. Những người vẽ tranh đã chui xuống đường hầm này và trang trí cho những bức tường, mặc dù họ biết rằng các tác phẩm này có lẽ sẽ chẳng có lấy một khán giả.
Từ trong những chiếc tàu điện ngầm đang chạy với tốc độ cao, sẽ không ai nhìn thấy những bức tường đầy màu sắc, nhưng nằm trong bóng tối này. Chúng giống như là kho báu trong các hầm mộ kim tự tháp.
Sống trong hầm hàng năm trời
Đột nhiên, ngay giữa đường hầm, chúng tôi bắt gặp... một người đi xe đạp. Một người da đen, khoảng 40 tuổi, với đôi mắt sưng mọng, một trong những "người chuột" huyền thoại. Anh ta tỏ ra sợ hãi, y như chúng tôi.
"Chúng mày muốn gì ở đây?“ - anh ta gào lên hung tợn.
"Chúng tôi khám phá đường hầm“ - chúng tôi đáp, và thêm: "Chúng tôi không phải cớm đâu, đừng sợ“.
Bẫy chuột đặt trên đệm ngủ |
Tôi mời anh một điếu thuốc. "Tôi tên là Chuck“ - anh ta nói ngắn gọn. Chuck run rẩy. Sự run rẩy thường thấy của dân nghiện cocain. Chuck làm nghề thu lượm vỏ lon lấy tiền. Số vỏ anh ta có trong bao tải tính ra khoảng 3 đôla, đủ cho một liều crack. Không có đủ tiền thuê nhà, thế nên từ bốn năm nay, hai vợ chồng Chuck sống trong đường hầm.
Chuck chỉ cho tôi căn nhà của anh. Trong một khoang thụt vào của đường hầm, anh dùng bìa carton quây lại thành một cái hang nhỏ. Mấy cái chăn bụi bặm, kem Nivea, dầu gội đầu, nến, một cái túi giữ lạnh với một ít đồ ăn. Đó là tài sản của anh.
Trên đệm đặt một cái bẫy chuột.
Trên đệm đặt một cái bẫy chuột.
"Cậu mà không chú ý là chúng ăn thịt cậu ngay“ - Chuck giải thích.
"Thỏ đường hầm“ là tên anh gọi lũ chuột cống ở đây. Và có những con có lẽ to bằng con chó.
"Thuộc địa" dưới lòng đất của dân vô gia cư
Đoạn hầm mà Chuck ở đã có hơn 20 năm không được sử dụng. Tới năm 1991, khi Công ty tàu điện tư nhân Amtrak tiếp tục khai thác đoạn hầm trở lại, họ khám phá 150 người vô gia cư “định cư” dưới lòng thành phố, xây lều, cắt trộm dây điện và đường ống nước. Một thành phố trong bóng tối vĩnh cửu dưới lòng những đại lộ rực rỡ ánh đèn. Năm ấy, các công nhân xây dựng đã dùng máy ủi dẹp hết tất cả.
Nhưng rồi, những “người chuột” lại quay trở lại chốn cũ, tuy có dè dặt hơn trước. Họ lẩn trốn sâu hơn trong "thành phố ngầm". Dấu vết của họ biến mất như ánh sáng nơi đây. Chỉ có Steve thỉnh thoảng mới gặp lại họ, trong những khúc ruột thành phố.
Không ai biết được chính xác có bao nhiêu người đang sống dưới lòng New York.
Số liệu thống kê duy nhất tôi có trong tay cũng đủ gây ngạc nhiên:
từ năm 1990, có tất cả 350 người chết trong đường ngầm, không tính số người tự tử. Họ bị giết, chết vì sốc thuốc hay bị tàu điện ngầm chẹt phải. Một số bị chuột ăn thịt.
Tuần trước, Chuck phát giác một xác chết trên cây ở nơi đường hầm thông với mặt đất. Một người treo cổ, vẫn đeo kính râm. Chuck chạy tới báo cảnh sát. Họ không tin anh. Ngày hôm sau anh lại tới báo lần nữa. Họ vẫn đuổi anh về. Rồi một hôm nào đó, có mấy viên cảnh sát đến và dọn xác chết đi. Một xác chết như thế ở lối ra vào làm Chuck rất khó chịu.
click vào đây xem hình tài liệu
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Thành phố ngầm với cư dân của nó chỉ là một trong vô vàn những phát hiện của Steve trong những năm tháng khám phá lòng đất New York.
Để rồi sau đó, họ đã chế tạo thành công hai quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima và Nagasaki của nước Nhật. Một vật chứng lịch sử bí mật, đầy quan trọng, và bị lãng quên trong hoen gỉ. Một khám phá làm Steve ngạt thở.
Trong căn phòng anh ở Brooklyn treo một danh sách dài liệt kê những việc anh phải làm trước khi chết. Nó được lập cách ra đây 2 năm, khi bác sĩ thông báo anh bị bệnh ung thư xương và chỉ còn sống được vài tháng.
Hy vọng là vào giờ này không ai ngó tới các camera canh gác. “Nếu họ mà bắt được, thì chúng mình đi tù đấy” - Steve nói. Kể từ sau ngày 11/9/2001, tất cả những gì đe dọa tới an ninh cộng đồng đều bị ngăn chặn và trừng phạt bằng các biện pháp chống khủng bố thô thiển. Một lần, Steve đã bị 150 cảnh sát vây bắt và cuối cùng là còng tay giải về đồn. Anh bị ngồi tù một ngày, cho tới khi luật sư tới giải thoát.
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Kỳ 2: Những bí mật của "thành phố ngầm"
Chúng tôi chạy đến đoạn cua, kể từ đây tàu điện không hoạt động nữa. Đột nhiên là bóng tối thăm thẳm. Steve đã có lần kể cho tôi nghe rằng kẻ sát nhân hàng loạt David Berkowitz từng lang thang trong con kênh dẫn nước Croton, sau khi hắn cướp đi mạng sống của 6 con người.
Phòng thí nghiệm hạt nhân
Steve từng học khoa lịch sử tại Đại học Columbia. Trong một bài giảng, anh được nghe kể về “Dự án Manhattan”. Đó là tên ngụy trang cho một kế hoạch của người Mỹ trong chiến tranh thế giới thứ hai. Dưới sự chỉ huy của Robert Oppenheimer, họ nghiên cứu phát triển bom hạt nhân trong lòng đất. Nhà vật lý hạt nhân người Ý Enrico Frmi đã cho chế tạo một máy gia tốc phân tử trong căn hầm của trường đại học. Chính xác là ngay dưới giảng đường mà Steve ngồi.
Steve bắt đầu nghiên cứu lòng New York từ đó. Về sau, anh khám phá ra các bí mật lịch sử, như là một phần căn hầm trước đây vốn thuộc về một trại tâm thần. Đại học Columbia sau này được xây dựng trên nền đất phía trên ấy. Một đêm, Steve đã lên lại mặt đất qua con đường đó.
Trong hầm trường đại học anh thường xuyên gặp phải những cánh cửa bị cài khóa. Hỏi làm cách nào anh mở được thì chàng trai tóc vàng 28 tuổi im lặng. Có điều, chắc chắn là anh ta đã vượt qua chúng và phát hiện ra một mạng lưới đường ngầm với các phòng bí mật. Trông như thể là các nhà khoa học đã vội vã bỏ lại phòng thí nghiệm và để lại rất nhiều thứ. Khắp nơi sót lại máy móc và tài liệu: các tập giấy phủ bụi, những chai oxi màu đỏ, những thùng màu vàng với kí hiệu “Nasa” và những máy móc kì lạ đều in dòng chữ “Extranuclear Lab” (Phòng thí nghiệm ngoài hạt nhân).
Biểu tượng lịch sử hoen gỉ
Và rồi sau đó, anh lần đầu nhìn thấy cỗ máy gia tốc phân tử, một hộp thép khổng lồ, gỉ sét, trông bề ngoài giống như phi thuyền của người ngoài trái đất hạ cánh xuống. Nhà sử học trẻ tuổi đã khám phá cỗ máy mà có lẽ người ta đã dùng để sản xuất quả bom nguyên tử đầu tiên của nước Mỹ.
Máy gia tốc phân tử dưới hầm trường Đại học Columbia |
Steve quả thực là một nhà “sử học du kích” như biệt hiệu anh đặt cho mình. Anh biến mất mỗi đêm trong những nơi bí mật khác nhau ở thành phố ngầm.
Anh đã từng đi qua con kênh ngầm 40 cây số dẫn nước từ Manhattan tới khu Bronx ở phía đông bắc New York. Ngày xưa, hệ thống này cung cấp nước cho cả thành phố.
Ngày nay con kênh là nơi sinh sống của bầy dơi đông hàng trăm con. Steve chèo xuồng cao su đưa tôi qua con sông ngầm đen ngòm xuyên qua lòng Manhattan. Trên đường đi, anh tìm thấy 4 bến tàu điện ngầm bỏ hoang. Anh leo lên đoạn ngầm ở đại lộ Atlantic, nơi khởi hành của một trong những chiếc tàu điện ngầm đầu tiên trên thế giới.
Anh bò đến đường ray số 61 của Grand Central Stadion, ga tàu điện trung tâm của New York. Chưa có một chuyến tàu công cộng nào dừng ở ga này. Chỉ duy nhất một chuyến cá nhân. Hành khách: Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt. Trong thế chiến thứ hai, ông đã đi từ đây vào một thang máy bí mật lên thẳng khách sạn “Waldorf Astoria”. Khoang thang máy vẫn còn đó. Steve từng trèo qua đó lên trên và ra ngoài qua cổng khách sạn.
Cá sấu trong kênh ngầm
Còn nhiều truyền thuyết khác nhưng Steve chưa chứng minh được. Ví dụ như chuyện có cá sấu sống trong những con kênh ngầm. Con bò sát khổng lồ cuối cùng của New York, dài 3 mét, được kéo ra khỏi một bể hứng nước mưa vào năm 1935 và bị đánh chết. Ông trưởng phòng môi trường New York thậm chí vẫn tin là còn cá sấu sống dưới lòng đất. Dù sao thì Steve vẫn luôn cẩn trọng.
| Đoạn đường ray này chỉ dành cho một chuyến tàu duy nhất |
Kể từ đó Steve học được cách sống mỗi ngày, như thể ngày mai sẽ là ngày cuối cùng của đời mình. Và anh đã chiến thắng căn bệnh vốn vô phương cứu chữa.
Đó chính là một phần quan trọng trong triết lý sống của anh: người ta không chỉ có thể tìm kiếm cái mới ở khắp mọi nơi, mà còn có thể tận dụng từng ngày sống một để làm điều đó.
Bước nhầm là chết
Trong những đêm sau, chúng tôi lại tiếp tục hành trình ở những đoạn khác của thành phố.
Tôi theo Steve thử một lần liều mạng thâm nhập vào hệ thống đường ray còn hoạt động: đi qua một đoạn đường tàu tới một ga bỏ hoang. Chúng tôi chờ cho đến khuya, khi mà các tuyến đường đã bắt đầu vắng tàu qua lại. Ở bên cạnh hai đường ray thông thường là một đường ray thứ 3 với dòng điện 700 volt. Dẫm nhầm lên đó, chúng tôi sẽ mất mạng.
| Nguy hiểm chết người cho những tay thám hiểm thế giới ngầm - những đoàn tàu đột ngột xuất hiện trong bóng tối |
Một chiếc tàu đột nhiên xuất hiện từ trong bóng tối. Tiếng rung trầm ở thanh ray báo cho chúng tôi điều đó. Rồi ngay sau đó, là hai ánh đèn pha tiến về phía chúng tôi với vận tốc nhanh chóng mặt. Cảm tưởng, có lẽ người lái còn chưa kịp động vào phanh thì chúng tôi đã nát bét dưới gầm tàu rồi.
Hai thằng nhảy vội vào một cái hốc gần đó và ép chặt thân mình vào tường. Wrummmms! Chiếc tàu vụt qua như một cái bạt tai đau đớn.
Chúng tôi chạy đến đoạn cua, kể từ đây tàu điện không hoạt động nữa. Đột nhiên là bóng tối thăm thẳm. Steve đã có lần kể cho tôi nghe, rằng kẻ sát nhân hàng loạt David Berkowitz từng lang thang trong con kênh dẫn nước Croton, sau khi hắn cướp đi mạng sống của 6 con người.
“Não của tôi có gì đó không ổn”
Một hình nhân xuất hiện trong bóng tròn chiếc đèn pin của tôi. Tôi và Steve nhìn thấy hai con mắt đàn ông sợ hãi. Ông ta muốn bỏ trốn, nhưng chúng tôi đã kịp trấn tĩnh. Đó là Gray. Trên tấm băng nhựa của bệnh viện mà ông ta vẫn còn đeo ở tay thì lại ghi là “Gregory”.
Gray ở đây đã được hơn một năm. “Tôi chẳng muốn dây dưa với cảnh sát và những thứ bực mình ở trên kia” - người đàn ông ngớ ngẩn lẩm bẩm. “Tôi thấy ốm lắm, não của tôi có gì đó không ổn. Thế nên tôi phải vào bệnh viện”. Nhưng người ta muốn phẫu thuật. Ông sợ quá nên bỏ trốn xuống dưới này.
Những người như Gray là những kẻ lạc lõng trong thành phố. Ông muốn ở dưới lòng đất. Nhất thiết. Ông gãi gãi vết sẹo trên đầu và nói: “Thực là khó để tìm một nơi yên tĩnh trên thế giới này”.
-
X.T (theo Focus/Playboy)
Những Bí Ẩn Về Nguyễn Tấn Dũng
Sau ngày 30/04/1975 tôi được phân công nhiệm vụ kiểm soát việc tiêu hủy những thứ mà lúc ấy được người ta gọi là “văn hoá phẩm đồi trụy”. Sài Gòn những ngày ấy còn hỗn loạn, bề bộn, lòng người thì hoang mang, bất ổn. Song trong mắt bọn chúng tôi – những kẻ chiến thắng vừa từ rừng núi tiến vào – Sài Gòn đúng thật là “hòn ngọc viễn đông”. Nhà cửa thành phố hiện đại, hàng hoá nhiều vô kể, đặc biệt là sách báo, tranh ảnh, băng đĩa và những thứ sản phẩm bị coi là “tàn dư của chế độ cũ”.
Lúc ấy chúng tôi được ủy ban quân quản bố trí ở tại một ngôi biệt thự bỏ hoang ở khu Phú Thọ. Mặc dù là bỏ không nhưng thật ra đây là một biệt thự mới tinh chưa có người đến ở, chủ nhà có lẽ là một người giàu có, xây dựng mới xong thì bộ đội giải phóng vào nên có thể đã đi di tản hoặc không dám đến nhận nhà. Ngôi nhà có tới 13 phòng, mỗi phòng đều có trang bị đồ dùng đầy đủ và rất sang trọng. Một số những chiến sỹ trẻ lúc ấy thích đọc truyện tranh, truyện tuổi hoa niên thì mang về đầy phòng đủ các loại sách truyện từ Tây Du ký, Tam Quốc chí, đến cả Đát Kỷ – Trụ Vương, rồi chuyện kiếm hiệp không biết cơ man nào. Đối với những người sống ở miền Bắc nghèo khó và những người bao năm hoạt động ở trong rừng núi thiếu thốn thì đúng quả là bị choáng ngợp với các loại sách báo Sài Gòn ngày ấy.
Trong công việc hàng ngày tôi cũng thỉnh thoảng lần giở xem xét một số những cuốn sách cũ, một số tiểu thuyết lịch sử để hiểu thêm về chế độ Việt Nam Cộng Hoà, đặc biệt nhiều nhất là sách viết về nền đệ nhất cộng hoà như cuốn “Bên giòng lịch sử” của linh mục Cao Văn Luận, hay “Những ngày chưa quên” … Lúc ấy việc đọc sách chẳng qua cũng chỉ để cho dễ buồn ngủ vào mỗi buổi tối chứ thật ra cũng chẳng có ý nghĩa gì. Chúng tôi đều cho rằng đó là những sách báo nhảm nhí, viết không đúng sự thật. Một cuốn sách hình như có tựa đề là “Những bóng ma trong hồng trường” viết về những câu chuyện thâm cung bí sử trong Quảng trường đỏ thời Xô Viết, nói về chuyện dâm ô, loạn luân của các lãnh đạo Xô Viết, lúc bấy giờ đọc những chuyện ấy chỉ xem như những chuyện tiếu lâm, những hư cấu không có thật, chứ tuyệt nhiên không thể tin được.
Thế rồi thời gian thấm thoát trôi qua với bao nhiêu biến chuyển, đổi thay của xã hội. Sài Gòn ngày ấy bây giờ chỉ còn trong ký ức của mỗi con người mà đã gắn bó, đã trải qua vào những giai đoạn lịch sử ấy. Tôi cũng đã luân chuyển qua nhiều vị trí, công việc khác nhau. Trong quá trình công tác tôi có may mắn được làm việc một khoảng thời gian ngắn với cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Khoảng thời gian này không dài nhưng lại là khoảng thời gian rất quý báu đối với tôi bởi vì đã học được nhiều điều và hiểu được nhiều điều từ cơ quan quyền lực cao nhất, từ người đứng đầu bộ máy lãnh đạo Việt nam. Trong đó có những câu chuyện mà qua hàng chục năm giữ kín, “đào sâu chôn chặt”, suy xét, kiểm nghiệm đến ngày hôm nay mới dám nói ra, bởi vì nó có liên quan đến những con người và hoàn cảnh lịch sử của đất nước ta trước đây, ngày hôm nay, và có thể nó sẽ ảnh hưởng đến tương lai dân tộc ngày mai.
Trước khi giữ chức vụ Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt nam cụ Nguyễn Văn Linh đã từng hoạt động và làm việc tại miền Nam gần 50 năm (cụ vào Sài Gòn hoạt động từ 1939), và đã từng đảm nhiệm hầu hết các chức vụ lãnh đạo cao nhất tại miền Nam trước và sau chiến tranh. Vì thế dù sinh trưởng trên quê hương Hưng Yên miền Bắc nhưng cụ đã thực sự như một người con của Nam bộ. Đến khi lên giữ chức Tổng bí thư cụ Nguyễn Văn Linh vẫn rất thường xuyên làm việc tại Sài Gòn, cụ sinh hoạt rất giản dị, khiêm tốn và kín đáo. Cụ ở trong khu vực riêng của Ban quản trị tài chính Trung ương, gọi là T78, khu vực này là một đoạn đường Trần Quốc Toản được đơn vị cảnh vệ ngăn lại hai đầu phố tiếp giáp với đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và đường Trần Quốc Thảo, thành một khu vực riêng biệt, có lối ra thông với đường Lý Chính Thắng (sau này mở thêm khách sạn Dạ Lý Hương). Có những hôm cụ vẫn xuống ăn cơm chung với cánh cán bộ chúng tôi ở nhà ăn tập thể cũng nằm trong khu vực này, cụ ăn uống đơn giản và không đồng ý có thêm bất cứ chế độ đặc biệt gì phục vụ.
Hồi ấy phương tiện đưa đón cụ chỉ là loại xe Vonga đen của Nga sản xuất, mỗi lần xe của cụ đi thì trước đó lại có mấy cậu cảnh vệ mặc thường phục ngồi sẵn trên mấy chiếc xe Honda 67 “xoáy nòng” bí mật chạy trước chạy sau để xem xét, bảo vệ, chứ không phải dùng xe Police “còi hụ” hay xe “bồ câu trắng” bảo vệ như các cán bộ lãnh đạo sau này. Thế mà có lần tôi còn nghe cụ nhắc anh lái xe “chạy chậm chậm một tí không mấy cậu bảo vệ phải đuổi theo lại đụng vào dân thì khổ”, cụ biết và quan tâm đến tất cả những chuyện nhỏ như thế.
Tôi còn nhớ, vào khoảng năm 1988 có lần phải xuống làm việc với đặc khu ủy Vũng tàu (lúc ấy Vũng tàu vẫn còn là đặc khu Vũng tàu-Côn đảo), làm việc xong vào cuối buổi chiều cụ lại muốn đi tắm biển một chút cho khoan khoái. Thế là đám cán bộ địa phương và lực lượng bảo vệ lại phải cuống quýt lo bố trí địa điểm kín đáo, an toàn. Đến khi cụ xuống tắm lại phải bố trí hàng chục cán bộ bảo vệ cùng tắm quanh khu vực, thậm chí có người không kịp chuẩn bị đồ tắm đã phải mặc cả đồ lót đi tắm và mặc luôn đồ ướt đi về. Sau khi biết chuyện ấy cụ mới tự trách : biết các cậu phải lo lắng kỹ lưỡng như vậy thì tôi tắm luôn trong phòng cho xong.
Những ai đã sống trong thời điểm đó thì chắc đều không thể quên được chuyên mục “Những việc cần làm ngay” của cụ viết ký với bút danh N.V.L. Ngay từ khi những sự việc được báo chí đăng tải cụ đã trực tiếp đôn đốc hoặc phân công cho những cán bộ trực tiếp phụ trách theo dõi và phải hàng ngày báo cáo kết quả công việc cho cụ biết. Đúng theo tinh thần “Nói Và Làm”.
Tiếc rằng lãnh đạo đất nước ta từ đó đến nay đã không xuất hiện thêm một ông “Nói Và Làm” nào nữa . Tôi vẫn thường nghĩ rằng nếu các lãnh đạo sau này và các lãnh đạo chính quyền cấp dưới có được quan điểm làm việc, đạo đức và cách sống như cụ thì chắc rằng người dân Việt nam sẽ có được cuộc sống no đủ và công bằng hơn rất nhiều.
Vào khoảng thời gian trước khi về nghỉ, có lẽ nhận thấy sức mình không thể làm thay đổi được cả một bộ máy, một cơ chế cồng kềnh và bảo thủ, cũng lại do hiểu được tính bè phái và sự lộng quyền của những kẻ lãnh đạo cơ hội trong Đảng, cụ càng trở nên trầm tư hơn. Nếu ai có điều kiện lui tới gặp cụ tại nhà riêng thời gian này sẽ nhận thấy sự thất vọng và u uất thể hiện rõ trên khuôn mặt và thái độ của cụ. Ngoài quan hệ công việc tôi lại có quan hệ rất thân tình với cô Bình (Nguyễn Thị Bình) con gái cụ, tôi quen Bình từ lúc còn đang học ở Liên Xô, Bình cũng rất quý tôi, coi tôi như người anh . Có lẽ cũng vì thế mà mỗi lần tôi đến nhà cụ chơi hay có công việc gì đều thấy tự nhiên như người nhà.
Sau này khi cụ Nguyễn Văn Linh thôi giữ chức Tổng bí thư Đảng, tôi không còn được làm việc với cụ nữa, nhưng thỉnh thoảng có dịp ra vào công tác tôi vẫn ghé thăm cụ, hoặc là ghé thăm Bình, vài tháng một lần. Mỗi lần gặp cụ lại hỏi thăm tình hình công việc, tình hình tổ chức nội bộ, tình hình các địa phương. Cụ tỏ thái độ than phiền với những người kế nhiệm và đặc biệt kêu ca về khâu tổ chức cán bộ và quy hoạch lãnh đạo cao cấp.
Vài năm sau đó nữa, lúc này sức khỏe của cụ tỏ ra đã yếu hơn trước rất nhiều, cụ ít đi lại hơn. Một buổi tối tôi đến thăm cụ, thấy cụ có vẻ không được khỏe, tôi không dám nói chuyện nhiều, sau khi hỏi thăm cụ vài câu tôi định đứng dậy ra về, nhưng cụ bỗng khoát tay ra hiệu bảo tôi hãy ở lại chơi và sau đó lại kéo tôi vào buồng trong. Tôi hiểu là cụ muốn trao đổi một chuyện gì đó, chắc là quan trọng hơn.
Vừa ngồi xuống là cụ hỏi ngay : mấy hôm nay cậu có theo dõi vụ Tổng công ty Tracodi mà báo chí vừa đưa tin không ?
Tôi đáp : Dạ, có biết chứ ạ ! Nhưng cũng chưa rõ lắm đúng sai thế nào ?
Cụ lại quay sang hỏi : Thế cậu có biết cái tay Tổng Giám đốc Phan Thanh Nam là người như thế nào không ?
Tôi chợt hiểu ra có điều gì đó quanh vấn đề này, thời gian trước đó đã có dư luận xôn xao quanh chuyện Phan Thanh Nam là con rơi của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, cánh cán bộ văn phòng chúng tôi đều có nghe nhưng vẫn không biết thực hư thế nào, nên cũng chỉ coi như một tin đồn nhảm.
Bỗng cụ ghé sát gần tôi và nói : Những chuyện này mà tao không nói cho các cậu thì sau này sẽ chẳng có ai được biết đến nữa.
Thế là bỗng nhiên tôi trở thành một nhân chứng để ghi nhận những sự kiện ghê ghớm thế này, những sự kiện đã gắn liền với lịch sử Cách mạng Việt nam nhưng không bao giờ được chép trong sử sách và nó là một bộ mặt thật hoàn toàn khác với những gì mà nhân dân được biết về lãnh đạo Việt nam, nhất là về lãnh tụ tối cao nhất : Hồ Chí Minh, con người mà bản thân tôi cũng từng ngưỡng mộ và tôn kính từ khi còn rất bé.
Theo cụ Nguyễn Văn Linh kể thì Bộ chính trị lúc bấy giờ, (tất nhiên đứng đầu là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ chỉ đạo, điều này thì sau này không ai là không biết), biết rằng cụ Hồ gặp những thiếu thốn và khó khăn về tình cảm cá nhân, như chuyện muốn nối lại mối tình duyên với người vợ cũ ở Trung quốc nhưng đã bị phản đối (đây là một câu chuyện có thật đã được phía Trung quốc công bố từ những thập niên 80, 90 của thế kỷ trước. Về việc này tôi lại nhớ về sự kiện bài báo “Bác Hồ có vợ ?” được đăng trên báo Tuổi Trẻ của tác giả Kiến Phước – Trưởng đại diện báo Nhân dân tại TP. Hồ Chí Minh, chính vì bài báo này mà sau đó Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ là Nguyễn Kim Hạnh, cũng chính là vợ ông Kiến Phước, bị mất chức. Sau này có lần đến chơi với hai vợ chồng Kiến Phước – Kim Hạnh ở trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, cũng gần khu T78, nhắc lại chuyện này họ lại buồn và phản ứng ghê lắm). Do vậy sau đó Bộ chính trị có bí mật sắp xếp nhiều người phụ nữ khác để chăm sóc và phục vụ cụ Hồ về mặt sinh hoạt tính dục. Đặc biệt, từ thuở còn thanh niên cụ Hồ đã có một mối tình đầu rất đẹp với một người con gái miền Nam (sự thật này đã được nhà văn Sơn Tùng sưu tầm và công bố trong bài viết “đi tìm Út Huệ”), do vậy cụ Hồ có một ấn tượng và thiện cảm đặc biệt với những người phụ nữ Nam bộ. Biết thế nên Bộ chính trị đã chỉ đạo cho Trung ương cục miền Nam, mà lúc này Nguyễn Văn Linh là Bí thư Trung ương cục, phải kín đáo tìm kiếm trong số những cán bộ, du kích miền Nam một vài cô gái còn trẻ, đẹp để đưa ra miền Bắc phục vụ cụ Hồ và các vị trong Bộ chính trị. Thời điểm đó thì Võ Văn Kiệt đang là ủy viên Trung ương cục được cụ Nguyễn Văn Linh tin tưởng tuyệt đối và giao cho trực tiếp phụ trách nhiệm vụ đặc biệt này. Trong số vài cô gái tuyển lựa được lúc đó đang chuẩn bị bố trí bí mật đưa ra miền Bắc, có một cô còn trẻ và rất sắc sảo họ Phan. Giữa lúc đó thì tình hình chiến sự đang diễn ra khá ác liệt nên không thể đưa các cô đi ngay được và rồi không hiểu thế nào mà ông Kiệt lại quan hệ dan díu với chính cô gái họ Phan kia. Đến lúc sự việc vỡ lở thì cô gái đã có thai được mấy tháng rồi. Thế là cô ta phải ở lại và cái bào thai đó chính là vị tổng Giám đốc Tracodi : Phan Thanh Nam sau này.
Nghe đến đây tôi cảm thấy vô cùng sửng sốt và bỗng thấy rùng mình hết cả người. Rõ ràng người đang kể ra những sự việc đó là một người đã từng giữ trọng trách cao nhất trong Đảng cộng sản Việt nam, một người trong số vài ba người được biết rõ nhất, chính xác nhất về câu chuyện này, một người trong số vài ba người hiếm hoi biết được những chuyện thâm cung bí sử nhất trong Trung ương Đảng cộng sản, một người mà cái tuổi đã vượt quá ngưỡng “cổ lai hy” rồi . Như vậy không thể là nói thiếu chính xác hoặc vô căn cứ được, càng không thể là nói xấu tổ chức Đảng và lãnh tụ được. Như vậy những chuyện tày trời kia là có thật ư ?
Tôi đang bần thần như người ngủ mê và còn chưa biết phải nói thế nào, cụ Linh lại nói tiếp : … cũng không phải chỉ riêng có Sáu Dân đâu (bí danh của Võ Văn Kiệt), mấy ông tướng nhà ta cũng đầy con rơi ra đấy, còn thằng Ba Dũng là con Nguyễn Chí Thanh, rồi thằng Trần Nam là con Trần Văn Trà hiện đang làm bên Học viện lục quân ấy.
Thế là cụ lại kể cho tôi biết thêm những sự thật khác.
Theo cụ Nguyễn Văn Linh thì trong thời gian tướng Nguyễn Chí Thanh làm Bí thư liên khu ủy khu IV khoảng từ năm 1948 đến 1950 đã có quan hệ với một cán bộ phong trào ở đây và sinh ra Nguyễn Tấn Dũng, và cụ còn cho biết là sau Nguyễn Tấn Dũng vẫn còn một người em trai nữa cũng là con của tướng Thanh.
Còn tướng Trần Văn Trà thì có quan hệ với một người phụ nữ quê ở miền Bắc (hình như là họ Hoàng, điều này tôi không còn nhớ rõ) rồi sinh ra Trần Nam, cũng là một sỹ quan quân đội đang công tác tại Học viện lục quân Đà lạt.
Về Trần Nam thì hồi đó tôi không hề được biết một thông tin liên quan nào, chưa hề nghe đến danh tính. Rất gần đây tình cờ đọc báo về vụ công ty Rusalka của siêu lừa Nguyễn Đức Chi rồi hỏi thăm cán bộ ở dưới mới được biết Trần Nam chính là giám đốc công ty Lâm Viên thuộc Học viện lục quân – Bộ quốc phòng, có liên quan đến vụ án này.
Sau buổi tối hôm ở nhà cụ Nguyễn Văn Linh ra về tôi bàng hoàng và băn khoăn nhiều lắm. Như vậy những thứ được gọi là tư cách, đạo đức, mẫu mực của các lãnh đạo cao cấp của Đảng ta thật ra chỉ là những thông tin tuyên truyền thôi ư ? Và những kẻ bày ra những trò này chắc cũng không ngoài mục đích nhằm thao túng cụ Hồ và thao túng cả Bộ chính trị ? Vậy thì đã có biết bao cô gái trẻ đã bị đánh mất tuổi thanh xuân và sự trinh trắng ở đó, và để đảm bảo tuyệt đối bí mật những thông tin này, dứt khoát phải có nhiều người đã bị thủ tiêu hoặc làm cho mất trí nhớ hoàn toàn. Như vậy những câu chuyện đồn thổi về những bóng ma trong quảng truờng Ba đình phải chăng cũng là có thật ? Thật bi thảm và khủng khiếp quá !
Bắt đầu từ câu chuyện đó nên sau này tôi đã cố tìm hiểu thêm những thông tin khác liên quan đến Ba Dũng.
Khoảng năm 2000, trong cuộc trò chuyện với một thiếu tướng Quân đội đã nghỉ hưu có quan hệ khá thân thiết với tôi, ông này có thời gian đã công tác tại liên khu IV và V, ông ta cũng lại khẳng định với tôi rằng Nguyễn Tấn Dũng chính là con của Nguyễn Chí Thanh. Hiện nay vị tướng này vẫn còn sống và là ủy viên của Hội cựu chiến binh Việt nam, để tránh gây phiền phức cho ông nên tôi không dám nêu danh tính cụ thể lên ở đây
Tôi đã tìm xem trong số những tài liệu lưu ở văn phòng có liên quan đến Nguyễn Tấn Dũng nhưng không thấy lộ ra chi tiết nào nói về chuyện này. Thế nhưng nhìn vào lý lịch và quá trình công tác của Ba Dũng rõ ràng có những điều bí ẩn sau đó. Ông ta chỉ là một cán bộ tầm trung bình, không có chuyên môn nghiệp vụ (thật ra được đào tạo làm y tá quân đội), trình độ văn hoá thấp, chưa được đào tạo cơ bản chính quy, không có thành tích đặc biệt, không có năng khiếu gì xuất chúng, thế nhưng lại có quá trình thăng tiến nhanh vượt bậc ( ?).
Sau này, trong những lần làm việc với Nguyễn Tấn Dũng tôi lại càng thấy rõ những điều đó hơn và càng thất vọng rất nhiều. Quả là ông ta là một người năng lực rất kém. Về hình thức bề ngoài, từ trước đến nay ít có lãnh đạo Việt nam nào có được dáng dấp và khuôn mặt sáng láng như Ba Dũng, cái hình thức đó rất dễ làm cho những ai không biết tưởng rằng đó là một người rất thông minh, nhanh nhẹn. Thật ra tương phản với hình thức sáng láng đó là một não trạng rất tối tăm, dốt nát. Hồi mới về Trung ương có những lần nghe ông phát biểu mà mọi người đều không hiểu ông định diễn đạt điều gì, rất lủng củng, tối nghĩa, lại lúng túng, cụt lủn. Nhiều lần tham dự những cuộc họp do Ba Dũng chủ trì, tôi thấy ông ta không dám phát biểu gì, chỉ ngồi nghe các cơ quan cấp dưới phát biểu sau đó ông ta cũng chẳng dám có ý kiến kết luận gì cả. Phải trải qua năm, sáu năm “thực tập” ở cái ghế Phó thủ tướng thì ông ta mới tỏ ra là tự tin, biết chủ trì những cuộc họp lớn của cơ quan Đảng, Chính phủ, nhưng vẫn chỉ là cái kiểu nói lúng túng, nước đôi, nói hùa theo các ý kiến khác chứ không thấy tự tư duy được điều mới mẻ cả. Mặc dù có cả một cơ quan tham mưu giúp việc rất đồ sộ “mớm” cho từng văn bản, từng câu chữ nhưng mỗi lần phải “nói vo” anh ta đều phát biểu rất khó khăn, không có đầu đuôi gì cả. Suốt cả quá trình dài là người đứng đầu Chính phủ và phụ trách tất cả những mảng quan trọng nhất nhưng ông ta chưa làm được một việc gì đáng kể. Đặc biệt, Ba Dũng rất dốt ngoại ngữ, trong cuộc họp mà phát biểu những từ gì tiếng Anh thì toàn nói sai hoặc nói lung tung cho qua. Một con người năng lực yếu kém như vậy mà lại lên đến chức Phó thủ tướng, và nay là Thủ tướng Chính phủ thì quả là không hiểu nổi ? Quả là có một bí ẩn khủng khiếp !
Một dịp may khác ngẫu nhiên đến để tôi được kiểm chứng thêm lời nói của cụ Nguyễn Văn Linh. Đó là khoảng năm 2001, trong một lần tiếp xúc với lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh tại ủy ban thành phố có một vị khách đến làm việc theo lịch đã hẹn, và tôi được giới thiệu người khách đó là Tư Thắng (Nguyễn Tiến Thắng), em ruột Ba Dũng. Người này nhìn bề ngoài giống hệt Ba Dũng, từ chiều cao, dáng người đến nét mặt, mái tóc và kể cả giọng nói, thậm chí kể cả cử chỉ, dáng điệu (Ba Dũng hay có thói quen hất cằm và khuôn mặt ra phía trước). Tư Thắng giống Ba Dũng đến mức chỉ nghe giới thiệu là có thể tin ngay rồi, chỉ khác một chút là nước da đen hơn Ba Dũng một chút và khuôn mặt có vài vết rỗ. Riêng về cách ăn mặc thì ngược hẳn với ông anh, phóng khoáng tự do, thể hiện là người không làm việc trong cơ quan chính quyền. Có lẽ đã nghe tên tôi từ trước, Tư Thắng chủ động tự giới thiệu trước và đưa danh thiếp có số điện thoại cho tôi (tôi vẫn còn giữ danh thiếp ấy và số điện thoại di động là 090845846, lúc ấy ĐTDĐ chỉ có 9 con số, hiện nay đều đã thêm số 3 nên sẽ là 0903845846), sau đó Tư Thắng còn mời tôi lúc nào rảnh rỗi thì đến chỗ anh ta chơi.
Vì muốn tìm hiểu kỹ sự thật, có một buổi chiều sau giờ làm việc tôi đã lững thững đi bộ đến chỗ Tư Thắng. Theo địa chỉ Tư Thắng cho tôi biết thì đó là một căn nhà mặt tiền đường 3/2, gần ngã tư Cao Thắng (phía bên Nhà hát Hoà Bình), đó là một ngôi nhà lớn, vị trí rất đẹp, nhưng sau này tìm hiểu ra tôi mới được biết Tư Thắng có rất nhiều đất đai và biệt thự ở khắp các tỉnh Nam bộ, ngôi nhà này cũng chỉ là chỗ đi lại mà thỉnh thoảng ở Sài Gòn Tư Thắng mới ghé qua. Chính vì Tư Thắng muốn nhờ tôi giới thiệu thêm với một số lãnh đạo để giúp cho các công việc làm ăn của anh ta, tôi mới được biết là có rất nhiều công ty nằm dưới tay anh ta, đa phần là công ty TNHH. Các công ty này đều chỉ dựa vào thế lực và các mối quan hệ của Ba Dũng để tham gia vào rất nhiều lãnh vực khác nhau như : tài chính, ngân hàng, bất động sản, thương mại, xây dựng, tham gia các dự án nhà nước … Điều làm tôi quan tâm nhất là anh ta có quan hệ với rất nhiều người Đài Loan, đặc biệt trong mạng lưới các chân rết của Tư Thắng có một ngân hàng Đài loan hoạt động chui tại Việt nam là First China Bank (một đàn em tin cậy của ông ta được giao phụ trách việc này cũng tên là Dũng có số ĐTDĐ là 0913950661). Như vậy có thể hiểu được đây chính là những “sân sau” của Ba Dũng, và để tránh đụng chạm với các thế lực khác cạnh tranh, anh em ông Ba Dũng đã nhằm vào địa bàn hoạt động chủ yếu ở miền Trung và Nam bộ, sau đó việc rửa tiền và chuyển ngân lậu được thực hiện qua ngả Đài loan. Liệu có thế lực nào khác và bàn tay của cơ quan tình báo Đài loan nhúng vào những chuyện này không ? Chưa ai biết được chuyện đó !
Như vậy, đường đi và vị thế của ông tân thủ tướng Việt nam quả là có một quá trình đầy bí ẩn, đầy những bàn tay sắp đặt, chắc chắn đứng đằng sau ông ít nhất còn có hai người em là Nguyễn Tiến Thắng và Nguyễn Chí Vịnh (tổng cục trưởng Tổng cục tình báo quân đội, con trai chính thức được thừa nhận của tướng Nguyễn Chí Thanh) để lo thu xếp mọi việc từ tài chính đến an ninh chính trị.
Lại cũng dễ hiểu khi con đường quan lộ của Nguyễn Tấn Dũng rộng mở song hành với sự thao túng và lộng quyền của Tổng cục hai trong tay Nguyễn Chí Vịnh (sự lộng quyền này, trong mấy năm gần đây có rất nhiều cán bộ cao cấp và cán bộ lão thành đã phản ánh đến các cơ quan Đảng). Nó là hai mệnh đề luôn bổ sung và giải nghĩa cho nhau. Từ mệnh đề đó có thể giải đáp được rất nhiều những câu hỏi khác. Sự liên quan và ràng buộc này nếu nhìn trên góc độ thực tế chắc chắn đã và sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu đến tương lai của đất nước. Bởi vì sự bè phái và những âm mưu thâu tóm quyền lực là những nguyên nhân lớn nhất gây nên đổ vỡ tan rã trong Đảng, đây là điều mà Hồ Chí mInh đã cảnh báo từ rất sớm. Trong thực tế chế độ ta chỉ chấp nhận một Đảng duy nhất lãnh đạo, những chia rẽ và yếu kém trong Đảng dứt khoát có nguy hại đến sự phát triển của đất nước, đến đời sống nhân dân. Nhất là trong tình hình hiện nay hai căn bệnh lớn nhất tồn tại trong Đảng đang bị xã hội lên án rất gay gắt và là nguy cơ thật sự , đó là tham nhũng và tranh giành quyền lực.
Nếu những căn bệnh này còn tồn tại, không được giải quyết triệt để, sự tan rã chế độ sẽ là tất yếu. Rồi tập đoàn Dũng – Thắng – Vịnh sẽ đưa đất nước ta đến bờ vực thẳm nào ?
Những sự việc cụ Nguyễn Văn Linh đã kể lại cho tôi chắc chắn cũng phải còn ít nhất là một vài người khác được biết, thế nhưng cho đến nay vẫn chưa có ai dám công khai nêu lên. Trước thực trạng đầy bất ổn của tình hình chính trị đất nước cùng với tấm lòng cảm mến và kính trọng cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, tôi nhận thấy chính mình phải có trách nhiệm nói ra những điều này, tôi xin hoàn toàn đảm bảo về tính trung thực và chính xác của sự việc này. Tôi cũng mong rằng sau khi sự thật này được đưa ra ánh sáng thì sẽ có thêm nhiều bằng chứng khác của các vị lão thành Cách mạng, của những ai có may mắn được biết đến những sự việc trên sẽ bổ sung đầy đủ hơn để bạch hoá hoàn toàn những bí ẩn này.
Thứ nữa, tôi muốn thông báo đến giới trẻ, những người chủ tương lai của đất nước được biết rằng : có rất nhiều những sự thật mà các bạn không có cơ hội được biết đến, mà lẽ ra trong xã hội hiện đại truyền thông đa phương tiện ngày nay các bạn cần phải biết tất cả những sự thật, những điều trắng đen rõ ràng để tự xây dựng cho mình những tư duy sống, những quan điểm tự nhiên chứ không phải những ý thức hệ bị cưỡng bức, những tư tưởng bị chỉ đạo.
Cuối cùng, tôi muốn gửi thông tin này đến tất cả mọi người dân với mong muốn rằng nhân dân chúng ta đều càng ngày càng được cởi mở hơn trong tiếp nhận thông tin, tiếp nhận sự thật. Những sự thật lịch sử cần phải được tôn trọng và dần dần cần được giải mã trước công chúng. Những sự việc gây ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước cần phải được minh bạch và công khai. Từ đó mỗi người dân cần có thái độ và đóng góp trách nhiệm của mình một cách rõ ràng trước những điều hệ trọng của đất nước. Nhân dân cần phải thay đổi thói quen chấp nhận để đời sống chính trị bị lệ thuộc bởi một cá nhân nào, một đảng phái nào, hay một thể chế nào, một chính phủ nào, mỗi người phải có quyền và nghĩa vụ tự quyết định cho riêng mình trong một xã hội văn minh, dân chủ.
Hà Nội ngày 09/10/2006
Hoàng Dũng, Cán Bộ VPTƯ
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)