22/7/10

Ấn Giáo hay Balamon Giáo

Ấn Giáo hay Balamon Giáo
TT Giác Đẳng giảng trên đường từ Lumbini trở về Veshali ngày 29 tháng 3 năm 2010 trong chuyến tu học hành hương Ấn Độ
Minh Hạnh chuyển biên
Ch Hindu, ngày nay chúng ta thường gọi là Ấn Giáo, ch Hindu đó là vốn một vi Bàlamon giáo vốn được nhc trong kinh điển của Đạo Phật. Balamon giáo âm t ch brāhmana, có khi âm t tiếng Sanskrit là Bràhamana. Ch Brah nghĩa là thanh tịnh trong sạch, thí dụ như Brahmacharya nghĩa là Phạm hạnh. Ch Bràhmana nghĩa là Bàlamon hay âm là Phạm Chí. Ch Phạm nghĩa là trong sạch.
Ngày nay thì chúng ta ít nhc đến khái niệm này, mc dầu tại Ấn Độ họ nói đến rất nhiều nhưng ngoài thì họ gọi là Hindu. Người Balamon họ quan niệm Thượng Đế tc là Phạm Thiên là chủ thể của thế gii này và ch Phạm Thiên được hiểu như một thần linh mc độ cao vi nhất, mc đđó gọi là thanh tịnh. Có khi người ta tạc tượng Phạm Thiên bốn mt tượng trưng cho một người có bốn đức t bi hỉ xả, như chúng ta nhìn thấy hình ảnh Phạm Thiên được khc tại đền Angkor Watt Cambochia hay một số các đền đài tại Ấn Độ. Quan niệm này tương đối là cao siêu hơn nếu chúng ta so vi nhng quan niệm thần ngã khác, thông thường thì nhng quốc gia khác hay nhng đạo giáo khác khi nói về Thượng Đế người ta chỉ nói đến một đấng tối tôn sáng tạo chủ, nhưng mà người ta không nói đến đấng thanh tịnh ví dụ như trong kinh Cu Ước người ta đưa ra nhng hình ảnh Thượng Đế có lúc nổi giận, Thượng Đế có nhng lúc đòi hỏi loài người phải vinh danh ngài, điều đó không có trong hình ảnh Thượng Đế của Ấn Giáo hay Balamon Giáo.
Ấn Giáo tôn th Thượng Đế đấng Brahama do đó họ gọi là Balamon. Bràhmana được âm là Bàlamon có khi được âm tc là Bàn môn, giống như trong tiếng Việt Nam có thành ng "bàn môn tả đạo" nhiều khi chúng ta nghe ch bàn môn tả đạo thì nghe như tà ma ngoại đạo, nhưng thật ra ch bàn môn là chỉ cho Balamon, tại vì nhng người Phật t xem đạo Balamon là ngoại giáo là Bàlamon, tả đạo là chỉ cho đạo Thiên Chúa. Ví dụ như người ta nói "bình tây sát tả" người Phật t gọi là tả đạo, do vậy Balamon gọi là bàn môn, nhưng ch bàn môn là ch rất tiêu cc, thường trong tiếng Việt chúng ta nói bàn môn tả đạo, đạo mà tà mị gọi là bàn môn, nhưng thật s ch bàn môn đó là t ch Bràhmana mà ra. Về sau này khi người Hồi Giáo xâm lăng Ấn Độ thì trong ngôn ng Persian của đế quốc Phổ mà chúng ta gọi là đế quốc Ba Tư người ta có dùng ch Hindu để chỉ cho đạo Balamon. Tại sao vậy? Tại vì người Hồi Giáo quan niệm chỉ có Thượng Đế và nhng khải huyền trong kinh Koran mi thật s là chánh giáo, còn nhng phương pháp nhng cách th cúng của người Ấn Độ như th bò hay th khỉ hay nhiều quan niệm khác thì họ cho là ngoại đạo tc là không nm trong chánh đạo, và họ gọi người Ấn Độ theo đạo Balamon là Hindu.
Ch đó rất là thú vị tại vì khi người Hồi Giáo cai trị Ấn Độ họ gọi người Bàlamon là Hindu thì họ gọi bng ý nghĩa rất là tiêu cc là nhng ngoại đạo, nhưng người Ấn Giáo thì ngược lại, họ thấy ch Hindu đúng, họ nói quan niệm về s tu của họ không có cái gì giống vi đạo Hồi Giáo, mình khác vi Hồi Giáo là đúng, thành ra họ dùng ch Hindu, về sau ch này tr nên phổ cập. Tiếng nói của người Ấn Độ họ gọi là tiếng Hindi, đạo của người Ấn Độ là Hindu, tĩnh t dùng trong ng pháp Hindustan, hay cái chất của Hindu cũng gọi là Hindustan. Ngày nay có một nhật báo gọi là hindustan là một nhật báo ln. Như vậy ch Hindu không bt nguồn t trong tiếng Sanskrit mà bt nguồn t tiếng nói của Preußen tc là đế quốc Phổ mà ngày nay chúng ta gọi là Iran tc là Ba Tư khi họ sang xâm lăng x này vào thế kỷ th 12, và do vậy dần dà trong suốt thi đại của các vị vua Hồi Giáo thì một bên gọi là đạo Islāmđạo chính thống của vua chúa tc là đạo Hồi, một bên là đạo Hindu là ngoại giáo. Lý do rất đơn giản là tại vì họ không biết đạo Balamon giáo thc hành cái gì đặc trưng hoàn toàn là Balamon giáo, A cũng phải, B cũng phải, C cũng phải, kiểu này cũng được kiểu khác cũng được do đó họ gọi chung tất cả nhng th gọi là ngoại giáo. Chúng tôi xin nói lại một lần na là ch Hindu ngày nay là để chỉ cho Bàlamon giáo ngày xưa, ngày xưa chúng ta gọi là Balamon giáo và ngày nay chúng ta gọi là Hindu, và Hindi là tiếng nói được dùng cho Ấn Giáo nhưng Hindi cũng là ngôn ng dùng cho cả nước Ấn Độ và do vậy khi chúng ta dùng là Ấn Độ thì chúng ta dùng ch Hindu là Ấn Giáo và Hindi là Ấn ng và Hindustan là nhng người theo đạo Hindu là t mà trong Anh ng cũng nhưng trong tiếng địa phương họ cũng sài như vậy.
Vậy thì khi chúng ta tr lại câu chuyện chúng ta biết ch Hindu là hậu thân của Balamon giáo tôn giáo hay đương đại là Balamon giáo thì chúng ta đi vào một câu hỏi khác đó là Balamon giáo dạy điều gì? Trước khi nói về Balamon giáo dạy điều gì chúng ta nói về ba đặc điểm của Bàlamon giáo khiến cho đạo giáo này không giống bất c tôn giáo nào khác trên thế gii ngoại tr một vài điểm nhỏ.
1.) Th nhất là Bàlamon giáo không có vị giáo chủ khai đạo, trong trường hp của Đạo Phật thì chúng ta nói đến Đức Phật một vị Đạo Sư của chúng ta ra đời cách đây 2500 năm, trong trường hp Khổng Giáo chúng ta nói đến Đức Khổng T, hay là trường hp của Ky Tô Giáo thì có Chúa Jesu, hay tối thiểu như Do Thái Giáo thì họ cũng nói đến thủy tổ của lòai người như là Abraham hay ông Jacob, Hồi giáo thì chúng ta nói giáo chủ Muhammad, riêng trường hp của Ấn Giáo thì không ai biết được, không ai nói, và không hề có một vị giáo chủ đầu tiên. Do vậy trong Ấn Giáo họ thường nói đến nhng vị Guru còn được biết là nhng vị đạo sư hay là bậc chân sư là nhng người thc hành Ấn Giáo trong nhiều thế hệ, là người có s trường gì đó, do đó ngày nay trong tiếng Anh ch Guru là chỉ cho một Expert một chuyên gia là bậc thầy để dạy về điều gì đó thì gọi là Guru, và nhng bậc Guru này tu đến trình độ cao họ gọi là nhng Sadhu ví dụ như trong lịch s Ấn Độ có 80 vị Sadhu ảnh hưởng ln như Narayan và một số nhng vị Sadhu khác. Thì đặc điểu đầu tiên của Ấn Giáo là họ không có vị giáo chủ khai sơ vị giáo chủ khi đầu.
2.) Đặc điểm th hai của Balamon giáo là họ không có một s bt đầu của lịch s, nhng tập kinh Vệ Đà mà chúng ta được biết ngày nay theo các nhà nhân chủ học ước tính tại vì họ da ng Pháp, họ da trên nhng câu chuyện huyền thoại đọc trong kinh Vệ Đà thì họ ước chng có t 4 cho đến 5000 năm, nhưng trong kinh Bổn Sanh của Đạo Phật thì có một số ghi nhận có lẽ là kinh Vệ Đà còn xưa hơn na, xưa hơn có nghĩa là nhiều ngàn năm trước khi Đức Phật ra đời vì tiền thân của Ngài đã tng sanh trong nhng gia đình Balamon thông hiểu kinh Vệ Đà, và như vậy kinh Vệ Đà có rất lâu. Chúng ta được biết như là nhng tập Mahabrarata hay tập Upanisad là Áo Nghĩa Thư thì nhng tập thánh thi này đã nói lên nguồn gốc khi đầu của Ấn Độ t thần Rama xuống trần rồi có nhng cuộc tình vi nàng Sita (Radhà) và có nhiều huyền thoại khác, nó tương t như chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ. Nhng câu chuyện trong Rig Véda thì nói nhiều về sáng thế ký nói nhiều về s khi thủy của Ấn Độ, điều đó đã được chấp nhận thọ trì rất lâu. Thi Đức Thế Tôn ra đời cách đây 25 thế kỷ thì Bàlamon giáo đã có một hệ thống kinh điển hoàn chỉnh, ví dụ qúi vị nghe đến nhng Balamon như Balamon Bramadu, Balamon Bramaya là nhng người thông hiểu tam Vệ Đà tc là trước khi Đức Phật ra đời thì Balamon giáo đã có một hệ thống kinh điển cố định ch không phải là một tôn giáo có tánh cách phôi thai.
3.) Đặc điểm th ba của Balamon Giáo thì giống đạo Do Thái một chút, giống Do Thái về điểm là gng liền vi sc tộc, nói rõ hơn Balamon Giáo là một đạo giáo nói thì rất rộng ln nhưng gng liền vi bốn giai cấp của xã hội Ấn Độ. Nhng giai cấp Thượng Đế sanh ra đời thì có giai cấp Balamon, giai cấp Sát Đế Lỵ, giai cấp Vệ Xá, và giai cấp Thủ đà la. Giai cấp Balamon là giai cấp giáo sĩ, giai cấp Sát Đế Lỵ là giai cấp vua chúa hay chiến sĩ, giai cấp Vệ Xá là giai cấp thương gia người điều hành nguồn máy kinh tế, giai cấp Thủ Đà La là giai cấp nô lệ. Thì cả bốn giai cấp này đều có một giai tầng gng liền vi xã hội và có đặc tình nền văn hóa Ấn. Có nghĩa là nhng gì mà Balamon Giáo nói về bốn giai cấp này và đem ra cho nhng nền văn hóa khác như Âu Châu hay Việt Nam hay Trung Hoa thì không trúng vào đâu hết, tại vì quan niệm về giai cấp nó gng liền vi đạo giáo và quan niệm về giai cấp gng liền vi xã hội Ấn Độ. Dĩ nhiên có một số nhng trường phái của Balamon Giáo được truyền ra x khác, thí dụ như trong trường hợp Hari Krisna chẳng hạn thì họ nói nhưng mà họ nói cách miễn cưỡng khi nó vượt qua khỏi biên gii đđi sang nhng văn hóa khác. Chúng ta thấy tương t như là nếu qúi vị đọc Tân Ước thì li dạy của chúa Jesu có tánh cách là vượt ngoài ranh phận của người Do Thái, nhưng đọc Cưu Ước thì thật s là hầu như thế gii này được sáng tạo ra và điều đó gng liền vi người Do Thái, gng liền vi đất nước Do Thái, và đất nước do Thái là vùng đất ha và dân tộc Do Thái là dân tộc được Chúa la chọn, thí du như vậy. Và như vậy đạo giáo gng liền vi một chủng tộc, và điều này có sc mạnh của vị ngã nhưng đồng thi nó bị hạn hẹp trong một chủng tộc, trong quốc độ một số người, đó cũng là trường hp của Balamon giáo.
Quan niệm về bốn giai cấp không đi ra khỏi biên gii của Ấn Độ và sang các quốc gia khác được. Người Ấn Độ họ gọi nhân loại bng ch manussa, ch manussa bt đầu bng ch manu, manu tc là bộ luật manu nói về luật mà con người phải sống theo thiên khải như thế nào, tc là ví dụ Thượng Đế sanh ra cho con người làm nô lệ thì con người phải làm nô lệ, sanh ra con người làm vua thì phải làm vua, như trong chuyện Kiều cụ Nguyễn Du nói là:
"Mi hay muôn sự tại trời.
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần.
Cho thanh cao mới được phần thanh cao."
Tc là nói rng nhng người cuộc sống trong xã hội này bất kể đó là s bất công, s dĩ biệt gia giàu nghèo sang hèn, gia người may mn bất hạnh tất cả đều do định mệnh an bày. Chúng ta lấy một thí dụ là người Ấn Độ họ quan niệm một người chết đi dù đó là ông thủ tướng hay là một vị vua hay bất c ai một nhân vật quan trọng nào thì khi đặt lên dàn hỏa thì người châm la phải là người quét đường, họ đi tìm một người nào đó chuyên môn quét đường chuyên môn dọn dẹp đến châm la, tại vì sao, tại vì Thượng Đế đã an bày cho người có trách nhiệm dọn dẹp là dọn dẹp thế gian này. Do vậy quan niệm Thượng Đế gng chc vào trong lòng người, chưa có một đất nước nào mà nô lệ hóa con người bng tôn giáo như là Ấn Độ, người Ấn Độ mà thuộc giai cấp hạ tiện mà ngày nay chúng ta gọi là untouchable, cấp cùng đinh thì họ sanh ra trong giai cấp hạ tiện và họ bng lòng vi số phận của họ bi vì người ta nói rng Thượng Đế đã cho họ như vậy, Thượng Đế đã dành cho họ một chỗ đứng gia xã hội loài người là như vậy. Và do vậy Phật t nghe nói rng có nhng người theo li kêu gọi của bác sĩ Ambedkar cải đạo là t bỏ Ấn Giáo tr về vi Đạo Phật, tại vì đạo Phật không nói đến giai cấp, năm nào cũng vậy có cả mấy chục ngàn người t Ấn Giáo sang đạo Phật là bi vì họ Ấn Giáo họ không thoát khỏi giai cấp của họ, và điều đó cũng giải thích tại sao người Hồi Giáo rất thành công khi họ đặt chân đến Ấn Độ, họ xóa bỏ giai cấp và họ kéo theo một số người không chịu nổi cái quan niệm về giai cấp, cái quan niệm về số phận an bày của Ấn Giáo.
Nói như vậy không có nghĩa là Ấn Giáo là một tôn giáo quan niệm về thần ngã, thần học hi ht, thật ra thì Ấn Giáo có quan niệm về thần ngã rất là tinh vi, tinh vi bậc nhất trong nhng tôn giáo nói về thần ngã tc là th phượng Thượng Đế. Người Ấn Giáo họ cho rng có ba vị Phạm Thiên, ba vị Phạm Thiên này là ba vị Thượng Đế, là ba vị chủ trì đại cuộc của thế gii tc là vận chuyển máy huyền cơ của thế gii này.

Vị đầu tiên là Thượng Đế Bràhma. Thượng Đế Bràhma tc là Thượng Đế sáng tạo, Ngài là người đã tạo ra núi non cây cỏ con người muôn vật thượng cầm hạ thú, đã tạo ra cả thế gii mà chúng ta được biết, Ngài là Thượng Đế sáng tạo Brāhma.
Thượng Đế th hai là Thượng Đế Vishnu là Thượng Đế duy trì, Ngài hóa hiện trong nhiều hình thc, thí dụ như tại sao người Ấn Độ th bò, tại vì họ cho rng bò cũng là một hóa thân của Thượng Đế Vishnu mang lại sa mang lại phân mang lại s sống của con người. Và Thượng Đế Vishnu là Thượng Đế duy trì nhng gì cần phải duy trì trên thế gian này.
Thượng Đế th ba là Thượng Đế Shiva là Thượng Đế hủy diệt tc là cái gì không cần thì hủy diệt đi. Nếu Thượng Đế Shiva nổi giận thì Ngài cũng có thể hủy diệt nhng điều gì chúng ta không tưởng tượng được ví dụ như sóng thần (tsunami), bão (Hurricane), bão tố phong ba v.v... là do Thượng Đế Shiva làm ra.
Thật ra người Ấn Độ quan niệm rng có ba vị Thượng Đế: Thượng Đế Bràhma - Thượng đế sáng tạo là thuần tịnh, Thượng đế Vishnu là người có lòng đầy bi mẫn, và Thượng đế Shiva được xem là người có khả năng hủy diệt. Giống như quan niệm mà chúng ta gọi là tam đầu chế.
Thì thật ra quan niệm này rất thú vị, bi vì thưa qúi vị là một trận bão như trận bão Andrew thổi vào Florida hay bão Katrina thổi vào in New Orleans, Louisiana, thì nhng trận bão đó làm xập nhng ngôi nhà th mang lại bao nhiêu s tổn thất về nhân mạng tài sản, rồi người ta tụ lại nhng ngôi nhà th đổ nát để cám ơn Thượng Đế đã cho họ sống sót. Nhưng mà điều đó đối vi nhng người khác rất là mỉa mai tại vì nếu trận bão là do Thượng Đế tạo nên thì đáng lẽ Thượng Đế đáng nguyền rủa ch sao lại làm lễ cảm ơn Thượng Đế đã cho mình sống sót và giết đi nhng người khác làm hư hại tài sản của nhng người khác, thì thật s là s cảm ơn Thượng Đế khi Thượng Đế mà một lúc va tạo ra tai ương hoạn nạn cho loài người mà loài người lại cảm ơn Thượng Đế vì Thượng Đế đã tha mạng cho mình, thì việc đó nó không ổn. Có lẽ t điều này nên chi người Ấn Độ giáo họ quan niệm không phải chỉ có một Thượng Đế mà có đến ba Thượng Đế, và li cầu nguyện như vầy là: Cầu nguyện Thượng Đế Bràhma sáng tạo nhng điều tốt đẹp cho cuộc sống, Thượng Đế Bràhma đã tạo ra trăng, đã tạo ra sao, tạo ra sông núi tạo ra cảnh trí hu tình tạo ra s sống, thì xin cầu nguyện Thượng Đế Vishnu duy trì nhng điều tốt đẹp và cũng xin cầu nguyện Thượng Đế Shiva lấy đi nhng th không tốt đẹp của đời sống, nói chung là có cân bng quyền lc, có chi có thu, có tạo nên thì cũng có hủy diệt nhưng trách nhiệm không hoàn toàn một người. Khi cơn bão đến thì người ta hiểu là cơn thịnh nộ của Thượng Đế Shiva và không ai trách Thượng Đế Vishnu, không ai trách Thượng Đế Bràhma, tại vì mỗi người có vai trò riêng, mỗi một vị chủ thể có một trách nhiệm riêng.
thật ra thì vào thế kỷ 5 trong kinh Phật có bộ kinh ra đời là kinh Hoa Nghiêm cũng có một quan niệm gần giống như vậy nhưng mang tánh Phật nhiều hơn, chúng ta gọi là trong thế gii này có ba th năng lc, trong kinh Hoa Nghiêm nói là:
Quang minh lc tc là lc của Chư Phật.
Thần lc tc là lc của chư thiện thần hộ pháp lc của các vị thiên.
Sau cùng là nghiệp lc là lc của chúng sanh.
Kinh Hoa Nghiêm nói về thế gii Hoa Tạng, nói về lăng kính trùng trùng thì trong đó nói rng nhng yếu tố này hỗn hp vi nhau, có quang minh lc, có thần lc rồi có nghiệp lc. Thật ra thì khái niệm này cũng mc độ nào đó nói lên là thế gii đa phần ch không phải là thế gii nhất nguyên và thế gii này có ảnh hưởng vi nhiều lý do khác nhau thì điều đó vốn đã có mt trong Ấn Giáo t lâu.
Chúng ta nói đến một quan niệm th hai của Ấn Giáo và quan niệm này kể ra cũng rất xa lạ vi người Tây Phương, quan niệm đó là quan niệm về một thế gii bất nhị, thế gii bất nhị là quan niệm chúng ta gọi là nền tảng căn bản của Bà la môn giáo. Nhiều Phật t khi nói về thế gii bất nhị thì chúng ta nghĩ rng đó là một triết lý của Đạo Phật. Nhưng thế gii bất nhị thật ra bt nguồn t giáo thuyết mà chúng ta có thể khng định rng đó là giáo thuyết căn bản nhất của Balamon giáo.
Bi vì họ nói như vầy; s dĩ mình thấy có một người đẹp là tại vì có nhng người khác xấu, nếu không có nhng người xấu thì không thấy được người đẹp, s dĩ chúng ta thấy có ban ngày là tại vì chúng ta có ban đêm, nếu không có ban đêm thì không có ban ngày, như câu nói là "Thùy l trư dương tàn tịch bộ, tất dung vạn s thế đô hôi" tc là nếu chúng ta hiểu được là có ánh sáng ban ngày mi có bóng đêm thì chúng ta có thể bao dung cả thế gii này. Thì trong giáo lý bất nhị nói rng s dĩ có điều tốt là tại vì có điều xấu, cái tốt cái xấu chỉ là hai mt của đồng tiền, ví dụ như qúi vị là một người đẹp mà qúi vị chung vi tất cả mọi người cùng đẹp thì người ta thấy qúi vị không còn đẹp na mà thấy qúi vị rất là bình thường, nhưng mà qúi vị là người trung bình thôi nhưng qúi vị trong nhng người đen đúa nhng người xấu thì người ta sẽ thấy cảm thấy qúi vị đẹp, cũng như có người nói " trong x mù thì người chột là vua. "
Thì đây khi người ta đề cập đến thế gii bất nhị thì họ nói rng tất cả nhng quan niệm về tốt xấu, hay d, ngày đêm sáng tối, âm dương, nó đều là hai mt của đồng tiền, thấy nó là hai nhưng nó là một. Bây gi họ lấy ví dụ là họ giải thích Đức Phật Ngài ra đời có Đề Bà Đạt Đa là một vị đệ t đại nghịch bất đạo, thì có Đề Bà Đạt Đa thì hình ảnh của Đức Phật mi nổi bậc lên do đó Đề Bà Đạt Đa ra đời đđóng vai trò làm cho nổi bậc của hình ảnh của Đức Phật. Vì vậy nói cho cùng thì không có chuyện tốt xấu mà chỉ có người nào đóng vai đó thôi. Như trong một tuồng kịch chúng ta thường xem kịch thấy có nhng người đóng vai chánh là nhng người đóng vai trung thần, có nhng người đóng vai nịnh thần, nhưng nh có vai nịnh thần họ diễn rất xuất sc rất nhập vai mà chúng ta lại cảm thấy rất là thích thú đối vi vai trung thần, nhưng nếu không có nịnh thần thì không có trung thần. Nói cho cùng thì không ai tốt xấu hết mà vấn đề là diễn xuất có nhập vai hay không, đôi lúc chúng ta ghét một người nào đó tại vì họ đóng vai ác nhưng chúng ta càng ghét họ thì chng tỏ họ đóng vai đó rất là thành công. Thì nói chung trong quan niệm về giáo thuyết bất nhị thì nói rng tất cả nhng cái xấu tốt, sáng tối nó là hai mt của đồng tiền và nó không có chuyện gì khác nhau nó chỉ là câu chuyện của vai trò thôi, vai nào mà làm xuất sc vai đó thì nó cho chúng ta một phản cảm khác nhau.
Thật ra thì về sau này trong Phật giáo Đại Tha có quan niệm là Niết-bàn và sinh t không có khác, mà Niết-bàn và sinh t vốn là một. Hay là qúi vị nghe nói về nhng điều gọi là nhất thể tc là cho dù mọi th trong cuộc đời này đều là vạn pháp uy nguyên rồi đi về nhất thể hết, nó không có chuyện cao thấp tốt xấu v.v... thì giáo lý bất nhị nó đã làm cơ s rất quan trọng cho tất cả tính lý của người Ấn Độ tại đây, tính lý đó dẫn đến một thái độ rất bao dung nghĩa là cái gì mình cũng có thể chấp nhận được, nhưng nếu chấp nhận nhiều quá thành ra thụ động, chúng tôi lấy thí dụ là trong xã hội Ấn Độ tại sao có nhng chuyện là ai muốn sao cũng được, mỗi người tu kiểu nào cũng được làm kiểu nào cũng được và có thể nói là xã hội này t do trên phương diện nào đó được chấp nhận nhiều hơn nơi khác, tại vì sao, tại vì người ta tin rng cuối cùng thì đường nào cũng đến La Mã nhưng mà mỗi người có mỗi kiểu mỗi cách khác nhau thôi, do đó điểm th nhất là chúng ta nói rng thế gii bất nhị là nền tảng của Bà la môn giáo.
Điều th hai là một điều ảnh hưởng đến Đạo Phật rất nhiều, Đạo Phật phát triển về sau này là s thị hiện tc là s hiển bày, nghĩa là bày vẽ cho thấy vậy thôi ch thật s không có thật. Ví dụ, thần Vishnu hiện ra làm rn, hiện ra làm khỉ, hiện ra làm bò thì thật ra bò rn khỉ chỉ là phương tiện để phụng sđể cảnh báo loài người cảnh báo thế gian này thôi và điều đó chỉ là phương tiện ch nó không có ý nghĩa gì ngoài phương tiện đó. Dĩ nhiên là cái này chúng ta gọi là hiển bày tc là cho thấy như vậy thôi ch không phải là một cái gì thật.
Điểm này về sau cũng có trong Đạo Phật, chúng tôi lấy ví dụ là bên truyền thống Phật Giáo trong Tam Tạng kinh điển Pali thì Đức Thế Tôn Ngài đi bộ, Đức Thế Tôn Ngài có nhng lúc bị bịnh, trong truyền thống Pali cũng nói rng Đức Thế Tôn có một giai đọan Ngài thành đạo dưới cội Bồ Đề và trước khi Ngài thành đạo Ngài còn là vị Bồ Tát thì Ngài cũng có gia đình có v có con. Nhưng mà rồi cũng có quan niệm cho rng Đức Thế Tôn đã thành đạo trong vô lượng kiếp tc là trước khi Ngài ra đời Ngài đã thành Phật rồi, trước khi Ngài thành đaọ dưới cội Bồ Đề Ngài cũng đã thành Phật rồi và trong câu chuyện Ngài là Thái TĐạt Đa Ngài có gia đình Ngài có v có con v.v... chỉ là s thị hiện hiển bày cho người đời sau thấy chỉ là phương tiện thôi ch thật ra thì chuyện đó không có ý nghĩa gì thật s hết. Về điểm này đưa chúng ta đến một cảm giác khác nhau. Giả s như tất cả nhng s kiện liên quan đến cuộc đời của Đức Phật mà chỉ là một s thị hiện thôi nghĩa là vì phương tiện hiển bày cho thấy thôi thì chúng ta không tìm thấy ý nghĩa vĩ đại. Thí dụ như chuyện Ngài t bỏ thành Ca Tỳ La Vệ ra đi bất qúa chỉ là một vai trò mà Ngài bày cho người ta thấy thôi ch không thật s là một đại nguyện là một s khước tđại.
Nói chung đó là trong Balamon giáo quan niệm thị hiện là quan niệm rất rộng ln, do vậy người Ấn Giáo họ th đủ th hết, họ th đất đá, th la, th mt tri, th rn, th bò, th khỉ. Thì quan niệm này nhiều người nghĩ rng Ấn Giáo là một tôn giáo đa thần, đủ th niềm tin đều có thể đem vào trong Ấn Giáo hết, thật s thì họ bt nguồn t một th là tất cả đều do biến hiện của Thượng Đế. Chính vì điểm này thì người Ấn Giáo lại có rất nhiều nghi lễ, nhng nghi lễ đó gng liền trong đời sống của người Ấn Giáo tại đây, người Balamon giáo thì hầu như mỗi ngày họ đều có lễ Vucha tc là lễ cúng thần linh và một năm như vậy họ có rất nhiều ngày nghĩ lễ. Có thể nói rng vô số s th cúng của người Ấn Giáo bt nguồn t hình ảnh là làm sao để hội nhập vi Thượng Đế và tr về vi Thượng Đế.
Khi chúng ta nói đến Ấn Giáo thì chúng ta cũng nói đến một đại nguyện khác mà có lẽ về điều này ít có đạo giáo nào giống như họ đó là s tr về vi đại ngã. Trong Ấn Giáo quan niệm rng Thượng Đế là một đại ngã và chúng ta mỗi người là một tiểu ngã là một cái linh căn, linh căn đó tách ri khỏi đại ngã và trôi dạt trong cõi trần này và muốn tr về vi Thượng Đế là con người phải bỏ tất cả và kể cả s tu khổ hạnh, có nhiều pháp khổ hạnh mà chúng ta không thể tưởng tượng được là khổ hạnh như thế nào, nhưng con người bỏ tất cả thì sẽ tr về vi Thượng Đế, phương pháp đó cũng ảnh hưởng rất nhiều.
Nói về hình thc thì Ấn Giáo có hình thc rất đa dạng nhiều màu sc và một đặc điểm trong Ấn Giáo tc là nhng thánh thi, qúi vị nào đã đọc Chỉ Tôn Ca (Bhagavadgìtà) thì cũng hiểu được là đó là một trường thi có cả mấy mươi ngàn câu thơ và viết liên tục do đó cái thể gọi là ca vịnh thường được ngâm nga trong các buổi lễ nhưđể ca tụng Thượng Đế v.v... Nhiều màu sc thi ca và thế gii của Hindu thật s là thế gii rất vui vẻ. Có nhiều Phật t hỏi tại sao m TV Ấn Độ ra thì thấy họ vũ họ ca như vậy, thật ra thì trong giáo điển của Vệ Đà diễn tả đời sống của Chư Thiên là đời sống rất là hỉ lạc, Chư Thiên không phải đi làm như chúng ta, Chư Thiên sống phô diễn s vui vẻ s hỉ lạc trong lòng bng nhng điệu vũ li ca, do vậy để sống gần vi Chư Thiên loài người cũng có nhng vũ điệu bài hát. Do vậy trên một hình thc nào mà chúng ta nhìn thấy thì người Ấn Độ họ có một đạo rất chú trọng nhiều về lễ nhạc vũ điệu . Một nhánh của Ấn Giáo là Hari Krisna rất thu hút người Tây Phương, thu hút người da trng là bi vì đối vi họ con đường đến vi Thượng Đế là sống như Thượng Đế do đó ngoài nhng bài hát nhng điệu vũ thì họ làm sao cho con người sống được vui vẻ và do vậy có một hấp lc rất ln đối vi nhng người Tây Phương. Dĩ nhiên chúng ta nói rng ba thập niên về trước ngày nay thì Hari Krisna không còn mạnh như ban đầu, nhưng thi Hari Krisna mi tràn qua Hoa Kỳ nó đã tr thành một hiện tượng.

Trang nhà thân hữu, tự viện ủng hộ lập trường của GHPGVNTNHN-HK, VPII VHĐ - Truyền thống

Trang nhà thân hữu, tự viện ủng hộ lập trường của GHPGVNTNHN-HK, VPII VHĐ - Truyền thống


  • An Lạc Phụng Sự - Hội đoàn Phật tử

  • Bảo Vệ Chánh Pháp

  • - Cư Sĩ Phật Tử
  • Chùa Huyền Quang - Hoa Kỳ -  Dallas Texas - Ni Sư Thích Nữ Như Tâm Trụ Trì - Địa chỉ: 2782 S. FM1138 – Royse City, TX 75189


  • Chùa Bửu Môn - Hoa Kỳ - HT Huyền Việt trụ trì

  • Chùa Điều Ngự - Hoa Kỳ - T.T Thích Viên Lý Trụ Trì

  • Chùa Diệu Pháp - Hoa Kỳ - TT Viên Lý trụ trì

  • Chùa Khuông Việt - Na Uy - HT Thích Trí Minh trụ trì

  • Chuà Như Lai - Hoa Kỳ - HT Chánh Lạc trụ trì

  • Chùa Pháp Luân - Hoa Kỳ - TT Giác Đẳng trụ trì

  • Chùa Pháp Vân - Hoa Kỳ - HT Chơn Trí trụ trì

  • Chùa Phật Pháp - Hoa Kỳ - Đại Đức Thích Trí Tịnh trụ trì

  • Chùa Thích Ca Đa Bảo - Hoa Kỳ - HT Trí Lãng trụ trì

  • Ban Đại Diện Miền Thiện Luật - Chánh đại diện TT Thích Giác Đẳng

  • Dương Tiêu - Classical Guitarist

  • Hoàng Hoa - Nữ Ca Nhạc Sĩ Classical Guitar

  • Justice For Việt Nam ( Firefox, Netscape - Opera - Chrome Only - Won't Run on Internet Explorer)

  • Lịch Sử Việt Nam - Truyen Audio Lich Su Viet Nam - Huyen Thoai - Bao Phan

  • Liên Khuôn Phật Học - Cư Sĩ Phật Tử

  • Lý Tưởng - Tự Do - Hy Vọng - Công Lý - Hành Động Cho Việt Nam Dân Chủ

  • Niệm Phật Đường Huyền Quang - Sacramento California Hoa Kỳ

  • Phi Long Thích Viên Giác - Nhạc Sĩ Kiêm Tu Sĩ Phi Long Với Nhiều Bản Nhạc Phật Giáo Nổi Tiếng

  • Suối Từ Bi - Chương Trình Phát Thanh Chùa Pháp Luân - Houston - Texas - Hoa Kỳ (Mai Đào Từ Hạnh Và Nguyên Tịnh Nguyễn Phúc Bảo Phán Đảm Trách)

  • Thanh Niên Cờ Vàng

  • Thảo Luận Phật Pháp Trang Nhà Với Nhiều Băng Giảng Và Truyện Phật Giáo

  • Tiếng Nói Áo Lam - Gia Đình Phật Tử

  • Trần Chí Phúc - Nhạc Đấu Tranh - Nhạc Sĩ Trần Chí Phúc

  • Trần Trung Đạo - Thơ Văn Chính Trị Bình Luận - Nhà Thơ Văn Trần Trung Đạo

  • Tự Viện Audio : Nơi Chứa Đựng Audio Phật Pháp

  • Tu viện Bảo Pháp - Hoa Kỳ - HT  Viên Thành trụ trì


  • Quê Mẹ -Pháp Quốc - Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế

  • Vung Gươm Trí Tuệ Blog Spot - Tin Tức Phật Giáo Thế Giới Do Dương Tiêu Dịch


  • THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 4.5.2010

    Phật tử Huế lên tiếng phản biện sự vu cáo của ông Liên Thành
    qua bài viết “Sự thật về ông Thích Đôn Hậu”
    PARIS, ngày 4.5.2010 (PTTPGQT) - Hôm nay là ngày húy nhật thứ 18 của Đức cố Đệ Tam Tăng thống Thích Đôn Hậu, Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế nhận được bài viết của Huynh trưởng Lê Công Cầu gửi từ Huế sang : “Thư ngỏ gửi ông Liên Thành về bài viết “Sự thật về ông Thích Đôn Hậu”.
    Từ ngày Đức cố đệ tam Tăng Thống Thích Đôn Hậu viên tịch tại Huế tháng 4 năm 1992, Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế đã có nhiều bài viết về hành trạng Ngài, một bậc Cao tăng Phật giáo suốt đời vì Đạo vì Dân. Biến cố năm Mậu Thân ngài bị Cộng sản bắt đi khi ngài đang bị xuất huyết dạ dày là điều ai cũng biết. Đưa lên rừng, cộng sản uy hiếp ngài ra Hà Nội để mong “tôn giáo vận” khối quân chúng Phật giáo Huế chống Cộng, không ai không rõ kế sách “điệu hổ ly sơn” này. Sau năm 1975, trở về Nam, ngài tuyên bố rõ rệt lập trường dân tộc của Phật giáo nhằm tố cáo sự vi phạm nhân quyền và đàn áp tôn giáo của nhà cầm quyền Hà Nội. Một con người minh bạch và cương dũng như thế, mà nay có những kẻ kết án ngài là “cộng sản” thì hẳn nhiên không còn là sự vu hãm vì vô minh hay thành kiến nữa, mà ắt có chủ trương gây chia rẽ tôn giáo và phân hóa cộng đồng dân tộc nhằm phá vỡ thế kết liên cho công cuộc giải trừ Quốc nạn.
    Chúng tôi xin đăng tải nguyên văn Thư ngỏ của Huynh trưởng Lê Công Cầu sau đây :
    PHẬT TỬ MIỀN TRUNG LÊN TIẾNG :
    THƯ NGỎ GỬI ÔNG LIÊN THÀNH
    VỀ BÀI VIẾT “SỰ THẬT VỀ ÔNG THÍCH ĐÔN HẬU”
    Lê Công Cầu
    Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử Việt Nam
    154 Phan Bội Châu - Huế
     
    Kính gởi : Ông Liên Thành
    Nguyên Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Thừa Thiên.
    Tác giả cuốn sách “Biến Động Miền Trung”.
    Thưa Ông Liên Thành.
    Tôi nhớ rất rõ niên khóa 1969-1970 tôi vào học tại trường Đại Học Luật Khoa Huế, thì Liên Thành cũng đến học tại trường nầy. Vài sinh viên xì xào chuyện Ông Trưởng Ty Cảnh Sát đi học luật thì được thầy Hồ Khuê, Thư Ký Đại Học Đường, giải thích rằng Ông Liên Thành đi học năng lực luật tức là học cho biết luật để làm việc chứ không phải học cử nhân luật vì Liên Thành chưa có bằng tú tài. Tôi thật sự giật mình, giật mình vì những chức vụ trọng yếu của chính quyền mà giao vào tay những kẻ thiếu học chỉ dựa vào thế lực đảng phái để tiến thân thì sẽ là một thảm họa cho đất nước và thảm họa đã đến năm 1975 chứng minh rất đúng cho điều tôi suy nghĩ.
    Sau bao năm chìm dần vào quên lãng thì đầu năm 2008 tôi đọc được sách “Biến Động Miền Trung” do Liên Thành viết được phổ biến trên các diễn đàn điện tử.
    Sự ra đời của “Biến Động Miền Trung” trùng hợp vào thời điểm Hội Đồng Lưỡng Viện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra Tuyên Cáo lên án Trung Cọng xâm lược 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, đồng thời lên án Đảng Cọng Sản Việt Nam đồng lõa với Trung Cọng qua Công hàm bán nước của ông Phạm văn Đồng ký năm 1958.
    Sự trùng hợp nầy buộc lòng tôi phải đi đến hai suy nghĩ :
    1/. Tại Quốc Nội : 35 năm dưới chế độ độc tài toàn trị, Đảng Cọng Sản Việt Nam đã tước đoạt hoàn toàn mọi quyền tự do của con người, bán đứng biên cương, hải đảo của tổ quốc, dâng hiến cho ngoại bang tài nguyên đất nước và phế bỏ nền đạo lý dân tộc. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã công khai lên án chế độ Cọng Sản phi nhân và mở đầu công cuộc vận động giải trừ Quốc nạn nên đảng Cọng Sản đã tìm mọi cách để tiêu diệt thẳng tay hòng dập tắt phong trào đấu tranh cho dân chủ mà Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là lá cờ đầu.
    Nội dung cuốn “Biến Động Miền Trung” của Liên Thành đã Cọng Sản Hóa các phong trào đấu tranh của Phật Giáo, vu cáo các cuộc đấu tranh năm 1963, 1966 của Phật Giáo đều do Cọng Sản tổ chức và điều khiển, vu cáo các cấp lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất hoạt động cho Cọng Sản nhằm “phá rối” chính thể Việt Nam Cọng Hòa đưa đến thảm họa mất nước năm 1975.
    Nội dung cuốn “Biến Động Miền Trung” của Liên Thành lại còn Phật Giáo Hóa biến cố Mậu Thân, vu cáo các cấp lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là người trực tiếp chỉ huy các cuộc giết người đẫm máu và nhất là chôn sống hơn 5000 người dân vô tội vào mùa xuân 1968.
    Với tội ác do Liên Thành dựng lên như thế tất nhiên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chẳng còn được ai tin tưởng, công cuộc giải trừ Quốc nạn của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất xem như bị vô hiệu hóa.
    Cho nên Liên Thành viết “Biến Động Miền Trung” không ngoài mục đích tiếp tay với Đảng Cọng Sản Việt Nam trong việc tiêu diệt uy thế của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại quốc nội.
    2/. Tại Hải Ngoại : 35 lưu lạc xứ người, ngày nay Cộng đồng người Việt hải ngoại đã tái lập được cuộc sống ổn định. Để có cuộc sống ổn định đó, họ đã đem sinh mạng của mình để đánh đổi tự do, chấp nhận vùi thây trên biển cả, bỏ xác giữa rừng sâu chứ không chấp nhận chế độ Cọng Sản nên họ đã ra đi, ra đi với nỗi lòng oán hận Cọng Sản vì đa số họ là dân quân cán chính Việt Nam Cọng Hòa.
    Giữa lúc Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại đang ổn định và đoàn kết, tạo cơ hội cho việc yểm trợ phong trào đấu tranh dân chủ tại quốc nội thì “Biến Động Miền Trung” của Liên Thành ra đời. Với những vu cáo, bịa đặt để Cọng Sản Hóa các phong trào đấu tranh Phật Giáo và Phật Giáo Hóa biến cố Mậu Thân nhằm khơi dậy hận thù tôn giáo, đảng phái… Liên Thành đã làm phân hóa tinh thần đoàn kết của Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn
    Như vậy Liên Thành viết “Biến Động Miền Trung” không ngoài mục đích tiếp tay với Đảng Cọng Sản trong việc tiêu diệt tiềm lực đấu tranh dân chủ hóa đất nước tại hải ngoại, tíếp tay cho việc thực hiện thành công Nghị Quyết 36 của Đảng Cọng Sản Việt Nam.
    Thưa Ông Liên Thành.
    Cuộc tranh đấu của Phật Giáo năm 1963 và 1966 đã đi vào lịch sử, chính nghĩa của nó đã được cả cộng đồng dân tộc thừa nhận cho nên nó đã nằm yên trong ý thức của mỗi con người, không còn ai bàn cãi.
    Biến Cố Mậu Thân 1968 cũng vậy, nó đã đi vào lịch sử, 25 ngày đêm chiếm Huế, Cọng Sản đã giết hại trên 5000 dân lành vô tội. Mỗi người dân đều ghi khắc tội ác nầy vì đó là sự kiện lịch sử, lịch sử đã phán xét, dù Liên Thành có tìm cách chạy tội cho chính mình, chạy tội cho Cọng Sản, đổ tội lên đầu Phật Giáo thì tội ác cũng không tránh được luật nhân quả muôn đời.
    Vì thế sau khi đọc “Biến Động Miền Trung”, nhiều lần tôi muốn lên tiếng, nhưng khốn nỗi tôi đang ở Huế, ở cái nơi mà 35 năm qua quyền tự do ngôn luận của con người bị vùi dập cho nên tôi đành im lặng.
    Nhưng tôi rất vui mừng vì đã có nhiều người lên tiếng, phân tích, lên án mục tiêu đen tối của sách “Biến Động Miền Trung”, tiêu biểu là 4 văn kiện quan trọng cảnh báo Liên Thành trước một tội ác với dân tộc và tôn giáo của mình :
    1/. Về nội dung “Biến Động Miền Trung” : Ông Bảo Quốc Kiếm đã viết 37 bài “Liên Thành và Mắm Tôm”, phân tích tỷ mỷ cho độc giả thấy những dối trá, sai lầm, bịa đặt, vu cáo mà ông Liên Thành đã dựng lên để lật ngược lịch sử, hãm hại Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. 
    2/. Về ảnh hưởng của “Biến Động Miền Trung” : Ông Định Nguyên đã viết bài “Hội Luận Hay Minh Họa” phổ biến tháng 11.2009 nói thẳng chủ tâm của Liên Thành chia rẽ cộng đồng, phá hoại tiến trình đấu tranh dân chủ hiện nay.  
    3/. Vể thái độ đối với “Biến Động Miền Trung” : “Bản Lên Tiếng của Ủy Ban Phối Hợp các Chánh Đảng tại Houston” ngày 28.7.2009 là lời buộc tội trực diện đối với Liên Thành qua chủ tâm khích động hận thù tôn giáo mà bao năm qua người dân Việt Nam chân chính ai ai cũng mong muốn hàn gắn vết thương lòng.
    4/. Về trách nhiệm : Hoàng Tộc Triều Nguyễn đã chính thức ra thông báo ngày 29.9.2009 nêu rõ Liên Thành đã “tự tiện viết sách, tiếp tay phá hoại Phật Giáo Việt Nam cũng như chia rẽ phân hoá cộng đồng người Việt Hải Ngoại”. Hoàng Tộc Triều Nguyễn đã chính thức xin Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN tha lỗi.
    Chỉ chừng đó thôi cũng đã quá đủ để Liên Thành nhìn lại nhận thức và hành động của mình. Nhưng không, Liên Thành vẫn hung hăng khoác lác tổ chức hết buổi hội luân nầy đến buổi ra sách nọ với một nhóm người mẹ hát con khen vì họ thấy quyển sách “ly kỳ và hấp dẫn” đến độ che lấp hẳn sự thật mà nhóm người mù quáng kia không thể nhận ra.
    Cao điểm là ngày 18.01.2010 Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ban hành Thông Tư về các bài viết trên Mạng vu cáo hàng lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Thông tư nêu rõ : Qua bản Thông tư hôm nay Ban Chỉ đạo Viện Hoá Đạo kêu gọi chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử, đặc biệt ở hải ngoại có nhiều phương tiện thông tin, tìm kiếm tài liệu, hãy thu tập chứng liệu và tìm phương cách giải hoặc những bài viết hoặc do thiếu hiểu biết, hoặc cố tâm vu cáo Gia1o hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất theo các chủ trương tiêu diệt những sinh lực dân tộc, mà Phật giáo là một, cho những viễn đồ phi dân tộc và phản tổ quốc”.
    “Thông tư hôm nay là lần đầu tiên Giáo hội Trung ương lên tiếng, mà cũng là lần cuối cùng cất lên trước hiện trạng mạ lỵ kéo dài hàng chục năm bằng thứ ngôn ngữ khiếm nhã và lý luận hồ đồ. Không phải để đôi co mà là để phản bác những vu hãm đầy hậu ý đối với Giáo hội bấy lâu nay”.
    Như có tật giật mình, ngay lập tức Liên Thành phổ biến bài “Sự Thật về Ông Thích Đôn Hậu” để phản bác Thông Tư của Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN. Với lời lẽ xấc xược, hàm hồ, Liên Thành đã nhân danh nguyên Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên xác quyết “Ôn Đôn Hậu là Cọng Sản”, “Ôn Đôn Hậu là cơ sở Tôn Giáo Vận của Cọng Sản từ trước năm 1963” và “Ôn Đôn Hậu là thủ phạm của Biến Cố Mậu Thân 1968”. Đồng thời Liên Thành nhiều lần đem tư cách, danh dự, trách nhiệm của một nguyên Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia thách thức tranh luận đến cùng với bất cứ những ai cho rằng Ôn Đôn Hậu không phải là Cọng Sản. Và sau hết Liên Thành đem gia thế của mình ra khoe để chứng minh rằng mình không có viễn đồ phi dân tộc và phản bội tổ quốc như Viện Hóa Đạo qui kết. 
    Thưa Ông Liên Thành.
    Hôm nay, nhân ngày húy nhật lần thứ 18 của Đức cố Đệ Tam Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất : Đại Lão Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, nhân danh là một Phật Tử Huế có mặt trong suốt những ngày Tranh Đấu đưa Bàn Thờ Ra Đường 1966 và chịu nỗi kinh hoàng trong Biến Cố Mậu Thân, tôi sẽ vạch cho Ông thấy cái viễn đồ phi dân tộc và phản bội tổ quốc ngay trong bài viết “Sự Thật Về Ông Thích Đôn Hậu” mà Ông là tác giả .
    VIỄN ĐỒ PHI DÂN TỘC CỦA LIÊN THÀNH
     1/. Liên Thành viết :
    “…Đầu tiên, có thể tóm tắt thân thế và sự nghiệp của Ông Đôn Hậu như sau :
    …Năm 1963 đứng trong hàng ngũ lãnh đạo phong trào tranh đấu lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm và nền đệ nhất Cộng Hòa…”
    Thưa Liên Thành, lịch sử Phật giáo cận đại chưa bao giờ có một cuộc tranh đấu nào gọi là “tranh đấu lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm và nền đệ nhất Cọng Hòa” cả. Trong lúc cả dân tộc và thế giới đều biết cuộc tranh đấu của Phật Giáo năm 1963 nhằm đòi hỏi bình đẳng tôn giáo, hủy bỏ đạo dụ số 10, chống chính sách kỳ thị tôn giáo của chế độ gia đình trị họ Ngô. Hậu quả chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ là sự tất yếu của lịch sử do giới quân nhân và chính sách Hoa Kỳ chủ trương. Vậy mà Ông vu vạ cho Phật Giáo tranh đấu lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm và nền đệ nhất Cọng Hòa. Không phải do Ông dốt nát, thiếu hiểu biết mà do ông có ý đồ khích động lòng hận thù dân tộc. Vậy đây có phải là viễn đồ phi dân tộc không Liên Thành ?
    2/. Liên Thành viết :
    “…Cuối tháng 6 năm 1966 khi cuộc phản loạn của ông Trí Quang và đồng bọn tại miền Trung, đặc biệt tại Huế bị thất bại…”
    Thưa Liên Thành. Trước hết xin minh định với ông phản loạn là gì ? Phản loạn là những người nằm trong cùng một tổ chức, trong cùng đảng phái dùng bạo lực để chống lại lãnh đạo của họ. Phật Giáo chưa bao giờ nằm trong chính quyền, Phật Giáo chống chính quyền căn cứ trên quyền tự do dân sự của người công dân được Công ước Quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị của LHQ bảo đảm đối với một chính quyền không đáp ứng nguyện vọng của toàn dân, sao Ông cho là phản loạn ? Liên Thành ở Mỹ mấy mươi năm hẳn thường xuyên chứng kiến quyền này của người công dân Hoa Kỳ ?
    Cuộc tranh đấu 1966 mà ông gọi là Biến Động Miền Trung có chủ trương rất rõ ràng là đòi hỏi chế độ quân phiệt hiện tại phải tổ chức bầu cử một Chính Quyền Dân sự thật sự để có đủ khả năng vãn hồi hòa bình cho đất nước. Cuộc tranh đấu đã bị đàn áp khốc liệt vì người ta chụp mũ “bị Cọng Sản giựt dây”, nhưng chính nghĩa của nó không ai phủ nhận được, đó là sự ra đời của nền Đệ Nhị Cọng Hòa do ông Nguyễn Văn Thiệu làm Tổng Thống cho dù là Tổng Thống độc diễn và quân phiệt. Hơn thế nữa, những quân dân cán chính tham gia phong trào sau một thời gian bị câu lưu đều được phục hồi nguyên trạng, trở về phục vụ trong thể chế Cọng hòa, đó là sự xác nhận hùng hồn nhất của chính nghĩa đấu tranh mà cả chính quyền và nhân dân đều thừa nhận. Ông đi ngược lại quan điểm của toàn dân và ngay cả chính quyền Việt Nam Cọng Hòa mà ông đang phục vụ, cố tình vu vạ cho Phật Giáo, vậy có phải là viễn đồ phi dân tộc không ông Liên Thành ?
    3/. Liên Thành viết :
    “…Cho dù là các người này không thích chính quyền Miền Nam, nhưng họ phải chấp nhận rằng 2 chính quyền VNCH là chính quyền hợp pháp được đa số dân chúng tin nhiệm và giao phó trách nhiệm điều hành quốc gia. Dân chúng không giao quyền điều hành quốc gia cho ông Đôn Hậu, Trí Quang. Họ đã phản loạn đi rêu rao với quốc tế là chính quyền Miền Nam là chính quyền phi nghĩa. Họ đã chà đạp lên những lá phiếu của đa số dân chúng.
    “Như vậy, chiếu theo luật pháp các nước dân chủ, những người này, những kẻ gọi là phong trào Phật Giáo Tranh Đấu, mà thực chất là cộng sản lãnh đạo giật dây từ xa, cả ông Đôn Hậu Trí Quang, đã chà đạp lên kết quả 2 cuộc bầu cử, đã vi phạm luật pháp quốc gia, đã phản loạn theo địch”.
    Thưa ông Liên Thành,  
    Chính quyền của tất cả các nước dân chủ trên thế giới đều được bầu lên bằng lá phiếu hợp pháp của toàn dân. Nhưng không phải họ lên lãnh đạo đất nước là họ toàn quyền muốn làm gì thì làm, không ai được quyền phản đối. Vì thế luật pháp các nước dân chủ qui định quyền biểu tình để cho người dân bày tỏ thái độ khi chính quyền không đáp ứng nguyện vọng của người dân, cho nên tranh đấu, biểu tình là hợp pháp để tránh chế độ độc tài. Có luật pháp của nước dân chủ nào mà lạ lùng như ông dẫn thượng ? Hay ông đem luật pháp Cọng Sản Việt Nam ra để chứng minh ?
    Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, dưới chế độ độc tài toàn trị, bao nhiêu người tranh đấu cho dân chủ, bao nhiêu người biểu tình lên án Trung Quốc xâm lược đã bị Đảng Cọng Sản Việt Nam bắt bỏ tù.
    Trước đây ông đã từng là Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia, nay ông đang cư trú trên một đất nước tự do sao ông lại lý luận ngược dòng như thế. Trong khi toàn dân đang tranh đấu cho một thể chế dân chủ tự do thì ông lại buộc tội các phong trào tranh đấu Phật Giáo là chà đạp lên kết quả 2 cuộc bầu cử, là vi phạm luật pháp quốc gia, vô tình ông đã tán trợ cho chính sách đàn áp của Cọng Sản hiện nay. Đây có phải là viễn đồ phi dân tộc không Liên Thành ?
    4/. Liên Thành viết :
    “….Thưa, không dễ chối tội kiểu như vậy thưa ngài Đôn Hậu ! Ngài có thể tâm sự nói thế này thế nọ với những người không biết gì hết hầu cận quanh ngài, nhưng tôi chắc ngài không thể chạy tội trước BCH/CSQG/TT/ HUẾ…”
    Thưa Ông Liên Thành.
    Đến đây thì tôi bổ ngửa. một ông Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia mà lại lầm lẫn giữa cơ quan an ninh và cơ quan tư pháp. Cảnh Sát là an ninh, an ninh có quyền bắt người khi có nghi vấn vi phạm luật pháp. Nhưng an ninh không có quyền định tội. Cơ quan định tội là cơ quan tư pháp tức là tòa án. Ngày nay tại Việt Nam bao nhiêu người bị giam giữ mà không cần đưa ra tòa xét xử, Công An đã thay thế luật pháp định đoạt thân phận các nhà đấu tranh. Vậy Ban Chỉ huy Cảnh sát Quốc gia Thừa thiên – Huế (BCH/CSQG/TT/ HUẾ) định tội Ôn Đôn Hậu khi nào mà dám nói Ôn không thể chạy tội trước BCH/CSQG/TT/ HUẾ ? Sao giọng điệu của Liên Thành giống giọng điệu Cọng Sản thế. Có phải đây là viễn đồ phi dân tộc không Liên Thành ?
    LIÊN THÀNH NUÔI DƯỠNG CỌNG SẢN NẰM VÙNG,
    PHẢN BỘI TỔ QUỐC
     
    Trang đầu tiên của bài “Sự Thật Về Ông Thích Đôn Hậu”, Liên Thành viết :
    “…Đúng là cộng sản, tôi đi đến cùng, triệt hạ thẳng tay, bất kể đó là chùa hay nhà thờ.
    “Núp bóng thế lực chùa hay nhà thờ để tạo sức mạnh hoạt động cộng sản, gây rối trị an, hoàn toàn không có giá trị gì với tôi cả…”
    Và trong bài “Trịnh Công Sơn và những hoạt động nằm vùng” Liên Thành viết :
    “…Ông thân sinh tôi làm Cọng Sản thì tôi cũng bắt…”.
    Thế nhưng chính Liên Thành đã nuôi dưỡng Cọng Sản nằm vùng phá hoại miền Nam Việt Nam cả pháp lý lẫn tinh thần, Liên Thành có dám nhận không ?
    VỀ PHÁP LÝ :
    Liên Thành đã tạo pháp lý cho Cọng Sản nằm vùng hoạt động :
    1/. Liên Thành viết :
    “…Tôi nhớ không lầm thì đó là ngày 11/6/1966. Trời nhá nhem tối, tôi chỉ huy điệp vụ, đứng hơi xa hiện trường. Hai anh em Hoàng phủ Ngọc Tường từ nhà Chính, bên này cầu Phủ Cam, đi rất nhanh sang nhà Trịnh Công Sơn, bên kia cầu Phủ Cam. Trịnh Công Sơn đã có kế hoạch chuẩn bị trước cho hai tên này ăn cơm tối tại nhà. Sau đó, một chiếc xe hơi màu trắng đến đón Tường và Phan đi ngay.
    “Tài xế là Lê Cảnh Đạm. Hộ tống là giáo sư Tôn thất Dương Tiềm. Họ lên chùa Thiên Mụ, và sau đó đi bộ vượt Long Hồ, Ngọc Hồ, vượt nguồn tả sông Huơng đến mật khu sau núi Kim Phụng.
    “Chiếc xe hơi trắng đó là của bà Tuần Chi, tức Đào Thị Yến. Mậu Thân 1968, bà giữ chức vụ Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Huế. Vài ngày sau, đã cùng một phái đoàn đông đảo trí thức miền Nam và Thượng Tọa Thích Đôn Hậu, mà theo sự theo dõi ghi nhận của CSQG Thừa Thiên-Huế, cũng là người tình của bà, thoát ly ra Bắc. (1) 
    “Đó là lần đầu tiên mà lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế phát hiện hành động tiếp tay cộng sản của Trịnh Công Sơn”. 
    Thưa Liên Thành :
    Ông chỉ huy điệp vụ, sự kiện diễn ra trước mắt Ông và trong tầm tay của Ông, sao Ông không bắt để trừ hậu họa cho dân chúng mà Ông để họ đào thoát lên rừng để Tết Mậu Thân họ về lại Huế giết hại dân lành như Ông nói. Ông đổ tội cho ai đây khi chính Ông thả cọp về rừng. Ông có đi đến cùng triệt hạ thẳng tay như Ông nói không ? Hành động nầy có phải là hành động phản bội Tổ Quốc không Ông Liên Thành ? 
    2/. Liên Thành viết :
    “…Trịnh Công Sơn tiếp xúc với VC nằm vùng trong giới trí thức, sinh viên, đặt biệt với một cán bộ quan trọng của cơ quan Thành ủy VC. Cán bộ đó là Lê Khắc Cầm, em ruột của giáo sư Lê Khắc Phò. Y sống hợp pháp trong thành phố Huế…”
    Thưa Ông Liên Thành
    Ông biết rõ Lê Khắc Cầm là cán bộ quan trọng của cơ quan Thành Ủy VC, người chỉ huy trực tiếp Trịnh Công Sơn, sao Ông không bắt. Tôi là học trò của Thầy Lê Khắc Phò và Cô Lê Thị Liên, nên tôi hay đến thăm Thầy Cô tại ngôi nhà đường Đinh Công Tráng, thành nội Huế. Tại đây tôi thấy Lê Khắc Cầm sống ung dung cho đến ngày 30.4.75. Không những thế các cán bộ nằm vùng cọng sản mà Liên Thành đã liệt kê trong danh sách lại thường tới lui công khai với Lê Khắc Cầm. Vậy ai đã tạo điều kiện cho họ sống và hoạt động hợp pháp như Liên Thành viết ? Với chức vụ Trưởng Ty Cảnh Sát thì chỉ có Liên Thành mới có thẩm quyền đó mà thôi. Vậy ai nuôi dưỡng Cọng Sản Nằm vùng đây Liên Thành ? hành động đó có phải là phản bội Tổ Quốc không Liên Thành ?
    3/. Liên Thành không viết nhưng tôi biết : 
    Sinh Viên Huế không ai là không biết trụ sở Tổng Hội Sinh Viên số 4 đường Trương Định. Đây là nơi ăn ở và hoạt động công khai của một số cán bộ Cọng Sản nằm vùng như Phạm Thị Xuân Quế, Võ Quê, Hoàng Thị Thọ... Tại đây họ lên kế hoạch hoạt động và tiếp xúc thường xuyên với sinh viên các cấp. Tôi biết, sinh viên Huế biết, không lẽ Liên Thành không biết, biết sao không bắt ?!
    Thêm nữa, anh Trần Hoài, Chủ Tịch Sinh Viên tranh đấu Miền Trung mà Liên Thành biết rất rõ là Cọng Sản (trong bài Trịnh Công Sơn) tại sao Liên Thành không bắt mà để anh tung hoành như ở chỗ không người ? Anh tổ chức các cuộc triển lãm Tội Ác Diệt Chủng Của Đế Quốc Mỷ ngay tiền sảnh Morin mà Liên Thành không hề đụng tới. Anh sống nhởn nhơ cho đến ngày Cọng Sản Cưỡng Chiếm Miền Nam ngay trước mắt Liên Thành. Vậy thì chính Liên Thành đã nuôi dưỡng lớp cán bộ nằm vùng nầy chứ không ai khác. Đây có phải là phản bội Tổ Quốc không Liên Thành ?
    Liên Thành đã biện minh rằng : “Có người hỏi tôi tại sao không bắt, tôi trả lời nếu bắt thì chỉ được một vốn một lời, tôi muốn một vốn mười lời cơ”. Và “mười lời”của Liên Thành là cái chết khủng khiếp của trên 5000 dân Huế trong Tết Mậu Thân do bàn tay của cán bộ Cọng Sản nằm vùng được Liên Thành nuôi dưỡng tạo nên. “Mười lời” của Liên Thành là mất nước với sự đóng góp to lớn của cán bộ Cọng Sản nằm vùng, trong đó có cán bộ Cọng Sản nằm vùng tại Huế do Liên Thành nuôi dưỡng góp công.
    Hành động vừa ăn cướp vừa la làng nầy có phải là phản bội Tổ Quốc không Liên Thành ?
    VỀ TINH THẦN :
    Liên Thành tạo điều kiện cho việc đầu độc tinh thần bất khuất của Dân Tộc.
    Liên Thành viết :
    “Bài ca dao trên cồn cát, trên ngai vàng quê nhà một thời ngủ yên tuổi xanh….rồi một hôm chợt thấy hoang vu quanh mình…”
    “Đó là bài nhạc phản chiến đầu tiên của Trịnh Công Sơn. Tác phẩm này được thai nghén trong một cái lò cộng sản nằm vùng, theo ý muốn của cộng sản Hà Nôi, thì dĩ nhiên nó là con đẻ của CS. Trong khi bao nhiêu thanh niên cùng trang lứa với Trịnh Công Sơn đang cầm súng chiến đấu tất bật, thì Trịnh Công Sơn không làm gì cả. Chỉ ăn xổi ở thì, đến nỗi chợt thấy hoang vu quanh mình, nên đi làm cộng sản
    “Sau nầy Trịnh Công Sơn viết nhạc nói về cuộc chiến theo nhu cầu đấu tranh tại đô thị của đám sinh viên, trí thức, hoạt động nằm vùng. Nhu cầu đó là làm tê liệt tinh thần bất khuất truyền thống của người VN, không muốn chiến đấu, bi quan nhu nhược, ỷ lại cầu an. Nhiệm vụ của Trịnh Công Sơn là chế ra những loại thuốc độc như thế !”
    Thưa Liên Thành,
    Biết được như thế là rất tốt, nhưng Liên Thành đã làm ngược lại tất cả những gì Liên Thành nói.
    Tại Huế, nhạc Trịnh Công Sơn bùng nổ mãnh liệt trong thời gian Liên Thành làm Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia (1966-1975), không một quán cà phê nào, không một tiệm ăn nào không có Khánh Ly hát nhạc Trịnh Công Sơn. Hai rạp chiếu bóng Hưng Đạo và Tân Tân bắt loa khuếch đại nhạc Trịnh Công Sơn để quảng cáo vang dội khắp kinh thành. Với tư cách Trưởng Ty Cảnh Sát, Liên Thành có biện pháp nào ngăn chận loại thuốc độc nầy không ? hay chính Liên Thành cũng mê nhạc Trịnh Công Sơn ?
    Tôi nhớ rất rõ, ngày ấy tôi là Ủy Viên Tu Thư của Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử Thừa Thiên, Đại Úy Cảnh Sát Lê Khắc Kỷ, Trưởng Phòng An Ninh Nội Bộ của Liên Thành lại là phụ tá của tôi cho nên tôi hay đến Ty Cảnh Sát tìm anh Kỷ để bàn bạc công việc. Mỗi lần như thế hai anh em dắt nhau xuống Câu lạc bộ cảnh sát (ngay trong khuôn viên Ty Cảnh Sát) để uống nước. Tại đây nhạc Trịnh Công Sơn vẫn dìu dặt như bao nhiêu con đường phố Huế. Và cũng tại đây tôi đã gặp nhiều anh em Cảnh Sát uống cà phê nghe nhạc Trịnh mà ấn tượng nhất với tôi là Đại Úy Ngô Quí Tửu, Trưởng Phòng Cảnh Sát của Liên Thành.
    Liên Thành cứ hỏi hai Ông Đại Úy nầy (đang ở Mỹ) xem Lê Công Cầu có nói láo hay không.
    Vậy thì ai tạo điều kiện cho nhạc Trịnh Công Sơn đầu độc tinh thần bất khuất của Dân tộc đây Liên Thành ? Thậm chí Liên Thành lại còn đầu độc chính anh em Cảnh Sát của mình ngay tại Câu lạc bộ Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên Huế. Liên Thành làm sao chạy tội phản quốc đây ?
    LỊCH SƯ TÁI DIỄN
    Thưa Ông Liên Thành.
    Văn bản “Sự Thật Vể Ông Thích Đôn Hậu” của Liên Thành làm tôi thật sự đau lòng.
    Nếu Liên Thành không đem tư cách, danh dự và trách nhiệm của Nguyên Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên Huế ra thách thức thì chắc là tôi không lên tiếng làm gì.
    Nếu Liên Thành không đem tư cách, danh dự và trách nhiệm của một Phật Tử ra để buộc tội Đức cố Đệ Tam Tăng Thống thì tôi cũng chẳng cần viết thư nầy.
    Vậy Liên Thành và những người tán trợ cho sách “Biến Động Miền Trung”, những người đồng tình vu cáo Đức cố Đệ Tam Tăng Thống của chúng tôi là Cọng Sản xin hãy bình tâm suy nghĩ :
    1/. Liên Thành là Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên Huế, là một công chức cao cấp của Chính Phủ Việt Nam Cọng Hòa, nhưng Liên Thành không hề trưng dẫn được một chứng liệu nào của Việt Nam Cọng Hòa buộc tội cố Hòa Thượng Thích Đôn Hậu là Cọng Sản. Ngay tài liệu giải mật của CIA Liên Thành cũng xem như vô giá trị. Từ đầu đến cuối Liên Thành hoàn toàn căn cứ vào lời khai của những cán bộ Cọng Sản nằm vùng nhất là Trung Tá tình báo Việt Cọng Hoàng Kim Loan. Đối với Liên Thành, lời khai của những cán bộ nằm vùng nầy là chân lý lịch sử, Liên Thành đã đặt niềm tin tuyệt đối vào những lời khai nầy. Lạ lùng thay cho một Trưởng ty Cảnh sát kiêm Tình báo viên như Liên Thành lại không biết thủ thuật công an mật vụ của Cộng sản ngay cả khi chúng sa cơ “vào tay giặc”nhằm sử dụng qua lời khai gây chia rẽ nghi ngờ phía đối phương ! Đây là một sai lầm do non yếu chính trị và nghiệp vụ của Liên Thành, người xem các lời khai của Trung tá cộng sản Hoàng Kim Loan như Thánh Kinh !!
    2/. Liên Thành là sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cọng Hòa, nhưng Liên Thành cũng không hề trưng dẫn được một tài liệu nào của Quân Đội quốc gia buộc tội cố Hòa Thượng Thích Đôn Hậu là Cọng Sản. Ngay tài liệu, hồi ký của các Tướng Lãnh Việt Nam Cọng Hòa, như Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Đỗ Mậu, v.v... Liên Thành cũng lờ đi nếu không cho là vô giá trị. Liên Thành chỉ tin vào lời khai của những cán bộ Cọng Sản nằm vùng và xem những lời khai nầy là giá trị tuyệt đối.
    3/. Liên Thành nhân danh là một Phật Tử và tự xưng là người thân cận và hiểu biết Đức cố Đệ Nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết hơn ai hết. Vậy mà khi vu cáo Hòa Thượng Thích Đôn Hậu là Cọng Sản thì Liên Thành không hề căn cứ vào một tài liệu nào của GHPGVNTN do Đức Đệ Nhất Tăng Thống lãnh đạo. Liên Thành chỉ căn cứ vào lời khai của Cọng Sản nằm vùng như Hoàng Kim Loan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Đào Thị Yến, Đỗ Trung Hiếu... thậm chí còn dựa vào Tố Hữu, Nguyễn Văn Linh, Trần Bạch Đằng ra chứng minh lời vu cáo của mình là đúng. Đối với Liên Thành, lời khai của cán bộ Cọng Sản nằm vùng là tối thượng. Liên Thành tin tưởng tuyệt đối vào những lời khai nầy để khẳng định Hòa Thượng Đôn Hậu là Cọng Sản.
    Thưa Ông Liên Thành,
    Hoàng Tử Nguyễn Phúc Cảnh, con trai trưởng của Hoàng Đế Gia Long và là tổ nội 7 đời của Liên Thành được Giám Mục Bá Đa Lộc nuôi dưỡng từ khi 3 tuổi cho tới lúc trưởng thành. 17 tuổi về lại cố hương để phục vụ triều đình Nhà Nguyễn. Ngày bái yết tôn miếu xã tắc, Nguyễn Phúc Cảnh đã chỉ vào bàn thờ Thế miếu mà nói rằng đây là ma quỷ cả, ta không lạy, ta chỉ tin vào Thiên Chúa mà thôi.
    Giờ đây Liên Thành đã chỉ vào mặt Chế Độ Việt Nam Cọng Hòa, chỉ vào mặt Quân Lực Việt Nam Cọng Hòa, chỉ vào mặt Tôn Giáo của mình, Thầy Tổ của mình để nói rằng đây là giả dối, ta không tin, ta chỉ tin vào lời khai của Cọng Sản nằm vùng mà thôi.
    Hai sự kiện, hai thời điểm mà sao trùng lắp như cơn bệnh di truyền ! Lịch sử đã tái diễn phải không Liên Thành ?
    LIÊN THÀNH DỐI TRÁ
    Và sau cùng tôi vô cùng phẫn nộ khi Liên Thành viết :
    “…Cuối cùng, với trách nhiệm là một Phật Tử, tôi phải đặt đức công bằng lên trên tất cả những tai tiếng của các lãnh đạo tôn giáo của đạo mình, mà ngay chính cá nhân tôi, trong chỗ riêng tư, phần nào cũng muốn dấu bớt, vì xấu hổ…”
    Thưa Ông Liên Thành.
    Ông muốn giấu chuyện gì đây ?
    Phải chăng Ông đã giấu vai trò của Đại Đức Thích Chơn Kim, thế danh là Nguyễn Phúc Liên Phú, anh của Trưởng Ty Cảnh Sát Liên Thành. Liên Thành đã để Đại Đức Thích Chơn Kim ra ngoài sách “Biến Động Miền Trung”, không hề qui tội phản loạn hay cọng sản cho Đại Đức, trong khi Đại Đức là nhân vật cốt cán của Cuộc Tranh Đấu đưa Bàn Phật Ra Đường năm 1966.
    Trong cuộc tranh đấu nầy, Đại Đức Thích Chơn Kim là Đặc Ủy Thanh Niên của Ban Đại Diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Tỉnh Thừa Thiên, thay thế Đại Đức Thích Chánh Trực được bổ nhiệm ra Quảng Trị lãnh đạo Phong Trào Đấu Tranh.
    Với chức vụ Đặc Ủy Thanh Niên, Đại Đức Thích Chơn Kim trực tiếp chỉ đạo 6 ngành Phật Tử trực thuộc Tổng Vụ Thanh Niên gồm có :
    - Gia Đình Phật Tử Vụ
    - Học Sinh Phật Tử Vụ
    - Sinh Viên Phật Tử Vụ
    - Hướng Đạo Phật Tử Vụ.
    - Thanh Niên Phật Tử Vụ, và
    - Thanh Niên Phật Tử Thiện Chí Vụ
    Đây là lực lượng chính yếu của cuộc đấu tranh mà Đại Đức Thích Chơn Kim là người trực tiếp điều khiển. Khốn thay người trực tiếp điều khiển ấy lại là anh của Liên Thành.
    Cho nên Liên Thành đã giấu nhẹm vai trò của Đại Đức Thích Chơn Kim để dễ bề vu cáo cuộc tranh đấu 1966 là phản loạn, vu cáo các cấp lãnh đạo GHPGVNTN trong cuộc tranh đấu 1966 là Cọng Sản, vu cáo cố Hòa Thượng Thích Đôn Hậu là Cọng Sản đội lốt thầy tu, là thủ phạm của Biến Cố Mậu Thân.
    Liên Thành có chân thực không ? Chỉ một bằng chứng nầy thôi cũng đủ tố cáo sự dối trá của Liên Thành với bao nhiêu điều dối trá khác trong sách Biến Động Miền Trung.
    Hãy sám hối trước Giác linh của Đức Cố Đệ Tam Tăng Thống đi hỡi “Phật Tử” Liên Thành !
    Viết tại Cố Đô Huế,
    Nhân dịp húy nhật lần thứ 18
    của Đức Cố Đệ Tam Tăng Thống GHPGVNTN
    Phật Lịch 2553 Huế, Ngày 21 tháng 3 năm Canh Dần, 03.5.2010

    Nguyên Chánh LÊ CÔNG CẦU
    Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử Việt Nam
    Kính xin được trình lên :
    - Đức Đại Lão Hòa Thượng Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN.
    - Đức Hòa Thượng Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống GHPGVNTN
    - TT Tổng Thư Ký VHĐ kính xin chuyển đến PTT/PGQT xin phổ biến.
    - VP II Viện Hóa Đạo GHPGVNTN
    - HT Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Thanh Niên VHĐ/GHPGVNTN
    - Chư Tăng Chùa Linh Mụ Huế.
    Mọi sự lưu hành sau khi được Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế phổ biến./

    Trung Quốc và quá trình “nữ hóa” Bồ-tát Quán Thế Âm



    Vũ Điệu Thiên Thủ Quan Âm
    Vũ Điệu Thiên Thủ Quan Âm


    (ĐHSP Phúc Kiến - Trung Quốc)
    Cuối đời nhà Hán, Phật giáo được truyền vào Trung Quốc, từ một tôn giáo ngoại lai được dung hợp với nền văn hóa bản địa, hình ảnh Bồ-tát Quán Thế Âm đã nhẹ nhàng đi vào cuộc sống dân dã của người dân Trung Quốc, chính thức trở thành tín ngưỡng tôn giáo của họ. Chỉ trong một thời gian ngắn, Bồ-tát Quán Thế Âm lập tức được quần chúng sùng bái, tôn thờ. Vị trí của Ngài đã được đặt lên trên các vị thần linh khác, trở thành thần hộ mệnh của người dân Trung Quốc. Từ hình ảnh của một vị Bồ-tát lúc ban sơ đã trở thành Bồ-tát Quán Thế Âm của Trung Quốc với những nét văn hóa đặc thù riêng của họ.
    Đối với một đất nước luôn tự hào có nền văn hóa lâu đời - lấy tín ngưỡng Nho gia làm nền tảng đạo đức - thì ban đầu Quán Thế Âm được xem là vị Bồ-tát lai lịch không rõ ràng, hơn nữa còn mang nặng sắc thái mê tín, dị đoan. Nhưng, vừa truyền vào Trung Quốc, Quán Thế Âm liền được các tầng lớp xã hội nhiệt liệt tiếp nhận. Hơn một ngàn năm qua, tín ngưỡng Quán Thế Âm vẫn tồn tại mà không hề suy thoái. Căn cứ vào sử liệu và những tranh tượng Phật, Bồ-tát còn lưu lại đời Đường, Tống thì địa vị của Quán Thế Âm – vị Bồ-tát thể hiện “tha lực cứu tế”, “hiện thế lợi ích”có thể vượt qua địa vị của đức Phật; đến đời Minh, đời Thanh, thì ở Trung Quốc “gia gia A Di Đà, hộ hộ hữu Quan Âm” (Nhà nhà thờ Di Đà, hộ hộ bái Quan-Âm); cho đến ngày nay thì thậm chí có người biết Quán Thế Âm là vị Bồ-tát cứu khổ ban vui mà không biết đức Phật là ai. Tại sao một vị Bồ-tát có nguồn gốc từ Ấn Độ mà khi truyền vào Trung Quốc lại nhanh chóng được tiếp nhận như vậy? Dĩ nhiên có rất nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân chính nhìn từ góc độ ctruyền thống văn hóa của truyền thống văn hóa của Trung Quốc thì Trung hoa là đại địa sùng bái sự “sanh” mà rất sợ đề cập đến sự“chết”, thậm chí những chữ nào có phiên âm gần giống với chữ “tử” là họ cho là kỵ, không kiết tường. Người Trung Quốc tôn thờ chủ nghĩa thực dụng, không giống nền văn hóa của Tây phương, tức là họ bảo tồn đặc trưng văn hóa “lạc cảm”, cụ thể mà nói họ luôn luôn cầu sự bình an, khoái lạc, cầu mong thần linh hộ trì cho con cháu nhiều đời của họ cũng luôn bình an hạnh phúc. Khổng Tử từng nói: “Vị tri sanh, yên tri tử” (nghĩa là sanh còn chưa biết nói gì đến sự chết). Do đó, đạo Lão cũng lấy mục đích“sanh” để cầu đạo, họ ảo tưởng cho rằng thông qua tu luyện dưỡng sanh sẽ được trường sanh bất tử. Họ cho rằng: “Thiên sanh vạn vật, duy nhân vi quý” (trời sanh ra vạn vật mà chỉ có sanh mạng con người là quý nhất). Trang Tử nói: “Nhân chi sanh, khí chi tụ dã, tụ tắc vi sanh, tán tắc vi tử” (Đời sống của con người do khí tụ mà có, khi tụ thì sống mà khi tán thì chết), cho nên khi sống phải tranh thủ tận hưởng mọi khoái lạc thế gian, khi chết sẽ không cảm thấy nuối tiếc. Từ đó, dân gian của Trung Quốc có câu tục ngữ “đa tử đa quý”, “đa tử đa thọ”, hoặc “lưu đắc thanh sơn tại bất sầu một sài thiêu”,  qua đó càng chứng tỏ sự nhìn nhận về nhân sinh quan của người dân Trung Quốc. Vì vậy, khi thấy tôn giáo nào phù hợp với quan điểm của họ thì tôn giáo đó được đâm chồi, nảy lộc, đơm hoa và kết quả ngay trên mảnh đất văn hóa phì nhiêu màu mỡ này. Mà, Quán Thế Âm “ứng nhị cầu” có thể đáp ứng được mọi mong cầu của chúng sanh, cầu sanh con trai thì sanh con trai, cầu sanh con gái thì sanh con gái. Đây đúng là vị Bồ-tát đại từ, đại bi; càng vi diệu hơn nữa là không cần tu luyện công đức viên mãn mà vẫn có được phúc đức này, chỉ cần “nhất tâm xưng danh”, Bồ-tát nghe được tiếng kêu này lập tức đến cứu độ. Công năng cứu khổ của Bồ-tát Quán Thế Âm trong Kinh Pháp Hoa đã lập tức được đông đảo “lão bách tánh” tin theo, đây là nguyên nhân căn bản nhất dẫn đến hình tượng Bồ-tát Quán Thế Âm bị thế tục hóa.
    Quan Âm Nam Hải (Phổ Đà Sơn)
    Quan Âm Nam Hải (Phổ Đà Sơn)
        


    Từ sự biến đổi hình tượng Quán Thế Âm chúng ta thấy, Bồ-tát Quán Thế Âm bị biến đổi thành ba hình tượng: thần ngựa, đại sĩ, nữ thần. Hình tượng sớm nhất là hình tượng “Song mã đồng thần” của truyền thuyết Bà-la-môn giáo Ấn Độ, đây là một di sản văn học cổ xưa nhất của nền văn hóa Phệ Đà. Thần “song mã đồng” này công hạnh chủ yếu là cứu khổ, cứu nạn: khiến người mù được sáng, người tàn tật được lành lặn, khiến bò không có sữa sanh có sữa, người phụ nữ không sanh được sẽ sanh được, người không chồng sẽ có chồng, người chìm thuyền được cứu. Thần thông quảng đại của Thần ngựa trong truyền thuyết, tư tưởng còn nhanh hơn cả hành động, bất luận ở đâu có nguy hiểm chỉ cần kêu đến tên, thần ngựa lập tức đến cứu độ. Từ hình tượng thần “song mã đồng” của Bà-la-môn, đến Phật giáo đã hóa thành “Mã Đầu Quan Âm”. Hiện nay ở Tây Tạng vẫn còn danh xưng “Mã Đầu Quan Âm”, “Mã đầu Minh Vương”. Dần dần hình tượng thần ngựa được nhân cách hóa, khoảng trước hoặc sau công nguyên, hình tượng Quán Thế Âm đã hoàn toàn được nhân hóa. Trong《Kinh Bi Hoa》, đề cập đến thái tử thứ nhất  của vua Vô Tránh Niệm tên Bất Húc tức Quán Thế Âm Bồ-tát, hoàng tử thứ hai tên Ni Ma tức Đại Thế Chí Bồ-tát, hoàng tử thứ ba tên Vương Tượng tức Văn Thù Bồ-tát, hoàng tử thứ tư tên Nê Đồ tức Phổ Hiền Bồ-tát. Như vậy, hình tượng Bồ-tát Quán Thế Âm sớm nhất là hình tượng nam thân. Ở Đôn Hoàng hiện nay vẫn bảo tồn bích họa Quán Thế Âm đời Tùy với hình tượng mặt vuông, mũi rộng cộng thêm hai hàng ria mép, còn tượng điêu khắc Quán Thế Âm bằng gỗ thì trên miệng có hai vệt râu mép nhỏ mà rất đẹp. Trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm nhập pháp giới, chương 27 Thiện Tài đi tham vấn Quán Tự Tại Bồ-tát thì Bồ-tát Quán Thế Âm lại có danh hiệu là “Dũng Mãnh Trượng phu Quán Tự Tại”. Như vậy, trong một thời gian dài Quán Thế Âm vẫn mang hình tướng nam, nhưng ở thời đại phong kiến của Trung Quốc, khi người phụ nữ phải tuân thủ luân lí khắt khe “tam cương ngũ thường” thì một nữ tín đồ quỳ trước tượng nam Bồ-tát “thổ lộ tâm tình”, giải bày những khúc mắc giấu kín trong lòng cũng không thích hợp lắm, do vậy người Trung Quốc tự nhiên mang “Quán Âm nam thân ” cải đổi thành “Quan Âm nữ thân”. Tượng Quán Thế Âm nữ tính bắt đầu xuất hiện từ thời Đường: họa sĩ trứ danh Ngô Đạo Tử đời Đừơng đã vẽ một bức họa Quán Thế Âm hoàn toàn là vị Bồ-tát nữ thân với đường nét đẹp đẽ, trang nghiêm. Trong truyền thuyết của Trung Quốc, nữ tính hóa Quán Thế Âm sớm nhất là Phùng Lang Phụ đời Đường với《‘Cổ kim đồ thư tập thành - Thần dị điển’ quyển 7931‘Pháp Hoa Trì Nghiệm’》, đời Bắc Tống có câu chuyện công chúa thứ ba của vua Diệu Trang tên là Diệu Thiện hiến tay mắt cứu cha tu thành Bồ-tát Quán Thế Âm. Đến đời Tống Nguyên, phu nhân của Triệu Mãnh Thứ tên Quảng Đạo Thăng đem《Bảo quyển quảng phiếm》biên tập thành《Quan Âm Đại sĩ truyện》thì tích truyện Diệu Thiện Quan Âm càng được hoàn thiện hơn. Quan Âm Bồ-tát từ đại sĩ của Phật môn thoáng chốc đã biến thành công chúa của nhà Hán, hoàn toàn được Trung Quốc hóa không chỉ khuôn mặt, nội dung, hình thức mà ngay cả quan niệm đạo đức cứu nhân độ thế cũng được Trung Quốc hóa luôn, Quán Thế Âm đã thật sự trở thành nữ thần thuần túy của Trung Quốc.
    Nguyên nhân hình tượng của Quán Thế Âm bị biến hóa có thể quan hệ mật thiết với sự khổ đau không thể nói hết được của người phụ nữ ngày xưa của Trung Quốc. Họ vì gia đình, vì chồng, vì con mà hi sinh tất cả, cuối cùng mới phát hiện bản thân không có gì cả, không người chia sẻ, không người thương yêu, thậm chí không ai chú ý họ cũng là con người bằng xương bằng thịt, với máu đỏ và nước mắt mặn, cũng có những cảm xúc vui buồn, thương giận như bao người bình thường khác, quan trọng hơn hết là họ cũng cần sự yêu thương, quan tâm chia sẻ của người khác. Trên thế gian này còn gì đau khổ tuyêt vọng nào hơn nỗi đau này? Điều đặc biệt đau khổ của người phụ nữ Trung Quốc ngày xưa là ở ngoài xã hội họ không có quyền lợi gì, trong gia đình thì không có địa vị, trong đời sống tình cảm thì không có tự do, cho nên họ khao khát có một điểm tựa tinh thần, cụ thể là cần một vị thần bảo hộ. Sống trong thời đại phong kiến nam quyền, người phụ nữ chỉ có hôn nhân mà không có tình yêu, người chồng luôn bận bịu với sự nghiệp, không có thời gian quan tâm đến tâm tư, tình cảm của vợ, người vợ chỉ biết chôn chặt những cay đắng, khổ đau vào sâu tận đáy lòng. Trong nỗi đau cùng cực thì hình ảnh hiền từ, thanh lương của mẹ hiền Quán Thế Âm đã đem lại cho họ niềm an ủi vô hạn. Chỉ có nữ thần mới hiểu hết nỗi niềm của người nữ, chỉ có nữ thần mới có lòng kiên trì nhẫn nại để lắng nghe tiếng lòng thổn thức của người phụ nữ. Vì vậy, hơn một ngàn năm qua Bồ-tát Quan Thế Âm đã trở thành thần hôn nhân, thần tình yêu thân thiết và bầu bạn với họ trong suốt một cuộc đời “ăn muối còn nhiều hơn ăn cơm” này.
    Một nguyên nhân nữa không kém phần quan trọng làm cho hình tượng Quán Thế Âm ở Trung Quốc bị biến hóa là ý nghĩa danh xưng “cứu khổ cứu nạn”, “đại từ đại bi” rất dễ dàng liên quan đến nữ tính – tình thương bao la của người mẹ, sự hy sinh không bến bờ của người mẹ. Nhân loại thiên sanh là khi gặp khó khăn tai nạn đều bộc phát ra tiếng kêu cứu, mà Bồ-tát Quán Thế Âm thường hiện ra tướng từ bi, nhu hòa, trang nghiêm của người mẹ lao vào dầu sôi lửa bỏng mà cứu độ chúng sanh. Hơn nữa, Quán Thế Âm “tùy loại độ hóa”, độ hết tất cả, bất luận nam nữ già trẻ, nghèo cùng khốn khổ hay giàu sang phú quý, thậm chí không phân biệt thiện ác thị phi, chỉ cần tụng niệm danh hiệu của Ngài, Ngài liền thị hiện. Ngài xem tất cả chúng sanh như con đẻ của mình, bình đẳng đối đãi, thi ân mà không đòi hỏi phải trả ơn, đáp ứng mọi nhu cầu của chúng sanh mà không cần biết lý do, làm tất cả mà không cần ai biết đến, thậm chí vì cứu độ chúng sanh, Ngài cam tâm tình nguyện không thành Phật. Sự hy sinh tiểu ngã nhỏ bé toàn thành cảnh giới đại ngã vô biên như vậy rất dễ dàng làm cho chúng ta liên tưởng đến sự vĩ đại của người mẹ. Chính như vậy, dân chúng đã đem tất cả tình thương và khát vọng qui hướng về Bồ-tát Quán Thế Âm, mở cánh cửa lòng mình mời Ngài bước vào, hiện hữu trong trái tim và khối óc của mỗi người, muốn xóa mà xóa không nhòa được. Trong tâm mỗi người đều kết tinh một vị Bồ-tát, đây là sự tích lũy đầu tiên từ từ đã dung nhập vào truyền thống văn hóa bản địa của họ.
    Đứng ở lãnh vực tâm lý xã hội mà nhìn, Bồ-tát Quán Thế Âm cũng rất phù hợp với nhu cầu tinh thần của dân chúng Trung Quốc. Như ở trên đã đề cập, người Trung Quốc “trọng sanh ố tử”, họ không truy cầu sau khi chết về thế giới bên kia sẽ như thế nào, chỉ quan tâm ngay trong đời sống hiện tại này có vui vẻ bình yên hay không mà thôi, tranh thủ thực hiện hoài bão và ước mơ của bản thân, tìm được bến đỗ bình yên là thấy đủ rồi. Ở ý nghĩa này, Đức Phật xác nhận phải từ bỏ đi tự ngã, tham ái chấp trước, thoát khỏi kiếp sống này, tiến nhập vô cảnh giới Niết-bàn tịnh tịch mới là chân hạnh phúc tuyệt đối. Như vậy, giải trừ những nỗi đau hiện tại vẫn là việc làm thiết thực nhất. Bồ-tát Bồ-tát Quán Thế Âm đã suy nghĩ đến tất cả những gì chúng sanh thao thức, trăn trở. Trong《Kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn》đề cập đến 16 nạn mà Bồ-tát giải cứu chính là tất cả những tai nạn trước mắt mà nhân sanh phải đối diện. Cứu tất cả tai nạn, thống khổ, thỏa mãn mọi nguyện vọng của chúng sanh, ở phương diện này Bồ-tát Quán Thế Âm lại càng gần gũi với người dân Trung Quốc hơn, đúng là giải trừ đi khổ não nhân gian phải đối mặt, từ đó đem đến cho họ cuộc sống sinh hoạt an lạc hạnh phúc. Trong suốt chiều dài lịch sử của Trung Quốc, chinh chiến và tàn sát, máu đổ thành sông, nước mắt của người dân đã chảy còn nhiều hơn nước của bốn biển. Tầng lớp thống trị chỉ quan tâm đến việc mở rộng bờ cõi, tranh quyền đọat lợi, tham đồ hưởng lạc, có ai từng nghĩ đến sự an nguy của lão bách tánh. Dân tộc Trung Hoa là dân tộc phải hứng chịu nhiều tai nạn nhất và cũng là dân tộc khát khao sự xoa dịu về tâm linh nhất, do đó số đông quần chúng mong chờ “Thánh nhân giáng thế”. Nhưng, nền triết học nho và đạo giáo cách rất xa với tầng lớp bình dân lao động. Nho gia có trị được quốc, bình được thiên hạ đi nữa cũng tránh không khỏi tai qua ách nạn. Đạo giáo có luyện được thuốc trường sanh bất tử đi nữa, đây cũng ví như nằm mộng giữa ban ngày mà thôi, không biết đời sau cũng đã thực hiện được chưa? Mà, đời này khổ vẫn cứ hoàn khổ, vĩnh viễn không thể đáp ứng được sự ký thác tâm linh. Ngược lại, sự xuất hiện của Bồ-tát Quán Thế Âm trong đời như dòng nước cam lồ tưới xuống đồng ruộng tâm lâu ngày bị khô héo của họ, chỉ cần niệm một câu “Nam mô Quán Thế Âm”, tai ách liền trừ, khổ nạn liền tiêu. Mặc dù “bình thường bất thiêu hương, lâm thời bao Phật cước” (bình thường không đốt hương, lúc lâm nguy mới ôm chân Phật) nhưng Phật vẫn không trách cứ, giận hờn gì cả, vẫn sẵn sàng tiếp ứng khi chúng sanh cần đến Ngài. Chính như vậy mà tín ngưỡng Quán Thế Âm ngày càng phổ cập và tiến từng bước bị thế tục hóa.
    Quan Thế Âm tín ngưỡng, một tôn giáo ngoại lai như vậy đã chinh phục người dân Trung Quốc, người ta đã đem nhu cầu của tự thân mà cải tạo Quán Thế Âm, khiến Ngài bị Trung Quốc hóa, thế tục hóa mà cụ thể hơn là bị nữ hóa. Hai nền văn hóa kết hợp, hỗ tương với nhau, dung hòa cuối cùng trở thành một nền văn hóa mới - một đoạn lịch sử xưa đã lắng đọng nhưng tỏa chiếu trong tâm của dân chúng sẽ còn vang vọng và sống mãi trong suốt chiều dài lịch sử mới.
    Thích Nữ Minh Phương