16/8/10

Đảng là ai? tên gì? ở đâu? mấy đứa?

http://dinhtanluc.multiply.com/journal/item/574/574

 
  đảng là ai? tên gì? ở đâu? mấy đứa?
. Đinh Tấn Lực

 

Dạo này, chỉ nội trong một quý, cả nước rộ lên toàn chuyện động trời, mà đảng ta thì cứ lấp ló/làm lơ/lập lờ/làm liều/lếu láo/lấp liếm… lẫn lấm le lấm lét.
***
Đảng viên thiếu úy “chiến sĩ công an” Trương Đình Hoàng ở Thái Nguyên, mặc thường phục, rượt dí xe máy công dân như trong phim hành động xã hội đen, truy đuổi đến khi ép dừng được “đối tượng” thì mắng dân té tát: “con kia sao chưa chịu xuống (xe), mày chán cơm thèm đất hả?”, rồi rút súng bắn xuyên đùi trái, chui qua hố xương chậu, găm vào tủy xương đùi phải của người thiếu nữ ngồi sau xe máy, xong phân trần với đám đông tụ tập là đang “truy bắt tội phạm”, bỏ mặc cho nạn nhân đứng tại hiện trường đầm đìa trong máu. Vụ việc được ghi lại thành biên bản “Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ”.
“Tội phạm”, người ngồi sau người lái xe vi phạm giao thông, là cô Hoàng Thị Trà, sinh viên khoa Toán-Tin, Đại học Sư phạm Thái Nguyên.
Còn chiến sĩ công an Trương Đình Hoàng, mới chính thực là đảng. Kẻ máu lạnh, lúc mắng dân là thằng này con kia, khi rút súng nhả đạn buộc nhân dân phải chán cơm thèm đất, và nghĩ rằng mình có toàn quyền sinh sát, thực ra đang vỗ ngực: đảng là tao!
*
“Trả lời báo giới sáng 11/8, đại tá Nguyễn Như Tuấn (Phó giám đốc, Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên) khẳng định, việc nữ sinh Trà bị găm đạn thủng đùi, có nhiều người chứng kiến nên không thể giấu diếm, bao che”.
Tức là, nếu ở một nơi vắng vẻ, không người chứng kiến, thì các vụ công an tùy hứng nhả đạn vào dân thế này đều có nhiều xác suất im ắng/chìm xuồng?
Rõ ràng, mỗi một công an và lãnh đạo của nó đều là đảng, hoặc đều ngấm ngầm xưng đảng là tao!
*
Đảng viên thiếu úy “chiến sĩ công an” Nguyễn Mạnh Thư huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa, đã nổ súng vào đám đông nhân dân tụ  tập phản đối tiến trình giải phóng mặt bằng bất công ở Nghi Sơn, gây tử vong tại chỗ cho cháu bé 12 tuổi Lê Xuân Dũng, gây thương tích cho bà Lê Thị Thanh, và gây tử vong sau đó cho ông Lê Hữu Nam.
Nguyễn Mạnh Thư, nả đạn vào dân, là đảng.
Lãnh đạo địa phương, cố bao che bằng kết luận ban đầu là “bắn chỉ thiên/súng cướp cò”, tất nhiên, cũng trong tâm thức coi đảng là tụi tao!
*
Chỉ vì mấy con vịt hay phá rối, hai mẹ con va chạm với nhau, bà mẹ trong lúc nóng giận đã làm đơn gửi đến cơ quan công an với mong muốn công an dọa cho đứa con một trận để nó ngoan hơn. Thế nhưng sau một ngày, cơ quan công an đã trả lại cho bà chiếc quan tài và xác chết đứa con trai. Nạn nhân là anh Vũ Văn Hiền, nông dân ở thôn Bình Xuân, xã Bình Thuận, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Ngày trước, khẩu hiệu của CA là: “không đánh cho có, có đánh cho chừa”. Nay thu gọn lại chỉ còn 3 từ: “đánh cho chết”.
Giống hệt mọi nơi khác, công an Đại Từ là đảng.
*
Thanh niên Nguyễn Văn Khương bị cảnh sát giao thông huyện Tân Yên, Bắc Giang, bắt giữ về  tội đi xe máy không đội mũ bảo hiểm, sau đó đã gục chết ngay trên ghế thẩm vấn tại đồn. Vì bất bình, nhiều người dân đã cùng gia đình nạn nhân mang quan tài của người chết đến trụ sở UBND tỉnh để yêu cầu làm sáng tỏ vụ việc. Lực lượng công an được huy động tới giải tán đoàn biểu tình đòi công lý lên đến cả vạn người, bằng dùi cui và hơi cay.
Nguyễn Thế Nghiệp, tay công an đánh chết anh Khương, là đảng.
*
Chiều chủ nhật 25-7-2010, gia đình nạn nhân bị công an đánh chết đã đưa thi thể anh Khương lên Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh để đòi làm rõ vụ việc. Hỗ trợ gia đình anh Khương, một số rất đông người dân đã đi theo quan tài, bao vây UBND tỉnh từ 14 giờ đến tối. Đến 5 giờ chiều thì 6 đoạn tường rào (60 mét) của UBND tỉnh bị phá hủy. Nhiều tiếng nổ lớn xảy ra do người dân đốt mìn tự tạo. Thi thể nạn nhân vẫn được quàn tại cổng UBND tỉnh. Cổng phụ của UBND đã bị phá cùng với biển ghi tên UBND tỉnh Bắc Giang. Chín giờ tối, nhà chức trách cho thợ làm lại tường và biển tên UB trước sự hiếu kỳ của hàng trăm người dân. Không như mọi ngày, tối nay UBND tỉnh tối om không có cả đèn trang trí ở sân…
Trong khi đó, “thái tử” Nông Quốc Tuấn (con trai Nông Đức Mạnh, sắp trở thành bí thư tỉnh ủy) vẫn thản nhiên tiếp đãi bạn bè trong tiệc nhậu đặc sản bằng món thịt bò tót do 2 đầu bếp từ Hà Nội được điều về Bắc Giang để nấu nướng theo yêu cầu của Tuấn tại nhà hàng Tài Lộc.
Nông Quốc Tuấn, một mình, tự thân, chưa ngồi vào ghế tỉnh ủy, đã là đảng.
*
Ngày 03-7-2010, giáo dân Tôma Nguyễn Thành Năm ở Cồn Dầu đã chết vì bị công an Đà Nẵng lùng bắt, đánh đập, tra tấn tàn bạo. Nhìn những vết thương dã man trên thân xác anh, nhìn cái chết đau đớn của anh, giáo dân Cồn Dầu đã sợ hãi trước những con người hầu như trở thành loài thú dữ. Anh đã ra đi trong đau đớn, trong vòng vây của đội quân công an ngăn chận những người thân quen đến tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Anh ra đi không có những ngọn nến giải oan, để soi rọi sự bất công, dối trá trên miền đất Cồn Dầu. Anh ra đi bên những tiếng khóc thương nhớ, uất ức của vợ con. Anh ra đi trong bối cảnh dối gian, lọc lừa biến hóa hành động giết người của công an và chính quyền Đà Nẵng trở thành vô tội. Hiện gần 2000 hộ dân bị giải tỏa tại Cồn Dầu không có nhà mà ở.
Không thể nhầm: công an, ở mọi nơi trên đất nước này, đều là đảng.
*
Dự án đúc tim cho tượng thánh Gióng gây xôn xao dư luận cả nước trước hạn kỷ niệm 1000 năm Thăng Long.
Phù Đổng Thiên Vương không phải là đảng viên.
Nguyễn Thị Thoa, Giám đốc Cty ATS, người đề xuất dự án này, cũng không chắc là đảng viên.
Chỉ riêng kẻ vận động và phê duyệt dự án, biết trước là sẽ có phần chia chác, mới là đảng.
*
Huỳnh Ngọc Sỹ, nguyên phó giám đốc Sở Giao Thông Vận Tải kiêm giám đốc Ban Quản Lý Dự Án Ðại Lộ Ðông Tây và Môi Trường Nước Sài Gòn, bị báo Nhật phanh phui đường dây tham nhũng PCI, lãnh án sơ thẩm 3 năm tù về tội danh “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, ra tòa phúc thẩm bị nâng mức án lên thành 6 năm tù, hiện có nhiều xác suất ra tòa lần nữa về tội danh chính thức là “nhận hối lộ” nhiều triệu USD.
Huỳnh Ngọc Sỹ, là đảng.
Mỗi cá nhân trong đường dây chung chi của Sỹ cũng là đảng.
*
Thượng tá Đặng Đình Tiến, Phó tham mưu trưởng Sư đoàn 324 Quân khu 4, cùng các sĩ quan dưới trướng, kết hợp với Nguyễn Thị Kim Hoa, Giám đốc Công ty TNHH Liên kết và Giới thiệu Việc làm Bắc Miền Trung, để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 114 gia đình quân nhân (130 triệu đồng/1quân nhân/1hồ sơ xuất khẩu lao động). Các nạn nhân đã tố cáo lên các cấp cầm quyền địa phương cũng như trung ương, và trong suốt năm qua đã trên dưới 30 lần tìm cách khiếu nại đến các cơ quan liên hệ: Sư đoàn 324 QK4; Bộ tư lệnh QK4; Phòng điều tra hình sự QK4; Tỉnh ủy, UBND, Công An các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình, đặc biệt là Bộ Quốc phòng. Nhưng không được trả lời.
Đặng Đình Tiến là đảng.
Thủ trưởng của mỗi cơ quan nêu trên cũng đều tự coi mình là đảng.
*
Nguyễn Ngọc Ân, Giám đốc sở Văn-thể-du của tỉnh Phú Thọ đã tiêu tốn non hai vạn USD tiền thuế của dân để lấy bằng tiến sĩ của Đại học Nam Thái Bình Dương (Southern Pacific University – SPU). Đến khi bị trưng ra ánh sáng những góc đen khuất tất này thì Ân than rằng: Tôi là kẻ kém may! Té ra có nguyên một đường dây giới thiệu của bộ Tài Chánh cho những quan chức muốn có bằng tiến sĩ mà không cần học.
Nguyễn Ngọc Ân (kém may), và cả những đồng chí (còn may) chưa bị lộ, chính là đảng.
*
Sầm Đức Xương, Hiệu trưởng trường trung học Hà Giang, cưỡng dâm nhiều nữ sinh, biến các nữ sinh đó thành gái gọi để thu tiền, rồi cống nạp lên thượng cấp, từ lãnh đạo ngân hàng đến cấp lãnh đạo cao nhất tỉnh, hoàn thành một danh sách đen hoành tráng. Khi vụ việc vỡ lở, các lãnh đạo nhất trí xử lý tình huống bằng cách phù phép cho các nữ sinh nạn nhân phải lãnh án tù về tội bán dâm. Trong số đó, một nạn nhân bỗng dưng mất tích. Nguyễn Trường Tô, chủ tịch tỉnh Hà Giang, với nick trên phôn di động là Tình yêu Chủ tịch, đứng tên hàng đầu trong danh sách đó…
Sầm Đức Xương, hiệu trưởng, chuyên ngành trải ga giường để tiến thân, là đảng.
Nguyễn Trường Tô, tỉnh ủy viên, dùng quyền lực để cưỡng dâm nữ sinh, tất yếu là đảng.
*
11 chiến sĩ công an thuộc Cục Kỹ thuật Nghiệp vụ II (A-23), còn được gọi là CAM, vừa mới được Lê Doãn Hợp, Bộ trưởng 4T, trao kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp 4T”, bởi đã tận tình “sử dụng các phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ phối hợp với các lực lượng chủ động đấu tranh với âm mưu hoạt động của các loại tình báo, gián điệp, phản động và tội phạm khác”.
Mới vài tháng trước, thiếu tướng công an Vũ Hải Triều cũng đã báo cáo thành tích đánh sập 300 trang mạng và blogs, đồng thời, đã chộp được mật khẩu để xâm nhập nhiều trương mục email của một bộ phận không nhỏ nhân dân.
A-23 là đảng. CAM là đảng. Tự thân Lê Doãn Hợp/Vũ Hải Triều cũng là đảng.
*
Văn Đình Ưng, Phó chánh Văn phòng Bộ GD-ĐT phân tích sâu sát rằng có 4 lý do khiến học sinh đỗ tốt nghiệp cao năm nay:
Thứ nhất do năm nay là năm thứ tư thực hiện cuộc vận động “hai không” nên những thí sinh yếu kém đã cố gắng học tập để thi đỗ.
Thứ hai, do công tác tư vấn tốt của các cơ quan truyền thông.
Thứ ba, do các ngày thi trên toàn quốc thời tiết mát mẻ.
Thứ tư là có thể do các em phấn đấu lập thành tích để chào mừng đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội!

Văn Đình Hưng, đích thị là đảng.
*
Ban Tuyên Giáo thuộc Thành Ủy thành phố Ðà Nẵng vừa ra một văn bản, không rõ thuộc loại gì, nhưng có vẻ ngang với một cái lệnh, đề gửi cho “Văn phòng đại diện báo Ðại Ðoàn Kết tại Ðà Nẵng”, đòi cơ quan báo chí này cử phóng viên phải “là đảng viên” đến để “thông tin, tuyên truyền về Ðại hội lần thứ XX đảng bộ thành phố Ðà Nẵng”. Thế là …tịt, bởi văn phòng đại diện báo ĐĐK tại Đà Nẵng không có nhà báo nào là đảng viên.
Các ban Tuyên giáo, từ TW xuống tới địa phương đều tự coi mình là đảng.
*
Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch UBND TP Hà Nội, và Hoàng Tuấn Anh, Bộ trưởng Văn-thể-du,  đã hè nhau đề xuất một phương án thực sự động trời có tên là Phương án… “bắn mây ngăn mưa”, với phí tổn vào tầm 1 tỷ USD cho 3 ngày đại lễ nhiệt liệt chào mừng 60 năm hữu nghị Việt-Trung và 1000 năm Thăng Long. Đề án này được chuyển đường tắt lẫn đường vòng lên tới Phó TT Nguyễn Sinh Hùng. Tức là toàn giới IQ thượng hạng ngoại hạng. Không may cái là thời điểm của đề án này rớt vô sau vụ đường sắt cao tốc bị bác. Nguyễn Sinh Hùng, dù rất mê tính béo ngậy của dự án, nhưng cũng đành nuốt nước bọt nói “không”, kèm theo một lời phán nuối tiếc: “Nếu ta làm được thì nên làm, đằng này ta chưa làm được thì thôi”.
Kẻ đề xuất theo cảm hứng và trong tâm thức toàn quyền, tất nhiên là đảng.
Kẻ phê chuẩn, dù không được như ý, cũng vẫn xưng xưng rằng đảng là tao!
*
Chỉ riêng 16 bộ phận tổ chức của đảng CSVN, chưa phải toàn đảng, trong nhiệm kỳ 10 đã “vi phạm trong sử dụng tiền bạc” tăng gấp đội nhiệm kỳ 9: số tiền vi phạm phát hiện được ở cấp do trung ương kiểm tra là trên 80 tỷ đồng, tương đương 4,2 triệu đô la. Ở cấp cơ sở, con số này là 56 tỷ đồng. Lưu ý rằng đây chỉ là những con số “phát hiện được”.
Nguyễn Văn Chi, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, thừa nhận “vi phạm qua kiểm tra tài chính đảng là đáng lo ngại, kiểm tra đâu cũng có vi phạm ở mức độ khác nhau”.
Thủ trưởng bất kỳ cơ quan nào của đảng cũng tự coi mình là đảng.
*
Hai anh em Trần Văn Chính (nguyên Vụ phó Vụ Tổ chức cán bộ của Bộ Giáo dục & Đào tạo) quyết tâm chiếm lấy bằng được Trường Đại học Phan Châu Trinh ở Hội An (một tư thục phi lợi nhuận). Theo một vài (trong số rất nhiều) đường dây (nổi tiếng của Bộ), việc vận động của anh em Trần Văn Chính đã đưa đến kết quả là Nguyễn Thị Nghĩa, Thứ trưởng Bộ GD- ĐT, cùng một Đoàn công tác hùng hậu về “làm việc” với Ban giám hiệu của trường trong suốt …một giờ đồng hồ, trên nguyên tắc định sẵn là …miễn đối thoại.
Hệ quả là 2 cái quyết định ngồi xổm trên luật pháp của Nguyễn Thị Nghĩa đều được hoàn trả cho khổ chủ: 1) bãi miễn trách vụ hiệu trưởng của ông Phạm Hữu Thu; và 2) ngưng tuyển sinh cho trường Phan Châu Trinh.
Hai anh em Trần Văn Chính tất nhiên là đảng.
Nguyễn Thị Nghĩa cũng là đảng. Thậm chí, còn hơn cả đảng, bởi đã bị mắng ngay trong buổi họp với thành ủy Hội An: “chị là Thứ trưởng thôi chứ chị to hơn đảng à?”.
*
Trường Cao đẳng Nghề số 8 (thuộc bộ QP, ở Biên Hoà, Đồng Nai), từng được vinh danh “Điểm sáng về dạy nghề”, là nơi mà mọi thí sinh đều an tâm đóng tiền đi thi “bảo đảm đậu”. Kể cả những thí sinh ngồi ngoài quán uống cà phê, thậm chí, đi tắm biển tận Vũng Tàu Bà Rịa, cho hết giờ thi, đều được cấp bằng. Ngô Phước Sánh, Chủ tịch UBND thị trấn Tân Thạnh, cũng là 1 trong các tay cò mua bán bằng, tuyên bố: “Chỉ đạo của huyện là làm sao thì làm, miễn có bằng thì thôi!”.
Hiệu trưởng trường nghề số 8, với toàn quyền cấp bằng, là đảng.
Các chủ tịch UBND đồng loại với Ngô Phước Sánh, cũng là đảng.
*
Một trong các bộ đứng đầu công nghiệp nuôi dưỡng nhiều cò lắm chợ là Bộ GD-ĐT. Ngoài chợ phao, các chợ tuyển sinh là nơi sầm uất phồn thịnh hơn cả. 200 triệu đồng/1 suất đại học! Khẩu hiệu bắt mắt thời đại là: “Trường nào cũng chạy được”, “Trôn kim nào cũng qua lọt”…
Quan chức bộ GD-ĐT là đảng.
Cò chạy trường, không nhất thiết đảng viên, cũng hành xử không khác đảng.
*
Phạm Thanh Bình, Chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc Vinashin, quản trị thua lỗ/thất thoát 86.000 tỷ đồng tiền thuế của dân. Tính trung bình ra là mỗi công dân VN phải trả khoảng một triệu đồng tiền nợ do Bình gây ra.
Nguyễn Sinh Hùng, Phó thủ tướng, lãnh trách nhiệm vực dậy tập đoàn kinh tế khánh tận Vinashin bằng dự án vay nợ 56 tỷ USD dưới danh nghĩa xây dựng đường sắt cao tốc, nhưng rất tiếc là quốc hội phản bác, không thông qua.
Phạm Thanh Bình, kẻ phá hoại tài sản của nhân dân ở tầm kỷ lục bằng tính khí tùy tiện và ngu muội lộng quyền như trên, chính là đảng.
Nguyễn Sinh Hùng, nâng đỡ/bảo kê/bao che/cứu vớt cho một tội phạm như Bình, vẫn bằng tính khí tùy tiện và ngu muội lộng quyền như trên, cũng đã tự coi mình là đảng.
*
Võ Kim Cự, ủy viên Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy, phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Hà Tĩnh, từng “bị kỷ luật vì làm cho một cô giáo mầm non mang bầu”, từng mua bằng dỏm của Western Pacific University, vừa được bổ nhiệm giữ chức chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh.
Nguyễn Nhật, chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị, tổng giám đốc Tổng công ty Khoáng Sản và Thương Mại Hà Tĩnh, nổi danh xài bằng dỏm của Ðại Học Irvine và Nam Thái Bình Dương, cũng vừa được bổ nhiệm giữ chức phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh.
Quyết Ðịnh bổ nhiệm mang số 1385/QÐ-TTg.
Võ Kim Cự và Nguyễn Nhật, lọc lừa cả nước, dùng bằng dỏm để thành lãnh đạo, chính là đảng.
Nguyễn Tấn Dũng, kẻ hồn nhiên bổ nhiệm cho mấy đứa xài bằng dỏm làm lãnh đạo như nó, tất nhiên, càng là đảng “gộc”.
***
Ngần ấy thời sự nhục nhã xảy ra chỉ trong khoảng trên dưới một quý.
Đủ để cả nước thất kinh khi phải lược qua tình hình cần duyệt lại xem đảng là ai? tên gì? ở đâu? mấy đứa?
Đảng ta là đạo đức, là văn minh, như thế ư?
Thẻ đảng là giấy chứng thực tất cả những lề thói đạo đức/văn minh như thế chăng?
Những đảng viên khác nghĩ sao?
Phải chăng đã đến lúc để vất bỏ những tấm thẻ đảng ô nhục đó?
Nơi nơi đang sục sôi. Chỉ cần Đại tướng Võ Nguyên Giáp phát pháo tiên phuông, làm gương dẫn dắt, là trở thành động lượng đại trà, giúp cho mọi người mạnh dạn hơn để cùng vất bỏ thẻ đảng, chối từ cái hàng ngũ phi nhân đang nhân danh cộng sản mà vơ vét tư lợi; nhân danh xã hội chủ nghĩa mà bóc lột công nông; nhân danh Tổ Quốc mà bán đứng Tổ Quốc; nhân danh Dân Tộc mà đọa đày/giết hại Dân Tộc…
Hãy cùng nhau vất bỏ thẻ đảng để sang trang lịch sử.
Không chỉ thuần để giữ nguyên bờ cõi, mà còn để kiến tạo bệ phóng cho đất nước cất cánh, con người thăng hoa.
14-8-2010. Chuẩn bị chào mừng 65 năm ngày Cách Mạng Tháng Tám.
Blogger Đinh Tấn Lực

Phong thủy ngàn năm Thăng Long (1/2)

I/ Hai bản dịch chiếu dời đô sai lầm nghiêm trọng:

Hiện nay nhà nước Việt Nam đang ráo riết chuẩn bị làm lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long, căn cứ vào bản chiếu dời đô của ông Lý Công Uẩn (năm 1010). Vấn đề đặt ra là hậu thế đã hiểu và học được gì từ sự kiện lịch sử này? Ðể không tủi nhục với tiền nhân.

Theo Ðại Việt Sử ký toàn thư (ÐVSKTT) (1) ghi chép sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi gần một năm đã tự tay viết chiếu dời đô từ Hoa Lư về thành Ðại La đổi tên là thành Thăng Long có nội dung theo bản gốc như sau:
Phiên âm:
THIÊN ÐÔ CHIẾU
Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi Tam đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân trí, cẩu hữu tiện triếp cải. Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ. Nhi Ðinh Lê nhị gia, nải tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi. Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ.
Huống Cao vương cố đô Ðại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung; đắc long bàn hổ cứ chi thế. Chính Nam Bắc Ðông Tây chi vị; tiện giang sơn hướng bội chi nghi. Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải. Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa. Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô.Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà? (2)
Hiện nay có hai bản dịch chính thức Thiên đô chiếu này được công nhận đăng ký và phổ biến công khai trên báo chí và sử liệu Việt Nam, đó là:

* Bản dịch thứ nhất của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, in trong Ðại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993. (3)

Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Ðại; ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Ðinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.
Huống chi thành Ðại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.
Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?

* Bản dịch thứ hai của Nguyễn Ðức Vân, in trong Tóm tắt lịch sử Triều Lý - Ban quản lý Di tích lịch sử văn hóa Ðền Ðô - Ðình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh; Giấy phép xuất bản số 35/VHTT ngày 22/10/2001 của Sở Văn hóa - Thông tin Bắc Ninh (4)

CHIẾU DỜI ÐÔ
Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần đời đô; nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô. Phải đâu các vua thời Tam Ðại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời ? Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi. Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh. Thế mà hai nhà Ðinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi. Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không đổi dời.
Huống gì thành Ðại La, kinh đô cũ của Cao Vương: ở vào nơi trung tâm trời đất; được thế rồng cuộn hổ ngồi. Ðã đúng ngôi Nam Bắc Ðông Tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Ðịa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp nước Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.
Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào?

Sự khác biệt lớn nhất và gây nhiều tranh cãi của hai bản dịch này là cụm từ phong thủy “long bàn, hổ cứ” được dịch thành “rồng chầu, hổ phục” và “rồng cuộn hổ ngồi”. Rất tiếc là cả hai bản dịch theo lối phóng tác, tượng thanh, tượng hình đã hoàn toàn sai lạc về học thuật cũng như về phong thủy đem lại nhiều nghịch lý, gây hậu quả nghiêm trọng. (Ngoài ra còn một bản dịch khác của Ngô Tất Tố, đã dịch cụm từ trên là thế rồng bò, hổ ngồi) (5)

A /- Về học thuật:
Ðiều lưu ý đầu tiên là hai cụm từ “Thăng Long”“long bàn, hổ cứ” xuất phát từ một người viết ra đó là ông Lý Công Uẩn, tại một thời điểm nhất định (1010), để chỉ cùng một vùng đất định cư, như vậy nếu dịch thuật ra tiếng Việt thì phải sử dụng cùng một phương pháp giống nhau. Ý nghĩa của hai cụm từ này nếu không tương tự nhau thì chí ít cũng phải bổ sung cho nhau chứ không thể đối nghịch nhau trong sự việc đặt tên cho một vùng đất.
Ðiều lưu ý kế tiếp là những cụm từ này có thể có nhiều lối dịch khác nhau, thế nhưng lối dịch chuẩn xác nhất vẫn phải hội đủ hai điều kiện nói trên.

Từ “Thăng Long” được dịch là “rồng bay lên” rất chuẩn và chính xác không ai tranh cãi. Chữ long là một danh từ, chữ thăng đứng trước chữ long là một động từ đóng vai tỉnh từ bổ nghĩa cho chữ long.
Áp dụng phương cách thứ tự dịch thuật này vào cụm từ “long bàn”, chữ bàn là danh từ, chữ long là danh từ đóng vai tĩnh từ bổ nghĩa cho chữ bàn, như vậy phải dịch là địa bàn của rồng hay là chỗ ở của rồng mới là chính xác.
Tương tự như vậy cụm từ “hổ cứ” phải dịch là căn cứ của hổ, hay nơi ở của cọp.

Nếu từ Thăng Long dịch là rồng bay lên, trong khi cụm từ “long bàn, hổ cứ” dịch là rồng cuộn hổ ngồi, hay rồng chầu hổ phục, thể hiện hai lối dịch khác nhau về ngữ pháp không thể chấp nhận được.

Nếu cho rằng dịch rồng cuộn hổ ngồi, hay rồng chầu hổ phục là đúng, điều này gián tiếp nói rằng cụm từ “long bàn hổ cứ” đã viết sai ngữ pháp, thay vì phải viết là “bàn long, cứ hổ”. Sự kiện này hoàn toàn không thể xảy ra với một người học chữ hán từ nhỏ làm quan đại thần, lên làm vua, sử dụng chữ hán mỗi ngày vào thời điểm Việt Nam chưa có chữ Việt.

B /- Về phong thủy:
Ngoài ra lối dịch trên hoàn toàn sai lạc, đem lại nhiều nghịch lý theo ý nghĩa phong thủy của nó.
1)- Chữ rồng cuộn hay rồng chầu mô tả một trạng thái, hay động tác của con rồng an phận, định vị một nơi, trong khung trời hẹp. Ðiều này hoàn toàn tương phản với ý nghĩa của tên gọi Thăng Long là rồng bay lên trời, ở khung trời mở rộng mang trạng thái hoàn toàn tự do và phóng khoáng.

2)- Rồng cuộn, rồng chầu là loại rồng mang trách nhiệm tận trung phục vụ nhà vua hoàn toàn đối nghịch với hình ảnh rồng bay lên trời , chỉ sự chia ly, rời bỏ nhà vua ra đi, không hẹn ngày trở lại. Có thể nào đặt hai tình thế đối nghịch trong cùng một thế đất hay không?

3)- Rồng cuộn, rồng chầu ở thể TỊNH, trong khi rồng bay lên trời ở thể ÐỘNG, trong một vùng đất lại đặt tên vừa tịnh lại vừa động rất mâu thuần hoàn toàn trái với nguyên tắc dịch lý mà người xưa rất coi trọng.

4)- Theo truyền thuyết rồng luôn luôn ở trong mây, mới có thể vùng vẫy phát huy uy lực của mình, thế nhưng theo hai bản dịch rồng cuộn hay rồng chầu là hai loại rồng thoát ra ngoài môi trường thuận lợi vốn cần thiết của rồng. Như vậy đây là loại rồng thất thế , hết thời.
Hổ ngồi hay hổ phục cũng là loại hổ rời xa núi rừng, “dựa núi nhìn sông” chẳng khác gì loại hổ trong sở thú nuối tiếc một thời quá khứ như bài thơ “nhớ rừng’ của Thế Lữ tâm tình:

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
......
Ðâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Ðể ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
- Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

Rồng và hổ trong hoàn cảnh như đã diễn tả không thể là loại sinh vật phát huy được sở trường và sở đoản của mình được, khó có sự trung thành bền bỉ khi chính những sinh vật này luôn luôn hồi tưởng quá khứ.

5)- Rồng là sinh vật theo truyền thuyết ở trên trời mây, vậy tại sao Lý Công Uẩn lại đặt tên cho vùng đất Ðại La là rồng bay lên trời. Câu hỏi đặt ra rồng xuất phát từ đâu đến để có thể bay lên trời? Phải chăng từ trong lòng đất thiên đô. Nếu đúng như vậy thì chữ long bàn phải có nghĩa là vùng đất sinh sản ra rồng để bay về trời. Cũng theo truyền thuyết rồng là sinh vật có linh tánh, bay lên khung trời mở rộng, có khả năng chọn lựa một nơi tốt đẹp và thiêng liêng để sản sinh bảo tồn nòi giống. Như vậy vùng đất Thăng Long phải là nơi “linh thiêng”. Nói một cách tổng quát hơn đây là vùng đất “địa linh để sản sinh nhân kiệt”

6)- Hổ cứ được dịch là nơi trú ngụ của con hổ. Cũng còn ý nghĩa là nơi sản sinh ra mãnh hổ để bảo vệ vùng đất của mình. Như vậy đây là vùng đất nguy hiểm bất khả xâm phạm.

7)- Cụm từ “long bàn hổ cứ” tự thân cũng có ý nghĩa bổ sung cho nhau. Nếu cho rằng vùng đất này sản sinh ra rồng tượng trưng cho nhà vua, thì chính vùng đất này cũng phải sản sinh ra mãnh hổ tượng trưng cho binh tướng giỏi để hỗ trợ cho nhà vua. Vì rằng vua mà không có binh tướng giỏi thì chẳng làm được việc gì cả.

8)- Theo hai bản dịch thế đất rồng cuộn hổ ngồi hay rồng chầu hổ phục mang tính huyền bí, phức tạp, mơ hồ khó hình dung ra được vị trí thế đất như thế nào.Trái lại theo nội dung văn bản chiếu dời đô rất trong sáng và rõ ràng đây là thế đất bằng phẳng, “chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước” lại nằm tại vị trí “chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước”.

9)- Như vậy, dưới nhãn quan phong thủy Thăng Long có giá trị như là vùng đất “nội ngoại lưỡng toàn”.
Thứ nhất về phía đối nội đây là thế đất địa linh sản xuất ra nhân kiệt mọi người dân đều có cơ hội phát huy mọi tài năng của để vươn lên trong khung trời mở rộng không giới hạn.

Thứ hai về đối ngoại đây là thế đất bất khả xâm phạm. Tất cả mọi thế lực ngoại bang xâm phạm vào lãnh thổ Việt Nam như đi vào hang cọp đều phải trả giá bằng mạng sống không có đường về.
Ðúc kết từ những ý nghĩa trên, cụm từ “long bàn, hổ cứ” nên dịch là “ ổ rồng, hang cọp” (là nơi rồng và cọp ở và sinh sản, cũng là nơi bất khả xâm phạm) lối địch này có ưu điểm ngắn gọn thay vì giải thích dài dòng, nhưng lại bao quát được hai ý nghĩa là nơi cư trú (về mặt ngôn ngữ) cũng là nơi sản sinh rồng, cọp (về mặt phong thủy). Lại phù hợp với nội dung của bản chiếu dời đô đã mô tả thế đất Thăng Long.

Người xưa thường hay sử dụng ngôn ngữ đầy sáng tạo hoặc hư cấu nhằm che dấu một nội dung phong thủy nào đó, với điều kiện ngôn ngữ này lại không quá xa rời mục đích và hình tượng của nó. Và cụm từ “long bàn, hổ cứ” cũng không thoát ra ngoài thông lệ cố hữu đó.

Ðiểm quan trọng cần nói thế đất “ổ rồng, hang cọp” là thế đất “vượng phát cho dân tộc và đất nước” chứ không phải là thế đất vượng phát riêng cho một cá nhân ông vua, hay một triều đại nào cả. Ý niệm này đã được thể hiện trong phần đầu của chiếu dời đô: Vua thấy thành Hoa Lư ẩm thấp chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đế vương, muốn dời đi nơi khác, tự tay viết chiếu truyền rằng:
“Ngày xưa, nhà Thương đến đời Bàn canh năm lần dời đô, nhà Chu đến Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam đại ấy theo ý riêng tự dời đô xằng bậy đâu. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh”
Do vậy khi tìm hiểu giá trị phong thủy của đất Thăng Long là phải xét đến hiệu quả của thế đất này trong suốt quá trình sử dụng, chứ không thể chỉ chú trọng đến thời điểm nhà Lý dời đô.
II/- Kiểm chứng qua lịch sử:
Theo Ðại Việt sử ký toàn thư, nước Việt Nam được hình thành từ năm 2879 trước Tây Lịch cho đến nay 2010 sau Tây Lịch tổng cọng là 4889 năm, đã trải qua nhiều thời kỳ hay triều đại như sau:

Bảng thống kê các triều đại (thời kỳ) Việt Nam



Triều đại
Thời gian trị vì
Tổng số
Ghi chú
Họ Hồng Bàng
2879 - 258 tr . TL
2622
Không có chi tiết lịch sử (?)
Nhà Thục
257  - 207 tr. TL
50

Nhà Triệu
207 - 111 tr. TL
96

Bắc thuộc lần thứ I
111 tr. TL - 39 s. TL
150

Trưng Vương
40  -  43 s. TL
3

Bắc thuộc lần II
43 - 544
501

Nhà Tiền Lý
544 - 602
58

Bắc thuộc lần III
603 - 939
336
Ba lần Bắc thuộc là 987 năm
Nhà Ngô
939 - 965
26

Nhà Ðinh
968 - 980
12

Nhà Tiền Lê
980 - 1009
29

Chiếu dời đô
Tháng 7/1010

Từ Ðại La về Thăng Long
Nhà Lý
1010 - 1225
215
9 đời
Nhà Trần
1225 - 1400
175
11 đời
Bỏ Thăng Long
Tháng 11/ 1397

Dời về Tây Ðô Thanh Hóa
Nhà Hồ
1400  -  1407
7

Nhà hậu Trần
1407 - 1413
6

Nhà Minh đô hộ
1414 - 1427
13

Kháng chiến
1418 - 1427
6

Nhà Lê
1428 - 1788 (1533)
105

Nhà hậu Lê
1533 - 1788
255
Trịnh Nguyễn phân tranh
Nam Bắc Triều
1527 - 1592
65

Nhà Nguyễn Tây Sơn
1788 - 1802
14

Nhà Nguyễn
1802 - 1954
1152
Bị Pháp bảo hộ từ 1883 - 1954
Chiến tranh Việt Nam
1954 - 1975
21

Việt Nam Cộng Sản
1975 - 2010
35
Tồn tại bao lâu nữa?
Tổng cọng
24 triều đại (thời kỳ)
4889






Qua bản thống kê, có thể rút ra những tổng kết như sau:
  • Thời tiền sử từ năm 2879 đến 258 trước Tây Lịch tổng cọng 2672 là thời gian dài, rất tiếc là không có sử liệu ghi chép đầy đủ, do đó vẫn còn nhiều tranh cãi.
  • Trải qua ba thời kỳ Bắc thuộc 111 tr.TL - 39s.Tl, 43 - 544 s TL, 603 - 939 tổng cọng 987 năm, nước Việt Nam đặt dưới sự đô hộ của người Tàu đây là những trang sử đen tối và ô nhục nhất của đất nước, mà không người Việt Nam nào có thể quên được.
  • Kể từ khi ông Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long (1010) đến khi nhà Hồ bỏ thành Thăng Long dời về Tây Ðô (1397). Tổng cộng thời gian sử dụng thành Thăng Long là 387 năm cũng là thời gian ngự trị của thời Lý và thời Trần. Ðây là khoảng thời gian dài nhất trong những trang sử độc lập (có sử liệu) của Việt Nam cũng là những trang sử vinh quang và oai hùng, phát huy được hiệu quả giá trị phong thủy nhất của đất Thăng Long mang ý nghĩa “nội ngoại lưỡng toàn” là “phát huy dân trí, và đánh đuổi ngoại xâm, mở mang bờ cõi”.
  • Ngoài ra những thời đại khác không sử dụng kinh đô Thăng Long, một số yểu tử, hoặc rơi vào sự lệ thuộc ngoại bang, hay nội chiến tương tàn. Chỉ ngoại trừ nhà Lê được tồn tại 105 năm.
Tất cả những điều trên đã khẳng định được giá trị phong thủy của Thăng Long, không ai có thể tranh cãi.
Ðể minh chứng một lần nữa chúng tôi đi vào chi tiết phân tách thành quả của thế đất trên như sau:

1)- Ðối nội, dân trí:
Thời nhà Lý và nhà Trần rất hiểu rõ giá trị phong thủy của Thăng Long, nên đã ra sức tạo nên những điều kiện thuận lợi để phát triển dân trí bằng những biện pháp: Mở Quốc Tử Giám, Hàn Lâm Viện, tạo cơ hợi đồng đều cho mọi người dân ra sức cống hiến cho đất nước bằng các cuộc thi tuyển hàng năm.

- Năm 1075, tháng 2, xuống chiếu tuyển Minh kinh bác học và thi Nho học tam trường. Lê Văn Thịnh trúng tuyển, cho vào hầu vua học.
- Năm 1076 mùa hạ, tháng 4, đại xá, Xuống chiếu cầu lời nói thẳng.
Cất nhắc những người hiền lương có tài văn võ cho quản quân dân.
Chọn quan viên văn chức, người nào biết chữ cho vào Quốc tử giám.
- Năm 1077 tháng 2, thi lại viện bằng phép viết chữ, phép tính và hình luật.
- Năm 1086 tháng 8, thi người có văn học trong nước, sung làm quan ở Hàn lâm viện, Mạc Hiển Tích trúng tuyển, bổ làm Hàn lâm học sĩ. (1)

2) Ðối ngoại: Bất khả xâm phạm, Chống ngoại xâm
Triều đại Nhà Lý và Nhà Trần đã lập nên những trang sử sáng chói về thành tích chống ngoại bang. lịch sử đã ghi công:

- Lý Thường Kiệt với thành tích “Bắc phạt Tống, Nam bình Chiêm” và ngạo nghễ đứng trên đất Tàu phổ biến tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam:
Nam Quốc Sơn Hà Nam Ðế Cư
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhử đẳng hành khan thủ bại hư!
Dịch:
Sông núi nước Nam, Nam đế ở,
Rõ ràng phân định tại sách trời
Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm?
Cứ thử làm xem, chuốc bại nhơ!
Mở rộng thêm đất nước với ba châu Ðịa Lý, Ma Linh và Bố Chính.
- Ỷ Lan Thái phi xuất thân chỉ là một cô gái hái dâu, đã góp công ổn định quan trường hậu cung để cho vua Lý Nhân Tông yên tâm đánh thắng quân Chiêm Thành.
- Ngoài ra thời nhà Trần có Hưng Ðạo Vương đại thắng quân Nguyên, Mông với trận Bạch Ðằng Giang oai hùng, vang danh kim cổ.
- Tổ chức Hội nghị Diên Hồng (1283) đế lấy ý dân quyết chiến thắng là một biến cố lịch sử trọng đại cho hậu thế noi theo.
Tóm lại với những thành tựu được lưu danh trên những trang sử nhà Lý và nhà Trần trong thời gian sử dụng đất Thăng Long đã minh chứng giá trị phong thủy vốn có của vùng đất này. (còn tiếp)




Ghi chú:


1)- Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư
http://docs.google.com/viewer?a=v&pid=sites&srcid=dmlldGhvYy5jb218d2VifGd4OjMzZjFiN2U3Nzc5ZTExYzQ
2)- Bản gốc Thiên đô chiếu
http://quehuongonline.vn/VietNam/Home/Dat-nuoc-Con-nguoi/1000-nam-Thang-Long-Ha-Noi/2010/03/3BC8C739/

3)- Bản dịch Thiên Ðô chiếu chính thức của viện khoa học xã hội Việt Nam
http://www.tuyengiao.vn/Home/thanglonghanoi/thanglonghanoi/2009/5/9315.aspx

4)- Bản dịch Thiên Ðô chiếu của Nguyễn Ðức Vân
http://thuvien.maivoo.com/Lich-su-c4/Thien-Do-Chieu-Ban-dich-cua-Nguyen-Duc-Van-d34965

5)- Lý Công Uẩn Chiếu dời đô Thăng Long - Vịnh Hạ Long
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=116912&z=257