26/8/10

Ba Tôi

Ngọc Anh



Ở Việt Nam ngày trước năm 1975, chúng ta không có ngày lễ đặc biệt dành cho những người Cha như nước Mỹ. Qua đây sống , từ từ hội nhập dòng sống của người Mỹ, mỗi năm, những ngày lễ lớn như Lễ Tạ ơn, Giáng sinh, lễ cho Mẹ , lễ cho Cha, lễ cho Tình yêu… lần lượt thâm nhập vào từng gia đình người Việt sống trên đất Mỹ tạo thành một truyền thống tốt đẹp bên cạnh những tập tục cổ truyền của người mình như Tết , Vu lan mùa báo hiếu …
Năm nào mùa lễ Cha, tôi cũng đau lòng nhớ tới ba tôi , người đã quá cố từ hơn bốn mươi năm nay.
Ba tôi là một nhiếp ảnh gia, nói theo chữ nghĩa nhà nghề.
Thuở đó thập niên 50s, tôi còn nhỏ tí, chưa đi học. Gia đình tôi được cấp phát một căn nhà nhỏ trong khu cư xá Cảnh sát Quốc gia nằm trên đường Nguyễn Trung Trực, góc Lê Thánh Tôn sát nách chợ Bến Thành, Saigon. Sở làm của Ba thuộc ngành Cảnh sát Tư pháp.
Ba làm ở phòng Giảo nghiệm. Nhân viên ngành nầy tuy là Cảnh Sát , nhưng tôi thấy mấy bác cũng như ba tôi đều mặc thường phục áo sơ mi trắng quần tây màu đen khi đi làm. Tại sở, ba khoác thêm chiếc áo choàng màu trắng, như áo bác sĩ dài tới gối, lúc làm việc.
Ba tôi, giống như mấy bác đồng nghiệp của ba mà tôi biết, phải trực mỗi tháng một đêm ngủ luôn tại sở. Những ngày nầy tụi tôi thường được ba cho đi theo ba vô sở ngủ lại với ba.
Tụi tôi thích ghê lắm. Tôi vẫn còn nhớ tấm hình thằng em trai nằm trên cái ghế bố nhỏ, cầm tờ báo lên đọc giả bộ bắt chước y như ba, mà  ba chụp được, tờ báo đó em trai cầm ngược chiều vì nó có biết chữ đâu mà đọc.
Tôi thì thích theo ba vô phòng tối để coi ba rửa hình.
Ngộ ghê nghen, ba trực mà thấy ba cứ lui cui trong cái phòng tối om nầy suốt đêm.
Ngoài cửa phòng có gắn cái bóng đèn nhỏ xíu màu đỏ, được bật lên mỗi khi ba vô phòng tối để làm việc, là đèn hiệu phòng đang dùng để không có ai mở cửa vô , ánh sáng làm cho hình rửa bị hư , tôi nhớ ba nói vậy đó. Trong phòng tối thiệt, tối om, dơ bàn tay không thấy. Tôi sợ ma, bám dính theo ba.
Tôi nhớ, trong phòng tối cũng có gắn một bóng đèn rất nhỏ, màu đỏ, không đủ soi cái gì hết .
Ánh sáng có được, tôi nhớ, toát ra từ bộ phận máy rọi hình xuống tờ giấy Kodak màu trắng bóc. Sau đó thời gian mấy giây, nhớ ba canh chừng bằng cái đồng hồ đeo tay, ba nhúng tờ giấy đó vô thau đựng thuốc rửa hình, bằng cây kẹp, rồi lấy ra, ngâm vô thau kế bên.
Giai đoạn nầy thích thú nhất với tôi.
Tôi đứng bên ba, cái đầu chắc vừa đụng bàn thôi vì lúc nhỏ tôi nhỏ con lắm. Từ cạnh bàn, tôi trố hai mắt mà coi hình ảnh từ từ hiện lên trên tờ giấy trắng như là phép lạ.
Rồi tới khi hình đã rõ ràng sắc nét, ba tôi chăm chú kẹp tấm hình còn ướt lên, dùng mấy cái kẹp phơi quần áo mà kẹp tấm hình đen trắng đó lên sợi dây giăng ngang phiá trên cao.
Trên sợi dây nầy, tôi đã nhìn ngắm những tấm hình “thấy ghê” toàn là những hình ảnh xác chết . Những xác chết treo la liệt trong mấy tấm hình nầy như chết vì xe đụng, vì bị đâm chém, bị bắn, những vụ án mạng, treo cổ tự tử (cái nầy tôi sợ nhất). Có lần tôi thấy tấm hình người chết trôi trương phình lên sợ ghê lắm.
Trong sở làm nầy mấy bác thường kể chuyện cho má tôi nghe là có ma .
Ma hay đè mấy người ngủ đêm vì tới phiên trực.

Ngành Cảnh sát Tư Pháp ngày xưa còn có tên là “Cảnh Sát Khoa Học”: Người cảnh sát thuộc ngànhTư Pháp  luôn âm thầm đóng góp biết bao cho sự công bằng, điều tra, giải quyết những bất công, tệ nạn  xã hội.
Tôi nghĩ chắc ba cũng …sợ ma, cho nên ba mới đem lũ con nít theo ngủ trong sở với ba cho đỡ sợ .
Mấy đứa em tôi, tuổi chưa đi học, pha ùphách như quỉ có đứa nào biết sợ ma là gì đâu. Tôi thì sợ hình ảnh chớ không biết sợ ma nhiều. Được theo ba vô sở ngủ, được tự do đùa giởn mà ba ít khi nào rầy rà, là thích lắm. Má tôi nói ma là mấy hình tượng cụt đầu bằng đồng đen, những khuôn mặt phụ nữ, chưng bày trong sở đó. Mấy pho tượng cụt đầu nầy tôi nhớ rất đẹp, hình khuôn mặt tây phương, chắc do những người Pháp mang từ bên Pháp qua, chưng bày trong sở.
Tôi nhớ, Viện Giảo Nghiệm nầy xây theo kiểu người Pháp, rất đẹp. Sở làm có tầng lầu, cầu thang lên xuống có tay vịn bằng gỗ mun đen trơn bóng rất mịn đẹp, là chỗ tôi ưa tuột từ trên xuống dưới chơi như cầu tuột. Ban ngày thì ba lui cui trong phòng thí nghiệm, với những chai lọ kiểu dáng tròn tròn rất ngộ. Thỉnh thoảng ba đem về cho tôi vài cái chai nhỏ xíu nầy để tôi chơi.
Bạn biết, con nít mình thuở đó đâu có đồ chơi, nên mấy món như vậy thích lắm, tôi dùng để bỏ mấy con dế, con cuốn chiếu tôi bắt được. Tôi tuột cầu thang nổi tiếng tới nổi sau nầy khi tôi đã là thiếu nữ yểu điệu dịu dàng, học trường nữ trung học Gia Long, mỗi lần gặp lại mấy bác bạn của ba, mấy bác còn hỏi “cháu còn tuột cầu thang hông?” làm tôi mắc cở đỏ ửng mặt mày.
Tôi nhớ một lần ba về nhà, khoe với má là sở làm vừa có một máy sấy cho khô hình từ Nhựt gởi qua, ba đỡ phải treo hình lên dây nữa.
Không biết có phải vì méo mó nghề nghiệp hay không, mà ba tôi lúc nào cũng kè kè cái “súng Canon” bự tổ chảng, loại máy ảnh của phóng viên xài đó, bất kể lúc nào ba thấy cái gì hay hay, lạ lạ là ba túm lũ con vô bô hình của ba, cho nên tụi tôi rất ghét. Nhỏ em kế tôi còn kể, ghét nhứt hạng là mỗi đầu năm, ngày Tết, ba bắt từng đứa đứng kế bên cây bông mồng gà đỏ chói để ba bấm hình Tết. Ba thường cười mím mím nói “cười tươi chút đi con”. Nó nói nó ghét vì mình bị bắt chụp hình, chù ụ, đứng kế bông tươi rói, nên bông luôn đẹp hơn mình.
Bây giờ ngày tết, tôi luôn ao ước trong lòng, phải chi ba còn sống, ba bắt mình đứng đâu để ba chụp hình mình cũng ưng, mà cười thiệt tươi, tươi hơn cảnh và vật ở chung quanh. Nhờ ba thường hay chụp hình, mà bây giờ gia đình còn giữ lại nhiều hình ảnh rất quí giá như tấm hình thằng em trai ngồi ôm con khỉ của nó, con khỉ của chị em tôi, con khỉ mà tôi thương nhứt nhà. Trên bàn thờ của má tôi, có hình ông bà ngoại, ông nội, ông cố… Hình ông ngoại với bộ râu cá trốt thật đẹp, khuôn mặt khắc khổ mà tươi. Ông ngoại bận đồ lớn trong tấm hình nầy, coi chiến lắm, văn minh lắm, mà đầu ông ngoại thì bới củ hành.
Hỏi má, má cười cười nói:
-Ba mầy chụp ông ngoại lúc ông ngoại đang ngồi trên ghế ngoài sân, ông ngoại bận bà ba đó chớ. Trời nắng xiên xiên nên khi ba kêu ông ngoại ngước mặt lên cho ba chụp, ông ngoại nheo nheo con mắt mà hình lại thấy đẹp quá. Rồi ba mầy vẽ thêm cho ông ngoại cái áo lớn cho trịnh trọng, tô màu cho tươi  nữa.
Thì ra là ông ngoại bận bà ba chớ không phải bận áo lớn như trong hình.
Hình má thiệt đẹp, đầu bới cao, đôi chân mày do ba tự tay vẽ cho má.
Hình mấy chị em ngồi xếp hàng từ cao xuống thấp trên một bờ đê ở Phú Xuân Nhà Bè buổi đi chơi dã ngoại.
Từ ngày ba bị giết chết năm Mậu Thân, khoa học càng ngày càng tiến bộ. Tôi nhớ, ba tôi thích tất cả những kiến thức mới, những tiến bộ, những phát minh … Mỗi cái mới chạy nhựt trình là ba đọc cho cả nhà nghe, trong những bữa cơm gia đình.
Năm chiếc phi thuyền của Mỹ lên tới mặt trăng, mang về trái đất mấy mẫu đá ong lổ chỗ, người Mỹ mang đi khắp thế giới để khoe, ba cũng đưa mấy đứa con chen chúc nhau đi coi triển lãm cho biết.
Bây giờ, mỗi khi thấy những máy chụp hình ngày càng tinh vi, cho tới loại máy digital ra đời, vô cùng tiện lợi, hình ảnh đưa thẳng vào computer, sửa chữa thêm thắt dễ dàng bằng những software gài đặt sẳn, tôi lại ngậm ngùi nhớ tới ba tôi, ngày xưa đơn độc trong phòng tối để rửa từng tấm hình, rồi cắt bằng tay, hay ngồi còm lưng tỉ mỉ sửa chữa những đường nét trên hình bằng cây bút lông nhỏ tí teo chấm mực đen hay màu.
Nhiều khi ngồi nhìn lại những tấm hình xưa ba đã chụp, thấy mặt mày đứa nào cũng hỏng tươi, hỏng cười, vì hỏng thích làm người mẫu của ba, ba phải năn nỉ để chụp, thấy lòng dâng trào cảm xúc thưong ba, ước chi ba còn sống, mình sẽ luôn sẵn sàng để có những nụ cười tươi tắn nhứt, để dành cho ba mình.
Ngay cả những ngày lửa loạn ly về tận thành phố Saigon năm Mậu thân, mấy chị em ngồi trên mái nhà coi khói tỏa lan bầu trời, coi máy bay thả rocket, ba cũng chụp hình mấy chị em.
Sau đó mấy ngày thì ba mất! Ba rời cõi đời như một cơn gió thoảng qua.
Tôi nhớ những ngày đầu năm Mậu Thân, khi toán lính Thủy Quân Lục Chiến tiểu đoàn 2 Trâu Điên về trấn đóng trong cư xá Phú Lâm A, để vài hôm sau lại rút ra xa cảng ngăn chận bước tiến của cộng quân, ba tôi cũng đã chụp hình đoàn lính nầy và cho tôi tấm hình một người lính Trâu Điên kiêu dũng mà tôi giữ mãi cho tới ngày lưu lạc quê hương mới bị lạc mất. Nhờ câu chuyện về người lính Trâu Điên nầy mà tôi đã tìm ra vị Đại Đội trưởng chỉ huy Trâu Điên năm xưa, hiện đang sống tại quận Cam.
Thời gian nầy ba tôi thường ôm máy ảnh chạy theo Tướng N.N. Loan, Vị chỉ huy trưởng Tổng Nha CSQG can trường, xông xáo giữa lửa đạn, để chụp hình trận chiến khốc liệt đang diễn ra quanh khu vực Chợ Lớn, mặt trận Hàng Xanh, cầu Thị Nghè. Những công tác kề cận bên vị Tướng Tư lịnh CSQG oai hùng nầy tánh mệnh của ba cực kỳ nguy hiểm khi một chiếc áo giáp cũng không có, vủ khí trong tay chỉ là chiếc máy chụp hình. Cũng năm Mậu Thân tràn ngập khói lửa trong thành phố với mức độ khốc liệt, bạn bè của ba chết khá nhiều, ngày nào về ba cũng kể cho má nghe, rồi thì đến lượt ba tôi đã bị cộng sản giết chết trong khi đang thi hành nhiệm vụ.
Ba chết đi, cảnh sống thanh bần của gia đình tôi để lại ngôi nhà tan hoang trống lốc với má tôi, hãy còn rất trẻ, và bầy con tám đứa.
Má tôi, từ một bà nội trợ chân yếu tay mềm, đã phải xông xáo ra đường buôn bán nuôi bầy con, nay đã trở thành những Quốc Gia Nghĩa Tử.
Mấy bác đồng nghiệp của ba đã nói “ba cháu sanh nghề tử nghiệp”.
Bây giờ tôi cũng đam mê chụp hình, nhưng chỉ sắm cái compact gọn gàng để bóp, đi đâu cũng đem theo. Em trai tôi cũng sắm một dàn máy chụp hình có tầm cở mà mỗi tấm hình em trai chụp ra là một nghệ thuật tài hoa.
Mỗi khi nhà có đám tiệc họp mặt, có đầy đủ gia đình, tôi thường cầm máy chụp hình rà kiếm mấy đứa cháu xinh xắn dễ thương để năn nỉ, ỉ ôi hay nài ép chúng nó làm mẫu để tôi bấm vài kiểu. Có đứa thích được chụp hình thì ẹo qua ẹo lại làm dáng, đứa không thích chụp hình thì cái mặt chù ụ y chang tụi tôi hồi đó.
Một lần tôi chụp đứa em gái áp út, khi hình lên khung chuyển đi cho khắp mấy chị em, bà chị tôi cười quá trời vì con nhỏ nầy có cái trán in hệt ba tôi, vừa cao vừa rộng, đôi mắt thật lớn, miệng luôn mim mím, nhìn biết liền …con gái của ba. Em gái út thì khỏi nói, nó lấy hết nét đẹp của ba và má cộng hưởng. Tội nghiệp nhỏ em út nầy, không còn nhớ mặt ba, vì khi ba mất, nó mới lên 3 tuổi thôi.
Những tấm hình tôi chụp, luôn mang những nụ cười trẻ thơ, những kỷ niệm sinh nhật ngày Tết ngày lễ, và những hình ảnh tôi chộp bắt được trên đường đi làm, đâu đâu, tôi cũng đưa máy chụp hình lên nhắm, hình ảnh lung linh phía trước có khuôn mặt Ba, nụ cười mím chi rất đặc biệt luôn tươi tắn hiền lành, ba đẹp như Phan An, Tống Ngọc.
Ngày lễ Cha, tôi buồn nhiều lắm.
Từ năm Mậu Thân cho tới nay, đã qua 41 năm.
Má tôi đã trở thành một bà cụ già ốm nhom, cô đơn, tối ngày ngoài vườn chăm sóc mấy cây trái bông hoa . 41  năm, má tôi làm sương phụ nuôi dưỡng hình ảnh người chồng bạc mệnh thời chiến tranh.
Mơ ước như trẻ thơ, được một lần, đứng làm mẫu để ba chụp hình.
Nhất định là tôi sẽ cười, nụ cười đẹp nhất, để tươi hơn mấy nhánh bông mồng gà đỏ chói kia. Ước gì mình quay ngược được…thời gian.

Ngọc Anh.

Tống Lê Chân- Cuộc Bao Vây Dài Nhất

Trần Đỗ Cẩm
Trên đầu súng quê hương tổ quốc đã vươn mình….
Cố nhạc sĩ Anh Việt Thu – Youtube- Thúy Nga
2. Bài đọc suy gẫm nhân ngày Quân Lực VNCH:  Tống Lê Chân
    Tiền Đồn Quá Xa – Trần Đỗ Cẩm
Trong lịch sử chiến tranh cận đại, có nhiều trận đánh lớn quân số đôi bên lên tới nhiều sư đoàn, hoặc với tầm mức quan trọng “dứt điểm” như trận Normandie, Stalingrad, Okinawa, Iwo Jima v.v… Trong cuộc chiến tranh vừa qua tại Việt Nam, chúng ta cũng thường nghe nói tới những trận đụng độ ác liệt như trận Hạ Lào, An Lộc, Quảng Trị, Pleiku v.v… So với những cuộc hành quân nổi tiếng kể trên, trận đánh tại Tống Lê Chân giữa một Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân QLVNCH và quân Cộng Sản không những chỉ nhỏ bé về tầm vóc mà còn cả về mức độ quan trọng.
Trại Tống Lê Chân chẳng qua chỉ là một tiền đồn hẻo lánh gần biên giới Việt – Miên thuộc Vùng III Chiến Thuật có nhiệm vụ phát hiện sự xâm nhập của địch quân vào lãnh thổ VNCH. Tuy chỉ là một trận đánh nhỏ lại không mấy quan trọng, nhưng nếu kể về tinh thần chiến đấu can trường và sức chịu đựng phi thường của người lính chiến trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng, các chiến sĩ TÐ 92 BÐQ đã vượt trội và tạo nhiều thành tích có một không hai khiến trận đánh Tống Lê Chân trở thành có tầm vóc lịch sử, khác biệt và đáng chú ý hơn nhiều trận đánh lớn khác. Nhân dịp kỷ niệm ngày QLVNCH 19 tháng 6, chúng tôi tường thuật lại trận đánh oai hùng của TÐ 92 BÐQ tại Tống Lê Chân qua những tài liệu thâu thập được để tôn vinh các chiến sĩ Cọp Rừng Mũ Nâu. Ðây cũng là dịp tri ân toàn thể QLVNCH đã đổ nhiều xương máu bảo vệ quê hương.
Tống Lê Chân? Ðịa Danh Xa Lạ.
Cuộc chiến tranh dai dẳng tại Việt Nam ngoài mức độ khốc liệt, còn tạo ra những địa danh xa lạ. Nếu không có trận Tân Cảnh, Kon Tum, làm gì có những tên Charlie, Delta? Nếu không có trận Hạ Lào chắc cũng chẳng có LoLo, Sophia, BÐQ Bắc, BÐQ Nam v.v… Tống Lê Chân cũng là một tên rất lạ. Dân địa phương người Miên gọi vùng này là Tonlé Tchombe. Tonlé tiếng Miên có nghĩa là sông, hồ, suối hoặc nơi nào có nước. Thí dụ như Biển Hồ có tên Miên là Tonlé Sap. Khi mới thành lập, trại này chưa có tên nên Thiếu tá Ðặng Hưng Long, vị chỉ huy trưỏng đầu tiên phiên âm tiếng Miên Tonlé Tchombe thành tiếng Việt Tống Lê Chân. Sau này, phần đông các quân nhân trong binh chủng BÐQ biên phòng gọi tắt là Tống Lệ để ám chỉ một căn cứ đầy máu và nước mắt, không có một ngày yên vui kể từ khi ra đời.
Tiền đồn Tống Lê Chân nguyên thủy là một trại Dân Sự Chiến Ðấu (DSCÐ) (Civilian Irregular Defense Group gọi tắt là CIDG) do Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa Kỳ thành lập từ năm 1967 để phát hiện và ngăn chận sự xâm nhập của Cộng quân từ bên kia biên giới. Ðến năm 1970 trong chương trình cải biến Lực Lượng Dân Sự Chiến Ðấu thành Biệt Ðộng Quân Biên Phòng, phần đông những binh sĩ của trại Tống Lê Chân thuộc sắc dân ngưởi thượng Stieng đều tình nguyện ở lại để trở thành Tiểu Ðoàn 92 BÐQ Biên Phòng, tổng cộng gồm 292 binh sĩ lúc khởi đầu, chưa kể một số sĩ quan QLVNCH giữ các chức vụ chỉ huy.

Trại Tống Lê Chân thuộc Vùng III Chiến Thuật được thành lập vào đầu năm 1967 cùng với trại Prek Klok tại vùng Chiến Khu C của Việt Cộng. Vì chận ngay yết hầu nên ngay từ khi thành lập, các trại này đã bị địch quân đe dọa thường xuyên. Trong hệ thống LLÐB, trại Tống Lê Chân mang ám danh A-334 và được biến cải thành trại BÐQ Biên Phòng vào ngày 30 tháng 11 năm 1970. Toàn thể quân số trong trại lúc đó có 318 người (gồm 292 người nguyên thuộc DSCÐ và các sĩ quan cùng Hạ Sĩ Quan QLVNCH mới được bổ nhiệm tới để chỉ huy) trở thành TÐ 92 BÐQ Biên Phòng thuộc hệ thống chỉ huy của BÐQ/QLVNCH.
Trại Tống Lê Chân trấn giữ một địa điểm quan yếu, chận ngay đường vào khu Tam Giác Sắt và án ngữ vùng Mỏ Vẹt, Lưỡi Câu thuộc Cam Bốt. Ðây là những an toàn khu và cũng là đại bản doanh Cục R của Việt Cộng như hai mũi dao nhọn chĩa vào cạnh sườn Quân Khu III. Trong các trận hành quân vượt biên của Quân Ðoàn III do Ðại Tướng Ðỗ Cao Trí chỉ huy vào năm 1970, trại Tống Lê Chân đã đóng một vai trò quan trọng trong nhiệm vụ phát hiện và diệt địch. Căn cứ được thiết lập trên một ngọn đồi cao chừng 50 thước, trông xuống hai con suối nhỏ dân địa phương gọi là Takon và Neron. Ðây là những lạch nước khởi nguồn của sông Sài Gòn chảy qua Dầu Tiếng, Bến Súc, Phú Cường v.v…. Tống Lê Chân, như trên đã nói là một trong chuỗi trại Dân Sự Chiến Ðấu do LLÐB thiết lập dọc theo biên giới Miên – Việt thuộc lãnh thổ Quân Khu III.
Về vị trí, trại Tống Lê Chân nằm trong vùng ranh giới của hai tỉnh Tây Ninh và Bình Long, cách An Lộc chừng 15 cây số về hướng Tây Nam và mũi nhọn của chiếc Mỏ Vẹt chứng 13 cây số về hướng Ðông Nam. Dưới chân căn cứ là con đường 246 nối liền Chiến Khu C và Chiến Khu D của Việt Cộng. Ðây cũng là trục giao liên Nam – Bắc huyết mạch nối liền bản doanh của Cục R bên Cam Bốt và vùng Dầu Tiếng với Khu Tam Giác Sắt của Cộng Quân.
Với vị trí chiến lược vô cùng quan trọng có thể kiểm soát được các trục giao liên Nam – Bắc và Ðông – Tây của Cộng Quân tại vùng biên giới, lại trấn giữ sườn Tây cho thị trấn An Lộc, Tống Lê Chân như chiếc gai nhọn cần phải nhổ bằng mọi giá trên sa bàn trận liệt của địch. Vào mùa hè năm 1972, cùng với các trận cường tập có pháo binh và chiến xa nặng của Công quân vào vùng Lộc Ninh, Chơn Thành và An Lộc, các căn cứ biên phòng lân cận Tống Lê Chân như Thiện Ngôn, Katum, Bù Gia Mập đã phải di tản. Tống Lê Chân chơ vơ còn lại như một hải đảo cô đơn giữa biển người cộng quân trùng điệp.
Tứ Bề Thọ Ðịch
Nhằm mục đích mở rộng đường giao liên cũng như giữ bí mật các cuộc chuyển quân xâm nhập từ biên giới Miên – Việt vào lãnh thổ Quân Khu III, ngày 10 tháng 5 năm 1972, Cộng quân dồn lực lượng đánh biển người vào căn cứ Tống Lê Chân quyết nhổ cái gai trước mắt. Quyết san bằng căn cứ, địch quân dùng đại pháo 130 ly cùng với đủ loại súng cối, sơn pháo bắn phủ đầu như mưa vào căn cứ theo đúng chiến thuật lấy thịt đè người “tiền pháo hậu xung”. Trận pháo kích khốc liệt này chính thức mở đầu cho gần hai năm trời vây hãm. Sau loại pháo vòng cầu, nhiều đợt pháo cấp tập bắn thẳng vào Tống Lê Chân như muốn san bẳng căn cứ nhỏ bé nằm lẻ loi trên ngọn đồi. Trong khi đó, một rừng phòng không từ thượng liên đến cao xạ 37 ly, 57 ly và cả hỏa tiễn tầm nhiệt thuộc sư đoàn Pháo Phòng Không tân lập 377 khoá kín không phận khiến các phi cơ không thể nào tới gần để yểm trợ. Sau những đợt pháo kích dữ dội, Tiểu Ðoàn độc lập 200 của Việt Cộng lãnh nhiệm vụ tấn công vào Tống Lê Chân với sự yểm trợc của các đơn vị bộ binh thuộc hai Công Trường 7 và 9.
Tuy bị bao vây và cô lập, các chiến sĩ Mũ Nâu thiện chiến của TÐ 92 BÐQ đã bình tĩnh bố trí trong các giao thông hào đào sâu trong lòng đất chờ địch ngay khi các quả đạn pháo kích đầu tiên rơi vào căn cứ. Một đơn vị đặc công địch theo sát những trái pháo mở đường đã xâm nhập được vòng đai phòng thủ bên ngoài. Những chiến xa hạng nặng T-54 của Cộng quân yểm trợ cũng nã đạn như mưa rất chính xác khiền tình hình có vẻ nguy kịch. Nhưng quân trú phòngvẫn không nao núng vì rất tin tưởng vào hệ thống bố phòng vững chãi và nhất là bãi mìn dầy đặc bao quanh căn cứ. Dưới sự chỉ huy đầy kinh nghiện của Thiếu Tá TÐT Lê Văn Ngôn, các chiến sĩ BÐQ vẫn chưa khai hỏa. Họ chờ bộ binh chủ lực địch xung phong mới bắt đầu nổ súng. Quả nhiên, khi thấy không bị bắn trả, Cộng quân bắt đầu tràn vào căn cứ vì tưởng quân trú phòng đã bị chết hết hay mất tinh thần vì các đợt pháo kích ác kiệt cũng như vì chiến xa với đại bác 100 ly trực xạ. Ðúng lúc đó, các chiến sĩ Mũ Nâu mới đồng loạt khai hỏa. Từng đợt “biển người” của Cộng quân bị bất ngờ nhưng vì đã tiến tới quá gần không kịp tìm nơi ẩn trú nên bị đốn ngã như rạ. Sau đợt tấn công đầu tiên bị thiệt hại nặng, địch lui ra để pháo binh tiếp tục nã vào căn cứ, sau đó bộ binh lại tấn công. Sau nhiều đợt xung phong vô hiệu quả, cuối cùng Cộng quân phải rút lui, bỏ lại hàng trăm xác chết phơi thây trên hàng rào phòng thủ.
Cũng trong thời gian này, các mặt trận lớn khác tại vùng Hỏa Tuyến, Tây Nguyên, An Lộc … bùng lên dữ dội với những cuộc đụng độ đẫm máu của một Mùa Hè Ðỏ Lửa, trận đánh tại Tống Lê Chân tuy là một chiến thắng lớn của các chiến sĩ BÐQ nhưng không được nhiều người biết tới. Nhưng từ khi cuộc “thử lửa” ban đầu bị thất bại nặng nề, Cộng quân biết rằng không thể dễ dàng nuốt chửng Tống Lê Chân nên chúng chủ trương dùng chiến thuật tiêu hao, bao vây chặt chẽ và pháo kích thường xuyên với đặc công xâm nhập quấy phá. Chúng tin rằng chiến trường An Lộc lân cận có tầm mức quan trọng hơn và nếu đạt được chiến thắng, Tống Lê Chân không cần phải đánh cũng sẽ tự tan rã. Cuộc bao vây dài nhất trong quân sử bắt đầu …
Cứ như vậy, tiền đồn Tống Lê Chân bị Cộng quân vây chặt. Ðịch pháo kích thường xuyên vào căn cứ, trong khi màng lưới phòng không dầy đặc cắt đứt nguồn tải thương và tiếp vận duy nhất bằng phi cơ. Thoạt tiên, các phi cơ vận tải C-130 của Không Quân Việt Nam đã phải bay rất cao để thả dù tiếp tế khiến nhiều kiện hàng bay lạc ra ngoài, rơi vào tay Cộng quân. Theo lời kể lại của một hồi chánh viên, vào khoảng tháng 6-1973, Cộng quân đã tổ chức một đại đội có nhiệm vụ chuyên đi “lượm dù” để lấy đồ tiếp tế. Vì vậy, đã có dư luận từ các nguồi tin ngoại quốc cho rằng đôi bên đã ngầm thỏa thuận để các vận tải cơ được tự do thả dù mà không bị phòng không bắn lên, miễn là quân trú phòng không bắn vào toán Cộng quân lượm dù bên ngoài. Sau này, khi rút tỉa kinh ngiệm, KQVN đã hoàn chỉnh được kỹ thuật thả dù tiếp tế nên số lượng đồ tiếp vận thất thoát không còn dáng kể.
Riêng các phi cơ trực thăng, phương tiện duy nhất để tản thương hay chở quân tăng viện không thể nào bay lọt lưới phòng không dầy đặc của địch. Nhiều toán trực thăng đã liều lĩnh bay vào Tống Lê Chân chẳng những không đạt được nhiều thành công, lại bị thiệt hại khá nặng. Trong khoảng thời gian từ tháng 10-73 đến cuối tháng 1-74, có khoảng 20 phi vụ trực thăng nhằm tản thương và tiếp tế cho Tống Lê Chân, nhưng chỉ có 6 trực thăng hạ cánh được, trong số này có 3 chiếc bị bắn hư hại trên bãi đáp. Cuối tháng 12-73, một trực thăng Chinook CH-47 cũng bị bắn rơi khi hạ cánh. Ðây là chiếc trực thăng thứ 13 bị trúng đạn phòng không địch chỉ nội trong tháng 12/73. Thiệt hại về phía KQVN gồm 9 chết, 36 bị thương. Tới tháng 1-1974 tức là một năm sau khi ký kết hiệp định ngưng bắn, vẫn còn có 12 chiến sĩ BÐQ bị thương nặng vẫn chưa được tản thương khỏi căn cứ.
Ngưng Chiến Kiểu Việt Cộng
Tuy căn cứ Tống Lê Chân bị Cộng quân khởi sự tấn công vào tháng 5 năm 1972, nhưng bị vây hãm và tấn công dữ dội nhất vào lúc thỏa ước nhưng bắn được thi hành tại Việt Nam theo khuôn khổ hiệp định Paris. Ðây cũng là một điểm đặc biệt có một không hai trong cuộc chiến tại Việt Nam cũng như trong lịch sử chiến tranh thế giới: môt hiệp ước ngưng bắn bị vi phạm ngay sau khi vừa ký kết! Cộng quân, có lẽ đang cay cú vì thất bại chua cay không chiếm được An Lôc, nay cố chiếm một mảnh đất khỉ ho cò gáy gần biên giới Việt – Miên để có một chỗ cho Cục R ra mắt. Trong lúc toàn thể thế giới thở phài nhẹ nhỏm vì ngòi lửa chiến tranh tại Việt Nam có thể đưa đến hiểm họa chiến tranh giữa hai khối Tư Bản và Cộng Sản không còn nữa, thì tại Tống Lê Chân, TÐ 92 BÐQ vẫn đơn độc ngày ngày hứng pháo và dành dựt với Cộng Quân từng thước đất để sống còn.
Tuy Cộng Quân trắng trợn và công khai vi phạm thỏa ước ngưng bắn, nhưng ngưới bạn đồng minh Hoa Kỳ của VNCH vẫn dửng dưng không hề có một lời phản đối dù lấy lệ, dường như còn say men rượu mừng vì đã tìm thấy “ánh sáng ở cuối đường hầm”. Dĩ nhiên họ cũng chẳng có một phản ứng hay hành động tích cực nào thuận lợi cho VNCH. Ngay cả Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Ðình Chiến cũng không can thiệp. Vì vậy, trước những vi phạm trắng trợn và lộ liễu của Cộng quân tại Tống Lê Chân, trong phiên họp ngày 17-3-73, trưởng phái đoàn VNCH là tướng Dư Quốc Ðống đã phải đặt vấn đề Tống Lê Chân lên bàn hội nghị với ba giải pháp như sau:
1. Cử một tổ Liên Hợp Quân Sự bốn bên đến Tống Lê Chân để điều tra tại chỗ các sự vi phạm.
2. Nếu phe CS phản đối, sẽ yêu cầu UB Kiểm Soát Ðình Chiến can thiệp.
3. Yêu cầu các đơn vị Cộng quân quanh Tống Lê Chân không được bắn lên phi cơ của UBQT.
Dĩ nhiên đề nghị hợp lý của phái đoàn VNCH bị phe Cộng Sản phản đối vì chính chúng là kẻ vi phạm. Trần Văn Trà, trung tướng trưởng phái đoàn MTGPMN cố ý vắng mặt để tên đạt tá Ðặng Văn Thu thay thế. Tên Thu một mặt vu khống chính VNCH mới là phe vi phạm ngưng bắn, một mặt tự coi là không đủ thẩm quyền quyết định nên yêu cầu mở một cuộc họp khác để bàn về Tống Lê Chân với sự hiện diện của Trần Văn Trà. Về các đề nghị thứ hai và thứ ba của phái đoàn VNCH, phe Cộng sản cũng “nhất trí” phản đối, ngoài ra còn dọa dẫm các thành viên trong UHQT rằng tình hình tại Tống Lê Chân “chưa rõ rệt” nên họ không bảo đảm an ninh cho phái đaòn cũng như phi cơ của Ủy Hội.
Tóm lại, cả phe Cộng sản trong UBLH và UHQT đều đồng thanh tránh né việc điều tra vi phạm ngưng bắn tại Tống Lê Chân, lúc thì chờ chỉ thượng cấp quyết định, khi lại không bảo đảm an ninh.
Ðến ngày 23-3-73 tức là chỉ còn 4 hôm nữa là hết hạn 60 ngày làm việc của UBLH bốn bên, phái đoàn Hoa Kỳ mới yêu cầu chiếu lệ Gia Nã Ðại là chủ tịch UBQT điều tra về vụ Tống Lê Chân. Phía Việt Cộng đưa tên đại tá một mắt Võ Ðông Giang ra thảo luận với đại tá Lomis của Gia Nã Ðại và thỏa thuận cử sĩ quan liên lạc của MTGPMN theo UHQT tới Tống Lê Chân vào ngày 24-3-73. Nhưng đó cũng chỉ là mánh lới tiểu xảo cố hữu của Cộng Sản: tới ngày hẹn, viên sĩ quan liên lạc này đã “trễ trực thăng” nên máy bay của UHQT không đi Tống Lê Chân được!
Như vậy, với sự tráo trở và lọc lừa cố ý của Cộng sản, việc điều tra tại Tống Lê Chân đã không bao giờ được thực hiện. Số phận của Tống Lê Chân đành phó thác cho định mệnh và TÐ 92 BÐQ phải tự chiến đấu một mình để sống còn.
Vòng Vây Xiết Chặt
Suốt năm 1973 kể từ ngày ngưng bắn, trong lúc Việt Cộng giở thủ đoạn hèn hạ tại bàn hội nghị, Tống Lê Chân bị bao vây chặt chẽ và bị tấn công hàng chục lần nhưng vị trí vẫn đứng vững như một khúc xương khó nuốt. Nhả ra không được vì bị Tống Lê Chân chận nghẹn ngay yết hầu, nuốt vào thì không xong vì các chiến sĩ Mũ Nâu rất kiên cường không chịu nhượng bộ một tấc đất, Cộng Quân chỉ còn cách bao vây “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Tuy phòng không địch dầy đặc bao quanh căn cứ nhưng phi cơ VNCH đôi khi vẫn liều lĩnh bay lọt qua màng lưới của tử thần để tản thương và tiếp tế. Việc tiếp tế cho Tống Lê Chân bằng dù khá hiệu quả, nhưng vì chu vi phòng thủ quá hẹp nên có một số đồ tiếp liệu bị lọt vào tay địch.
Qua năm 1974, trong khi các phái đoàn “Kiểm Soát” tranh luận dằng co, tình hình tại Tống Lê Chân ngày càng nguy ngập sau cả năm trời bị bao vây. Thời gian càng trôi qua, phần bất lợi càng nghiêng về phía quân trú phòng. Bị cả sư doàn địch quân phong tỏa chặt chẽ và bị tấn công thường xuyên, quân số BÐQ ngày càng hao hụt không được bổ xung. Lúc này, TÐ 92 BÐQ chỉ còn lại 255 người, trong số đó có nhiều thương binh. Việc tiếp tế lại không được đầy đủ vì phi cơ thả dù bị phòng không chận bắn. Về mặt tinh thần cũng sa sút phần nào vì bị vây hãm quá lâu ngày và áp lực liên miên . Tuy vậy, Tống Lê Chân vẫn còn đứng vững như một biểu tượng hùng hồn cho lòng quả cảm và sức chiến đấu kiên cường của các chiến sĩ BÐQ.
Nhưng để giữ vững Tống Lê Chân, QLVNCH tính ra đã phải trả một giá quá đắt: sự thiệt hại về nhân mạng mỗi ngày một cao, việc dùng phi cơ để yểm trợ và thả dù tiếp tế đã trở thành một gánh quá nặng cho KQVN lúc đó phương tiện không còn được dồi dào như lúc Hoa Kỳ còn tham chiến. Hơn nữa, tuy Tống Lê Chân chiếm giữ một vị trí khá qun trọng nhưng vẫn chỉ là một tiền đồn nên giá trị quân sự không thể so sánh với các căn cứ chính cần phải bảo vệ khác, do đó không nhất thiết phải giữ bằng mọi giá. Vì không thể chia bớt lực lượng để yểm trợ Tống Lê Chân, đã đến lúc BTL/QÐ III phải có một quyết định dứt khoát để giải quyết vấn đề Tống Lê Chân để chấm dứt tình trạng bất lợi.
Do đó, vào ngày 23-3-73, tướng Phạm Quốc Thuần, Tư Lệnh QÐ III đề nghị với Bộ TTM/QLVNCH chọn một trongba giải pháp sau đây:
1. Mở một cuộc hành quân cấp sư đoàn từ An Lộc để giải tỏa áp lực, tăng cường, thay thế hay di tản TÐ 92 BÐQ tại Tống Lê Chân.
2. Cho phép thương lượng với Cộng quân, giao Tống Lê Chân cho chúng để đổi lấy sự di tản an toàn của các chiến sĩ Mũ Nâu trú phòng.
3. Cho lệnh TÐ 92 BÐQ được di tản khỏi căn cứ bằng những toán nhỏ để tránh bị tiêu diệt hoàn toàn.
Về giải pháp một, theo tình hình lúc đó, toàn bộ vùng Lai Khê, An Lộc chỉ có đơn độc một sư đoàn 5 chống giữ, hiện đang phải đương đầu với các Công Trường 5, 7 và 9 của Cộng quân. Vì vậy, ngay cả việc giữ an ninh trục lộ huyết mạch 13 cũng còn khó khăn, chưa đủ quân số, nói chi đến việc mở đường tới tận Tống Lê Chân để tăng viện? Hơn nữa, dù một sư đoàn có thể đảm đương trọng trách tiếp viện, nhưng kiếm đâu ra sư đoàn này trong lúc các đại đơn vị QLVNCH tuy đã phải phân tán rất mỏng nhưng cũng vẫn chưa đủ để trám vào những vùng quan trọng Hoa Kỳ vừa rút quân để lại?
Như vậy, giải pháp 1 coi như không thể thực hiện được. Nhưng nếu giải pháp 1 bất thành vì lý do quân sự thì giải pháp 2 cũng thiếu thực tế vì lý do chính trị. Nếu “bàn giao” Tống Lê Chân cho Cộng quân, hậu quả tai hại về chính trị sẽ không thể lường được. Quân và dân Miền Nam sẽ vô cùng hoang mang. Tổng Thống Thiệu sẽ rất khó ăn khó nói vì mới hô hào “dành dân chiếm đất” trước đây không lâu. Vả lại, nếu giao Tống Lê Chân cho Cộng Quân, việc này có thể sẽ trở thành tiền lệ đưa tới nhiều cuộc bàn giao kiểu Tống Lê Chân khác.
Do đó, tuy đề nghị ba giải pháp, nhưng tướng Thuần biết rỏ chỉ còn một con đường khả trợ duy nhất: đó là cho phép TÐ 92 BÐQ rút khỏi Tống Chân. Nhưng quyết định rút bỏ này không phải là không có hậu quả nghiêm trọng về quân sự cũng như chính trị. Hơn nữa, việc rút quân qua vòng vây trùng điệp của Cộng Quân cũng không phải là điều dễ dàng. Chính vì những lý do này mà BTL/QÐ III phải hội ý trước với Bộ TTM. Rất có thể, ngay Bộ TTM cũng không quyết định được, mà việc rút quân phải do chính Tổng Thống cho phép.
Trong khi chờ đợi quyết định dứt khoát từ trung ương, tình hình tại Tống Lê Chân trở nên hết sức căng thẳng và sôi động từng giờ, từ trầm trọng đến nguy kịch. Bị bao vây cả năm trời, thiếu lương thực, thiếu đạn dược, quân số hao hụt, thương binh ngày càng nhiều không được di tản, bị pháo liên miên, đặc công đánh phá ngày đêm … khiến TÐ 92 BÐQ ngày càng suy yếu. Tuy nhiên, các chiến sĩ Mũ Nâu vẫn kiên cường giữ vững căn cứ bằng mọi giá. Và cuộc bao vây dài nhất trong quân sử vẫn tiếp tục.
Tử Thủ Ðến Cùng
Ðể giảm bớt phần nào áp lực vô cùng nặng nề của khoảng 3 Sư Ðoàn địch quanh Tống Lê Chân, vào ngày 23/7/74, phi cơ của Không Quân VNCH bay trên 30 phi vụ dội bom vào các vị trí Cộng Quân trên trận địa. Nhưng phòng không địch rất dầy đặc nên phi cơ qanh tạc không mấy hiệu quả. Ngoài ra, lực lượng địch quá đông nên chúng vẫn không chịu rút lui để tránh thiệt hại mà ngược lại còn gia tăng cường độ tấn công để sớm thanh toán mục tiêu.
Trong khoảng thời gian liên tiếp 3 ngày từ 22 đến 24/3/74, Cộng Quân dùng đủ loại đại pháo 130 ly, hỏa tiễn 122 ly, súng cối 82 ly v.v… nã hơn 1,000 quả đạn vào tiền đồn Tống Lê Chân nhỏ bé, nơi có khoảng 300 chiến sĩ TÐ 92 BÐQ đang bị vây hãm. Tuy phi cơ được gọi đến oanh kích và thả trái sáng yểm trợ, nhưng hỏa lực phòng không vô cùng dữ dội của Sư Ðoàn Phòng Không 377 địch với các loại hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7, đại bác 57 ly, 37 ly và thượng liên đã đan một màn lưới lửa đầy đặc quanh Tống Lê Chân khiến mọi hoạt động của phi cơ đều vô hìệu. Bên trong trại, các chiến sĩ Mũ Nâu chỉ còn cách co mình chịu pháo. Nhiều công sự phòng thủ cũng như vị trí chiến đấu bị hư hại vì cơn mưa pháo. Tuy nhiên, Trung Tá Lê Văn Ngôn, vị Tiểu Ðoàn Trưỏng, tuy mới có 25 tuổi nhưng dầy dạn kinh nhiệm chiến trường vẫn bình tĩnh đôn đốc và ra lệnh cho binh sĩ trực thuộc chuẩn bị phản công sau mỗi đợt pháo kích. Quả nhiên, liên tiếp trong 2 đêm 21 và 22/3/74, sau khi “tiền pháo”, khoảng một trung đoàn bộ binh địch “hậu xung” dữ dội cả bốn phía định san bằng tiền đốn nhỏ bé bị vây hãm đã lâu ngày. Nhưng TÐ 92 BÐQ bắn trả dữ dội, tuy đạn dược khan hiếm nhưng họ tác xạ rất chính xác, đẩy lui nhiều đợt tấn công biển người. Có lúc vì Cộng Quân quá đông, các chiến sĩ Mũ Nâu bắn không xuể nên một số đã lọt vào lớp hàng rào phòng thủ. Nhiều trận cận chiến bằng lựu đạn diễn ra ác liệt. Quân trú phòng được lợi thế vì trú ẩn trong các hầm hố kiên cố nên đã gây thiệt hại nặng cho địch quân. Cuối cùng, trước tinh thần chiến đấu dũng mãnh và can trường của TÐ 92 BÐQ, địch đành ôm hận rút rui để lại nhiều xác đồng bọn và đủ loại vũ khí.
Tuy vẫn giữ vững được vị trí nhưng tình trạng bên trong căn cứ vô cùng bi đát. Thương binh mỗi lúc một nhiều thêm vì không được tản thương. Ðạn dược gần cạn vì các trận đánh liên tục, lương thực thiếu thốn vì không được tiếp tế đã nhiều ngày, ngay cả đên nước uống cũng khan hiếm. Hơn nữa, sau mỗi đợt tấn công bị thất bại, Cộng Quân lại điên cuồng pháo kích dữ dội hơn.
Trước tình thế nguy ngập như chỉ mành treo chuông, Trung Tá Ngôn biết rõ nếu không được tản thương, tăng viện, yểm trợ và tiếp tế hữu hiệu ngay tức khắc, việc giữ Tống Lê Chân hầu như không thể làm nổi. Trong lúc đó, biết được tình trạng cực kỳ bi đát của quân trú phòng, Cộng Quân chung quanh đồn dùng loa phóng thanh uy hiếp tinh thần và kêu gọi TÐ 92 BÐQ đầu hàng. Nhưng Trung Tá Ngôn vẫn không rối trí. Một mặt ông ra lệnh cho các binh sĩ bố phòng chặt chẽ để nhất định đánh tới người cuối cùng. Mặt khác, ông gửi công điện khẩn cấp cho Ðại Tá Nguyễn Thành Chuẩn, CHT Liên Ðoàn 3 BÐQ tại An Lộc yêu cầu thả dù tiếp tế gấp khí giới, đạn dược và lương thực cho quân trú phòng. Trung Tá Ngôn cũng yêu cầu gửi quân tiếp viện và gia tăng sự yểm trợ của phi cơ. Nhưng các phi cơ dù liều lĩnh cũng không thể nào bay qua được hàng rào phòng không và quân tiếp viện cũng chẳng bao giờ tới. Tuy nhiên, dù trong tình trạng tuyệt vọng, các chiến sĩ anh dũng của TÐ 92 BÐQ vẫn nhất quyết không hàng địch. Trung Tá Ngôn còn cho biết nếu bị địch tràn ngập, ông sẽ yêu cầu dội bom phá hủy Tống Lê Chân để cùng chết với địch quân.
Nhận được công điện cầu cứu của TÐ 92 BÐQ, Ðại Tá Chuẩn lập tức chuyển lời yêu cầu tiếp viện lên BTL/QÐ II. Nhưng Tướng Thuần cho biết vẫn chưa nhận được chỉ thị nào của Bộ TTM về đề nghị tăng viện hay di tản căn cứ! Trong lúc Tống Lê Chân như ngọn đèn leo lét trước trận cuồng phong, có thể bị tràn ngập bất cứ lúc nào, nhưng lệnh trên vẫn là “chờ”!
Cho tới giờ phút này, quân số tại Tống Lê Chân gồm có 254 BÐQ, 4 binh sĩ Pháo Binh, 12 lao công chiến trường và 7 nhân viên phi hành đoàn trực thăng bị bắn rơi. Tuy tổng cộng gần 300 nhân mạng nhưng thật sự hầu hết trong số này đã bị thương ít nhất một lần. Hơn nữa, bị vây hãm lâu ngày trong tình trạng thiếu thốn nên khả năng chiến đấu đã bị yếu đi rất nhiều.
Về phía Cộng Quân, tuy đã bị thiệt hại rất nặng nhưng lại được tăng viện và bổ xung nhanh chóng từ các an toàn khu bên Cam Bốt nên sức mạnh coi như không suy giảm. Trong lúc chỉnh đốn hàng ngũ, địch ngơi tấn công nhưng vẫn pháo kích dữ dội. Rút kinh nghiệm những trận tấn công trước đã bị thất bại chua cay, Cộng quân biết tuy TÐ 92 BÐQ sẽ chiến đấu cho đến phút chót nhưng như cá nằm trong rọ nên chúng thong thả nghỉ ngơi dưỡng quân, cố ý để quân trú phòng kiệt quệ tới mức tối đa mới tấn công dứt điểm để đỡ bị thiệt hại. Và chuyện phải đến đã đến!
Những Ðợt Cường Tập Liên Tiếp
Ròng rã trong các đêm 24, 25 và 26/3/74, Cộng quân sau khi bổ xung đầy đủ đã lìên tiếp mở những đợt xung phong biển người ồ ạt quyết san bằng Tống Lê Chân. Tuy đã gần kiệt sức, các chiến sĩ Mũ Nâu vẫn cắn răng chờ địch trong những giao thông hào đổ nát vì đạn pháo kích. Trung tá Ngôn và các cấp chỉ huy cũng sát cánh trong các công sự phòng thủ với thuộc cấp, ra lệnh phải tiết kiệm từng viên đạn, chỉ được bắn khi thật “chắc ăn”. Giá của mỗi viên đạn phải là một quân thù. Rồi hàng hàng lớp lớp Cộng Quân tràn tới giữa tiếng hò la man đại “hàng sống, chống chết”! Ðúng lúc này, các chiến sĩ BÐQ mới cắn răng xiết chặt cò súng. Ðịch đã xâm nhập hàng rào kẽm gai phòng thủ ngoài cùng, nhưng lập tức bị khựng lại vì gắp phải bức tường lửa từ trong bắn ra rất chính xác. Xác địch chồng chất trên trận địa hay vất vưởng trên hàng rào kẽm gai. Nhưng địch quá đông, nhất định “dứt điểm” nên chúng vẫn liều lĩnh xung phong. Chẳng bao lâu, chúng tràn tới hàng rào thứ hai. Lúc này một loạt mìn “Claymore” nổ tung khiến nhiều xác giặc tan thành mảnh vụn. Tiếng súng nổ, tiếng la hét cùng với mùi thịt, mùi máu, mùi thuốc súng tạo nên một khung cảnh khủng khiếp. Nhiều chiến sĩ BÐQ quá mệt mỏi và căng thẳng gần như ngất xỉu vì những trận tấn công liên tiếp đêm này qua đêm khác nhưng vẫn không rời tay súng.
Ðịch quân quá đông, lớp này chết, lớp khác đạp lên xác đồng bạn tiến tới. Trong đêm tối, phi cơ không thể yểm trợ hỏa lực; dù có ban ngày đi nữa cũng khó bay qua màng lưới phòng không. Trên bầu trời đen kịt, chỉ có vài đóm hỏa châu do phi cơ bay thật cao thả xuống, không đủ soi sánh trận địa, trông leo lét và mong manh như số phận của gần 300 chiến sĩ đang tử chiến với quân thù. Ðịch đã tràn gần tới hàng rào phòng thủ sau cùng, đôi bên giáp mặt. Các chiến sĩ Mũ Nâu buông những cây súng đỏ nòng, với tay tìm lựu đạn. Nhiều tiếng nổ chát chúa giúp hàng loạt những con thiêu thân thực hiện lời thề “sinh Bắc tử Nam”. Lại một loạt lựu đạn thứ hai tung ra giết hết những tên địch còn sống sót trong đợt xung phong này. Bên ngoài hàng rào, không còn những bóng người đầu đội nón cối, chân đi dép râu di động như trước. Sau đó, mặt trận bỗng nhiên im bặt không còn những tiếng la hét hô xung phong man dại. Những tên địch ngoài xa may mắn còn sống sót biết không thể xâm nhập căn cứ nên vội vã lẩn vào bóng đêm. Ðợt xung phong cuối cùng của địch đã bị chận đứng tuy chúng đã lọt được gần tới hàng rào phòng thủ sau cùng.
Một lần nữa, Cộng Quân tuy đông hơn nhưng lại bị thất bại chua cay trước sự quả cảm và tinh thần chiến đấu gan dạ vô song của các chiến sĩ TÐ 92 BÐQ. Cùng với lời nguyền “Thà chết không hàng giặc”, căn cứ Tống Lê Chân tuy tan nát như TÐ 92 đang tan nát, nhưng vẫn đứng vững như một phép lạ. Vỏn vẹn một Tiểu Ðoàn QLVNCH vẫn giữ vững được vị trí sau khi bị bao vây hàng năm trời với nhiều đột tấn công của hàng Sư Ðoàn địch? Các “cố vấn” Hoa Kỳ còn sót lại tại BTL/QÐ III đã vô cùng kinh ngạc. Trước đây họ đã cho rằng số phận của Tống Lê Chân coi như đã “xong”, vì theo ước tính của những người lạc quan nhất, ngay cả quân đội Hoa Kỳ với hỏa lực khủng khiếp của thảm bom “Arc Light” B-52 và đại pháo 175 cũng khó lòng giữ nổi Tống Lê Chân trong vòng vài ba tuần. Phía Công quân lại càng sững sờ vì chúng tưởng sẽ ăn tươi miếng mồi béo bở nhưng lại gặp phải cục xương khó nuốt. Sau nhiều cuộc tấn công thất bại và bị thiệt hại nặng nề, chúng đành ôm hận, lập lại sa bàn trận địa, bổ sung quân số, rút ưu khuyết điểm chờ ngày rửa hận.
Trong những ngày kế tiếp và suốt tuần lễ đầu tiên của tháng 4/74,Cộng Quân không giám tấn công mạnh vào Tống Lê Chân. Chúng chỉ dùng đặc công quấy rối nhưng mức độ pháo kích vẫn không giảm. Nhưng “mãnh hổ nan địch quần hồ”, các chiến sĩ Mũ Nâu đã không còn sức chiến đấu. Ðến lúc này, thượng cấp vẫn chưa có quyết định dứt khoát về việc tăng viện hay rút bỏ Tống Lê Chân. Cả Phủ Tổng Thống, Bộ TTM lẫn BTL/QÐ III đều lâm vào thế “tiến thối lưỡng nan” không có cách nào giải quyết vấn đề. Sau 17 tháng trời ròng rã bị vây hãm, pháo kích và tấn công liên miên TÐ 92 BÐQ hầu như không còn phương cách nào để thoát khỏi viễn ảnh bị tiêu diệt.
Trận Ðánh Sau Cùng Của TÐ 92 BÐQ
Nhưng tình trạng tạm thời sống lây lất không còn kéo dài được bao lâu. Tống Lê Chân như một con cá phơi mình trên thớt không còn phương cách tự vệ, nằm chờ lưỡi dao chém xuống. Và lưỡi dao đã rơi …
Ngày 11/4/74, sau khi tái điều nghiên, bổ xung lực lượng, Cộng quân mở những cuộc tấn công ác liệt quyết đạt được chiến thắng bằng mọi giá. Trong ngày chúng pháo kích mù mịt không dưới 1,000 quả đạn vào căn cứ đã tan nát trong các cuộc tấn công trước. TÐ 92 BÐQ lúc này đã kiệt lực, hết đạn, một số lớn binh sĩ lại bị thương nên không còn sức chống trả những đột tấn công mãnh liệt của đối phương. Nhưng dù tình thế đã đến lúc tuyệt vọng nhưng Trung Tá Ngôn vẫn không ra lệnh rời bỏ căn cứ khi chưa có lệnh của thượng cấp. Trước những loạt đạn pháo kích chính xác và các đợt tấn công biển người, vị TÐT anh hùng biết chắc không thể nào phòng thủ được nữa nên khẩn cấp yêu cầu thượng cấp cho lệnh di tản trước khi căn cứ bị địch quân tràn ngập. Trung Tướng Thuần, Tư Lệnh QD III – không rõ có tham khảo ý kiến của Bộ TTM hay Phủ Tổng Thống hay không – ra lệnh cho Trung Tá Ngôn phải “tử thủ bằng mọi giá”!
Nhưng TÐ 92 BÐQ sau hơn một năm trời bị vây hãm, bị pháo kích và tấn công liên miên bởi một lực lương địch quân đầy đủ vũ khí và đông hơn nhiều lần, lại thiếu đạn dược, lương thực, quân số hao hụt không được bổ xung nên đã chẳng còn giá nào để trả! Các chiến sĩ Mũ Nâu không còn nhiều chọn lựa: ở lại căn cứ chắc chắn sẽ bị chết hay bị bắt hết vì không còn cách nào ngăn chận địch quân hoặc đầu hàng để tìm con đường sống. Nhưng theo truyền thống hào hùng của binh chủng Mũ Nâu, dù trong lúc thập tử nhất sinh cũng vẫn không hàng địch. Trung Tá Ngôn đã đưa ra một quyết định vô cùng táo bạo: dùng toàn lực phá vòng vây, rời bỏ căn cứ, tuy có thể bị chết hết nhưng may ra sẽ đưa đơn vị tới một nơi an toàn.
Sau khi quyết định xong, vào khoảng nửa đêm 11/4, căn cứ Tống Lê Chân báo cáo nguy cơ sắp bị địch quân tràn ngập. Sau đó, mọi giấy tờ, tài liệu quan trọng đã được thiêu hủy đúng theo kế hoạch di tản để không bị lọt vào tay địch. Lúc dó, chỉ có phi cơ bay thật cao thả hỏa châu yểm trợ. TÐ 92 BÐQ yêu cầu phi cơ ngưng thả trái sáng để đơn vị nương theo bóng tối rời bỏ căn cứ. Dưới sự chỉ huy gan dạ của vị TÐTtrẻ tuổi vả tinh thần kỷ luật của toàn thể binh sĩ, TÐ 92 BÐQ đã di tản trong vòng trật tự, mang theo tất cả những thương binh. Liên lạc vô tuyến với BTL/QÐ III bị gián đoạn ngay sau đó.
Mãi tới 9 giờ sáng ngày hôm sau 12/4, BTL/QÐ III mới bắt được liên lạc với TÐ 92 BÐQ trên tần số hành quân lúc đó đã rời khỏi Tống Lê Chân đang trên đường di chuyển về hướng An Lộc, khoảng trên 15 cây số về hướng Ðông Bắc. Cuộc hành trình xuyên qua rừng rậm dưới sự rình rập của Cộng Quân, lại phải mang theo nhiều thương binh nên vô cùng gian nan vất vả. Suốt đêm, Tiểu Ðoàn 92 BÐQ phải kịch chiến với địch, vừa đánh vừa tìm đường rút lui khiến thêm 14 binh sĩ tử thương, 34 người nữa bị thương. Cuối cùng, may mắn như một phép lạ, TÐ 92 BÐQ tới được An Lộc tương đối an toàn, chỉ có thêm 4 chiến sĩ can đảm ở lại chận đường truy kích của địch quân để thành phần chủ lực rút lui anh dũng hy sinh. Tất cả các thương binh, kể cả xác chết của những người bị thiệt mạng đề được mang về.
Biệt Ðộng Quân: Sát!
Nhìn chung, Tống Lê Chân chỉ là một tiền đồn nơi đèo heo hút gió gần biên giới Việt – Miên không được nhiều người biết đến. TÐ 92 BÐQ lại là một đơn vị tương đối trẻ trung mới được thành lập từ năm 1970. Vị TÐT, Trung Tá Lê Văn Ngôn, con Cọp đầu đàn của TÐ 92 BÐQ cũng là một sĩ quan rất trẻ mới 25 tuổi, xuất thân khóa 21 Võ Bị Ðà Lạt. Trận đánh tại Tống Lê Chân cũng không phải là một cuộc đụng độ lớn. Cuối cùng, Tống Lê Chân lại rơi vào tay địch.
Như vậy, về mặt quân sự, rõ ràng trận đánh tại Tống Lê Chân cũng chỉ “tầm thường” như những trận đánh cùng tầm cỡ khác, kết thúc bằng việc quân trú phòng phải di tản. Tuy nhiên, về phương diện tinh thần chiến đấu và sức chịu đựng phi thường của các chiến sĩ Mũ Nâu, Tống Lê Chân đã vượt xa những trận đánh lớn nhỏ khác trong quân sử với nhiều điểm rất đặc biệt. Ðây là cuộc bao vây lâu dài nhất trong quân sử, một trận dánh trong chiến cuộc Việt Nam mà lực lượng đôi bên chênh lệch nhất và sau cùng, một cuộc lui binh thần tình nhất do một vị TÐT trẻ tuổi nhất, can trường nhất chỉ huy.
Cuộc Bao Vây Dài Nhất Trong Quân Sử
Kể từ khi trại Tống Lê Chân bị Cộng Quân khởi sự uy hiếp vào năm 1972 cho tới khi TÐ 92 BÐQ phải di tản vào tháng 4 năm 1974, căn cứ đã bị bao vậy ròng rã 17 tháng trời! Vòng vây của địch vô cùng chặt chẽ khiến “Nôi bất xuất, ngoại bất nhập”, kể cả đường hàng không. Chẳng những việc gửi quân tăng viện, tản thương và tiếp đạn dược, lương thực v.v… đều bị giới hạn nhỏ giọt mà ngay cả đến cặp lon Trung Tá thăng cấp đặc cách ngoài mặt trận của TÐT Lê Văn Ngôn cũng phải thả dù vào trong trại, không có người gắn lon và việc “rửa lon” truyền thống của nhà binh có lẽ đã được thực hiện bằng máu của Cộng quân. Ðiều này làm chúng ta liên tưởng đến chiếc lon thăng cấp của Ðại Tá De Castries, người hùng cùa đoàn quân viễn chinh Pháp tại Ðiện Biên Phủ vào năm 1954 cũng đã được thả dù vào khu lòng chảo. Nhưng De Castries trước kia đã không quá cô đơn và bị bao vây ngột ngạt như Lê Văn Ngôn tại Tống Lê Chân vì ít ra cũng có một số quân nhẩy dù tăng viện. Ngoài ra, De Castries cò có những “nàng hầu” thân yêu như Béatrice, Éliane, Huguette, Dominique để … tâm sự. Còn Lê Văn Ngôn và TÐ 92 BÐQ chỉ có độc nhất một quả đồi trơ trụi với vòng cao độ không quá 50 thước trên bản đồ UTM, một vị trí vuông vức mỗi bề không quá 300 thước để sống chết ôm ấp ròng rã gần một năm rưỡi trời! Cuộc bao vây ngặt nghèo tới nỗi vào những ngày tháng chót, cả đến việc thả dù tiếp tế cũng bị gián đoạn, còn nói gì đến việc tản thương hay tiếp viện bằng trực thăng.
Về các cuộc bao vây nổi tiếng khác trong chiến sử, Ðiện Biên trước kia cũng chỉ kéo dài 57 ngày. Ðịa ngục Khe Sanh, niềm tự hào của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ cũng chỉ bị bao vây dăm ba tháng, nhưng với thảm bom dầy đặc đêm ngày của B-52, và lúc nào cũng có ba tầng phi cơ chiến thuật chờ sẵn trên không để dội bom, binh sĩ trú phòng coi như được đi nghỉ mát dưỡng quân theo tiêu chuẩn lính Việt Nam, vì họ không thiếu một thứ gì, kể cả nuớc đá để uống giải khát! Trong kỳ đệ nhị thế chiến, Stalingrad lừng danh cũng chỉ bị quân Ðức bao vây gần ba tháng. Tobruk của người Anh cũng chỉ cần tử thủ hơn 8 tháng. Còn Tống Lê Chân? Suốt 17 tháng truờng ròng rã trong những điều kiện tăng viện và tiếp vận khó khăn nhất. Như vậy, sức chịu đựng của người lính VNCH phải được coi là bền bỉ siêu đẳng vô địch.
Lực Lượng Chênh Lệch Một Trời Một Vực
Về tương quan lực lượng đôi bên, khi xảy ra trận đánh tại Tống Lê Chân, phía Cộng quân có các Sư Ðoàn 5, 7 và 9 cùng Sư Ðoàn Pháo Phòng Không 377 tân lập, cộng thêm dăm ba Tiểu Ðoàn địa phương và đặc công “lẻ tẻ”. Tuy Công Trường 5 đã bị thiệt hại khá nặng trong những cuộc hành quân vượt biên đánh sang vùng Lưỡi câu – Mỏ Vẹt trước đây của QLVNCH, nhưng đã được tăng viện nhanh chóng và thường lẩn quất tại vùng biên giới để uy hiếp các trại BÐQ Biên Phòng. Ngoài ra, Công Trường 7 cùng với Tiểu Ðoàn Pháo 22 và Tiểu Ðoàn Ðặc Công 28, sau khi tràn ngập các căn cứ Chí Linh nẳn trên Liên Tỉnh Lộ 13 giữa Chơn Thành và Ðôn Luân, cũng đè nặng áp lực trên quãng đường bộ từ Lai Khê đến An Lộc Riêng Công Trường 9 của Cộng Quân với 3 Trung Ðoàn còn đầy đủ quân số vừa từ Cam Bốt xâm nhập được dùng làm mũi dùi tiến công chính đánh Tống Lê Chân, sau khi đã buộc các trại BÐQ Biên Phòng khác như Thiện Ngôn, Katum, Bù Gia Mập phải di tản.
Tống Lê Chân là căn cứ biên phòng duy nhất còn lại trong vùng vì tất cả binh sĩ đều tình nguyện ở lại giữ trại. TÐ 92 BÐQ với quân số vỏn vẹn khoảng 300 người, đã bị hàng sư đoàn địch quân thay nhau tấn công và vây hãm hàng năm trời không được tăng viện. Thế mà các chiến sĩ Mũ Nâu vẫn anh dũng bền gan chiến đấu, nhất định không hàng địch! Ðây quả là một thành tích phi thường ngoài sức tưởng tượng!
Cuộc Lui Binh Thần Tình
Sau gần một năn rưỡi trời giữa vòng vây trùng điệp, lại bị tấn công liên miên, đương nhiên TÐ 92 BÐQ phải kiệt sức. Cho tới khi tình trạng tuyệt vọng, đơn vị chỉ còn đường rút lui để bảo toàn lực lượng nhưng cũng không quên dùng chất nổ phá hủy doanh trại, không để lọt vào tay Công Quân. Sau đó, tuy bị truy kích, nhưng các con Cọp Rừng Mũ Nâu đã về được tới An Lộc với tổn thất nhẹ không ngờ: trong số 277 binh sĩ gồm nhiều thương binh, một số lớn đã về được An Lộc. Ðây là một thành quả quá sức mong đợi cho một cuộc hành quân lui binh sâu trong lòng địch. Với tài chỉ huy khôn khéo, tinh thần kỷ luật và sức chiến đấu bền bỉ gan dạ, các chiến TÐ 92 BÐQ đã làm nhiều người ngạc nhiên và thán phục khi rút quân thành công trong một hoàn cảnh vô cùng khó khăn, bi đát.
Cuộc lui quân thành công ngoài sức tưởng tượng này đã khiến dư luận phía Hoa Kỳ nghi ngờ rằng TÐ 92 BÐQ đã “thương lượng” với Cộng Quân, bằng lòng bàn giao căn cứ Tống Lê Chân để đổi lấy việc rút lui an toàn. Quả thật, việc TÐ 92 BÐQ phá được vòng vây về được đến An Lộc phải coi như một phép lạ nên “dư luận” thương thuyết không phải là không có lý. Vả lại, đây cũng là một trong ba giải pháp mà BTL/QÐ III đã đề nghị lên thượng cấp cách đó không lâu. Ngoài ra, rất có thể những lời đồn đại nói trên là do Cộng Quân tung ra để đỡ bị mất mặt vì TÐ 92 BÐQ đã vượt khỏi vòng vây như chỗ không người.
Thật sự, TÐ 92 BÐQ đã chỉ giết giặc chứ không bao giờ thương lượng với chúng và cuộc rút lui thành công vì tinh thần kỷ luật cũng như khả năng chiến đấu tuyệt vời của các chiến sĩ Mũ Nâu. Bằng cớ xác thực nhất là chính những tài liệu bắt được sau đó tại mặt trận cùng những lời khai của tù hàng binh Cộng Quân đã cho thấy không hề có chuyện “thương lượng”. Một hồi chánh viên tham dự trận đánh sau cùng vào đêm 12/4 tại Tống Lê Chân đã thuật lại khá chi tiết về biến cố này. Sau trận pháo kích dữ dội, bộ binh địch có chiến xa yểm trợ đã mở các cuộc tấn công mạnh. TÐ 92 BÐQ không còn đạn dược và nhất là không có vũ khí chống chiến xa nên bắt buộc phải rời bỏ vị trí. Tống Lê Chân bị bỏ ngỏ từ đêm 12/4 nhưng vì hàng rào phòng thủ quá kiên cố, lại có nhiều bãi mìn, hơn nữa Cộng quân sợ TÐ 92 BÐQ còn tử thủ sẽ gây cho chúng nhiều thiệt hại như những lần trước nên mãi tới ngày 13/4 chúng mới vào được trại. Lúc đó, các chiến sĩ Mũ Nâu đã rời xa căn cứ trên đường về An Lộc. Tống Lê Chân đã bị đặt chất nổ phá hủy. Ðịch chỉ tìm thấy xác của 2 BÐQ và bắt sống một người khác.
Một bằng chứng rõ ràng khác là bản báo cáo của Cộng quân bị QLVNCVH tịch thu. Tài liệu này tiết lộ một đơn vị Cộng Quân có nhiệm vụ chặn đường rút lui của TÐ 92 BÐQ đã bất tuân thượng lệnh, không bố trí quân tại những vị trí đã ấn định vì sợ bị phi pháo VNCH tiêu diệt. Cuối cùng, bản báo cáo còn đưa ra nhận xét rằng trong trận đánh tại Tống Lê Chân, tinh thần binh sĩ TÐ 92 BÐQ rất cao, còn cao hơn cả nhiều đơn vị chính qui của Cộng Quân có nhiệm vụ tấn công.
Ðường Vào Lịch Sử
Trận đánh tại Tống Lê Chân chính thức chấm dứt vào ngày 15 tháng 4 năm 1974 khi binh sĩ cuối cùng của TÐ 92 BÐQ về tới An Lộc. Trước đó, vào ngày 13/4, phi cơ của Không Quân VNCH đã bay 19 phi vụ thả bom đánh vào lực lượng Cộng Quân tại Tống Lê Chân. Tuy trận đánh đã chấm dứt từ lâu, nhưng qua cuộc bao vây dài nhất trong quân sử và cuộc lui binh thành công mỹ mãn, huyền thoại của TÐ 92 BÐQ tại Tống Lê Chân vẫn sống mãi. Các chiến sĩ Mũ Nâu dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Lê Văn Ngôn đã tô đậm một nét son cho truyền thống hào hùng của binh chủng Biệt Ðộng Quân và viết một trang sử huy hoàng trong pho quân sử QLVNCH.
Trần Ðỗ Cẩm

Trận Hạ Lào Lam sơn 719

Tác giả: Nguyễn Kỳ Phong

Trong nghề phóng viên, ký giả, ngoài những kiến thức cần thiết của nghề nghiệp, bài viết của phóng viên hay hay không, chính xác hay không, phải cần một số tin tức thu lượm bên trong để làm khung, đây là đường dây mà báo chí Anh Mỹ gọi là confidential source, thì bài viết mới được nổi bật so với những bài viết khác. Điều này rất hiển nhiên khi chúng ta so sánh bài viết chỉ dựa trên tin tức đã được phơi bày ngoài công cộng, tin tức độc giả có thể tìm thấy, và bài viết dựa vào những tin tức còn trong vòng "chưa tiết lộ được," "còn bí mật," hay tin tức chỉ có những "thẩm quyền" mới biết, thì chúng ta sẽ thấy ngay sự khác biệt của hai bài viết.

Những bài viết dựa vào nguồn tin bên trong không những có được chiều sâu mà còn trong một vài trường hợp là một sử liệu về sau. Một thí dụ: Đọc những bài viết về trận chiến "Mùa Hè Ðỏ Lửa" năm 1972 của những phóng viên chiến trường như Phan Nhật Nam, Sao Bắc Đẩu, và Huỳnh văn Phú, ngoài lối hành văn có "nhịp hành quân," có "mùi thuốc súng," chúng ta còn thấy sự quen thuộc (có nghĩa là họ có sources hay contacts bên trong) của tác giả đối với chủ đề và chủ thể được diễn tả trong bài. Điều đó đúng khi chúng ta đọc bài viết của Phan Nhật Nam hay Đoàn Phương Hải về những giây phút hấp hối của căn cứ Charlie và Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù vào năm 1972 ở Kontum. Chi tiết trong bài viết của họ chính xác đủ để dùng như một sử liệu. Tác giả đạt được sự chính xác đó vì tác giả là người trong cuộc, hay là người có liên hệ thân mật với người trong cuộc.

Đến đây, người viết muốn nói đến những tin bên trong, tức là loại confidential sources, mà tác giả Phạm Huấn đã có được khi viết tác phẩm Trận Hạ Lào 1971. Như chúng ta biết, quyển sách Trận Hạ Lào 1971 xuất bản năm 1990. Trước khi tác phẩm đó ra đời, một số tác phẩm khác có cùng chủ đề được xuất bản như Tử Thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30 của Ðại Úy Trương Duy Hy, Lam Sơn 1971 của Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh. Ngoài ra, trong phần liệt kê thư mục tham khảo, ngoài một số bài viết ngắn đăng trên các tạp chí, tác giả có đọc 2 tác phẩm được coi là mới (so với thời điểm khi Trận Hạ Lào 1971 được xuất bản): một bài viết của tướng Sidney Barry và một tác phẩm của Keith W. Nolan. Nolan là một tác giả quân sử được ái mộ đối với độc giả ở Mỹ. Tướng Berry, trong thời điểm Lam Sơn 719, là Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn 101 Nhảy Dù.

Tác phẩm của Trương Duy Hy nhìn từ quan sát của một sĩ quan cấp nhỏ, có tham dự cuộc hành quân. Tác phẩm của Nguyễn Duy Hinh nhìn từ sự hiểu biết của một sĩ quan cao cấp, cộng với những tài liệu chính thức của ban tham mưu Hoa Kỳ soạn thảo ra kế hoạch hành quân. Nhưng khi đọc những gì tác giả Phạm Huấn viết, rồi so lại với những tác phẩm được nói đến, chúng ta thấy Phạm Huấn có được một số tin tức thu thập từ bên trong khá lý thú và chính xác, hay ít ra tương tự với những gì được giải mật về sau. Trong phạm vi của bài này, người viết muốn đóng góp thêm một vài phụ chú về Trận Hạ Lào 1971 của tác giả Phạm Huấn.

Sau phần giới thiệu tổng quát, ở các trang 38-42, Phạm Huấn viết về thái độ và ý nghĩ thầm kín bên trong của tướng Cao Văn Viên về kế hoạch hành quân, và sự khôi hài của cái gọi là "tối mật" hay "bảo mật" của cuộc hành quân sau khi kế hoạch được soạn thảo và bắt đầu chuẩn bị.

Tác giả ghi nhận hoàn toàn đúng khi tướng Viên ái ngại về thời gian các đơn vị Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) phải nằm trong mục tiêu. Và đúng hơn khi ông không lo ngại giai đoạn tấn công mà lo ngại giai đoạn rút quân. Phạm Huấn viết tướng Viên là "tác giả hay đồng tác giả" cuộc hành quân đánh qua Lào. Nhận xét này có thể đúng và không: Đúng ở chỗ tướng Viên từng soạn thảo và ủng hộ đánh qua Lào. Không đúng là chỗ cuộc hành quân được soạn thảo năm 1971 không hoàn toàn đúng theo ý định và khái niệm của tướng Viên: Thời gian hành quân quá dài, kế hoạch hành quân được soạn thảo quá gấp. Từ lúc phát họa đến lúc thi hành chỉ hơn 2 tháng. Hơn nữa, như tác giả viết, với sự rầm rộ để chuẩn bị hành quân, vấn đề "bảo mật" là một chuyện khôi hài ở một nơi mà mọi di chuyển quân sự đều có một ý nghĩa duy nhất là hành quân.

Ở những trang kế tiếp tác giả viết về một sự kiện mà chúng ta chưa đọc thấy từ những tài liệu khác. Chuyện Đại Úy Lê Châu trong ban tham mưu của Lữ đoàn 3 nhãy dù đã thấy được bản đồ cuộc hành quân trong tay địch sau khi Đồi 31 [1] bị thất thủ. Một trong những câu hỏi chưa trả lời được về trận Hạ Lào là có thật kế hoạch hành quân của của chúng ta đã lọt vào tay Cộng Sản Bắc Việt? Trong sách, ở phía sau, tác giả có ghi lại cuộc nói chuyện với tướng Hoàng Xuân Lãm. Trong đó chúng ta được biết một chiếc trực thăng chở một đại tá trưởng phòng hành quân của quân đoàn bị bắn rơi. Trong người vị sĩ quan đó có mang theo bản đồ hành quân. Ngày trực thăng bị bắn rơi là ngày 9 tháng 2 năm 1971, tứ là chỉ 1 ngày sau khi cuộc hành quân chính thức mở màn. Có phải tấm bản đồ Đại Úy Lê Châu thấy trong bộ tư lệnh Cộng Sản Bắc Việt (CSBV), thấy sau ngày 25 tháng 2 tức là sau khi Đồi 31 thất thủ, là bản đồ đến từ chiếc trực thăng này? Và nếu như người sĩ quan Bắc Việt đã nói là họ đã "mua" được, thì chúng ta có tin được không?

[1] VNCTLS GHI CHÚ: Ðồi 31, tức Căn Cứ Hỏa Lực 31 (CCHL31) là nơi đóng quân của Tiểu Ðoàn 3 và Pháo Ðội B/3 Nhảy Dù. Ngoài ra, tại đây cũng có Bộ Chỉ Huy Lữ Ðoàn 3. Ngày 25 tháng 2/1971, lúc 11 giờ sáng, sau một trận pháo kích tàn khốc, bộ đội và xe tăng Bắc Việt tấn công từ bốn hướng. Lính Nhảy Dù chống trả mãnh liệt. Khoảng 5 giờ chiều, Ðồi 31 bị tràn ngập. Một trong những sĩ quan bị bắt là Ðại Tá Nguyễn Văn Thọ, ông là vị sĩ quan chỉ huy trưởng của Lữ Ðoàn 3 Nhảy Dù.


Qua nhiều hồi ký của các tướng lãnh Cộng Sản Bắc Việt viết sau cuộc chiến, chúng ta không tìm được một tài liệu nào khoe khoang, nói rằng họ đã mua được tài liệu, bản đồ bí mật của cuộc hành quân Lam Sơn 719. Nhưng có một điều chúng ta phối kiểm lại được chắc chắn, là ngay sau khi chúng ta tấn công qua Cam Bốt, các bộ tư lệnh của các binh trạm chung quanh vùng Tchepone, Cô Rốc và bên kia vĩ tuyến đều đã nhận lệnh sẵn sàng phòng thủ.


Trong hồi ký của một thượng tướng Cộng Sản Bắc Việt tên là Nguyễn Hữu An, tác giả nói từ tháng 10 năm 1970 ông ta đã được lệnh đi dọ thám, điều nghiên vùng Lao Bảo, Bản Đông, Tà Bạt, để chuẩn bị dàn quân trong trường hợp quân đội Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đánh qua vùng đó, một khả thể mà họ nghĩ sẽ xảy ra, dựa vào những gì đã xảy ra bên Cam Bốt vài tháng trước đó. Đó cũng là lý do Ban Quân Ủy Trung Ương của Cộng Sản Bắc Việt lập ra Bộ Tư Lệnh 70B (còn gọi là Bộ Tư Lệnh Mặt Trận Nam Lào) với cấp số quân đoàn.

Theo những gì tướng Hoàng Xuân Lãm nói trong cuộc phỏng vấn với Phạm Huấn, thì vị trí của chiếc trực thăng bị bắn rơi cách căn cứ Ranger South (tên hành quân của một ngọn đồi nơi Tiểu Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân phòng thủ) chừng 2 cây số, và cách Ranger Norh (vị trí của Tiểu Ðoàn 39 Biệt Ðộng Quân) chừng 6 cây số hướng nam đông nam. Lý do chúng ta muốn xác định vị trí rõ ràng, vì nếu tấm bản đồ hành quân không bị thiêu hủy theo chiếc phi cơ, thì có thể quân Cộng Sản Bắc Việt đang có mặt tại nơi đó đã tìm thấy. Chúng ta có thể suy luận như vậy, vì theo tin tức tình báo, theo những gì xảy ra chung quanh Ranger South và North hơn một tuần sau đó, và theo trong hồi ký của tướng Cộng Sản Bắc Việt thì họ đang có tương đương một sư đoàn bộ binh đóng cách căn cứ Ranger North chừng 2 cây số, và căn cứ Ranger South 8 cây số. Chắc chắn bộ đội trinh sát Cộng Sản Bắc Việt đã tìm đến nơi chiếc trực thăng rớt để thu thập tin tức. Có thể Cộng Sản Bắc Việt đã lấy được tấm bản đồ từ chiếc trực thăng, hơn là mua được như họ đã nói.

Ở chương 5, "Một Ðơn Vị Biệt Ðộng Quân," Phạm Huấn viết về trận đánh của Tiểu Ðoàn 39 Biệt Ðộng Quân (BÐQ) ở căn cứ Ranger North. Tác giả cho một chi tiết về tình trạng tuyệt vọng của căn cứ Ranger North, và theo lời của Thiếu Tá Khang (tiểu đoàn trưởng), một trong những chuyến bay tiếp tế cuối do một trung tá tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn trực thăng thực hiện. Chính người trung tá đó, sau này là một trong những nhân chứng, kể lại những gì anh ta chứng kiến, kể lại những gì đã xảy ra để phủ nhận những tin tức sai lạc cho rằng lính VNCH không có tinh thần chiến đấu.

Theo người trung tá, những chiến sĩ Biệt động quân ở Ranger North không còn gì để chiến đấu. Với hỏa lực khủng khiếp của phòng không, họ không còn đạn, họ không được tiếp tế. "Quân địch đông hơn Biệt Ðộng Quân 6 đến 8 lần. Ba ngày trời chúng ta không tiếp tế cho họ được. Khi họ hết đạn, họ mò ra ngoài vòng đai tìm vũ khí của địch để tiếp tục chiến đấu. Khi di tản khỏi căn cứ, họ đánh cắt ngang trung đoàn Bắc Việt (đang bao vây họ), dùng vũ khí của đối phương để giết đối phương. Có 17 quân nhân mất tinh thần đu vào càng đáp trực thăng để di tản, nhưng tất cả quân nhân còn lại đã không làm như vậy."

Những gì tác giả Phạm Huấn viết trong đoạn đó đã được nhân chứng ghi nhận lại trên những trang quân sử về sau. Chuyện hai căn cứ Ranger North và Ranger South bị thất thủ là chuyện đương nhiên: làm sao một tiểu đoàn với 430 người có thể cầm cự lâu với 3 trung đoàn đối phương đang bao vây chung quanh họ? Và sau khi căn cứ Ranger North thất thủ, số mệnh của căn cứ Ranger South chỉ còn là thời gian.

Ở chương 6, "Đồi Tử Thần," ngoài những chi tiết về quân sự, Phạm Huấn viết hầu hết các chi tiết về những lủng củng ở bên trong cuộc hành quân: chuyện các tướng lãnh kình cự với nhau, chuyện Hoa Kỳ đã không hoàn tất được những gì họ hứa, và sự thất bại hoàn toàn của các cấp khi thi hành các quân lệnh giữa bộ tư lệnh và mặt trận tiền phương.

Trong chương này, tác giả cho một vài chi tiết xuất hiện lần đầu tiên trên sách vở. Thí dụ như cuộc đối thoại giữa ông và tướng Dư Quốc Đống về chuyện quân Nhảy Dù ở Đồi 31 (và sau này Đồi 30) không được tiếp tế yểm trợ đúng mức từ phía Hoa Kỳ. Theo sau đó là chuyện ông đề nghị đem vấn đề nói với nghị sĩ Trần văn Hương để đem chuyện đó ra ngoài công cộng. Cho đến ngày hôm nay, dựa vào những tài liệu giải mật của Bộ Tư Lệnh MACV (Military Assistance Command Vietnam, tức "Bộ Tư Lệnh Quân-Việt Hoa Kỳ tại Việt Nam), chúng ta biết khá đầy đủ về những sai lầm của các bộ tư lệnh quân sự Mỹ trong thời gian phác họa kế hoạch hành quân và trong thời gian yểm trợ cuộc hành quân.

Một trong những tài liệu được giải mật trong thời gian gần đây cho chúng ta một cái nhìn tương đối đầy đủ về cuộc hành quân đánh qua Hạ Lào năm 1971, Vietnam Chronicles: The Abrams Tapes, 1968-1972, do tác giả Lewis Sorley soạn năm 2004. Như cái tựa đã nói lên chút ít về nội dung quyển sách: tác phẩm ghi lại tất cả những buổi họp hàng tuần của Đại Tướng Abrams tại Bộ Tư Lệnh MACV trong suốt 4 năm ông làm tư lệnh.

Trong tập tài liệu đó, hầu hết các tư lệnh Mỹ đều thú nhận sự lơ đễnh, sai lầm và thiếu chỉ huy đã đưa đến nhiều hư hại cho cuộc hành quân. Trong đó chúng ta sẽ đọc thấy chính miệng của Đại tướng Abrams, Đại Tướng Weyand (tư lệnh phó MACV), đã thú nhận những lỗi lầm vấp phải. Ở hai trang 108, 109, Phạm Huấn viết về sự thất bại của tình báo Hoa Kỳ khi họ ước lượng về cấp số và hỏa lực của địch chung quanh và trong địa bàn hành quân. Khi đọc The Abrams Tapes, đến những đoạn tình báo MACV thay đổi lần lần "khả năng" viện quân của đối phương, chúng ta thấy càng ngày sự nguy hiểm càng gia tăng cho các cánh quân đóng án ngữ trên mặt bắc của đường số 9, trục lộ tấn công chánh của quân đội VNCH.

Ban đầu tình báo phỏng định Cộng Sản Bắc Việt có một quân số tương đương 3 sư đoàn, kể luôn quân của các binh trạm đóng dọc theo mục tiêu hành quân. Nhưng đến ngày 19 tháng 2 thì MACV báo động, cho biết địch đang tăng viện tất cả các đơn vị từ miền Bắc, và trong vùng giao chiến, bây giờ địch đã có 9 trung đoàn, thay vì 6 trung đoàn như ước lượng.

Chẳng những tình báo ước lượng trật về cấp số quân của Cộng Sản Bắc Việt, họ còn trật luôn về hỏa lực phòng không của đối phương: ước lượng là 250-270 súng phòng không. Thực tế là 525-575 súng phòng không đủ loại. Trong lý thuyết quân sự, lực lượng tấn công lúc nào cũng cần 3 để tấn công 1. Ở đây, trong cao điểm viện quân của quân đội VNCH (tổng cộng là 19 ngàn quân sau khi viện thêm 1 trung đoàn Bộ Binh và 2 lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến), quân tấn công của VNCH chỉ bằng phân nửa quân phòng thủ. Nên nhớ lại, vào năm 1966, khi Đại Tướng Westmoreland điều nghiên một kế hoạch tấn công qua Lào (tương tự như kế hoạch Lam Sơn 719), ông ta dự trù Hoa Kỳ cần tối thiểu 4 sư đoàn quân tác chiến và không lực yểm trợ của 3 quân chủng. Và chúng ta biết, một sư đoàn tác chiến của Hoa Kỳ đông hơn một sư đoàn VNCH nhiều.

Tác giả Phạm Huấn, trang 110 viết, "Gánh nặng Hạ Lào quả thật quá sức lực, khả năng, của các tướng lãnh Việt Nam và các đơn vị tham chiến," là quá chính xác. Ở đây, Phạm Huấn quên nói là, cùng lúc đó quân đội VNCH cũng đang có trên 20 ngàn quân đánh qua Cam Bốt.

Ở trang 118, Phạm Huấn viết, "Trưa ngày 25 tháng 2, khi tình hình Đồi 31 đang vô cùng nguy ngập, Đại Tướng Weyand và một số sĩ quan của MACV và Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn 24 [2] đến Khe Sanh để duyệt xét tình hình mặt trận. Không phải tự nhiên họ đến. Họ đến vì MACV đã hoàn toàn mất tin tưởng vào Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn 24 và những cố vấn Hoa Kỳ đang làm việc tại bộ tư lệnh tiền phương ở Khe Sanh.

[2] VNCTLS GHI CHÚ: Trong chiến dịch hành quân tháng 2 năm 1971, Quân Ðoàn 24 của Hoa Kỳ chịu trách nhiệm về việc tiếp tế và yểm trợ cho các lực lượng VNCH đánh sang Hạ Lào. Quân Ðoàn 24 hoạt động tại Vùng 1 Chiến Thuật. Bộ Tư Lệnh của Quân Ðoàn 24 đặt tại Phú Bài.


Ngày 24 tháng 2, ở Bộ Tư Lệnh MACV qua những đối thoại giữa tướng Abrams, tướng Weyand, và các sĩ quan tham mưu, chúng ta thấy cuộc hành quân đã có nhiều khuyết điểm. Tệ hại hơn, những khuyết điểm đó xảy vào những trận đánh then chốt, những trận đánh có thể thay đổi cục-diện cuộc chiến. Trong The Abrams Tapes, trong những buổi họp từ ngày 20 đến ngày 27 tháng 2 (trang 538-549), chúng ta đọc những lời văng tục và hằn học của Abrams và Weyand về Trung Tướng Williams McCaffrey (tư lệnh phó cho Weyand) và James Sutherland, Tư Lệnh Quân Ðoàn 24. Những khiếm khuyết được nói đến là những khó khăn lẽ ra phải được tiên liệu trước trong mọi cuộc hành quân, hay ít ra phải dự trù một kế hoạch phụ để giải quyết trong trường hợp cần.

Hai tuần sau ngày hành quân, Lữ Ðoàn 101 Không Vận cho biết họ gặp trở ngại về nhiên liệu (xăng) cho chính họ và cho các đơn vị thiết kỵ bên kia biên giới. Họ cho biết kho dự trữ lữ đoàn chưa nhận được đủ 200,000 gallons xăng (khoảng 760,000 lít) như được hứa. Họ nói vấn đề cung ứng cho các đơn vị bên kia biên giới bị giới hạn phần thì không đủ trực thăng, phần vì sự giới hạn của thời gian, thời tiết.

Trong lúc đầu, kế hoạch chỉ tiên liệu cung ứng cho 12 tiểu đoàn tác chiến và 10 đại đội pháo binh (nước, thực phẩm, đạn, tải thương và di chuyển quân cụ, quân nhân). Khi chiến trường được tăng viện thêm quân, họ phải cung ứng cho 16 tiểu đoàn tác chiến và 12 đại đội pháo binh. Trong khi đó hỏa lực phòng không địch gia tăng, máy bay hư nhiều và phụ tùng lại thiếu. Thêm vào đó, thời tiết của vùng Hạ Lào rất giới hạn: sương mù chỉ tan từ 10 giờ sáng đến 2-4 giờ chiều. Sau đó, sương mù phủ kín lại, mọi liên lạc bằng trực thăng trở nên vô hiệu. Như vậy, một ngày tất cả trực thăng chỉ được trưng dụng từ 6 đến 7 tiếng trong thời gian đó. Nghĩa là 16 tiểu đoàn tác chiến và 12 đại đội pháo binh chỉ có thời gian nhất định trong một ngày để nhận tiếp tế. Và đó là thực tế của chiến trường Hạ Lào.

Nhiên liệu, trong nguyên thủy, được dự tính chuyên chở bằng xe tanker loại 5,000 gallon bằng đường bộ qua biên giới. Nhưng khi lâm trận thì mới biết có những đoạn đường trên đường số 9 di chuyển không được. Bây giờ trực thăng là phương tiện di chuyển duy nhất. Lại thêm một gánh nặng cho các đơn vị không vận. Rồi chúng ta đọc được về chuyện Quân Ðoàn 24 phải tìm cách "mượn" thêm trực thăng từ các quân đoàn khác. Nhưng lúc đó, chúng ta biết, hơn 20 ngàn quân của Việt Nam Cộng Hòa thuộc hai Quân Ðoàn 3 và 4 cũng đang hành quân ở bên kia biên giới Cam Bốt.

Ở trang 546 trong The Abrams Tapes, chúng đọc thấy tướng Weyand chửi thề với tướng Sutherland, nói rằng nhiệm vụ của một vị tư lệnh quân đoàn là phải biết mình có bao nhiêu chiếc trực thăng từng giờ trong một ngày, và nên có báo cáo 2, 3 giờ một lần. Nếu các sử gia sau này muốn đổ lỗi cho Quân Lực VNCH về tinh thần chiến đấu ở Hạ Lào, thì trước nhất nên đọc những gì chính các sĩ quan cao cấp của Bộ Tư Lệnh MACV thú nhận.

Trong buổi gặp nhau ở Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Khe Sanh ngày 25 tháng 2, Phạm Huấn ghi lại, tướng Đống đã "phàn nàn" với tướng Weyand và Sutherland về những "gián đoạn" khi Quân Ðoàn 24 và Bộ Tư Lệnh Quân đoàn 1 yểm trợ các đơn vị Nhảy Dù đang lâm nguy. Ðồng thời ông cũng có vài ý kiến về sự hợp tác của tướng Hoàng Xuân Lãm với các đơn vị Nhảy Dù. Sau đó Phạm Huấn không viết gì thêm, nhưng những tài liệu sau này cho thấy MACV nhận lời phàn nàn của tướng Đống rất cẩn thận. Lý do họ nhận và nghe những phàn nàn của tướng Đống một cách chân tình vì những gì ông ta nói họ đã biết; họ đã chứng nhận có xảy ra.

Ở trang 149, Phạm Huấn viết (trong sự hoài nghi bằng dấu hỏi), MACV thay ngay viên cố vấn Hoa Kỳ của Sư Ðoàn Nhảy Dù VNCH. Tài liệu giải mật trong The Abrams Tapes cho chúng ta thấy MACV đã nghĩ sao về vị đại tá cố vấn và ngay cả vị trung tướng tư lệnh Quân Ðoàn 24: Đại tướng Abrams đích thân gọi Trung tướng Sutherland, và cuộc đối thoại đại khái như: "Tôi sẽ gởi một đại tá thay vị đại tá cố vấn Sư Ðoàn Dù đương nhiệm. Và vị đại tá đó chỉ trả lời trực tiếp cho tôi. Trung tướng có 'vấn đề' gì không?" Dĩ nhiên, một trung tướng thì làm gì có vấn đề với một đại tướng!

Trong những trang sách đã trích trên, chúng ta cũng đọc được MACV nhận báo cáo đầy đủ về chuyện rời chiến trường khi chưa có lệnh của Trung Tá Thạch (chỉ huy trưởng của Tiểu Ðoàn 2 Nhảy Dù), và Đại Tá Nguyễn Trọng Luật (chỉ huy trưởng Lữ Ðoàn 1 Thiết Kỵ). Ở chương 7, từ trang 146 đến 171 trong Trận Hạ Lào 1971, Phạm Huấn viết về Căn Cứ Hỏa Lực 30, căn cứ duy nhất còn lại trên phía bắc đường số 9. Sau khi căn cứ Ranger North, Ranger South, và Căn Cứ 31 mất, Cộng Sản Bắc Việt dồn tất cả nỗ lực của họ để triệt tiêu cái gai sau cùng trên tuyến bắc. Theo lời kể của nhiều nhân chứng, tác giả ghi lại những đau thương trên Đồi 30, những tuyệt vọng trong những ngày sau cùng của căn cứ. Nhưng tuyệt vọng nhất là khi tiểu đoàn không liên lạc được và phải đánh lên trời một điện tín, yêu cầu các phi công nếu nhận được tin thì chuyển về thẩm quyền ở bộ tư lệnh tiền phương giùm họ. Bản tin nói, "Số thương vong 200 người, 2 ngày không được tiếp tế nước và lương thực... Sẽ di tản khỏi căn cứ trong đêm."

Sau khi tiếp xúc với tướng Đống, và sau khi trình bày những sự kiện đó với nghị sĩ Hương, tác giả Phạm Huấn nói ông được Nghị Sĩ Trần Văn Hương ủy nhiệm tổ chức một cuộc họp báo lên tiếng về sự thất bại của Hoa Kỳ trong cuộc hành quân (Trận Hạ Lào 1971, trang 133-136). Cuộc họp báo, theo tác giả, đã gây ra nhiều tác động đối với thẩm quyền dân sự và quân sự Mỹ. Tác giả viết, ngay sau ngày họp báo, "một tướng 3 sao của Không lực Hoa Kỳ đã bay ra Khe Sanh điều tra về các sự việc xảy ra ngày 25 tháng 2 năm 1971." Nhưng tác động của cuộc họp báo không ngừng ở đó.

Theo một số hồi ký và tài liệu giải mật trong thập niên 90, chúng ta thấy tác động của cuộc họp báo ảnh hưởng sang đến tòa Bạch Ốc. Đại Tướng Alexander Haig, trong quyển hồi ký Inner Circles: How America Changed The World (tạm dịch Vòng Trong: Hoa Kỳ và Những Ảnh Hưởng Làm Thay Ðổi Thế Giớixuất bản năm 1992, tức hai năm sau khi cuốn Trận Hạ Lào 1971 của Phạm Huấn xuất bản) nói về cơn thịnh nộ của Tổng Thống khi được báo cáo những hư hỏng từ phía Hoa Kỳ trong cuộc hành quân.

Tướng Haig, lúc đó chỉ là một chuẩn tướng, phụ tá an ninh quốc gia cho Henry Kissinger, nhưng rất được lòng của Nixon, kể lại Nixon đã gọi ông vào phòng, không giải thích gì, ra lệnh cho ông, "Về nhà chuẩn bị hành lý rồi lên chuyến bay sớm nhất qua Saigon," để thay Abrams làm tư lệnh MACV. Nhưng Haig dùng lời lẽ hợp lý để làm dịu cơn thịnh nộ của Nixon. Nhưng ngày hôm sau, Nixon cũng ra lệnh cho Haig đích thân qua Việt Nam duyệt xét tình hình để tường trình lại cho ông. Bản tường trình của Haig chỉ lập lại những gì tướng Đống nói ở Khe Sanh, những gì nghị sĩ Hương trình bày trong cuộc họp báo, và những gì MACV đã thú nhận.

Nhưng trước đó, trong 2 ngày cuối cùng của Đồi 31, Henry Kissinger, với những hệ thống tình báo riêng, đã biết được khá nhiều chuyện xảy ra ở mặt trận Hạ Lào. Trong một hồ sơ giải mật ngày 10 tháng 6, 1999, chúng ta biết được Kissinger đã "méc" với Nixon về những chểnh mãng, khiếm khuyết ở phía Hoa Kỳ trong cuộc hành quân. Trong cuộc nói chuyện với Nixon ngày 23 tháng 3 (nghĩa là ngày 24 ở Việt Nam, ngày cuối cùng của Lữ Ðoàn 3 Dù ở Đồi 31), Kissinger nói: "Tôi nghĩ cuộc hành quân này là một thành quả quan trọng, dù với nhiều hư hỏng [trong vấn đề chỉ huy và điều khiển cuộc hành quân[... Tôi muốn nói thẳng với tổng thống là chính người của chúng ta đã làm chúng ta thất vọng, chứ không phải phía Việt Nam Cộng Hòa. Họ (thẩm quyền quân sự Mỹ ở Việt Nam) đã làm chúng ta thất vọng trong 3 tuần lễ đầu tiên (của cuộc hành quân), rồi họ còn báo cáo với tổng thống là tôi xen vào kế hoạch của họ quá nhiều."

Tiếp theo đó, Kissinger nói về vai trò của tướng Abrams trong cuộc hành quân: "Trời ơi, Abrams đi thăm gia dình bên Thái Lan hàng tuần, trong khi chúng ta đặt tất cả vào chuyện này (cuộc hành quân đánh qua Hạ Lào)... Rồi bây giờ Abrams bắt đầu uống rượu từ giữa trưa. Tôi nghĩ rất kỹ, chúng ta phải quyết định coi có nên thay ông ta hay không."

Cuộc họp báo của Nghị Sĩ Trần Văn Hương, qua sự thúc giục của Phạm Huấn, chắc chắn gây nhiều tác động cho các giới thẩm quyền Hoa Kỳ. Một trong những đoạn quan trọng tác giả Phạm Huấn viết trong Trận Hạ Lào 1971 là đoạn phỏng vấn Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm. Cuộc phỏng vấn đưa ra nhiều khía cạnh của cuộc hành quân và vai trò của tướng Lãm trong những khía cạnh đó. Ở đây chúng ta xét lại một vài câu hỏi và trả lời của Phạm Huấn và tướng Lãm.

Câu hỏi đầu tiên tác giả cho rằng cuộc hành quân đánh qua Lào là một kế hoạch hoàn toàn được thúc đẩy và phát họa từ Kissinger và các thẩm quyền dân sự từ Hoa Thịnh Đốn. Tướng Lãm trả lời là không, ông không nghĩ như vậỵ Ông nghĩ đó là một kế hoạch quân sự đến từ hai bộ tư lệnh Việt-Mỹ ở Việt Nam trong chiều hướng của các kế hoạch hành quân trong năm 1971.

Theo những gì chúng ta biết được sau này, sự giả định trong câu hỏi của Phạm Huấn hoàn toàn đúng: Cuộc hành quân đánh qua Lào hoàn toàn do giới dân sự trong tòa Bạch Ốc thúc đẩỵ Một trong những người thúc đẩy đó, là vị cố vấn an ninh quốc gia, Henry Kissinger. Chúng ta có thể xác định điều này căn cứ vào nhiều hồi ký và tài liệu được bạch hóa.

Dựa theo quyển hồi ký của H.R. Haldeman, tham mưu trưởng tòa Bạch Ốc cho Nixon, sau khi thấy cuộc hành quân đánh qua Cam Bốt vào tháng 5, 1970 quá dễ dàng, Kissinger đề nghị tiếp tục đánh qua Lào để phá hủy những căn cứ hậu cần bên đó. Nhưng cuộc hành quân đánh qua Lào vào năm 1971 có một ý nghĩa chính trị khác: Hoa Kỳ muốn làm gián đoạn tiềm năng quân sự của Cộng Sản Bắc Việt vào năm 1972, năm bầu cử tổng thống Mỹ. Kissinger khuyên Nixon đừng nên rút quân quá nhiều, quá nhanh trong năm 1971, đợi đến năm 1972 rồi sẽ rút hết, giữ lại một số quân để bảo đảm tình hình quân sự ở Việt Nam và đồng thời có được một an toàn cho cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 1972 (trong ý nghĩa tình hình chiến sự ở Việt Nam được yên lặng thì giới phản chiến Mỹ không có lý do để biểu tình và đảng Dân Chủ không có cớ nói đảng Cộng hòa vẫn chưa giải quyết được tình hình quân sự ở Việt Nam). Đây là một chiến thuật chính trị khá độc đáo của Kissinger, và Nixon nghe theo.

Ngoài hồi ký của Haldeman, một tác phẩm được các sử gia hiện đại đánh giá quan trọng, chúng ta còn nhiều tài liệu và sách vở khác, để chứng minh kế hoạch đánh qua Lào có tính cách chính trị nhiều hơn quân sự, và được khởi nguồn từ phía dân sự hơn quân sự. Đại Tá Hoàng Ngọc Lung (Trưởng Phòng 2, Bộ Tổng Tham Mưu, sau này), trong tác phẩm Strategy and Tactics, (Chiến Lược và Hoạch Ðịnh) trang 73, cũng xác định kế hoạch đánh qua Lào hoàn toàn đến từ phía Hoa Kỳ. Ở trang 302, Trận Hạ Lào 1971, và kế tiếp, Phạm Huấn hỏi tướng Lãm về cơ cấu của hệ thống chỉ huy và yểm trợ, hỏi về lối làm việc của các tướng lãnh cùng cấp bực với tướng Lãm nhưng bị đặt dưới quyền của tướng Lãm.

Khi được hỏi về những quyết định riêng rẽ của các tư lệnh Sư Ðoàn Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến (TQLC), và các quyết định đó có ảnh hưởng gì đến toàn diện cuộc hành quân, tướng Lãm trả lời rất tránh né. Ông nói những quyết định đó hoàn toàn thuộc về thẩm quyền của các tư lệnh sư đoàn (trang 307-308). Có rất nhiều nhận định về vai trò tướng Lãm trong cuộc hành quân. Ở trang 62, Trận Hạ Lào 1971, Phạm Huấn có chú thích lời phê bình của tướng Cao Văn Viên về tướng Lãm: "Ông ta không bao giờ muốn báo cáo, muốn nói đến những thiệt hại, những chuyện xấu xảy ra, hoặc có nói cũng phải để thật lâu!" Cá tính này đúng theo lời một cố vấn Mỹ ở Quân Ðoàn 24 thuật lại.

Trung Tá Darron kể: "Tôi nhớ gặp ông ta một buổi sáng vào những ngày cuối của cuộc hành quân, khi tất cả những gì xảy ra bên Lào đều là những tin buồn... Ông ta nằm dựa lưng vào một lô cốt, nằm trong một tư thế rất đau khổ... Mắt nhắm lại, ngửa mặt lên trời. Rõ ràng ông ta đang ôm một gánh nặng, thật nặng. Thật tình mà nói, (cuộc hành quân này) quá khả năng của ông ta." Chuẩn Tướng Sidney Berry (tư lệnh phó Sư Ðoàn 101 Nhảy Dù) cũng có nhận xét: "Dự thảo và điều khiển cuộc hành quân ở cấp tư lệnh quân đoàn (Quân Ðoàn 1 VNCH) có phẩm chất thấp một cách không chấp nhận được."

Về liên hệ của Thủy Quân Lục Chiến và tướng Hoàng Xuân Lãm, trở lại trang 61 của Trận Hạ Lào 1971, tác giả viết những sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Ðộng Quân gọi tướng Lãm là người có "đôi bàn tay thép." Sau trận Hạ Lào, sau khi hai lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến đang đứng bên kia biên giới trong vai phòng hờ, bất ngờ bị thảy vào chiến trường mà không có một kế hoạch rõ ràng nào cho họ. Thủy Quân Lục Chiến gọi tướng Lãm là "bàn tay máu."

Ở Bộ Tư Lệnh MACV, tướng Weyand cũng tường trình là Trung Tướng Lê Nguyên Khang (tư lệnh sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến) đã đập bàn ở Khe Sanh khi nói chuyện với tướng Lãm về kế hoạch thảy 2 lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến vào các cao điểm chung quanh vùng Cơ Rốc.Qua bài phỏng vấn của tác giả và tướng Lãm, chúng ta thấy được một sự kiện mà tác giả đã có ý chứng minh ở nhiều trang trong tác phẩm: Dù được chỉ định làm tư lệnh tiền phương của cuộc hành quân nhưng tướng Hoàng Xuân Lãm đã không sử dụng quyền hành đó tối đa. Ông cố gắng tránh va chạm với 2 vị tư lệnh sư đoàn đồng cấp. Và khi có những bất tuân quân lệnh xảy ra, ông cũng không đem chuyện đó báo cáo lại cho 2 thẩm quyền cao hơn là Tổng Thống Thiệu và Đại Tướng Cao Văn Viên. Với thái độ và lề lối chỉ huy đó, có thể, tướng Lãm đã tạo thêm một vài khiếm khuyết nữa cho một cuộc hành quân đã có quá nhiều khiếm khuyết.

Để kết thúc bài viết này về tác phẩm Trận Hạ Lào 1971 của Phạm Huấn, người viết muốn nói, với một số tài liệu căn bản, nhưng nhờ vào những "đường dây bên trong," Phạm Huấn đã viết lại cuộc hành quân lớn nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam một cách tương đối chính xác. Với những sử liệu được bổ túc và giải mật sau này, độc giả sẽ thấy tác phẩm của Phạm Huấn, tuy không có nhiều sử liệu bổ túc, nhưng rất chính xác so với những gì được viết về sự kiện đó hơn 15 năm về trước.

HẾT