26/9/10

Vài ghi chép trong chuyến về quê 2010


Đã 6 năm qua, chúng tôi có một khóa học hè kết hợp với hội nghị trong ngành loãng xương và nội tiết, nên tôi có dịp về quê nhân dịp hè.  Hè bên Việt Nam, nhưng mùa đông  bên Úc.  Nói cách khác, trước là về quê làm việc chung, sau là trốn cái lạnh bên Úc.  Lần nào về quê cũng để lại trong tôi nhiều dư vị.  Chính vì thế mà tôi có thói quen ghi lại những gì mình thấy và cảm nhận qua loạt bài rời rạc này …

Chuyến đi này quá bận công việc, nên tôi chỉ có đúng 2 ngày ở dưới quê.  Chỉ 2 ngày ngắn ngủi nhưng cũng đủ làm tôi suy nghĩ nhiều về tình trạng nông thôn vùng Đồng bằng sông Cửu Long.  Có thể nói từ giáo dục, y tế, đến môi trường, những diễn biến ở quê đều đáng báo động.
Đô thị hóa
Nói là quê, nhưng “quê” tôi không còn là vùng quê tôi từng biết nữa, mà có lẽ -- nói theo tiếng Anh -- là “semi-rural” (bán nông thôn).  Làng quê tôi nằm ven con sông.  Ngày xưa, rất ít nhà cửa ven sông.  Xa xa mới thấy một căn nhà.  Phần lớn là bụi tre và cỏ dại.  Mỗi ngày đi học ở trường làng, khi đến gần đầu cầu là đám học sinh chúng tôi phải … chạy, vì nghe đồn rằng trong bụi tre ở đầu cầu có ma hay xuất hiện!  Thật ra, người ta chỉ đồn như thế, chứ có ma nào đâu, nhưng nhắc lại chuyện xưa để các bạn có thể hình dung rằng ngày xưa còn ít nhà lắm.  Nhưng ngày nay thì nhà cửa mọc lên san sát nhau, nhà nọ nối nhà kia, cứ như là ở thành phố vậy.  Mà, sự phát triển nhà cửa ở dưới quê hầu như chẳng có kiểm soát nào cả.  Người ta có đất và ai muốn xây cất thế nào thì cứ làm, vì nghĩ rằng “đất của tôi, tôi muốn làm gì thì làm”!  Hệ quả là cảnh quan cực kì bát nháo và nhếch nhác.  Ngày xưa, mỗi nhà có cái hàng rào bằng dâm bụt, hay hàng rào bằng tre.  Nhưng ngày nay thì tre và dâm bụt đã bị thay thế bằng hàng rào gạch và sắt, trông rất hợm hĩnh.  Nhìn thấy những hàng rào “phản quê” này sao tôi cứ tiếc cho một thời đã qua.
Đành rằng, dân số gia tăng thì chuyện nhà cửa mọc lên là có thể hiểu được, nhưng để cho việc xây cất vô tội vạ, vô tổ chức như hiện nay thì trách nhiệm phải thuộc về chính quyền.  Tình trạng bát nháo ở nông thôn không chỉ xảy ra ở quê tôi, mà rất phổ biến ở khắp vùng Đồng bằng sông Cửu Long.  Đô thị hóa là quá trình tất yếu của phát triển kinh tế, nhưng tôi e rằng đô thị hóa theo kiểu đang diễn ra ở ĐBSCL đang giết chết những nét văn hóa sông nước của Nam bộ. Nếu không có một biện pháp kiểm soát và uốn nắn kịp thời, tôi nghĩ trong vòng vài chục năm chúng ta sẽ không còn cái mà chúng ta trìu mến gọi là “miền quê” nữa.
Mấy năm gần đây, Nhà nước xây một con đường bê tông, nên việc đi lại của người dân quê cũng dễ dàng hơn trước, nhưng lại nảy sinh một vấn nạn khác: tai nạn giao thông.  Ngày xưa, tôi phải đón đò từ trong nhà đến một xã lân cận, và từ đó đón xe đò đi Rạch Giá.  Một chuyến đi như thế cũng tốn gần 4 giờ đồng hồ.  Còn ngày nay thì tiến bộ hơn, chỉ cần một chiếc Honda là tôi có thể đi thẳng từ trong nhà ra Rạch Giá trong vòng 30-40 phút.  Con đường bê tông dài khoảng 6 cây số do Nhà nước và dân cùng làm nghe nói dự kiến có bề ngang 6 mét, nhưng chẳng hiểu sao thì hoàn tất thì chỉ 4 mét.  Chẳng thấy ai phàn nàn gì!  Người dân vùng quê thật là … dễ thương.
Đường nhỏ dẫn đến tai nạn là điều có thể hiểu được.  Nhà dân nằm sát bên cạnh con đường bê tông, có khi khoảng cách từ sân nhà đến đường lộ chỉ 1 hay 2 mét.  Hai bên đường cây cỏ mọc um tùm.  Người lái xe rất khó thấy vật trong vòng 10 mét.  Do đó, đi trên đường là một sự hồi hộp, vì không biết trẻ em nhảy từ bụi cây bên đường ra lúc nào, không biết mấy ông say xỉn phóng ra “hứng xe” lúc nào.  Với lưu lượng xe 2 bánh và xe 4 bánh khá lớn, thì chuyện tai nạn giao thông là “chuyện thường ngày của huyện”.  Thằng em họ tôi nó nói như thế một cách tĩnh queo!  Đã có rất nhiều tai nạn bi thảm và thương tâm xảy ra.  Sinh mạng con người chứ đâu phải chuyện đùa, mà chẳng hiểu sao chính quyền địa phương không quan tâm?  Thật vậy, chính quyền chẳng có ý kiến hay biện pháp gì để giảm tai nạn.  Ngay cả một việc làm đơn giản và tối thiểu như làm sạch quang cảnh để người lái xe có thể nhìn xa hơn một chút và giảm thiểu nguy cơ tai nạn giao thông, mà cũng chẳng ai làm.  Chuyện sống chết của người dân vẫn xảy ra hàng ngày như thế.
Ô nhiễm trầm trọng
Chuyện ô nhiễm môi sinh ở vùng quê đã được nêu lên từ rất lâu.  Báo chí từng đăng nhiều phóng sự phản ánh tình trạng ô nhiễm môi trường sống trong vùng quê từ Bắc chí Nam trong nhiều năm qua.  Đủ thứ ô nhiễm đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân.  Đất bị ô nhiễm.  Nguồn nước bị ô nhiễm.  Không khí cũng bị ô nhiễm.  Có thể nói môi sinh ở Việt Nam đang làm đe doạ đến sự tồn tại của một dân tộc và phát triển kinh tế.  Không thể và không nên nhân danh phát triển kinh tế mà làm suy giảm chất lượng sống và sức khỏe của người dân.
Cũng như nhiều con sông khác trong vùng, con sông ở quê tôi đang chết dần.  Ở làng tôi, con sông bắt nguồn từ một nhánh của sông Hậu là nguồn sống của người dân trong suốt hàng trăm năm qua (và chắc lâu hơn nữa).  Người dân bắt cá, đặt chà, chày cá, v.v… đều ở con sông này.  Con sông còn là nguồn nước sinh hoạt của người dân.  Ngày xưa chúng tôi cũng tắm ở con sông này.  Nhưng bây giờ thì con sông hiền hòa này bị ô nhiễm trầm trọng và nó đang chết hàng ngày.  Ngày nay, con sông từng là nguồn sống của người dân đã trở thành cái hồ chứa rác.  Hầu như bất cứ rác gì người ta cũng quăng xuống sông.  Đồ ăn, chất thải, cây cối, v.v… đều xuống sông.  Rác hữu cơ thì sông còn “tiêu hóa” được, nhưng rác vô cơ thì sông chỉ biết chịu đựng chờ chết.  Hệ quả là bao plastic trôi nổi lềnh bềnh trên sông.
Sản phẩm của Trung Quốc cũng dự phần làm cho con sông làng tôi chết nhanh hơn.  Những hóa chất cực kì độc hại của Trung Quốc được sử dụng một cách bừa bãi để diệt cỏ và sâu rầy trên ruộng, nhưng những hóa chất này cũng chảy ra sông, và hệ quả là con sông trở thành độc hại.  Trong những ngày nắng, có thể nhìn thấy nước sông pha trộn màu hóa chất, trông rất kinh khủng.  Hóa chất dẫn đến cá tôm bị chết.  Người ta còn kể có lần cá tôm chết quá nhiều nổi lềnh bềnh trên sông làm hôi thối cả mấy ngày liền.  Thật ra, ngày nay cũng chẳng còn bao nhiều cá tôm để mà đánh bắt.  Con sông chẳng những trở thành bãi rác, mà còn là một nguồn độc hại cho môi sinh.  Điều đáng nói và nguy hiểm ở đây là hiện nay ở vùng ĐBSCL có đến 1 phần 2 hộ gia đình chưa có nước sạch để sử dụng, và họ phải phụ thuộc vào nước sông ngòi cho sinh hoạt.  Chưa ai làm nghiên cứu có bao nhiêu người mắc bệnh vì sự ô nhiễm môi trường.  Cũng chưa thấy chính quyền có biện pháp gì để có thể gọi là quan tâm.
Một cảnh tiêu biểu ở vùng ĐBSCL: nhà cửa dân xây tạm bợ bên sông và tất cả chất thải đều ... xuống sông
Bảo tàng Hòn Đất
Trong một dịp tình cờ, tôi tháp tùng với vài đồng nghiệp ghé qua Hòn Đất và chuyến đi để lại vài dư âm.  Hòn Đất là một huyện mới thành lập, thuộc tỉnh Kiên Giang.  Huyện nằm trên tuyến đường Rạch Giá – Hà Tiên, cách Rạch Giá khoảng 1 giờ lái xe.  Hai chữ Hòn Đất nổi tiếng qua cuốn tiểu thuyết của Anh Đức có cùng tên.  Thú thật, tôi cũng chỉ mới nghe qua cuốn tiểu thuyết, chứ chưa đọc bao giờ.  Trang wikipedia có một đoạn tóm lược cuốn tiểu thuyết như sau:
“Chuyện xảy ra vào đầu năm 1961 tại Hòn Đất. Đội du kích xã ở nơi đây đã rút lui vào hang Hòn trong một trận chống càn quyết liệt. Đội có tất cả 17 người với vũ khí thô sơ. Mặc dù đối phương đông gắp nhiều lần, được trang bị đầy đủ, vũ khí hiện đại và dùng nhiều giải pháp, như: bỏ thuốc độc vào nước suối, chặn mọi đường tiếp tế, dùng thuốc nổ phá hang, hun khói vào hang v.v. nhưng đội du kích vẫn kiên trì chống trả nhiều lần và vẫn kiên cường sống chết ở nơi đó.
Trong cuộc chiến đấu gay go, chênh lệch này, trong đội du kích nổi bật có Hai Thép - người chỉ huy - sáng suốt, giàu nghị lực. Ngạn, một chiến sĩ dũng cảm, thông minh. Ba Rèn, người nông dân chất phác, trung kiên. Quyên, cô du kích trẻ đẹp người, đẹp nết. Nhưng vượt trội hơn cả là chị Sứ, một nữ du kích có nhiều đức tính cao quí, như: đằm thắm, bất khuất, ngoan cường v.v. Cuối cùng, chi Sứ cũng đã hy sinh vì sự sống của đồng đội và vì lý tưởng mà chị nguyện suốt đời đeo đuổi.”
Do đó, nói đến Hòn Đất là nói đến chị Sứ.  Tôi cũng có dịp ghé qua nơi lưu niệm mang tên Chị Sứ. Khu lưu niệm này mới xây xong, và người ta xem đó là công trình văn hóa. Nhưng tôi chẳng thấy cái tính văn hóa trong toàn khu lưu niệm. Thật vậy, nhìn toàn khu và cách thiết kế, nó gợi nên cảm tưởng của một phim trường theo cung cách XHCN hơn là một quần mộ hay một khu lưu niệm. Ngay cả cách dùng đá hoa cương cũng rất ... vô văn hóa!
Đây là lần đầu tiên tôi có thông tin về "Chị Sứ", vì ngày xưa khi còn ở VN chỉ nghe qua sách chứ không biết chị ấy là ai. Theo tiểu sử chính thức thì Chị Sứ tên thật là Phan Thị Ràng, sinh năm 1937, quê quán xã Lương Phi , huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.  Năm 13 tuổi, chị tham gia cách mạng và được giao làm trinh sát tại xã Xà Tón (tỉnh An Giang).  Tháng 1 năm 1962, chị bị bắt trên đường làm nhiệm vụ, bị tra tấn, và hi sinh khi vừa bước sang tuổi 25.  Tiểu sử của chị Sứ chỉ đơn giản có thế, nhưng đến năm 1994, chị được truy tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.  Tôi hỏi người dân chung quanh thì chẳng thấy ai biết được những chiến công của chị trong thời chiến.  Không hiểu sự kiện có được tiểu thuyết hóa hay không, nhưng chỉ ghé qua đây một lần, nhìn danh sách những người hi sinh trong cuộc chiến, ai cũng thấy xúc động vì cái giá của chiến tranh quá ư là đắt.
Tôi có dịp ghé qua viện bảo tàng nằm trên đồi cao nhất của núi Hòn Đất.  Trên đồi này còn có đài phát sóng của Đài truyền hình Việt Nam.  Nói là “viện bảo tàng” cho oai, chứ thật ra, chỉ là một gian phòng bề ngang 3 thước và chiều dài chỉ vỏn vẹn 7 thước.  Gian phòng trưng bày khoảng 30 tấm ảnh nói về “tội ác của Mĩ Ngụy” trong thời chiến (không phải ở Hòn Đất mà còn nhiều nơi khác), và một số hiện vật như đạn, pháo, súng, giầy lính, v.v… Điều đáng nói là tác giả của phần lớn những hình ảnh này là phóng viên người Mĩ, chỉ có vài tấm hình là do phóng viên Bắc Việt Nam ghi lại.  Hầu hết những hình ảnh đều rất quen thuộc với những ai từng đọc sách về chiến tranh Việt Nam, bởi vì tất cả hình đều được trích ra và phóng lớn từ những sách hình ảnh xuất bản bên Mĩ.  Có nhiều hình ảnh mô tả tính ác ôn của lính Mĩ, và đối nghịch lại là tính nhân đạo của bộ đội và du kích Việt Nam.  Có một tấm hình chụp một em bé mặc áo đen, bụng có một lỗ nhỏ, mà người thuyết minh cho biết là lính Mĩ móc gan ăn sống.  Một hình khác cho thấy lính Mĩ dùng xe tăng kéo xác người Việt trên cỏ, và một hình khác thì cho thấy du kích Việt Nam chở lính Mĩ bắt được bằng xe bò.  Lính Mĩ ác ôn và dã man, bộ đội Việt Nam hiền hậu và nhân đạo.  Đó là thông điệp mà người ta muốn gửi đến khách thăm phòng bảo tàng.  Cố nhiên, đó chỉ là thông điệp một chiều.  Cái thông điệp đó có thể gây ấn tượng và tẩy não cho những ai lười suy nghĩ hay thiếu thông tin, nhưng rất hài hước đối với những ai hiểu chiến tranh và tuyên truyền.
Ngoài hình ảnh, phòng bảo tàng còn phóng lớn một lưu bút của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi ông có dịp ghé qua. Nơi đây từng là chiến khu của Thủ tướng trong thời chiến, nên lưu bút của ông có nói đến thời đó. Không có gì đáng nói trong nội dung lưu bút ca ngợi tính kiên cường và hào hùng của du kích và bộ đội tại đây, nhưng có lẽ điểm đáng xem là du khách có dịp thưởng lãm nét chữ viết của ngài thủ tướng.
Người quản lí phòng bảo tàng là một cựu du kích địa phương đã nghỉ hưu.  Ông giải thích về những hiện vật và tấm hình cho khách đến xem một cách trôi chảy.  Nhìn qua cách giải thích và những câu chữ được dùng trong thuyết minh của ông, tôi đoán ông đã thuộc lòng một văn bản mà ai đó đã viết sẵn cho ông từ trước.  Điêp khúc của người thuyết minh vẫn là Mĩ ác, ta nhân đạo.  Tôi có hỏi ông rằng du khách Mĩ có thường hay ghé đây không, thì ông nói tuần nào cũng có du khách phương Tây ghé qua, trong đó cũng có du khách Mĩ.  Ông còn cho biết du khách Mĩ ghé qua và khóc sau khi xem những tấm hình mà tôi vừa mô tả trên.  Tôi thật sự không biết họ khóc vì sự tàn ác của người Mĩ thể hiện qua những tấm hình, hay khóc vì tuyên truyền của Việt Nam quá ư là cổ điển và có thể nói là thô thiển.
Trong cuộc chiến chống Trung Quốc năm 1979, Việt Nam hi sinh cũng nhiều.  Chúng ta ai cũng biết cái thú tính của lính Trung Quốc, hiểu được sự tàn ác và dã man của Trung Quốc đối với người Việt như thế nào.  Ấy thế mà chúng ta không dám có một phòng bảo tàng trưng bày tội ác của bọn bành trướng!  Trong khi đó, Việt Nam có vẻ rất hăng hái trưng bày tội ác của Mĩ trong cuộc chiến vừa qua.  Thật ra, người Mĩ cũng chẳng dấu diếm gì những việc làm sai trái của họ trong quá khứ, nhưng hình như phía Việt Nam chưa dám làm như người Mĩ.  Sau khi đi thăm phòng bảo tàng về, tôi thấy băn khoăn một điều là trong khi Việt Nam đang nối lại quan hệ ngoại giao với Mĩ, và Mĩ giúp Việt Nam rất rất nhiều như hiện nay, những hình ảnh tuyên truyền một chiều như trên phục vụ gì cho việc hàn gắn vết thương chiến tranh, hay nó sát muối vào vết thương chưa lành.  Tôi đem ý này bày tỏ với một anh bạn là quan chức cao cấp trong tỉnh, thì anh suy nghĩ một hồi rồi nói: có lẽ chúng ta không nên làm vậy.
NVT

Làm theo tư tưởng và đạo đức HCM?



Có làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh không?

Nguyễn Trọng Vĩnh
Tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết là "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Thực tế thì hiện tại "độc lập không hoàn toàn", vì trong đất nước ta hiện có không íttô giới của nước ngoài: Trên rừng thì có những nơi bị bán (cho thuê dài hạn), vị trí chiến lược thì bị chiếm đóng, ở đồng bằng thì có những công viên vui chơi giải trí do nước ngoài làm chủ, ở biển thì có khu ăn chơi, đánh bạc và những dải trồng đất cây sinh thái... Những tô giới đó người dân Việt Nam tuy là chủ đất nước nhưng không được tự do đặt chân đến. Trên biển thì quần đảo bị chiếm đoạt, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế bị xâm phạm, ngư dân Việt Nam không được tự do đánh bắt hải sản. Vậy, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của Hồ Chí Minh chưa được thực hiện như Người mong muốn nếu không nói là đang bị vi phạm.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là: "Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội". Nhưng trong thực tế thì không thấy gì gọi là mầm mống sơ khai của chủ nghĩa xã hội, văn kiện Đảng thì luôn nói đến "định hướng xã hội chủ nghĩa" nhưng không thấy "định hướng" biểu hiện như thế nào, mà chỉ thấy doanh nghiệp tư bản nước ngoài, doanh nghiệp tư bản bản xứ, xí nghiệp liên doanh... phát triển mạnh.

Có một số "tập đoàn" và Công ty Nhà nước thì có cái lỗ vốn lớn, những cái khác thì đóng góp cho ngân sách không đáng là bao, lấy gì làm "chủ đạo"? Hơn nữa, trong một số tập đoàn có cổ phần rất lớn của một số vị có chức quyền, chứ đâu phải hoàn toàn của Nhà nước. Nói thẳng ra là đất nước ta đương phát triển chủ nghĩa tư bản, đâu còn chế độ xã hội chủ nghĩa như tên nước và mong muốn của Bác Hồ.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là "đại đoàn kết dân tộc". Nòng cốt của đại đoàn kết là khối lớn công, nông, trí thức, lực lượng chủ yếu trong cách mạng, trong kháng chiến, kiến quốc. Hiện nay khu vực nông thôn, nông dân là khu vực vẫn nghèo vì ít được đầu tư, một bộ phận nông dân còn bị thu hồi ruộng đất để làm giàu cho những nhà kinh doanh địa ốc; công nhân thì trừ ở một số ngành như dầu khí, điện lực, ngân hàng... có lương cao, còn nói chung lương thấp, không có nhà ở (nếu có loại nhà cho người thu nhập thấp như nghe nói thì cũng hai trăm triệu một căn hộ, công nhân lương thấp từ dưới một triệu đến ba triệu, ăn tiêu còn eo hẹp, bao giờ có được hai trăm triệu để mua nhà?); công nhân ở các xí nghiệp của người nước ngoài bị bóc lột, bắt làm nhiều giờ, đối xử tàn tệ... cũng không được tự do đình công để đòi quyền lợi. Học phí, viện phí ngày càng tăng cao cũng lại chính là đánh vào công nhân, nông dân. Vậy thì làm sao tập hợp được họ trong khối "đại đoàn kết"! Đối với trí thức cũng vậy. Họ không được coi trọng (trừ việc tôn vinh Tiến sĩ Ngô Bảo Châu vừa rồi). Nhiều vấn đề quan trọng của đất nước, hàng ngàn trí thức góp ý kiến, phân tích rất khoa học, có tình có lý, đều bị bỏ ngoài tai, họ không được tự do phát biểu chính kiến, không được phản biện công khai. Như thế thì làm sao đoàn kết được trí thức? Nói thật, nói thẳng ra là "hiện tình, đại đoàn kết chỉ có danh mà không có thực".
Tư tưởng Hồ Chí Minh là "Dân làm chủ, cán bộ, chính quyền là công bộc của dân, dân có quyền tự do dân chủ", thể hiện trong Hiến pháp: "Nhân dân sử dụng quyền lực, Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân". "Đại biểu Quốc hội bị cử tri hoặc Quốc hội bãi nhiệm và đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân". "Các cơ quan Nhà nước, cán bộ, viên chức Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân...". Văn kiện Đảng cũng từng ghi: "Dân biết, dân bàn, dân kiểm tra" và "Mở rộng dân chủ cơ sở". Thực tế thì dân đâu có được làm chủ, đâu được tự do phát biểu ý kiến, trí thức thì bị cấm phản biện công khai, dân bị oan khuất kêu cũng ít khi được giải quyết, người tâm huyết tố cáo sai phạm thì bị trừng trị, kẻ bị tố cáo thì được huân chương và được thăng chức, báo đăng bài của vị khai quốc công thần Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì Tổng biên tập bị mất chức, phóng viên đưa tin về vụ bê bối PMU 18 do người điều tra cung cấp thì bị tù, vụ Chủ tịch tỉnh Nguyễn Trường Tô giao cấu với gái vị thành niên và vụ Tập đoàn Vinashin tự tung tự tác gây thiệt hại 86.000 tỷ vừa được công bố thì liền sau đó báo chí được chỉ thị thôi đưa tin và bình luận. Việc khai thác bauxite Tây Nguyên đã cam kết từ trước với nước ngoài, dân đâu có biết, khi dân biết phản đối quyết liệt thì bị bỏ ngoài tai; việc mở rộng thủ đô, xóa sổ hẳn một tỉnh chỉ thấy Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội biểu quyết tán thành trước khi Quốc hội bàn và quyết định, dân đâu được bàn; việc phá Hội trường Ba Đình, di tích lịch sử quan trọng có một không hai của cả nước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp phản đối, lão thành cách mạng, đông đảo cựu chiến binh và nhân dân phản đối, vẫn cứ chi tiền tỷ thuê phá vội cho bằng được, rồi để đất không gần ba năm nay! Đảng viên (cũng là dân) không được tự do ứng cử vào các cơ quan dân cử; quyền dân chủ tối thiểu của dân là ở bầu Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường để thay mặt mình kiến nghị, giám sát, chất vấn, phê bình cơ quan hành chính, cũng sắp bị tước đoạt nốt! Rõ ràng là không tôn trọng quyền làm chủ, quyền dân chủ của dân như tư tưởng Hồ Chí Minh.
Lẽ đời là dân chủ, trong sạch, công minh thì được lòng người, đoàn kết được rộng rãi, được dân ủng hộ. Tham nhũng, cấm đoán, chuyên quyền thì mất lòng tin và chỉ chuốc lấy sự bất bình và phản kháng thôi.
Tư tưởng Hồ Chí Minh rộng lớn mênh mông và trên mọi lĩnh vực. Ở đây chỉ dám nêu lên một số nét để đối chiếu với hiện thực xem trong "Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh" có thấy điều gì thể hiện được tư tưởng của Người không? Quả thật chỉ thấy tình hình như các phần trên đây đã viết.
Còn học tập đạo đức Hồ Chí Minh thì sao?
Đạo đức Hồ Chí Minh vô cùng trong sáng, cao đẹp, thể hiện trên mọi mặt. Dưới đây tôi chỉ dám mạo phạm nêu gọn Đạo đức Hồ Chí Minh là: chí nhân, chí nghĩa, chí dũng, chí tín, chí khiêm (chí – hết mức, tột bậc) và cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phát động "học tập đạo đức Hồ Chí Minh", nhưng không có vị đạo cao đức trọng nào đứng ra diễn giảng đạo đức Hồ Chí Minh để dạy cho mọi người, báo chí cũng chỉ nêu được phần nào. Những người có chức quyền là người rất cần học thì nói chung không học, cán bộ, nhân viên, dân ai thích thì giở báo ra mà tự học, ai không học cũng chẳng sao. Trên TV thỉnh thoảng cũng thấy một vài cán bộ bình thường, giáo viên, học sinh, thanh niên, một bác nông dân... lên báo cáo điển hình thu hoạch qua học tập đạo đức Hồ Chí Minh. Không thấy vị Chủ tịch hoặc cán bộ cao cấp nào lên TV báo cáo điển hình rằng: "Trước đây tôi trót nhận hối lộ, hoặc bán đất trái phép thu lợi, hoặc báo cáo dối thành tích để được cấp trên khen thưởng, đề bạt, hoặc trót mua bằng cấp giả, hoặc trót ăn chặn tiền cứu trợ của dân gặp thiên tai... nay học tập đạo đức Hồ Chí Minh tôi tỉnh ngộ ra, thấy sai trái, xấu hổ, tôi xin sửa chữa, tu dưỡng để trở thành cán bộ tốt, trong sạch".
Trong giới lãnh đạo, nắm quyền các cấp không thấy mấy ai hội đủ những đức tính như: thương người, yêu dân (nhân), ăn ở có trước có sau, nghĩa hiệp, vị tha (nghĩa), dám công khai đấu tranh bảo vệ quyền lợi của Tổ quốc, chống lấn át, dám đấu tranh bảo vệ lẽ phải, dám nói thẳng nói thật (dũng), giữ lời hứa, nói tốt làm tốt, nói hay làm hay, không nói một đằng làm một nẻo (tín), khiêm tốn, giản dị, không khoe khoang, hách dịch, tự cao, tự đại (khiêm) theo đạo đức Bác Hồ.
Tham nhũng, lãng phí không ngăn chặn được, vẫn diễn biến tinh vi phức tạp; mua quan bán chức vẫn diễn ra; những vụ án chứng cứ đã rõ ràng, nhưng vì liên quan dây mơ rễ má nên kéo dài; tội tham ô thì chỉ bị xử tội đánh bạc; người làm lợi cho Nhà nước, lo cải thiện cho công nhân, tự mình không mưu lợi riêng thì bị bỏ tù; người tố cáo tham nhũng, lộng quyền thì bị trù dập, trị tội, kẻ bị tố cáo có bằng chứng hẳn hoi lại vô can...
Vậy là, cuộc phát động học tập Đạo đức Hồ Chí Minh hầu như không mấy hiệu quả, hình thức nhiều hơn thực chất.
N. T. V.
HC Mạng Bauxite Việt Nam biên tập
Tác giả, nhà cách mạng lão thành, gửi trực tiếp cho BVN.

Những ông kẹ trong khoa học Việt Nam


http://www.ced-concord.com/images/monster/monster.gifHôm trước tôi cố tìm bài viết “Những ông kẹ trong khoa học Việt Nam” thì hôm nay đã có người chỉ cho bài viết đó. Nhưng bài này có phần hơi ngắn so với bài viết trước tuy nội dung cũng không có gì khác. Tôi “rinh” bài đó về đây để làm tài liệu tham khảo. Xin cám ơn tác giả Bsngoc.
NVT
====

Chân dung những ông kẹ trong khoa học Việt Nam

Họ là những ông kẹ trong khoa học Việt Nam. Họ thường ngồi ở những cái ghế hành chánh hoặc ghế quản lý cao. Trong những vị trí đó, họ có quyền bổ nhiệm người họ thích. Hậu quả là họ lập bè nhóm chỉ để củng cố cái ghế của phe cánh. Họ ngồi trong các hội đồng phản biện đề tài nghiên cứu. Khi ngồi trong hội đồng họ hay cho ý kiến thể hiện tầm hiểu biết quá thấp. Nhưng ý kiến của họ có ảnh hưởng đến sự thành bại của đề tài. Chính vì thế họ trở thành những ông kẹ, làm cho người làm khoa học chân chính rất chán ngán.
Những ông kẹ trong khoa học Việt Nam thường có bằng cấp cao, nhưng khả năng học thuật lại quá thấp. Trên danh nghĩa, họ có bằng cấp cao ngất ngưởng như tiến sĩ và cái bằng đặc trưng XHCN “tiến sĩ khoa học”. Nhưng chúng ta biết rằng ngày xưa một con bò sang các nước XHCN vẫn có thể có bằng tiến sĩ. Những tấm bằng tiến sĩ do đại học Việt Nam cấp thế giới chẳng ai công nhận do chất lượng quá kém. Không loại trừ khả năng luận án của họ có người viết mướn. Do đó, nhiều ông kẹ dù danh nghĩa có bằng tiến sĩ nhưng không có khả năng viết một bài luận văn cho ra hồn.
Những ông kẹ trong khoa học Việt Nam có học hàm cao, nhưng là những kẻ vô danh tiểu tốt. Tuy mang danh là giáo sư, phó giáo sư, giảng viên chính … nhưng bản thân họ chưa hề có một công trình khoa học trên các tạp chí khoa học ISI. Có phó giáo sư và giáo sư được báo chí xưng tụng là nhà khoa học di truyền hàng đầu nhưng trong lý lịch không có đến một công trình lận lưng. Vì thế đồng nghiệp thế giới chẳng ai biết đến tên họ, chẳng biết họ làm gì. Có người khá hơn một chút với 2,3 công trình nhưng là do người nước ngoài làm tác giả chính. Họ không biết đến chuẩn mực khoa học là gì. Suốt đời họ chỉ sống trong cái ao tù khoa học do chính họ dựng lên. Họ bất chấp chuẩn mực quốc tế. Họ cản trở sự hội nhập của khoa học Việt Nam.
Những ông kẹ trong khoa học Việt Nam là những kẻ khôn nhà dại chợ. Ở trong nước họ được báo chí ca ngợi và phong thần thánh. Nhưng khi đi công tác nước ngoài họ như là con giun. Vì thiếu kiến thức chuyên sâu, họ không hiểu công trình người khác. Vì bất tài, họ không có khả năng trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp ngoại quốc. Ngồi trong phòng họp họ trở thành những khán giả thụ động. Nhưng về nhà họ lại lên mặt với đồng nghiệp như là đã người được đi tu nghiệp tiếp thu kiến thức tân tiến nhất! Họ không chỉ là những kẻ bất tài mà còn là những kẻ không biết nhục.
Những ông kẹ trong khoa học Việt Nam tự xem mình là “chuyên gia hàng đầu”, nhưng trong thực tế là những kẻ bất tài. Các cơ quan nhà nước hiểu lầm, mời họ làm chuyên gia phản biện đề tài nghiên cứu. Chính trong các hội đồng xét duyệt đề cương nghiên cứu, những ông kẹ thể hiện cái bất tài rõ rệt nhất. Do không nắm vững vấn đề, do không cập nhật hóa kiến thức chuyên môn, do dốt nát, họ đưa ra những ý kiến phản biện cảm tính, thiếu cơ sở khoa học, làm trò hề cho hội đồng phản biện. Nhưng cũng có khi có ông kẹ làm chủ tịch hội đồng phản biện, ý kiến của họ làm hại đến nhà khoa học chân chính. Do đó, những ông kẹ trong khoa học Việt Nam là những kẻ ám hại khoa học Việt Nam.
Những ông kẹ trong khoa học Việt Nam còn có mặt trong rất nhiều đại học Việt Nam. Nhờ chạy chọt vào các vị trí hành chánh và quản lý, họ vênh váo với đồng nghiệp, tìm cách hãm hại đồng nghiệp làm khoa học chân chính. Chẳng những hãm hại đồng nghiệp, họ còn làm hư hỏng sinh viên. Họ ra lệnh cho sinh viên sửa dữ liệu thí nghiệm theo ý của họ. Ai không làm theo lệnh bị cho điểm 0. Những sinh viên biết chuyện xem họ là những kẻ đáng khinh bỉ nhưng không dám lên tiếng. Do đó, những ông kẹ không chỉ phá nền khoa học Việt Nam mà còn phá hoại đại học Việt Nam.
Để khoa học Việt Nam trong sạch, để đại học Việt Nam có thể hội nhập quốc tế, cần phải loại hết những ông kẹ bất tài khỏi hệ thống khoa học Việt Nam.
Bsngoc

Bản kiến nghị phê phán Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng


2010-09-23
Mới đây, một bản kiến nghị của 31 người đồng ký tên gửi cho Bộ chính trị và các Ủy viên Trung ương đảng phê phán việc làm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng.
 
Cùng ký tên trong bản kiến nghị với những lời lẽ hết sức gay gắt gồm có 1 thượng tướng, 3 trung tướng, 7 thiếu tướng, 11 đại tá và 9 cán bộ cao cấp lão thành cách mạng trong đó có một nguyên Thứ Trưởng.

Nhiều sai phạm của Chính phủ

Bản kiến nghị nêu lên những thất bại trong chính sách cũng như tư cách của người lãnh đạo quốc gia đã nhiều lần làm nhân dân đặt câu hỏi về tài năng đức độ của họ. Đối với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, bản kiến nghị nhấn mạnh đến trường hợp mới nhất là vụ Vinashin. Dựa vào bản báo cáo của Ban kiểm tra Trung ương Đảng cho biết thì ông Phạm Thanh Bình là người trực tiếp lộng quyền, dối trá và dẫn đến nhiều việc làm sai trái nghiêm trọng khiến cuối cùng tập đoàn này đã vỡ nợ với con số lên tới 84 ngàn tỷ.

Bản kiến nghị ghi rõ, chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mới là người chịu trách nhiệm trực tiếp vì đã lập ra tập đoàn này và chỉ đạo ông Bình vào vai trò cao nhất. Tập đoàn Vinashin do chính phủ trực tiếp quản lý nhưng không biết lời lỗ ra sao trong một thời gian dài để rồi khi sụp đổ Thủ tướng Dũng đã ra lệnh cơ cấu lại hầu che lấp lỗi lầm của mình.
Với đồng chí Nông Đức Mạnh, khuyết điểm trầm trọng nhất là ngả hẳn vào bọn Trung Quốc, không thấy được âm mưu muôn đời của Trung Quốc là muốn nuốt chửng nước ta...
Trung tướng Lê Hữu Đức
Riêng với Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, lời lẽ còn gay gắt hơn khi cho rằng ông này cũng liên đới trách nhiệm trong vụ Vinashin. Hơn thế, chính Phó thủ tướng là người luôn cho rằng Vinashin cần phải được bảo vệ dù bất cứ giá nào.
Bản kiến nghị cũng nhắc lại việc Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng là người hăng hái nhất cổ vũ cho việc phá cho được hội trường Ba Đình bất chấp những di sản quý giá của đất nước, đồng thời vạch ra tư cách không phù hợp địa vị của một phó thủ tướng thường trực trong khi ông Hùng tham dự họp quốc hội.
Khi có đại biểu hỏi "ông cán bộ nọ có sai phạm sao không thi hành kỷ luật" thì Phó thủ tướng trả lời "kỷ luật thì không có người làm việc!"
Câu trả lời này được những người ký tên trong bản kiến nghị cho là tùy tiện và chứng tỏ khả năng lãnh đạo của Phó thủ tướng quá yếu kém. Câu trả lời này cũng bị báo chí vạch ra nhiều lần khiến bộ mặt chính phủ không thể gọi là đáng nể trọng.
Ông Nguyễn Sinh Hùng bị phê phán là có xu hướng áp đặt và hạn chế dân chủ trong việc cổ vũ cho dự án đường sắt cao tốc, phê phán Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng thiếu lễ độ vì trong khi thảo luận, đại biểu còn có ý kiến khác thì Phó thủ tướng giơ tay chém xuống, tuyên bố không thể không làm đường sắt cao tốc.
Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cũng là người đưa ra ra sáng kiến cổ vũ cho việc bãi bỏ Hội đồng nhân dân quận, huyện. Đây là một đề nghị vi phạm hiến pháp, rõ ràng muốn tạo thế triệt tiêu mọi phê bình dân chủ. Người dân sẽ mất quyền bầu ra cơ quan thay mặt mình để giám sát cơ quan hành chính trực tiếp kiến nghị, phê bình chủ tịch, phó chủ tịch quận, huyện, phường trong các kỳ họp, hoặc bãi miễn họ khi có sai phạm nghiêm trọng.


Kết luận của bản kiến nghị yêu cầu Thủ tướng và Phó thủ tướng nên tự kiểm điểm trước Ban chấp hành Trung ương và xin từ nhiệm.

Đây không phải là bản kiến nghị đầu tiên. Trước đó vào ngày 22 tháng 4 năm 2010 một bản kiến nghị thu thập chữ ký của 18 vị lão thành cách mạng cũng đã được gửi cho Bộ chính trị, Ban bí thư trung ương và các ủy viên Ban chấp hành Trung ương khoá 10 nhằm góp ý, phê bình thẳng thắn bốn nhân vật gồm Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, và ông Tô Huy Rứa.
Thẳng thắn phê phán bốn nhân vật này đều tham quyền cố vị, làm việc trong nhiều nhiệm kỳ nhưng tỏ ra không đủ khả năng lãnh đạo, bản kiến nghị yêu cầu cả 4 người không nên tiếp tục ứng cử trong nhiệm kỳ tới tại Đại hội Đảng lần thứ 11.
Vậy thì chính Nguyễn Tấn Dũng là thủ phạm trong hành vi cấm người dân khiếu nại tập thể là hành vi vi phạm hiến pháp, vi phạm pháp luật về khiếu nại tố cáo."
TS luật Cù Huy Hà Vũ
Có điều đặc biệt là bản kiến nghị này đã nêu đích danh Tổng bí thư Nông Đức Mạnh là người ngả hẳn theo Trung Quốc một cách công khai. Trung tướng Lê Hữu Đức, người ký tên đầu trong bản kiến nghị, đã ghi thêm phần nhận xét của mình như sau:
"Với đồng chí Nông Đức Mạnh, khuyết điểm trầm trọng nhất là ngả hẳn vào bọn Trung Quốc, không thấy được âm mưu muôn đời của Trung Quốc là muốn nuốt chửng nước ta, không thấy qua 4000 năm dựng nước và giữ nước, vương triều nào nhu nhược chạy theo bọn Trung Quốc là mất nước hay sao? Cần kiểm điểm nghiêm khắc trước khi nghỉ việc để làm gương cho những đồng chí khác tránh vết xe đổ nát của đồng chí Nông Đức Mạnh."

Một quy định vi phạm pháp luật

Sau khi hai bản kiến nghị đựơc xem là gay gắt và mạnh mẽ nhất tung ra thì một quy định của Thanh tra Chính phủ cũng xuất hiện vào ngày 26/8/2010 quy định việc nộp đơn khiếu nại, tố cáo hay kiến nghị gửi đến các cấp không tập trung chữ ký của nhiều người mà phải nộp riêng, từng người một đứng đơn.
Bản quy định nêu rõ khi đơn khiếu nại có họ, tên, chữ ký của nhiều người thì cán bộ xử lý đơn đề xuất thủ trưởng cơ quan chuyển trả đơn và toàn bộ tài liệu kèm theo (nếu có) cho người gửi đơn và hướng dẫn người khiếu nại,viết đơn khiếu nại riêng của từng người, gửi đến cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền để được giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngay sau khi bản quy định này được tung ra TS luật Cù Huy Hà Vũ đã đưa ra nhận xét:
"Quy định mới của Thanh tra Chính phủ thể hiện tại thông tư 04 ngày 26 tháng 8 năm 2010 về việc cơ quan nhà nước khi nhận đơn khiếu nại phải phân loại ra, nếu đơn nào có chữ ký của nhiều người khiếu nại thì trả lại và bắt người khiếu nại nếu muốn tiếp tục thì phải mỗi người một đơn riêng. Nguồn gốc của thông tư này chính là một văn bản của chính Thủ tướng đương nhiệm Nguyễn Tấn Dũng ký.
Đó là nghị định 136 ngày 14 tháng 11 năm 2006 của chính phủ quy định tại điều 6 là trả lại đơn khiếu nại của ông hoặc bà và đề nghị ông bà viết đơn khiếu nại riêng để cơ quan thẩm quyền giải quyết. Vậy thì chính Nguyễn Tấn Dũng là thủ phạm trong hành vi cấm người dân khiếu nại tập thể là hành vi vi phạm hiến pháp, vi phạm pháp luật về khiếu nại tố cáo."

Riêng Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, người liên tiếp đưa ra những kiến nghị này xác định rằng ông đã biết có việc ngăn trở này, nhưng đối với ông việc đó không có gì quan trọng vì những người ký tên trong bản kiến nghị đều biết trước việc này. Khi được hỏi liệu quy định này có phải nhằm vô hiệu hóa những kiến nghị tương tự như kiến nghị ông vừa gửi đi hay không, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh cho biết:
Đến đại tướng ký biết bao nhiêu đơn kiến nghị nhưng các vị đâu có chú ý đến, thậm chí còn không hồi âm, thế bây giờ bảo chúng tôi là mỗi người ký thì có nghĩa lý gì?
Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

"Đó là một cách, trước đây thì họ đã quy định từng người. Bữa trước tôi đã trả lời ông Trương Tấn Sang rồi, tôi nói rằng đến đại tướng ký biết bao nhiêu đơn kiến nghị nhưng các vị đâu có chú ý đến, thậm chí còn không hồi âm, thế bây giờ bảo chúng tôi là mỗi người ký thì có nghĩa lý gì?"
Khi được hỏi liệu trong điều lệ Đảng có quy định về việc trả lời các kiến nghị của Đảng viên trong việc xây dựng Đảng hay không, ông nói:
"Từ trước đến giờ họ chả bao giờ trả lời cả. Đến Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi bao nhiêu kiến nghị mà họ cũng chả trả lời. Tôi cũng thế, tôi đã gửi bao nhiêu thơ, bao nhiêu kiến nghị cho họ nhưng chả bao giờ họ trả lời cả. Nhưng cái việc tôi làm tiếp thì tôi cứ phải làm. Từ trước giờ theo điều lệ Đảng thì không nói là bao nhiêu lâu thì họ phải trả lời cái thơ này nhưng trong quy định, trong luật thì công dân có kiến nghị có khiếu nại thì các cơ quan hữu quan phải trả lời trong 15 ngày. Tuy nhiên thủ tướng quy định thì cứ quy định nhưng bây giờ người ta có làm theo luật đâu?"
Giới quan sát chính trị quốc tế cho rằng chính phủ của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tỏ ra thận trọng hơn những chính phủ trước khi đối phó với chính kiến của những nhân vật cao cấp trong quân đội hay trong cấp ủy đảng. Lý do có lẽ chính quyền lo ngại dư luận quốc tế nên cố gắng tránh càng xa càng tốt những tiếng nói vang lên từ trong Đảng, vì chính quyền biết rõ, càng chống lại thì dư âm của những tiếng nói ấy lại càng vang xa.

Công an Hà Nội dẹp người khiếu kiện

Công an Hà Nội dẹp người khiếu kiện

Khiếu kiện tập thể tại TP Hồ Chí Minh
Đất đai là một trong các lý do chính dẫn tới khiếu kiện đông người
Tin cho hay công an quận Ba Đình vừa bắt khoảng 30 người khiếu kiện dài ngày tại trung tâm thành phố và chuyển họ tới một cơ sở xã hội ở ngoại thành.
Sự việc xảy ra vào tối hôm thứ Hai ngày 20/09.
Bà Phạm Thị Ứng, một trong những người vừa bị bắt, cho đài BBC biết:
"Cùng bị bắt với tôi tối hôm 20/09 là 25 người dân oan đang khiếu kiện ở vườn hoa Lý Tự Trọng, đối diện vườn hoa Mai Xuân Thưởng. Sáng hôm sau, thêm bốn người nữa, trong đó có hai nhà sư."
"Công an mang xe tới lúc chúng tôi đang chuẩn bị ngủ, không giải thích lý do tại sao mà chỉ kêu chúng tôi xách đồ lên xe. Nếu ai không nghe lời thì bị lùa đẩy lên xe, không cho biết vì tội gì."
Hiện những người này đã được chuyển tới một cơ sở xã hội ở Đồng Dầu, Lộc Hà, thuộc huyện Đông Anh. Đây là nơi nuôi trẻ em đường phố không nơi nương tựa.
Được biết trong số những người bị bắt, có người đã chầu chực khiếu kiện ở Hà Nội cả 3-5 năm nay.
Bản thân bà Ứng, 56 tuổi, quê ở huyện Tuy Phong, Bình Thuận, cho hay: "Tôi lên Trung ương kiện vì Chủ tịch tỉnh ban hành quyết định trái pháp luật, xâm phạm quyền lợi của gia đình tôi."
"Gia đình tôi có 9.500 m2 đất do ông cha tạo lập từ những năm 1930. Năm 1977, chính quyền lấy đất không có giải thích hay bồi thường gì. Tới năm 93-94, chủ tịch huyện Tuy Phong mới có quyết định trả lại cho gia đình tôi 630 m2. Như thế thì làm sao chấp nhận được."
Gia đình bà Phạm Thị Ứng đã nhiều lần khiếu nại tại địa phương nhưng không thành công và do vậy, bà quyết định lên Hà Nội "tìm công lý".

Ngủ ở vườn hoa

Những người khiếu kiện dài ngày thường ăn nghỉ tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng hoặc vườn hoa Lý Tự Trọng là những nơi công cộng ở quận Ba Đình, gần Văn phòng Chính phủ và nhà riêng của các lãnh đạo cao cấp trong Đảng và Nhà nước.
"Điều kiện của người đi kiện hết sức khó khăn. Ngày ngày đến nhà các ông lớn nộp đơn, rồi đi lượm ve chai đồng nát, làm thuê làm mướn để kiếm sống, tối về vườn hoa ngủ."
Theo bà Ứng, họ không vi phạm an ninh trật tự mà chỉ đôi lần mặc áo có chữ Dân oan để đi tới gõ cửa nhà các lãnh đạo.
Bà thừa nhận rằng có thể lý do công an dẹp lui họ lần này là vì thành phố Hà Nội đang chuẩn bị cho đợt kỷ niệm lớn 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.
Thông thường, trước các dịp có sự kiện quan trọng, đông khách quốc tế, chính quyền thành phố lại tổ chức chiến dịch 'chấn chỉnh trật tự".
Thế nhưng, theo bà Phạm Thị Ứng, đó không phải là cách giải quyết tận gốc vấn đề: "Họ không thể giữ chúng tôi ở đây mãi, nên chắc sẽ yêu cầu địa phương lên nhận người."
Về phần mình, bà Ứng tuyên bố sẽ không về quê chừng nào chưa nhận được câu trả lời thích đáng.
Việc dân các tỉnh lên ăn chực nằm chờ để khiếu nại là chuyện xảy ra lâu nay ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, nơi đặt các cơ quan công quyền.
Có những đợt khiếu kiện tập trung cả hàng trăm người. Tại các vườn hoa trung tâm Hà Nội thường xuyên có hàng chục người.
Đất đai là một trong các lý do chính dẫn tới khiếu kiện đông người ở Việt Nam. Chính phủ đang phải xử lý hàng chục nghìn hồ sơ khiếu kiện dạng này.
Nhiều chuyên gia đã nhắc tới nhu cầu phải thành lập tòa án dân sự chuyên xét xử các vụ khiếu kiện đất đai.
Việt Nam coi đất đai là sở hữu của toàn dân. Chính quyền cũng nói nhiều vụ khiếu kiện tập thể là do "các phần tử phản động bên ngoài xúi giục".