13/10/10

KHỞI ĐI TỪ ÁP LỰC QUÂN SỰ MỸ

KHỞI ĐI TỪ ÁP LỰC QUÂN SỰ MỸ TRUNGCỘNG PHẢI TÁI CẤU TRÚC CHÍNH TRỊ

Từ chủ trương và hành động quyết liệt dứt khoát của Mỹ “Trở Lại Á Châu” và hành động thao dượt quân sự ở biển Nhậtbản, Hoàng Hải, rồi đem hạm đội vào vùng biển Việtnam để hỗ trợ tinh thần cho quân đội Việtnam và các nước Đông Nam Á có niềm tin ngăn sức bành trướng của Trungcộng ở toàn cõi Biển Đông, đã khiến cho các giới quân sự, chính trị, báo chí Trungcộng sôi sục lên án Hoakỳ là đối đầu với Trungquốc. Trong bài: “Mỹ bao vây Trungquốc bằng NATO ở Á châu”. Ngày 11/08/2010, Đới Húc đã viết: “Các cuộc diễn tập quân sự gần đây ở Hoàng Hải và tuyên bố can thiệp vào các vấn đề Nam Hải (Biển Đông), là các nỗ lực để bao vây Trungquốc. Hoakỳ đang xây dựng khối NATO ở Á châu với Nhậtbản, Hànquốc, Úc và Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á”. Họ cũng không ngớt kết tội Việtnam đã chạy theo Mỹ để chống Trungquốc. Ngược lại trên báo Phoenix Weekly xuất bản tại Hồngkông ngày 12/08/2010, đăng tải bài luận văn của trung tướng không quân tại chức, chính ủy Học Viện Quốc Phòng Trungquốc, Lưu Á Châu (Liu Yazhou) 53 tuổi, cha ông là một sỹ quan cao cấp rất uy tín, bố vợ ông là cố chủ tịch nước, đại nguyên soái Lý Tiên Niệm, được nhà báo John Garnaut giới thiệu dưới đề tài “Quản Trị Theo Mô Hình Mỹ Hay Là Chết”,Google dịch ra nhiều thứ tiếng, phát tán khắp thế giới. Nội dung bài luận văn của tướng Lưu Á Châu, khẳng định: “Trong 10 năm tới đây, ở Trungquốc một sự chuyển đổi từ chính trị của vũ lực, chính trị của cường quyền sang Dân Chủ là điều không thể tránh được”. “Liênxô sụp đổ vì cải cách chính trị tiến hành quá muộn, chứ không phải vì cải cách chính trị quá mức”. “Dân chủ là điều cấp thiết nhất, không có dân chủ không thể có sự chỗi dậy bền vững”. “Giới lãnh đạo Trung Nam Hải nên chú tâm nhiều hơn vào việc phát triển về hướng Tây, thay vì hướng Đông và cần nhanh chóng tiến hành cải cách thể chế chính trị dựa trên mô thức của Hoakỳ”. “Hệ thống chính trị Hoakỳ được thiết kế bởi những thiên tài, và giúp cho những người ngu ngốc cũng có thể vận hành được”. “…một hệ thống tồi khiến một người tốt cũng hành xử tồi, trong khi một hệ thống tốt sẽ khiến ngay một người tồi cũng có thể hành xử tốt”.
 Điều đáng ghi nhận nhất, theo hãng tin Anh Reuters, nhân chuyến ghé thăm Thẩm Khuyến mới đây, thủ tướng Trungquốc Ôn Gia Bảo đã thẩm định rằng: “Trungquốc cần phải tiếp tục trên con đường cải cách chính trị để bảo đảm cho nền kinh tế được khỏe mạnh”. “Nếu không duy trì việc tái cấu trúc chính trị, Trungquốc có thể mất đi những gì đạt được nhờ tái cấu trúc kinh tế, khiến cho công cuộc hiện đại hóa không đạt được mục tiêu”. “Các quyền lợi dân chủ và quyền lợi chính đáng của người dân phải được bảo đảm”. Ông ngỏ ý muốn tạo điều kiện cho phép dân chúng phê bình và giám sát công việc của chính phủ, sao cho giải quyết được vấn đề tập trung quyền lực thái quá, khiến cho hệ quả kiểm soát không hữu hiệu. Liệu trong nhiệm kỳ còn 2 năm nữa, thủ tướng họ Ôn có  đủ quyết tâm và tạo nổi tư thế để Dân Chủ Hóa chế độ độc tài toàn trị và tham vọng Đại Hán của Trungcộng, hay rồi cũng chịu chung số phận với ông Triệu Tử Dương?
 Cùng một ý với thủ tướng họ Ôn, nhà kinh tế  Ngô Kính Liễn (Wu Jnglian) cố vấn kinh tế hàng đầu của lãnh đạo Trungquốc trước đây, trả lời cuộc phỏng vấn của tuần báo Courrier International ở Quảng Đông, ông đã quyết liệt phê phán: “Sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế”. Theo ông: “Hiện tượng nghiêm trọng tại Trungquốc là nạn tham nhũng và sự chênh lệch giầu nghèo”. “Mức độ bất bình đẳng hiện nay ở Trungquốc, xét theo hệ số Gini là đứng đầu thế giới. Vấn đề nguy hiểm nằm ở chỗ, người ta không nhận ra gốc rễ của vấn đề. Đó là quyền lực quá lớn của nhà nước”. Phải chăng? Thủ tướng Ôn Gia Bảo và kinh tế gia hàng đầu Ngô Kính Liễn đều hướng về tướng Lưu Áchâu, và những thành phần trẻ, các “Thái Tử” của đảng cộng sản Trung Hoa, nhằm ủng hộ họ nói lên quan điểm tự do ở Đại Hội 18 của cộng đảng vào năm 2012. Với hy vọng dùng cải cách chính trị để bảo đảm cho nền kinh tế đầy rủi ro của Trunghoa khỏi sụp đổ, và giảm bớt quyền lãnh đạo chủ quan duy ý chí của những kẻ còn nặng đầu óc Đế Quốc Đại Hán, để rồi bị thảm bại như Liênxô trước sức mạnh Dân Chủ Trọng Pháp và Kinh Tế Thị Trường của Mỹ

Điều rất đáng ngạc nhiên là, từ trước tới nay, báo chí của nhà nước Việtcộng, tuyệt đối không bao giờ nhắc tới sự sụp đổ của Liênxô, thì nay chính trên tờ nhật báo Nhân Dân cơ quan trung ương của cộng sản Việtnam, đã cho đăng một loạt bài nói đến “Bài học lịch sử về sự sụp đổ của Đảng Cộng Sản Liên Xô”. Theo đó: “Dưới thời  Gorbachev, tầng lớp đặc quyền đã không còn thỏa mãn với việc theo đuổi hưởng thụ cá nhân, mà còn mong muốn chiếm hữu lâu dài mọi đặc quyền hiện có. Thậm chí còn để lại cho con cháu đời sau. Đồng thời, tầng lớp đặc quyền còn phát hiện ra rằng, chủ nghĩa xã hội, lòng tin vào chủ nghĩa cộng sản thường trực nơi cửa miệng và ánh sáng hào quang đảng viên đảng cộng sản, mà họ mang trên mình đã không còn giá trị sử dụng. Họ thấy rằng, những đặc quyền mà họ vốn có phải được thay đổi hình hài và chủ nghĩa tư bản là chế độ thích hợp nhất để hợp pháp hóa những lợi ích hiện có của họ. Đặc biệt, trong lúc Đảng Cộng Sản Liênxô và đất nước đang đứng trước nguy cơ diệt vong. Giữ vững lợi ích đặc biệt của mình và hợp pháp hóa chúng, tầng lớp đặc quyền đã không ngần ngại lột bộ mặt nạ, công khai vứt bỏ Chủ Nghĩa Xã Hội, đi theo con đường của Chủ Nghĩa Tư Bản, Tư Hữu Hóa Toàn Diện”.

Đích ra Việtcộng cũng đã đầu hàng Chủ Nghĩa Tư Bản như Liênxô, khi đi vào làm Kinh Tế Thị Trường, rồi cố gắn vào cái đuôi kệch cỡm là: “Theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, lấy Công Ty Quốc Doanh Làm Chủ Đạo”. Nhưng đến Đại Hội X thì cho Đảng Viên làm Kinh Tế Tư Doanh,  giống như Liênxô hợp pháp hoá những tài sản tham nhũng của họ. Họ trở thành chủ nhân ông các công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn, kể cả việc làm chủ các công ty Quốc Doanh do nhà nước quản lý trên danh nghĩa. Vì họ là đảng viên do Đảng trao quyền để làm Bí Thư Đảng Ủy, Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị, nên họ có toàn quyền làm chủ Công Ty Quốc Doanh, Tuy vốn của Nhà Nước, lỗ Nhà Nước bù, lời, kể cả vốn của Nhà Nước vay của Quốc Tế thì chủ tịch quản trị cũng tha hồ bỏ túi, và chia cho cấp trên, lẫn đàn em. Đây là cách tư hữu hóa tài sản của nhà nước cho các đảng viên có đặc quyền. Thế nên mới có hiện tượng Tập Đoàn Công Nghiệp Tàu Thủy Việtnam-VINASHIN- thua lỗ trên 4 tỷ Mỹkim. Không phải chỉ có Phạm Thanh Bình của VIANSHIN làm ăn kiểu đó, mà hầu hết các Công Ty Quốc Doanh của Việtcộng đểu chung một cách. Đúng với câu nói của nhà kinh tế học Mỹ, David Code: “Đảng Cộngsản Liênxô là chính đảng duy nhất làm giầu trong tang lễ của chính mình”. Nay đến lượt Đảng Cộngsản Việtnam cũng đang làm việc đó đây mà! Little Saigon ngày 24/08/2010.
Ly Dai Nguyen


VỤ THẢM SÁT TẠI TỔNG CHÚP

VỤ THẢM SÁT TẠI TỔNG CHÚP, XÃ HƯNG ĐẠO, HUYỆN HÒA AN, QUÂN TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC DÙNG CỌC TRE, RỰA, ĐỒ CỦI, ĐÂP CHẾT  43 PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM QUĂNG XUỐNG GIẾNG NƯỚC.

medium_vn_100209_chuyenviahe.jpg

  
Hình bên: Bia tưởng niệm những người bị quân xâm lược Trung Quốc giết hại hồi tháng 2 năm 1979 ở thôn Tổng Chúp, xã Hưng Ðạo, huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng. Theo tác giả, bia này “chìm trong gai tre và lau lách”. (Hình: Blog Osin)
LTS.- Bài viết dưới đây đã được đăng trên tờ Sài Gòn Tiếp Thị với khá nhiều thông tin đặc biệt cả về cuộc chiến giữa Trung Quốc-Việt Nam cách nay đúng 30 năm, lẫn thực trạng biện giới Việt-Trung ngày nay. Sau đó bài viết đã được đưa lên website của tờ Sài Gòn Tiếp Thị nhưng được kéo xuống gần như lập tức... Tuy tờ Sài Gòn Tiếp Thị không cho biết lý do, song nội dung bài viết cho thấy, ở đây, không thể có chuyện “tự ý đục bỏ”.
Thêm một lần nữa, chính thực tế cho thấy, từ khi lãnh đạo CSVN đã cam kết tôn trọng “16 chữ vàng” trong quan hệ với Trung Quốc mỗi khi lãnh tụ hai nước gặp nhau (“láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” - đã được dân chúng trong nước sửa lại thành “láng giềng khốn nạn, cướp đất toàn diện, lấn biển lâu dài, thôn tính tương lai”), theo “tinh thần 4 tốt” (láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt - trong một bài khác trên blog Osin, tác giả bài viết dưới đây từng than: ...Thật không dễ dàng gì khi biết một kẻ đang rình rập bên ta mà vẫn phải nghe họ xưng là “láng giềng tốt”, một kẻ đem tàu chiến sang giết người giữ đảo của ta vẫn xưng là “đồng chí tốt”, một kẻ dùng áp lực để đuổi đối tác tìm dầu của ta mà vẫn nhận là “bạn bè tốt”, một kẻ ngang nhiên hút dầu ngoài biển của ta mà vẫn phải gọi là “đối tác tốt” ), không ai được quyền nhớ hoặc ghi nhận những vấn đề vốn thuộc về lịch sử nếu chúng không phù hợp với lợi ích của những kẻ có quyền...
Biên giới Tháng Hai (2009-1979)
Huy Ðức
Tháng Hai, những cây đào cổ thụ trước cổng đồn biên phòng Lũng Cú, Hà Giang, vẫn chưa có đủ hơi ấm để đâm hoa; những khúc quanh trên đèo Tài Hồ Sìn, Cao Bằng, vẫn mịt mù trong sương núi. Sáng 7-2 nắng lạnh, vợ chồng ông Nguyễn Văn Quế, 82 tuổi, nhà ở khối Trần Quang Khải 1, thị xã Lạng Sơn, ngồi co ro kể lại cái chết 30 năm trước của con trai mình, anh Nguyễn Văn Ðài. Năm ấy, Ðài 22 tuổi. Ông Quế nói: “Ðể ghi nhớ ngày ấy, chúng tôi lấy Dương lịch, 17-2, làm đám giỗ cho con”. Năm 1979, vào lúc 5giờ 25 phút sáng ngày 17-2, Trung Quốc nổ súng trên toàn tuyến biên giới Việt Nam, đánh chiếm từ Phong Thổ, Lai Châu, tới địa đầu Móng Cái.
“Những đôi mắt”
Hôm ấy, ông Quế không có nhà, vợ ông, bà Dự, bị dựng dậy khi bên ngoài trời hãy còn rất tối. Bà nghe tiếng pháo chát chúa ở hướng Ðồng Ðăng và phía dốc Chóp Chài, Lạng Sơn. Bà Dự đánh thức các con dậy, rồi 4 mẹ con dắt díu nhau chạy về xuôi. Tới ki-lô-mét số 10, đã quá trưa, bà rụng rời khi hay tin, anh Ðài đã bị quân Trung Quốc giết chết. Anh Ðài là công nhân đường sắt, thời điểm ấy, các anh đương nhiên trở thành tự vệ bảo vệ đoạn đường sắt ở Hữu Nghị Quan. Anh em công nhân trong đội của Ðài bị giết gần hết ngay từ sáng sớm. Ðài thuộc trong số 3 người kịp chạy về phía sau, nhưng tới địa bàn xã Thanh Hòa thì lại gặp quân Trung Quốc, thêm 2 người bị giết. Người sống sót duy nhất đã báo tin cho bà Dự, mẹ Ðài.
Cùng thời gian ấy, ở bên núi Trà Lĩnh, Cao Bằng, chị Vương Thị Mai Hoa, một giáo viên cấp II, người Tày, mới ra trường, cũng bị giật dậy lúc nửa đêm rồi theo bà con chạy vào hang Phịa Khóa. Hàng trăm dân làng trú trong hang khi pháo Trung Quốc gầm rú ở bên ngoài, rồi lại gồng gánh theo nhau vào phía Lũng Pùa, chạy giặc. Chị Hoa không bao giờ có thể quên “từng đôi mắt” của dòng người gồng gánh ấy. Giờ đây, ngồi trong một cửa hàng bán băng đĩa trên phố Kim Ðồng, thị xã Cao Bằng, chị Hoa nhớ lại: “Năm ấy, tôi 20 tuổi. Tôi nghĩ, tại sao mình lại chạy!” Chị quay lại, sau khi thay quần áo giáo viên bằng bộ đồ chàm vì được những người chạy sau cho biết, rất nhiều người dân ăn mặc như cán bộ đã bị quân Trung Quốc giết chết. Từ trên đồi, chị Hoa thấy quân Trung Quốc gọi nhau ý ới và tiến vào từng đoàn.
“Cuộc Chiến 16 Ngày”
Ngày 15-2-1979, Ðại tá Hà Tám, năm ấy là trung đoàn trưởng trung đoàn 12, thuộc lực lượng Biên phòng, trấn ở Lạng Sơn, được triệu tập. Cấp trên của ông nhận định: “Ngày 22 tháng 2, địch sẽ đánh ở cấp sư đoàn”. Ngay trong ngày 15, ông ra lệnh cấm trại, “Cấp chiến thuật phải sẵn sàng từ bây giờ”, ông nói với cấp dưới. Tuy nhiên, ông vẫn chưa nghĩ là địch sẽ tấn công ngay. Ðêm 16-2, chấp hành ý kiến của Tỉnh, ông sang trại an dưỡng bên cạnh nằm dưỡng sức một đêm bởi vì ông bị mất ngủ vì căng thẳng sau nhiều tháng trời chuẩn bị. Ðêm ấy, Trung Quốc đánh.
Ở Cao Bằng, sáng 16 tháng 2, tất cả các đồn trưởng biên phòng đều được triệu tập về thị xã Cao Bằng nhận lệnh, sáng hôm sau họ tìm về đơn vị triển khai chiến đấu khi Trung Quốc đã tấn công rồi. Sáng 17-2, tỉnh Cao Bằng ra lệnh “sơ tán triệt để khỏi thị xã”; đại đội 22 của thị xã Cao Bằng được trang bị thêm 17 khẩu súng chống tăng B41. Ngày 18-2, một chiếc tăng Trung Quốc có “Việt gian” dẫn đường lọt tới Cao Bằng và bị tiêu diệt. Nhiều nơi, chỉ khi nhìn thấy chữ “Bát Nhất”, người dân mới nhận ra đấy là tăng Trung Quốc. Ðại tá Hà Tám công nhận: “Về chiến lược ta đánh giá đúng nhưng về chiến thuật có bất ngờ”. Tuy nhiên, Ðại tá Hoàng Cao Ngôn, tỉnh đội trưởng Cao Bằng thời kỳ 17-2, nói rằng, cho dù không có bất ngờ thì tương quan lực lượng là một vấn đề rất lớn. Phần lớn quân chủ lực của Việt Nam đang ở chiến trường Campuchia. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực lượng cầm chân Trung Quốc ở tuyến một, hướng Cao Bằng, chủ yếu là địa phương quân, chỉ có khoảng hơn 2 trung đoàn.
Trong khi, theo tài liệu từ Trung Quốc, chỉ riêng ở Cao Bằng trong ngày 17-2, Trung Quốc sử dụng tới 6 sư đoàn; ở Lạng Sơn 3 sư và Lào Cai 3 sư. Hôm sau, 18-2, Trung Quốc tăng cường cho hướng Cao Bằng 1 sư đoàn và 40 tăng; Lạng Sơn, một sư và 40 tăng; Lào Cai, 2 trung đoàn và 40 tăng. Lực lượng Trung Quốc áp sát Biên giới vào ngày 17-2 lên tới 9 quân đoàn chủ lực. Ngày 17-2, Trung quốc tiến vào Bát xát, Lào Cai; chiều 23-2, Trung Quốc chiếm Ðồng Ðăng; 24-2, Trung Quốc chiếm thị xã Cao Bằng; ngày 27-2, ở Lạng Sơn, Trung Quốc đánh vào thị xã.
Thế nhưng, bằng một lực lượng nhỏ hơn rất nhiều, các đơn vị biên giới đã nhanh chóng tổ chức chiến đấu. Theo cuốn “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt”, xuất bản lần đầu năm 1993 của NXB Ðại Học Tứ Xuyên, quân Trung Quốc đã gọi con đường tiến vào thị xã Cao Bằng của họ là những “khe núi đẫm máu”. Ðặc biệt, tiểu đoàn Ðặc công 45, được điều lên sau ngày 17-2, chỉ cần đánh trận đầu ở kilomet số 3, đường từ Cao Bằng đi về xuôi qua đèo Tài Hồ Sìn, cũng đã khiến cho quân Trung Quốc khiếp vía. Những người dân Biên giới cho đến hôm nay vẫn nhớ mãi hình ảnh “biển người” quân Trung Quốc bị những cánh quân của ta cơ động liên tục, đánh cho tan tác. Ðầu tháng 3-1979, trong khi hai sư đoàn 346, Cao Bằng và 338, Lạng Sơn, thọc sâu đánh những đòn vu hồi. Từ Campuchia, sau khi đuổi Pol Pốt khỏi Phnompênh, hai quân đoàn tinh nhuệ của Việt Nam được điều ra phía Bắc. Ngay sau khi Quân đoàn II đặt những bước chân đầu tiên lên Ðồng Mỏ, Lạng Sơn; Quân Ðoàn III tới Na Rì; Chủ tịch nước ra lệnh “Tổng Ðộng viên”... ngày 5-3-1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân về nước.
Lào Cai, Sapa, Ðồng Ðăng, Lạng Sơn... bị phá tan hoang. Tại Cao Bằng, quân Trung Quốc phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng công trình, ốp mìn cho nổ tung từng cột điện. Nếu như, ở Bát Xát, Lao Cai, hàng trăm phụ nữ trẻ em bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang. Thì, tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Ðạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.
Lặng Lẽ Hoa Ðào
Ngồi đợi ông Nguyễn Thanh Loan, người trông giữ nghĩa trang Vị Xuyên, Hà Giang, chúng tôi nhìn ra xa. Tháng Hai ở đây mới là mùa hoa đào nở. Nghĩa trang có 1,680 ngôi mộ. Trong đó, 1,600 mộ là của các liệt sỹ hy sinh trong cuộc chiến tranh từ ngày 17-2. Ở Vị Xuyên, tiếng súng chỉ thật sự yên vào đầu năm 1990. Năm 1984, khi Trung Quốc nổ súng trở lại hòng đánh chiếm hơn 20 cao điểm ở Thanh Thủy, Vị Xuyên, bộ đội đã phải đổ máu ở đây để giành giật lấy từng tấc đất. Rất nhiều chiến sĩ đã hy sinh, đặc biệt là hy sinh khi tái chiếm đỉnh cao 1509. Ông Loan nhớ lại, cứ nửa đêm về sáng, xe GAT 69 lại chở về, từng túi tử sĩ xếp chồng lên nhau. Trong số 1,600 liệt sĩ ấy, chủ yếu chết trong giai đoạn 1984, 1985, có người chết năm 1988, còn có 200 ngôi mộ chưa xác định được là của ai. Sau khi hoàn thành việc phân giới cắm mốc, cái pháo đài trên đỉnh 1509 mà Trung Quốc dành được và xây dựng trong những năm 80, vẫn còn. Họ nói là để làm du lịch. Từ 1509, có thể nhìn thấu xuống thị xã Hà Giang. Năm 1984, từ 1509 pháo Trung Quốc đã bắn vào thị xã.
Trên đường lên Mèo Vạc, sương đặc quánh ngoài cửa xe. Từng tốp, từng tốp trai gái H'mông thong thả cất bước du xuân. Có những chàng trai đã tìm được cho mình cô gái để cầm tay. Một biên giới hữu nghị và hòa bình là vô cùng quý giá. Năm 1986, vẫn có nhiều người chết vì đạn pháo Trung Quốc nơi đoạn đường mà chúng tôi vừa đi, nơi các cô gái, hôm nay, để cho các chàng trai cầm tay kéo đi với gương mặt tràn trề hạnh phúc.
Quá khứ, rất cần khép lại để cho những hình ảnh như vậy đâm chồi. Nhưng cũng phải trân trọng những năm tháng đã thuộc về quá khứ. Tháng Hai, đứng ở bên này cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn, nhìn sang bên kia, thấy lừng lững một tượng đài đỏ rực mà theo các sĩ quan biên phòng, Trung Quốc gọi là “đài chiến thắng”. Trở lại Lạng Sơn, những chiếc xe tăng Trung Quốc bị quân và dân ta bắn cháy hôm 17-2 vốn vẫn nằm bên bờ sông Kỳ Cùng, giờ đã được bán sắt vụn cho các khu gang thép. Ở Cao Bằng, chúng tôi đã cố nhờ mấy người dân địa phương chở ra kilomet số 3, theo hướng đèo Tài Hồ Sìn, tìm tấm bia ghi lại trận đánh diệt 18 xe Trung Quốc của tiểu đoàn đặc công 45, nhưng không thấy. Trở lại Tổng Chúp, phải nhờ đến ông Lương Ðức Tấn, bí thư chi bộ, nguyên huyện đội phó Hòa An, đưa ra cái giếng mà hôm 9-3-1979, quân Trung Quốc giết 43 thường dân Việt Nam. Ông Tấn cũng chính là một trong những người đầu tiên trở về làng, trực tiếp đỡ từng xác phụ nữ, trẻ em, bị chặt bằng búa, bằng dao rồi quăng xuống giếng. Cái giếng ấy bây giờ nằm sâu trong vườn riêng của một gia đình, không có đường đi vào. Hôm ấy, anh Tấn phải kêu mấy thanh niên đi theo chặt bớt cành tre cho chúng tôi chụp hình bia ghi lại sự kiện mà giờ đây đã chìm trong gai tre và lau lách.

Vài chuyện thật xảy ra trong 9 năm kháng chiến 45-54

Hứa Hoành
"Chiều 17/12/1946, "bác Hồ" và đồng dảng rút vào hang sâu trong núi Phượng Hoàng ở Sơn Tây. Nửa đêm 19/12/1946, từ chỗ ẩn náu an toàn, bác Hồ hùng hổ tuyên bố "Toàn quốc kháng chiến", báo hại tụi du kích, Tự vệ thành...ngơ ngác mất người chỉ huy, cầm tầm vong vạt nhọn, dao găm, mã tấu, anh dũng...làm bia đỡ đạn Pháp ở Hà Nội !
"Ở Nam Bộ, khi Pháp mở cuộc tổng phản công (23/9/1945), Ủy Ban Hành Chánh (CS) của Trần Văn Giàu đã chạy thụt mạng vô Chợ Ðệm. Pháp tiến quân ra Phú Lâm, Ủy Ban chạy tới Tân An. Pháp mở cuộc ruồng bố Tân An, Ủy Ban chạy xuống Mỹ Tho, rồi tiện đường...dông tuốt vô Ðồng Tháp Mười mất dạng. Trong khi đó, các lãnh tụ quốc gia như Trần Văn Ân, Nguyễn Văn Sâm, Kha Vạng Cân, Hồ Văn Ngà liều chết ở lại lập Ủy Ban phong toả Saigon, Chợ Lớn... Trước khi bôn tẩu, Ủy Ban Kháng Chiến của Trần Văn Giàu ra lịnh đốt chợ, đốt phố, đốt nhà dân, và cho tự vệ đi lùng băt các lãnh tụ quốc gia, đảng phái, tôn giáo...đem thủ tiêụ Cách chiến đấu của CS thật lạ lùng khó hiểu. Tỉnh nào cũng hành động y chang "bác Hồ".
Nhà văn Nguyễn Gia Bảo, chứng nhân thời cuộc :
"Từ đó đến nay, nửa thế kỷ đã trôi quạ..đa số chúng ta cứ đinh ninh ngày 19/8/45 là ngày "cách mạng thành công". Ðiều đó hoàn toàn không đúng, như việc "kháng chiến thành công", mang lại độc lập, tự do cho xứ sở. Thật ra, CS cướp công kháng chiến, 1 cuộc kháng chiến hào hùng, do toàn dân đóng góp..." (trong "Hà Nội, Những Ngày Tháng Cũ", trang 12).
Nhà văn Vương Hồng Sển, chứng kiến :
"...ngày 5/11/1946, Ủy Ban (Hành Chánh của Trần Văn Giàu) ra lịnh đốt chợ Sóc Trăng, Tây kéo đến, ta rút luị Ngày thứ Bảy 6/1/46 lại đốt chợ Bãi Xàu... Trước đó, ngày 17/12/45, Thanh Niên Tiền Phong đến nhà treo đồ bổi, lá khô, trên trình thượng 2 căn phố của thân phụ, ép mình ký tên cho đốt nhà để "tiêu thổ kháng chiến" khi có giặc Tây đến... Cách chiến đấu như vậy đâu có...chết thằng Tây nào !"
Bài viết sau đây là những chuyện thật, xảy ra trong thời kháng chiến chống Pháp, nhưng rất ít được sách báo thuật lại. Công cuộc kháng chiến giành độc lập là của toàn dân VN, chớ không riêng đảng CS, mà CS luôn luôn hãnh diện khoe khoang thành tích. Là nạn nhân của CS trong nhiều năm, chúng ta nhận ra 1 sự thật : gian ác, lừa bịp, tráo trở là bản chất của người CS.
Cho tới nay, lịch sử kháng chiến chống Pháp từ năm 1945 trở đi, là 1 khoảng trống vắng. Chính quyền quốc gia lấy lý do phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại của CS, nên các chính phủ Ðệ I Cộng Hòa (1954-1963) và Ðệ II Cộng Hòa (1963-1975), đều không viết lại lịch sử trong giai đoạn tranh tối tranh sáng của đất nước.
Lợi dụng sự sơ hở của chính quyền quốc gia, ở miền Bắc, nhà cầm quyền CS triệt để khai thác đề tài trên theo quan điểm của họ. Họ loại bỏ và phủ nhận tất cả công lao của các đảng phái quốc gia và toàn dân yêu nước không phân biệt chính kiến. Hàng triệu thanh niên nam nữ yêu nước, bị lợi dụng cho mưu đồ riêng tư của CS hoặc bị thanh trừng, ám sát, thủ tiêu 1 cách man rợ như thời trung cổ. Ai cúi đầu tuân lịnh họ, sẽ bị làm viên gạch lót đường như trường hợp Ba Dương, lãnh tụ Bình Xuyên (bị ám sát chết ở Bến Tre) hay Trung tướng Nguyễn Bình... CS trực tiếp ám hại Ba Dương rồi đổ cho giặc Pháp giết để CS giành quyền lãnh đạo kháng chiến...sau đó họ làm lễ truy điệu, hay quốc táng (như ông Huỳnh Thúc Kháng) để truy phong chức tước. Bằng thủ đoạn gian mang lừa đảo, CS cướp đoạt công lao của người khác về cho phe nhóm mình. Ngoài ra, khi viết lịch sử kháng chiến, các sử gia bồi bút của CS còn bịa đặt, thêu dệt nhiều huyền thoại về các lãnh tụ của họ, ngụy tạo các gương chiến đấu, hy sinh...làm cho cuộc chiến tranh mà họ cướp công lãnh đạo như 1 cuộc thánh chiến. Ðó là 1 sự lừa bịp vĩ đại, hào nhoáng trong lịch sử cận đại.
Nhiều người sống trong giai đoạn ấy, đã tham gia kháng chiến như 1 người yêu nước, đã bị lừa bịp, đã giác ngộ nhận ra sự thật, nhanh chân bỏ hàng ngũ đành chịu tiếng oan "theo giặc", để thoát khỏi nanh vuốt của CS. Tiếp xúc với các người từng ở trong hàng ngũ kháng chiến cũ, ai nấy đều bài tỏ thái độ hằn học trước những luận điệu tuyên truyền lừa bịp của CS, nhưng chưa có dịp nói lên tâm sự cùng thái dộ của mình. Giai doạn lịch sử này ngắn ngủi nhưng nhiều biến cố dồn dập, phức tạp, gần như 1 định mệnh nghiệt ngã dành riêng cho người quốc gia và cả dân tộc. Cảm thấy công việc viết lại lịch sử quá sức mình, tôi (tác giả Hứa Hoành) không dám làm công việc ấy. Trong phạm vi hiểu biết hạn hẹp, tôi chỉ kể lại 1 số sự kiện rời rạc, nhưng là những chuyện thật về những hành động, những màn lừa bịp, tráo trở lâu nay bị dấu kín dưới lớp bụi thời gian. Trung thành với tôn chỉ "biết tới đâu thì tâu tới đó", chúng tôi xin kể lại những gì chúng tôi được biết hoặc trực tiếp nghe, thấy.
CS gọi công cuộc kháng chiến chống Pháp 1945-1954 là cuộc "Cách mạng tháng 8" hay "Cách mạng mùa thu", nhưng thực tế nó chỉ là hình ảnh của 1 cuộc chiến tranh vệ quốc giống như nhiều cuộc chiến tranh chống Tàu trước đâyï Cuộc chiến này không phải là "cách mạng". CS gán gọi cho nó là "Cách mạng tháng 8" là có mưu đồ tiến hành 1 cuộc cuộc thay đổi hoàn cảnh chính trị, xã hội và văn hóa của nước ta đi theo hướng Mác-xít, nhưng hoàn cảnh lúc đó vẫn chưa thuận tiện cho họ làm thế nên họ đã che giấu bộ mặt thật. Viết bài này, chúng tôi được nhiều nhân chứng lịch sử từ nhiều phía :
- Trước hết là các người yêu nước, các lãnh tụ quốc gia từng kháng chiến chống Pháp, nhưng đã bị CS giết hụt, đã phải hợp tác với Pháp để sống còn và mang tiếng "phản bội" như Trần Văn Ân, An Khê Nguyễn Bính Thinh (nhà văn, nhà báo mới qua đời ở Pháp), Vương Hồng Sển,...
- Hoặc những người đã sống, chiến đấu trong hàng ngũ CS, biết rõ tâm địa và mặt mũi của họ như các ông Dương Ðình Lôi, nhà văn Xuân Vũ, Nguyễn Ngọc Nga (tức Hoàng Quốc Kỳ), Lê Tùng Minh...và rất nhiều vị khác.
Việt Minh (gọi tắt của Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh), là 1 sự lừa bịp dư luận. Ông Hồ Chí Minh luôn luôn lo sợ dư luận biết ông ta là 1 lãnh tụ CS, 1 thành viên quốc tế của Ðệ Tam Quốc Tế CS sẽ phải luôn phục vụ cho quyền lợi Quốc tế CS, nên luôn che dấu bộ mặt thật. Thậm chí vào ngày 11/11/1945, ông HCM tuyên bố giải tán đảng CS để lừa bịp mọi người. Riêng tại miền Nam, CS phái cán bộ len lỏi vào các tổ chức, đoàn thể thanh niên, tôn giáo, xã hội...
Các cán bộ CS này đã được huấn luyện thành thạo kỹ thuật xâm nhập, lủng đoạn, khuynh đảo để cướp đoạt tổ chức của người khác. Trước khi Nhật đầu hàng Ðồng Minh, ở miền Nam có những tổ chức xã hội và phi chính trị như sau :
- Liên đoàn Công chức, do Lý Vĩnh Khuông làm tổng thư ký.
- Hội Truyền bá Quốc ngữ do Michel Văn Vĩ làm hội trưởng.
- Tổ chức Thanh niên Tiền phong do bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, kỹ sư Kha Vạn Cân, luật sư Thái Văn Lung làm lãnh tụ.
- Hội Cứu đói Nam Kỳ do bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm hội trưởng.
Tất cả những hội ấy lúc thành lập, đều theo đuổi những mục tiêu phi chính trị, gồm những người yêu nước, thuộc các gia đình khá giả. Cán bộ CS tìm cách xâm nhập, lèo lái những thành phần lãnh đạo các hội đoàn ấy ngả theo phe mình, như trường hợp bác sĩ Phạm Ngọc Thạch. Tại Nam Kỳ không có "Nạn đói năm Ất Dậu", nên đồng bào miền Nam chưa thấy CS lợi dụng nạn đói ấy vào công cuộc vận động quần chúng ủng hộ họ ra saọ Ở Bắc Việt, Việt Minh đã xúi giục dân cướp kho thóc của Pháp, Nhật, của các điền chủ, các nhà giàu...khơi lên sự căm phẫn trong khối quần chúng nghèo khổ, mục đích là để nắm được sức mạnh của họ.
Trong các tổ chức vừa kể trên, ban đầu chưa có 1 tổ chức nào có thành phần CS, nhưng CS khôn khéo đưa người xâm nhập, lủng đoạn, thậm chí khủng bố những người ấy để biến họ thành những công cụ phục vụ cho đảng CS. Chẳng hạn, như thành phần Hội Truyền bá Quốc ngữ, chỉ nhìn thành phần, chúng ta biết lập trường của họ :
- Hội trưởng : Michel Văn Vĩ, giám đốc ngân hàng.
- Phó chủ tịch : Ðoàn Quan Tấn, Chủ tịch Hội Khuyến học Nam Kỳ.
- Thư ký : Nguyễn Thị Châu, giáo sư Trường Áo Tím (Trường Gia Long).
- Hội viên sáng lập gồm : bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, bác sĩ Trần Văn Ðôn (thân phụ Tướng Trần Văn Ðôn), bác sĩ Trần Quang Ðệ.
Ta hãy nghe CS thú nhận trong cuốn "Mùa Thu Rồi...", nxb Chính trị Quốc gia, 1985 :
"...Mục đích chúng ta là càng ngày càng mở rộng phạm vi hoạt động từ tính chất văn hóa, xã hội...qua chính trị. Từng bước "lấn sân", giành quyền chỉ huyï Ðây là 1 cuộc tập hợp đông đảo nhân dân quần chúng, chờ thời cơ để cướp chính quyền" (trang 267).
"...Qua công cuộc cứu đói, các nạn nhân miền Bắc, chúng tôi (CS) đã kết hợp với việc động viên tinh thần yêu nước và chờ đợi thời cơ để...cướp chính quyền" (trang 320).
Thời cơ xảy đến đột ngột : Ngày 19/8/1945, Nhật đầu hàng Ðồng Minh. Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất, tập họp tất cả những thành phần yêu nước, không phân biệt chính kiến, đảng phái, tổ chức 1 cuôc biểu tình rầm rộ để mừng "độc lập". Quần chúng, đồng bào, đã sống trong bầu không khí nghẹt thở, ngột ngạt của chế độ thực dân, sôi sục lòng phấn khởi, tràn ra đường hoan nghinh, reo hò. Tất cả mọi thành phần xã hội, khuynh hướng, đảng phái, tôn giáo...đều bày tỏ sự vui mừng trước "nền độc lập" bất ngờ. Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất là đại biểu cho quyền lực lúc này.
Trước khí thế mạnh mẽ của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất, được quần chúng ủng hộ, CS thấy thất thế. 6 ngày sau, CS lại tổ chức 1 cuộc biểu tình khác để mượn lực lượng quần chúng đã theo Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất tuần trước, phô trương thanh thế của họ. Thực chất, trong cuộc biểu tình này, CS chỉ có 1 số cán bộ cầm cờ đỏ sao vàng đi trước và cái "Lâm Ủy Hành Chánh" của họ thành lập vội vàng, rồi trong đêm 24 rạng 25/8/1945, lén đem niêm yết trước Bồn Kèn (tức công trường Lam Sơn) để giành quyền lãnh đạo. Rõ ràng CS biểu dương bằng sức mạnh...của người khác. Trong bầu không khí sôi sục vì độc lập tự do, chưa phân biệt chính kiến,
vô tình đồng bào đã trở thành công cụ phục vụ cho đảng CS. Tội nghiệp đa số quần chúng lao động ngây thơ, bị CS tuyên truyền lừa bịp, nên hết lòng phục vụ mọi mệnh lệnh của họ. Biết bao người trí thức, điền chủ, thương gia đã vì lý tưởng yêu nước mà từ bỏ cuộc sống nhung lụa, êm ấm, dấn thân vào chốn lửa đạn...để rồi chịu hy sinh, hoặc bị ám sát, khủng bố hay trở thành công cụ của họ. Tựu chung, họ trở thành viên gạch lót dường cho CS, gián tiếp phục vụ cho quyền lợi Quốc tế CS.
* "Lâm Ủy Hành Chánh" đại diện cho ai ?
Ở miền Bắc, từ rừng núi Thái Nguyên, ông Hồ Chí Minh tự phong cho phe nhóm của mình trở thành chính phủ, nắm quyền điều khiển việc nước. Ai trái với họ, bị coi là "Việt gian", là "bán nước". Ngày 2/9/45, cái chính phủ tự phong ấy trình diện tại vườn hoa Cột Cờ (sau gọi là Ba Ðình). Ở Saigon, 1 nhóm cán bộ CS chưa quá vài chục ngươi, lén lút lập ra "Lâm Ủy Hành Chánh", phân chia các chức vụ với nhau, gạt bỏ tất cả mọi người yêu nước khác chính kiến, đảng phái, tôn giáo. Cũng nên nhắc lại, tại Saigon, trong 2 tuần lễ cuối tháng 8 và đầu tháng 9/45, đã có 3 cuộc biểu tình lớn nhứt trong lịch sử :
Ngày 21/8/45, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất gồm các thành phần chính trị, như Việt Nam Ðộc Lập của Hồ Văn Ngà, Thanh Niên Tiền Phong của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch - kỹ sư Kha Vạn Cân - nha sĩ Nguyễn Văn Thủ, Liên Ðoàn Công Chức, Phật Giáo Tịnh Ðộ Cư Sĩ, Hòa Hảo, Cao Ðài, Ðảng Lập Hiến, Việt Nam Nhân Dân Thống Nhất Cách Mạng Ðảng, lãnh tụ nhóm Trốt-kít như Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm, Dương Văn Giáo (Ðảng Lập Hiến), Tạ Thu Thâu, luật sư Huỳnh Văn Phương, bác sĩ Hồ Vĩnh Ký và vợ là bác sĩ Nguyễn Thị Sương... Cuộc biểu tình này tụ họp trước khán đài trên đại lộ Norodom (đường Thống Nhứt sau này), rồi sau đó tuần hành khắp thành phố Saigon - Chợ Lớn. Lần đầu tiên tại Saigon có cuộc biểu tình với 400,000 người tham dự đông đủ, khí thế sôi sục như vậy. Trước khán đài và trên đường phố chính, người ta đọc được các biểu ngữ phản ảnh chủ trương của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất như sau : Chống đế quốc Pháp, Chống ngoại xâm, Bảo vệ trị an, Bài trừ phản động.
Trước đó mấy ngày, 17/8/45, ông Trần Văn Ân, Chủ tịch Hội đồng Nam Kỳ, đã tiếp thu chính quyền từ trong tay quân Nhật. Với tư cách Chủ tịch Hội đồng Nam Kỳ, ông Trần Văn Ân bổ nhiệm các ông :
- Hồ Văn Ngà, quyền Khâm sai Nam Bộ trong khi Khâm sai Nguyễn Văn Sâm từ Huế chưa về.
- Kha Vạn Cân làm Tư lịnh Saigon - Chợ Lớn.
Chứng kiến cuộc biểu tình đầy khí thế đấu tranh và kết hợp mọi khuynh hướng, đoàn thể, cán bộ CS tức lồng lộng. Vẫn thủ đoạn nham hiểm, xâm nhập, lủng đoạn rồi cướp chính quyền từ trong tay Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất, nên tối 24/8/45, Việt Minh lặng lẽ niêm yết danh sách "Lâm Ủy Hành Chánh" trước Bồn Kèn (ngã tư Lê Lợi - Nguyễn Huệ). Sáng hôm sau, họ kêu gọi 1 cuộc biểu tình khác. Dân chúng ngỡ ngàng đọc danh sách "Lâm Ủy Hành Chánh" tự phong. Ðại diện mọi khuynh hướng chính trị, đảng phái trong Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất đều không được tham khảo ý kiến. Cuộc biểu tình lần thứ hai, cũng với thành phần dân chúng đã tham dự khi trước, chỉ khác là có 1 số cán bộ CS giương cờ đỏ sao vàng đi trước, và "Lâm Ủy Hành Chánh" đi kế bên. Ðây không phải là 1 cuộc phản biểu tình, mà chỉ là 1 sự thay đổi kẻ lãnh đạo, có mục đích phô trương để giành chính quyền.
Chủ trương củng cố tình đoàn kết, không tham quyền cố vị, các vị lãnh đạo trong Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất bày tỏ thiện chí bằng cách để "Lâm Ủy Hành Chánh" thay mặt điều khiển việc nước... Tối đêm đó, trong 1 phiên họp chung, ông Nguyễn Văn Sâm đồng ý trao quyền cho "Lâm Ủy Hành Chánh" kể từ đêm 25/8/45. CS đã khéo léo, tấn công "mặc cả hợp tác vói Nhật của người quốc gia", nên đã thương lượng để Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất nhường quyền lãnh đạo cho họ.
Theo "Phật Giáo Hòa Hảo Trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc" của Nguyễn Long Thành Nam, trang 34, danh sách "Lâm Ủy Hành Chánh" cho chúng ta thấy hầu hết là những người CS như :
- Trần Văn Giàu, Chủ tịch (CS).
- Dương Bạch Mai, Thanh tra chính trị miền Ðông (Công an CS).
- Nguyễn Văn Tạo, Nội vụ (CS).
- Nguyễn Văn Tây, Thanh tra chính trị miền Tâyï
- Các ủy viên : bác sĩ Phạm Ngọc Thạch (mới ly khai với Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất ngày 22/8/45 để gia nhập Việt Minh).
- Từ Bá Ðước, Ðảng Dân Chủ, lãnh tụ Thanh Niên Tiền Phong ở Trà Vinh.
- Kỹ sư Ngô Tấn Nhơn, Dảng Việt Nam Ðộc Lập của Hồ Văn Ngà, ly khaị
- Kỹ sư Hoàng Ðôn Văn thuộc Tổng Công Ðoàn, thiên tả.
- Sinh viên Huỳnh Văn Tiễng (CS)
"Lâm Ủy Hành Chánh" lập Sở Công an, giao cho Nguyễn Văn Trấn (tác giả "Viết cho mẹ và quốc hội") làm giám đốc, gọi là "Quốc Gia Tự Vệ Cuộc". Lực lượng này không lo đánh Pháp, mà nhận chỉ thị của Trần Văn Giàu. Nguyễn Văn Trấn theo đó di khủng bố, bắt cóc, ám sát, thủ tiêu các thành phần lãnh đạo, các thân hào nhân sĩ có uy tín, thâm chí cả những người làm việc cho Pháp trước kiạ Những tên dao búa chyên đâm thuê chém mướn như Tô Kỳ, Ba Nhỏ, Kiều Ðắc Thắng, Kiều Tấn lập...là tay sai trực tiếp của "Lâm Ủy Hành Chánh", để thi hành các mật lịnh. Dân chúng đang say sưa trước cao trào độc lập tự do, khi thấy cờ đỏ sao vàng xuất hiện, họ bàng hoàng, nhưng rồi cũng tự an ủi :
- Ai lãnh đạo cũng được, miễn họ chống Pháp để giải phóng quê hương.
Còn lãnh tụ Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất thì sẵn sàng giao quyền hành cho bất cứ ai có hy vọng thành công, giải phóng đất nước. Ông Hồ Văn Ngà, trong 1 cuộc mít tinh trước vườn Ông Thượng (sau này là sân Tao Ðàn) cũng tuyên bố :
"...Thế nên, người VN nào đảm đương được và có hy vọng thành công, chúng tôi sẵn sàng tán trợ. Nghĩa là lúc nào chúng tôi cũng đặt nền độc lập của tổ quốc trên địa vị. Ai bảo khôn, ai bảo dại, ai chê hèn yếu, chúng tôi nhận lãnh cả. Miễn tránh được sự đổ máu của đồng bào, để dành bầu máu nóng ấy, mai sau hy sinh cho đúng chỗ hy sinh". ("Phật giáo Hoà Hảo trong dòng lịch sử dân tộc", trang 344).
Người quốc gia vừa thành thật, vừa tỏ thiện chí như thế, dọn đường tạo cơ hội cho CS cướp chính quyền mau chóng ! Với vài mươi cán bộ, CS đã biến cuộc biểu tình tuần hành ngày 25/8/45 thành 1 cuộc mít tinh biểu dương lực lượng của họ. Cũng cần nhớ lại hoàn cảnh năm 1945 rằng hầu hết giới thanh niên không phải thân Nhật hay có cảm tình với CS, mà vấn đề chính là họ chưa biết CS là gì. Núp dưới chiêu bài Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh, gọi tắt là Việt Minh, CS lừa bịp dư luận, khiến cho mọi người hiểu lầm rằng tổ chức đó là 1 mặt trận liên minh tất cả các đảng phái của người quốc gia ! 1 vị cao niên kể lại rằng tối đêm 28/5/45, có dự phiên họp giữa Lâm Ủy Hành Chánh và đại diện Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất, đại diện Lâm Ủy Hành Chánh là Trần Văn Giàu nói :
- Các lãnh tụ Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất bị mang tiếng cộng tác với Nhật, do đó sẽ bị (quân đội) Ðồng Minh coi là kẻ chiến bại, có thể bị kết án tội phạm chiến tranh vì đã làm "tay sai cho Nhật". Chi bằng bây giờ quí vị tạm rút lui trong bóng tối, nhường quyền đại diện dân chúng Nam Bộ cho Việt Minh để tránh bị Ðồng Minh coi là kẻ thù khi đến tiếp thu và giải giới quân Nhật. Hơn nữa, Việt Minh từng chiến đấu chống phát xít Nhật và đế quốc Pháp, sẽ được Ðồng Minh dành cho nhiều cảm tình. Ðiều đó có lợi cho đất nước.
Lời nói điêu ngoa nhưng lại dịu dàng nghe bùi taị Hơn nữa, các lãnh tụ trong Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất là những người yêu nước, đặt quyền lợi tối thượng của tổ quốc trên hết, nên tạm thời rút luị Trong bài phỏng vấn ông Nguyễn Hữu Ðang đăng trên báo Nhân Dân, trang 2, đã viết :"...người ta biết các anh (CS) nhứt định sẽ gây nội chiến, nên đành phải nhường. Ngoài Bắc, trong Nam cũng vậy cả thôi".
Vì thế, ông Nguyễn Văn Sâm, khâm sai Nam Bộ, đại diện cho Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất trao quyền cho Lâm Ủy Hành Chánh điều khiển việc nước. Như vậy, rõ ràng trước sức mạnh của đại diện các đảng phái, tôn giáo, CS yếu thế, nên đã dùng thủ đoạn để dành nắm quyền. Cuộc mít tinh lớn nhất tổ chức ngày 2/9/45 tại Saigon do Việt Minh nắm quyền lèo lái, mặc dầu thành phần tham dự vẫn là những người của mấy cuộc biểu tình trước.
Cũng buổi sáng hôm ấy, khắp các đô thị lớn trong nước như Hà Nội, Huế, Hải Phòng, các tỉnh lyï như Cần Thơ, Sóc Trăng...đều có tổ chức biểu tình "mừng độc lập". Ðó là 1 thứ độc lập không do tranh đấu mà có. Có người cho rằng "độc lập giả hiệu", bởi vì chính quyền Nhật đã đầu hàng, quân Pháp thì chưa tới, nên chính quyền ở VN bỏ trống. Ông Phan Khôi đã nhận xét :
"Ta lượm được chính quyền, chứ cướp cái nỗi gì ? Tại Huế, nhiều huyện, xã, ủy ban khởi nghĩa không có, như Thọ Lộc, khu phố 5..., các Lý Hương phải khăn đen áo dài, để sổ đinh, sổ điền trong mâm thao, trên phủ khăn điều đến trụ sở Việt Minh "xin tổ chức này cướp chính quyền cho". Thậm chí 1 xã gần thành phố Huế như Hồ Lâu, Dương Xuân Hạ mới thành lập gần Ðập Ðá, nằm về phía Tây Vỹ Dạ...cũng đề nghị Việt Minh đến "cướp chính quyền dùm họ".
Trong cuộc biểu tình ở Saigon vừa đề cập trên, Lâm Ủy Hành Chánh lại dẫn đầu tuần hành. Khí thế cuộc biểu tình vô cùng khích động, sẵn sàng gây chiến. Khi cuộc biểu tình diễn hành qua trước Nhà Thờ Ðức Bà, để quẹo sang đường Catinat (Tự Do), từ trên lầu cao có tiếng súng lẻ tẻ bắn xuống. Ðó là mấy người Pháp muốn khuấy rối. Ðám đông cuồng nộ, công an, Thanh Niên Tiền Phong liền túa ra lục soát khắp các dãy phố 2 bên dường 2 bên dường. Họ bắt được 2 người Pháp và xử tự tại chỗ (trong đó có linh mục Tricoire) không cần cứu xé và làm nhiều người bị thương. Báo Cứu Quốc của Hà Nội đăng tin :"Ðội xung phong của chính phủ bắt giữ 30 người Pháp và 1 số Việt gian".
Danh từ "Việt gian" xuất hiện từ đó. Ai bị gán cho tiếng "Việt gian" có nghĩa là chết hoặc bị thủ tiêụ Mọi người mới bắt đầu lo sợ Lâm Ủy Hành Chánh vì những hành động giết ngươi mờ ám của họ.
Thấy CS chuyên quyền làm nhiều việc mất đoàn kết, không lo tổ chức việc phòng thủ chống lại Pháp đang lăm le đưa quân vào tái chiếm miền Nam, họ lại lo giết những người đối lập, những kẻ tình nghi, những người trước đây có làm việc cho Pháp, nên trong phiên họp ngày 7/9/45, đại diện Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất yêu cầu Lâm Ủy Hành Chánh cải tổ. Trước tình thế ấy, buộc lòng CS phải cải tổ, đưa Phạm Văn Bạch, 1 luật sư, con 1 đại điền chủ ở Trà Vinh, lên làm chủ tịch, Trần Văn Giàu vẫn là phó chủ tịch, nắm quân sự. Lần này trong số ủy viên dự khuyết có các ông :
- Phan Văn Hùm.
- Trần Văn Nhọ
- Nguyễn Văn Thủ.
- Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, cố vấn đặc biệt.
Thật ra Phạm Văn Bạch chỉ giữ hư vị, mọi quyền hành vẫn nằm trong tay cán bộ CS. Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Trấn sai mật vụ núp dưới danh nghĩa Thanh Niên Tiền Phong, Tự Vệ Cuộc đi lùng bắt, ám sát, khủng bố các lãnh tụ quốc gia, tôn giáo là những người vừa mới hợp tác với họ, được họ mời giữ chức vụ này, chức vụ nọ trong Ủy ban Hành chánh. Chỉ nội trong 2 tuần lễ, từ 25/8/45 tới 7/9/45, mà Lâm Ủy Hành Chánh khủng bố, ám sát, tiêu diệt các nhân vật trong Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất mà cách đó không lâu CS năn nỉ xin nhường quyền lãnh đạo. Tình trạng trở nên ngột ngạt. Không khí hoang mang, nghi kyï bao trùm. Khối đoàn kết quốc dân bị rạn nứt. Tiềm lực chiến đấu bắt đầu suy yếu. CS tiếp tục ra lịnh ám sát, bắt cóc, thủ tiêu các nhân vật sau đây : Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ (nhưng thất bại), Vũ Tam Anh (tức Nguyễn Ngọc Nhan) bị công an của Trần Văn Giàu là Lý Huê Vinh bao vây bắt tại Xóm Thơm (không thành công), nhưng CS đã thành công trong việc tới nhà ông Bùi Quang Chiêu để hạ sát toàn thể gia quyến 1 cách dã man. CS bắt các ông Hồ Văn Ngà, Trần Quang Vinh, Lương Trọng Tường...chờ ngày thủ tiêụ Ðược biết, từ đầu tháng 9/45, CS được bổ sung cán bộ từ Côn Ðảo trở về. Cũng cùng lúc đó, ngoài Bắc, Hồ Chí Minh sợ CS ở Nam Bộ ly khai nên phái Hoàng Quốc Việt, Cao Hồng Lĩnh, Nguyễn Thị Thập...vào Nam để kiềm chế và tăng cường. Vì đã có thêm sức mạnh trong tay, nên Việt Minh mới trở mặt. Thay vì tổ chức kháng chiến chống Pháp thì Việt Minh đã tập trung sức mạnh để tiêu diệt những người quốc gia cùng chiến tuyến chống Pháp với họ.
Hành động lộ liễu nhứt là bao vây triệt hạ vị lãnh tụ Phật Giáo Hòa Hảo.
Ðêm 9/9/45, Trần Văn Giàu ra lịnh cho Quốc Gia Tự Vệ Cuộc, tức Công an võ trang, đến bao vây trụ sở Phật Giáo Hoà Hảo ở số 8 đường Sohier, góc đường Miche, để lùng bắt Ðức Huỳnh Phú Sổ. Nhưng họ chỉ bắt được các tín đồ và chức sắc, còn giáo chủ thì không tìm thấy ("Phật Giáo Hoà Hảo trong dòng lịch sử dân tộc", trang 373).
Ông An Khê Nguyễn Bính Thinh kể lại vụ này như sau :
"Nguyễn Văn Mười, tự Mười Bạch, làm trưởng bót cảnh sát Quận 1 thời Nhật, đã ngả theo Việt Minh. 1 hôm Mười Bạch nhận được lịnh quái gở "đánh vào trụ sở Phật Giáo Hoà Hảo để bắt Ðức Thầy Huỳnh Phú Sổ". Mười Bạch đã từng chịu ơn Ðức Thầy Huỳnh Phú Sổ khi ra khỏi Khám Lớn Saigon. Anh đến tá túc tại trụ sở của vị Giáo chủ Hòa Hảo và Ðức Thầy có biệt nhãn với anh. Ðêm hôm ấy, Mười Bạch cố tình đến họp quân trễ hơn nửa giờ và mật báo cho Ðức Thầy biết... Vì thế, sau khi bao vây và tấn công vào 2 tòa nhà của tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, Việt Minh không tìm ra vị Giáo Chủ Hòa Hảo, mà chỉ bắt hơn 300 tín đồ, với cấp chỉ huy Ðệ Ngũ sư đoàn của Nguyễn Hòa Hiệp lập ra để chống xâm lăng".
Cũng nên nhắc thêm, trước đó thời Nhật thuộc, Nguyễn Thành Long làm cảnh sát trưởng Quận 3, và Mười Bạch coi Quận 1. Khi Việt Minh cướp chính quyền, họ ngả theo Việt Minh để đánh Pháp. Ðột ngột Bạch và Long nhận được lịnh của Lâm Ủy Hành Chánh "giải tán các quận cảnh sát". Các bót bỏ trống và võ kí phải trả lại cho Pháp (?). Theo lời nhà văn An Khê, trong bót Quận 1 có 25 súng trường, 25 súng trái khế, và Quận 3 có 15 súng trường...tất cả đều giao trả cho Pháp. Các cảnh sát trưởng kinh ngạc đến tột độ và gặp Trần Văn Giàu chất vấn thì Giàu ngụy biện :"Chính phủ đang thương thuyết với Pháp. Ðể tỏ thiện chí, ta giao súng cho họ". Rõ ràng là CS đã có âm mưu triệt hạ tất cả mọi nhóm có võ trang ngoài họ.
1 chuyện lạ tại Rạch Giá được nhà văn An Khê thuật lại như sau :
"Về sau, đến năm 1945, trong khi toàn quốc chuẩn bị kháng chiến chống xăm lăng, chúng tôi, 1 nhóm chính trị phạm quốc gia ở Côn Ðảo về, lập ra Cảm tử quân, gồm 2 đại đội, khoảng 600 người, quyết tâm bảo vệ quê hương. Ủy Ban Kháng Chiến mới của CS muốn lôi kéo 2 đại dội Cảm tử quân về phía họ, nhưng không được, vì những người cầm đầu là những người tù chính trị ở Côn Ðảo về, biết rõ bộ mặt thật của CS. Không ăn được thì phải phá cho nát. Chủ tịch CS tên Tiểng (không phải sinh viên Huỳnh Văn Tiểng), liền bắt 1 số Cảm tử quân nồng cốt và "gởi đi thụ huấn". Tách 1 đại đội qua trấn giữ Châu thành Hà Tiên đang bị Pháp từ Miên đe dọa đánh quạ 2 em gái tôi (lời nhà văn An Khê) trong đảng Tân Dân Chủ, không chịu ngả theo CS, đang đóng tại Hòn Chông, Hà Tiên, bị CS ruồng bắt (gọi là tảo thanh), phải nhờ người dẫn đi trốn qua Quận Long Mỹ do Lý Thanh Cần (tức nhà báo Nguyễn Kiên Giang sau này) làm chủ tịch để nương đậu. Tưởng vậy đã yên, nào ngờ 2 hôm sau, Pháp vượt biên giới Hà Tiên, thì 1 lần nữa CS phát nát 2 đại đội Cảm tử quân như sau :
- Chiến tuyến đầu, giữ mặt trận Hà Tiên do quân đội của Lâm Quang Phòng (ông hiện cư ngụ tại Cali), phải rút về Hòn Ðất.
- Chiến tuyến thứ hai, do Cảm tử quân Lê Hiền và Hà Ngọc Phú chỉ huy, bị CS tước khí giới giải tán cho về Rạch Giá.
- Tại Rạch Giá, CS cho khám xét trụ sở Cảm tử quân, tước hết súng ống của họ và giải tán tổ chức này. CS bắt theo 1 số anh em Cảm tử quân, trong đó có anh tôi, Nguyễn Bính Tiên".
Tại Sóc Trăng, theo ông Vương Hồng Sển trong cuốn hồi ký "Hơn nửa đời hư", trang 386, có thuật lại n hư sau :
"Ngày 19/8/45 có cuộc biểu tình đòi đôc lập và hoan nghênh ông Nguyễn Văn Sâm được Hoàng đế Bảo Ðại phong làm Khâm sai Nam Bộ, Hồ Văn Ngà làm phó. Ông Sâm là người quê ở Bang Long (Giếng Nước), Sóc Trăng.
"Thấy thế yếu, hôm sau ngày 20/8/45, CS lại tổ chức biểu tình nữa. Lần này họ dùng lực lượng Thanh Niên Tiền Phong làm nông cốt, rồi giương cờ đỏ sao vàng đi trước. CS dành quyền chủ dộng tổ chức thêm 1 cuộc biểu tình mừng độc lập ngày 2/9/45. Lần này họ hô khẩu hiệu "Bắt cóc bọn thân thiện với Pháp". Họ lập Ủy ban hành chánh địa phương, gồm các ông Dương Kỳ Hiệp (thân cộng), Tạ Bá Tòng (CS) với Trương Ðại Lượng, Chung Bá Khánh (Cao Ðài) làm cố vấn và 1 nhân sĩ Cao Ðài. Rõ ràng khi còn yếu, họ liên hiệp trong 1 ủy ban. Rồi tối đến, họ mời đi họp và thủ tiêu những người mới liên hiệp với họ. Mấy ngày kế tiếp là những vụ bắt bớ, ám sát, thủ tiêu các nhân vật từng hợp tác với Pháp hay Nhật. Không khí nghi kyï chia rẻ bao trùm.
"Chiếm được chính quyền rồi, Lâm Ủy Hành Chánh được lịnh tổ chức "Tuần lễ vàng" ngày 16/9/45 để thu góp vàng bạc trong dân chúng, nói là để mua đạn đánh Tâyï Thực chất số vàng quyên góp được (không công bố là bao nhiêu) chỉ để củng cố đảng CS lúc này đang yếu thế. Trong bầu không khí phấn khởi mừng độc lập, chúng kêu gọi mọi người móc hầu bao, vòng vàng, bông taị..đem nạp cho ủy ban nhóm tại trụ sở mỗi làng. Vừa áp dụng tâm lý, vừa tuyên truyền "mua súng đạn đánh Tây, lập ngân quỹ cứu trợ nạn đói..."
Ở Nam Bộ, trong "tuần lễ vàng", CS đã thâu được 1 số kếch xù. Theo Trần Văn Ðôn trong cuốn hồi ký Việt Nam Nhân Chứng cho biết chính ông Bộ trưởng Huỳnh Thiện Vang mang 12 bao bố loại bao chỉ xanh, chứa đầy vàng đem ra Bắc giao cho chính phủ Hồ Chí Minh. Số vàng quyên góp của dân chúng được xử dụng ra sao ? Nhà văn Hoàng Qyốc Kỳ, 1 cán bộ trung ương của Ðảng, tiết lộ :"Ông Hồ cho cán bộ đem vàng lên Ðồng Văn đổi lấy thuốc phiện của người Mèo về cung phụng cho Tiêu Văn, Lư Hán. 2 tướng này được Hồ Chí Minh hối lộ hàng tấn vàng bạc với điều kiện là không được ủng hộ, cung cấp vũ khí, che chở cho đảng phái Việt Cách và Việt Quốc. Riêng Tướng Lư Hán, Hồ Chí Minh còn tặng 1 bộ bàn đèn để hút thuốc phiện bằng vàng ròng".
Khi theo phái đoàn tham dự Hội nghị Fontainebleau, Hồ Chí Minh cho mang theo 20 kg vàng để tặng báo L'Humanite', tờ báo thân Cộng, để họ ủng hộ đảng CS. Sách Ðường Xuyên Tây của tác giả Nguyễn Hùng, nhà xuất bản Long An năm 1990, trang 81-82 viết :
"Theo chỉ thị của bác Hồ, tất cả chi phí giúp đỡ 3 ông Hoàng Lào, rồi qua tyï nạn tại Bangkok : ông Hoàng Phouma, Be'sarat và Souphanouvong. 2 ông trên có vợ đầm, còn ông Souphanouvong có vợ Việt là bà Kỳ Nam, người Việt quen gọi là "Cô Tám".
"Bằng số vàng của đồng bào Nam Bộ lạc quyên trong "tuần lễ vàng", mà Xứ ủy Năm Ðông (Dương Quang Ðông) đã mang qua Thái Lan. Theo chỉ thị của trung ương, các đồng chí Trần Văn Giàu, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch tìm cách đưa 3 ông Hoàng Lào từ Thaket qua Thái Lan. 1 phái đoàn được chỉ định lo "công tác này", gồm các đồng chí Nai Sà Wạch Trọng, Ban và Năm Ðông...đem vàng và tiền đi rước 3 ông Hoàng qua đất Thái Lan tyï nạn. Tới Thái, cả 3 ông được ngụ trong 1 biệt thự sang trọng kà pị (?) và được cấp 1 chiếc xe Ford để 3 ông đi chơi".
3 ông Hoàng Lào ấy không phải là tổ tiên của dân tộc VN, mà sao CS lại tự tiện mang vàng cung phụng, chu cấp, còn những người yêu nước, khác chính kiến thì CS lại thủ tiêu, giết hại dã man. Chính sách của CSVN trước sau như một.
Mới chiếm được chính quyền, Lâm Ủy Hành Chánh vội vàng lập Quốc Gia Tự Vệ Cuộc, giao cho Nguyễn Văn Trấn đi lùng bắt, ám sát, khủng bố, cho mò tôm... Ðó là những người mới liên hiệp với họ vài hôm trước. Phạm Hùng (từ Côn Ðảo mới về), Kiều Ðắc Thắng, Kiều Tấn Lập,...được lịnh lùng sục khắp nơi, bắt các nhân sĩ, lãnh tụ các đảng phái, tôn giáo, thậm chí đến những viên chức hội tề đã về hưụ..đem thủ tiêu rồi chụp mũ họ là "Việt gian".
Giữa lúc đất nước lâm nguy, cuộc kháng chiến chống Pháp cần sự đoàn kết toàn dân, thì CS lại chủ trương hòa hoãn với thực dân, nhượng bô họ để rảnh tay tiêu diệt những đồng bào cùng chiến tuyến. Hành động ấy làm tan rã sự đoàn kết, tiềm năng chiến đấu suy yếu. CS lèo lái cuộc kháng chiến chống Pháp đi theo 1 đường vòng vo để có đủ thời giờ nắm tất cả quyền chỉ huy và tiến hành đưa nước ta vào quỹ đạo CS Quốc Tế. Ông Dương Ðình Lôi đã kể lại việc CS giết 1 ông Cả, lúc đó đã về hưu trên 70 tuổi, vì đã cộng tác với Pháp trước kia :
"Chính Bảy Trấn, tức Nguyễn Văn Trấn, vào năm 1945-1946 đã ký tên, ra lịnh bắt giết rất nhiều người có liên quan tới chính quyền thuộc địa Pháp, nhứt là Hương chức, Hội tề...vì sợ chính quyền Pháp tái lập chính quyền bằng những thành phần này.
"Ông Cả Ðần tại làng Tân Bửu, bị nhân viên Quốc Gia Tự Vệ Cuộc bắn chết tại sân nhà khi ông đang cúng Phật trước bàn thông thiên. Năm 1945, ông Cả Ðần đã 72 tuổi, hưu trí từ lâụ..
Theo lời ông Trần Văn Ân trong cuốn Phật Giáo Hòa Hảo Trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc, trang 415 :
"...Số là ông Hội đồng Nhiều (Hội đồng Thành phố Saigon Nguyễn Văn Nhiều) đã chứa chấp Ðức Thầy Huỳnh Phú Sổ trong nhà với vài người khác, đương đêm bị Việt Minh vào nhà bắt đi và giết chết, chặt thành nhiều khúc, xác bỏ dọc đường mương trông rất thê thảm..."
Lúc ấy Việt Minh muốn giết ai thì họ chỉ cần phao tin những người đó là "Việt gian". Ai bị mang tiếng Việt gian chỉ còn chờ chết mà thôị Hình thức giết người của Việt Minh rất tàn bạo : chặt đầu, mổ bụng dồn trấu, trói thúc ké thả xuống sông...mò tôm để tiết kiệm đạn.
Trần Văn Giàu còn ra lịnh, "Chính phủ Nam Bộ đang lập ủy ban điều tra mỗi tỉnh để xem xét và tố cáo bọn phản quốc. Bọn này sẽ bị ra tòa án nhân dân trừng trị, tài sản bị tịch thâu, ruộng đất của họ sẽ bị lấy chia cho dân nghèo..." (Thông cáo ngày 8/9/45, Phật Giáo Hòa Hảo Trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc", trang 365).
Trong 1 đoạn khác của cuốn sách trên, ông Trần Văn Ân cho biết :"...chính Bảy Viễn, lúc mới ra hợp tác với Lâm Ủy Hành Chánh, được lịnh Trần Văn Giàu và Nguyễn Văn Trấn để hạ sát mấy trăm người trí thức ở Saigon, nhưng Bảy Viễn không giết. Thí dụ kỹ sư Lê Văn Ngọ (nhạc phục bác sĩ Trần Lữ Y) bị Thanh Niên Tiền Phong bắt trói dưới cột cờ, đợi giờ mổ bụng dồn trấu. Bảy Viễn đi qua hỏi :
- Bắt thằng này trói dưới cờ để làm gì ?
- Thưa đợi giờ mổ bụng dồn trấu !
- Tại sao ?
- Thưa, vì có vợ đầm !
Bảy Viễn ra lịnh :"Thả nó đị Có vợ đầm kệ nó. Có vợ đầm chưa phải là Việt gian. (Nên nhớ Phạm Văn Bạch, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đều có vợ đầm !)... Khi được Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Trấn trao cho danh sách mấy trăm trí thức "Việt gian phải giết", Bảy Viễn chửi thề :
- DM. Ðộc lập mà giết hết trí thức thì lấy ai làm việc !
Ông Hồ Văn Ngà đang ngủ. CS đập cửa vào mời đi họp, rồi bắt đem giam ở Cà Maụ Nghe tin Pháp đánh xuống Cà Mau, Việt Minh đem ông Ngà xuống Hòn Ðá Bạc trấn nước chết. Trước khi chết, ông Ngà đã nói :
- Mấy anh có giết tôi thì giết, đừng nói tôi là "Việt gian, phản quốc".
Lợi dụng cuộc hưu chiến ngắn ngủi ngày 8/10/45, công an Việt Minh đã bủa lưới bắt trọn các lãnh tụ Ðệ Tứ (Trốt-kít) như các ông Trần Văn Thạch, Phạm Văn Chánh, Nguyễn Văn Sổ, luật sư Huỳnh Văn Phương, bác sĩ Hồ Vĩnh Ký cùng vợ là bác sĩ Nguyễn Thị Sương, luật sư Dương Văn Giáo...tất cả là 64 người, đều bị giết tại cầu Bến Phân (Hạnh Thông Tây, Gò Vấp) hay chôn sống tại sông Lòng Sông (Mường Mán, Phan Thiết)...
Trước khi chạy thụt mạng xuống Chợ Gạo, Ủy ban hành chánh của Trần Văn Giàu còn chôn sống hàng trăm người trí thức ở Quơn Long (Chợ Gạo), trong đó có luật sư Huỳnh Thái Thông; khai sanh viết là Hình Thái Thông). Có người biết chuyện kể lại rằng vì các ông Hồ Vĩnh Ký, Huỳnh Văn Phương, Dương Văn Giáo...đã nắm được hồ sơ Trần Văn Giàu đã cộng tác với mật thám Pháp là Arnoux. Hồ sơ này bị Nhật tịch thu khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 9/3/45, trao lại cho ông Hồ Vĩnh Ký, lúc ấy đang làm giám đốc công an Nam Bộ. Trong hồ sơ, Trần Văn Giàu đã cam kết với Pháp là chỉ điểm những phần tử quốc gia chống Pháp, hợp tác với Nhật, để đổi lại Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai được bố trí cho vượt ngục giả tạo.
Ngoài ra, ông Dương Ðình Lôi còn cho biết Trần Văn Giàu đã được Pháp gởi 1 em đầm tới cho Giàu mua vui, và thả những người Pháp bị bắt giữ làm con tin khi Lâm Ủy Hành Chánh nắm quyền.
Cũng trong chiến dịch sát hại những người yêu nước không theo CS, Trần Văn Giàu đã ra lịnh giết Tạ Thu Thâu ở Quảng Ngãi, Diệp Văn Kỳ (con ông Diệp Văn Cương và Công chúa Thiên Niệm) ở Tha La (Trảng Bàng). Rồi sau đó, CS lại ám sát Ðức Thầy Huỳnh Phú Sổ tại Ðốc Vàng, do tên Bửu Vinh thi hành. Tác giả Nguyễn Thị Bạch Tuyết đã viết trong 1 bài báo "Ðời Mà Anh Trấn", như sau :
"Ông Trấn chẳng còn bao lâu nữa, hãy vâng lời ông Như Phong nhắn trên đài BBC, nhớ lại càng nhiều càng tốt, những ngày giờ, nơi chốn mà ông đã chôn sống những aị..rồi thông báo cho thân nhân họ, để con cháu biết mà bốc nắm xương tàn, để biết đích xác ngày tháng mà cúng giỗ".
Hứa Hoành

GIÃ TỪ VIỆT NAM

Ed. Oshiro, MPH 
Trần Trúc Lâm chuyển ngữ


Ba mươi phút sau khi chuyến bay của hãng Hàng Không Việt Nam chở chúng tôi rời khỏi phi trường Tân Sơn Nhất thuộc thành phố Hồ CHí Minh, chúng tôi nhìn xuống những đồng bằng màu đỏ trơ trụi của xứ Cambodia, tôi và vợ tôi bỗng dưng có một cảm giác kỳ lạ của sự thoải mái và tự do. Hú vía, chúng tôi thực sự đã thoát khỏi những sự cách nhiễu, hăm dọa và tham nhũng thường nhật của các giới chức Việt Nam, và cái gánh nặng đè trên vai trong ba tháng qua chợt trút mất. 

Mọi chuyện như bắt đầu từ mùa thu năm ngoái, khi tôi nhận làm quản lý hải ngoại vụ cho Cơ Sở Đông Gặp Tây (East Meets West Foundation) hiện đang trông coi một bệnh xá toàn khoa cho “kẻ nghèo nhất trong đám nghèo” và một cô nhi viện với 125 trẻ em ở ngoại ô thành phố Đà Nẵng, Việt Nam. Tôi đã quyết định chụp lấy cơ hội hưu trí sớm với đầy đủ cấp dưỡng do Group Health đề nghị và về hưu vào đầu tháng Giêng với ý định đi phục vụ tình nguyện khoảng một đến hai năm tại Việt Nam, bắt đầu vào giữa tháng Giêng. 

Công tác của tôi là giúp bệnh xá hoạt động được hữu hiệu hơn và hướng dẫn những chương trình về giáo dục y tế công cộng cho bốn làng hẻo lánh. Vợ tôi thì được giao việc ở cô nhi viện như là giáo viên mỹ thuật và dạy Anh ngữ cho các nhân viên. 

Một điều báo trước cho những việc sẽ gặp ở trong nước Việt Nam thực ra đã bắt đầu khi chúng tôi bay xuống San Francisco để nhận giấy hộ chiếu trên đường đi Việt Nam. Khi đến San Francisco thì chúng tôi được báo rằng viên chức Bộ Ngoại Giao (Việt Nam) muốn chúng tôi phải thuê căn phòng của y ở Đà Nẳng với giá 700 đô la mỗi tháng, với sáu tháng tiền nhà đưa trước. Chúng tôi phản đối và y không chịu cấp giấy nhập cảnh nữa, chúng tôi đành phải quay về lại Seattle để chờ Cơ sở tiếp tục thương lượng. Cuối cùng đến tháng Hai, sau khi đồng ý với vụ sắp xếp, trả cho y 4200 đô la, và dấu hộ chiếu cho ba tháng thay vì một năm, chúng tôi bay đi Việt Nam. Khi đến nơi thì căn phòng, hỡi ôi! còn đang sửa chữa và chúng tôi đành ở khách sạn với giá
15 đô la một ngày. 

Vừa vào đến Việt Nam thì tất cả đĩa điện toán của chúng tôi đều bị tịch thâu ngay, và mãi đến ba tuần mới được trả sau khi đóng 40 đô la gọi là “lệ phí bảo quản” và có cả khối bản phụ được sao chép (để bán về sau). 

Ngày đầu làm việc trong văn phòng, tôi nhắc máy điện thoại để gọi con gái tôi ở Seattle và đã có thể nghe rõ tiếng nhạc quân hành văng vẳng trong máy suốt cuộc điện đàm. Tôi nhắc lại chuyện đó với nhân viên người Việt thì được họ cho biết là công an và quân đội luôn theo dõi nghe trộm mọi cuộc điện đàm. Chúng tôi được khuyến cáo là ngay cả thư từ cũng được mở ra đọc ngang xương, cho nên
phải cẩn thận khi viết. Có một lần công an gọi tôi phải đem tờ báo cáo tài chính cuối tháng cho họ xem để họ quyết định cho gởi hay không. 

Vài ngày sau khi tôi bắt đầu làm việc, thì cô kế toán viên bay đi Florida để làm đám cưới với anh bác sĩ Mỹ mà cô đã quen trong thời gian anh ta phục vụ tình nguyện cho bệnh xá. Khi chúng tôi rao tuyển người thay thế thì viên Bộ Trưởng chuyển đến một danh sách ứng viên mà y muốn chúng tôi thâu dụng. Chúng tôi bác ngay vì họ không biết tí gì vế kế toán và chẳng có chút khiếu năng gì về Anh ngữ. Chúng tôi tuyển được một cô có bằng kế toán và nói giỏi tiếng Anh, nhưng viên Bộ trưởng và Sở Công An lại trì hoản việc chuẩn y thâu dụng, cho mãi đến khi tôi nghĩ rằng, có chút tiền đút lót hoặc cô ta
chịu chia một phần lương của cô. 

Chúng tôi được biết rằng tất cả nhân viên người Việt đều buộc phải đóng một phần tiền lương cho cho công an, các viên chức nhà nước, đảng viên, v.v... Đã mấy lần công an đến văn phòng chúng tôi hạch hỏi vì sao chúng tôi không dùng người của họ. Bất ngờ có một bác sĩ người Việt lại nộp đơn xin làm kế toán bởi vì anh đã thất nghiệp đến hơn 5 năm nay. Quả có hàng trăm bác sĩ thất nghiệp mặc dù họ thuộc hạng lao động có lương thấp nhất ở Việ Nam... 30 đô la một tháng. Tôi chẳng thể nào hiểu được vì sao lại có quá nhiều bác sĩ thất nghiệp tại Việt Nam. Tôi được nghe kể rằng họ buộc phải đăng ký quỹ 1,500 đô la để được thực tập và lấy kinh nghiệm ở bệnh viện sau khi học xong.
Không có kinh nghiệm ở bệnh viện là thất nghiệp. Tôi lại được biết có một sự kỳ thị nặng nề đối với dân trong Nam, đặc biệt là những người đã từng phục vụ cho chế độ cũ. Hầu hết những bác sĩ thất nghiệp mà chúng tôi đã gặp là dân miền Nam. 


 

Trong phần họp định hướng tại Hoa Kỳ, chúng tôi được báo cho biết rằng các bác sĩ tại bệnh xá làng Hòa Bình rất lười và ù lì, vì họ chỉ biết có một điều là viết toa cho thuốc bổ sinh tố. Sau khi làm việc với họ vài ngày, tôi nhận thấy họ rất thông minh, rất ham học để hành nghề tốt và sẵn sàng đón nhận những sự giúp đỡ để trở thành thầy thuốc giỏi. Điều đáng tiếc là sự đào tạo của họ tệ quá, cho nên họ độc chỉ giỏi viết toa sinh tố cho mọi bệnh trạng. 

Mỗi ngày trong một tuần, các bác sĩ đi khám bệnh ở một trong những làng lân cận. Tôi đi theo họ vài lần và nhận thấy rằng sinh tố được cấp cho mọi chứng: sốt rét, mù lòa, sốt nóng, bệnh ký sinh trùng, đái ra máu, ỉa chảy v.v... Họ đâu có thể làm gì khác hơn được? Họ chẳng có món thuốc nào ngoài vài lọ Ampicilin. Mấy bác sĩ bảo rằng ít ra cũng nên cho bệnh nhân món gì để đem về nhà, và họ cấp sinh tố. À ra thế! Trụ sinh thì ai cũng có thể mua được chẳng cần toa cho nên nhà nào cũng có vài lọ trữ sẵn. Ngay cả thông dịch viên của tôi cũng dùng trụ sinh cho nhức đầu, cảm, tiêu chảy, đau lưng, hoặc khi cô ta cảm không thấy được khỏe. 

Một bác sĩ Sản Phụ Khoa từ San Diego đã làm việc vài ngày tại bệnh xá và bà cho các bác sĩ cách sử dụng mỏ vịt đế khám âm đạo. Năm sau, ông ta quay lại và bất bình vì các bác sĩ không dùng mỏ vịt. Ông ta báo cáo với Ban Quan Trị Cơ Sở Đông Gặp Tây ở San Francisco rằng các bác sĩ ở bệnh xá ù lì và lười biếng. 
Tôi báo cáo về Ban Quản Trị chất vấn sự giám định của ông ta. Các bác sĩ tại bệnh xá không thể nào học khám và chữa bệnh phụ khoa trong vài ngày được, và kỹ thuật viên phòng thí nghiệm chỉ làm được dăm ba xét nghiệm đơn giản mà thôi. Cho dù họ có chuẩn được điều gì đi nữa thì cũng chẳng có thuốc men và dụng cụ để điều trị. Tại sao phải đi học những chuyện mà dù có biết mình cũng đành bó tay? Tôi cảm thấy rằng bác sĩ Mỹ tình nguyện làm việc tại bệnh xá làng Hòa Bình thiếu nhạy bén và làm hại nhiều hơn là giúp đỡ. 

Sau khi ổn định công việc, tôi liền gặp viên Bộ trưởng Y Tế (Việt Cộng) để đề nghị xúc tiến dự án hướng dẫn y tế công cộng cho bốn làng, và ông ta cũng phấn khởi về ý kiến đó. Ông ta nhận bản dự án đó và bảo rằng ông ta sẽ thảo luận với Ủy Ban Nhân Dân rồi cho tôi biết sau, hai tuần sau, ông ta gửi cho chúng tôi một lá thư nói rằng bản dự án đó đã được chấp thuận và Bộ sẽ thi hành, nhưng họ lại muốn tôi tài trợ 25 ngàn đô la. Tôi trả lời rằng tôi không có tiền mà chỉ có sự hiểu biết, thời giờ và lòng nhiệt thành muốn huấn luyện và làm việc với các nhân viên y tế mà thôi, nhưng họ chẳng tha thiết mấy đến sự tham gia của tôi – mà chỉ nghĩa đến tiền của tôi thôi. Tôi không được mời trở lại Bộ Y Tế nữa. 

Khi tôi đi thăm ngôi làng đầu tiên để lượng định về y tế thì tôi được gặp Chủ Tịch Nhân Dận xã và y dẫn tôi đi thăm những gia đình nghèo nhất. Tại mỗi nhà y đòi tôi giúp cho những món mà gia đình đó cần như một mái nhà mới, tiền mua gạo, áo quần, xe lăn v.v... Đến khi tôi nhắc đi nhắc lại rằng tôi đến đây không phải để cho tiền, y lền bảo thông dịch viên dẫn tôi ra khỏi làng ngay. 

Ở một làng khác, các viên chức đòi tôi phải cấp một ngân khoản để xây một ngôi chợ mới, và khi họ biết tôi không thể làm được, họ bắt giữ tôi lại tại chỗ rồi ra lệnh cấm tôi rời khỏi trụ sở ủy ban. Đêm đó tôi bị buộc phải ngủ trên sàn gỗ bẩn thỉu với một mảnh mền rách, và một tên an ninh nằm ngủ bên cạnh canh phòng tôi trốn. Cho thêm phần khốn khỗ, tên an ninh này lại bị cụt tay vì mìn, y đặt cánh tay cụt lên bụng tôi suốt đêm mà ngủ. Còn tôi thì làm sao mà ngủ được, nằm nghĩ ngợi lung tung, mấy ai tin được rằng tôi lại ngủ trên sàn nhà một văn phòng đảng Cộng Sản, cạnh một tên công an Cộng Sản, mà cánh tay cụt của hằn lại đặt trên bụng tôi! Đó là một trong những đêm kinh dị và hãi hùng nhất trong đời. Tôi cứ ngỡ mình bị ác mộng. 

Vì tôi trú trong khách sạn nên phải đi ăn hiệu. Chỉ có một nơi mà chúng tôi và hầu hết các du khách đến ăn mà không sợ bệnh là nhà hàng mang tên Christies. Mỗi đêm chúng tôi gặp nhóm Thủy Quân Lục Chiến và quân nhân Mỹ đến Việt Nam tìm kiếm lính mất tích trong cuộc chiến (MIA’s) . Họ bảo ràng mỗi làng đều có mánh khóe làm ăn trong vụ này. Chức sắc ở làng có thể báo cáo là đã chôn hai hay ba xác lính Mỹ ngoài ruộng. Thế là Hoa Kỳ phải mất khoảng 10 ngàn đô la cho việc đào xới và mướn phu phen địa phương. 

Các giới chức Mỹ mà tôi chuyện trò bảo rằng từ năm 1991, họ chẳng tìm ra cái gì ráo và cũng chẳng mong mỏi tìm thêm cái gì khác. Họ được yêu cầu trú tại khách sạn của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam với giá 75 đô la một đêm và phải thuê phi cơ trực thăng chở họ đến các làng, mà giá của một giờ bay trực thăng là 750 đô la. Có khoảng 30 quân nhân Hoa Kỳ tìm kiếm MIAs tại Đà Nẳng và ở mỗi thành phố lớn đều có một nhóm như vây. Dĩ nhiên là Hoa Kỳ tốn hàng triệu đô la vào túi các viên chức người Việt! 

Sau hai tháng rõ ràng là chẳng ai cần đến chúng tôi tại Việt Nam. Cô nhi viện thì đã được Chính Phủ Hoa Kỳ tài trợ dồi dào và nhân viên Việt Nam thì làm việc xuất sắc. Trẻ em học ở trường nhà nước, được dạy nghề mộc, may vá, điện toán, v.v... và một bác sĩ toàn thời gian chăm sóc sức khỏe cho chúng. Chúng có cả sân bóng rổ, bóng bàn, máy truyền hình, mày chiếu hình, xe đạp, máy điện toán, một nông trại trồng rau, và chúng nuôi gà và lợn để sinh lợi. Ai cũng biết rằng chúng sống khá hơn đại đa số trẻ con khác ở Việt Nam! Tôi đã tìm cách tăng lương cho tất cả các bác sĩ và nhân viên (Việt Nam) tại bệnh xá từ 30 đô la đến 50 đô la mỗi tháng. Nhà cầm quyền lại đòi rằng ai cũng được trả đồng hạng dù là bác sĩ hay y công. 

Tôi cũng đã giúp vào một chương trình phát triển dài hạn giáo dục liên tục cho các bác sĩ. Một bác sĩ tim mạch ở Nhật chịu đỡ đầu hàng năm, trong nhiều năm về sau, cho một bác sĩ của bệnh xá luân phiên qua tu học tại bệnh viện Okasa khoảng sáu tháng. Người đầu tiên đi Osaka đã rời hồi tháng Sáu. Tôi cũng đã bắt liên lạc với bệnh viện Huế xin các bác sĩ của bệnh viện thực tập và chúng tôi chịu trả tiền phí tổn huấn luyện. Tôi đã đệ trình dự án này với Ban Quản Trị Cơ Sở Đông Gặp Tây vào ngày công tác cuối cùng của tôi ở Việt Nam. Hi vọng rằng Ban Quản Trị sẽ biểu quyết tán đồng chương trình này. Tôi cảm thấy quá rẻ để huấn luyện một bác sĩ với giá 1500 đôla. 

Vài tuần sau khi đến Đà Nẳng, viên chức Bộ Ngoại Giao đòi thêm tiền để dứt điểm việc tu bổ căn phòng và mua đồ bày biện. Nhưng chúng tôi được biết rằng một bác sĩ Việt Nam kiếm được 30 đô la một tháng và đã trả, có lẽ từ 10 đến 15 đô la tiền thuê căn phòng như thế nên chúng tôi đã lịch sự phất lờ đòi hỏi thêm tiền của y. Y bèn trở mặt chèn ép, đòi chúng tôi phải báo cáo trước chi tiết lộ trình mỗi hai tuần, không cứu xét yêu cầu gia hạn hộ chiếu và làm khó dễ các nhân viên người Việt của bệnh xá. 

Ba tháng sau khi đến Việt Nam viên chức Bộ Ngoại Giao bảo rằng chúng tôi có thể vào ở được rồi, và chúng tôi chỉ trú – có mỗi một đêm. Căn phòng chỉ được tu sửa nửa chừng với dây điện còn lòng thòng
từ trần nhà, tường được sơn một phần, ống nước chưa được nối vào, không có bàn ghế và gián thì ôi thôi! bò lổ ngổn khắp nơi. Chỉ trong ấy phút mà tôi xài hết một lọ xịt côn trùng và sàn nhà đầy la liệt cả dán dài khoảng 2 đốt tay đang nằm ngửa ngo ngoe. 

Chúng tôi dọn trở lại khách sạn sau đúng một đêm. Viên chức Bộ Ngoại Giao rất bực dọc và gay gắt bảo chúng tôi nên rời khỏi nước nếu không hài lòng. Lần đầu tiên chúng tôi cảm thấy sợ hãi, chúng tôi biết rằng y có thể bỏ tù chúng tôi hoặc dàn cảnh một tai nạn mà chẳng ai có thể làm gì được. 

Biết rõ rằng chẳng ai muốn và cần đến chúng tôi tại Việt Nam, sự đóng góp của chúng tôi cũng nhỏ nhoi, và có một sự đe dọa đến an ninh của chúng tôi, chúng tôi quyết định rời khỏi Việt Nam. Chúng tôi cũng bị dằn vặt bời quyết định này bởi vì chúng tôi đã đến và mến yêu trẻ mồ côi, những người làm việc chung và cái bệnh xá làng Hòa Bình. Chúng tôi mang theo một tình cảm rất nồng nàn đối với dân Việt, đối với đất nước tuyệt đẹp này, và mong một ngày nào đó sẽ trở lại để hoàn tất những công tác đã phát khởi. 

Một ngày kia, cái thế hệ lãnh đạo hiện nay sẽ trao quyền lại và Việt Nam sẽ vươn mình như con bướm sặc sỡ của vùng Đông Nam Á. 
Ed Oshiro hiện về hưu và ngụ tại Mereer Island (thành phố Seattle, tiểu bang Washington) nguyên là Phụ Tá Giám Đốc Chương Trình Giáo Dục Y Tế của Group Health Cooperatives.
http://hoanlan.multiply.com/journal/item/1