Chính Trị: Bốn lá thư về vấn đề Tổng Cục 2 và Lê Đức Anh (Tướng Nguyễn Nam Khánh)
Đăng ngày 08/02/2005 lúc 18:17:46 EST
Đề tài: Hồ sơ Đảng Cộng Sản VN
Hồ sơ Đảng Cộng Sản VN
1 2 3 4
Hà Nội, ngày 17/6/2004
Kính gửi:
Ban Chấp hành Trung ương đảng
Đồng chí Tổng bí thư và các đồng chí uỷ viên
Bộ Chính trị, uỷ viên Ban Bí thư
Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá 9
Đồng chí Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá 7, khoá 8
Thưa các đồng chí,
Vụ T4 và các vấn đề của Tổng cục 2 vừa qua đã diễn ra rất nghiêm trọng từ vụ Sáu Sứ (Khoá 6) tiếp đến các vụ khác rất nghiêm trọng trong Khoá 7, Khoá 8 và Khoá 9 hiện nay Nhưng chưa được làm rõ những sai phạm đó và xử lý nghiêm khắc một số lãnh đạo, chỉ huy Tổng cục 2. Tình hình ấy đang làm cho nhiều đảng viên lo lắng về sự trong sạch vững mạnh của Đảng ta.
Đầu tháng 7/2004, Trung ương sẽ họp lần thứ 10. Tôi thấy cần thiết viết thư gửi Ban chấp hành Trung ương, đồng chí Tổng bí thư, Bộ Chính trị, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương và Ban Bí thư về vấn đề T4 và các vấn đề của Tổng cục 2 vừa qua.
Vụ án T4 là một vụ án chính trị đặc biệt nghiêm trọng. Trước đây, trong kháng chiến chống Mỹ, Cục 2 đã đóng góp nhiều thành tích và có truyền thống tốt đẹp. Nhưng hai chục năm nay, có thể nói, từ khi bị khống chế và tự nguyện thực hiện những âm mưu vu khống, Cục 12 (Tổng cục 2) và các lãnh đạo Tổng cục 2, kể từ vụ Xiêm Riệp (năm 1983) và liên tiếp các vụ sau này, đã phạm những sai lầm rất nghiêm trọng và có hệ thống.
Tôi được các Đại hội Đảng bầu vào Ban Chấp hành Trung ương khoá 5, khoá 6, khoá 7, được Bộ Chính trị chỉ định làm phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị và sau đó được phân công theo dõi một số vấn đề bảo vệ chính trị nội bộ. Với trách nhiệm của mình, tôi được hiểu biết tình hình nói chung và tình hình Đảng bộ Quân đội nói riêng, đã tham gia sự lãnh đạo chung của Đảng và sự lãnh đạo tư tưởng, tổ chức, bảo vệ chính trị nội bộ Đảng Quân đội. Trước hết tôi xin trình bày những đièu tôi đã biết với các đồng chí về Tổng cục 2, vụ T4 và các vụ án khác quan hệ đến Tổng cục 2 để góp phần làm sáng tỏ thêm sự thật và tính chất nguy hại có hệ thống và rất nghiêm trọng của các đồng chí lãnh đạo Tổng cục 2, kể từ khi đồng chí Tư Văn và Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh nắm cương vị lãnh đạo Tổng cục.
I. Vụ Xiêm Riệp năm 1983
Nguyên nhân dẫn đến vụ Xiêm Riệp (năm 1983) là do cục 12 trước thuộc Cục 2 đã dựng tài liệu, chứng cứ không có thật, dựa theo tin địch, vu oan cho nhiều cán bộ bạn, dùng nhục hình, tra tấn, mớm cung, bức cung, gây ra những đau đớn oan ức cả tinh thần và thể xác cho cán bộ bạn, có đồng chí là cán bộ cao cấp của Đảng bạn phải tự sát, gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng. Vụ này, không phải là do một cán bộ (Mạc Lam) mà là từ lãnh đạo của cục 12 (Tư Văn, Vũ Chính). Hồi đó, đồng chí Lê Đức Anh làm trưởng đoàn chuyên gia tại CamPuChia. Do nhiều nguyên nhân, trong đó có ý kiến của đồng chí Lê Đức Anh, nên số cán bộ lãnh đạo của Cục 2 không bị xử lý mà chỉ thi hành kỉ luật đồng chí Mạc Lam, một trợ lý, và tập trung khuyết điểm vào đồng chí Hoá, Tư lệnh phó, Tham mưu trưởng 719 và đồng chí Thanh, Tư lệnh mặt trận 419.
Đến nay, nhiều đồng chí cán bộ cấp cao, các cán bộ tham gia công tác ở CamPuChia vẫn tiếp tục có ý kiến về vụ Xiêm Riệp, cả đối với các đồng chí lãnh đạo cục 2 và đồng chí Lê Đức Anh.
II. Vụ Sáu Sứ năm 1991 (vào cuối khoá 6, trước thềm đại hội VII
Trước Đại hội 7, tâm trạng cán bộ, cả phía Nam và phía Bắc có nhiều lo lắng, băn khoăn về nhân sự cấp cao của Đảng, nhiều cán bộ không vừa lòng một số đồng chí trong Bộ Chính trị Khoá 6. Nhiều ý kiến muốn thay đổi một số Uỷ viên Bộ Chính trị. Trong đó dư luận tập trung không đồng tình đồng chí Lê Đức Anh. Đặc biệt thắc mắc đồng chí Lê Đức Anh mấy điểm :
- Về lý lịch, đồng chí Anh khai xuất thân là công nhân là không đúng
- Về ngày vào Đảng đồng chí Lê Đức Anh khai không đúng.
- Có một trận phục kích quân Pháp, trong đó có tên chủ đồn điền Pháp (đồn điền mà đồng chí Lê Đức Anh làm công chức) đồng chí Lê Đức Anh là người chỉ huy đại đội phục kích, không cho nổ súng. Nhờ đó bọn quân Pháp và cả tên chủ đồn diền (chủ cũ của đồng chí Lê Đức Anh) thoát chết
- Thái độ đối với bà vợ trước, đồng chí Lê Đức Anh có thái độ xử sự không đúng tình nghĩa.
Như đồng chí Trường Chinh (được bầu làm Tổng bí thư sau khi đồng chí Lê Duẩn mất) nói : việc cán bộ trung cao cấp và cả nhân dân quan tâm đến nhân sự cao cấp của Đảng là điều bình thường, nhưng trước tình hình đó, Cục 2 được một sự chỉ đạo nào đó, đã tổ chức, dàn dựng ra vụ Sáu Sứ một cách bài bản, công phu, cấp xe, cấp tiền cho Sáu Sứ ra Hà Nội và trực tiếp chỉ đạo Sáu Sứ gặp một số lãnh đạo, cựu chiến binh, tìm cách khêu gợi và bí mật ghi âm, tất cả 16 cuốn.
Bộ Chính trị khoá 6 tổ chức cho chúng tôi nghe các băng ghi âm đó. Tôi nghe phần nhiều là lời Sáu Sứ và nhiều đoạn ồm ồm không nghe rõ.
Vụ này Cục 2 đã nguỵ tạo tài liệu, dựng chứng cứ giả, nặn thêm tình tiết, làm cho dư luận ngộ nhận là có thật, đánh lừa Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban chấp hành Trung Ương, thực chất là vu khống đồng chí Võ Nguyên Giáp, đồng chí TrầnVăn Trà, để thanh trừng nội bộ, hãm hại đồng chí. Nhiều đồng chí trung thực như đồng chí Nguyễn Đức Tâm, Mai Chí Thọ, Nguyễn Văn Linh, Võ Chí Công, Nguyễn Thanh Bình …và nhiều đồng chí Uỷ viên Trung ương cũng bị những tin tức đó đánh lừa.
Sự vu khống ấy đã dẫn đến sự phân tâm trong Đảng, trong cán bộ Quân đội, ảnh hưởng rất xấu cho đến ngaỳ nay, gây đau khổ, phẫn uất cho nhiều cán bộ cao cấp trong và ngoài Quân đội.
III. Vụ T4 là một vụ án chính trị đặc biệt nghiêm trọng
1) Tổng cục 2 đã làm một việc hết sức nghiêm trọng là bịa đặt ra một tên có bí danh là T4, đặc tình của Tổng cục 2 nằm trong CIA để đưa tin vu khống chính trị nhiều cán bộ lãnh đạo cấp cao và nhiều cán bộ khác của Đảng và Nhà nước với hàng trăm bản tin (không kể báo cáo miệng)
2) Nội dung vu khống chính trị là đưa tin CIA đã nắm được hoặc CIA đã tiếp cận được, đã cho người liên hệ, đã chỉ đạo các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, Lê Khả Phiêu, Mai Chi Thọ, Trương Tân Sang, Võ Trần Chí, Bùi Thiện Ngộ, Trương Vĩnh Trọng, Phạm Gia Khiêm, Võ Thị Thắng, Vũ Quốc Hùng, Nguyễn Khánh Toàn (Thứ trưởng Bộ Công An), Phan Diễn, Lê Văn Dũng, Phan Trung Kiên, Võ Viết Thanh, Đoàn Mạnh Giao.
Vu khống cả một số tướng lĩnh trung thành và kiên cường chiến đấu trong kháng chiến, vu khống cả bản thân tôi.
Các đồng chí đã có các bản tin của Tổng cục 2. Đề nghị các đồng chí đọc kỹ. Đối với tôi (Nguyễn Nam Khánh) và đồng chí Nguyễn Huy Chương, Uỷ viên Trung ương Đảng, đồng chí anh hùng Thượng tướng Nguyễn Chơn, Uỷ viên Trung ương Đảng, bản tin Tổng cục 2 đưa tin lên lãnh đạo cấp cao :
"Từ trung tâm CIA cho hay: Trong mười ngày gần đây vợ chồng Trần Quốc Thuận, Võ thị Thắng đã tạo ra những liên kết trong bộ máy bảo vệ nền chuyên chính vô sản, đã gặp gỡ thân tình với một số cựu chiến binh thủ cựu trong Đảng, đó là Trung tướng Nguyễn Huy Chương, Thượng tướng Nam Khánh, Thượng tướng Nguyễn Chơn. Qua lại ăn cơm vói tướng Khánh, tướng Chơn. Hai người này úy lạo mặt tư tưởng cho tướng Khánh, tướng Chơn, phát động một số phong trào kêu gọi cựu chiến binh Mặt trận cấp tiến. Đồng thời gây sức ép với ông Lê Khả Phiêu về một số đòi hỏi của cựu chiến binh. Nhân dịp kỉ niệm 210 năm ngày Quang Trung đại phá quân Thanh họp bàn bên lề kỉ niệm Quang Trung thành một buổi chất vấn về những yêu sách của cựu chiến binh khu vực miền Trung. Cặp vợ chồng Thuận- Thắng đang đà thuận tiện con đường đi sâu vào nội bộ Quân đội và Tổng bí thư Lê Khả Phiêu qua hai vị tướng này"
(Bản tin ngày 7/2/1999)
Về đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tổng cục 2 đưa tin : (chỉ trích một số).
“Sau Đại hội 8, CIA chỉ đạo nhóm Z (tức là nhóm Giáp) chủ trương xúc tiến vận động cả quan điểm, tư tưởng và tổ chức nhân sự, lợi dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để loại bỏ chủ nghĩa Mác- LêNin, tách tư tưởng Hồ Chí Minh với tư tưởng Mác – LeNin, tạo ra phong trào "dân tộc dân chủ"
(bản tin số 49/96TR ngày 7/7 /1996)
"Ngày 12/7/1997, tại một địa điểm phía Bắc, đại diện CIA Mỹ đã phổ biến chủ trương của Mỹ và Pháp lôi kéo ông Võ Nguyên Giáp
"Hiện nay theo yêu cầu của CIA thì ông Giáp vẫn đang ngấm ngầm hoạt động, nhất là sau khi có thông tin về cuộc gặp riêng giữa ông và Mac Namara trong cuộc hội thảo "Những cơ hội bị bỏ lỡ", Tại cuộc gặp riêng này, mặc dù có phiên dịch tiếng Anh, nhưng hai bên đã không dùng tiếng Anh mà dùng tiếng Pháp (vì Mac Namara cũng biết tiếng Pháp). Mac Namara mời ông Giáp sang Mỹ dự hội thảo về "Sự kiên Vịnh Bắc Bộ " để phân biệt ai đúng ai sai. Ông Giáp đã trả lời: "Thời cơ chưa chín muồi".
CIA phân tích: " ông Giáp còn phải chuẩn bị dư luận dọn đường ở trong nước rồi mới đi Mỹ”
(Bản tin số 167/TR ngày 17 /7/1977)
"Ông Giáp chuẩn bị công bố cho học thuyết của mình (chỉ đạo ông Giàu viết cuốn sách Chủ nghĩa Hồ Chí Minh). Thông qua việc trả lời phóng viên Nhật Bản, ông Giáp đã đưa ra "Chủ nghĩa Xã hội Nhân văn”, kích động tư tưởng về một đợt sóng ngầm, bí mật thành lập "Mặt trận cứu nguy dân tộc"
(Bản tin số 212/97/ TR ngày 10/9/97)
Tổng cục 2 đưa tin về đồng chí Phạm Văn Đồng
“Sáng 05/9/97, Phạm Văn Đồng đã mời một số Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương khoá 4, khoá 5, yêu cầu những người này đứng ra vận động các Uỷ viên Bộ Chính trị, cán bộ đã về hưu chủ yếu là tướng lĩnh Quân đội yêu cầu thay đổi các đồng chí chủ chốt hiện nay.
(Bản tin số 212/97/TR ngày 10/9/97)
Tin về đồng chí Phan Văn Khải
“Thời kỳ Phan Văn Khải làm Chủ Tịch Thành Phố, Charles Đức (là người được tên CIA Nguyễn Ngọc Huy, bí thư Đảng Tân Đại Việt đánh về miền Nam năm 1973 và phong cho làm Trung ương uỷ viên Phong trào Quốc gia Cấp tiến), đã dùng chuyên cơ đưa Phan Văn Khải đi tham quan các nước Đông Nam Á. Khi biết Phan Văn Khải được đề bạt ra Trung Ương, Charles Đức hết lòng cung phụng cho Phan Văn Khải”.
(Bản tin ngày 10/5/1999)
Tin về đồng chí Trương Tấn Sang
"CIA có nguồn tin từ quốc nội cho hay Bộ Chính trị sẽ loại trừ Trương Tấn Sang sau khi ông ta tổ chức thành công lễ kỷ niệm Sài Gòn 300 năm theo chủ nghĩa dân tộc. Hồ sơ của Tư Sang đã được CIA chuẩn bị cho một vị trí lãnh đạo của phe đối lập trong trường hợp ông ta ra khỏi Bộ Chính trị … CIA hy vọng về sự thành công của Tư Sang trong vai trò lãnh đạo phe đối lập …
(Bản tin ngày 25/12/98)
“Nhóm Trương Tấn Sang đang có kế hoạch tác động, móc nối lôi kéo để liên kết ông Ngô Xuân Lộc, Nguyễn Khánh Toàn và một số tướng lĩnh Quân đội và Công an, giao chúng nắm giữ các vị trí quan trọng trong Chính phủ Việt Nam từ địa phương đến Trung ương.
(Bản tin số 497 ngày 24/3/99)
"Các chuyên gia CIA nhận định một cuộc đảo chính có thể xảy ra vào tháng 7, tháng 8/1999 ở Việt Nam. Vai trò chủ chốt là Trương Tấn Sang và Trần Văn Tạo.
"Tư Sang, Tư Tạo tập trung thu phục phái tù Côn Đảo ở Thành phố Hồ Chí Minh. Phái này có khả năng trở thành phe phái hợp pháp đối lập trong Đảng Cộng sản, lấy địa bàn Sài Gòn làm căn cứ".
“Đã có sự liên kết mới giữa Ngô Xuân Lộc, Phạm Gia Khiêm, Nguyễn Khánh Toàn, Đoàn Mạnh Giao, Lê Vân Dũng, Phan Trung Kiên, Nguyễn Văn Rop. Việc đảo chính của phe nhóm này sẽ tập trung vào kỳ họp 2 Quốc hội".
(Bản tin ngày 2/8/1999)
"Tối 06/1/99 có một cuộc họp do Tư Sang tổ chức, tham dự có Võ Trần Chí, ông Đặng (giám đốc sở công nghiệp). Ba Ngộ và một nhân vật bí hiểm … Nội dung cuộc họp: Bàn mọi cách bảo vệ vị trí Bí thư thành uỷ cho ông Sang, bằng mọi cách lôi kéo vây cánh để cô lập ông Lê Khả Phiêu và tiến tới thay ông Lê Khả Phiêu bằng một hội nghị bất thường vì ông Phiêu không ủng hộ Thành uỷ và ông Tư Sang.
“Có một sự mưu tính từ một số phe phái chính trị. Trong Đảng Việt Nam đang mưu tính một cuộc cải cách chính trị, đảo chính chính trị. Có những kế hoạch tuyệt mật trên cơ sỏ báo cáo của Quốc nội do CIA gửi Văn phòng An ninh, Tổng thống. Phe phái chính trị này dự tính sẽ lôi kéo cả ông Lê Khả Phiêu và Phan Văn Khải đứng về phía họ …Lúc bấy giờ Phan Văn Khải và Lê Khả Phiêu cũng phải theo họ vì không còn con đường nào khác. CIA đã chỉ đạo sẽ thực hiện kế hoạch.
(Bản tin số 223 ngày 19/1/98)
Tin về đồng chí Võ Viết Thanh
“Nguồn tin từ trong đội ngũ cấp cao cho hay ông Võ Viết Thanh đang thông qua một số nhân vật trung gian thân Mỹ để móc nối xin tị nạn chính trị trong sứ quán Mỹ hoặc đi ra nước ngoài".
(Bản tin ngày 7/2/1999)
Tin về đồng chí Năm Xuân (Mai Chí Thọ)
"Charles Rey, Tổng lãnh sự Mỹ ở Thành Phố Hồ Chí Minh đến nhà riêng gặp anh Năm Xuân.
Đây cũng là một hiện tượng không bình thường, ta chưa rõ nội dung cuộc gặp này. Những vụ án ta gọi là kinh tế, đàng sau đều có dính đến chính trị”.
(Bản tin ngày 5/10/1999)
Từ vụ Sáu Sứ, Cục 2 (hồi đó cục 2 chưa được mang tên là Tổng cục 2) đã có báo cáo "Cảnh báo nhóm Mai Chí Thọ sẽ tiến hành đảo chính"
Tin về đồng chí Võ Thị Thắng
“Nhằm áp đảo những người tố cáo mình, bà Võ Thị Thắng đã tìm cách kết thân với nhiều cán bộ chủ chốt ngành Công An, Nội Chính, Kiểm tra Đảng, Bảo vệ Chính trị Nội bộ.
Bà Thắng là người tình của Nguyễn Khánh Toàn, thứ trưởng Bộ Công An.
(Bản tin số 218 ngày 21/1/1999)
"T4 tiết lộ Võ Thị Thắng trước đây đã được Phủ Đặc uỷ tháo răng hàm trên (răng cửa) để thay vào đó răng giả đặc biệt được sử dụng khi cảm thấy hiểm nguy, có thể cắn vỡ răng này sau khi dùng lưỡi đẩy rơi ra, là một liều thuốc độc cực mạnh có thể giúp các điệp viên tự sát. "
(Bản tin ngày 21/3/1999)
Tin về đồng chí Vũ Quốc Hùng
“CIA đã cho ngươi móc nối Vũ Quốc Hùng vì thấy Vũ Quốc Hùng là Uỷ viên Trung ương Đảng, có thể được Nguyễn Văn An và một số lão thành giới thiệu vào Bộ Chính trị".
"Hùng đã cho người có quan hệ với CIA biết tin : Phương án định đồng chí Lê Khả Phieu làm Tổng bí thư là không còn, thay vào đó chắc chắn là Nguyễn Văn An (CIA đã nắm được tin này)"
(Bản tin số 351/97/TR ngày 17/12/1997)
Tin về đồng chí Phan Diễn
"Phan Diễn có quan hệ phức tạp với một số người Hoa trong nhóm tình báo Trung Quốc. Đề nghị lãnh đạo thận trọng".
(Bản tin số 351/97/TR ngày 17/12/1997)
Tin về đồng chí Nông Đức Mạnh
“Có tin đồn đồng chí Nông Đức Mạnh kết nghĩa với Minh Phụng. Tăng Minh phụng đã từng phục vụ cho đồng chí Mạnh và khi y bị bắt, đồng chí Mạnh tỏ ra không đồng tình. "
(Bản tin số 352/97/TR ngày 17/12/1997)
Tin về đồng chí Nguyễn Minh Triết
“Đồng chí Triét vẫn tỏ ra tin tưởng Trần Bạch Dằng. Đồng chí Triét nói : anh Trần Bạch Đằng là Thủ trưởng của tôi mà còn bị nghi ngờ. "
(Bản tin số 351/97/TR ngày 17/12/97)
Tin về đông chí Trần Tiến Cung (Thiếu tướng Tổng cục phó Tổng cục 2)
"Trần Tiến Cung cũng là người quan hệ chặt chẽ với nhóm cơ hội chính trị xét lại"
(Báo cáo số 1500/20/CB của Tổng cục 2)
Bản tin riêng về địch móc nối vào Viện 108
“Ý đồ của CIA chống phá ta qua ngành y tế rất thâm độc và nguy hiểm. Chúng đã sớm móc nối vào viện 108, CIA đã móc nối được một số giáo sư, và giao cho “ Mặt trận dân chủ cấp tiến” chỉ đạo nhóm này. Đặc biệt là khi chủ tịch Lê Đức Anh bị ốm, CIA đã chỉ đạo Mặt trận dân chủ cấp tiến ráo riết hoạt động chỉ đạo chặt chẽ lực lượng của chúng tại viện 108 trong quá trình điều trị cho chủ tịch Lê Đức Anh. Đáng chú ý gần đây, phát hiện được Phạm Song (nguyên Bộ trưởng Y Tế) có quan hệ với lực lượng cấp tiến. Tuần qua, hai lần Phạm Song gặp một tên trong ban lãnh đạo Mặt trận cấp tiến, tên này là bác sỹ lâu năm và là người của Giáp, y đang trực tiếp chỉ đạo lực lượng của Mặt trận dân chủ cấp tiến tại viện 108 trong việc điều trị cho chủ tịch Lê Đức Anh. Gần đây phát hiện chúng đã đặt thiết bị nghe trộm. Ngay trong xe của chủ tịch Lê Đức Anh đã có dấu hiệu đặt thiết bị nghe trộm.
(Bản tin số 185/96/TR ngày 30/12/96)
*
Các vấn đề của Tổng cục 2 còn nhiều như tổ chức thu thập tài liệu và theo dõi cán bộ cao cấp, tổ chức cơ sở làm tài liệu giả, vu cáo nhiều đồng chí, trước đây hoạt động cách mạng, là đã làm tay sai cho địch. Nguyễn Quang Vịnh (người của Tổng cục 2) đã bán kế hoạch phòng thủ bầu trời cho nước ngoài. Kế (người của Tổng cục 2) làm parabol để thu tiền bất hợp pháp; gian lận trong thuế giá trị gia tăng. Người của Tổng cục 2 còn đưa lên mạng Internet nói xấu cán bộ lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Đặc biệt, Tổng cục 2 đã sử dụng một số người phức tạp, cài cắm người vào các cơ quan Đảng, Nhà nước để lấy tin, tung tin, bịa đặt, lừa dối Đảng v. v… Cán bộ tình báo quân sự còn cấp giấy chứng minh quân báo cho tay chân Năm Cam hoạt động, và liên hệ chặt chẽ với tay chân Năm Cam (báo chí đã đưa tin nhưng bị ém).
Khó mà tưởng tượng được những hành động phạm pháp nghiêm trọng ấy lại diễn ra trong một cơ quan làm nhiệm vụ tình báo quân sự cấp chiến lược. Cơ quan tình báo mà lại bịa ra một cơ sở đặc tình “ma” để lừa dối, vu khống chính trị cán bộ cấp cao từ Tổng bí thư, uỷ viên Bộ Chính trị, Thủ tướng, Đại tướng, Thượng tướng, uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng … là phạm tội ngang với tội phản bội Tổ Quốc, phản bội Đảng. Qua những vụ việc nêu trên, những người lãnh đạo Tổng cục 2 như Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh, đã phản bội truyền thống tốt đẹp của tình báo quân đội trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Không thể viện lý do trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Tổng cục 2 có đóng góp và truyền thông tốt đẹp mà giảm tội cho Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh, những người đã bịa ra cơ sở đặc tình "ma" T4 và các vụ sai phạm khác.
Những bản tin mà Tổng cục 2 đưa ra là nhằm vu khống chính trị, lừa dối, chia rẽ nội bộ Đảng, phá hoại Đảng, Nhà nước và quân đội, gây sự phân tâm, lũng đoạn tinh thần cán bộ đảng viên và nhân dân, vi phạm nghiêm trọng pháp luật, nguyên tắc kỷ luật đảng, tạo ra oan trái và đau khổ cho nhiều đồng chí. Với những bản tin đó mà tôi không thể trích dẫn hết, đã buộc cấp lãnh đạo cao nhất điều tra, thẩm tra, ít nhất là 10 vụ gây ra rất nhiều phức tạp.
Đó là hành động phá hoại đảng, phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa, phá hoại Tổ Quốc. Đó không phải là chuyện riêng nội bộ Tổng cục 2, nội bộ Bộ quốc phòng. Đó là vấn đề của toàn Đảng, của pháp luật, của chế độ xã hội chủ nghĩa, liên quan đến an ninh của Tổ Quốc, đến đại đoàn kết dân tộc. Đó chính là nguy cơ làm mất sự ổn định chính trị, đã gây hậu quả nghiêm trọng, và nếu không kiên quyết xử lý thì sẽ dẫn đến mất ổn định chính trị ngày càng tăng, như một ung nhọt làm tan rã Đảng và chế độ.
Còn nói rằng CIA đang tập trung đánh vào Tổng cục 2, cho nên cần giảm tội là một luận điệu nhằm bao che cho Tổng cục 2. Không thể đồng tình với luận điểm đó, và đó cũng là thủ đoạn của Tổng cục 2 đã làm trước đây khi bắt đầu phát hiện ra vụ T4. Luận điệu nói rằng công an đánh vào Tổng cục 2 cũng là luận điệu giả dối. Rõ ràng, tính chất của vụ T4 là thuộc là thuộc về động cơ và quan điểm chính trị sai lầm, chứ không phải chỉ có thiếu xót trong công tác quản lý giáo dục cán bộ, nhân viên. Do đó, nếu chỉ thi hành kỷ luật ở mức cảnh cáo là không đúng.
IV. Nghị định 96/CP và sự lộng quyền của Tổng cục 2.
Trước đây Cục 2 là một cục tình báo quân sự. Sau cuộc " lập công" đầy tội ác với vụ Sáu Sứ và sau những tin giật gân, bịa đặt do cục 2 đưa ra để tự đề cao và để bày tỏ Cục 2 là "người trung thành bảo vệ lãnh đạo nhất”. Một đồng chí lãnh đạo cấp cao khoá 7 nói: ”Công an chả nắm được gì, chỉ có Cục 2 là nắm được tình hình". Lãnh đạo Cục 2 kiến nghị nâng Cục 2 thành Tổng cục 2., Do nhiều thủ thuật khôn khéo, pháp lệnh tình báo của thường vụ quốc hội ra đời. Tiếp đó là nghị định 96/CP của chính phủ. Trong khoá 7, đồng chí Lê Đức Anh được bầu vào Bộ Chính trị và sau đó được bầu làm Chủ tịch nước, phụ trách cả An ninh, Quốc phòng và Đối ngoại. Về lãnh đạo quân đội, lúc đầu có ý kiến đề xuất đồng chí Lê Đức Anh làm bí thư Đảng uỷ quân sự Trung ương. Nhưng Tổng cục Chính trị không đồng ý, vì không đúng với cơ chế Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành. Do đó, đồng chí Lê Đức Anh lãnh chức Phó bí thư thứ nhất Đảng uỷ quân sự trung ương. Đồng chí Đoàn Khuê, Bộ trưởng quốc phòng làm phó bí thư. Đồng chí Đỗ Mười, theo cơ chế, làm bí thư Đảng uỷ quân sự trung ương, nhưng trên thực tế, mọi việc chỉ đạo chung và cả điều hành cụ thể công tác quân sự, quốc phòng là đồng chí Lê Đức Anh. Được sự chỉ đạo của đồng chí Lê Đức Anh, chủ tịch nước, phó bí thư thứ nhất Đảng uỷ quân sự trung ương, Pháp lệnh tình báo và nghị định 96/CP đã được soạn thảo và chuyển qua quốc hội và chính phủ. Pháp lệnh tình báo do đồng chí Nông Đức Mạnh, thay mặt Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ký ngày 14/12/96. Nghị định 96/ CP do thủ tướng Võ Văn Kiệt ký ngày 11/9/1997. Đồng chí Võ Văn Kiệt sau này có nói: "Tôi suy nghĩ mãi hơn 6 tháng mới ký nghị định 96/ CP ".
Khoá 7, tôi là uỷ viên trung ương, uỷ viên Đảng uỷ quân sự trung ương, mà hoàn toàn không được biết về nghị định 96/ CP. Tôi và nhiều đồng chí thông cảm với đồng chí Võ Văn Kiệt. Có lẽ đồng chí Võ Văn Kiệt cũng cảm nhận một số điều không đúng của nghị định 96/ CP, nghị định về tình báo Quốc Phòng, cho nên đồng chí Võ Văn Kiệt thật sự có đắn đo. Tôi cũng thông cảm với đồng chí Nông Đức Mạnh, lúc đó là Chủ tịch quốc hội. Dưới đây, tôi trình bày một số ý kiến về pháp lệnh tình báo và nghị định 96/CP về tình báo quốc phòng, chủ yếu là về nghị định 96/CP :
Điều 2, chương 1 của pháp lệnh tình báo xác định:
"Lực lượng tình báo Việt nam là một trong những lực lượng trọng yếu, tin cậy của Đảng và nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của chủ tịch nước, sự quản lý thống nhất của Chính phủ (gọi tắt là lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước)
Điều 14, chương III quy định:
"Thủ trưởng tình báo thuộc quốc phòng trực tiếp điều hành công tác của lực lượng Tình báo Bộ Quốc phòng, chịu trách nhiệm trước Bộ quốc phòng và lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước về mọi mặt trong lĩnh vực công tác của lực lượng tình báo trực thuộc"
Còn nghị định 96/CP của Thủ tướng chính phủ ở điều I chương I ghi rõ:
"Lực lượng tình báo thuộc Bộ quốc phòng là lực lượng chuyên trách về công tác tình báo chiến lược hoạt động trên các lĩnh vực tình báo chính trị, quốc phòng, An ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ môi trường, văn hoá xã hội, thu thập và xử lý tin liên quan đến lợi ích quan trọng, sống còn của CHXHCNVN, góp phần tham mưu cho Đảng và Nhà nước hoạch định đường lối, sách lược đối nội, đối ngoại và các chủ trương, kế hoạch, biện pháp, quyết sách để thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược …”
Điều 11, chương 2 của nghị định 96/CP xác định:
“Đối tượng và mục tiêu của lực lượng tình báo thuộc Bộ quốc phòng là những nơi có tin tức, tài liệu liên quan đến Nước CHXHCNVN. Trong đó đặc biệt chú ý đến các quốc gia, tổ chức và các cá nhân ở trong nước và ngoài nước có âm mưu hoạt động, đe doạ chống lại Đảng CSVN, Nhà Nước CHXHCNVN"
Điều 11, chương 2 của nghị định 96/CP lại giao nhiệm vụ và các quyền hạn:
"Tổng cục Tình báo thuộc Bộ Quốc phòng trình lên thường vụ Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhiệm vụ và kế hoạch trọng yếu dài hạn và hàng năm của công tác tình báo chiến lược"
Điều 15, chương 2:
"Tổng cục tình báo thuộc Bộ Quốc phòng được biệt phái cán bộ đến các cơ quan Nhà nước và các tổ chức chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, khoa học kỹ thuật ở trong nước, và ngoài nước có liên quan để thực hiện nhiệm vụ tình báo"
Điều 18, chương 2:
"Tổng cục tình báo thuộc Bộ Quốc phòng được thiết lập kênh thông tin liên lạc đặc biệt với lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước"
Điều 20, chương 2:
"Tổng cục tình báo được sử dụng các biện pháp tình báo, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí và công cụ phục vụ cho nhiệm vụ đặc biệt của tình báo"
Điều 21, chương 2:
"Tổng cục tình báo thuộc Bộ Quốc phòng trong trường hợp cần thiết được sử dụng danh nghĩa và phương tiện làm việc, con dấu hoặc các giấy tờ giao dịch của các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, …"
Trong việc quy định các mối quan hệ, tuy có nói về mối quan hệ chỉ huy của Bộ Quốc phòng với Tổng cục tình báo, nhưng điều 30 chương 4 lại nói:
"Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có trách nhiệm giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với lực lượng tình báo thuộc Bộ Quốc phòng"
Điều 30, chương 4:
"Tổng cục trưởng Tổng cục tình báo chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và lãnh đạo cấp cao của Đảng và nhà nước về mọi lĩnh vực công tác của lực lượng tình báo thuộc Bộ Quốc phòng"
Còn về tài chính, ngân sách thì như thế nào ?
Điều 8, chương I quy định:
"Kinh phí đặc biệt ngoài ngân sách Quốc phòng do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đề nghị Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và Bộ tài chính cấp trực tiếp cho Tổng cục tình báo thuộc Bộ Quốc phòng"
Qua nội dung của nghị định 96/CP có thể nhận ra điều gì ?
Trong cơ chế nước ta, ai cũng hiểu pháp lệnh thường không phải do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội soạn thảo. Nghị định cũng thường không phải do Văn phòng Thủ tướng soạn thảo mà do "cơ quan chủ quản" đề tài ấy soạn ra.
Nhưng kẻ soạn ra pháp lệnh Tình báo và Nghị định 96/CP đã khéo léo, bắt đầu từ chỗ xác định "Lực lượng tình báo Việt nam là một trong những lực lượng trọng yếu, tin cậy của Đảng và nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của chủ tịch nước, sự quản lý thống nhất của Chính phủ (gọi tắt là lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước)
Xác định như vậy nghe ra thì rất lập trường, đề cao sự lãnh đạo tuyệt đối, tập trung, thống nhất về mọi mặt của Đảng. Nhưng giả định nếu ta đưa ra một khái niệm tương tự : “Lực lượng hậu cần kỹ thuật (hoặc lực lượng pháo binh, lực lượng phòng không khong quân…) đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của chủ tịch nước, sự quản lý thống nhất của Chính phủ” thì nghe có được không ?
Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam nói chung đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của chủ tịch nước, sự quản lý thống nhất của Chính phủ là hoàn toàn đúng. Thế nhưng lực lượng vũ trang nhân dân nói chung và từng bộ phận của lực lượng ấy là hai chủ thể khác nhau trước luật pháp. Tổng cục 2 là một bộ phận của Quân đội nhân dân, nhưng nó không phải là toàn thể Quân đội nhân dân. Quân đội nhân dân Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự quản lý thống nhất của Chính phủ, nhưng khi xác định cơ chế và các mối quan hệ lãnh đạo chỉ huy, của từng bộ phận của Quân đội nhân dân, thì xác định như vậy là không đúng, không chuẩn, không rõ ràng. Những kẻ soạn thảo đã cố tình đưa ra một khái niệm lẫn lộn, đánh đồng Bộ Quốc phòng và Tổng cục tình báo, đánh đồng sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ đối với Bộ quốc phòng và Tông cục tình báo. Sự pháp quy đó đã bị lợi dụng dẫn đến một sự hiểu lầm: “Tổng cục tình báo cũng đứng dưới sự lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp về mọi mặt của lãnh đạo cấp cao, ngang hàng với Bộ quốc phòng". Đó là một kẽ hở rất lớn dẫn đến sự lộng quyền.
Để cụ thể hoá pháp lệnh tình báo, những người soạn thảo đã đưa vào nghị định của Thủ tướng Chính phủ những quyền hạn rất rộng cho Tổng cục tình báo Bộ quốc phòng, đặc biệt là ở điều I chương 1.
An ninh Quốc gia là một lĩnh vực rộng lớn và tổng hợp, cho nên công tác tình báo để đảm bảo an ninh quốc gia ở bất kỳ nước nào cũng có nội dung rộng lớn bao gồm toàn diện các lĩnh vực: tình báo chính trị, tình báo tài chính, tình báo thương mại, tình báo khoa học công nghệ, tình báo thông tin, tình báo văn hoá, tình báo ngoại giao, tình báo bảo đảm an ninh nội bộ, công tác phản gián và sử dụng các hình thức tình báo để thực hiện từng nhiệm vụ cụ thể.
Để thực hiện nhiệm vụ tình báo chiến lược tổng hợp đó, mỗi cơ quan, mỗi ngành có chức năng, nhiệm vụ, đối tượng cụ thể, và riêng của mình. Nhưng điều 1 Chương I xác định:
"Lực lượng tình báo thuộc Bộ quốc phòng là lực lượng chuyên trách về công tác tình báo chiến lược hoạt động trên các lĩnh vực tình báo chính trị, quốc phòng, An ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ môi trường, văn hoá xã hội …" là không đúng. Tình báo Bộ quốc phòng làm nhiệm vụ tình báo quân sự, thực hiện các công tác tình báo để đảm bảo các nhiệm vụ của Bộ quốc phòng. Đương nhiên nhiệm vụ Bộ quốc phòng có liên quan đến các ngành, các lĩnh vực, nhưng tình báo Bộ quốc phòng không phải là toàn bộ các công tác An ninh Quốc gia.
Tình báo quân sự cần có sự kết hợp chặt chẽ với tình báo các lĩnh vực khác, nhưng nó không được bao trùm, nằm lên trên, ôm đồm, mở rộng ra toàn diện các lĩnh vực. Nó chỉ là và phải là một lực lượng Tình báo chiến lược chuyên trách về quân sự và các nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng. Xin nhấn mạnh chữ một. Phải xác định đúng khung phạm vi chức năng nhiệm vụ của nó.
Từ nhiệm vụ quá rộng bao trùm lên toàn diện các lĩnh vực, cho nên điều 11, chương 2 xác định đối tượng của Tình báo quân sự không chặt chẽ:
"Đối tượng và mục tiêu của lực lượng Tình báo thuộc Bộ Quốc phòng là những nơi có tin tức, có tài liệu liên quan đến nước CHXHCNVN, trong đó đặc biệt chú ý đén các Quốc gia, tổ chức và cá nhân ở trong nước và ngoài nước có âm mưu hoạt đông đe doạ, chống lại Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà Nước CHXHCNVN". Với điều 11, chương 2 đó thì những nơi mà Tổng cục 2 cho rằng có tin tức, tài liệu liên quan đến nước CHXHCNVN và "đặc biệt chú ý đến các tổ chức và cá nhân trong nước hoạt động đe doạ chống lại Đảng, Nhà Nước" là Tổng cục có quyền sục vào, có quyền đưa tin, có quyền gài người vào tất cả các địa phương (không trừ huyện nào, tỉnh nào, không trừ một cơ quan nào của Đảng, Nhà Nước, các tổ chức chính trị, xã hội, văn hoá, kinh tế, v. v., như Tổng cục 2 đã làm lâu nay.
Cũng từ đó Nghị định 96/CP quy định "Tổng cục Tình báo thuộc Bộ Quốc phòng trình lên Thường vụ Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng nhiệm vụ và các kế hoạch trọng yếu dài hạn và hàng năm của công tác Tình báo chiến lược".
Xin lưu ý: cụm từ "của công tác tình báo chiến lược" nghĩa là công tác Tình báo chiến lược nói chung bao trùm. Thế Bộ Công An làm gì ? Thế Đảng uỷ quân sự Trung ương làm gì? Đề ra như thế là cho Tổng cục 2 qua mặt cả Đảng uỷ quân sự Trung ương, lên trên cả bộ Công An.
Hơn nữa, Nghị định 96/CP xác định: "Tổng cục Tình báo Bộ Quốc phòng dược thiết lập kênh thông tin liên lạc với lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà Nước. " "Tổng cục Tình báo thuộc Bộ Quốc phòng trong trường hợp cần thiết được sử dụng danh nghĩa và phương tiện làm việc, con dấu các giấy tờ giao dịch của cơ quan Nhà Nước, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội …"
Ngân sách Quốc phòng được Nhà Nước giao cho Bộ Quốc phòng mà Tổng cục 2 là một cơ quan trực thuộc Bộ Quốc phòng. VậyTổng cục 2 có nhiệm vụ gì đặc biệt ngoài Quốc phòng mà Bộ trưởng Quốc phòng phải đề nghị Thủ tướng phê duyệt và Bộ Tài chính trực tiếp cấp? Điều 20, chương 14 và nhiều điều khác đã để lộ ý định của người soạn thảo đưa ra pháp l?nh này là : Biến Tổng cục 2 thành một cơ quan Tình báo (như kiểu CIA của Mỹ), trùm lên cả cơ quan Tình báo của Bộ Công An, Ban bảo vệ chính trị nội bộ, Cục bảo vệ, Tổng cục chính trị, làm cả đối ngoại và nội bộ.
Công tác bảo vệ nội bộ là do Ban bảo vệ chính trị phụ trách. Công tác An ninh bao gồm cả công tác phản gián phải tập trung vào Bộ Công An, tất nhiên có sự kết hợp giữa thế trận An ninh nhân dân và thế trận Quốc phòng toàn dân. Nhưng không thể tập trung quyền hạn vào Tổng cục 2, để Tổng cục 2 bao trùm lên trên.
Lợi dụng Nghị định 96/CP, Tổng cục 2 đã có sự lộng quỳên nghiêm trọng, sự thao túng nghiêm trọng, phá hoại dân chủ và phá hoại đoàn kết nôi bộ, gây chia rẽ và bè phái rất nghiêm trọng trong Đảng. Tổng cục 2 muốn vu khống ai thì vu khống, muốn trừng trị ai thì bày chuyện trừng trị, muốn gài người vào cơ quan nào thì gài, tổ chức kinh doanh tràn lan, lạm dụng các hoạt động gọi là Tình báo để tiêu tiền, thậm chí tạo ra " cơ sở đặc tình" không có thật để tiêu tiền ("tiền cho T4 mà", ít nhất là 81. 000 đô la, đó là mới phát hiện, còn chưa kể kiểm tra hết được).
Qua việc nắm tình hình khi tôi làm nhiệm vụ, tôi thấy mấy điểm:
Quyền hạn Tổng cục 2 quá rộng.
Người Tổng cục 2 sử dụng có cả bọn xấu và có cả các phần tử địch xen vào.
Nguyên tắc, thủ đoạn, nề nếp làm việc không đúng quy chế, quy định, tin từc không có phối kiểm, đưa gửi tràn lan. Trong công tác Đảng uỷ thì không thực hiện đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể. Thủ trưởng Tổng cục độc đoán, chuyên quyền.
Người của Tổng cục 2 cũng đưa lên mạng nói xấu lãnh đạo Đảng.
Tài chính bất minh.
Vì vậy tôi đề nghị :
- Phải kiểm tra toàn diện Tổng cục 2 cả về chức năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động, nề nếp làm việc, hệ lực lượng bao gồm lực lượng cài cắm ở các cơ quan và tài chính.
- Chấm dứt việc cài người của Tổng cục 2 vào các cơ quan Đảng, Nhà Nước.
- Phải thật sự chấn chỉnh Tổng cục 2 cả tổ chức, cán bộ, lực lượng, nguyên tắc làm việc, cả chính quyền và Đảng, tài chính, cơ sở vật chất. Không thể để lại ở Tổng cục 2 những cán bộ lãnh đạo vu khống chính trị đã thoái hoá biến chất.
- Quốc hội và Chính phủ phải xem xét lại pháp lệnh Tình báo và nghị định 96/CP, sửa đổi hoặc huỷ Nghị định 96/CP.
Cuối cùng, tôi xin nhắc lại: Đây là một vụ án chính trị cực kỳ nghiêm trọng, còn nghiêm trọng hơn gấp nhiều lần vụ Năm Cam, Lã Thị Kim Oanh, liên quan đến mất còn của chế độ XHCN và Tổ Quốc, đến sinh mệnh chính trị, uy tín, hạnh phúc của rất nhiều đồng chí, cả những đồng chí lão thành.
Là một đồng chí được tham gia sự lãnh đạo của Đảng 15 năm, tham gia lãnh đạo công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội hơn 20 năm, tôi yêu cầu:
Đồng chí Tổng bí thư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban kiểm tra Trung ương, Ban chỉ đạo liên ngành phải tiếp tục làm sâu hơn, kỹ hơn, đến nơi đến chốn tính chất nghiêm trọng của vụ T4, vụ Sáu Sứ, vụ đồng chí Võ Viết Thanh và các vụ liên quan
Thông báo cho các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ ban kiểm tra và các đồng chí Trung ương các khoá. Vì vụ này, kể từ vụ Sáu Sứ đã diễn ra từ khoá 6. Khoá 6 đã bàn giao cho khoá 7, khoá 8 đã bàn giao cho khoá 9.
Báo cáo với Ban Chấp hành Trung ương khoá 9 vụ Sáu Sứ, T4, và các vấn đề của Tổng cục 2. Hồi còn tham gia Trung ương, có lần tôi đã phát biểu : Bộ Chính trị không được phép đặt mình cao hơn Trung ương. Mọi việc quan trọng trong Đảng đều phải báo cáo với Trung ương để Trung ương thực hiện quyền hạn và chịu trách nhiệm trước toàn Đảng. Ban Chấp hành Trung ương là cơ quan lãnh đạo cao nhất giữa hai kỳ Đại hội.
Vấn đề này là vấn đề của chế độ, của Tổ Quốc, của dân tộc, của Nhà Nước. Phải xử lý đúng pháp luật của Nhà Nước, đúng theo tinh thần mà các hội nghị Trung ương đã xác định: Đối với pháp luật thì không trừ một ai, dù người đó ở cương vị gì. Không được xử lý nội bộ những việc liên quan đến pháp luật. Nói đi đôi với làm.
Chúng tôi thấy có hiện tượng bao che, ngăn cản làm rõ sự thật, bao che, ngăn cản việc xử lý nghiêm minh các vụ vu khống chính trị do Tổng cục 2 thực hiện, từ vụ Sáu Sứ vu khống đồng chí Võ Nguyên Giáp, đồng chí Trần Văn Trà, vụ vu khống chính trị đòng chí Trương Tấn Sang, đồng chí Nguyễn Khánh Toàn, đồng chí Phan Văn Khải, Phan Diễn, Trương Vinh Trọng, Võ Trần Chí, Bùi Thiện Ngộ, Phạm Văn Đồng, Trần Tiến Cung, đồng chí Nguyễn Văn Thắng, thường vụ Quận 6 Thành phố Hồ Chí Minh, vụ vu khống đồng chí Võ Thị Thắng, vụ vu khống đồng chí Phạm Chánh Trực, Lê Văn Dũng, Lê Khả Phiêu, Phan Trung Kiên vv..., các vụ tung tin về đồng chí Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn An, Trần Đức Lương, Mai Chí Thọ, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Phạm Gia Khiêm, Nguyễn Huy Chương, Nguyễn Chơn, Nguyễn Nam Khánh, Tô Ký, Đồng Văn Cống. vv., các vụ làm tài liệu giả khác, vụ quân báo liên quan đến bè lũ Năm Cam.
Không phải chỉ dừng lại ở chỗ minh oan.
Căn cứ vào luật pháp, điều lệ, nguyên tắc Đảng, quyền dân chủ và quyên kiểm tra của đảng viên tôi yêu cầu phải làm rõ tính chất của tội phạm trừng trị nghiêm khắc cả những kẻ phạm tội và những kẻ bao che ngăn cản bất kể người đó là ai.
Tôi nghĩ rằng nếu đồng chí Tổng bí thư, Nguyên Tổng bí thư, các Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ ban kiểm tra, Uỷ viên Đảng uỷ quân sự Trung ương, các đồng chí nguyên cố vấn, đã biết các vụ này mà muốn cho qua, làm chiếu lệ cũng là bao che, ngăn cản, nói mà không làm.
Không được viện cớ giữ ổn định mà không kiên quyết làm. Những vụ án vu khống chính trị do Tổng cục 2 gây nên đã làm mất ổn định chính trị, tạo ra nguy cơ tan rã đảng và mất độc lập chủ quyền, mất chế độ xã hội chủ nghĩa. Phải kiên quyết làm rõ và xử lý nghiêm minh thì mới củng cố và giữ vững ổn định. Nếu không, chính là càng cho mất ổn định thêm. Hiện nay đã có ý kiến cho rằng vin cớ giữ ổn định để không kiên quyết làm tức là bao che ngăn cản.
Xin cảm ơn. Xin chúc các đồng chí Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban kiểm tra sức khỏe.
Xin chúc Trung ương và các đồng chí làm đúng pháp luật, điều lệ và các nghị quyết của Đảng, thực sự lắng nghe ý kiến của đảng viên nói chung và các cán bộ hiểu biết có liên quan.
Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Trang liên hệ
· Đọc thêm về Hồ sơ Đảng Cộng Sản VN
Bài được đọc nhiều nhất trong Hồ sơ Đảng Cộng Sản VN:
Tướng Nguyễn Nam Khánh bị khai trừ?
Lựa chọn
Trang in Trang in
Gởi đến cho bạn bè Gởi đến cho bạn bè
22/12/10
21/12/10
Ham cầm quyền quên giữ nước (Phạm Trần)
“…Ngay cả khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã tự nó làm nhục chế độ khi trong thực tế người dân không có quyền gì cả …”
Ham cầm quyền quên giữ nước
Đã có nằm vùng của Bắc Kinh trong Đảng?
Phạm Trần
Trong 80 năm hiện diện trên đất Việt Nam, chưa bao giờ Đảng Cộng Sản phải lo giữ quyền lực bằng thời gian tổ chức Đại hội Đảng XI sắp diễn ra vào tháng 01 năm 2011, nhưng càng ham nắm quyền Đảng càng quên giữ nước để không rơi vào tay Trung Cộng.
Từ xưa đến nay Đảng CSVN thường rêu rao “đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, nhưng thực tế dân chỉ có thể làm chủ được bản thân mình.
Hãy đọc bài viết của ông Nguyễn Văn An, nguyên Chủ tịch Quốc hội, về vần đề này:
“Tư tưởng của Bác Hồ là tư tưởng lấy dân là gốc, dân là chủ. Đảng không thể đòi hỏi Mặt Trận (Tổ quốc), đòi hỏi dân phải thừa nhận quyền lãnh đạo của mình mà phải qua hoạt động thực tiễn, phải được Mặt Trận và nhân dân suy tôn, lựa chọn. Lựa chọn đây là lựa chọn cương lĩnh và người đứng đầu đất nước thông qua tổng tuyển cử”.(Báo Tuần Việt Nam, 06/12/2010)
Dân suy tôn và lựa chọn bằng cách nào? Dân suy tôn và lựa chọn cương lĩnh phát triển của Đảng, lựa chọn người đứng đầu Đảng trở thành người đứng đầu đất nước thông qua tổng tuyển cử. Bây giờ cương lĩnh của Đảng chưa được dân lựa chọn, chưa được dân bỏ phiếu, người đứng đầu Đảng chưa sang ứng cử chức danh người đứng đầu đất nước. Dân chưa được lựa chọn như vậy cho nên dân chưa được làm chủ thật sự.
Nếu Đảng coi mình đương nhiên là lực lượng lãnh đạo thì chẳng khác gì nhà vua cha truyền con nối. Từ một nhà vua cá nhân thời quân chủ, nay trở thành một nhà vua tập thể thời cộng hòa xã hội chủ nghĩa. Như vậy là Đảng chủ chứ không phải dân chủ.”
Tuy ông Nguyễn Văn An chưa đòi Đảng phải rút lui, nhưng nguyên việc đòi người đứng đầu đất nước phải được dân bầu lên mới là dân chủ cũng rất mới so với thời ông Nguyễn Văn An còn làm Chủ tịch Quốc hội từ ngày 27/06/2001 đến ngày 26/06/2006.
Nhưng nếu ông Nguyễn Văn An chỉ muốn dân chủ trong Đảng mà không đòi cho dân được quyền làm chủ đất nước, tự quyết định lấy thể chế chính trị cho mình và để nguyên Đảng lãnh đạo độc quyền như hiện nay thì cũng bằng không. Như vậy, phải chăng ông Nguyễn Văn An muốn cứu Đảng đang “tứ đầu thọ địch” từ ngay trong lòng chế độ thay vì từ các “thế lực thù địch” và “diễn biến hòa bình” của đế quốc như Đảng đang tuyên truyền và ra sức phản công trên mặt trận tư tưởng?
Đảng lãnh đạo là ai?
Đáng chú ý là bài viết của ông Nguyễn Văn An, coi như vượt ra ngoài vòng kiềm tỏa của Đảng, được phổ biến vào lúc có nhiều “chuyên viên tư tưởng, tuyên truyền” của Đảng và quân đội được sử dụng viết bài bảo vệ quyền lãnh đạo cho Đảng.
Chẳng hạn như ông Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch Sử Đảng đã viết bài “Bối cảnh xác lập vai trò và vị trí lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam” trên báo điện tử của đảng ngày 29/11/2010.
Ông Nguyễn Trọng Phúc viết:
“Đường lối đổi mới và Cương lĩnh 1991 của Đảng đã đưa sự nghiệp đổi mới - cuộc canh tân vĩ đại trong lịch sử dân tộc không ngừng phát triển, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đảng Cộng sản Việt Nam một lần nữa thể hiện trách nhiệm lớn lao trước dân tộc và lịch sử.“Canh tân vĩ đại ở chỗ nào” trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (bổ sung, phát triển năm 2011), gọi tắt là Cương lĩnh 1991 ra đời tại Đại hội đảng khóa VII đã đưa Đỗ Mười lên làm Tổng Bí thư Đảng?
Vị trí và vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng xuất phát từ tính tổ chức, kỷ luật của Đảng ở tính tiên phong, gương mẫu, đạo đức cách mạng được rèn luyện ngay từ khi bước vào sự nghiệp cách mạng của cán bộ, đảng viên, ở sự gắn bó mật thiết với dân tộc và nhân dân”.
Nếu ông Nguyễn Trọng Phúc còn nhớ thì khi ấy Tổng bí thư Đảng khóa VI là Nguyễn Văn Linh đã nói câu để đời “Đổi mới hay là chết” để mô tả hoàn cảnh sắp chết của Việt Nam vào năm 1986 khi Đảng phải quyết định bỏ mô hình kinh tế tập trung, bao cấp của Liên Sô để “đổi mới’, mở cửa cho ngọai quốc vào đầu tư làm kinh tế thị trường của tư bản để cứu Đảng khỏi tan vỡ.
Do đó, không ai có thể bị mê hoặc bởi những lời ông Nguyễn Trọng Phúc tự biên tự chế để khoe khoang như:
“Vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng vẫn không ngừng được củng cố, phát triển từ trong bản chất cách mạng, khoa học và tư tưởng, lý luận của Đảng, từ sự đúng đắn và không ngừng hoàn thiện Cương lĩnh, đường lối chính trị, từ sự không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, từ sự rèn luyện, không ngừng theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Vị trí lãnh đạo duy nhất của Đảng không bao giờ thay đổi vì ngoài lợi ích của giai cấp, dân tộc và nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác.”Nhưng “giai cấp – dân tộc – nhân dân” nào đã ủy nhiệm cho Đảng lãnh đạo đất nước? Nếu Đảng tự cho rằng mình là đại biểu của “giai cấp công nhân và nhân dân lao động” là một ngụy biện vì cả hai giai cấp này đã, đang và sẽ tiếp tục bị Đảng bạc đãi và bóc lột đến tận xương tủy như đã thấy từ khi có bóng dáng Đảng trên đất nước. Do đó khi nghe ông Nguyễn Trọng Phúc nói Cương lĩnh đã phản ảnh quyết tâm “không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng” thì chẳng ai tin, vì ông Nguyễn Trọng Phúc đã nói những điều ngược lại với nội dung của văn kiện này. Việc này đã được chứng minh trong các ý kiến của nhiều tầng lớp nhân dân sau 47 ngày bản Cương lĩnh được đem ra lấy ý kiến (kết thúc ngày 31/10/2010).
Nhiều người trong nước, kể cả một số trí thức hàng đầu và cựu lãnh đạo, đảng viên cao cấp đã chỉ trích Cương lĩnh vẫn giữ nguyên lối mòn tư duy bảo thủ, phản dân chủ, xưa cũ, chậm tiến, lạc hậu, mơ hồ, mị dân, không tưởng và là lực cản tiến bộ của dân tộc cần phải bỏ đi hay viết lại.
Dân chủ hay đảng chủ?
Để bênh vực cho chính sách độc tài ngụy trang trong “tập trung dân chủ”, anh Thiếu tá – Thạc Sỹ Trần Văn Huyên, Phòng Nhà trường, Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị đã phét lác trong báo điện tử Đảng qua bài "Một số vấn đề về bản chất nguyên tắc tập trung dân chủ và đấu tranh với các quan điểm sai trái hiện nay".
Ông Trần Văn Huyên đã lý luận “tập trung dân chủ” như thế này:
“Tập trung trên cơ sở dân chủ, điều này làm cho tập trung khác biệt về bản chất so với chuyên chế, chuyên quyền. Nội dung của nguyên tắc chỉ rõ: Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Đó là tập trung. Nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành. Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Nghị quyết là sự tập trung cao trí tuệ, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên. Để có sự chấp hành nghị quyết một cách nghiêm chỉnh, vô điều kiện, thì điều kiện tiên quyết là nghị quyết đó phải được xây dựng trên cơ sở dân chủ.”(bài viết ngày 03/12/2010)
| |
| nhân dân Việt Nam chưa hề có dân chủ, dù chỉ một ngày kể từ khi Đảng Cộng Sản nắm quyền |
Để chống lại, Ban Tuyên Giáo và Báo Quân Đội Nhân Dân đã tung ra nhiều bài viết xuyên tạc và chụp mũ những người có lập trường đối lập với Đảng. Chẳng hạn như lập luận của ông Trần Văn Huyên:
“Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc vô cùng quan trọng đảm bảo sự sống còn của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Do vậy, các thế lực thù địch đã chống phá quyết liệt bằng những quan điểm sai trái về bản chất của nguyên tắc tập trung dân chủ cả trên phương diện lý luận và thực tiễn. Về phương diện lý luận, đã có nhiều quan điểm hiểu không đúng hoặc cố tình xuyên tạc nội dung và bản chất của nguyên tắc này, thực chất là muốn xoá bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, làm suy yếu Đảng, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Lẽ dĩ nhiên, những quan điểm này không trực diện đòi xoá bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ mà núp dưới cái phương pháp “phân tích bản chất của nguyên tắc”, bằng lập luận lập lờ, lái nhận thức của mọi người đi đến chỗ từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ.”Trước đó, ông Nguyễn Mạnh Hưởng, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Viện Khoa Học Xã Hội Nhân Văn Quân Sự - Bộ Quốc Phòng cũng huyênh hoang trên Tạp chí Cộng Sản ngày 08/09/2010:
“Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn là đội tiền phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam, là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Qua sự “sàng lọc” dữ dội của lịch sử những thập kỷ đầu thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã lựa chọn Đảng Cộng Sản Việt Nam là người dẫn dắt mình đi đến tương lai hạnh phúc.”Người dân nào đã “lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam” để thay mình lãnh đạo đất nước, hay Đảng này đã cướp mất của dân từ cuộc “cách mạng” tháng 8/1945?
Ông Nguyễn Mạnh Hưởng còn cả gan nói rằng:
“Dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam, sự nghiệp cách mạng nước ta đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân lao động Việt Nam, nhân dân ta thực sự được làm chủ cuộc sống của mình, được sống cuộc đời “tự do, hạnh phúc”.Ai đã làm chủ cuộc sống của dân thì người cộng sản biết rõ hơn ai hết nên điều được gọi là “tự do, hạnh phúc” cho đến nay, sau 64 năm “được” sống với chế độ (1954-2010), người dân mới thấy mình bị Đảng lừa, bị Đảng cho ăn nhiều bánh vẽ quá! Vậy mà ông Nguyễn Mạnh Hưởng vẫn có thể trâng tráo dẻo mép:
“Ở Việt Nam không thực hiện chế độ đa đảng không phải vì chúng ta bảo thủ, mất dân chủ như các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc, mà đó là yêu cầu khách quan, là vì sự ổn định và phát triển của đất nước, vì sự phát triển của nền dân chủ và hạnh phúc của nhân dân, để thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.Rằng:
“Ở nước ta, thực hiện một đảng duy nhất lãnh đạo, mọi người dân đều có thể trực tiếp hay gián tiếp (thông qua người đại diện của mình) đề đạt nguyện vọng và đóng góp ý kiến cho các cơ quan công quyền. Các kênh bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được mở rộng và hoạt động có hiệu quả. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trở thành quy chế, thiết chế dân chủ trong các tổ chức chính trị - xã hội, trong các hoạt động của xã hội; là phương châm hành động của người dân trong xây dựng hệ thống chính trị; là yêu cầu ứng xử của cán bộ trong tiếp xúc, quan hệ với dân và chăm lo đến dân. Nhân dân lao động là chủ thể mọi quyền lực; quyền lợi và nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm, cống hiến và hưởng thụ luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Thực tế trên chưa phải là đầy đủ, nhưng đã cho thấy tính ưu việt của chế độ một đảng ở Việt Nam; không thể vì những khó khăn, phức tạp nào đó mà xuyên tạc bản chất chế độ dân chủ của nước ta, đòi thực hiện đa đảng, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.”Quả thật chỉ có những cái đầu mất óc mới có thể bù lu bù loa những “thành quả vĩ đại” của Đảng CSVN và tính ưu việt của chế độ như ông Nguyễn Mạnh Hưởng đã bịa ra. Ngay cả khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã tự nó làm nhục chế độ khi trong thực tế người dân không có quyền gì cả. Vì nếu người dân có quyền “kiểm tra” thì có lẽ Việt Nam không còn quốc nạn tham nhũng như hiện nay.
Đến phiên ông Trần Quang Nhiếp, Phó Giáo sư, Tiến sỹ cũng a-dua viết bài “Đảng với việc thay đổi lịch sử dân tộc" trên báo điện tử của Đảng ngày 15/11/2010 rằng: “Đảng thực sự là của dân, vì dân, được nhân dân đồng tình, ủng hộ”. Để biện hộ cho quan điểm này, ông Nhiếp nói rằng:
“Ngay trong máu lửa, Đảng ra đời là vì sự nghiệp giải phóng, cứu vớt nhân dân, Đảng thực sự được nhân dân tin, dân kỳ vọng là người cứu vớt, người đem lại hạnh phúc cho mình. Các thế hệ đảng viên, cán bộ của Đảng đã thật sự vì nhân dân mà hy sinh phấn đấu, không vì lợi ích cá nhân. Nhân dân tìm thấy ở Đảng là người dẫn dắt mình đi tới tương lai. Đồng thời Đảng ta đã là của dân, Đảng dựa vào nhân dân, tạo thành lực lượng cách mạng có sức mạnh vật chất và tinh thần vô tận, mạnh như thác lũ. Nhân dân che chở, bảo vệ, nuôi dưỡng Đảng trong mọi hoàn cảnh. Đảng đã thiết lập mối quan hệ máu thịt, quan hệ cá nước giữa Đảng với nhân dân. Đảng thực sự là của dân, Đảng không có mục đích tự thân.”Nếu dân đã liên hệ “máu thịt” với Đảng như thế thì tại sao bây giờ đã có nhiều người quay lưng lại với Đảng. Điều này cũng đã được ông Trần Quang Nhiếp chứng minh khi viết rằng:
“Những thái độ trên đây khác hẳn với thái độ của những kẻ dụng ý xấu xa, tâm địa độc ác một cách có bài bản hòng xóa bỏ Đảng cộng sản Việt Nam. Chúng ra sức lôi kéo, làm chuyển biến nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân đi đến hoài nghi, từ bỏ Đảng. Bằng nhiều thủ đoạn kinh tế, chính trị, văn hóa… chúng làm cho cán bộ, đảng viên tự diễn biến mất lòng tin, phai nhạt lý tưởng. Chúng bơm to, thổi phồng những yếu kém, sai lầm, thiếu sót nhằm bôi nhọ, hạ uy tín của Đảng, bôi đen chế độ. Họ không những bác bỏ mọi công lao của Đảng suốt 80 năm qua, mà còn bịa đặt vu cáo trắng trợn cho Đảng về tội lỗi đối với dân tộc, đối với lịch sử. Chúng chia rẽ khối đoàn kết, kích động phái này, phái kia làm suy yếu Đảng… thực chất đây là những hành vi “đục nước, béo cò”, phá hoại Đảng, kích động tâm lý ly khai Đảng để mưu cầu mục tiêu đen tối của chúng.”
Đã có nằm vùng của Bắc Kinh?
Nhưng ông Trần Quang Nhiếp có biết tại sao bây giờ đã có những người thù ghét Đảng đến đỗi không cón muốn nhìn mặt Đảng nữa không? Tại vì Đảng bám víu quyền lợi thiển cận mà đã đẩy đất nước vào tay Bắc Kinh qua các dịch vụ hợp tác khai thác bauxite ở Tây Nguyên; cho thuê đất rừng trong thời hạn 50 năm ở ít nhất 10 tỉnh đầu nguồn có vị trị chiến lược quốc phòng; để cho hàng chục ngàn công nhân Tàu vào làm ăn ngay trong lãnh thổ Việt Nam qua các vụ trúng thầu xây dựng các nhà máy điện, xi-măng v.v. được Chính phủ Bắc Kinh bù đậy, che chở.
| |
| Đảng bám víu quyền lợi thiển cận mà đã đẩy đất nước vào tay Bắc Kinh |
Chủ trương kích cầu xây dựng là đúng, nhưng ông Trần Ngọc Hùng - Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam - khẳng định các nhà thầu Việt Nam đang rất lo vì thực tế cho thấy các dự án lớn khi đem ra đấu thầu hầu như đều rơi vào tay các nhà thầu nước ngoài. Ông Trần Ngọc Hùng cho biết các nhà thầu Trung Quốc đang thắng thầu rất nhiều công trình trọng điểm về điện, ximăng, hóa chất... “Đáng quan tâm là các nhà thầu Trung Quốc thường đem theo hàng ngàn công nhân và đem cả thiết bị của họ sang, trong khi những thiết bị đó VN hoàn toàn có thể sản xuất được”...
Vừa đi cùng Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đến thăm một công trình xây dựng nhiệt điện ở Quảng Ninh, ông Nguyễn Công Lục - Vụ trưởng Vụ Kinh Tế Ngành, Văn phòng Chính Phủ - công nhận “một công trình nhưng công nhân Trung Quốc sang tới hơn 2.000 người” . Trong khi đó, ông Trần Văn Huynh - Chủ tịch Hội Vật liệu Xây dựng Việt Nam - cho biết không chỉ một mà hơn 10 công trình xây dựng nhà máy xi-măng và nhiều dự án nhà máy điện lớn ở VN đều đang được các nhà thầu Trung Quốc thi công. Đặc trưng của nhà thầu Trung Quốc, theo ông Trần Văn Huynh, là họ không thuê nhân công Việt Nam mà đem người sang, có thể bằng cả đường du lịch rồi ở lại.
Ông Trần Văn Huynh nói “Một số loại vật liệu Trung Quốc được đem qua Thái Lan rồi vòng vào Việt Nam. Máy móc thiết bị không nhập riêng được thì họ lắp sẵn rồi đem cả sang. Tôi có thăm một nhà máy xi-măng do nhà thầu Trung Quốc làm, đến cái bệ xổm trong nhà vệ sinh họ cũng không dùng hàng Việt Nam mà mua hàng Trung Quốc”.
Ông Trần Hồng Mai - Viện phó Viện Kinh tế Xây dựng - góp thêm một thực trạng khi cho biết có thể các nhà thầu Trung Quốc nhận được nhiều hỗ trợ từ phía nước họ, kể cả chính sách thuế, nên giảm mạnh giá bỏ thầu. Vì vậy, họ thường nắm phần thắng khi đấu thầu. Nên các công trình lớn như Đạm Cà Mau, nhà máy điện ở Hải Phòng, khi xây dựng lúc nào cũng có hàng ngàn công nhân Trung Quốc...
Cùng lo ngại như ông Trần Văn Huynh “nếu các công trình lớn đều vào các nhà thầu ngoại sẽ dần triệt tiêu nội lực”, nhiều chuyên gia đề nghị nên có chính sách cụ thể để giúp các doanh nghiệp xây dựng trong nước. Ông Trần Văn Huynh phân tích: “Giá thầu rẻ nhưng chất lượng không cao chưa chắc đã là rẻ, không nên tư duy cứ giá thấp là trúng thầu”. Ông Trần Hồng Mai viện dẫn Luật đấu thầu đã quy định phải ưu tiên doanh nghiệp Việt Nam nhưng nhiều chủ đầu tư Việt Nam lại “quên” điều này. Ông Mai cho rằng Nhà nước cần có chính sách để “nhắc” các chủ đầu tư.
Ngoài ra Đảng và Nhà Nước cũng đã bị khuất phục trước đe dọa của Tàu ở Biển Đông, bất lực trước các vụ ngư dân Việt Nam bị Tàu bắt, đánh đập, đâm thuyền làm chết chìm dưới lòng biển.
Tiến sỹ Nguyễn Thanh Giang đã lên tiếng báo động từ trong nước hôm 01/12/2010:
“Có người cho rằng không chỉ có “Vũ Ngọc Nhạ” trong đầu não Đảng, Quốc hội mà nhan nhản đó đây những tình báo nước ngoài nằm tại các phường, xã của ta. (Chẳng thế mà hacker Tần Thủy Hoàng đâu từ Trung Quốc cũng tích cực tham gia đánh phá các trang web dân chủ tiếng Việt). Xin hãy tỉnh táo. Việc hệ trọng hàng đầu hiện nay là ngăn chặn nguy cơ chui vào rọ ngoại bang đã, để rồi mới còn có thể tiếp tục bàn luận với nhau về những con đường tối ưu tiến tới dân chủ hóa đất nước”.Cũng nên biết Vũ Ngọc Nhạ, bí danh Hai Long là cán bộ tình báo chiến lược của Quân Đội Cộng Sản miền Bắc được gài vào Dinh Độc Lập từ thời Đệ I Việt Nam Cộng Hòa và chỉ bị phát giác trong cụm tình báo của cộng sản A.22 vào trung tuần tháng 07/1969 thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Ông Nhạ là một trong số 42 cán bộ tình báo nguy hiểm đã bị bắt cùng với Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thúy (tức Thắng), Vũ Hữu Ruật, Nguyễn Xuân Hòe, Nguyễn Xuân Đồng v.v. Vũ Ngọc Nhạ chết năm 2002 với quân hàm Thiếu tướng.
Như vậy thì có phải Đảng CSVN đã ham cầm quyền mà quên mất bổn phận giữ nước, hay trong số lãnh đạo Đảng và Chính phủ cũng đã có khối kẻ nằm vùng cho Trung Cộng như Vũ Ngọc Nhạ?
Phạm Trần
Tháng 12/2010
Tháng 12/2010
Tố Hữu: nhà thơ Tiên Bi (Vũ Thế Phan)
“… Mai sau dù có bao giờ…
Câu thơ thuở trước, đâu ngờ hôm nay …”
Câu thơ thuở trước, đâu ngờ hôm nay …”
Tố Hữu: nhà thơ Tiên Bi
Vũ Thế Phan
| |
| “Mai sau dù có bao giờ… Câu thơ thuở trước, đâu ngờ hôm nay!” (1) |
Mưỡu: Hơn nửa thế kỷ qua, khi nói tới Tố Hữu Nguyễn Kim Thành, báo chí, sách vở thường chỉ theo nhau nhắc đi nhắc lại mấy câu tuyệt tác của ông, đại loại “thương cha, thương mẹ, thương chồng…”, “Hoan hô Sta-lin…”, “Hoan hô Hồ Chí Minh…”. Theo tôi, tụng ca chỉ là một khía cạnh nho nhỏ trong nguồn thi hứng mênh mông của “nhà thơ lớn của dân tộc”.
Cụ Hoàng Văn Chí trong cuốn Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc nhận định về Tố Hữu như sau: “Tố Hữu là nhà văn xưa nay vẫn trung thành với Cộng sản”; “Tố Hữu là thần tượng của thi ca cộng sản Việt Nam cũng như Maïakovski ngày xưa là thần tượng của thi ca Liên Sô”; “lời thơ của ông rất hay…”.
Tài gieo vần chọn chữ của Tố Hữu thì không ai có thể phủ nhận được, nhưng nếu chịu khó trực tiếp đọc nguyên tác của Từ Ấy, Việt Bắc, Gió Lộng… chứ đừng nên đọc những sách ca Thơ Tố Hữu như của nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân – Hà Nội 1971; của nhà xuất bản Giáo Dục Giải Phóng – Hà Nội 1974; của Lê Đình Kỵ nhà xuất bản Đại Học và Trung Học Chuyên nghiệp – Hà Nội 1979… mà bị ảnh hưởng bởi cái gọi là “khen phò mã tốt áo”. Tôi đã đọc kỹ Tố Hữu như thế và đã phát hiện vài khía cạnh thú vị khác, nên có bài này.
I. Nhà thơ tiên tri
1. Ứng vào Thuyền nhân tị nạn… đảng
“Đường xa bao nỗi truân chuyên
Ngọn đèn đêm gió, con thuyền biển khơi.
Đèn vẫn tỏ, thuyền bơi tới trước,
Đảng ta đưa dân nước ta đi…”
(30 năm đời ta có đảng, Thơ Tố Hữu - Tác phẩm chọn lọc,
dùng trong nhà trường, trang 132 - nxb Giáo Dục Giải Phóng, 1974)
2. Ứng vào hiện tình đất nước
“Ta thấy nàng nghiêng mình rũ rượi
Gục đầu thổn thức trong bàn tay...
Bạn ơi, nguồn thảm sầu kia bởi
Số phận hay do chế độ này?”
(Vú Em, Thơ Tố Hữu, sđd trang 26)
II. Nhà thơ nâng bi
3. Ứng vào duyên tình Tàu-Việt (xưa và nay)
“Đường sang nước bạn chiều xuân,
Con tàu liên vận vui chân dặm trường.
Đồng-đăng đây, nọ Bình-tường,
Song song đôi mặt như gương với hình.
Bên ni biên giới là mình,
Bên kia biên giới cũng tình quê hương.”
Quân Đội Nhân Dân Việt Nam anh hùng
kỷ niệm 65 năm ngày thành lập
bằng hình quân đội Trung Quốc
Chào Trung-quốc, giang sơn hùng vĩ,
Quê Hồng-quân Vạn Lý Trường Chinh!
Hồn các anh xưa, những người chiến sĩ,
Đầu đỏ ngôi sao, không sợ thác ghềnh.
Từ Giang Tây lên Thiểm-Cam-Ninh,
Ăn tuyết nằm sương, mặt đầy máu bụi,
Lòng mạnh hơn sông, gan to hơn núi,
Vai làm thang, lưng làm cầu.
Rừng thẳm sông sâu,
Không thể gì ngăn được!
Ôi tiếng sáo Ly Quê thuở trước,
Hồng-quân đi đến đâu
"Sông phải rẽ nước,
Núi phải cúi đầu" (a)
Các anh đi, lay động địa cầu.
Từ thuở ấy, nước tôi còn nô lệ,
Máu Xô-viết mới đầm đià đất Nghệ.
Tôi lớn lên, nhưng chưa được làm người,
Thèm một quê hương, một mảnh đất, khoảng trời.
Vời vợi Diên An, mộng mười sáu tuổi!
Từ ấy, đã biết bao đèo suối,
Chúng tôi đi, theo lối các anh đi,
Mười lăm năm trường kỳ kháng chiến,
Như các anh đã đi, đã đến,
Như các anh, giành biển, giành trời,
Hai ngọn cờ đỏ máu thơm tươi,
Chiến thắng ôm nhau, biên cương mở hội.
Hôm nay tôi đi từ Hà Nội,
Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
Con tàu đưa tôi đến Trung-hoa:
Bốn hướng mênh mông, bao la trời đất,
Ồ tất cả của ta đây, sướng thật!
Bánh xe quay trong gió, bánh xe quay
Cuốn hồn ta như tỉnh như say,
Như lịch sử chạy nhanh trên đường thép
Đưa ta đến một ngày mai tuyệt đẹp.
Ôi buổi bình minh dày dọc đường
Mướt xanh bờ liễu, vút hàng dương,
Trắng phau nội cỏ cừu phơi tuyết,
Ngạt ngào đồng xanh mịn phấn hương.
Vui nhỉ tiếng cười quanh giếng máy,
Hoa đào đôi bím nở trong sương.
Làng hay phố đó, tường vôi mới,
Băng đá tan trên dòng Trường-giang...
Mặt trời lên, nắng chói lưng đồi,
Hết khổ rồi em nhỉ, Hỉ Nhi ơi!
Em mặc áo hoa, cúi đi hài ấm,
Em nói em cười má em đỏ thắm;
Em đẹp em thơm như quả táo đầu cành,
Phơi phới đời em cao vút như dương xanh.
Trung-quốc đó: Sức thanh xuân bừng dậy,
Có phải chăng xưa nàng tiên nữ ấy
Mấy nghìn năm đày đọa tháp Lôi-phong
Vươn mình lên rực rỡ dưới cờ hồng!
Trung-quốc đó: Bàn tay nào huyền diệu
Đã nắn lại cả dung nhan dáng điệu,
Mặt đồng khô xóa sạch những bờ ngăn,
Như mặt người tươi dần những đường nhăn,
Gót chân bước trên đường xanh nhún nhảy,
Như nhịp trống ương ca, như biển ngời sóng chạy!
Văn Thiên Tường ơi!
Nếu anh sống lại
Đến bến bờ Bột-hải
Thăm Sơn-hải-quan
Anh sẽ không còn khóc mãi
Nàng Mạnh Khương xưa mùa đông
Bơ vơ đi mang áo rét cho chồng
Đắp Trường Thành Vạn Lý (b)
Tôi đã gặp Mạnh Khương nhiều chị
Khắp công trường rộn rã như ong
Vui chồng vui vợ
Vai gánh vai gồng
Bạt núi khơi sông
Mùa đông không lạnh nữa
Tưng bừng đuốc lửa thâu đêm
Cướp thời gian thay búa thay liềm!
Ôi hai chữ Tự-do: Đôi hài vạn dặm,
Đôi cánh thần tiên bay lên xanh thẳm
Tôi đã trông, tôi đã thấy: Nơi đây
Hai mươi năm nhảy vọt một ngày
Sáu trăm triệu bàn tay: Một núi
Thép gang luyện từ bùn lầy, than bụi!
Quang vinh thay Đảng những con người
Cờ đỏ giương cao, đứng dậy làm trời
"Tia lửa nhỏ đốt cháy đồng cỏ rộng" (a)
Mao Trạch Đông!
Tôi đã thấy: Dáng người cao lồng lộng
Đẹp như một ngọn cờ Hồng
Trên mặt người, mặt đất mênh mông.
Video Clip: Làng Tàu trên đất Việt – Ngụ binh ư công (2)
Tôi đã thấy ngày xưa đâu đó
Một tia lửa nhỏ
Trong xóm nhỏ Tương-đàm (c)
Cháy lan dần, đỏ khắp Hồ Nam
Thành ngọn lửa hôm nay: Trung-quốc!
Soi sáng phương Đông, châu Phi, châu Úc,
Lửa dâng cao, lửa Cách Mạng Tháng Mười
Rát mặt loài lang nhung, ấm dạ loài người.
Video Clip: Ngư dân Việt Nam vái lạy hải quan Trung Quốc
Sáng thêm nữa, đời đời, ngọn lửa
Của Trung-hoa, của chúng ta, tất cả!
Của chúng ta, muôn ngọn lửa lên cao
Cho cả địa cầu thành một ngôi sao!
(Tố Hữu - Đường Sang Nước Bạn - tập Gió Lộng, Hà Nội 1961)
Chú thích của Tố Hữu:
(a) Mấy lời của Mao chủ tịch
(b) Chuyện ngày xưa có nàng Mạnh Khương mùa đông mang áo cho chồng đắp thành Vạn Lý, tìm không thấy chồng đâu, tuyệt vọng nhảy xuống biển Bột-hải mà chết. Nhà thơ Văn Thiên Tường thương thân nàng, làm mấy câu thơ còn ghi ở Sơn Hải Quan:
Tần hoàng an tại tại
Vạn lý trường thành trúc oán
Khương nữ vị vong gia
Thiên thu phiến thạch minh trinh.
Tố Hữu tạm dịch:
Vua Tần ngồi yên sao đành
Oán xây vạn lý trường thành
Khương nữ nàng ơi không chết
Nghìn thu bia đá chữ trinh!
(c) Tương-đàm: Quê hương Mao chủ tịch.
4. Sơ kết: Nghìn thu bia đá
Giuộc ông tôn ông là Vladimir Maïakovski nội hoá. Cả nước biết đến ông nhờ ông giàu thi hứng nâng và đỡ bề dưới của bề trên. Một hôm, ngồi ngâm lại bài thơ Đường Sang Nước Bạn của ông cho bề trên nghe. Chẳng hiểu vì vô tình hay cố ý, bề trên thí vãi ra một cái bũm. Maïa nội hoá nắc nỏm khen:
- Chà, chà ... cái rắm hôm ni răng mà thơm lọa rứa!
Bề trên sụ mặt, không vui:
- Tôi nghe nói, người ta ăn cao lương mỹ vị vào, có tiêu hoá thì mới tốt. Mà tiêu hoá đều theo lẽ rắm phải thối. Vậy mà bây giờ rắm tôi lại thơm, có phải là điều bất tường không?
Tức thời Maïa nội hóa cong bàn tay lại, vớt không khí một cái, đưa lên ngửi, xít xoa:
- Chu choa, bây chừ nó lại thúi rồi tề. Cái rắm của bề trên kể cũng hơn người, loạ hí!
Vào Đại lễ “Hai Ngàn Năm Thăng Long” (1010-3010) xuất hiện trên Con Đường Gốm Sứ 2:
Tố Hữu chàng ơi không chết,
Nghìn thu bia đá chữ Nịnh!Vũ Thế Phan
Báo động: VNPT – Một VINASHIN thứ hai (Đình Văn)
“…bài học về sự phá sản Vinashin còn nóng hổi trước dư luận xã hội thì sự lộng quyền trong một số tập đoàn khác cũng có dấu hiệu tương tự như Vinashin mà cụ thể là ở Tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam (VNPT) …”
Báo động: VNPT – Một VINASHIN thứ hai
Đình Văn
Trong cái cơ chế độc quyền lãnh đạo này, chính phủ còn loay hoay chưa biết cơ chế quản lý các tập đoàn kinh tế như thế nào cho ra ngô ra khoai, bài học về sự phá sản Vinashin còn nóng hổi trước dư luận xã hội thì sự lộng quyền trong một số tập đoàn khác cũng có dấu hiệu tương tự như Vinashin mà cụ thể là ở Tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam (VNPT) là một điển hình.
Mặc dù qui mô về kinh tế đơn thuần thì số nợ của VNPT có thể chưa lớn bằng Vinashin nhưng về tính chất quan trọng và qui mô hoạt động và tính xã hội thì ở VNPT lớn hơn Vinashin nhiều. Nếu xảy ra bất kỳ sự cố nào ở VNPT thì mức độ ành hưởng sẽ khủng khiếp hơn nhiều.
| |
| VNPT Tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam |
Với mô hình quản lý như hiện nay, sự lãng phí, thất thoát tài sản nhà nước ở VNPT thật đáng báo động. Nhiều doanh nghiệp thuộc VNPT khi cổ phần hóa đã làm thất thoát tài sản nhà nước rất nhiều, đặc biệt việc ra đời nhiều công ty con kiểu các công ty cổ phần tương tự như Vinashin đã phổ biến mà hầu hết những công ty này không làm ăn hiệu quả như Công ty Tài chính Bưu điện, Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bưu điện v.v.
Việc gần đây, với sự cạnh tranh khốc liệt, nhiều đơn vị thuộc VNPT luôn bị thua lỗ. Mặc dù vậy lãnh đạo tập đoàn không quan tâm xử lý mặc dù đã có nhiều đơn thư khiếu nại, tố cáo những sai trái, tham nhũng xảy ra ở tập đoàn đã được gửi tới lãnh đạo tập đoàn nhưng xem ra đều bị “chìm xuồng”.
Điển hình là: Vụ thiếu trách nhiệm trong đầu tư thất thoát tài sản ở Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bưu điện (PTIC) hàng trăm tỷ đồng. Một vụ khác là lãnh đạo công ty PTIC làm thất thoát tài sản hàng tỷ đồng phải bồi thường (ông Nguyễn Duy Bắc Việt – TGĐ kiêm Chủ tịch HĐQT). Việc giới thiệu đại diện vốn làm kiêm nhiệm Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc là sai luật giống như Vinashin nhưng lãnh đạo tập đoàn vấn làm và vẫn bảo vệ mặc dù đã có cảnh báo – cũng vị lãnh đạo này lập hợp đồng khống rút tiền công quĩ nhiều trăm triệu đồng chi tiêu cá nhân đã được tố cáo mà tập đoàn không quan tâm giải quyết mà vẫn tiếp tục giao nhiệm vụ quản lý vốn nhà nước cho vị cán bộ này; Việc hình thành nhóm lợi ích với sự bao che của ông Vũ Tuấn Hùng – Tổng Giám đốc Tập đoàn VNPT cùng nhóm lãnh đạo tập đoàn đã làm nhiều người dân bức xúc. Sau khi có đoàn thanh tra chính phủ về làm việc năm 2009, chính Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng chỉ đạo phải giải quyết và qui rõ trách nhiệm nhưng tập đoàn vẫn làm ngơ. Dư luận trong VNPT đồn đoán rằng ông Vũ Tuấn Hùng – Tổng Giám đốc đang mải mê chạy chọt để kiếm một suất Ủy viên Trung ương Đảng nhiệm kỳ tới nên đang cần nhiều tiền để xử lý việc chạy chọt và các đơn vị phải gom tiền cho quan trên chạy chức. Việc này không rõ thực hư thế nào nhưng cũng đã làm nhiều cán bộ VNPT hết sức hoang mang. Báo chí cũng đã vào cuộc nhưng không ai quan tâm giải quyết.
Sau Vinashin liệu VNPT có phải là nơi tiếp theo rơi vào nguy kịch? Chúng ta hãy chờ xem Thủ tướng lắng nghe ý kiến người dân thế nào và xử lý tham nhũng ở các tập đoàn kinh tế nhà nước như thế nào? Chỉ biết tình hình đầu tư dàn trải, quản lý vốn nhà nước lỏng lẻo ở các đơn vị thuộc VNPT đặc biệt là các doanh nghiệp cổ phần đang gây nhiều hoang mang. Xin rung một tiếng chuông báo động.
Đình Văn
Hà Nội, 07/12/2010
Hà Nội, 07/12/2010
Khi các nhà "chánh troẹ" hô hào nói lên sự thật thật... (Tô Hải)
“…Mối hằn thù dân tộc có cách gì xoá bỏ khi bên cướp toàn bộ tài sản ruộng đồng, nhà máy, xưởng thợ, nhà cửa lại cứ kênh kiệu, ban ơn cho “kẻ thua mình” bằng những nghị quyết sặc mùi giả dối và kiêu binh…”
Khi các nhà «chánh troẹ »
hô hào nói lên sự thật thật…
Tô Hải
Chưa hết bàng hoàng về những lời nói thẳng, nói thật của ông Nguyễn Văn An với những tuyên bố rất chi là… “Cù Huy Hà Vũ”, vạch trần cái lỗi hệ thống trong tổ chức Đảng và chính quyền, đặc biệt là vạch hẳn cái "nguyên nhân của mọi nguyên nhân" về tình hình mất dân chủ trầm trọng từ trên xuống dưới, từ trong Đảng ra ngoài. Ông mạnh dạn sử dụng những danh từ, tính từ như: Đảng là “đảng chủ” hoặc “ngày xưa vua và cha truyền cho con cháu, nay là…"vua tập thể" thời cộng hoà xã hội chủ nghĩa” v.v.
Một cảm giác nửa vui-nửa buồn tớ đã có ngay sau khi được nghe những gì ông Võ văn Kiệt tuyên bố khi trong tay đã thôi hết chức, hết quyền. Nhưng dù sao tớ cũng đành tặc lưỡi vì ít nhất là các vị ấy chẳng gì cũng là những "ông vua tập thể", một thời! Nay nhìn lại các vai diễn của mình thật nó oọc-giơ ra sao mà phản tỉnh... thì cũng nên hua ra họ để từ họ, có thêm những sự thật được phanh phui, những sự thật bị ém nhẹm, bị bóp méo mà... chẳng mấy ai không biết, thậm chí biết tường tận là đằng khác!
Đùng một phát, VTV1 ngày thứ Ba 14/12/2010 phát đi phát lại trong buổi thời sự 12g và 19g, cuộc gặp gỡ của chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết với Hội khoa học lịch sử Việt Nam. Riêng cái chuyện tiếp đón long trọng ở ngay phủ chủ tịch chứ không phải đến các hội nghị mà “lên diễn đàn chỉ đạo” đã làm tớ chú ý đặc biệt. Toàn bộ nội dung trao đổi với các nhà làm sử ra sao thì cán bộ biên tập VTV1 chỉ cho nghe trực tiếp có mấy điều mới lạ sau đây:
- Lịch sử là phải đúng sự thật;
- Lịch sử là phải trung thực, chính xác;
- Đối với những vấn đề trước đây công bố chưa chính xác thì khi đã có đầy đủ tư liệu cần có bước đi để “đính chính lại lịch sử”.
Tóm lại, lần đầu tiên tớ được tận tai nghe, tận mắt thấy người đứng đầu nhà nước đang tại chức đàng hoàng, công khai yêu cầu phải viết lịch sử một cách trung thực, chính xác và cần phải đính chính lại lịch sử.
Chẳng biết ông Nguyễn Minh Triết có quá đứng về lập trường các nhà sử học không mà hôm sau, khi đọc kỹ trên các trang báo in thì ông thông tấn xã Việt Nam đã tóm tắt một cách chung chung những gì ông Triết nói. Đặc biệt cái ý phản biện, đính chính lại lịch sử thì bị… kiểm duyệt bỏ!
Lần này là lần thứ 2 tớ bắt quả tang lời chủ tịch nước bị cắt cúp, đục, bỏ (lần trước là tuyên bố hùng hồn quyết giữ biển, giữ trời ở Bạch Long Vĩ)!
Cả tuần qua, trên mạng internet, một phong trào “nói thẳng nói thật, nói hết sự thật” với mục đích cung cấp cho các nhà làm sử, tài liệu, sự thật để “đính chính lại lịch sử”.
Riêng tớ, một nhân chứng lịch sử đã sống chỉ còn hơn một tháng nữa là 85 năm có lẻ. Tớ đã nguyện còn sống ngày nào, còn cung cấp những bằng chứng cụ thể để đính chính lại lịch sử lâu nay, vì quyền lợi của các nhóm đặc quyền họ đã cố tính giấu diếm, bóp méo, thậm chí dựng lên những trang lịch sử, những con người... ảo hoặc lờ tịt đi những anh hùng thứ thiệt nhằm mục đích chính trị nào đó.
Để làm được những việc này tuy không là nhà viết sử, tớ cũng phải cố gắng đi sâu, tìm hiểu một số vấn đề mà không ít lần bị những tên cơ hội chủ nghĩa đội cho những chiếc mũ “mất lập trường”, “thiếu đảng tính”. Cụ thể năm 1982 (83 gì đó không nhớ), tớ được ông Đặng Hoành Loan, viện trưởng viện âm nhạc mời đích danh tới 31 Nguyễn Thái Học Hà Nội để góp ý về bản Dự thảo lịch sử âm nhạc Việt Nam. Trước rất nhiều các cháu giáo sư tiến sĩ mới tốt nghiệp Liên Xô Liên Xiết về. Tớ đã thẳng thừng bác bỏ cách phân chia thời đại âm nhạc ra thành:
a) Âm nhạc thời kì nô lệ;
b) Âm nhạc thời kì có đảng.
Và tớ yêu cầu mời những nhạc sĩ như Doãn Mẫn, Nguyễn Văn Thương, Phan Huỳnh Điểu, Nguyễn Văn Tý đến để nghe họ nói hơn là dựa vào những tư liệu đã có sẵn hoặc dựa vào TƯ LIỆU KINH ĐIỂN Mác-Lê mang từ nước ngoài về. Tớ cũng “ngang nhiên” công nhận nhà thờ và chế độ thực dân đã mang lại cho nền âm nhạc dân tộc Việt Nam những yếu tố khoa học như kí xướng âm để thay thế hồ, xừ, xang, cống, líu. Chính những bài thánh ca từ tiếng la tinh chuyển sang tiếng Việt, thậm chí có cả những bài hát mới sáng tác của các cha cố dạy cho con chiên mà tớ mang ra hát thử để khẳng định là: Tân nhạc bắt đầu từ… nhà thờ thiên chúa giáo chứ không phải bắt đầu bằng một bài hát được đăng báo đầu tiên của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý. Cái sự thật này xem chừng khó… nuốt mặc dầu cử toạ đều gật gù vỗ tay hoan hô. Cho đến bây giờ, sự hình thành của nền tân nhạc Việt Nam là do ai? Do đâu? Thì ngoài ý kiến “bạo phổi” của tớ ra là: Chẳng qua chỉ vì chán kiểu đặt lời cho bài Tây mà nhạc sĩ Việt Nam đã tự sáng tác ra theo tư tưởng và tình cảm Việt Nam trong một khuôn khổ hình thức âm nhạc phương Tây mà thôi!
Đấy, với một đề tài hạn hẹp về âm nhạc thôi mà “cải chính lịch sử” còn khó thế, huống hồ:
- Ai dám nói sự thật về cuộc Cách Mạng Tháng 8?
- Ai dám viết về chuyện cướp chính quyền trong tay Nhật- Pháp, về vua Bảo Đại trao ấn, trao kiếm cho chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hoà có gì mâu thuẫn với vụ cướp chính quyền nói trên?
- Vì sao các phó chủ tịch, bộ trưởng cùng cố vấn tối cao lại dần dần bỏ cái nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà mới thành lập này mà… ra đi?
- Sự thật là bởi cái gì mà 1 triệu rưỡi con người phải bỏ quê hương, bản quán, mồ mả, cha ông để vào miền Nam.
| |
| Cái gì đã làm cho hơn 3 triệu người trở thành những kẻ mất Tổ Quốc? |
- Cái gì đã làm cho hơn 3 triệu con người, sau 1975, trở thành những kẻ tha hương mất Tổ Quốc như dân Do thái? Những kẻ ở lại thì đi “cải tạo” mút mùa ở những nơi rừng thiêng nước độc?
- Mối hằn thù dân tộc có cách gì xoá bỏ khi bên cướp toàn bộ tài sản ruộng đồng, nhà máy, xưởng thợ, nhà cửa lại cứ kênh kiệu, ban ơn cho “kẻ thua mình” bằng những nghị quyết sặc mùi giả dối và kiêu binh?
Cũng cần phải nói tới những sự thật mà lịch sử khách quan, theo thời gian đã được chỉnh sửa một cách im lặng, không tuyên bố, không xin lỗi, dù chỉ là thay mặt người xưa! Đó là những sự thật cố tình giấu nhẹm, những sự thật nói ra “không có lợi”. Những sự thật dựng đứng, chẳng có bao giờ, những sự thật cả thế giới đều biết mà mọi cơ quan "báo chí truyền thông" đều cãi bây bẩy. Những sự thật đắng ngắt như bồ hòn mà vẫn phải nuốt vào rồi kêu là ngọt!
Gõ tới đây, tớ bỗng nhớ tới những con người ở Truông Bồn, ở Đồng Lộc, ở bờ Ta Lê, ở cua Chữ A ngày nay đã được dựng tượng, dựng đài. Nhưng bao giờ thì những con người đã hi sinh bảo vệ Hoàng Sa như Nguỵ Văn Thà… sẽ được vinh danh, những người chết trong cuộc chiến tranh “dạy cho Việt Nam một bài học”, ở Trường Sa năm 1979, bao giờ mới được công khai kỉ niệm? Những sự thật lịch sử rành rành này cũng cần sớm đưa ra ánh sáng.
Cũng cần bàn tay và khối óc, con tim của 4.000 nhà khoa học lịch sử, sau khi được lời chủ tịch nước, hãy lao vào tìm hiểu những sự thật về những nhân vật lịch sử và công bố cho nhân dân biết ai có công? Ai có tội? Ai phản bội? Ai đầu hàng? Chỉ tiếc rằng những nhân chứng sống để có thể đưa ra được những sự thật thì cứ “ra đi” dần dần.
Mới đây nhất, một nhân vật nắm nhiều “sự thật” nhất đã ra đi. Đó là giáo sư Trần Văn Giàu, người mà báo chí viết về tiểu sử của ông đã né tránh những giai đoạn ông học ở Liên Xô cũng với Tito và Thorez… Cũng như thời gian ông ở Pháp có quan hệ với Phan Văn Trường, Tạ Thu Thâu… trước cả Nguyễn Ái Quốc ra sao. Cũng chính vài câu tiết lộ của báo chí nhà nước mà nhiều người nhớ lại cái cảnh một ông xứ uỷ Nam kỳ đánh bộ đồ Tây, đi guốc gỗ ngất ngưởng trên đường Trần Hưng Đạo Hà Nội, bị vô hiệu hoá về chính trị bằng cách chuyển sang làm nghề thầy giáo và chỉ có làm nghề nghiên cứu lịch sử, khen thưởng về nghề dạy học, viết sách cho đến hơi thở cuối cùng. Riêng tớ, tuy chỉ là bậc đàn em nhưng có nhiều điều kiện thường gặp giáo sư Giàu, thời kì tớ còn công tác ở ban tuyên huấn Trung Ương cục thì tớ thấy:
- Ông có cả một núi tư liệu về lịch sử cận đại do bản thân ông trực tiếp tham gia;
- Ông từng là nạn nhân của những kẻ đại cơ hội nhưng lại bị ghép vào tội cơ hội;
- Ông rất tự kiêu (tự hào thì đúng hơn) về sự hiểu biết sâu rộng của mình trên nhiều lãnh vực nên phân tích tâm lí của bất cứ ai đều trúng phóc, ông còn là vua sáng tác những chuyện tiếu lâm thời hiện đại nói về sự ngu dốt và kiêu hãnh của nhiều nhân vật đã không ngại cách ly ông với mọi hoạt động chính trị để vô hiệu hoá tối đa uy tín của ông trong giới lãnh đạo gốc nam Bộ;
- Ông sẽ không bao giờ nhận được những vinh quang cuối đời như hôm nay nếu ông vẫn tiếp tục giữ lấy cái danh vị “giáo sư sử học về hưu” ở ngay mảnh đất đã muốn dìm ông xuống… ;
- Tớ thực sự vui mừng khi biết: Trong lần thăm Pháp cuối cùng, sau khi thống nhất đất nước, Giáo sư Giàu đã cho biết: Ông đã hoàn tất cuốn “Hồi Ký của đời mình” và đã gửi nó ở một nơi an toàn. Và nó sẽ được ra mắt trong một thời gian thích hợp”. Một kho sự thật thật sẽ được khui ra? Hay ngay từ bây giờ, người ta đã lo cho một “Gửi Mẹ và Quốc hội” cuả Bảy Trấn, một “Nhật Ký Rồng Rắn” của Trần Độ sẽ lần lượt ra đời mà cố tình “khoanh” ông trong cái phạm vi “Nhà nghiên cứu lịch sử"?
Hỡi các nhà làm khoa học lịch sử!
Được lời khuyến khích động viên của người đứng đầu Nhà Nước (dù ông Triết có còn ở lại hay ra đi sau vụ sắp xếp nhân sự mới), các vị hãy đi tìm nhiều sự thật, nhanh chóng, chính xác, dũng cảm trả lại cho lịch sử những SỰ THẬT THẬT, xắn tay đi vào cái việc “ĐÍNH CHÍNH LỊCH SỬ” BẰNG NHỮNG TƯ LIỆU KHÔNG THỂ TRANH CÃI!
Chỉ có sự thật thật mới đáng để các nhà sử học đáng bỏ công nghiên cứu.
Con cháu chúng ta đang mong chờ MỘT NGÀY KHÔNG XA MỌI SỰ THẬT LÂU NAY BỊ XOÁ BỎ, CHE GIẤU, XUYÊN TẠC, BÓP MÉO… SẼ ĐƯỢC CÔNG KHAI, ĐÀNG HOÀNG BƯỚC VÀO CÁC TRANG SỬ CHÍNH THỨC CỦA NƯỚC NHÀ.
Tô Hải
Nguồn: ToHai Blog
Phấn đấu ký số 29
Ghi chú: Blog này là của một nhân chứng lịch sử đã 62 năm sống trong lừa dối và đi lừa dối mọi người. Blog này chỉ có nói lên sự thât, sự thật và sự thật. Blog tôi dành cho những người trẻ, hãy đọc và suy nghĩ về những gì mình đang chứng kiến trong cuộc sống... không dành cho những kẻ HÈN, nghĩ một đằng làm một nẻo. Cấm những kẻ cơ hội, những tên "phản động với Tổ Quốc" tôi vào đây nói bậy!
Nguồn: ToHai Blog
Phấn đấu ký số 29
11/12/10
Khi bạo lực chỉ gây nhàm chán
“…Đại hội 11 là cơ hội cuối cùng của đảng cộng sản để nghĩ lại và tìm một lối thoát trong lòng dân tộc. Khi bạo lực chỉ còn gây nhàm chán thay vì kinh hoàng…”
Một không khí đàn áp ngột ngạt đang bao trùm. Sau những vụ bắt bớ liên tục vừa rồi sắp đến lượt ai đây? Đó là câu hỏi không ai có thể trả lời, bởi vì đợt đàn áp chính trị này không theo một logic nào cả. Phạm Minh Hoàng, giảng viên đại học Bách Khoa bị cáo buộc là thuộc một tổ chức khủng bố dù chỉ phát biểu lập trường một cách ôn hòa. Đó chỉ là lý cớ, lý do thực sự là anh đã tham gia nhóm Bôxit Việt Nam và viết bài phản đối việc chính phủ cho Trung Quốc khai thác bô-xít tại Tây Nguyên.
Nhà báo Điếu Cày mãn hạn tù tiếp tục bị giam giữ dưới một tội danh mới là tuyên truyền chống nhà nước. Biện pháp bịt miệng tùy tiện này chà đạp lên chính pháp luật của nhà nước cộng sản Việt Nam. Luật gia Phan Thanh Hải, bạn Điếu Cày, bị bắt giam vì những bài anh đã viết từ lâu, trong khi vợ sắp đẻ.
Luật sư Cù Huy Hà Vũ bị bắt sau một vụ dàn cảnh thô vụng vì thường bênh vực những người phản kháng và hay chất vấn chính phủ và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bằng những câu hỏi nhức nhối.
Gần hai chục thanh niên Bắc Giang đang bị giam giữ từ hơn ba tháng nay vì đã tham gia cuộc biểu tình phản đối công an đánh chết người, điều mà chính bộ công an cũng đã nhìn nhận là một sai phạm nghiêm trọng.
Phá mọi kỷ lục thô bạo và tùy tiện là trường hợp Vi Đức Hồi, cựu thường vụ huyện ủy và giám đốc trường đảng Hữu Lũng, thành viên ban biên tập Tổ Quốc. Anh bị thẩm vấn suốt mười ngày, đã được công an xác nhận là không sai phạm gì và đình chỉ thẩm vấn. Rồi một tuần sau đó anh bị bắt giam và bị buộc tội tuyên truyền chống nhà nước.
Tất cả những vụ bắt giam thô bạo đó đều do một nguyên nhân là ĐCSVN đang rất lúng túng trong việc chuẩn bị Đại hội 11 và lo sợ mọi diễn biến. Chúng đều có một nền tảng chung là triết lý bạo lực. Bạo lực được sử dụng có khi chỉ vì lo sợ một mối nguy giả tưởng, thậm chí không cần lý do, như cách đối xử ô nhục với Trần Khải Thanh Thủy. Hình như chính quyền CSVN coi bạo lực là thần duợc trị mọi chứng bệnh và chìa khoá giải quyết mọi khó khăn. Sai lầm nguy hiểm. Xã hội Việt Nam đã tự cởi trói nhiều rồi và bạo lực không còn giải quyết được mọi vấn đề. Phải thỏa hiệp thay vì đàn áp. Nếu không tin như thế thì hãy tự hỏi những vụ bắt người trái phép này đã giải quyết được gì cho đảng trước thềm Đại hội 11? Tuyệt đối không, đây chỉ là hành động đập nhiệt kế để chối cơn sốt.
Hai bế tắc lớn của đảng, định hướng chính trị và nhân sự lãnh đạo, không thể giải quyết bằng cách bắt giam một vài người không cùng chính kiến. Chúng là hậu quả tự nhiên của hai nghịch lý đã kéo dài quá lâu và không thể tiếp tục được nữa. Một là chính sách "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", thực chất là từ bỏ chủ nghĩa Marx sau khi nhận ra nó là một sai lầm nhưng vẫn giữ nguyên những biện pháp thô bạo để xây dựng nó. Hai là muốn có những cấp lãnh đạo có bản lĩnh và tầm nhìn nhưng vẫn duy trì một bộ máy sàng lọc chỉ để lại những con người ngoan ngoãn không điều kiện. Nếu các cấp lãnh đạo đảng chưa nhận ra điều này thì nhân dân Việt Nam đã nhận ra và cũng đã đủ mạnh để cởi bỏ sự sợ hãi.
Đại hội 11 là cơ hội cuối cùng của đảng cộng sản để nghĩ lại và tìm một lối thoát trong lòng dân tộc. Khi bạo lực chỉ còn gây nhàm chán thay vì kinh hoàng. Ban biên tập
Nguồn: báo Tổ Quốc số 99, ngày 15/11/2010
Trạng Tàu đi sứ Việt
“…Nếu lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam mà có vài người như chú mày thì ai mà dám bắt nạt Việt Nam…”
Sau cuộc Hội thảo Quốc Tế về biển Đông, viên sứ Tàu Vương Hàn Lĩnh, tha thẩn dạo bước gò Đống Đa tìm mãi không thấy đền Sầm Nghi Đống , định trở vế sứ quán Tàu thí may mắn thay gặp một mục đồng đang trên đuờng dắt trâu về nhà. Học giả Tàu mừng rỡ đón đầu thằng bé, hỏi:- Cháu có biết đền thờ đức thái thú Sầm Nghi Đống ở đâu không?
Thằng bé chăn trâu trố mắt nhìn khách:
- Ông người nước nào mà nói tiếng Việt rành quá vậy?
- Ta người Trung quốc đây.
- À thì ra là chú Ba Tàu.
Viên sứ Tàu tức càn hông nhưng vì cần sự giúp đỡ nên cắn răng nén giận:
- Ừ! Cháu dẫn chú đến đó được không?
- Dạ, được chứ. Nhưng chú có họ hàng gì với viên thái thú Tàu này không?
- Chả họ hàng gì cả nhưng ta đọc sử, rất ngưỡng mộ Sầm tuớng công nên muốn thắp vài nén hương bái lạy vong linh ngài mà thôi.
- Sùy! Chú đọc sử nào kỳ cục quá vậy. Viên tướng Tàu này bị đại đế Quang Trung đánh cho một trận đến một mảnh giáp cũng không còn, ông có thấy 12 gò đất chôn hai chục vạn quân Thanh ở dưới chân ông không. Sầm Nghi Đống chạy tháo thân cũng không thoát , nhục quá phải tự tử ngay trên mảnh đất này.
- Láo! Láo! Quân ta rút hết về nước an toàn. Sầm tướng công can trường ở lại chặn hậu bị lạc tiễn mà hy sinh tính mệnh thôi.
- Thế 12 gò đất này chôn xác gà chó à.
- Chú còn bé mà sao dám hỗn hào với người Hán của ta thế.
- Đã là quân xâm lược thì sao là người tử tế được.
- Chú nên nhớ Việt Nam trước kia cũng là đất Trung Quốc nên sẽ có lúc châu về hợp phố.
- Ngày xưa Liễu Thăng bị chém đầu ở Chi Lăng, rồi mấy chục ngàn quân Tàu vùi thây ở Bạch Đằng giang, hai mươi vạn quân Thanh phơi xác ở đây cũng vì cứ tưởng đất này của người Tàu đấy thôi.
- Ta đã đòi được Hoàng Sa, và sắp lấy hết Trường Sa thì mảnh đất bé nhỏ với một nhúm dân này làm sao mà chống cự nổi.
- Hừ! chú quên bài học biên giới năm 1979 rồi à.
- Ngày ấy ta còn nể tình vừa là đồng chí vừa là láng giềng hữu hảo nên chỉ dạy bảo sơ sơ. Nay khác rồi nhé. Trung Quốc có hàng vạn tàu chiến lớn nhỏ, hàng vạn máy bay siêu thanh, hàng vạn hỏa tiễn liên lục địa nên muốn thôn tính nước Nam còn dễ hơn lấy đồ trong túi. Nhưng ta khai thác xong bô-xít, trồng xong rừng đầu nguồn, lấy lại hết Nam Hải rồi mới tính sổ với Việt Nam.
Nói tới đây thì hai người đã đến đền thờ Sầm Nghi Đống. Viên sứ Tàu cười mỉa:
- Dân Việt cũng biết sợ người Tàu đấy nên mới lập đền thờ tướng địch.
Thằng bé chăn trâu cười ngất:
- Quân tử Việt không giống quân tử Tàu đâu. Sầm Nghi Đống biết nhục mà tự tử thì cũng còn chút liêm sỉ biết người biết mình. Chú có muốn nghe bài thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương vịnh đền thờ này không?
- Hảo, hảo, chú đọc cho ta nghe đi.
Thằng bé mỉm cười đọc một hơi:
“Ghé mắt trông ngang thấy bảng treoViên sứ Tàu tái mặt:
Kìa đền thái thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu”
- Hồ Xuân Hương là ai mà làm thơ độc vậy?
- Chú không hiểu nổi thơ Hồ Xuân Hương đâu.
Viên sứ Tàu đảo mắt nhìn đền thờ một lượt, thở dài, rồi bỏ ra về. Trước khi quay gót còn quay lại nhắn thằng bé chăn trâu:
- Nếu lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam mà có vài người như chú mày thì ai mà dám bắt nạt Việt Nam.
Phong Trần
(quán chủ Phong Trần quán)
(quán chủ Phong Trần quán)
Hà Nội đáng yêu, đáng giận, đáng thương
“… Họ sẵn sàng tranh cướp nhau từng mét đường mỗi lúc kẹt xe, và rất nhiệt tình ném vào mặt nhau những lời tục tĩu nhất …”
Tôi vừa trở về Hà Nội sau một đợt công tác tại thành phố Hồ Chí Minh.Như mọi cuộc đi và về khác, chuyến công tác này cũng để lại trong tôi nhiều cảm xúc cả vui và buồn. Phần lớn là niềm vui, vì những tấm lòng bạn bè miền Nam cởi mở, chân thành, tự nhiên - lẽ ra phải nói là "tự nhiên như người Sài Gòn" mới đúng.
Chẳng mấy khi ở Hà Nội mà tôi có thể nắm tay các bạn nhảy múa, có thể hô một tiếng "nhậu đi" rồi kéo nhau ra bờ kè, tức kênh Nhiêu Lộc, ăn uống và đàn hát trắng đêm.
Chẳng mấy khi ở Hà Nội tôi có thể điềm nhiên bước vào một nhà hàng hay quán nước, ngồi vắt chân và chờ cô hay cậu bồi bàn tiến lại, lễ độ: "Dạ, chị dùng gì?"
Tôi sẽ trả lời ngắn gọn và chờ được phục vụ rất nhanh chóng sau đó, gọn gàng, khẽ khàng, không xủng xoẻng như thể sắp làm vỡ ráo cả mớ chén bát, ly cốc.
Tôi cũng sẽ không phải nhìn những bộ mặt lạnh băng, và nhất là không bị người phục vụ "khuyến mãi" cho một ngón tay cái ngập vào bát nếu như tôi có lỡ gọi món phở.
Sài Gòn rộng thênh thang, nhiều hàng quán, nhiều đồ nhậu ngon rẻ và nhiều chỗ vui chơi mở cửa tới khuya. Nói chung ở đó, một "người Hà Nội khắc khổ" là tôi có cảm giác được hưởng thụ hơn một chút.
Nhưng sau những niềm vui, cũng đọng lại cả nỗi buồn. Một nỗi buồn, như dân teen bây giờ hay nói, "rất chi là bao đồng".
Ông tôi, cụ giáo trường Hàng Kèn năm xưa, sinh thời từng thủ thỉ với tôi rằng: "Trước năm 1954, trẻ con Hà Nội không biết chửi bậy".
Người Hà Nội xấu xí
Nỗi buồn ấy thực chất là cảm giác tủi thân và xót xa khi thấy nhiều người Sài Gòn không ưa Hà Nội đến thế. Điều này được thể hiện một cách không giấu giếm, qua những lời bình phẩm, qua thái độ - vốn chân thật - của người Sài Gòn.
Dân Sài Gòn, cụ thể là nhiều người tôi đã gặp, nghĩ về Hà Nội như một cái gì rất thủ cựu, lạc hậu, chậm tiến, đã thế lại còn kênh kiệu, tự cho mình là thủ đô thanh lịch, tóm lại là tệ hại.
| |
Du khách bị ép gánh hàng rong |
Có lần, trong một quán nước ở Sài Gòn, khi chúng tôi muốn rời từ bàn này sang bàn khác, bạn tôi ngoắc người phục vụ, ra hiệu "chuyển bàn giùm". Sau khi chúng tôi đã yên vị ở chỗ ngồi mới, bạn hỏi tôi: "Ở ngoải chắc phục vụ không kê bàn ghế cho khách đâu hả, mình phải tự làm hả?". Ấn tượng về "phở quát, cháo chửi" in vào tâm trí các bạn quá sâu nặng rồi. Ăn một món gì đó, tôi cũng có thể được nghe giới thiệu: "Ở ngoài Hà Nội không có cái này đâu nha".
Thời gian gần đây, gây mất thiện cảm nhất cho người Sài Gòn có lẽ chính là… chiến dịch mừng Đại lễ 1000 năm của Hà Nội. Một chiến dịch gắn với đủ loại bê bối: sơn vàng phố cổ, lát ngói xanh vỉa hè, bươi nát vỉa hè. Hà Nội nghìn năm thành đại công trường khói và bụi.
Rồi mùa hè đổ lửa với 45 độ ngoài trời tháng sáu, cúp điện World Cup, ngập lụt mưa tháng bảy. Thủ đô gì mà mưa xuống một tí, ba người chết vì điện giật, một người bị rắn cắn. Rồi hàng tỷ đồng xây cổng chào, làm phim Lý Công Uẩn "lai Tàu". vân vân và vân vân.
Động vào đâu cũng nghe và thấy bê bối, lãng phí, thẩm mỹ kệch cỡm, văn hóa lùn. Một không khí “nhốn nháo kỷ niệm nghìn năm Thăng Long - Hà Nội”. Hình ảnh Hà Nội trong mắt người dân thành phố Hồ Chí Minh giờ đây có lẽ hỏng mất rồi.
Đáng thương hơn đáng giận
Tôi buồn, vì ngay trước mặt tôi, các bạn miền Nam của tôi thể hiện suy nghĩ và nói về Hà Nội tiêu cực như thế. Một Hà Nội thủ đô thủ cựu, lạc hậu, xấu xí.
Khi nghĩ vậy về Hà Nội, Sài Gòn cũng mặc nhiên nhận về mình những gì là tiến bộ, văn minh, đẹp đẽ. Nỗi buồn sở dĩ mang màu sắc "bao đồng" bởi tôi không muốn thấy trong cùng một đất nước, người dân hai miền - mà là hai thành phố thuộc hàng hiện đại nhất nước - mãi giữ những ấn tượng không tốt đẹp về nhau.
Hà Nội cũng là nơi con người tranh giành không gian của nhau. Đến bao giờ người Việt Nam mới biết đoàn kết, thương yêu nhau ?
Hà Nội có thực tệ hại? Đặt sang một bên tình cảm gắn bó với nơi mình sinh ra và lớn lên, tôi phải trả lời thành thực rằng: Có, Hà Nội khá tệ hại, càng tệ hại hơn khi đó là một thủ đô, được kỳ vọng là nơi thanh lịch nhất, nơi hội tụ và kết tinh nền văn hóa của cả một đất nước có chiều dài 4000 năm lịch sử.
Có thể không tới con số 4000, nhưng thủ đô của một quốc gia thì rõ ràng phải là bộ mặt đại diện cho văn hóa của xứ sở. Nhưng Hà Nội, ngoại trừ một vài tuyến phố "linh thiêng", bẩn quá, bụi quá, lắm rác quá. Những người chúng ta gặp trên phố phần đông là thô lỗ, ích kỷ, hiếu chiến. Họ có thể vượt đèn đỏ vì không chờ nổi vài chục giây ở ngã tư, phóng long tóc gáy, như thể đang bận rộn lắm, hối hả lắm, thế rồi nhác thấy một tai nạn giao thông thì dừng lại xem, mất toi 45 phút. Họ sẵn sàng tranh cướp nhau từng mét đường mỗi lúc kẹt xe, và rất nhiệt tình ném vào mặt nhau những lời tục tĩu nhất. Có thể không ít trong số họ là người có học, nhưng không hiểu sao cứ hễ ra ngoài đường là cái tinh túy của Chí Phèo lại phát tác.
Có lẽ do hoàn cảnh. Chiếc áo không làm nên thầy tu, nhưng con đường làm nên tính cách người đi đường. Bụi thế, chật chội thế, ồn ào thế, một năm mấy tháng trời nóng thế, lại thêm cuộc sống vội vàng gấp rút, người ta hòa nhã với nhau làm sao được.
Đã từng có thời
Nhiều tính cách tệ hại của dân chúng Hà thành có lẽ đã xuất phát từ hoàn cảnh nào?, mà nếu thực vậy thì Hà Nội đáng thương hơn là đáng giận.
Chắc là do hoàn cảnh. Bởi, điều làm tôi băn khoăn về tính cách Hà Nội, là hình như đã từng có thời người Hà Nội không thô lỗ, hung bạo. Không lẽ câu:
"chẳng thơm cũng thể hoa nhài
dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An"
là một câu ca dao không có chút cơ sở thực tế nào?
Chẳng biết trí nhớ của ông tôi có ghi nhận đúng đặc điểm đó của trẻ con thủ đô không, nhưng bản thân ông tôi thì đúng là không biết nói tục, không văng bậy được dù chỉ một từ. Đi trên phố, mỗi lần thấy đám tang qua, ông tôi lại dừng bước, cung kính ngả mũ chào người vừa qua đời. Không bao giờ ông tôi nói nặng với ai một câu. Ngay với đám cháu lít nhít nội ngoại, có sai các cháu làm gì, ông cũng dùng lời lẽ hết sức lịch thiệp: "Nếu có thể, cháu giúp ông…".
Những người giúp việc trong nhà rất quý ông tôi, "cụ giáo Hàng Kèn". Chắc chắn họ chưa bao giờ nghĩ ông tôi "bóc lột", kênh kiệu, cậy mình trí thức thủ đô khinh rẻ dân lao động ngoại tỉnh. Tại vì còn Giai Cấp... ??
Từ lúc nào ở thủ đô, người lớn biết chửi bậy, rồi trẻ con theo đó mà bắt chước? Có lẽ điều này đòi hỏi chúng ta phải "truy tầm" về nguồn gốc của những từ tục của bây giờ, mà đó là việc nằm ngoài khả năng cũng như bài viết này của tôi.
Ngoài ra, tôi cũng không tin là người Hà Nội thời trước 1954 hoàn toàn không chửi bậy. Đọc hồi ký của nhạc sĩ Phạm Duy, thấy ông có nhắc tới những tiếng lóng, những câu hát xuyên tạc rất tục những năm 20-30 của thế kỷ trước.
Nói cho đúng, ngày xưa Hà Nội phân biệt rõ ràng hơn giữa tầng lớp trí thức "có học, có chữ nghĩa" (tức "có văn hóa") và tầng lớp bình dân, trong đó có thể bao gồm cả thành phần du thủ du thực ít văn hóa. Còn ngày nay, tầng lớp "văn hóa thấp" đã "xâm thực" khắp xã hội. Số đông cư dân ở Hà Nội hiện nay, nếu tự đánh giá mình là thanh lịch, sâu sắc, thâm trầm, thì quả là lố bịch.
Song, tôi tin không phải người Hà Nội luôn thô lỗ và kênh kiệu, cũng như không phải mọi công dân thủ đô đều có tính xấu ấy.
Không phải người Hà Nội nào cũng thích ăn "phở quát cháo chửi", cũng chẳng phải hàng quán nào ở Hà Nội cũng có những thiên-thần-mậu-dịch-viên đáng sợ.
Nhiều tính cách tệ hại của dân chúng Hà thành có lẽ đã xuất phát từ hoàn cảnh (sau 1954 không?), mà nếu thực vậy thì Hà Nội đáng thương hơn là đáng giận.
… và đáng yêu
Những gì là xấu xí, tiêu cực, ước mong thủ đô sẽ xóa chúng đi dần dần. Nếu tính xấu đã do hoàn cảnh mà mọc ra thì cũng có thể hy vọng chúng sẽ mất đi khi hoàn cảnh thay đổi.
Với riêng tôi, Hà Nội còn có sự đáng yêu, cái đáng yêu của một thành phố trẻ đang phải gồng lên làm nhiệm vụ của một thủ đô nghìn năm. Sẽ còn rất nhiều, vô số bất cập và lộn xộn, nhưng thảng hoặc cũng có những nét cho thấy một nỗ lực của Hà Nội vươn lên làm thủ đô văn hiến.
Chẳng biết trí nhớ của ông tôi có ghi nhận đúng đặc điểm đó của trẻ con thủ đô không, nhưng bản thân ông tôi thì đúng là không biết nói tục, không văng bậy được dù chỉ một từ. Đi trên phố, mỗi lần thấy đám tang qua, ông tôi lại dừng bước, cung kính ngả mũ chào người vừa qua đời. Không bao giờ ông tôi nói nặng với ai một câu. Ngay với đám cháu lít nhít nội ngoại, có sai các cháu làm gì, ông cũng dùng lời lẽ hết sức lịch thiệp: "Nếu có thể, cháu giúp ông…".
Những người giúp việc trong nhà rất quý ông tôi, "cụ giáo Hàng Kèn". Chắc chắn họ chưa bao giờ nghĩ ông tôi "bóc lột", kênh kiệu, cậy mình trí thức thủ đô khinh rẻ dân lao động ngoại tỉnh. Tại vì còn Giai Cấp... ??
Từ lúc nào ở thủ đô, người lớn biết chửi bậy, rồi trẻ con theo đó mà bắt chước? Có lẽ điều này đòi hỏi chúng ta phải "truy tầm" về nguồn gốc của những từ tục của bây giờ, mà đó là việc nằm ngoài khả năng cũng như bài viết này của tôi.
Ngoài ra, tôi cũng không tin là người Hà Nội thời trước 1954 hoàn toàn không chửi bậy. Đọc hồi ký của nhạc sĩ Phạm Duy, thấy ông có nhắc tới những tiếng lóng, những câu hát xuyên tạc rất tục những năm 20-30 của thế kỷ trước.
Nói cho đúng, ngày xưa Hà Nội phân biệt rõ ràng hơn giữa tầng lớp trí thức "có học, có chữ nghĩa" (tức "có văn hóa") và tầng lớp bình dân, trong đó có thể bao gồm cả thành phần du thủ du thực ít văn hóa. Còn ngày nay, tầng lớp "văn hóa thấp" đã "xâm thực" khắp xã hội. Số đông cư dân ở Hà Nội hiện nay, nếu tự đánh giá mình là thanh lịch, sâu sắc, thâm trầm, thì quả là lố bịch.
Song, tôi tin không phải người Hà Nội luôn thô lỗ và kênh kiệu, cũng như không phải mọi công dân thủ đô đều có tính xấu ấy.
Không phải người Hà Nội nào cũng thích ăn "phở quát cháo chửi", cũng chẳng phải hàng quán nào ở Hà Nội cũng có những thiên-thần-mậu-dịch-viên đáng sợ.
Nhiều tính cách tệ hại của dân chúng Hà thành có lẽ đã xuất phát từ hoàn cảnh (sau 1954 không?), mà nếu thực vậy thì Hà Nội đáng thương hơn là đáng giận.
… và đáng yêu
Những gì là xấu xí, tiêu cực, ước mong thủ đô sẽ xóa chúng đi dần dần. Nếu tính xấu đã do hoàn cảnh mà mọc ra thì cũng có thể hy vọng chúng sẽ mất đi khi hoàn cảnh thay đổi.
Với riêng tôi, Hà Nội còn có sự đáng yêu, cái đáng yêu của một thành phố trẻ đang phải gồng lên làm nhiệm vụ của một thủ đô nghìn năm. Sẽ còn rất nhiều, vô số bất cập và lộn xộn, nhưng thảng hoặc cũng có những nét cho thấy một nỗ lực của Hà Nội vươn lên làm thủ đô văn hiến.
| |
Con đường gốm ven sông hồng |
Con đường gốm sứ ven sông Hồng, tuy
một số đoạn vừa hoàn thành đã nứt, nhưng nhiều đoạn màu sắc long lanh rực rỡ. Con mắt thô thiển của tôi dám chắc như thế là đẹp, và chắc chắn là đẹp hơn khi không có đường gốm sứ ấy.
Những gì là xấu xí, tiêu cực, ước mong thủ đô sẽ xóa chúng đi dần dần. Nếu tính xấu đã do hoàn cảnh mà mọc ra thì cũng có thể hy vọng chúng sẽ mất đi khi hoàn cảnh thay đổi, để một nền văn hóa mới sẽ hình thành ở Hà Nội, thanh lịch hơn, sâu sắc hơn mà cũng cởi mở hơn.
Hà Nội, trong tôi, cũng đáng nhớ nữa. Vào năm 2000, tôi từng viết trong một bức thư gửi những người bạn ở phương xa, rằng thế hệ chúng tôi may mắn được trải qua thời khắc chuyển giao thiên niên kỷ đáng nhớ, 1000 năm mới có một lần. Mấy ai được đón chào và cảm nhận thời khắc ấy?
Lịch sử vốn dài đằng đẵng. Nói như Nguyễn Huy Thiệp, 1000 năm trước, biết hoa ban có trắng như bây giờ ?
Nếu quan niệm như thế, tôi sẽ thấy năm 2010 này lại cũng là một thời gian đáng nhớ trong đời mình. Hàng chục triệu gương mặt người Việt Nam đã mờ nhòa trong lịch sử, nào phải ai cũng được đón sự kiện nghìn năm Thăng Long như chúng tôi đây? Để rồi mai kia một cụ ông nào đó còn có chuyện mà kể cho con cháu nghe: "Hồi ấy, ông hay đi dọc con đường gốm sứ với bà. Hơi nhiều bụi một tí, nhưng đường mát và đẹp lắm, bà cũng đẹp. Cái chỗ ấy bây giờ là gì nhỉ bà nhỉ?..." Đoan Trang
(Hà Nội)
Những gì là xấu xí, tiêu cực, ước mong thủ đô sẽ xóa chúng đi dần dần. Nếu tính xấu đã do hoàn cảnh mà mọc ra thì cũng có thể hy vọng chúng sẽ mất đi khi hoàn cảnh thay đổi, để một nền văn hóa mới sẽ hình thành ở Hà Nội, thanh lịch hơn, sâu sắc hơn mà cũng cởi mở hơn.
Hà Nội, trong tôi, cũng đáng nhớ nữa. Vào năm 2000, tôi từng viết trong một bức thư gửi những người bạn ở phương xa, rằng thế hệ chúng tôi may mắn được trải qua thời khắc chuyển giao thiên niên kỷ đáng nhớ, 1000 năm mới có một lần. Mấy ai được đón chào và cảm nhận thời khắc ấy?
Lịch sử vốn dài đằng đẵng. Nói như Nguyễn Huy Thiệp, 1000 năm trước, biết hoa ban có trắng như bây giờ ?
Nếu quan niệm như thế, tôi sẽ thấy năm 2010 này lại cũng là một thời gian đáng nhớ trong đời mình. Hàng chục triệu gương mặt người Việt Nam đã mờ nhòa trong lịch sử, nào phải ai cũng được đón sự kiện nghìn năm Thăng Long như chúng tôi đây? Để rồi mai kia một cụ ông nào đó còn có chuyện mà kể cho con cháu nghe: "Hồi ấy, ông hay đi dọc con đường gốm sứ với bà. Hơi nhiều bụi một tí, nhưng đường mát và đẹp lắm, bà cũng đẹp. Cái chỗ ấy bây giờ là gì nhỉ bà nhỉ?..." Đoan Trang
(Hà Nội)
Nobel Hòa Bình 2010 nhìn từ Việt Nam
*
Lần đầu tiên sự kiện trao giải Nobel làm xôn xao cư dân mạng ở Việt Nam. Các kệnh truyền hình cáp ở Việt Nam không có truyền hình trực tiếp sự kiện này. Ai muốn xem thì lên mạng theo dõi. Sáng nay, thấy báo Dân Trí có đưa tin, các báo khác thì im re. Dường như là Việt Nam muốn làm vừa lòng anh hàng xóm càng ngày càng lấn lướt mình.
Cũng nhờ có chuyện Trung Quốc tìm cách phá đám lễ trao giải Nobel Hòa Bình thời gian qua cũng góp phần quảng bá cho giải thưởng danh giá này. Nếu Trung Quốc không lu loa thì có lẽ lễ trao giải Nobel năm nay nó cũng im lìm như mọi năm. Nhờ sự ” khuấy động” có chủ đích của Trung Quốc mà người ta biết và quan tâm nhiều hơn đến giải thưởng này.
Khi còn học trung học ở trường Marie Curie, tôi có nghe nói về giải thưởng Nobel. Nghe xong rồi cũng không để ý làm gì nguồn gốc của giải thưởng này vì những lo toan học hành, rồi gần đây nghe nói Việt Nam từ chối tham dự lễ trao giải năm nay. Lúc đầu, tôi nghĩ là giải thưởng này có vần đề. Nhưng đi tìm hiểu thì mới biết là những nườc từ chối tham dự buổi lễ trao giải thưởng mới là có vấn đề. Tôi phải thức cả đêm để theo dõi từng cho tiết của buổi lễ năm nay.
Dù đường truyền của Internet nhiều khi âm thanh nghe không được rõ, nhưng phải công nhận là nhà tổ chức làm thật công phu và tỉ mỉ từng chi tiết của buổi lễ trao giải và dự tiệc sau đó. Thật đúng nghi thức Hòang Gia. Từ nhân viên phục vụ bàn, các kỵ binh của Hòang Gia, các nghệ sĩ tham gia biểu diễn, khách mời và những người thắng giải ai ai cũng hân hoan. Đúng là ngày hội của hành tinh. Phải công nhận là buổi lễ trao giải Nobel xứng đáng với danh tiếng và giá trị của uy tín giải thưởng này. Cho nên những ai tìm cách phá đám hay che ngăn chặn ảnh hưởng của giải thưởng thì trở nên lố bịch và thất bại. Nhất là thời đại kỹ thuật số như hiện nay.
Buổi lễ trao giải thưởng không trúng vào lúc ”giờ vàng” của Việt Nam và nhằm lúc cả nước đang hướng về Malaysia theo dõi đội bóng đá chuẩn bị thi đấu. Người ta quan tâm đến những giá trị nhất thời, không bận tâm gì đến những giá trị lâu bền và vĩnh cữu. Đang lúc ”bác kính yêu đang cùng chúng cháu hành quân” qua Malaysia thì chuyện trao giải Nobel hay công an bắt nhầm người ở Quận 6 Sài gòn cũng là chuyện nhỏ, không đáng quan tâm bằng chuyện làm sao kiếm vé để ”hành quân” sang Malaysia. Hình như ở Malaysia còn có hàng trăm ngàn lao động đang bị bóc lột thì cũng kệ. Dân nghèo cả đời chân lấm tay bùn, đi tàu lửa không có tiền đi nữa chi là đi máy bay, xuất ngọai cổ động bóng đá là chuyện của dân làm quan, dân có tiền.
Theo dõi lễ trao giải thưởng Nobel năm 2010 tôi bỗng dưng tủi thân: Sao đất nước mình chưa có ai thắng giải này? (đừng nhắc đến chuyện ông Lê Đức Thọ làm màu không chịu nhận giải năm xưa). Hôm phát hành cuốn sách ”Ký ức vụn” của nhà văn Nguyễn Quang Lập ở Hội Quán Đông Tây tại Quận Cầu Giấy – Hà Nội thì có một cô tiến sĩ từ Mỹ về. Cô này có lên phát biểu đại ý là: ”Tôi muốn Việt Nam mình cũng có người nhận giải thưởng Nobel về văn chương và tôi muốn người ấy là anh Nguyễn Quang Lập”. Tôi ngưỡng mộ tài năng của nhà văn Nguyễn Quang Lập, nhưng đặt cược vào tác giả của ”Đời cát”, ”Ký ức vụn” với tới giải Nobel văn chương thì tôi không mù quáng mà đặt niềm tin.
Cũng nhờ có chuyện Việt Nam sợ Trung Quốc không dám tham dự giải thưởng trao giải Nobel 2010 tôi mới lên google và tìm thấy có một giáo sư nào đó ở Hà Nội được mời tham dự lễ trao giải. Nghe kể lại là bộ trang phục mà người ta may cho ông được ông coi giữ như là báu vật. Chỉ là khách mời mà người ta gọi điện thoại hỏi các số đo để may đồng phục, rồi những cách tiếp đón chiêu đãi của Thụy Điển làm vị giáo sư của chúng ta ngạc nhiên sửng sốt. Có theo dõi trọn buổi lễ trao giải năm nay mới hiểu được tâm trạng của vị giáo sư khả kính.
Gần đây có sự kiện Giáo Sư Ngô Bảo Châu nhận giải thưởng về toán ở Ấn Độ. Báo chí ca ngợi giải này là giải ”Nobel toán học”. Làm sao mà so sánh 15 ngàn USD với hơn 1 triệu ruỡi USD đây bà con? Nhưng đó chỉ là số tiền. Ý nghĩa to lớn của Hòa Bình mà giải Nobel đem tới đã góp phần to lớn vào tinh thần giữ gìn và phát huy hòa bình thế giới bao nhiêu năm qua. Hơn nữ, nếu có giải thưởng danh giá thì đó cũng là công của nước Pháp là chính chứ đâu có của Việt Nam mà nhận ẩu, nhận bừa này nọ. Không thấy Lê Bá Khánh Trình dù có huy chưong vàng đặc biệt, học ở Đại Học Lô Mô Nô Sốp ở Liên Xô về cũng chỉ là anh Phó Giáo sư quèn ở Đại học Tự Nhiên mà thôi sao ? Lê Tự Quốc Thắng học sau Lê Bá Khánh Trình một năm, nhưng vì không chịu nổi cái lạnh ở Matxcova nên Lê Bá Khánh Trình bị hen suyễn ở lại một năm học chung và tốt nghiệp với khóa của Lê Tự Quốc Thắng. Lê Bá Khánh Trình về nước an phận nhưng Lê Tự Quốc Thắng sau khi học tiến sĩ ở Nga, được Mỹ mời qua dạy ở Chicago. Hiện nay theo một người thân thì Lê Tự Quốc Thắng đang dạy ở Atlanta. Con đường đến với giải Nobel của những tài năng này vẫn còn mịt mù xa tắp.
Gần đây Bộ Giáo dục và Đào tạo ở Việt nam nghe nói sẽ đầu tư mấy chục ngàn tỷ VND gì đó để đào tạo khỏang 20 ngàn tiến sĩ với tham vọng là 20 năm sau Việt Nam sẽ có giải thưởng Nobel. Đã từng tẩy chay, làm nũng không chịu nhận giải thưởng Nobel, bây giờ vì sợ hãi quan thầy Trung Quốc mà bây giờ đầu tư làm cái gì nữa? Rồi thì chấp nhận đầu tư cũng đươc đi, trong cái bối cảnh thầy hiệu trưởng thì bắt học sinh cống cho cấp trên để phục vụ cho những màn ăn chơi trác táng , thầy hiệu phó thì lột áo nữ sinh, giảng viên đại học thì chửi mày tao với sinh viên thì 20 năm sau sẽ nhận giải thưởng Giang Hồ thì có chứ đừng mơ giải Nobel.
Nobel gì cho sản phẩm giáo dục của Việt Nam? Thầy Đỗ Việt Khoa ở Hà Nội chống gian lận thi cử thì bị cho về vườn. Cô Giáo Bùi Thị Thành ở Thủ Đức –Sài Gòn vì chấm thi không theo đáp án sai kiến thức của Sở Giáo Dục đã bị cho kỷ luật. 20 năm đi kiện đòi công lý chưa được thì tuần rồi nhà cầm quyền cho xe ủi luôn ngôi nhà của cô giáo đáng thương này ở đường Kha Vạn Cân, quận Thủ Đức. Mấy môn tham nhũng, tệ nạn phong bì, giả dối, lừa bịp, báo cáo láo, bắt nhầm hơn bỏ sót thì không thể có tên trong bất cứ giải thưởng Nobel nào.
Nhật Khuê
Tường thuật Lễ trao giải Nobel Hòa bình 2010
Tôi không thể nhớ hết được cả bài nhưng tôi nhớ nhất là ông đã luôn lấy tình yêu thương để đáp lại những đàn áp, bất công mình phải gánh chịu, ông không hề mang thù hận trong lòng mà chỉ mang một tình yêu quê hương tha thiết với ước muốn cho một Trung Quốc tốt đẹp hơn. Một bài viết làm cả khán phòng vô cùng xúc động. Tôi thích nhất điều ông viết rằng không có quyền lực nào có thể ngăn cản nổi khát vọng vươn đến tự do, khi người ta ngăn cản quyền tự do cũng là lúc người ta chà đạp quyền làm người và che giấu sự đi sự thật. Nươc mắt tôi rơi không kềm được và xung quanh nhiều người cũng đưa tay lau mắt. Hơn bao giờ hết tôi cảm nhận được giá trị của giải Nobel năm nay và cảm nhận được sự xứng đáng của người nhận giải. Từ giây phút này, ông đã trở thành một thần tuợng của tôi.
Bài tường thuật lễ trao giải Nobel Hòa Bình tại Oslo – Na Uy do blogger Trương Hiếu – Vivi cung cấp.
Chiếc ghế trống và người tù vô tội
Buổi Rước Đuốc Mừng Khôi Nguyên Lãnh Giải Nobel Hòa Bình
Chiếc ghế trống và người tù vô tội
Buổi Rước Đuốc Mừng Khôi Nguyên Lãnh Giải Nobel Hòa Bình
Oslo, ngày 10 tháng 12. Trước tòa thị sảnh, những bước chân đưa tôi đến gần hơn với chiếc ghế trống dành cho một người vô cùng đặc biệt ngày hôm nay. Một người Trung Quốc được vinh dự đoạt giải Nobel Hòa Bình- nhà hoạt động ly khai Lưu Hiểu Ba, nhưng trớ trêu thay anh vẫn bị tước mất tự do, tước mất quyền được đón nhận giải thưởng mà anh xứng đáng được trao.
Đứng xếp hàng chờ đến phiên mình trước toà thị sảnh cùng anh Nguyễn Đức Hóa, hội trưởng Hội Người Việt Tỵ Nạn tại Nauy, tôi nhận thấy xung quanh mình là những gương mặt quen thuộc của những nhà chính trị cấp cao của Nauy xen lẫn những gương mặt của những khách mời đến dự lễ. Không khí nhộn nhịp với những bài nhạc của đội kèn, và tiếng hô trả tự do cho ông Lưu Hiểu Ba của những nhóm ủng hộ đứng xa xa.
Trước khi vào, mọi túi xách mang theo đều được kiểm soát qua máy, và mọi người đều phải đưa giấy mời có tên họ của mình cũng như giấy chứng minh để cảnh sát kiểm tra xem có đúng người không. Sau khoảng 5 phút chờ đợi, tôi đã được đặt chân vào bên trong. Đập vào mắt tôi là những bông hoa trang trí kết rất đơn sơ mà nét đẹp hài hòa thanh tú. Hội trường trao giải cho tôi cảm giác thật ấm cúng và nghiêm trang với những hình tạc của nhà sáng lập giải Nobel được đặt ở hai bên.
Chúng tôi được hướng dẫn xuống lầu phía dưới treo áo khoác và chờ đến giờ khai mạc lễ trao giải Nobel cho năm 2010. Đứng lẫn lộn giữa những nhà chính trị gia lãnh đạo Nauy và những gương mặt nổi tiếng, cả tôi và anh Hội Trưởng đều có cảm nhận là nơi đây, mọi người dù quyền cao chức trọng hay vô danh tiểu tốt đều được đối xử như nhau. Rất đáng để các nhà lãnh đạo nước ta học hỏi.
Còn 5 phút nữa thôi thì buổi lễ sẽ bắt đầu. Chúng tôi trở lại hội trường và tôi vô cùng xúc động khi thấy tấm hình của nhà ly khai Lưu Hiểu Ba đang được treo lên trang trọng giữa hội trường, nơi 7 chiếc ghế được dành cho sáu người trong Uỷ Ban Trao Giải Nobel Hoà Bình và người đoạt giải.
Thêm hai chiếc ghế danh dự dành cho nhà vua và hoàng hậu Nauy.
Mọi người vào chỗ, cả hội trường hầu như không còn chỗ trống.
Uỷ ban trao giải Nobel Hòa Bình từ từ tiến vào chỗ ngồi trong tràng pháo tay không dứt của những người tham dự.
Marita Kvarving Sølberg mở đầu buổi lễ trao giải với giọng ca ngọt ngào làm lắng lòng người nghe với bài nhạc «solveigs sang»
Thorbjørn Jagland, chủ tịch Ủy Ban Nobel Hoà Bình bắt đầu bài phát biểu của mình trong không khí vô cùng nghiêm trang của thính giả. Sau khi tuyên bố giải thưởng được trao về nhà đấu tranh dân chủ Lưu Hiểu Ba và lý do Ủy Ban trao giải này cho ông, Jagland đã xin lỗi rằng người được đón nhận vinh dự hôm nay không thể có mặt ngày hôm nay, ông đang bị giam giữ tại nhà tù phía Đông bắc Trung Quốc, cả vợ và người thân của ông cũng không thể có mặt. Do đó hôm nay sẽ không có nghi lễ trao huy chuơng và bằng danh dự tại đây.
Ông Jagland cũng nhấn mạnh rằng: chỉ việc này thôi cũng đã cho thấy sự cần thiết và thích hợp của giải Nobel Hoà Bình năm nay. Và ông chúc mừng ông Lưu Hiểu Ba.
| Chiếc ghế trống dành cho người đoạt giải! |
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử của giải Nobel Hoà Bình mà chiếc ghế của người nhận giải phải bỏ trống. Trong bài phát biểu của mình, ông Jagland đã nhắc lại nhiều trường hợp những người đoạt giải trước đây cũng bị ngăn cản không cho đến dự như Carl von Ossietzky- năm 1935, Andrej Sakharov năm 1975, Lech Walesa- năm1983, Aung San Suu Kyi -năm 1991.
Nhưng đây là lần đầu tiên chiếc ghế dành cho người danh dự bị để trống.
Ông Jagland cũng nhấn mạnh là những giải thưởng Nobel này không hề có ý muốn xúc phạm bất cứ ai, mà Uỷ Ban Nobel chỉ muốn truyền tải thông điệp về mối liên hệ giữa nhân quyền, dân chủ và hoà bình. Những giải thưởng nhắc cho chúng ta nhớ rằng những giá trị mà phần lớn trên thế giới có được là nhờ sự đấu tranh của những người đã hy sinh rất nhiều. Họ làm vì người khác và ông Lưu Hiểu Ba là người xứng đáng được sự ủng hộ của chúng ta.
Ông Lưu cũng nhờ vợ mình nói lại là ông muốn dành giải thưởng năm nay cho những linh hồn đã hy sinh trong trận Thiên An Môn ngày 4.tháng 6, năm 1989. Và uỷ ban Nobel rất vui được làm theo ý ông.
Tôi lắng nghe Jagland và thầm ngưỡng mộ khi ông nói về giá trị đích thực của mối quan hệ hòa bình thật sự giữa các quốc gia với nhau không thể được tạo ra nếu thiếu yếu tố nhân quyền và dân chủ. Về sự thiếu quân bằng khi phát triển kinh tế mà thiếu tự do ngôn luận sẽ chỉ làm gia tăng tham nhũng và thói kiêu ngạo quyền lực. Ông cho rằng mỗi bộ máy quyền lực phải được cân bằng bằng sự kiểm soát từ nhân dân, tự do truyền thông và quyền chỉ trích của mỗi cá nhân.
Jagland cũng nêu rằng Trung Quốc đã ký kết một số phê chuẩn của Liên Hiệp Quốc và ILOs về nhân quyền. Điều thú vị là Trung Quốc đã chấp nhận cơ chế giải quyết xung đột siêu quốc gia trong WTO.
Ông còn nêu: “Hiến pháp của Trung Quốc bảo vệ các quyền cơ bản của con người. Điều 35 của hiến pháp để rằng: “Công dân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và tự do hội họp, tự do biểu tình .” Điều 41 bắt đầu bằng:”công dân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền chỉ trích và nêu quan điểm của họ trên bất kỳ cơ quan nhà nước và bất kỳ người đại diện chính phủ nào ” .
Và dựa trên tất cả những điều này thì Lưu Hiểu Ba hoàn toàn vô tội. Ông không làm điều gì sai trái, chỉ xử dụng quyền công dân của mình mà thôi. Và ngược lại chính phủ Trung Quốc đang làm ngược lại những gì mình đã cam kết.
Kết thúc bài phát biểu của mình, ông Jagland đặt huy chuơng và bằng danh dự vào chiếc ghế trống dành cho người thắng giải.
Những tràng pháo tay vang dội cả trong lúc Jagland phát biểu và sau khi ông kết thúc.
Nhạc lại trỗi lên. Lynn Chang với tiếng violin êm dịu và réo rắt như muốn đưa những thông điệp này đến xa hơn, cao hơn.
Khán phòng lại im phăng phắc khi Liv Ullmann đọc bài viết của ông Lưu Hiểu ba «I Have No Emies.My Final Statement».
Sau bài viết đầy xúc đông của chính người đoạt giải. Ca đoàn thiếu nhi của Den Norske Opera og Ballett đã hoàn thành nguyện uớc của ông với nhiều bài hát. Ông Lưu Hiểu Ba đã nhờ người truyền đạt lại uớc muốn này đến ban tổ chức. Ông ao uớc sẽ có một ca đoàn thiếu nhi hát trong lễ trao giải của ông, vì đối với ông, thiếu nhi là thế hệ tuợng trưng cho tuơng lai. Ông luôn mong muốn một tuơng lai tốt đẹp hơn cho TQ nói riêng và mọi người nói chung nên ông rất chú trọng vào thế hệ mai sau.
Buổi lễ đã kết thúc, nhưng những tràng pháo tay vang mãi. Một buổi lễ trao giải Nobel lịch sử. Tôi thấy mình thật may mắn và vinh dự được chứng kiến và tham dự cho sự kiện trọng đại và ý nghĩa như hôm nay. Và không khỏi hãnh diện khi mình được là một trong những người đại diện cho cộng đồng người Việt ở Nauy có mặt nơi đây để thể hiện sự ủng hộ và biết ơn nhà đấu tranh dân chủ Lưu Hiểu Ba. Trong khi đại sứ quán Việt Nam tại Nauy từ chối tham gia thì tôi mong rằng sự hiện diện của mình sẽ nói thay cho sự ủng hộ của bao người Việt ở hải ngoại cũng như trong nuớc đối với giải Nobel này.
Khán phòng thưa dần nhưng chiếc ghế trống vẫn giữ buớc chân tôi ở lại. Tôi đến gần hơn và tự hỏi cả thế giới sẽ nghĩ gì khi nhìn vào chiếc ghế trống ấy ?
Riêng tôi, trong lúc nhìn vào chiếc ghế trống, tôi cảm thấy rất lòng. Đau lòng khi nghĩ đến ông Lưu Hiểu Ba và những người đã hy sinh hay vẫn trong vòng tù tội chỉ vì họ nói lên niềm khao khát tự do và một tương lai tốt đẹp hơn, chỉ vì họ hy sinh quên bản thân mình để mong muốn mang lại một sự thay đổi tốt hơn cho đất nước cho dân tộc mình, chỉ vì họ muốn quyền làm người phải thực sự được tôn trọng. Tôi đau lòng vì tôi nhìn thấy một chính quyền Trung Quốc độc tài mù quáng. Thay vì song song với việc phát triển kinh tế, họ phải quan tâm hơn, bảo vệ quyền lợi của người dân, nhưng ngược lại, Trung Quốc đang chà đạp những giá trị đích thực để đem đến sự hùng mạnh cho một quốc gia. Tôi đau lòng vì khi một quốc gia tiêu cực như thế, cả thế giới này cũng bị ảnh hưởng dù ít dù nhiều. Và tôi đau lòng hơn khi biết rằng hiện trạng quê huơng mình cũng không hơn gì so với Trung Quốc.
Nhưng chiếc ghế trống cũng mang lại cho tôi cảm giác hạnh phúc. Đó là tôi biết rằng những hy sinh lớn lao của những người không mệt mỏi đấu tranh cho nhân quyền, tự do dân chủ không bị mai một hay quên lãng. Những hy sinh đó vẫn được cả thế giới tâm. Bốn bức tường của nhà tù không đủ để ngăn cản sự đồng cảm và chia sẻ giữa những người đang hiện diện nơi này với những người đang mòn mõi trong chốn lao tù.
Chiếc ghế trống còn cho tôi hy vọng. Hy vọng về những điều tốt đẹp mà bao người đang hy sinh rất nhiều để đạt đến. Hy vọng rằng một ngày nào đó một trong những nhà đấu tranh dân chủ Việt Nam cũng sẽ có được vinh dự ngồi vào chiếc ghế trống ấy.
Chiếc ghế trống còn cho tôi hy vọng. Hy vọng về những điều tốt đẹp mà bao người đang hy sinh rất nhiều để đạt đến. Hy vọng rằng một ngày nào đó một trong những nhà đấu tranh dân chủ Việt Nam cũng sẽ có được vinh dự ngồi vào chiếc ghế trống ấy.
Hôm nay là một ngày ý nghĩa nhất trong đời tôi.
Oslo 10.12.2010
Nguyệt Minh
Nguyệt Minh
——————————–
Buổi Rước Đuốc Mừng Khôi Nguyên Lãnh Giải Nobel Hòa Bình
(Đây là bài đốt đuốc lúc 18 giờ của dân tại Nauy, đủ các giống dân định cư .Trong đó có người Việt đang sống tỵ nạn cộng sản Việt Nam tham gia . Có hình ảnh gửi sau)
Trong một bầu không khí nô nức nhân quyền, và dưới cái lạnh giữa mùa đông buốt giá, theo thăm dò của người tham dự có gần 1500 người hội tụ về tại Youngstorget, Oslo để cùng reo mừng ông Lưu Hiểu Ba nhận giải Nobel Hòa Bình, do Hội Ân Xá Quốc Tế tại Na Uy tổ chức, bắt đầu từ 18 giờ thứ Sáu, ngày 10 tháng 12 năm 2010.
Ngoài đông đảo người dân bản xứ còn có các sắc dân khác như: Tây Tạng, Mông Cổ, các nhà đấu tranh cho dân chủ của Trung quốc v.v…, đặc biệt Cộng đồng người Việt Nam cũng chịu khó chịu lạnh góp mặt trong ngày thật lịch sử này.
Trong 30 phút đầu tại Youngstorget, với đuốc cầm tay hoặc chân dung Khôi nguyên Lưu Hiểu Ban, đoàn người hô vang câu “Trả tự do cho Lưu Hiểu Ba!”, đồng thời cùng đồng ca bài hát nói lên ước vọng tự do, dân chủ và nhân quyền cho Trung quốc. Sau đó lần lượt đại diện các nhóm yêu dân chủ và tự do, nhất các nhà dân chủ Trung quốc lưu vong lên diễn đàn phát biểu cảm tưởng của mình. Ông Salil Shetty, Tổng Thư ký Hội Ân Xá Quốc Tế trong diễn văn kêu gọi, có đoạn ông nói: “…Chúng ta tổ chức cuộc diễn hành ngày hôm nay không chỉ dành riêng cho ông Lưu Hiểu Ba hiện ở trong chốn lao tù và vợ ông ta đang bị giam lỏng tại gia, mà cho cả hàng ngàn sinh viên đã bị bắn chết trong vụ Thiên An Môn vào năm 1989, cùng hàng ngàn người đang lâm cảnh tù tội tại bản địa vì nói lên tiếng nói đòi tự do dân chủ cho đất nước…”. Sau mỗi bài phát biểu, khẩu hiệu “Trả tự do cho Lưu Hiểu Ba” được hô vang trong ánh đuốc rực cháy làm ấm lòng người tham dự.
18 giờ 30 phút, đoàn diễn hành khởi động. Họ đi ngang qua các dãy phố Torggata, rẽ phải theo Kongensgata, băng ngang Gensen rồi đến Karl Johansgata. Đoàn diễn hành dừng chân trong công viên Quốc Hội, đứng chật cả lối đi dẫn tới trước Grand Hotel, là tụ điểm cuối cùng của buổi diễn hành. Nơi đây như khơi dậy một bầu không khí hân hoan vui nhộn của những Khôi Nguyên lãnh giải những năm về trước. Nhưng năm nay, trên ban công của khách sạn này, cánh cửa vẫn im lìm như ngóng chờ tin ông Lưu Hiểu Ba về đây vẫy tay chào mừng dân chúng, vị tân Khôi Nguyên vẫn biền biệt trong chốn lao tù cộng sản, và chân dung hiền hòa nhưng đầy khí phách của ông Lưu Hiểu Ba được rọi lên chiếm cả mặt tiền từ lầu 2 đến lầu 5 của khách sạn đã gây sự xúc động khôn lường cho mọi người. Và có những giọt nước mắt nào trong đoàn diễn hành vô tình rơi xuống xót thương cho sự nghiệt ngã của người con ưu tú Lưu Hiểu Ba dưới chế độ độc tài Trung cộng.
Buổi diễn hành kết thúc lúc 19 giờ 15 phút trong niềm hân hoan chia sẻ khát vọng dân chủ của người tham dự đối với nhân dân Trung Quốc.
Kính
Phạm Sĩ Việt
Oslo 10.12.2010
Phạm Sĩ Việt
Oslo 10.12.2010
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)