20/1/11

XUÂN TÂN MÃO NHỚ TẾT MẬU THÂN VÀ ĐAO-PHỦ-THỦ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG!

XUÂN TÂN MÃO NHỚ TẾT MẬU THÂN VÀ ĐAO-PHỦ-THỦ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG!

ĐAO-PHỦ-THỦ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
Thoắt mà đã 47 năm, kể từ ngày văn hào Nhất Linh, người đã dùng thuốc độc hủy mình “để cảnh cáo những người chà đạp lên mọi thứ tự do”. Đất nước đã thực sự lọt vào tay Cộng Sản 12 năm sau di chúc lịch sử của văn hào Nhất Linh được công bố.
Nhà văn Nhật Tiến, giải thưởng văn chương toàn quốc với truyện dài “Thềm Hoang”, cách đây hơn 30 năm, đã đại diện một nhóm nhà văn độc lập, đọc trước linh cữu Nhất Linh khi hạ huyệt những lời vĩnh biệt:
“Kính thưa anh hồn văn hào Nhất Linh,
Thật vô cùng đau đớn và xót xa cho chúng tôi khi chúng tôi nhận được tin văn hào đã quyết tâm từ bỏ hoàn cảnh sống nhỏ nhen và tăm tối này để đi về chốn thanh cao.
Đại diện cho một nhóm nhà văn độc lập, không phụ thuộc một màu sắc chính trị, không gia nhập một đảng phái, hôm nay trước anh hồn của văn hào, chúng tôi xin được bày tỏ lòng tiếc xót của chúng tôi.
Trọn một đời gian khổ, không ngại khó khăn, không màng danh vọng, văn hào đã tận tụy hy sinh, từ bỏ mọi quyền lợi riêng để tranh đấu cho lý tưởng tự do, cho cuộc sống hạnh phúc của dân tộc.
Văn hào đã hoàn thành sứ mạng của người cầm bút.
Văn hào đã nêu cao sĩ khí bất khuất của truyền thống những nhà văn chân chính.
Cái chết của văn hào sẽ mãi mãi là ngọn đuốc soi sáng con đường tăm tối của chúng tôi đang đi, là niềm khích lệ lớn lao cho những khó nhọc mà chúng tôi sẽ gặp gỡ, là một tấm gương sáng láng mà mãi mãi những kẻ cầm bút đi sau như chúng tôi phải soi vào để suy gẫm.
Chúng tôi xin nguyện trước anh hồn của văn hào là chúng tôi sẽ nhất quyết theo đuổi con đường cao đẹp mà văn hào đã vạch ra.
Đó là sự hoàn thành sứ mạng cao quý của các nhà văn.
Đó là sự chống đối mãi mãi bạo quyền và bạo lực.
Đó là sự đòi hỏi đến kỳ cùng quyền tự do được sống làm người của toàn thể dân tộc, như ý muốn của văn hào trước khi nhắm mắt.
Ôi! Nói làm sao cho xiết nỗi lòng thống thiết của chúng tôi trong những giờ phút đau đớn này.
Chúng tôi chỉ xin cầu nguyện cho anh hồn của văn hào sớm tiêu diêu miền Cực Lạc, cũng như xin văn hào linh thiêng chứng nhận những lời nói chân thành của chúng tôi trong giây phút vĩnh biệt này”.
Tôi tin, cũng như nhiều người khác tin, những lời vĩnh biệt rất văn hoa và đầy xúc động của nhà văn Nhật Tiến khi ông đọc trước linh cữu của văn hào Nhất Linh – con người mang tên hai chữ Nhất Linh trong suốt cuộc đời đã không làm điều gì vô ích, kể cả điều thông thường con người không có quyền làm là sự chết – nói theo cách nói của luật sư Dương Kiền.
Sau năm 1975, nhà văn Nhật Tiến đã ở lại Việt Nam, đã biết thế nào là Cộng Sản, và sau đó đã vượt biển để biết thế nào là cái tâm trạng:
Ta thương ta kiếp thuyền nhân
Một lần vượt biển muôn phần đớn đau!
Có điều tôi không hiểu, tôi cũng nghĩ rằng nhiều người khác không hiểu, về những việc làm của nhà văn Nhật Tiến trong vài ba năm trở lại đây. Ông tuyên bố rùm beng trên báo chí trước khi trở về Việt Nam “để tìm chất liệu sáng tác”. Ông đã mang sách “Trăm hoa vẫn nở trên quê hương” về Việt Nam. Sau đó, trở ra hải ngoại chỉ thấy ông im hơi, lặng tiếng. Có điều gì sai chạy chăng? Nhà văn vẫn theo đuổi những điều đã hứa trước linh cữu của văn hào Nhất Linh là “hoàn thành sứ mạng cao quý của các nhà văn… chống đối mãi mãi bạo quyền và bạo lực” với tư cách một nhà văn độc lập hay giờ đây ông đã “phụ thuộc một màu sắc chính trị”?
*
Hoàng Phủ Ngọc Tường, là người đã cùng Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân là “những người đã làm vỡ mộng bao cô gái Huế sau Tết Mậu Thân” – nói theo cách nói của nhà thơ Cao Mỵ Nhân. 
Trong tạp ghi “Không Chung Một Bầu Trời”, nhà thơ Cao Mỵ Nhân viết về buổi lễ kỷ niệm 20 năm Tết Mậu Thân được tổ chức vào mùa Xuân 1988 tại Nhà Văn Hoá Thanh Niên thành phố Hồ Chí Minh như sau:
“… Hội trường chật cứng những người, ai cũng muốn biết cái gì là quan điểm của bên kia về Tết Mậu Thân Huế. Có lẽ cái đinh của buổi “20 Năm Tết Mậu Thân Huế” hôm đó là Hoàng Phủ Ngọc Tường, hay nói cách khác, Hoàng Phủ Ngọc Tường nói gần như hụt hơi, Phan không lên máy vi âm “cứu bồ” chỉ đứng tại chỗ phía dưới khi ban tổ chức giới thiệu, Nguyễn Đắc Xuân cũng vậy, nay Xuân tóc bạc trắng, dung nhan phờ phạc, mơ hồ, không còn nét đấu tranh kiểu “tâm ca” xa xưa, trước thuở vô bưng.
Vì cả ba người Tường, Phan, Xuân đều hoạt động văn nghệ Cộng Sản với bút pháp Nguyễn Tuân, nhưng Tường vốn làm thơ, nên buổi nói chuyện đã chuyển qua không khí một đêm… thơ, hơn là đặc công du kích, chắc muốn cho vơi bớt hận thù.
Phàm là một người làm thơ, nếu lỡ có tàn ác, gian xảo, tồi tệ, xấu xa… đến đâu, hình như cũng có lúc “thật mình” như thế, mới đúng là thi sĩ chăng? Hoàng Phủ Ngọc Tường làm thơ không nhiều, nhưng riêng về mặt thơ thôi, thì lại có vẻ thi phong, thi cốt:
Thôi em, cảm tạ chờ mong,
Ngày anh đi hái phù dung chưa về.
Đêm qua, hương đã tàn mê,     
Mày ai còn dấu trăng thề như in…
Rõ ràng những chờ mong tuổi trẻ đã tàn phai, lầm lỡ, như sắc hoa phù dung: sáng đỏ, trưa hồng, tối trắng hay là phù dung thì sớm nở, tối tàn. Và khi đã tàn cơn mê, thì nét vẽ chân mày cong lên như dấu trăng thề in rõ rành rành tức là nhướng mắt nhìn sự bất lực của mình:
Bây giờ đã hết trò chơi,
Đã tàn cuộc rượu, để người ra đi.
Đêm qua, không biết làm gì,
Muốn tìm về gã Trương Chi nghe đàn.
Và hai câu kết bài thơ “Đêm qua” tức là qua rồi giấc mơ chẳng đẹp đẽ gì, chỉ toàn là ác mộng:
Đêm qua nhớ lũ đười ươi,
Lang thang rũ một trận cười trong mây.
Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là một người Việt Nam, một người Huế sinh ra và trưởng thành ở Huế, quá đà mộng dữ, đã phản bội lại Huế hoa niên của Tường, rồi cũng làm thơ, đến khi bắt gặp sự thật phũ phàng, mới thu hình về sống cô đơn với chính mình, gã đã thấy cuộc chơi nguy hiểm, không còn hứng thú, đành đi tìm nghe một tiếng đàn Trương Chi. Ai Việt Nam chẳng biết chàng Trương Chi xấu xí nên thà là mờ mờ nhân ảnh, kính nhi viễn chi, cho “kim cương” biến thành nước mắt:
Thôi em, cảm tạ con người,
Đã thương, đã ghét giữa trời mênh mông.
Đêm qua rơi xuống cội lòng,
Vàng in chiếc lá ngô đồng thiên thu…
Chao ôi, sắc “vàng” trừu tượng đã giấu vào thiên thu ký ức, Hoàng Phủ Ngọc Tường với dư âm, dư ảnh Tết Mậu Thân Huế, sẽ mãi mãi ám ảnh người dân Huế, không sao xóa nổi hận thù, gã sẽ như một thứ Trương Chi cụ thể, mà Huế như hàng vạn công nương, gã có tương tư Huế đến đâu, Huế cũng không thể sống chung bởi con người Hoàng Phủ Ngọc Tuờng đã lỡ phát sinh một khối uất hờn vô lý nhất là khi “đánh Huế”. Nên thôi, suốt đời nhân dân Huế với Hoàng Phủ Ngọc Tường chỉ cùng uống nước sông Hương mà không thể chung bầu trời tâm sự (có thể hiểu là không đội trời chung đấy)”.
Hai mươi năm sau biến cố Tết Mậu Thân, người cầm bút miền Nam, nhà thơ Cao Mỵ Nhân nghĩ về “người đi hái phù dung” (*) Hoàng Phủ Ngọc Tường như thế, không biết có đúng không?
Thời “Tây tiến đoàn binh không mọc tóc”, nhà thơ Quang Dũng chỉ vì:
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm!
mà đã bị nhà cầm quyền Cộng sản “đì” suốt bao nhiêu năm trời. Những người cầm bút chân chính chắc chắn có những xúc động thực lòng khi nghĩ về quê hương, đất nước, con người trước khi viết ra. Nhưng sau đó, có thể vì những suy nghĩ sai lầm, vì tham vọng cá nhân, vì ngộ nhận của dư luận… mà mọi chuyện, sau đó, đã khác đi.
Người cầm bút cũng như bao nhiêu con người khác, họ cũng có quyền sai lầm, vấp ngã. Điều quan trọng là sau khi vấp ngã có còn can đảm đứng lên và bước tới?
Trong thập niên 40, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam giã từ con đường văn học, bước vào chính trị. Năm 1948, sau khi Bảo Đại ký kết với Pháp thoả hiệp 5 tháng 6, Nhất Linh quyết định giã từ chính trường. Sau đó ông vào miền Nam hoạt động văn hóa. Ông không tin ở chính trị mà ông tin ở lòng người, ở một cái đạo ông tìm ra trong hương thơm của hoa phong lan. Và ông đã chọn cái chết để giữ mình lương thiện:
Người đi, đi mãi không về
Nhớ người dòng suối Đa Mê gợi buồn!
Năm 1968, Hoàng Phủ Ngọc Tường tham gia đánh Huế trong biến cố Tết Mậu Thân. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã chít giải khăn sô cho hàng vạn công nương Huế! Sau đó, Hoàng Phủ Ngọc Tuờng đã tự nhận mình là “người đi hái phù dung”. Phù dung là một loài hoa tam sắc túy: mới trổ màu trắng, rồi hường, gần tàn biến đỏ:
Phù dung sớm nở, tối tàn
Tiếng đồn rực rỡ, hỏi nàng có không?
Khi đưa tay hái đoá phù dung, Hoàng Phủ Ngọc Tường có biết đâu đã sẵn đau thương đợi chờ!
Cách đây 30 năm, nhà văn Nhật Tiến đã đọc bài điếu văn làm xúc động lòng người trước linh cữu văn hào Nhất Linh. Cách đây vài năm, Nhật Tiến bị dư luận “lên án” vì có tác phẩm “hoà giải” hoặc “trung lập”. Nhà văn này đã nói rằng tuy sống ở xã hội tự do nhưng: “Tôi thấy rõ người cầm bút ở đây chưa thực sự có tự do cầm bút”.
Câu tuyên bố của nhà văn Nhật Tiến quả có điều khó hiểu.
Cho đến năm 1987, vào hai ngày 6 và 7 tháng 10, trong một cuộc nói chuyện với hơn 100 văn nghệ sĩ ở trong nước, Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam lúc bấy giờ, xác nhận 2 điều:
-          Đảng đã đánh giá thấp vai trò, vị trí của văn học, nghệ thuật;
-          Đảng thiếu dân chủ, trói buộc văn nghệ sĩ, nhiều khi độc đoán, sát phạt.
Lời xác nhận như những hồi trống giáo đầu của vở kịch “Cao trào Văn nghệ Phản kháng” từ bấy đến nay với màn vĩ thanh như thế nào chắc nhà văn Nhật Tiến đã rõ.  
Không biết nhà văn Nhật Tiến thích loại hoa nào: hoa phong lan hay hoa phù dung?!
Bài viết này lẽ ra đã được kết luận với câu kết như trên nếu tôi không tình cờ đọc được bài phỏng vấn của báo Thanh Niên của Cộng sản Việt Nam được tạp chí Cuộc Đời số 19, tháng 1-1995, đăng lại. Bài phỏng vấn nhan đề “Nhật Tiến – Quê Hương: Chiếc nôi nuôi dưỡng nguồn cảm hứng sáng tạo”.
Nhà văn Nhật Tiến tuyên bố với phóng viên báo Thanh Niên là “quê hương đã có nhiều thay đổi, nhất là về chính sách kinh tế và ngoại giao”, Nhà văn cho biết là ông và Nhật Tuấn (em ruột của ông) sẽ in chung tập truyện ngắn “Quê Hương – Quê Người”. Sách sẽ do nhà xuất bản Văn Hóa ở trong nước xuất bản.
Trong cuộc phỏng vấn, Nhật Tiến cũng cho biết là “trong 15 năm xa quê, tôi chỉ in được vài ba tập truyện ngắn, một truyện dài và một tập bút ký viết chung với hai ký giả khác”.
Được hỏi: “Lựa chọn quê hương là nơi đầu tiên ra mắt cho tác phẩm, điều đó với ông mang ý nghĩa gì?”
Nhật Tiến đã trả lời như sau: “Đó là sự lựa chọn có ý thức và với tôi mang nhiều ý nghĩa. Trước hết là tôi luôn mong mỏi những sáng tác của mình tới được tay độc giả trong nước, bởi vì dẫu sao quê hương, đồng bào, dân tộc vẫn là cái nôi nuôi dưỡng nguồn cảm hứng sáng tạo cho tất cả văn nghệ sĩ. Sau nữa, việc in chung tác phẩm với một nhà văn trong nước ngay tại quê nhà cũng là một bước cụ thể trong tiến trình hòa hợp trên tinh thần dân tộc để xây dựng một đất nước phồn thịnh mà tôi vẫn hằng suy nghĩ từ gần hơn 10 năm qua”.
Ở hải ngoại, cũng một vấn đế người ta có thể có nhiều cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau và đôi khi hơi ồn ào. Trong giai đoạn đầu, khoảng 1991-1992, tôi cùng một số bạn bè văn nghệ hết sức tán thành và hỗ trợ cho bất cứ tờ báo nào thực hiện được chủ trương hòa hợp dân tộc như tôi đã nói trên. “Hợp Lưu” là một trường hợp cụ thể. Riêng tôi, vì báo chí không phải là ngành chuyên môn, lại không có thời gian dành cho lãnh vực văn nghệ nên chỉ hỗ trợ cho “Hợp Lưu” trên phương diện tinh thần là chính. Sau này, cảm thấy tự ngượng, vì thực tế, nhất là những năm 1993-1994, mình chẳng đóng góp được điều gì thiết thực, cụ thể cho tờ báo mà vẫn được để tên trong ban chủ trương nên tôi tự động rút tên. Đây hoàn toàn chỉ là vấn đề tự trọng và sự lương thiện trí thức đối với độc giả mà thôi”.
Tôi tin nhà văn Nhật Tiến đã có “vấn đề tự trọng và sự lương thiện trí thức” khi trả lời câu phỏng vấn của báo Thanh Niên của Cộng Sản Việt Nam: “Hình như tinh thần dân tộc đó đã được ông thể hiện bằng cách hành động và đã nhận lãnh nhiều “búa rìu” dư luận tại hải ngoại. Có phải ông là một trong những người chủ trương tạp chí Hợp Lưu”?
Trong cuộc sống, có người đi bên này sông, có người đi bên kia sông, có người lội xuống giữa dòng mà đi. Ai cũng có quyền thương yêu thù hận trong đời.
“Những người cầm bút, có người coi sự hoạt động chính trị như phản lại sự độc lập  của ngòi bút và khước từ tham gia chính trị với quan điểm rằng công việc của nhà văn giản dị là chỉ có viết mà thôi; có người lại chủ trương tham gia hoạt động cộng đồng như một công dân và tham gia chính trị với ý nghĩa tích cực nhất” – như kịch tác gia Vaclav Havel, đương kim Tổng thống Tiệp Khắc, Chủ tịch Văn Bút Quốc tế, đã phát biểu trong Đại hội Văn Bút vào năm 1995.
Dù chọn lựa thái độ nào thì sáng tác của những người cầm bút cũng phải gắn liền với thời đại mà anh ta đang sống. Và phải chịu sự phán xét của độc giả. Và người cầm bút nào cũng phải biết rằng những cái còn lại là sau khi anh ta đã nằm xuống.
Trong quyển “Godfather”, một quyển truyện găng-tơ nổi tiếng của Mario Puzo, hai nhân vật chính: “Bố Già Bố” Vitto Corleon và “Bố Già Con” Michael Corleon, không ám ảnh tôi bằng hai người vợ của hai nhân vật này.
Hai người đàn bà, một người là mẹ chồng, một người là nàng dâu. Cả hai người đều là vợ của hai ông Trùm Quyền Lực giới găng-tơ trong tiểu thuyết của Mario Puzo, mỗi cuối tuần đều đến nhà thờ cầu nguyện cho linh hồn của chồng mình.
Cách đây vài năm, trên một nhật báo, tôi có đọc được tin là bà Phương Khanh, vợ của nhà văn Nhật Tiến mỗi tối đều lên chùa để cầu nguyện khi nhà văn này về Việt Nam. Tôi không nhớ rõ lý do bài báo viết vì sao bà Phương Khanh phải lên chùa cầu nguyện. Mãi cho tới bây giờ, tôi cũng không biết rõ lý do. Bà Phương Khanh cầu nguyện – như bà Vitto Corleon và bà Michael Corleon cầu nguyện cho linh hồn của chồng mình vì biết chồng mình làm chuyện gian ác mà không thể ngăn cản được? Hay là vì lý do bà chỉ là một Phật tử?   
Có điều tôi biết chắc chắn rằng hoa phong lan thanh tao, cao quý hơn hoa phù dung tam sắc túy!
Nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, người đã chít giải khăn sô cho hàng vạn công nương Huế tự nhận mình là người đi hái phù dung không có gì khó hiểu.
Chỉ tiếc cho nhà văn Nhật Tiến!
LÃO MÓC

Blog Blog Blog


  • RSS Những blog nổi bật


  • HÃY NGUYỀN RỦA HỌ

    HÃY NGUYỀN RỦA HỌ

    HÃY NGUYỀN RỦA HỌ: NHỮNG KẺ ĐÃ TỪNG LÃNH ĐẠO CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CỘNG HÒA NAY LẠI MUỐI MẶT LÀM NHỤC CÁI CHẾ ĐỘ MÀ MÌNH ĐÃ LÃNH ĐẠO!
    Vào những ngày cuối đời, những vị đã từng một thời lãnh đạo chế độ Cộng Hòa Miền Nam, những ông đã từng là Tổng Thống, Phó Tổng Thống, những ông đã từng là ông Tướng, ông Tá đã từng một thời “hét ra lửa, mửa ra khói” của chế độ VNCH, của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lại ưa làm những chuyện chướng tai, gai mắt bằng cách “quậy phá” tại hải ngoại và sau đó tìm mọi cách xin xỏ Nhà cầm quyền Việt Cộng cho phép mình áo gấm hồi hương để tuyên bố những lời nịnh bợ VC và ăn chơi hoan lạc cuối đời!
    -Điển hình, ông Tướng phản chủ Đỗ Mậu đã viết hồi ký “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi”, chửi chủ của mình là cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, viết “Tâm Thưca tụng Việt Nam mới lên từng giờ. Ngay cả lúc gần đất, xa trời còn nghe lời xúi dại về Việt Nam, ngồi xe lăn lên đài truyền hình khoe là mình cùng quê với Võ Nguyên Giáp, lên tiếng ca tụng Hồ Chí Minh có công thống nhất đất nước.Mặc dù lớn tiếng rộng họng ca tụng đất nước đổi thay nhưng ông Đỗ Mậu chẳng dám ở lại Việt Nam mà lại quay đầu trở lại “đế quốc” Mỹ và chết già ở đây. Đại sứ Nguyễn Tâm Chiến của VC tại Hoa Kỳ đã “thưởng” cho ông Tướng phản chủ Đỗ Mậu bằng cách gửi đến đám tang của ông ta một vòng hoa tang có dãi cờ đỏ sao vàng. Báo hại mấy ông Giao Điểm là những người tổ chức tang lễ cho Đỗ Mậu phải lật đật đem giấu vào kẹt cửa vì sợ dân tỵ nạn cộng sản nhìn thấy.
    -Kẻ làm chuyện nhố nhăng kế tiếp là cựu Phó Tổng Thống VNCH Nguyễn Cao Kỳ. Trước khi về nước, ông này tuyên bố vung vít vì dân, vì nước đủ điều. Báo chí tường thuật lại bị dư luận lên tiếng mắng mỏ, ông Tướng Râu Kẽm bèn đổ vấy cho nhà báo Mỹ đã viết sai về những lời tuyên bố của ông ta. Dư luận rồi cũng qua đi. Chuyện khôi hài là có ông “bỉnh bút” ví von chuyện Nguyễn Cao Kỳ và bà vợ mới áo gấm về làng, làm áp phe để ăn chơi hoan lạc cuối đời là chuyện Kinh Kha sang… Tần! Có ông tự xưng là ký giả “cách mạng dân tộc (sic!)” viết một bài báo tràng giang đại hải cho rằng Nguyễn Cao Kỳ về Việt Nam là để thi hành chính sách của Mỹ. Ông ký giả này đưa ra lập luận là chuyện ông Kỳ làm áp phe ăn huê hồng với mấy tay tư bản Mỹ xây cất sân golf và khách sạn tại Việt Nam là để có cớ để Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam khi “giặc bành trướng phương Bắc” Trung Quốc (sic!) xâm lấn Việt Nam! Ông ký giả “cách mạng dân tộc” quả có máu khôi hài đen, nhưng ông ký giả nên nhớ “nâng bi” không khéo dễ trở thành “bóp dế” lắm đó!
    Trong một cuộc phỏng vấn của phóng viên Nam Nguyên của đài RFA vào ngày 7-3-2005, nghe ông Nguyễn Cao Kỳ nói chuyện về việc trùng tu “Nghĩa trang Quân đội”/QLVNCH. Theo bài phỏng vấn, ông Nguyễn Cao Kỳ cho biết là: “Ngay từ cuộc viếng thăm đầu tiên tôi đã nêu các vấn đề đó với các anh em ở trong nước. Có thể nói bây giờ đã có sự cảm thông hoàn toàn của mọi giới chức, mọi thành phần đối với chuyện tôi đề nghị đó. Thì ai cũng nghĩ đó là một hành động tốt đẹp thôi, chính phủ Việt Nam họ đã đồng ý và ra chỉ thị cho các nơi, nhất là ở Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa lúc trước, cho dọn dẹp sạch sẽ lại bao nhiêu năm bị bỏ hoang. Có thể trong vài tuần nữa dọn dẹp sạch sẽ, chúng tôi có thể tới thăm viếng được. Ở Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa cũ còn giữ được 14 ngàn ngôi mộ của anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa”.
    Thực ra, “Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa” không phải bị “bỏ hoang bao nhiêu năm” như lời ông Nguyễn Cao Kỳ nói đâu. Trong quyển “Việt Nam sau 10 năm”, tức là vào năm 1985, ký giả Tim Page đã cho in sau trang 100 trong quyển sách của ông là hình mộ bia của chiến sĩ QLVNCH nằm ở Nghĩa Trang Quân Đội Thủ Đức bị đâm thủng cả 2 con mắt với lời chú thích: “Mộ chí của quân nhân Việt Nam Cộng Hòa tại nghĩa trang quân đội bị lăng mạ”. Kế tiếp là bức ảnh to của một người mù cả 2 mắt đang ngửa tay xin tiền với lời chú giải: “Người lính của chế độ cũ, mù lòa, không được cấp dưỡng, đang ăn xin bên ngoài nhà thờ Ban Mê Thuột sau buổi lễ Chúa Nhật.” Nơi trang 113 là ảnh một người đàn ông lưng trần mặc quần đùi đen rách đít, lòi mông, chân bị băng bó, đang nằm ngủ trước bậc thềm gạch của một căn phố, không mền chiếu, với lời chú phía dưới “vừa được thả ra từ trại cải tạo, vô gia cư trên đường Đồng Khởi (trước là đường Tự Do) tại thành phố Hồ Chí Minh”… và còn nhiều nữa…    
    Và, trong một bài ký sự, ký giả Brennon Jones đã “kể ra các ví dụ về nghĩa trang quân đội VNCH ở Gò Vấp và nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, nơi có mộ của hai ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và nhà báo Pháp Francois Sully, từng viết cho tạp chí Time. Nay đó là một công viên và khu vui chơi cho trẻ em.Tình trạng kinh khủng nhất là Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, nơi Brennon Jones đến thăm năm 2002. Nhà báo này ghi nhận cảm giác “choáng váng” khi thấy cảnh tàn phá, các vết ô uế do gia súc gây ra trên các ngôi mộ tử sĩ”.
    Và nhà báo này cho biết, điều lạ là khi ông ta trở lại đây vào tháng Giêng năm 2005 thì thấy khung cảnh tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa thay đổi đáng kinh ngạc. Và cũng y chang cách nói của ông Nguyễn Cao Kỳ, nhà báo Brennon Jones cho rằng: “Đây là một điểm khởi đầu hứa hẹn cho điều tôi hy vọng sẽ đưa đến hòa giải dân tộc toàn vẹn một ngày nào đó ở Việt Nam.”
    Ký giả Brennon Jones nói đến chuyện “hòa giải dân tộc” không có gì đáng quan tâm vì ông ta là người Mỹ; ông Nguyễn Cao Kỳ lại đi nói chuyện “hòa hợp hòa giải trước với những người đã chết” mới là điều đáng quan tâm. Dù sao, cũng phải công tâm mà nói thì, theo như ông Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố, chuyện trùng tu lại “Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa” là do ông đề nghị và được “mấy anh lớn bên nhà” đồng ý thực hiện cũng là một việc làm ít ra là “có ý nghĩa” so với những lời tuyên bố hòa giải, hòa hợp ấm a ấm ớ, vớ va, vớ vẫn cũng như những lời tuyên bố hỗn láo đối với các cựu Tướng lãnh QLVNCH với báo chí của VC. Có người đa nghi cho rằng VC “đánh bóng” cho Nguyễn Cao Kỳ để trả công cho việc mối lái xây cất sân golf và khách sạn ở Việt Nam và cho dọn dẹp sạch sẽ “Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa” để lấy lòng Việt kiều và lấy lòng Mỹ để được Hoa Kỳ cho rút tên ra khỏi danh sách “các nước bị quân tâm”, để có hy vọng được gia nhập Tổ chức Mậu Dịch Quôc tế (WTO). Trong khi đó thì VC lại cho đăng tải tin Đỗ Vẫn Trọn trao tấm chi phiếu tượng trưng hứa giao 1 triệu 100 ngàn cho Hội Giúp Bệnh Nhân Nghèo TP.HCM do vợ của cố Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh có tên trong Ban Chấp Hành trên mục “Chính Trị” của nhật báo Nhân Dân, để “đốt” ông “nhà văn” tay sai kinh tài cho VC này. Xem ra, làm tay sai cho VC cũng có ba bảy đường: Họp hành với bí thư tỉnh ủy, hứa hẹn quyên góp 1 triệu 100 ngàn đô-la Mỹ để chữa bệnh đục thủy tinh thể cho 3.500 người bệnh. Bệnh nhân được sáng mắt nhưng người chủ trương chữa bệnh lại bị Đảng đem ra… đốt cháy!. Chỉ cần theo bà vợ mới, dắt mối cho hai anh tài phiệt Mỹ xây cất sân golf, khách sạn, ông cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ lại được “mấy anh lớn bên nhà” ra lệnh trùng tu lại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, để ông ta vào đó “viếng thăm, thắp hương, tưởng niệm” để cầu xin các anh linh tử sĩ tha thứ cho ông ta cái tội đón gió, trở cờ bắt tay hòa hợp hoà giải với kẻ thù ngày cũ. Theo bài phỏng vấn, nghe nói là ông Nguyễn Cao Kỳ có “xin phép… mấy anh lớn bên nhà” để đi đến “viếng thăm, thắp hương, tưởng niệm” các nghĩa trang liệt sĩ của phía bên VC để hòa hợp hòa giải. Đề nghị ông Nguyễn Cao Kỳ nên xin phép với “mấy anh lớn bên nhà” được phép vào thăm lăng và bái lạy tên tội đồ dân tộc Hồ Chí Minh cho nó trọn bề… nịnh bợ! Đề nghị ông Nguyễn Cao Kỳ hãy cẩn thận khi đến Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Hãy nhớ câu “Nhất Tướng công thành vạn cốt khô!” Nghe nói tượng “Tiếc Thương” dù bị VC giật sập từ lâu nhưng vẫn còn rất linh thiêng.
    Người Việt tỵ nạn cộng sản, sau đó, lại càng nhục nhã hơn khi nghe cựu Phó Tổng Thống VNCH Nguyễn Cao Kỳ mặt trơ, trán bóng ca tụng Chủ tịch nước VC là Nguyễn Minh Triết trong một buổi tiệc tại khách sạn Dana Point tại Nam California.
    *
    “Trải qua một cuộc bể dâu
    Những điều trông thấy mà đau đớn lòng!”
    “Cuộc bể dâu” của nàng Kiều chỉ 15 năm, chưa bằng phân nửa “cuộc bể dâu” của người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản: 36 năm.
    Vào năm thứ 36, thì ôi thôi không biết bao nhiêu là tay sai VC từ từ lổm ngổm bò ra. Từ những ông Tướng, Tá hư thân, mất nết theo “Chính phủ” này đến “Mặt trận” nọ. Từ mấy ông Tổng Thống, Phó Tổng Thống, mấy ông Tướng lừa bịp quốc dân đồng bào hô hào tử thủ nhưng lại cùng vợ con cong đuôi mà chạy trước, nay VC vừa thải ra mấy cục xương lại bẻ miệng, bẻ mồm hô hào hòa giải, hòa hợp với VC. Từ những Măt Trận đến đảng phái đã từng hô hào đồng bào tỵ nạn đóng góp tiền bạc, sinh mạng để… “giải phóng Việt Nam”, nay lại hô hào “tổng nổi dậy trong hòa bình”, lại mưu đồ biến “Ngày Quốc hận 30-04” thành “Ngày Tự Do Cho Việt Nam”, nay lại cho đảng viên về nước phát áo thun có mấy chữ HS,TS… để chống Trung Cộng dùm cho Việt Cộng! Đúng là có không biết bao nhiêu chuyện… trông thấy mà đau đớn lòng!
    -Nhưng nói đến chuyện “đau đớn lòng” của các ông Đỗ Mậu, Nguyễn Cao Kỳ mà không nói đến chuyện của ông cựu Đại Tướng tự phong kiêm cựu Quốc Trưởng Nguyễn Khánh  sẽ là một điều rất là thiếu sót. Mấy năm trước, bỗng dưng ông này “từ bi bất ngờ” bằng cách xin chính phủ Hoa Kỳ trợ cấp xe lăn và tiền bạc để ông ta đem về giúp đỡ thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa. (Sau này mới biết là Hoa Kỳ đã giao ngân khoản này cho Trần Văn Ca là “nhà kinh doanh từ thiện” có “lai-sân”. Sau đó, ông cựu Quốc Trưởng được Nguyễn Hữu Chánh “bốc” về làm Quốc Trưởng Chính Phủ Việt Nam Tự Do. Đúng là con người ta “bôn ba không qua thời vận!” Trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung, Mộ Dung Phục, kẻ “nuôi dũng sĩ, dưỡng mưu thần” với quyết tâm khôi phục nước Đại Yên. Rốt cuộc, vận may chưa tới, đành phải mặc áo hoàng bào ra nghĩa địa Tàu, phát kẹo cho đám con nít để được tung hô “vạn tuế!”.
    Ông cựu Quốc Trưởng Nguyễn Khánh, cuối đời, được tên đại bịp Nguyễn Hữu Chánh “ban” cho chức Quốc Trưởng, sướng chán! Nhưng mà đến nay, nghe nói ông Thủ Tướng NHC cũng đã phải ‘bỏ chức chạy lấy người!’”
    Nhìn mấy bức ảnh đăng trên báo Lập Trường số 550 phát hành ngày 17-02-2005, với lời chú thích: “Đại Tướng Nguyễn Khánh – Quốc Trưởng CP/VNTD ôm chặt Ông Nguyễn Hữu Chánh với ý nghĩ “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây”“Ông Nguyễn Hữu Chánh “Người trồng cây…” chết lặng giữa tiếng tung hô mừng rỡ của đồng bào tham dự lễ cắt băng khánh thành văn phòng liên lạc tại Washington DC.” mà… đau đớn lòng!
    -Càng đau đớn lòng hơn khi vào những tháng cuối năm 2010, trong Đại hội của cái gọi là Tập Thể Chiến Sĩ VNCH/Hải Ngoại, người ta lại nghe ông Trần Thiện Khiêm, cựu Thủ Tướng VNCH, cựu Đại Tướng QLVNCH tuyên bố là “dù cộng sản hay không cộng sản thì VC cũng là những người yêu nước” và “mọi người nên góp ý với VC để họ sẽ sửa đổi chế độ trong cuộc Đại hội Đảng sắp tới”.
    Một người cầm nắm chức vụ cao cấp và quan trọng trong Chính Phủ VNCH cũng như trong QLVNCH không thể không biết câu:
    “Bại binh chi tướng, bất khả ngôn dũng
    Thất quốc chi đại phu, bất khả ngôn trí”
    Nguyên nhân nào? Quyền lợi nào? Áp lực nào mà sau 35 năm “ngậm miệng ăn tiền”. Nay, trong những ngày gần đất xa trời, ông Trần Thiện Khiêm lại đi tuyên bố những lời vô cùng khốn nạn, bỉ ổi, khốn nạn và bỉ ổi hơn cả lời tuyên bố của ông “cố Đại Tướng” Dương Văn Minh, sau khi nài nỉ cố Tổng Thống Trần Văn Hương trao quyền Tổng Thống, để rồi“ông Tổng Thống thời cơ”… hàng giặc. Và sau đó hãnh diện tuyên bố: “Năm nay tôi 60 tuổi, rất hãnh diện là một công dân được đi bầu Quốc Hội của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam!”
    *
    Người ta nói có người không màng đến chuyện xấu và kẻ xấu vì muốn tỏ ra là mình có độ lượng, bao dung. Người ta nói có người không muốn đụng chạm đến kẻ xấu vì sợ bị trả thù. Nhưng người ta cũng nói nếu nhiều người cùng lên tiếng thì những kẻ xấu phải e dè!
    Xin đề nghị mọi người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại đồng thanh lên tiếng nguyền rủa những kẻ đã từng cầm nắm vận mệnh chế độ VIỆT NAM CỘNG HÒA nay lại muối mặt làm ô nhục cái chế độ mà mình đã từng lãnh đạo!
    Những kẻ này rất đáng để nhận những lời nguyền rủa vì những việc làm đốn mạt mà họ đã làm!
    LÃO MÓC

    15 câu nói ấn tượng nhất năm 2010

    15 câu nói ấn tượng nhất năm 2010






    Đọc lời phát biểu này kèm theo tấm hình của ông Trần Tiến Cảnh phát biểu trong cuộc họp, nếu ai đó có chút hiểu biết về tướng mặt thì cũng được an ủi, vì câu phát biểu ấy nó cũng ngu không kém những gì hiện trên bộ mặt của ông ta.

    1. Câu nói đáng nghi ngờ nhất





    Các nước có chỉ số IQ cao đều xây đường cao tốc. Việt Nam ta cũng có chỉ số IQ cao nên tôi đề nghị phải xây.



    Phát biểu của ông Trần Tiến Cảnh (Hà Nam) khiến nhiều người… nghi ngờ chỉ số IQ của ông này.



    2. Câu nói lột trần nhất



    Tôi chưa thấy môi trường khoa học ở Việt Nam có điểm mạnh nào so với thế giới, chỉ có điểm yếu hoặc rất yếu thôi.



    Nhận xét của giáo sư Nguyễn Tiến Dũng (Đại học Toulouse, Pháp). Có lẽ giáo sư hơi phiến diện nên chẳng thấy điểm mạnh nhất, dễ thấy nhất của Việt Nam, đó là mạnh miệng.



    3. Câu nói cảnh báo nhất



    Các thầy cô hãy cảnh giác với học trò.



    Một lãnh đạo ngành giáo dục thành phố Hải Phòng cảnh báo về việc học sinh “bẫy” cô giáo.



    4. Câu nói ưu tư nhất



    Thanh tra trùng trùng điệp điệp nhưng hiệu quả không cao.



    Nhận định của ông Lê Thanh Bình, Chủ nhiệm ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội, về lực lượng thanh tra hiện nay.



    5. Câu nói bào chữa nhất



    Học sinh không thích học sử học văn, ta phải mừng vì sách sử, sách văn hiện quá lôm côm.



    Nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần “bào chữa” cho học sinh.



    6. Câu nói điện ảnh nhất



    Nền giáo dục của chúng ta không có hậu kỳ.



    Ví von theo kiểu điện ảnh của báo Pháp luật Thành phố HCM khi thấy bao lớp học sinh giỏi đoạt đủ các giải quốc tế được chào đón, ròi sau đó trọng dụng, đào tạo ra sao thì… chấm hết.



    7. Câu nói đồng cảm nhất



    Người dân có tới 4 đại diện: HĐND xã, HĐND huyện, NĐND tỉnh, Quốc hội. Nhưng khi lâm sự thì không biết hỏi ông nào.



    Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng đồng cảm với người dân vì không biết hỏi ông nào khi có chuyện.



    8. Câu nói thật lòng nhất



    Có giao 1.000 tỷ đồng – 2.000 tỷ đồng bảo làm sao cho Hà Nội khỏi ngập mỗi khi mưa lớn thì chúng tôi cũng chịu.



    Ông Nguyễn Lê, Giám đốc công ty thoát nước Hà Nội thật thà khi được hỏi làm thế nào để Hà Nội hết ngập.



    9. Câu nói tâm trạng nhất



    Trong phòng chống tham nhũng, sợ nhất là a lô với vỗ vai.



    Ông Vũ Tiến Chiến, Chánh văn phòng Ban chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng thổ lộ về việc đáng ngại nhất trong phòng chống tham nhũng.



    10. Câu nói vô trách nhiệm nhất



    Chúng tôi đã làm hết trách nhiệm và không có lỗi.



    Câu trả lời từ các phía có liên quan trong hai vụ tai nạn thảm khốc “giữa đường sụp hố” tại tp. HCM



    11. Câu nói chính xác nhất



    Tệ nạn xã hội đang diễn biến phức tạp.



    Phát biểu của nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô “hô” lúc đương chức. Ngài chủ tịch nói cấm có sai, chính xác từ trên xuống dưới.



    12. Câu nói lý thuyết nhất



    Về lý thuyết, dự án bauxite là an toàn.



    Lời Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường trước Quốc hội về sự an toàn của các dự án bauxite. Trả lời theo kiểu lý thuyết này giống… trả bài hơn là trả lời.



    13. Câu nói đe dọa nhất



    Nếu các đồng chí không tự cắt, chúng tôi sẽ cắt các đồng chí.



    Chủ tịch UBND tp HCM Lê Hoàng Quân chỉ đạo các địa phương về việc cắt nhà xây lố tầng.



    14. Câu nói tầm phào nhất



    Tôi hứa chấm dứt ghép nhiều bệnh nhân một giường chỉ là câu chuyện truyền miệng, tầm phào thôi.



    Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu trả lời về việc hứa dẹp tình trạng nhiều bệnh nhân nằm ghép một giường.



    15. Câu nói vệ sinh nhất



    Không nên ảo tưởng có một đơn vị vô trùng trong một môi trường nhiễm trùng.



    Tiến sĩ Bùi Trần Phượng, Hiệu trưởng Đại học Hoa Sen, nhận xét về tham nhũng trong giáo dục.



    Theo Làng Cười 2010

    Chánh-Sách Tầm Ăn Dâu của Giấc Mộng Bá-Quyền Đại-Hán

    • 1.- Bối-cảnh lịch-sử. 
    Kinh-nghiệm của người Pháp khi đô-hộ Việt-Nam là trong suốt thời-kỳ một trăm năm cai-trị của họ, không lúc nào họ được yên vì dân-tộc Việt-Nam luôn luôn nổi-dậy để chống lại họ mặc dù lực-lượng yếu-kém, mặc dù vũ-khí trang-bị rất thô-sơ. Vì vậy, người Pháp lúc đó luôn luôn tìm cách đè đầu, đè cổ người Việt-Nam để dễ bề cai-trị, trong khi đó thì họ rất ưu-đãi người Tàu (Hoa-kiều) trong tất cả mọi sinh-hoạt kinh-doanh, làm ăn với họ trong thương-trường để làm giàu, vì thế, chúng ta thấy trong thời-kỳ Pháp thuộc, những người Tàu đều làm ăn phát-đạt, giàu có, bên cạnh đó là người Việt-Nam thì nghèo-nàn, đói rách xác-xơ.
    Từ đó, mới có những loại công-tử tiêu-pha tiền của lừng danh và những tay trùm thương-mãi trong khắp các nơi trên đất nước, tiêu-biểu nhứt là những loại như công-tử Bạc-Liêu và những tay cự-phú khắp vùng Saigon, Chợ-lớn.
    •   2.- Kế-hoạch của những mưu-toan Đại-Hán. 
    Có sống lâu ở Chợ-lớn mới thấy được nhiều mặt kinh-doanh phát-đạt vô-tận của người Tàu, từ những loại nhà hàng sang-trong như Đại-La-Thiên, Á-Đông, Đồng-Khánh, Bát-Đạt, Soái-Kình-Lầm, đến những chỗ ăn chơi ngoại hạng của họ như Arc-en-ciel, Nhứt-Dạ Đế-Vương, khu Hào-Huê, Đại Thế-Giới, những rạp hát, rạp chiếu bóng, các sòng bài, tiệm cầm đồ, khu hút sách,v.v…
     
    Dọc theo các con sông rạch Bình-đông, Bình-tây là những vựa lúa khổng-lồ, là những khu-vực mà người Tàu tha-hồ được đầu-cơ, tích-trữ, ngoài lúa gạo, còn rất nhiều mặt hàng khác như khô, mắm, cau khô, dưa cải, xưởng dệt, lò da… Khu-vực Chợ Kim-Biên thì có đủ thứ mặt hàng, nào sắt, nào đồng, nào nhôm và đủ loại máy mốc, các đồ phụ-tùng cơ-giới nội-địa cũng như nhập-cảng, lớn nhỏ đều có đủ cho đến những đồ gia-dụng từ ve chai, đồng-hồ cho đến những cây kim, sợi chỉ. Không có một gian hàng nào của người Việt xen vào được trong những khu-vực nầy mà chỉ có những người Việt đến để mua hàng của họ mà thôi. Tình trạng nầy, sau thời Pháp thuộc vẫn còn được tiếp-tục và tiếp-tục mạnh vào thời-điểm ngày nay.

    Để bảo-vệ cho những cơ-sở làm ăn nầy, họ tổ-chức những nhóm du-đảng riêng, bọn nầy mặt mày hung-tợn, võ-nghệ cao-cường, suốt ngày chỉ la-cà, ngồi ở quán nước, khi có nhu-cầu bảo-vệ bất cứ ở đâu thì bọn chúng phân-tán nhanh-chóng và đối phó bạo-lực ngay, một trong số nầy là nhóm Mã-Thầu-Dậu, lừng danh du-đảng một thời ở chợ Kim-Biên Chợ-lớn. Vì vậy, những nơi nầy mặc-nhiên trở thành những khu-vực tự-trị của người Tàu mà không cần bất cứ một văn-bản nào, dần dần sẽ giống như một nước Singapore trên đất Mã-Lai, được thực-hiện dưới một sách-lược “Tấm Ăn Dâu” trong mưu-đồ xâm-lăng của bọn người Tàu Đại-Hán.
     
    Kim-chỉ-Nam của họ trong kế-hoạch nầy là Con trai Tàu được quyền cưới vợ Việt-Nam, nếu muốn, còn con gái Tàu thì chỉ được lấy chồng người Tàu mà thôi. Có lẽ đó là chánh-sách một trăm năm trồng người của người Đại-Hán, vì theo chế-độ phụ-hệ, bên Nội thì gần còn bên Ngoại thì xa, con theo cha, cho đến một thời-điểm nào đó, người Tàu sẽ tràn-ngập đất nước và không chiến tự nhiên thành, nước Việt-Nam sẽ tự-nhiên trở thành một tỉnh, quận của nước Tàu, giống như mưu-đồ của bà Cù-Thị và Ai-Vương, hậu-duệ thứ tư của Triệu-Đà (năm 113 trước công-nguyên). Để thực-hiện giấc mộng bá-vương như thế, trải qua mấy ngàn năm nay, qua biết bao nhiêu triều-đại và cho đến ngày nay, với sự tiếp tay của bọn Việt-gian cầm quyền, người Tàu luôn luôn thực-hiên liên-tục và nhanh-chóng chánh-sách trồng người của họ trên đất nước ta.
     
    Từ ngàn xưa, bản-chất về lòng yêu nước của người Việt-Nam rất mãnh-liệt, đặc-biệt hơn nhiều dân-tộc khác, trong dân-gian người ta thường luôn nhắc-nhở và bày-tỏ lòng kính-yêu quê-ngoại hơn là quê nội, đó là một hình-thức phản-ứng để sinh-tồn. Điều nầy chúng ta thấy bàng-bạc trên khắp các tài-liệu văn thơ, vì thế mà suốt hơn một ngàn năm nô lệ, dân-tộc Việt-Nam tuy vẫn bị trồng người, nhưng không bị Hán-hóa.
     
    Tóm lại, những khu-phố Tàu nói trên chính là nơi chứa-chấp và bảo-vệ, phát-triển những ổ kinh-tài của chúng, đồng thời chứa-chấp và bảo-vệ những ổ sinh-hoạt của Việt-cộng tay sai để chống lại chánh-phủ Việt-Nam Cộng-Hòa. Những tên Việt-cộng đầu sỏ Việt-cộng như Lê-Duẫn, Trần-Bạch-Đằng, Cao-Đăng-Chiếm, La-Văn-Liếm,v.v… đều có một thời ẩn-núp ở đây và được những tên Tàu giàu-có, có thế-lực bao-che để điều-khiển những cơ-sở của chúng hoạt-động đánh phá miền Nam. 
    • 3.- Những phản-ứng của các chánh-phủ Việt-Nam Cộng-Hòa. 
    Ngày lên cầm quyền, Tổng-thống Ngô-Đình-Diệm đã nhìn thấy hiểm-họa nầy, cho nên ông ra sắc-lệnh cấm người Tàu hành-nghề 18(hay 16?) loại công việc, kể cả nghề hớt tóc. Lúc đó các bang-hội Tàu rất lúng-túng và thật sự bị xáo-trộn lớn-lao. Nhưng không biết sau đó họ vận-động thế nào mà TT.Ngô-Đình-Diệm lại ban-hành một sắc-luật khác là cho họ được tự-do nhập Việt-tịch, từ đó mới có danh-từ Người Việt Gốc Hoa và tình-trạng sinh-hoạt của họ trở lại như cũ, có nghĩa là đối với người Tàu, TT Ngô-Đình-Diệm đóng cửa trước, nhưng sau đó lại mở cửa hông. Cho nên chúng ta không ngạc-nhiên khi TT Ngô-Đình-Diệm bị quân-đội đảo-chánh năm 1963, ông và ông Ngô-Đình-Nhu tẩu-thoát vào Chợ-lớn, trước khi đến nhà thờ Cha Tam, hai ông đến nương-náo nhà của Mã-Tuyên, một tên Tàu trọc-phú lừng-danh ở gần cầu Ba Cẳng.
     
    Thời Tướng Nguyễn-Cao-Kỳ làm Chủ-tịch Ủy-Ban Hành Pháp Trung-Ương cũng thế, ông Kỳ ra sắc-lịnh chống đầu-cơ, tích-trữ hàng-hóa, nhứt là lúa gạo và lập ra pháp-trường cát  trước khu hỏa-xa, sát chợ Saigon, đem vua đầu-cơ tích-trữ lúa gạo Tạ-Vinh ra bắn. Hành-động nầy rất được dân-chúng hoan-nghinh, nhưng sau đó, không biết được “dàn-xếp” ra sao mà sau vụ bắn Tạ-Vinh, chánh-phủ nầy cũng im luôn. Đầu-cơ tích-trữ thực-phẩm vẫn lộng-hành trở lại như xưa, người Việt gốc Hoa vẫn độc-quyền làm ăn giàu có như thời thực-dân Pháp và đại đa số dân-tộc Việt-Nam vẫn tiếp-tục với cuộc sống cơ-hàn.
     
    Rồi chiến-tranh tàn-khốc do bọn Cộng-sản Hà-nội nhận lịnh các quan thầy Trung-Cộng và Liên-Sô đem đến, gây bao cảnh tang-thương chết-chốc và biết bao nhiêu thảm-trạng cho nhân-dân miền Nam, hàng triệu thanh-niên Việt-Nam phải bỏ mình nơi chiến-trận, trong khi thanh-niên “người Việt gốc Hoa” thì được bao-che trốn lính để tiếp-tục làm giàu và cưới vợ Việt-Nam. Những người lính chiến VNCH, sau bao năm tháng miệt-mài nơi chiến-trận, may-mắn được nghĩ phép vài ngày trở về thăm gia-đình và thành-phố, nhìn thấy những cảnh bất-công nầy, thì còn gì tái-tê bằng? còn gì nhục-nhả bằng? Còn những buồn tủi nào hơn?
     
    Sau ngày mất nước 30/4/1975, nhiều tên trọc-phú người Việt gốc Hoa nầy lộ nguyên-hình là Cộng-sản nằm vùng, đi tiếp-thu và nắm giữ nhiều chức-quyền quan-trong, như vua lúa gạo Chợ-lớn Lữ-Triệu-Phú trở thành giám-đốc ngân-hàng Việt-Nam, Lư-Sanh-Thoại làm giám-đốc ngân-hàng Việt-Nam  Thương-Tín, La-Văn-Liếm làm giám-đốc ngân-hàng ngoại-thương, Cao-Đăng-Chiếm làm trưởng ban quân-ủy thành-phố Saigon-Gia-định, Trần-Bình-Minh làm giám-đốc nhà máy cán sắt lớn nhứt VN là Vicasa ở Thủ-Đức. Xưỡng dệt vĩ-đại Vinatexco, nhà máy giấy đồ-sộ Thủ-Đức, v.v…đều do bọn Tàu trọc-phú Cộng-sản trá-hình nầy quản-lý. Chánh-sách trồng người của chúng có thêm nhiều điều-kiện thuận-lợi để phát-triển mạnh hơn. 
    • 4.- Những kẻ tội-đồ. 
    Việc bạo-quyền Việt-cộng dâng đất ở vùng biên-giới Việt-Trung, dâng biển ở vịnh Bắc-bộ và dâng cả hai quần-đảo Hoàng-sa và Trường-sa cho Trung-Cộng cũng như việc mở cửa biên-giới cho người Tàu qua lại tự-do cho đến việc cho người Tàu nhập cảnh để khai-thác quặng Bauxít, cho thuê thời-hạn 50 năm những khu rừng ở thượng nguồn những con sông quan-trọng, tất cả đều nằm trong diễn-tiến của bá-quyền Đại-Hán được thể-hiện dưới nguyên-tắc”Một Trăm Năm Trồng Người” của chánh-sách “Tầm Ăn Dâu” trong giấc mộng Đại-Đồng của Trung-Cộng.
     
    Tội-đồ Hồ-Chí-Minh với tư-tưởng và giấc mộng làm tay sai cho Liên-Sô và Trung-Cộng nên đã học kỹ và gối đầu giường phương-châm nầy và chính bọn cầm quyền Việt-gian Cộng-sản hiện nay đã tiếp nối, thi nhau phát-biểu: xây-dựng nền kinh-tế theo định-hướng theo Chủ-Nghĩa Xã-Hội và tư-tưởng Hồ-Chí-Minh, mặc-nhiên cấu-kết với giặc thù phương Bắc và trở thành những tên buôn dân bán nước, tội-đồ truyền kiếp của dân-tộc Việt-Nam. Những sự tiếp tay đắc-lực của bọn tội-đồ Việt-gian nầy trong mấy mươi năm qua đã dẫn đến nhiều hiện-tượng cho thấy vấn-đề Việt-Nam sẽ bị Hán-hóa mà hiện nay chỉ còn là điều-kiện thời-gian. 
    • 5.- Trách-nhiệm của người bộ-đội.
    Những người lãnh-đạo quân-sự Việt-cộng và cán-bộ, bộ-đội Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam cần phải nhìn thấy thực-trạng hải-hùng nầy để nhận-thức đúng vai-trò và trách-nhiệm của mình đối với dân-tộc và tổ-quốc để cứu nước trong hoàn-cảnh đen-tối nhứt của lịch-sử hiện tại, mạnh-dạng đứng về phía nhân-dân để hành-động như bộ-đội của các nước Cộng-sản Đông-Âu và Liên-Sô vào cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 đã làm được. Đừng để đất nước Việt-Nam bị rơi trở lại hoàn-cảnh “Một Ngàn Năm Nô-Lệ Giặc Thù Phương Bắc”, đừng để cho tập thể bộ-đội nầy bị nhân-dân và lịch-sử phê-phán là một loại quân-đội hèn-nhát, khiếp-nhược nhứt trong lịch-sử dân-tộc, chỉ biết phục-vụ cho một bè-lũ lãnh-đạo bất tài, bù-nhìn, tham-nhũng và buôn dân, bán nước để củng-cố địa-vị độc-tôn, làm giàu bất chánh, mặc cho dân tình nghèo nàn, khốn-khổ, không chỉ bất-hạnh riêng cho người dân, mà ngay cả bản-thân và gia-đình của những người sĩ-quan và bộ-đội thấp cổ bé miệng quý vị cũng đều cùng chung số-phận. 
     

    Thanh-Thủy
    (01/17/2011)

    NHỮNG TRÁI BOM " NGUYÊN TỬ NƯỚC" TẠI VIỆT NAM.


    Lụt ở Brisbane ( QueensLand- Úc)

        Trận đại hồng thủy kinh hồn nhất trong lịch sử của các trận lụt lớn tại tiểu bang Queensland, nước Úc đã nhận chìm gần như hơn 3/4 lãnh thổ tiểu bang, có đến 15 người bị chết đuối và hiện nay vẫn còn 55 người được ghi nhận là mất tích, các toán cứu cấp vẫn còn đang tìm kiếm và lực lượng cứu cấp SES ( State Emergency Service) ngày đêm lam việc dưới bất cứ tình trạng thời tiết trong tiểu bang.
        Về nhà cửa, có đến 110,000 căn nhà bị ảnh hưởng, trong số đó có tới 65,000 căn nhà bị nhận chìm dưới làm nước lũ. Đây là trận lụt" vĩ mô" hơn cả trận lụt nam 1974, nhiều cư dân đã từng bị 2 lần lụt trong vòng 36 năm qua đã so sánh như thế. Từ ngày 12 tháng 1 năm 2011, lụt đã" xâm lăng" đến thủ phủ Brisbane, khiến hầu hết hơn 80 khu vực đặt trong điều kiện vô cùng khó khăn, nhà máy điện phải ngưng hoạt động nên thủ phủ Brisbane trở thành vùng không ánh sáng, các tuyến đường xe bus trong thành phố chỉ thực hiện những chuyến vận chuyển công cộng rất là giới hạn, trong một số khu vực nào chưa bị" thủy tinh" đem quân đến" tấn kích" bằng các cơ triều cường, được sự hổ trợ đắc lực của các trận mưa lớn, có khi vũ lượng đến hàng trăm ml(1/1000 lít) trong một giờ và nhất là các con sông cũng hợp lực dâng triều cường, nay vài ngày tới được coi là cao điểm ( King tide), các đập nước quá sức chứa, cũng phải xả ra, gây những cơn lũ chảy xiết, làm cho dòng nước tăng thêm sức mạnh để tàn phá nhà cửa, giết chết người. Trong suốt mấy ngày qua, hầu hết các đài truyền hình, phát thanh, báo chí…dành hầu hết tin tức cho những diễn biến phức tạp về nạn lụt, chính quyền tiểu bang với nữ thủ hiến Anna Bligh, cùng với chỉ huy trưởng cảnh sát, dịch vụ khẩn cấp…thường xuất hiện trên các đài truyền hình quốc gia, những hình ảnh nầy được hầu hết các cơ quan truyền thông thế giới loan tải:
    " Năm nay, lụt lội mưa to.
    Mưa nhiều, úng ngập, khiến nhiều người lo.

    Lũ lụt cả nước buồn so.

    Nạn nhân khốn khổ, đang chờ cứu nguy".


        Trên màn ảnh của các đài truyền hình, cảnh tượng nhiều cư dân phải trèo lên nóc nhà, là nơi cuối cùng để" di tản chiến thuật" không bị ngập, họ không biết nơi nầy bị nước cuốn mất bất cứ lúc nào, nên chờ phi cơ trực thăng đến cứu. Cảnh xe bị trôi như những chiếc lá, đường phố biến, nông trại… thành biển mênh mông, như câu:" ruộng dâu biến thành biển", được giáo sư Nguyễn Ngọc Bích dịch bằng Anh Ngữ, rất là" sáng tạo" và sát đáy quần chúng là Mulberry sea, giống như một dịch giả, nhưng đã dịch thiệt câu:" canh gà thọ sương" trong bài thơ Huế là:" chicken soup"; cầu bị nước cuốn mất trong tít tắc, đường bị ngập chỉ còn nhìn thấy tấm bản chỉ đường…ngoài thiệt hại nhân mạng, nhà cửa, nơi nầy còn bị thiệt hại rất lớn: các mỏ than lỏi cung cấp 95% cho kỷ nghệ luyện thép thế giới đã đóng cửa, thiệt hại hàng tỷ Úc Kim, nông gia vừa thoát cơn nắng hạn, nay mới trồng được mùa, tưởng đâu sẽ lấy lại thiệt hại do hạn hán, bỗng đâu nước lụt làm úng cả những cánh đồng lúa mì bao la, nông trại trồng mía, chuối, trái cây, rau…ước tín lên đến hàng chục tỷ Úc kim.:" Hết cơn hạn hán, đến hồi lũ trôi". Các hãng bảo hiểm chắc là không bao giờ" hồ hởi phấn khởi" khi nơi nầy có quá nhiều thân chủ" neo đơn" xin bồi thường thiệt hại. Tình hình lũ lụt như thế nầy, không biết lúc nào nước rút, vì vùng nầy rút thì vùng khác lại bị lụt, nên nước đang có khuynh hướng tràn đến các vùng khác tiếp cận, nên nhiều vùng ở tiểu bang N.S.W cũng bắt đầu lo:" di tản chiến thuật" sau khi được nha khí tượng cho hay, hoặc tin tức cập nhật của chính quyền địa phương.
         Nhìn cảnh lũ lụt ở tiểu bang Queensland mới biết được" sức mạnh" kinh hồn của thủy tinh, nhiều vùng đã có" sóng thần nội địa" quét qua, trôi cả nhà, xe, tài sản…khi đi qua. Nước Việt Nam vốn từng chịu cảnh:" trời hành cơn lụt hàng năm" và nhất là từ ngày đảng Cộng Sản cai trị, với những" công trình sư" có trình độ rất cao: đại học sơ cấp trường làng, cao đẳng du kích, kỷ sư" không người lái" gốc đảng lâu năm, được nâng cấp trong kế hoạch đầy tự ti mặc cảm dốt mà làm lớn, như con khỉ ngồi trên bàn, thế là cán ngố dốt các cấp từ trung ương đến địa phương cùng nhau phát động chiến dịch:" XÓA DỐT GIẢM ĐẦN" từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi nhìn thấy hầu hết:" Ngụy quyền, ngụy quân, dân phản động miền nam, tư sản…thường có bằng cấp, trình độ văn hóa"…thế là đám khỉ Việt Cộng với tiêu chuẩn:" hồng hơn chuyên", tự biên tự diễn bằng cấp dỏm, giả, cuội…trở thành" trí thức dốt, khoa bảng đần", nhưng quyền hành rất lớn, là thứ vua không ngai, chúng bèn thi đua nhau chiếm đất của dân, đất công để xây dựng" cơ ngơi" riêng, hay bán cho người giàu, nước ngoài.

    Lụt Miển Trung VN 2010

        Nhờ những" đỉnh cao trí tệ nòi đười" nầy, nên hầu hết các đô thị lớn như Hà Nội, Saigòn, Đà Nẳng, Cần Thơ…đều được" xi măng hóa", cộng thêm nạn phá rừng bừa bải, biếu không cho Trung Cộng những khu rừng ở thượng du bắc Việt, cao nguyên Trung Phần…nên ở nhiều nơi nầy, khi mưa ( ngay cả mưa nhỏ), triều cường từ các con sông, đều làm ngập nhiều khu vực, gây nạn đất lở, đường hư rất là thường trực. Đó là tình trạng lũ lụt trầm trọng hàng năm, gây thiệt hại vật chất, chết người, thiên tai càng tệ hại hơn, gia tăng theo đà tham nhũng trong nước:" Từ trận thắng hôm qua, ta tạo nước lũ lụt gấp mười lần qua". Tuy nhiên nước lũ mặc lũ, dân chết, khổ mặc dân, đảng và nhà nước cứ vơ vét, ăn mừng" không ngừng nghỉ"…nên trong lúc nhiều tỉnh miền bắc đang lâm vào" tình huống lũ lụt, bảo" tàn phá, thì ở Hà Nội, đảng chi ra hơn 4, 5 tỷ Mỹ Kim để" ăn mừng quốc khánh quan thầy Trung Cộng" được ngụy trang dưới bình phong: " kỷ niệm sinh nhật nghìn năm Thăng Long", tưng bừng hàng chục ngày, ăn nhậu,  có bắn pháo bông, phô trương diễn binh với các" đoàn quân Robot bằng thịt" là quân hại nhân dân, khoe cờ máu, súng đạn…là đạo quân chỉ có nhiệm vụ bảo vệ đảng, chớ không bao giờ có nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, chống ngoại xâm, luôn làm theo mệnh lệnh của Hồ Chí Minh:" thà mất nước, đừng để mất đảng, phải bảo vệ đảng như con ngươi trong tròng mắt", do đó, dân Việt Nam không ngạc nhiên khi nhìn thấy cảnh: bộ đội nhân dân Việt Cộng đã" tự giác" dời cọc biên giới vào sâu đất liền, thuộc lãnh thổ VN, trong khi đó các" đồng chí" Hồng Quân Trung Cộng đứng" quan sát" xem đàn robot Việt Nam có hoàn thành một cách" xuất sắc" nhiệm vụ từ trung ương đảng đưa ra trong việc dâng đất, đảo, vùng biển từ từ cho quan thấy Bắc Kinh.

          Sức mạnh sóng thần, lũ lụt và nói chung là nước, thật kinh hồn, tàn phá hơn cả bom nguyên tử, như trận sóng thần xảy ra vào ngày 26 tháng 12 năm 2005, khiến hàng trăm ngàn người chết, thiệt hại khôn lường, đến nay vẫn còn nhiều nơi chưa phục hồi. Trong thời gian cầm quyền, Việt Cộng đã tự trói mình qua những hiệp ước với các nước láng giềng, cho phép các nước thượng nguồn sông Cửu Long như Thái Lan, Lào, Trung Cộng…được xây đập lấy nước, làm thủy điện tùy tiện. Đó là vào thời súc vật Nguyễn Mạnh Cầm, được đảng cướp Việt Cộng phân công tác làm" bộ trưởng ngoại giao", vào năm 1995, súc vật Nguyễn Mạnh Cầm đã biến Ủy Hội Sông Mékong, thu hẹp thành Ủy Ban Sông Mékong, cho phép các nước có quyền xây đập, mà khỏi có ý kiến chung, muốn làm cứ làm. Thời Việt Nam Cộng Hòa, bất cứ thành viên nào muốn xây đập, cũng phải tham khảm ý kiến chung của các nước, nếu có bất cứ nước nào phản đối, là coi như không có quyền làm. Do đó, nguồn nước sông Cửu Long vào mùa hạn, càng khô cạn, khi các nước thượng nguồn thu vào để tưới ruộng cho họ, nên gây cảnh nhiều cánh đồng lúa lưu vực sông Cửu Long hết nước và tình trạng nước biển tràn vào, làm hủy hoại thêm ruộng lúa, vườn, môi trường, nước uống, nước tiêu dùng; chưa kể đến các loài thủy tộc dần dần:" giản dân số", có nhiều loài đang đi dần vào họa diệt chủng. Nhưng khi mùa mưa, nhất là lũ ở thượng nguồn, các nước sợ bị ngập đất của họ, tạo lũ lụt, nên xả nước và làm cho Việt Nam hứng hết hậu quả, nên tình trạng lũ lụt cũng một phần do Việt Cộng gây ra, càng nghiêm trọng hơn:
    " Mất mùa bởi tại thiên tai.
    Được mùa lãnh đạo, thiên tài đảng ta".


    Lụt Miền Bắc VN 2010

        Miền Bắc, vào những năm 1997, bộ trưởng công nghệ Đặng Vũ Chu, cùng với một số súc vật khác trong bộ chính trị trung ương, phát động kế hoạch" xây đập Sơn La". Cũng như vụ Bọ Xít, gây nhiều tranh cải theo tiêu chuẩn:" phê bình như nói láo, báo cáo như nói chơi", nên họ chỉ bàn cải cho có vẻ là:" dân chủ theo định hướng xã hội chủ nghĩa" để đánh lừa mọi người, nhất là thành phần phản tỉnh cuội, được dịp lếu láo" chống đảng" để chứng minh cho thế giới và những người Việt nước ngoài nhẹ dạ, lười biếng suy luận:" trước sau gì Việt Nam cũng tiến tới dân chủ đa nguyên bằng lời nói, bằng kiến nghị.." rất là ù lì, bịp bợm trong hỏa mù:" dùng bất bạo động để tháo gỡ độc tài" và các nước cấp viện, buôn bán, cũng có những lời lẽ ngoại giao rất ư tế nhị để tiếp tục làm ăn, khi thấy dân Việt Nam cứ im lặng, tinh thần đấu tranh bị các nhà dân chủ dỏm lái sang giữ đảng bền, tránh bị sụp đổ như Liên Sô, Đông Âu:" Việt Nam có tiến bộ về cải thiện nhân quyền và tự do tôn giáo"…

    Lụt  Sơn La  2010

        Đập thủy điện Sơn La nằm trong khu vực hay động đất, (*) nên nguy cơ vở đập có khả năng xảy ra bất cứ lúc nào. Đó là tình trạng đập Sơn La đã bị nứt sau vài trận động đất nhỏ, có thể vở, nước tràn xuống đồng bằng, biến Hà Nội thành HÀ LỘI chỉ trong khoảnh khắc, nhanh như trận lụt ở Queensland, Úc Châu.
        Khi vở đập, nhất là mùa mưa, là đại họa, tạo nên trận đại hồng thủy kinh hồn, cũng là sóng thần nội địa, từ trên cao đổ xuống, theo một số người quan ngại là: sức mạnh nước từ đập Sơn La đổ xuống khi bị vở, có khả năng cuốn trôi cả chiếc xa tăng nặng 4 tấn, như chiếc lá trên dòng, thử hỏi có nhà gạch, nhà lầu, cao ốc…thật là" hoành tráng" của cán ngố xây dựng ở Hà Nội, các vùng phụ cận, chịu đựng nổi sức cuốn của nước từ trên cao đổ xuống?
       Nhìn thấy đại họa ấy, qua hình ảnh trận lũ lụt kinh hồn ở Queensland, Úc Châu, là nơi có tổ chức đường cống, hệ thống rút nước tương đối tiến bộ, mà còn chới với như thế, huống hồ là tại Việt Nam, cái gì cũng:" ưu việt" bằng ngôn từ, bằng báo cáo…nên người dân, cán ngố, nhân viên nhà nước ở Hà Nội hiện đang sống trong phập phòng lo sợ, khi đảng và nhà nước đã BIẾU không cho Trung Cộng:" quả bom nguyên tử nước". Đó là thứ vũ khí vô cùng lợi hại mà Trung Cộng đang có trong tay, nên khi cần:" dạy cho đàn em một bài học" như thời 1979, Trung Cộng không cần huy động nhiều quân đoàn, phi cơ, pháo binh…chỉ cần phá vở đập Sơn La bằng nhiều cách và đổ thừa là do xây dựng kém, động đất… là toàn bộ đầu não đảng, nhà nước ở Hà Nội ứng với hai câu sấm của Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ, vị sáng lập đạo Hòa Hảo:
    " Đất Bắc Kỳ, sau hóa ruộng sâu.
    Tàu Mao đến đó, giăng câu đạt lờ".


         Trung Cộng lợi dụng sự tham lam, ngu xuẩn của tập đoàn thái thú Việt Cộng để áp dụng" tương kế tựu kế", nên đập thủy điện Sơn La ra đời, chính là vũ khí vô cùng lợi hại mà Việt Cộng đã biếu không Trung Cộng, để buộc tập đoàn thái thú Hà Nội phải phục tùng, cút cung tận tụy, nếu cải là chỉ làm bể đập, là cha con Việt Cộng náo loạn,( *)  dân chúng chết, nhà cửa, mùa màng bị hủy hoại, khi nước lũ từ đập tuông xuống một cách" không người lái". Không biết các nhà dân chủ dỏm, đấu tranh cuội, các nhà dân chủ phòng lạnh…các tướng phục viên như Nguyễn Trọng Vĩnh, Đồng Sĩ Nguyên, nhà đấu tranh xạo Trần Khuê, kỳ sư Đô Nam Hải, kỷ sư tin học Nguyễn Tiến Trung, các nhà khoa bảng như Lê Đăng Doanh, Nguyễn Quang A, Trần Huệ Chi….khi nhìn thấy cảnh lũ lụt ở Queensland qua tin tức trên các hệ thống truyền thông, internet…có phản ứng gì không? Tuy nhiên lúc đất nước đang lâm nguy, chập chờn đại họa, mà cứ lo dâng kiến nghị, xin chữ ký, viết thư lên trung ương ( thường là không ai trả lời), biểu tình tại gia…thì đây cũng là LỐI CŨ của LŨ CỐI thôi, đấu tranh dân chủ đa nguyên theo chủ trương" dùng bất bạo động để tháo gở độc tài:" là còn lâu, Việt Cộng mới từ bỏ quyền lực, hay run sợ./.
     
    Trương Minh Hòa    14.01.2011


    • Phụ Chú .
    ( *) Động đất ở Sơn La .(31/12/2010)
    http://www.phongchonglutbaotphcm.gov.vn/?id=28&cid=2985

    Theo Sở Khoa học & Công nghệ tỉnh Sơn La: Hồi 1g48 ngày 31-12-2010, một trận động đất chưa xác định được bao nhiêu độ richter, xảy ra tại TP. Sơn La của tỉnh Sơn La.

    Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam tại Sơn La được chứng kiến, dư chấn kéo dài khoảng 10 giây làm lắc lư nhà cửa, đồ đạc trong vùng dư chấn. Nhiều người dân ở một số vùng của huyện Mường La và huyện Bắc Yên cũng cảm nhận được đợt dư chấn này.


    Bà Bạc Thị Thịch ở thành phố Sơn La kể: khi động đất xảy ra, tôi đang nằm ngủ trên giường nhưng có cảm giác ở trên chiếc xe ô tô bị mất phanh đang lao xuống dốc, làm chao đảo lắc lư đến chóng mặt.


    Động đất lần này không gây thiệt hại gì về tài sản cũng như tính mạng của người dân. Đây là lần thứ 2 kể từ trận động đất cường độ 3,5 độ richter xảy ra tại khu vực huyện biên giới Sốp Cộp (Sơn La) vào ngày 9-11-2010. Hiện vẫn chưa có thông báo của của Viện Vật lý địa cầu về trận động đất này./.


    Theo Tuổi Trẻ Online.   
     

    Điều gì đang diễn ra ở đất nước tôi đây?

    Ts Nguyễn Hồng Kiên
    Công luận đã và đang sôi lên vì chuyện lao động phổ thông người nước ngoài (chủ yếu là người Trung Quốc). Bà Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐ–TB–XH) buộc phải công nhận “lao động nước ngoài ở Việt Nam là thực tế có thực”, và “vấn đề là phải giải quyết việc họ vào không đúng luật ở Việt Nam.”
    Nhiều đại biểu Quốc hội yêu cầu quản chặt lao động nước ngoài và lo lắng tình trạng người nước ngoài đến du lịch rồi ở lại Việt Nam làm việc, trong khi người lao động trong nước thất nghiệp do suy thoái kinh tế.
    Ông Lê Quang Trung, Phó Cục trưởng Cục Việc làm (Bộ LĐ–TB–XH) khẳng định Việt Nam chỉ nhận lao động nước ngoài có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao vào làm việc chứ không chấp nhận lao động phổ thông nước ngoài. “Trước hết, hướng dẫn họ thực hiện đúng theo quy định của pháp luật Việt Nam, nếu họ không thực hiện thì thanh tra sẽ xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Còn nếu họ cố tình không thực hiện thì theo Nghị định 34 đã nói rõ: Trong trường hợp cố tình không thực hiện thì Sở LĐ–TB–XH đề nghị Bộ Công an trục xuất lao động phổ thông nước ngoài ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.”
    Thủ tướng đã ra Thông báo số 129/TB–VPCP yêu cầu rà soát lao động nước ngoài tại Việt Nam. “Quá trình hội nhập với thế giới đã nảy sinh nhiều vấn đề như nhập khẩu thiết bị, công nghệ cũ, lạc hậu và tình trạng người lao động nước ngoài sang sinh sống, làm việc tại Việt Nam tăng nhanh, nhất là gần đây. Để chấn chỉnh những hạn chế trên, Thủ tướng giao Bộ LĐ–TB–XH chủ trì rà soát, đề xuất việc sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành về lao động nước ngoài tại Việt Nam nhằm hạn chế tình trạng người nước ngoài làm việc không có giấy phép lao động hoặc cố tình vi phạm pháp luật về quản lý lao động. Bộ này cũng cần xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành về công tác quản lý Nhà nước đối với lao động nước ngoài để khắc phục tình trạng lợi dụng kẽ hở pháp luật. Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ LĐ–TB–XH tổng kiểm tra, rà soát tình hình sử dụng lao động nước ngoài và công tác quản lý lao động nước ngoài tại một số địa phương, địa bàn hiện có nhiều lao động nước người nước ngoài làm việc, xử lý các vi phạm về pháp luật lao động theo đúng quy định, báo cáo Thủ tướng trước 31/5 tới.”
    Nhiều báo đưa tin, ảnh TRỤC XUẤT lao động phổ thông TQ vi phạm.
    “200 lao động “chui” người Trung Quốc buộc phải hồi hương
    Chiều 19/6, phóng viên VietNamNet chứng kiến một đoàn taxi (xe 7 chỗ ngồi) chạy vào khu nhà máy xi măng Công Thanh đón các lao động Trung Quốc ra sân bay Tân Sân Nhất để hồi hương. Tài xế một hãng taxi ở Đồng Nai xác nhận, ngày hôm đó, hãng của anh đã điều 8 xe chở hơn 50 lao động Trung Quốc ra sân bay Tân Sơn Nhất rời Việt Nam.”
    Đã mừng! Có lẽ người Việt Nam sẽ không còn bị tranh cơm cướp áo ngay trên quê hương mình.
    Vậy mà, ngày 01/7, báo Thanh niên đưa tin: “Hôm qua 30.6, tin từ Sở LĐ-TB-XH tỉnh Đồng Nai, cơ quan này vừa xử phạt vi phạm hành chính 5 triệu đồng đối với Công ty xi măng Công Thanh (ấp 3, xã Phước Khánh, H.Nhơn Trạch, Đồng Nai) do sử dụng 182 lao động là người nước ngoài không có giấy phép, chứ không hề có chuyện xử phạt 5 triệu đồng/người và buộc xuất cảnh như một số báo đã đăng tải.”
    BBC đưa tin chi tiết hơn rất nhiều, và cho rằng Việt Nam không trục xuất lao động ngoại:
    “Bà Lê Thị Mỹ Phượng, Giám đốc Sở LĐ-TB-XH tỉnh, nói với BBC rằng cơ quan chức năng chỉ phạt hành chính 5 triệu đồng đối với Công ty Xi măng Công Thanh là cơ sở thuê mướn lao động phổ thông nước ngoài bất hợp pháp. Hôm 23/06, báo điện tử VietnamNet loan tin thanh tra lao động tỉnh Đồng Nai phát hiện ra 200 lao động Trung Quốc làm việc trái phép tại công trường xây dựng nhà máy xi măng Công Thanh, nằm tại huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Báo này đưa tin các lao động nước ngoài làm việc không giấy phép phải nộp phạt 5 triệu đồng/người và bị trục xuất về nước. Báo Tuổi Trẻ thì đưa ra con số 182 lao động bị buộc “xuất cảnh” liên quan vụ này. Theo bà Lê Thị Mỹ Phượng, doanh nghiệp xi măng trên đã giải quyết số lao động ngoại không giấy phép bằng cách sắp xếp họ đi địa bàn khác. “Có lẽ vì thấy lao động rút đi, nên mới có thông tin nhầm lẫn là họ bị trục xuất.”
    Đọc mà lộn ruột!
    Nhưng choáng váng hơn nhiều khi tờ International Herald Leader (trực thuộc Tân Hoa xã) có bài bình luận nói về “thái độ phức tạp” của Việt Nam liên quan đến việc trục xuất lao động Trung Quốc. Tôi đã mò vào tận trang gốc:
    Và đây là bản dịch từ nguyên văn bài đó:

    Thái độ phức tạp của Việt Nam đối với các công nhân Trung Quốc hồi hương
    Nguồn: Global Times [22:44 July 01 2009]
    “Việt Nam sẽ trục xuất 182 công nhân Trung Quốc bị phát hiện đang làm việc bất hợp pháp ở đó”. Bản tin ngày 25 tháng 6 của giới truyền thông Việt Nam đã thu hút sự chú ý của các hãng truyền thông Trung Quốc và khắp thế giới.
    Tuổi trẻ, một tờ báo Việt Nam, đưa tin này đầu tiên, nói rằng 182 người Trung Quốc bị phát hiện ở một công ty xi măng ở tỉnh Đồng Nai miền Nam Việt Nam. Chính quyền tỉnh Đồng Nai đã quyết định phạt mỗi người 281 đôla Mỹ và đang xem xét việc trục xuất họ về Trung Quốc.
    Ông Wang Qing, một giám đốc của các dự án quốc tế thuộc một tập đoàn xây dựng Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam cho biết: “Lúc nào cũng có những trường hợp như thế này ở Việt Nam”.
    Theo luật pháp Việt Nam, các công ty nước ngoài có thể lựa chọn đội ngũ nhân viên quản lý và kỹ thuật từ các nước khác sau khi họ ký được những hợp đồng hợp phát cho dự án của họ, nhưng phải lấy được giấy phép lao động cho những người đó.
    Để bảo vệ công ăn việc làm cho lao động trong nước, Việt Nam đã đặt ra những quy định nghiêm ngặt đối với các công nhân nước ngoài, cũng giống như nhiều quốc gia khác. Công nhân Trung Quốc không có kỹ năng đặc biệt nào thì không thể lấy được giấy phép lao động.
    Một thương nhân Trung Quốc đầu tư vào Hải phòng cho biết công ty ông thường cần đến các kỹ thuật viên Trung Quốc cho các công việc ngắn hạn ở Việt Nam. Quy trình phức tạp để xin được giấy phép lao động thường rất mất thời gian và rất tốn kém.
    “Thỉnh thoảng, những hợp đồng chúng tôi ký với các đối tác Việt Nam không đúng quy chuẩn, và chúng tôi không thể xin được giấy phép lao động theo đúng quy trình chuẩn. Chúng tôi phải dùng cách khác.”
    Công nhân Trung Quốc trên công trường khai thác bô-xít Tân Rai, Lâm Đồng.
    Ảnh: Sài Gòn Tiếp Thị
    Trong những cách này có nạn đưa người trái phép, cư trú quá thời hạn và sử dụng visa du lịch vào Việt Nam để làm việc. Chính quyền Việt Nam không đủ khả năng để ngừng những việc này. Điều đó, cộng với tham nhũng, chỉ càng tăng cao số lượng công nhân Trung Quốc vào Việt Nam mà thôi.
    Nhà thầu Trung Quốc của một số dự án hầu như không hề sử dụng một công nhân Việt Nam nào, mà chỉ chọn chủ yếu là công nhân Trung Quốc.
    Ông giải thích: “Thật sự thì lương trả cho công nhân Trung Quốc rất cao, mỗi người kiếm được khoảng hơn 5000 tệ (732 đôla Mỹ) mỗi tháng, trong khi chúng tôi phải trả người Việt Nam khoảng 1000 tệ (146 đô la) đến 2000 tệ một tháng thôi. Nhiều người có thể thắc mắc tại sao chúng tôi không thuê công nhân Việt Nam. Đấy là vì họ không chăm chỉ bằng công nhân Trung Quốc và hiệu suất công việc của họ lại thấp. Thường thì chúng tôi cần ba đến năm công nhân Việt Nam mới đạt được hiệu quả công việc của một công nhân Trung Quốc”.

    Công nhân Trung Quốc thường có kỹ năng cao hơn và dễ quản lý hơn. Các công ty Trung Quốc khó có thể tuyển được các công nhân Việt Nam có kỹ năng cao. Ngay cả khi họ thuê được thì vẫn có những rào cản về văn hóa, ngôn ngữ, thói quen làm việc và những thứ khác.
    Khi càng ngày càng nhiều công nhân Trung Quốc vào Việt Nam, lại càng có nhiều mâu thuẫn xảy ra, thường do những hiểu lầm và thiếu thông tin. Một số mâu thuẫn trở thành những xáo trộn lớn khiến cảnh sát và giới truyền thông phải chú ý.
    Theo ông Wang, cảnh sát đã phát hiện các công nhân Trung Quốc nhập cư bất hợp pháp khi xử lý các vụ lộn xộn giữa người Trung Quốc và cư dân địa phương, và giữa chính những người Trung Quốc với nhau. Những công nhân này đã bị đưa trở về Trung Quốc.
    Thường thì những xáo trộn này không khiến chính quyền Việt Nam buộc phải trục xuất các công nhân Trung Quốc về nước. Họ chỉ hay bị phạt tiền. Và thường thì chỉ những người không có hộ chiếu hay visa hợp lệ hay có visa quá hạn mới bị chính quyền trả về.
    Ông Wang nói: “Hành động của chính quyền Việt Nam không có nghĩa là họ phản đối công nhân Trung Quốc làm việc ở đây. Họ chỉ đơn giản đang cố kiểm soát tình hình và tránh xung đột và lộn xộn thôi”.
    Giới truyền thông Việt Nam có khuynh hướng tránh các trường hợp này. Một học giả Việt Nam gốc Trung Quốc cho biết: “Giới truyền thông các quốc gia khác, nhất là Trung Quóc, còn chú ý nhiều hơn đến việc này”.

    Ông cho rằng vấn đề thật ra là mối quan hệ phức tạp giữa Trung Quốc và Việt Nam. Chính quyền Việt Nam hy vọng duy trì được mối quan hệ tốt với Trung Quốc để phát triển kinh tế, điều này phản ánh trong thái độ ôn hòa của giới truyền thông Việt Nam đối với trường hợp này. Nhưng vẫn còn đó những ý kiến khác và những tiếng nói không thân thiện đối với Trung Quốc ở đất nước này.
    International Herald Leader”
    Việt Nam có còn là Việt Nam?
    NHK

    Hàng triệu dân xài nước độc hại

    Các nhà máy xả chất thải ra sông: hàng triệu dân xài nước độc hại

    medium_VN_72223850_pollution.jpg

    Hình bên: Một người chèo xuồng thu gom bao nhựa, thùng, chia nhựa nổi trên mặt một con sông ở Việt Nam để bán phế liệu. Gần hết hệ thống sông ngòi ở Việt Nam bị ô nhiễm trầm trọng vì các nhà máy xả chất thải bừa bãi ra sông. (Hình: AFP/Getty Images)

    SÀI GÒN 1-8 (TH) - Các nhà máy, công ty sản xuất công nghệ xả chất thải độc hại ra sông làm cho hàng triệu dân phải gánh chịu hậu quả nhưng nhà cầm quyền không có biện pháp nào đối phó hữu hiệu ngoài những lệnh lạt câu giờ hoặc đối phó lòng vòng.

    Trong những ngày gần đây, một hồ chứa tới 230,000m3 chất thải độc hại của công ty sản xuất thức ăn gia súc “San Miguel Pure Foods VN”, đã vỡ bờ bao, đổ ra sông Thị Tính rồi vào sông Sài Gòn.

    Nồng độ ô nhiễm nặng đến nỗi nhà máy nước ở Bình Dương có lúc đã phải ngưng lấy nước sông để lọc, tạo nguy cơ thiếu nước cho một khu vực rộng lớn.

    Theo một bản tin của VNExpress, một viên chức của nhà máy Cấp Thoát Nước-Môi Trường Bình Dương (Biwase), thì “nồng độ Amoniac trong nguồn nước mặt trên sông Sài Gòn đã vượt tiêu chuẩn nhiều lần cho phép của Bộ Y Tế.”

    Cũng theo ông này “vỡ bờ hồ chứa nước thải chưa qua xử lý xảy ra tại công ty thương nghiệp hữu hạn San Miguel Pure Foods VN khiến hơn 230,000m3 nước thải ô nhiễm chảy về phía hạ lưu sông Sài Gòn ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước đầu vào của 2 nhà máy nước thị xã Thủ Dầu Một và Tân Hiệp (Sài Gòn). Trong những ngày qua, nếu không có sự can thiệp bằng cách xả nước từ hồ Dầu Tiếng, rất có thể 2 nhà máy nước này sẽ phải tạm đóng cửa.”

    Vì nồng độ ô nhiễm vượt quá mức cho phép, nhà máy cấp nước buộc phải ngưng lấy nguồn nước thô từ nguồn nước mặt trên sông Sài Gòn và chuyển qua lấy nước từ nguồn ngầm. Ðồng thời, các nhà máy nước còn lại trong mạng “huy động tối đa công suất bù đắp cho sự thiếu hụt”.

    Nguồn nước ngầm vốn dĩ đã bị khai thác quá sức, nay lại càng bị lạm dụng.

    Giữa tuần qua, không những vậy, báo Tiền Phong còn cho hay hàng triệu người dân hiện đang phải sử dụng nước máy nhiễm dầu.

    “Hệ thống sông Ðồng Nai (Ðồng Nai) bao gồm các sông chính: Ðồng Nai, Bé, Sài Gòn, Vàm Cỏ và Thị Vải, chảy qua địa bàn 12 tỉnh, thành phố với tổng diện tích tự nhiên của lưu vực là 37,400 km2 (chiếm hơn 11% diện tích cả nước). Theo ông Hoàng Dương Tùng - giám đốc Trung Tâm Quan Trắc và Thông Tin Môi Trường (Cục Bảo Vệ Môi Trường, Bộ TNMT), tình trạng ô nhiễm với mức độ ngày càng nghiêm trọng đang biến hệ thống sông Ðồng Nai trở thành những dòng sông chết.”

    Báo Tiền Phong viết như vậy và nói rằng, theo kết quả khảo sát mới đây của Cục Bảo Vệ Môi Trường (BVMT), “nhiều đoạn sông Ðồng Nai đã bị ô nhiễm nghiêm trọng. Ðoạn từ nhà máy nước Thiện Tân đến Long Ðại (Ðồng Nai): Hàm lượng chì vượt mức cho phép; chất rắn lơ lửng vượt tiêu chuẩn từ 3-9 lần; chỉ số COD vượt 1.8-2.8 lần; chỉ số DO thấp dưới mức cho phép. Ðoạn từ trạm bơm cấp nước Hóa An đến trạm Cát Lái, hàm lượng dầu từ 0.025-0.029mg/l. Ðặc biệt, khu vực hạ lưu sông, chỉ số SS vượt 2-2.5 lần và bị nhiễm mặn nghiêm trọng, không thể sử dụng tưới tiêu và cấp nước sinh hoạt. Sông Sài Gòn thì bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi chất hữu cơ, vi sinh. Một số đoạn còn bị ô nhiễm kim loại nặng. Theo kết quả quan trắc, con sông này bắt đầu bị ô nhiễm từ cửa sông Thị Tính, mức độ tăng dần về hạ lưu. Các sông khác cũng đang ‘hấp hối.’”

    Sông Thị Vải có một đoạn từ phía dưới hợp lưu Suối Cả đến khu công nghiệp Mỹ Xuân trở thành sông chết với chỉ số DO xấp xỉ bằng 0, không loài sinh vật nào có thể sống nổi. Trong khi tiêu chuẩn không cho phép dầu có trong nguồn nước thô chế biến thành nước sinh hoạt thì hàng triệu người dân Sài Gòn, Bình Dương, Ðồng Nai hàng ngày vẫn phải sử dụng nước sinh hoạt lấy từ nguồn nước bị nhiễm dầu trên 2 con sông Ðồng Nai và Sài Gòn.”

    Tờ Tiền Phong nói, theo kết quả khảo sát tại tỉnh Bình Dương của Cục BVMT, 3 huyện Bến Cát, Dầu Tiếng, Tân Uyên tiếp giáp sông Sài Gòn có tỉ lệ người bị mắc các bệnh lỵ và tiêu chảy cao gấp hàng chục lần so với 3 huyện không tiếp giáp là Phú Giáo, Dĩ An, Thuận An. Ðiều này chứng tỏ nước sông, nguồn nước sinh hoạt chính yếu của người dân bị ô nhiễm trầm trọng suốt bao nhiêu năm qua vì các nhà máy xả chất thải bừa bãi ra sông rạch.

    “Sử dụng nguồn nước có hàm lượng kim loại nặng và thuốc bảo vệ thực vật có thể dẫn đến một số bệnh nguy hiểm như gây đột biến gen, ung thư, thiếu máu, tiểu đường, gan, tim mạch...” Tờ báo dẫn lời một viên chức.

    Tình trạng nghiêm trọng như vậy, nhưng mọi chương trình, kế hoạch đối phó đều “Mới làm trên... giấy!” theo báo Tiền Phong.

    “Tháng Bảy 2007, Tổng Công Ty Cấp Nước Sài Gòn (SAWACO) đã đề nghị Ủy Ban Nhân Dân TP. Sài Gòn chỉ đạo Sở TNMT phối hợp với các địa phương kiểm soát chất lượng nguồn nước sông Ðồng Nai, đặc biệt là sông Sài Gòn, vì khảo sát cho thấy, các chỉ số Mangan, N-NH3, vi sinh đều vượt so với tiêu chuẩn nước sinh hoạt. Ðơn vị này cảnh báo nếu không xử lý kịp thời, sẽ phải đóng cửa nhà máy nước Tân Hiệp.”

    Báo cáo của Cục BVMT cho biết, vấn đề kiểm soát, xử lý ô nhiễm cũng được đặt ra cách đây nhiều năm. Tháng Mười Một 2001, Ủy Ban Bảo Vệ Môi Trường lưu vực sông Ðồng Nai được thành lập gồm 11 ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố thuộc lưu vực. Thế nhưng, suốt từ đó đến nay, ủy ban này và cả Bộ TNMT chỉ thực hiện trên... giấy, thông qua các cuộc hội thảo, hội nghị và công văn.

    Vì vậy, quyết định số 187/QÐ-TTg ngày 3 Tháng Mười Hai 2007 của thủ tướng chính phủ “phê duyệt đề án bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Ðồng Nai”, được xem là cứu cánh để hồi sinh những dòng sông đang hấp hối.” Tờ Tiền Phong viết như vậy và nói rằng “Thế nhưng, trong hội nghị triển khai đề án trên, nhiều đại biểu là lãnh đạo ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố cho rằng kế hoạch thực hiện do Bộ TNMT soạn thảo vẫn còn nhiều vấn đề bất cập, chưa rõ ràng, cụ thể.”
    Và không biết đến bao giờ mới có cái “rõ ràng, cụ thể”.