13/2/11

Cựu Chủ tịch Quốc hội: Ba vấn đề cốt lõi khi sửa Hiến pháp

Cựu Chủ tịch Quốc hội: Ba vấn đề cốt lõi khi sửa Hiến pháp

Nguyễn Văn An
clip_image002
Nguyên Chủ tịch QH Nguyễn Văn An.
Cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An hi vọng lần sửa đổi Hiến pháp này sẽ bàn kĩ 3 vấn đề cốt lõi: Dân được quyền phúc quyết Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp để đúng nghĩa là người chủ đất nước; Quyền của nguyên thủ quốc gia cần được tập trung hơn; Phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước cần được cân bằng hơn để phòng ngừa lạm quyền và thoái hóa quyền lực.
LTS: Văn kiện Đại hội Đảng XI vừa qua đã nêu rõ chủ trương sửa Hiến pháp theo hướng đổi mới nhận thức về nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp một cách rành mạch và kiểm soát lẫn nhau, xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tịch nước để thực hiện đầy đủ chức năng nguyên thủ quốc gia...
Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường mới đây khẳng định: đã đến thời điểm chín muồi để sửa đổi Hiến pháp và tư tưởng pháp quyền buộc phải có cách thức viết Hiến pháp khác, không thể "ôm đồm", "dài dòng" như hiện nay. Ông cho rằng, đổi mới nhận thức về nhà nước pháp quyền chính là cơ sở chính trị để các học giả, nhà nghiên cứu hiến kế cho việc xây dựng một bản hiến pháp theo đúng nghĩa hiến pháp của một nhà nước pháp quyền.
Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam lược ghi lại cuộc trò chuyện với nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An về việc tu chính Hiến pháp 1992 sắp tới.
Dân phải được phúc quyết Hiến pháp
Sửa đổi Hiến pháp là một cơ hội sinh hoạt chính trị dân chủ sâu rộng trong toàn dân, toàn dân có được hưởng quyền lợi và làm nghĩa vụ tham gia ý kiến và phúc quyết hay không?
Nếu nhân dân được tham gia và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này thì đây là một cơ hội to lớn do ta tạo ra để thúc đẩy mạnh mẽ và toàn diện công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tôi hy vọng là như vậy.
Nếu nhân dân không được tham gia và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này thì chúng ta lại bỏ lỡ mất cơ hội vô cùng quan trọng.
Kinh nghiệm các lần sửa đổi Hiến pháp trước đây là như vậy. Chúng ta đã sửa đổi Hiến pháp nhiều lần rồi song chưa đáp ứng lòng mong đợi của nhân dân, nhân dân chưa có quyền phúc quyết Hiến pháp mà lẽ ra quyền phúc quyết Hiến pháp là quyền đương nhiên của người dân dưới chế độ dân chủ cộng hòa.
Trước tiên tôi muốn nhấn mạnh rằng chúng ta đã sửa đổi Hiến pháp nhiều lần rồi mà vẫn chưa đạt yêu cầu. Nếu tính từ năm 1946 đến 1992 là 46 năm, ta đã sửa đổi lớn 3 lần vào các năm 1959, 1980 và 1992. Đó là chưa kể nhiều lần chúng ta sửa đổi nhỏ khác.
Sửa đổi như vậy là nhiều lần rồi, song dân chưa được phúc quyết lần nào. Hiến pháp 1946 quy định dân phúc quyết Hiến pháp song dân cũng chưa được phúc quyết vì chiến tranh đã xảy ra ngay sau đó.
Còn Hiến pháp sửa đổi 1959 lại quy định Quốc hội có quyền lập Hiến và lập Pháp. Thay đổi quan trọng đó do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân bất khả kháng là đất nước trong tình trạng chiến tranh và chia cắt hai miền Nam - Bắc; rồi chịu ảnh hưởng của mô hình cộng hòa Xô Viết,...
Tuy vậy, chúng ta cần hiểu bản chất của thể chế cộng hòa hay dân chủ cộng hòa là quyền lập hiến phải thuộc về nhân dân, mà trực tiếp là cử tri cả nước
Cho nên, không thể đặt Hiến pháp ngang hàng với các bộ luật khác do Quốc hội thông qua. Hiến pháp là bộ luật cơ bản, luật gốc, luật mẹ được Quốc hội lập hiến thông qua và nhân dân phúc quyết nên rất ổn định, đặc biệt là những vấn đề cơ bản của Hiến pháp, như thể chế chính trị, ai là chủ đất nước, quyền của người chủ đất nước là những gì; ai là nguyên thủ quốc gia, quyền của nguyên thủ quốc gia là những gì?; vấn đề phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước...
Ai là chủ đất nước?
Thứ hai, tôi cho rằng các lần sửa đổi Hiến pháp sau này có một vài vấn đề cốt lõi lại xa rời hoặc lại không rõ ràng bằng Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Có nhiều vấn đề, ở đây tôi chỉ đề cập tới 3 vấn đề cốt lõi:
Đầu tiên, Hiến pháp phải làm rõ AI LÀ CHỦ ĐẤT NƯỚC? NGƯỜI CHỦ ĐÓ CÓ NHỮNG QUYỀN GÌ? Với câu hỏi này, có thể nhiều người sẽ nói ngay rằng Dân làm chủ chứ ai. Đúng. Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp và Pháp luật của nhà nước đều khẳng định như vậy. Quốc hiệu của Việt Nam đã ghi rất rõ: "Việt Nam Dân chủ Cộng hòa". Thể chế chính trị là Dân chủ Cộng hòa, khác hoàn toàn với Quân chủ.
Do vậy, người chủ đất nước không phải là Vua nữa mà chính là Dân (không phân biệt thành phần, giới tính, giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo...).
Song quy định cụ thể về quyền làm chủ trực tiếp của người dân thì còn quá ít, nhất là quyền phúc quyết Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia thì các Hiến pháp sửa đổi sau này lại ghi khác hoàn toàn với Hiến pháp năm 1946:
Điều 21 của Hiến pháp 1946 quy định: "Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, theo Điều 32 và Điều 70".
Điều 32 của Hiến pháp 1946 quy định: "Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa nhân dân phúc quyết, nếu 2/3 tống số nghị viện đồng ý".
Điều 70 của Hiến pháp 1946 quy định: "Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây... Khi được nghị viên ưng chuẩn, phải đưa ra toàn dân phúc quyết".
Những quy định trên đây của Hiến pháp 1946 có nghĩa rằng quyền lập Hiến hoàn toàn thuộc về toàn dân, thuộc về nhân dân, mà trực tiếp là cử tri cả nước.
Hiến pháp 1946 không có một điều nào, một ý nào quy định quyền lập Hiến thuộc về Quốc hội.
Các Hiến pháp sửa đổi sau này laị quy định Quốc hội có quyền lập Hiến:
Điều 43, 44 và 50 của Hiến pháp 1959 ghi: "Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa", là cơ quan duy nhất "có quyền lập Pháp", có quyền "làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp".
Điều 6 của Hiến pháp 1980 quy định: "Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân".
Điều 82 của Hiến pháp 1980 và Điều 83 của Hiến pháp 1992 quy định: "Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập Hiến và lập Pháp"...
Chúng ta nhận thấy ngay rằng đã có sự thay đổi rất lớn, rất cơ bản về quyền lập Hiến từ Dân đã được chuyển sang Quốc hội.
Câu hỏi đặt ra là ai có quyền chuyển quyền đó? Câu trả lời rõ ràng là chỉ có Dân mới có quyền đó. Song Dân chưa có văn bản nào chuyển quyền lập Hiến của Dân sang Quốc hội cả, mà là do chính Quốc hội tự quyết định giao quyền lập Hiến cho mình.
Có thể nói đơn giản thế này: Ai là người có quyền tối hậu trong lập Hiến thì người đó là người chủ đích thực của đất nước. Từ chỗ Dân làm chủ trực tiếp trong lập Hiến, chuyển sang chỗ Dân làm chủ gián tiếp thông qua Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của Dân. Như vậy có thể nói, từ Dân làm chủ đích thực chuyển sang Quốc hội thay mặt cho dân làm chủ.
Đó là sự thay đổi, sự xa rời rất lớn, rất cơ bản về người chủ đích thực của đất nước.
Quốc hội vừa lập hiến, vừa lập pháp, người ta gọi như thế là vừa đá bóng, vừa thổi còi.
Dân làm chủ có nghĩa là Dân phải quyết trực tiếp thể chế quốc gia, tức là Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, rồi Dân giao cho Nhà nước và giám sát Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ và Tòa án) quản lý đất nước theo Hiến pháp và những quyết định đó của Dân. Như vậy Dân mới làm chủ đích thực.
Đây là vấn đề xa rời bản chất dân chủ của nhà nước, cả về pháp lý, cả về thực tiễn. Như trên đã nói, do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân bất khả kháng, vì vậy, chúng ta đã chuyển từ Dân chủ thành Quốc hội chủ. Song về thực chất thì Quốc hội cũng còn nhiều hình thức.
Hiện nay khoảng 90% đại biểu Quốc hội là đảng viên. Do vậy mà nhiều người cho rằng, về hình thức thì Quốc hội quyết, song thực chất là Đảng quyết . Quyết định của Quốc hội chỉ là quyết định mở rộng trong nội bộ Đảng. Như vậy là từ Dân chủ đầy đủ chuyển sang Quốc hội chủ một phần, Dân chủ một phần, song cả Dân và Quốc hội đều còn nhiều hình thức nên nhiều người cho rằng Đảng mới thực quyền. Thực tế đó cho thấy, quyền của Dân - của người làm chủ còn bị phân tán quá lớn.
Nói cho dễ hiểu, ai làm chủ đất nước thì người đó phải có hai điều kiện, hai quyền thực chất tối thiểu là:
a/ - Bầu cơ quan đại diện cao nhất cho mình (Quốc hội) để bầu cử ra các cơ quan Nhà nước,
b/ - Phúc quyết Hiến pháp để giao quyền của Dân cho các cơ quan Nhà nước thực thi.
clip_image003
Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Chúng ta nói nhiều về Dân chủ, rằng nhân dân ta là người chủ đích thực của đất nước, rằng nhà nước ta là nhà nước của Dân, do Dân và vì Dân,... song những quyền tối hậu của người Dân thì lại chưa được quy định cụ thể và đầy đủ trong các Hiến pháp sửa đổi sau Hiến pháp 1946.
Ngay Hiến pháp 1946 tuy đã qui định rất rõ quyền lập Hiến thuộc về nhân dân, song cũng không thực hiện được trong thực tiễn vì lý do bất khả kháng là chiến tranh đã nổ ra ngay sau đó.
Từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, nhân dân ta là người chủ đất nước, song Nhà nước ta chưa một lần nào hỏi ý kiến Dân với tính chất là trưng cầu dân ý cả. Nhân dân ta chủ yếu mới làm chủ gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện như Quốc hội và HĐND các cấp, nhân dân mới làm chủ trực tiếp trong bầu cử trưởng thôn, bầu cử đại biểu QH và HĐND các cấp. Như vậy chưa đúng với quyền và nghĩa vụ của người Dân trong thể chế Dân chủ Cộng hòa trong điều kiện hòa bình và thống nhất đất nước như hiện nay.
Nếu Dân được phúc quyết Hiến pháp thì Hiến pháp chính là văn bản pháp lý quan trọng nhất của Dân trao quyền lực của Dân cho Nhà nước.
Ngược lại, nếu Dân chưa được phúc quyết Hiến pháp thì cũng có nghĩa là Dân chưa trao quyền lực của Dân cho Nhà nước bằng một văn bản pháp lý cao nhất là Hiến pháp.
Sửa đổi Hiến pháp lần này cần giao lại quyền phúc quyết cho dân như Hiến pháp 1946 đã quy định cho đúng với bản chất của thể chế cộng hòa hoặc dân chủ cộng hòa, hoặc cộng hòa xã hội chủ nghĩa.
Quyền lực của nguyên thủ quốc gia bị phân tán 3 nơi
Vấn đề thứ hai là việc xác định: AI LÀ NGUYÊN THỦ QUỐC GIA? VÀ NGƯỜI ĐÓ CÓ NHỮNG QUYỀN GÌ?
Vấn đề này Hiến pháp 1946 ghi rất rõ, và Nhà nước ta khi đó thực hành cũng rất tốt.
Các Hiến pháp sửa đổi sau này lại không rõ ràng bằng Hiến pháp 1946, và trong thực hành cũng rất lúng túng.
Theo quy luật tự nhiên, đàn chim bao giờ cũng có chim đầu đàn, đàn trâu bao giờ cũng có trâu đầu đàn, dàn nhạc phải có nhạc trưởng,... Với một quốc gia cũng vậy, quốc gia nào cũng phải có một nguyên thủ.
Về quy định này, tại Điều 49 của Hiến pháp 1946 ghi cụ thể về quyền của Chủ tịch Nước như sau:
a, Thay mặt cho Nước...
b, Giữ quyền tổng chỉ huy quân đội toàn quốc...
c, Ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng....
d, Chủ tịch Hội đồng Chính phủ ...
...................
h, Ký hiệp ước với các nước....
Và Điều 50 của Hiến pháp 1946 cũng ghi: "Chủ tịch Nước không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc".
Những quy định của Hiến pháp 1946 rất ngắn gọn, rõ ràng rằng Chủ tịch Nước là nguyên thủ quốc gia, đại diện cho Nhà nước về đối nội, đối ngoại; thống lĩnh các lực lượng vũ trang; và cũng là người đứng đầu cơ quan hành pháp là Chính phủ.
Nói cho dễ hiểu, nguyên thủ quốc gia phải có ba điều kiện, ba quyền thực chất tối thiểu như sau:
a, Thay mặt cho Nhà nước về đối nội cũng như đối ngoại,
b, Đứng đầu cơ quan hành pháp,
c, Thống lĩnh lực lượng vũ trang,
Các Hiến pháp sửa đổi sau này (1959, 1980, 1992) đều giảm nhẹ vai trò của Chủ tịch Nước, không rõ thực chất quyền của một nguyên thủ quốc gia. Điều đó không phải lỗi của vị Chủ tịch nước nào, mà chẳng qua là do các Hiến pháp sửa đổi sau này quy định như vậy:
Điều 6 của Hiến pháp 1959 quy định: "Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là người thay mặt cho Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về đối nội và đối ngoại".
Điều 65 của Hiến pháp 1959 quy định: "Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thống lĩnh các lực lượng vũ trang trong toàn quốc, giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng", song thực chất Tổng Bí thư mới là người thống lĩnh các lực lượng vũ trang.
Điều 66 của Hiến pháp 1959 quy định: "Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi xét thấy cần thiết thì triệu tập và Chủ tọa các phiên họp của Hội đồng Chính phủ". Quy định như vậy là làm giảm nhẹ hẳn vai trò của Chủ tịch Nước trong cơ quan hành pháp so với Hiến pháp 1946.
Như vậy, các Hiến pháp sửa đổi sau này đều quy định không rõ ràng và không tập trung quyền của Chủ tịch nước bằng Hiến pháp 1946. Rõ ràng không có ai hội đủ ba điều kiện, ba quyền thực chất tối thiểu của một nguyên thủ quốc gia như Hiến pháp 1946.
Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương thống lĩnh lực lượng vũ trang song về pháp lý lại không thay mặt cho nhà nước về đối nội cũng như đối ngoại, cũng không đứng đầu cơ quan hành pháp.
Thủ tướng Chính phủ đứng đầu Chính phủ nhưng lại không đứng đầu đầy đủ cơ quan hành pháp và cũng không thống lĩnh lực lượng vũ trang.
Chủ tịch Nước thay mặt cho nhà nước về đối nội và đối ngoại nhưng trong thực tiễn lại không thống lĩnh lực lượng vũ trang, cũng như không đứng đầu đầy đủ cơ quan hành pháp.
Chúng ta dễ dàng nhận thấy ngay rằng quyền lực của một nguyên thủ quốc gia lại bị phân tán làm ba nơi, do ba người nắm giữ. Tức là ta có ba người thực thi quyền của một nguyên thủ trong điều hành thực tiễn, như thế có phân tán quyền của nguyên thủ quốc gia không? Tôi cho là quá phân tán.
Tới đây, chúng ta phải sửa đổi bổ sung Hiến pháp làm sao để chỉ có một nguyên thủ quốc gia, tập trung quyền hành pháp vào người đứng đầu để điều hành đất nước có hiệu lực và hiệu quả hơn.
Việc không rõ nguyên thủ quốc gia, không rõ con chim đầu đàn, không rõ nhạc trưởng, hậu quả thế nào thật dễ hiểu, dễ thấy.
Phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước
Cuối cùng là VẤN ĐỀ PHÂN CÔNG VÀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC. Phân công phải hướng tới cân bằng tương đối, phải rõ ràng, rành mạch; kiểm soát phải có chế tài, phải chặt chẽ, hiệu lực.
Phân công phải cân bằng thì mới có khả năng kiểm soát hiệu lực, kiểm soát hiệu lực nằm ngay trong sự phân công công bằng.
Nhìn lại lịch sử của thể chế quân chủ cho thấy, quyền lực tập trung vào nhà Vua, mà quyền lực bao giờ cũng có xu hướng lạm quyền, thoái hóa... Do đó mà triều đại nào lên, lúc đầu thường là được lòng người, sau lại thoái hóa, lại bị triều đại sau thay thế. Những sự thay thế đó thường diễn ra khi triều đại cũ đã quá thối nát, quá cản trở sự phát triển của xã hội và thường bị thay thế bằng bạo lực.
Chính vì thế mà thể chế cộng hòa hay dân chủ cộng hòa đã áp dụng sự phân công cân bằng và kiểm soát quyền lực để chống độc quyền, hạn chế sự lạm quyền và khi cần thì thay thế ê kíp cầm quyền một cách chủ động, kịp thời, thông qua tranh cử nghị viện.
Quyền lực dưới thể chế cộng hòa hay dân chủ cộng hòa không tập trung vào một người hay một lực lượng, cơ quan nào, mà phân công tương đối cân bằng cho ba cơ quan: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp (Quốc hội - Chính phủ - Tòa án): Quốc hội là cơ quan lập pháp cao nhất, Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất, và Tòa án là cơ quan xét xử cao nhất.
Nghiên cứu kỹ các Hiến pháp sửa đổi sau này (1959, 1980, 1992) thì thấy rằng những quy định để cân bằng và kiểm soát quyền lực lại không được rõ ràng và cân bằng như Hiến pháp 1946.
Ví dụ, Quốc hội có quyền lập Hiến, điều đó có nghĩa rằng quyền lực của Quốc hội vượt trội quá lớn so với các cơ quan hành pháp và tư pháp. Quốc hội có quyền phân công quyền lực cho cả các cơ quan hành pháp và tư pháp, và cho cả chính mình.
Đúng ra, quyền lập Hiến phải là quyền của Dân chứ không phải của Quốc hội. Do đó mà quyền của Dân cũng bị phân tán và yếu thế, không đúng với quyền của người làm chủ.
Hoặc quyền của nguyên thủ quốc gia bị phân tán ở ba nơi, điều đó cũng có nghĩa là quyền lực của cơ quan hành pháp quá yếu thế so với cơ quan lập pháp.
Còn quyền lực của cơ quan tư pháp thì sao? Trong thực tiễn thì nó yếu thế hơn các cơ quan lập pháp và hành pháp và còn bị chi phối trong xét xử.
Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, phân công quyền lực không cân bằng, không rõ ràng thì sự kiểm soát sẽ không có hiệu lực và hiệu quả. Tình trạng tham ô, lãng phí, quan liêu, cơ hội là những biểu hiện của sự lạm quyền và thoái hóa quyền lực rõ ràng nhất. Nó cũng là hậu quả của sự phân công và kiểm soát quyền lực chưa được cân bằng như quy định của Hiến pháp 1946.
Cân bằng và kiểm soát quyền lực là một cơ chế cực kỳ quan trọng trong Hiến pháp nhằm tránh sự lạm quyền và thoái hóa mà trong thể chế quân chủ chuyên chế đã bất lực. Tất nhiên không thể nói tuyệt đối được, vì thể chế nào cũng phải thông qua con người cụ thể. Nhưng có một cơ chế cân bằng và kiểm soát quyền lực cho ba cơ quan Nhà nước, sẽ tốt hơn rất nhiều so với cơ chế tập trung quyền lực vào một ông vua, hoặc vào bất kỳ một lực lượng, một cơ quan nào khác.
Cân bằng và kiềm soát quyền lực là một sự tiến bộ về khoa học và nghệ thuật cầm quyền, là một bước tiến của văn minh nhân loại về quyền lực nhà nước. Chính vì vậy, sửa đổi bổ sung Hiến pháp lần này phải quan tâm để làm rõ ràng hơn, hoàn thiện tốt hơn sự phân công cân bằng và kiểm soát quyền lực Nhà nước.
Tóm lại, ở đây nhấn mạnh có ba vấn đề cốt lõi cần được bàn kỹ trong đợt sửa Hiến pháp tới đây:
1/- Dân được quyền phúc quyết Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, để cho đúng nghĩa với thể chế Dân chủ Cộng hòa, Dân là chủ đích thực của đất nước.
2/- Quyền của nguyên thủ quốc gia cần được tập trung hơn, nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý, điều hành của cơ quan hành pháp.
3/- Phân công và kiểm soát quyền lực cần được cân bằng hơn, nhằm phòng ngừa sự lạm quyền và thoái hóa quyền lực, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và cơ hội trong hệ thống chính trị.
Tôi hy vọng tới đây, nhân dân ta sẽ được hưởng quyền và làm nghĩa vụ của người chủ đích thực của đất nước là: Tham gia ý kiến và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này.
N. V. A.
Thu Hà (lược ghi)
Nguồn: Tuanvietnam

Khi một dân tộc thức tỉnh, độc tài sẽ sụp đổ

Thanh Phương - Không chỉ cả thế giới, mà ngay chính người dân Ai Cập cũng không ngờ là một ngày nào đó họ có thể lật đổ được Hosni Mubarak, sau ba thập niên sống dưới chế độ độc tài. Trong 18 ngày qua, mặc dù bị chính quyền đàn áp đẫm máu, nhưng phong trào biểu tình vẫn không thuyên giảm, với niềm tin sắt đá là họ sẽ thắng.
Niềm vui của người biểu tình tại quảng trường Tahrir (REUTERS)
Vì sao dân Ai Cập, vốn vẫn ngủ quên như những pho tượng nhân sư, nay đã thức tỉnh như vậy ? Muốn hiểu được điều đó phải trở ngược về tháng 6 vừa qua, với vụ cảnh sát Ai Cập đánh chết một thanh niên 28 tuổi, Khaled Said. Anh này đã bị hai cảnh sát mật vụ câu lưu trong một quán cà phê Internet vì đã phổ biến trên mạng một đoạn băng vidéo tố cáo nạn tham nhũng trong ngành cảnh sát. Vì không chịu trình giấy tờ tùy thân, Khaled Said bị cảnh sát lôi ra ngoài đường đánh đập dã man, đầu bị dập nát.
Được lan tuyền rộng rãi qua mạng xã hội Facebook, thông tin nói trên đã ngay lập tức dấy lên một phong trào biểu tình với sự tham gia của hàng ngàn bạn trẻ, được sự ủng hộ của giới trí thức văn nghệ sĩ, trong cũng như ngoài nước. Các cuộc biểu tình đã nhanh chóng bị dập tắt, nhưng tinh thần phản kháng vẫn âm ỉ cho đến gần đây, trước khi chuyển thành phong trào biểu tình rầm rộ, mà nay có người gọi là “cách mạng Hoa Sen”, ( hoa sen là một trong những biểu tượng của Ai Cập cổ ), trong đó Khaled Said đã hình ảnh tiêu biểu.
Thật ra trong quá khứ, dân Ai Cập cũng đã từng xuống đường bốn lần, nhưng vì những lý do khác, chủ yếu là do nghèo đói, nhưng lần này là cuộc cách mạng vì tự do, dân chủ, với ý thức rằng chỉ khi nào người dân nắm vận mệnh đất nước trong tay, cuộc sống của họ mới khá hơn.
Trong 18 ngày qua, mặc dù bị chính quyền đàn áp đẫm máu, với hàng trăm người chết, phong trào biểu tình vẫn không thuyên giảm, thậm chí còn lan rộng từ thủ đô Cairo ra các vùng khác. Mỗi ngày, hàng trăm ngàn người vẫn xuống đường một cách bình thản, nhưng với niềm tin sắt đá là họ sẽ thắng. Không những thế, trong những ngày cuối, phong trào đấu tranh chính trị này còn có sự tiếp sức của các phong trào đấu tranh xã hội của nhiều giới, từ nhân hỏa xa, công nhân dệt may, cho đến bác sĩ.
Trước làn sóng ngày càng lớn mạnh này, tổng thống Bubarak đã lùi từng bước, ban đầu hứa sẽ không tái tranh cử, rồi sau đó loan báo giao quyền cho phó tổng thống Suleiman, nhưng cả triệu người hôm qua vẫn duy trì áp lực tối đa. Có lẽ là cộng thêm sức ép của quân đội, cuối cùng Mubarak đã buộc phải từ bỏ chiếc ghế tổng thống.
Như đã nói ở trên, “cách mạng Hoa Sen” ở Ai Cập đã khởi đầu từ giới trẻ và cũng chính giới trẻ đã là đầu tàu trong suốt cuộc đấu tranh này. Có học thức, chịu ảnh hưởng nhiều từ thế giới bên ngoài, giới trẻ Ai Cập đã biết khai thác các phương tiện công nghệ thông tin như mạng xã hội Facebook làm vũ khí chống chế độ Mubarak. Ngay chính báo chí của chính phủ Ai Cập hôm nay cũng thừa nhận rằng : “Giới trẻ Ai Cập đã buộc Mubarak ra đi”, như tựa của tờ báo Al-Ahram.
Một điều đáng chú ý, đây là lần đầu tiên có một cuộc cách mạng quần chúng mang tính ôn hòa ở Ai Cập, mà kể từ khi chế độ quân chủ bị lật đổ vẫn nằm dưới sự kiểm soát của quân đội. Điều mà các nhà quan sát sợ nhất đã không xảy ra, tức là sự nội bùng tại một quốc gia cảnh sát trị, nơi mà người dân ngày càng bất mãn vì thất nghiệp, nghèo đói, bất công, trong khi gia đình Mubarak vơ vét mọi tài sản quốc gia.
Tất nhiên, cách mạng chưa phải là kết thúc ở đây, vì chưa ai biết rõ về thái độ của quân đội Ai Cập, nay đang nắm quyền lãnh đạo thông qua một hội đồng quân sự. Trách nhiệm của quân đội Ai Cập rất lớn lao : vừa bảo đảm ổn định, vừa đáp ứng khát vọng dân chủ của nhân dân. Liệu họ có bảo đảm cho cho tiến trình chuyển tiếp dân chủ diễn ra êm thắm hay không ? Chúng ta hãy chờ xem.
Người dân Ai Cập hôm nay vui mừng vì đã thoát khỏi ách độc tài, nhưng cũng đang lo lắng nhìn về tương lai. Tuy vậy, trước mắt họ có thể tự hào đã làm nên cách mạng tại quốc gia Ả rập đông dân nhất. Sau Tunisie, nay đến Ai Cập, các chế độ độc đoán khác, trong thế giới Ả rập và trên thế giới nói chung, nay đang rung sợ sẽ đến lượt mình.

Hai căn bịnh trầm kha của giáo dục Việt Nam: nói trễ và nói dối

Trần Trung Ðạo
Sinh viên, học sinh Việt Nam vẫn nghĩ khẩu hiệu: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” là nguyên tác bất hủ của ông Hồ. Thật ra, câu nói đó lấy ý từ câu “Nhất niên chi kế, mạc như thọ cốc, thập niên chi kế, mạc như thọ mộc, bách niên chi kế, mạc như thọ nhân”, nghĩa là: “Kế hoạch cho một năm, không gì bằng trồng lúa, kế hoạch cho mười năm, không gì bằng trồng cây, kế hoạch cho trăm năm, không gì bằng trồng người” trong văn học Trung Quốc. Dù sao, sau hơn nửa thế kỷ trồng người, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, ngoài việc sinh ra các tình trạng mà Giáo sư Hoàng Tụy gọi là “nguy kịch” như chạy theo bằng cấp, bằng giả, học giả, làm luận án thuê v.v., còn gây ra hai căn bịnh rất phổ biến trong xã hội Việt Nam, theo tôi, còn trầm trọng và khó chữa trị hơn nhiều, đó là bịnh nói trễ và nói dối.

Trẻ con trung bình vào khoảng hai, ba tuổi là bắt đầu tập nói. Nếu đến bốn tuổi mà chưa nói được, đứa bé sẽ bị xem như mắc triệu chứng nói trễ (Autism Spectrum Disorders). Nghe đâu nhà bác học Albert Einstein cũng từng mắc phải triệu chứng này. Theo các tài liệu y khoa, đây không phải là căn bịnh làm chết người, nhưng vẫn là một mối lo canh cánh bên lòng các bậc cha mẹ khi nghĩ đến việc con mình không biết nói. Chúng ta không hiểu được nỗi lòng của các em bé, nhưng chắc các em cũng khổ tâm ghê lắm khi không nói được một cách bình thường như những đứa trẻ khác. Nếu quý vị vào Internet để tìm các tài liệu về triệu chứng Asperger hay Autism Spectrum Disorders, quý vị sẽ có cơ hội đọc hàng trăm câu chuyện cảm động của các bà mẹ chia sẻ với nhau niềm vui khi lần đầu nghe con gọi tiếng “mẹ ơi” gọn gàng, suôn sẻ.

Tôi không biết Việt Nam có bao nhiêu em bé bị mắc phải triệu chứng nói trễ, tuy nhiên, phát biểu trễ, trong đó tính chung cả nói và viết, thì rất đông. Ðông đến nỗi, khi có một em phát biểu được những gì em suy nghĩ, ai nấy đều xem đó như một hiện tượng lạ, không những cha mẹ em mừng, anh chị của em mừng, bà con em mừng, mà tám chục triệu đồng bào trong nước và cả hai triệu người Việt ở hải ngoại cũng mừng theo. Ðó là trường hợp của em Nguyễn Phi Thanh, học sinh lớp 11A18 trường THPT Việt Ðức, Hà Nội. Có một điểm khác nhau giữa bịnh Autism Spectrum Disorders và nói trễ ở Việt Nam, trong lúc Autism Spectrum Disorders là do sự phát triển chậm của khu vực nói trong hệ thần kinh trẻ em, bịnh nói trễ ở Việt Nam là do nền giáo dục xã hội chủ nghĩa gây ra và tồn tại không chỉ trong trẻ em mà cả trong nhiều người lớn tuổi.

Nhận xét của em Phi Thanh về đề thi “Giới thiệu vẻ đẹp của tác phẩm Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc” đã được báo chí trong và ngoài nước đăng tải khá nhiều, tôi chỉ trích một đoạn ngắn:

“Em nghĩ, đứng trước một tác phẩm văn học bao giờ cũng có ý kiến trái ngược khen–chê, hay-dở nhưng dường như học sinh bọn em chỉ có quyền thích, chỉ có quyền khen hay mà không có quyền nói lên chính kiến của mình, và việc phê bình văn học hình như chỉ là việc của các nhà phê bình. Phải chăng vì tư tưởng bảo thủ này mà suốt 63 năm qua, văn thơ của chúng ta chưa được “mới”? Nhìn ra, chỉ ra cái hay của một tác phẩm văn học đã khó, nhưng chỉ ra cái hạn chế, thiếu sót của tác phẩm ấy còn khó hơn nữa, vậy mà chưa bao giờ bọn em được tỏ rõ chính kiến của mình trong một bài thi cả, tất cả chỉ vì áp lực điểm số.”

Tại các quốc gia tiên tiến, một học sinh lớp 11 viết những câu như thế thì không có gì đặc biệt. Năm ngoái nơi tôi ở, một học sinh cũng lớp 11 chẳng những viết mà sau đó còn đưa cả Thống đốc và Sở Giáo dục Tiểu bang ra tòa với tội vi phạm hiến pháp chỉ vì số lượng học sinh trong lớp em học đông hơn số lượng mà Bộ Giáo dục quy định. Việt Nam thì khác, viết được như Phi Thanh là một biến cố lịch sử, chưa từng xảy ra, nói chi đến chuyện đưa nhà nước ra tòa. Học sinh Phi Thanh viết “Em có thể chắc chắn rằng trong số mười học sinh như em thì có chín người cũng không thích tác phẩm này”, điều đó cũng có nghĩa em may mắn nói được còn chín em kia vẫn còn mắc phải triệu chứng nói trễ.

Sự đồng tình của nhiều người, nhiều giới, trong đó có một số người đang làm công tác giáo dục, về bài viết của em Phi Thanh, chứng tỏ sự khát khao, chờ đợi của người dân dành cho một tiếng nói trung thực, một phản ứng tích cực thay vì rập khuôn một cách thụ động theo dấu chân của Đảng trên con đường mòn giáo dục xã hội chủ nghĩa như năm chục năm qua. Ðó là một dấu hiệu tốt. Ít ra, mỗi ngày có thêm nhiều người ý thức rằng cuộc vận hành của lịch sử là một chuyến tàu không bao giờ chạy ngược và không dừng lại lâu ở một sân ga nào mà luôn hướng đến một sân ga mới, mang theo hành khách mới với hành trang và ước vọng riêng cho thời đại họ. Những khái niệm, phạm trù được xem như là chân lý cách đây nửa thế kỷ có thể không còn đúng nữa. Xã hội ngày nay không phải là xã hội của năm mươi năm trước. Những suy tư, trăn trở, lo âu, ước vọng, đam mê của thế hệ trẻ ngày nay cũng hoàn toàn khác với thế hệ cha anh, và vì thế, mục đích lẫn phương pháp giáo dục phải thay đổi một cách thích nghi theo nhu cầu thời đại.

Lấy bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” làm ví dụ, không ai phủ nhận giá trị lịch sử của tác phẩm, đặc tính anh hùng cách mạng của nghĩa sĩ Cần Giuộc cũng như tinh thần bất khuất của cụ Nguyễn Ðình Chiểu. Tuy nhiên, buộc các em, các cháu học sinh phải xúc động theo cách xúc động của ông bà các em khi đọc những câu như “Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa; mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ” hoặc “Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm; đồn Lang sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ” thì không đúng. Thất bại của hệ thống giáo dục là không làm cho các thế hệ ngày nay rung động được cái rung động của người xưa bằng ngôn ngữ của thời đại các em, không làm dấy lên trong lòng thế hệ măng non một tình yêu nước trong sáng như tình yêu nước trong lòng của các bậc tổ tiên, ông bà các em. Yêu nước ngày nay đồng nghĩa với yêu chủ nghĩa xã hội, nhưng chủ nghĩa xã hội là gì, giống ai, hình dáng ra sao, mập ốm thế nào thì ngay cả ông Tổng bí thư cũng không hình dung được, nói chi là các em học sinh lớp 11.

Nền giáo dục vẹt như thế tồn tại trong xã hội Việt Nam từ bao nhiêu năm qua đã giết chết mọi mầm mống sáng tạo tự nhiên trong con người. Tôi nhớ những ngày còn học ở Đại học Kinh tế sau 1975 như một sinh viên chế độ cũ chuyển sang, ngồi nghe một cán bộ giảng dạy trình bày về toàn bộ lịch sử phát triển của nhân loại từ vượn đến người không khác gì một câu chuyện khoa học giả tưởng. Lý do, trong suốt bài giảng ông không dựa vào một kết quả nghiên cứu khoa học hay một công trình khảo cứu giá trị nào, mà chỉ lập lại gần như nguyên văn bài viết dài chưa đến hai mươi trang, “Quá trình chuyển biến từ vượn thành người” của Engels, trong Tuyển tập Mác-Engels. Trong vỏn vẹn hai chục trang sách thôi, Engels đã phác họa toàn bộ nguồn gốc nhân loại như đã chính mắt mình trông thấy. Rằng ngày xửa ngày xưa, có một bầy vượn đi kiếm ăn, vì nhu cầu thực phẩm nên phải leo trèo, hai chân trước vì vậy đã phát triển để thích nghi với việc hái nên dần dần biến dạng ra cái mà chúng ta gọi là hai tay. Trong lúc hai chân sau vì sử dụng như là những điểm tựa nên vẫn được gọi là hai chân v.v. Và thủy tổ con người đã hình thành không khác gì một cuốn phim hoạt họa thế đó. Tuy nhiên, tác phẩm nầy, cùng với các tác phẩm kinh điển khác của các lãnh tụ Đảng, được đảng viên các cấp tôn kính tuyệt đối, và là nền tảng của hệ thống giáo dục tại Việt Nam. Bất cứ tác phẩm nào viết về nguồn gốc loài người được xuất bản tại các quốc gia cộng sản đều trích dẫn hay tập trung chung quanh câu chuyện kể lại từ hai chục trang nầy. Lý do là vì Engels viết. Mặc dù không phải là nhà khảo cổ học hay nhân chủng học, nhưng Engels, người bạn vĩ đại và cảm động của Marx, viết thì phải được xem như là chân lý, không cần thiết phải chứng minh. Từ những người làm công tác giáo dục, nhà văn, nhà báo, cho đến các lãnh đạo đảng và nhà nước, đều say mê trích dẫn các tác phẩm của Marx, Engels, Lenin một cách chân thành và trịnh trọng. Không một giáo án, giáo trình, diễn văn, tham luận, tuyên ngôn, tuyên cáo nào mà không trích dẫn vài câu nói của họ. Văn bản nào không có trích dẫn những “lời dạy” của các lãnh tụ cộng sản thì văn bản đó bị coi như không có giá trị gì. Sự nô lệ trí thức, vì vậy, như là một loại vi trùng sinh sôi và lan rộng trong từng con người, qua nhiều thế hệ, xói mòn và tàn phá tính khai phóng, làm thui chột tính sáng tạo trong con người.

Trong lúc bịnh nói trễ dù sao cũng tùy trường hợp mỗi người, bịnh nói dối là cả một hệ thống, dối có chủ trương, dối có sách vở, dối có tổ chức. Ðó chính là một hậu quả tai hại khác của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam nói riêng và các nước xã hội chủ nghĩa nói chung.

Vài ví dụ về hậu quả tai hại của tính nói dối tại nước cộng sản đàn anh Trung Quốc. Trong tác phẩm Cuộc đời riêng tư của Chủ tịch Mao Trạch Ðông (The Private Life of Chairman Mao), bác sĩ Lý Chí Thỏa kể lại nhiều câu chuyện về bịnh nói dối tại Trung Quốc trong giai đoạn Bước tiến nhảy vọt và Công xã nhân dân. Một lần, Mao đi thăm tỉnh Hồ Bắc, để chứng minh tỉnh mình vượt chỉ tiêu lúa gạo, viên bí thư tỉnh chỉ thị nông dân dời cả những thửa ruộng nằm sâu trong làng ra sát đường rầy xe lửa để gây cho Mao ấn tượng là mùa màng đang dư dả. Lúa được dời, nhiều khi trồng quá sát nhau đến nỗi dân địa phương phải đặt quạt điện bốn góc ruộng để thổi không khí vào cho thông, nếu không lúa sẽ chết trước khi xe lửa của Mao chạy ngang. Một phụ tá của Mao nói riêng với bác sĩ Lý rằng tất cả các con số thống kê lúa gạo đều là giả vì không có đất nào có có thể thu hoạch được mỗi mẫu hai chục hay ba chục ngàn cân thóc. Tương tự, sản phẩm được sản xuất từ những nhà máy luyện kim của công xã mà bác sĩ Lý gọi mỉa mai là “lò luyện kim sau hè” đều vô dụng. Sắt thành phẩm trình lên Mao chẳng qua là sắt thật, mang đến từ nhà máy luyện kim hiện đại. Không cần phải là nhà khoa học, nhà kỹ thuật, mà những người bình thường với một chút kiến thức căn bản cũng biết rằng những nồi niêu xoong chảo dù nấu chảy ra cũng không thể biến chúng trở lại thành sắt thép. Thế nhưng các ủy viên trung ương đảng, các ủy viên bộ chính trị và gia đình họ cũng tích cực tham gia xây dựng các “nhà máy luyện sau hè,” đến nỗi đêm nào khu vực Trung Nam Hải, nơi ở và làm việc của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, cũng sáng rực vì lửa của nồi nấu chảy các đồ dùng bằng thiếc, kẽm trong nhà. Tất cả các lãnh tụ cao cấp đều không ai dám bình luận điều gì. Tiếng nói duy nhất phát ra trong giai đoạn nầy là của Mao. Cho đến một ngày, chính Mao cũng cảm thấy có điều gì đó bất ổn đang xảy ra và thắc mắc, “Tại sao Anh, Mỹ, Liên-Xô phải xây dựng những nhà máy luyện kim khổng lồ và tốn kém, chẳng lẽ họ ngu hơn dân Trung Quốc?” Thật ra chính Mao mới là người ngu và cả nước phải ngu theo. Hậu quả của sự ngu xuẩn và dối trá đó là cảnh chết đói oan uổng của trên 30 triệu dân Trung Quốc.

Vì hoàn cảnh, con người phải lừa dối nhau để tồn tại. Ðiều đó đôi khi còn có thể thông cảm. Thế nhưng một tác phẩm văn học xây dựng trên sự lừa dối và nhằm mục đích lừa dối người khác là một điều không thể chấp nhận được. Rất tiếc, việc hình thành một đội ngũ của những người viết dối để phục vụ cho chế độ, cũng là một trong những đặc điểm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa.

Ðể chứng minh cho tính nói dối trong văn học Việt Nam, tôi xin giới thiệu đến độc giả một đoạn văn của nhà văn Lê Lựu viết về thành phố Boston, nơi tôi đang sống, trích trong tác phẩm Một thời lầm lỗiTrở lại nước Mỹ của ông, do nhà xuất bản Thanh Niên xuất bản năm 2000.

Trước khi đánh máy lại đoạn văn của nhà văn Lê Lựu, tôi xin giới thiệu vài dòng về Boston, để độc giả chưa đến hay chưa biết nhiều về thành phố lịch sử này của nước Mỹ, có một khái niệm tổng quát về thành phố. Boston là trung tâm lịch sử và một trong những thành phố trù phú nhất của liên bang Hoa Kỳ. Nơi đây, từ bốn trăm năm trước đã có những di dân đầu tiên trên chiếc tàu Mayflower giong buồm tiến vào vịnh Provincetown, Cape Cod. Tên tuổi và địa danh của những quận như Concord, Lexington, Bunker Hill đã đi vào lịch sử vẻ vang của cuộc chiến tranh giành độc lập từ tay đế quốc Anh. Mỗi năm, hàng trăm ngàn người Mỹ từ khắp nơi đổ về Boston để đi dọc theo con đường vào ngày 18 tháng 4 năm 1775, ông Paul Revere đã từng cỡi ngựa đi qua từ Charlestown Neck đến Concord, Lincoln, Lexington để báo động “Quân Anh đang đến!” Boston cũng là thành phố kỹ thuật lớn, với hàng trăm công ty kỹ thuật cao cấp nằm hai bên các xa lộ chung quanh thành phố, và là trung tâm giáo dục hàng đầu thế giới với Đại học Harvard, Học viện Kỹ thuật Massachusetts (MIT), Đại học Boston, Đại học Massachusetts và hàng chục trường đại học tên tuổi khác. Theo thống kê năm 1990 (thời gian nhà văn Lê Lựu đến thăm), Boston có dân số là 574.282 người, với lợi tức trung bình của một gia đình Boston khoảng 40 ngàn Mỹ kim một năm. Giống như các thành phố lớn khác của Mỹ trong xã hội tư bản, bên cạnh sự thịnh vượng của thành phố, Boston cũng có những người không nhà. Hai lý do chính của tình trạng không có nơi ở (homelessness) là lợi tức tăng chậm hơn tiền mướn nhà và giá nhà ở tại Boston quá cao. Mỗi năm, Thị trưởng Boston công bố một thống kê chính thức về tình trạng không nhà của người dân Boston và các biện pháp ngăn ngừa. Năm 1992, Boston có 4411 người không có nơi riêng để ở và phải ở trong các khu nhà tạm trú (shelter) do chính phủ cung cấp với điều kiện sống chật chội và thiếu tiện nghi hơn ở nhà riêng.

Và sau đây là đoạn văn tả thành phố Boston của nhà văn Lê Lựu sau chuyến viếng thăm Boston của nhà văn vào năm 1989: “Boston, thủ đô của nền văn hóa sang trọng, lịch lãm nhất nước Mỹ. Nhìn về Boston, người Mỹ có thể vênh vang ngửa mặt ra bốn phương mà kiêu ngạo, mà tự tin chỉ cần mặc chiếc quần soóc, chiếc áo may ô, bất kể đàn ông hay đàn bà có thể nghênh ngang đi khắp trái đất, không thèm nhìn ai. Vậy mà giữa bão tuyết của đêm mùa đông ngoài trời có hơn 130 ngàn người không cửa, không nhà. Chị Liliên (bạn của nhà văn và là người làm việc ở trung tâm cứu trợ người nghèo) nói: Con số này tự tôi và đồng nghiệp của tôi đã đi đếm suốt đêm. Bằng mọi cách phản đối, kiến nghị lên chính phủ địa phương, chính phủ liên bang và kêu gọi lòng từ thiện của nhân dân, đến nay mới kiếm được chỗ ở cho 54 ngàn người, còn 77.600 người vẫn đêm đêm nằm lại vườn hoa và hè phố. Nhưng trong thực tế sẽ lớn hơn nhiều so với 77.600 vì mùa đông năm ngoái chúng tôi chưa đếm lại.”

Và trong đoạn sau, nhà văn Lê Lựu so sánh Boston và Hà Nội: “Ở đất nước ta nghèo túng là thế, ở thủ đô có số dân bằng số dân Boston, mà đã ai trông thấy, đã ai đếm được con số một nghìn người đêm đêm lăn lóc ở lề đường, trong các vườn hoa Hà Nội! Sự giàu sang ở Hà Nội không thể đem so sánh với Boston. Ai làm công việc đó được coi như kẻ mắc bịnh tâm thần, kẻ dở hơi. Nhưng sự vất vưởng của con người Boston đem so sánh với Hà Nội cũng là giữa trời và vực”.

Nếu những dữ kiện của nhà văn Lê Lựu viết ra là đúng thì Boston, thành phố đầy kiêu hãnh của nước Mỹ, trong mùa đông đã có gần một phần tư dân số phải chịu cảnh màn trời chiếu đất. Số người do chị Liliên nào đó và các bạn chị đếm cao hơn con số do Thị trưởng Boston công bố gấp 30 lần! Con số của chị Liliên chỉ cần đúng một nửa thôi, chẳng những Thị trưởng Boston mất chức, Thống đốc bang Massachusetts mất chức, mà cả Tổng thống Mỹ cũng phải từ chức vì nạn đói năm Ất Dậu ở Việt Nam hình như đang tái diễn ngay tại quốc gia cường thịnh nhất thế giới này. Chị Liliên (tạm cho là một nhân vật có thật), trong tư cách là người làm việc cho một cơ quan xã hội và hẳn nhiên am tường tình trạng không nhà, đào đâu ra con số vô cùng khủng khiếp và phi lý đến thế? Hình ảnh 130 ngàn người lay lắt trong một thành phố với diện tích 125 cây số vuông như Boston, ngay cả đạo diễn các phim chiến tranh thế giới, chắc cũng không nghĩ ra. Boston, nếu quả thật như vậy, không còn là thành phố cảng tuyệt vời và là quê hương của John F. Kennedy, George Herbert Walker Bush, Quincy Adams, John Quincy Adams, Henry Wadsworth Longfellow, Ralph Waldo Emerson, Emily Dickinson mà là Rwanda, Bangladesh, Ethiopia.

Và cho dù chị Liliên là người có thật và thích bịa chuyện đi nữa, trong tư cách một nhà văn đã viết nhiều tác phẩm, mang quân hàm Ðại tá Quân đội Nhân dân, không phải lần đầu tiên viếng thăm Mỹ, nhà văn Lê Lựu cũng nên có một thái độ nghi ngờ dữ kiện cần thiết, một lý trí trưởng thành để cân nhắc và đánh giá những gì nhà văn nghe, nhà văn thấy, trước khi cầm bút viết lại câu chuyện và in thành sách. Và “một thời lầm lỡ” in thành sách rồi, khi tái bản vào năm 2000, nhà văn cũng nên xét lại những đoạn viết dối quá lố lăng để khỏi làm trò cười cho độc giả, nhất là các em du học sinh đang theo học tại Boston. Nhưng không, nhà văn vẫn nghĩ rằng những dữ kiện lạ lùng đó là sự thật và in lại mà không cần cắt bỏ. Nếu tác phẩm hay đoạn văn đó được dịch sang tiếng Anh, độc giả Mỹ sẽ nghĩ sao về tư cách và trình độ kiến thức phổ thông của một nhà văn Việt Nam? Chắc chắn họ sẽ vô cùng thất vọng. Người Mỹ bỏ tiền mua vé máy bay cho nhà văn, lo chỗ ăn chỗ ở, đưa đón, hướng dẫn tham quan, tiếp xúc, thảo luận, không phải để nhà văn ca ngợi nước Mỹ hay chửi cha mắng mẹ họ, nhưng chính là để nhà văn được thấy sự thật và mang về lại Việt Nam sự thật của đời sống Mỹ, con người nước Mỹ, và qua trung gian nhà văn, các thế hệ trẻ Việt Nam có cơ hội hội nhập vào thế giới trong tinh thần cảm thông và đối thoại. Nhà văn may mắn được đi tham quan nước ngoài, lẽ ra nên mang về lại nhà những tin tức khách quan, những cái mới, cái hay cái đẹp đang xảy ra phía bên kia ô cửa của ngôi trường nhỏ hẹp, để giúp cho sinh viên học sinh cơ hội được nhìn xa hơn, rộng hơn đến những chân trời văn minh của nhân loại. Nếu không được như Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ, thì nhà văn cũng không nên đào sâu thêm hận thù, ganh ghét trong lòng người dân hai nước.

Ðọc xong tác phẩm Một thời lầm lỗiTrở lại nước Mỹ, các em học sinh Việt Nam có thể nghĩ rằng không chỉ Việt Nam nghèo nàn, mà ngay cả một siêu cường cỡ Mỹ cũng đang khốn đốn vì miếng cơm manh áo; không phải chỉ Việt Nam có những kẻ khố rách áo ôm, mà nước Mỹ cũng đầy những cảnh đầu đường xó chợ.

Thưa nhà văn, thời đại của “trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ, đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ” đã qua xa rồi. Hãy để cho các em có cơ hội được thấy những đổi thay bên ngoài đất nước. Không có sự so sánh thì làm sao các em biết nỗ lực để vươn lên.

Nhà văn cũng không cần phải bôi đen thành phố lịch sử Boston của Mỹ chỉ để chứng minh cho cái nghèo nhưng sạch, rách nhưng thơm của Hà Nội như là “giữa trời và vực”. Kỹ thuật tự khen mình bằng cách bêu xấu đối phương không phải tư cách của một người lương thiện, và tương tự, hạ thấp giá trị của thành phố nhà văn đang thăm viếng chỉ để biện hộ cho cái mặc cảm nghèo nàn của một thành phố Việt Nam không phải là cách viết của một nhà văn trưởng thành và thái độ của một con người lịch sự. Hà Nội không cần nhà văn ca ngợi hay binh vực bằng phương cách đó. Trong trái tim của mỗi người Việt Nam, dù trong nước hay ngoài nước, Hà Nội tuy nghèo, Hà Nội tuy xưa, Hà Nội tuy cũ, nhưng Hà Nội vẫn uy nghi như một trung tâm văn hóa lịch sử bốn nghìn năm của dân tộc Việt Nam. Nếu ai nói khác hay khinh thường Hà Nội, không đợi đến nhà văn đứng ra bảo vệ mà tám chục triệu người, trong đó có kẻ viết bài này, sẽ làm công việc đó. Ca ngợi Hà Nội như cách của nhà văn chẳng khác gì trét bùn lên một bức tranh tuyệt mỹ.

Ðộc giả sẽ thắc mắc, làm thế nào một nhà văn như đại tá Lê Lựu lại có thể viết những chuyện xa vời thực tế như thế. Câu trả lời chắc sẽ dành cho nhà văn mặc dù những tham luận, bút ký có khả năng giết người vẫn nhan nhản trong xã hội cộng sản, sá chi là chuyện vài con số tuyên truyền. Với tôi, câu trả lời rơi vào một trong hai trường hợp, nếu chị Liliên không nói thì chính nhà văn đã viết dối và nếu chị Liliên không biết đếm thì nhà văn là người không có khả năng phân biệt sự khác nhau giữa giả dối và thành thật. Và dù trường hợp nào, thủ phạm cuối cùng chịu trách nhiệm cho sự dối trá vẫn là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa tại Viêt Nam.

Chúng ta thường lo âu về những tình trạng chậm tiến về khoa học kỹ thuật, nghèo nàn lạc hậu về kinh tế, nhưng nghĩ cho cùng, cái nghèo đói trí thức, nghèo đói tinh thần, nghèo đói đạo đức tại Việt Nam còn trầm trọng và thúc bách hơn nhiều. Với óc cần cù, thông minh của người Việt và cơ hội học hỏi khắp năm châu, chúng ta không phải quá lo lắng về một nền khoa học hiện đại, một nền kỹ thuật hiện đại. Ðiều đáng lo lắng nhất vẫn là làm thế nào để có những con người Việt Nam biết sống lương thiện và thành thật, làm thế nào có được một nền giáo dục biết đặt cơ sở trên tinh thần nhân bản, dân tộc và khai phóng thật sự làm nền tảng cho một xã hội dân chủ pháp trị tiên tiến trong tương lai. Ðó là một cuộc cách mạng tư duy và tâm thức lâu dài.

Mới chỉ năm mươi năm thôi mà các giá trị luân lý, đạo đức Việt Nam đã suy đồi và băng hoại đến thế này, nếu đợi đúng “một trăm năm trồng người” xong thì đất nước sẽ ra sao?

© 2005 talawas

12/2/11

Bắc Triều Tiên lặng lẽ vào internet

Bài của Martyn Williams- IDG News Serives
Ngày 12 tháng 6 năm 2010

Bắc Triều Tiên, một trong vài điểm mù thông tin còn lại của thế giới, đã tiến những bước đầu tiên hướng tới một kết nối đầy đủ với Internet. Nhưng một kết nối, nếu được xảy đến , dường như cũng không có nghĩa là tự do thông tin cho công dân Bắc Triều Tiên.

Trong vài tháng qua, một khối 1.024 địa chỉ Internet, nhiều năm qua đã dành riêng cho Bắc Triều Tiên nhưng không bao giờ được kích hoạt, đã được đăng ký bởi một công ty có liên kết với chính phủ ở Bình Nhưỡng. Các địa chỉ IP dạng số nằm ở trung tâm của truyền thông trên Internet. Mỗi máy tính phải kết nối với mạng có địa chỉ cần yếu riêng của mình để dữ liệu có thể được gửi và nhận bởi các máy chủ và máy tính đúng. Nếu không có chúng, truyền thông sẽ gãy đổ.

Không được biết các nhà lãnh đạo bí mật của đất nước này có kế hoạch xử dụng các địa chỉ.kết nối ấy vào mục đích gì. Dường như chúng sẽ được giao cho quân đội hoặc chính phủ để sử dụng, nhưng các chuyên gia nói rằng điều ấy không thể biết chắc chắn. Việc di chuyển đến mạng internet của Bắc Hàn bắt nguồn từ nguyên nnhân họ đã nhận thấy mình đang ngày càng bị cô lập trên trường quốc tế. Vụ đánh chìm một tàu chiến gần đây của Hàn Quốc đã được đổ lỗi cho quốc gia cô lập này. Kết quả là đã có những lời kêu gọi trừng phạt cứng rắn hơn mà có thể tiếp tục cô lập Bắc Triều Tiên hơn nữa.

"Không có chỗ đứng cho Internet tại CHDCND Triều Tiên hiện đại", ông Leonid A. Petrov, giảng viên trong các nghiên cứu Hàn Quốc tại Trường Đại học Sydney đã nói, ý đề cập đến Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. "Nếu người dân Bắc Triều Tiên có quyền truy cập rộng rãi vào World Wide Web, họ sẽ bắt đầu biết được những sự thật từng bị giấu kín từ sáu thập kỷ qua. Trừ khi Kim Jong-Il hay người kế nhiệm ông cảm thấy muốn tự tử, Internet, giống như bất kỳ phương tiện truyền thông tự do nào khác, sẽ không bao giờ được cho phép ở Bắc Triều Tiên, "ông nói.

Các địa chỉ gần đây của Bắc Triều Tiên đã được đặt dưới sự kiểm soát của Công ty liên doanh Star, một công ty có căn cứ ở Bình Nhưỡng, một phần được kiểm soát bởi Loxley Pacific của của Thái Lan. Công ty Thái Lan từng có kinh nghiệm làm việc với Bắc Triều Tiên về các dự án công nghệ cao, đã xây dựng Sun Net, mạng lưới điện thoại di động đầu tiên của Bắc Triều Tiên vào năm 2002. Loxley thừa nhận rằng mình đang làm việc trong một dự án với Bình Nhưỡng, nhưng Sahayod Chiradejsakulwong, một viên chức quản lý tại công ty, không cho biết chi tiết về kế hoạch của các địa chỉ mạng. "Đây là một phần công việc kinh doanh của chúng tôi khiến chúng tôi không muốn cung cấp các thông tin vào lúc này," ông ta nói.

Một kết nối với Internet sẽ tiều biểu một nâng cấp đáng kể cho vị trí của Bắc Triều Tiên trong không gian mạng, nhưng nó bắt đầu từ một cơ bản rất thấp. Hiện nay đất nước dựa vào các máy chủ tại các nước khác để phổ biến thông tin. Trang web của Thông Tấn xã Trung ương Hàn Quốc , loa kèn chính thức của Bắc Triều Tiên, chạy trên một máy chủ ở Nhật Bản, trong khi Uriminzokkiri, trang tương tự nhất với một trang mạng chính thức của cả nước chạy từ một máy chủ ở Trung Quốc.

Các công dân Bắc Triều Tiên được truy cập vào một hệ thống mạng nội bộ toàn quốc gọi là Kwangmyong, được thiết lập vào khoảng năm 2000 do Trung Tâm Máy tính Triều Tiên có trụ sở tại Bình Nhưỡng. Mạng này kết nối các trường đại học, thư viện, tiệm cà phê và các tổ chức khác với những trang web và e-mail, nhưng không cung cấpcác liên kết đến thế giới bên ngoài. Các kết nối với Internet thực tế hạn chế nghiêm ngặt cho các thành viên ưu tú nhất của xã hội. Ước tính cho thấy không có nhiều hơn một vài ngàn người Bắc Triều Tiên có quyền truy cập vào Internet, bằng ngả kết nối thông qua biên giới với China Netcom. Một kết nối thứ hai tồn tại, thông qua vệ tinh đến Đức Quốc, và được sử dụng bởi các nhà ngoại giao và công ty.

Đối với những công dân bình thường của Bắc Triều Tiên, ý tưởng về một kết nối Internet là một điều không thể tưởng tượng được. Petrov nói. Kim Jong-Il, các nhà lãnh đạo mặc nhiên của đất nước, tất thảy đều ý thúc hết sức rõ ràng về sức tàn phá mà tự do thông tin sẽ đến với chế độ của ông. Trong khi khoe khoang về khả năng trực tuyến phi thường của riêng mình tại một cuộc họp thượng đỉnh liên Triều Tiên trong năm 2007, ông lại vẫn thông báo từ chối kết nối Internet cho khu công nghiệp Kaesong, một phức liên doanh nằm ở phía bắc của biên giới, và nói rằng "nhiều vấn đề sẽ phát sinh nếu Internet tại Khu Kaesong kết nối được với các phần khác của Bắc Triều Tiên ".

Bản thân Kim đã không dấu diếm sự truy cập Internet mà ông vốn rất thích, và sau đó đã nổi tiếng khi hỏi địa chỉ email của Ngoại trưởng Mỹ Madeleine Albright trong một cuộc họp vào năm 2000. Sự kiển soát toàn bộ thong tin của chính phủ đã kéo dài ngay cả đến việc đã yêu cầu các radio thu thanh phải được sửa chữa để cố định trên các đài trong nước để các phát thanh bên ngoài không thể nghe thấy được. Chính sách này không cho thấy có dấu hiệu thay đổi, vì vậy bất kỳ sự mở rộng của Internet vào Bắc Triều Tiên có khả năng sẽ chỉ được sử dụng bởi chính phủ, quân sự hoặc các tập đoàn quan trọng.

nguồn: http://leonidpetrov.wordpress.com/20...-the-internet

Hoán Chúa Cầu An
Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

Một sự thay đổi đột ngột về ngôi thứ lãnh đạo Bắc Hàn thật đáng chú ý. Đầu tuần này tin cho biết người anh em đồng hao với Chủ tịch Kim Jong-il đã được đưa lên hàng thứ 2 trong cấp lãnh đạo nằm trong bóng tối của chế độ. Tên nhân vật này là Jang Song Thaek, đến nay đã từng nắm một ngôi vị đầy quyền lực tối cao, giữ quyền giám sát tình báo, cố vấn chính trị Biện lý cuộc, Công an và Tòa án. Theo lời Giáo sư Yang Moo-Jin của Đại học Nghiên cứu về Bắc Hàn, trụ sở ở Hán Thành, Jang còn được cử làm Phó Chủ tịch Ủy hội Quốc phòng của Bắc Hàn, mà nhiệm vụ chính yếu là nắm lấy quân đội Cộng sản Miền Bắc Triều Tiên.

Việc bổ nhiệm Jang đã được công bố sau một cuộc họp hiếm có của Quốc hội Tối cao Nhân dân Bắc Hàn, với sự hiện diện cũng hiếm có của Chủ tịch Kim Jong-il mà người ta đã biết đang bị chứng đau tim nặng từ 2 năm nay. Qua màn hình TV Bắc Hàn người ta chỉ thấy thoáng hình ảnh của họ Kim 68 tuổi, nên không rõ tình trạng của ông ta lúc này đã trầm trọng đến độ nào. Theo thông lệ ở các nước Cộng sản, Quốc hội Tối cao Nhân dân chỉ là một cơ quan "gật đầu đóng triện", nên mỗi năm họp một lần để "thông qua" những quyết định của đảng và Nhà nước. Quốc hội này đã họp hồi tháng 4, đến tuần này lại họp nữa nhưng không thấy nói tại sao phải họp thêm?

Báo chí trên thế giới không chú ý đến chuyện họp thêm này. Riêng tôi nghĩ chắc là việc cấp bách lắm rồi nên mấy ông cầm đầu CS Bắc Hàn không thể chờ đến sang năm. Cấp bách gì vậy? Bắc Hàn đang trải qua một cơn bĩ cực gay go về kinh tế chẳng thể làm ngơ, trong khi Nam Hàn đang ráo riết vận động LHQ trừng phạt Bắc Hàn về vụ tấn công một chiến hạm Nam Hàn làm chết 46 Hải quân. Cho đến nay Bắc Hàn đã chối cãi vụ này và báo chí nhà nước Bắc Hàn không thấy nói rõ cuộc họp "Quốc hội" Bắc Hàn có bàn thảo vụ này hay không.

Tuy vậy người ta cũng được biết thêm là trong cuộc họp tuần này ở thủ đô Bắc Hàn, nhân vật giữ chức Thủ tướng là Kim Yong Il cũng bị mất chức và được thay thế bởi Choe Yong Rim, một dân biểu Quốc hội. Như vậy các phe nhóm tranh chấp còn tìm cách đưa người vào ngồi ở những chức vụ quan trọng. Việc thay thế Thủ tướng đã được quyết định từ lâu, vì hồi tháng 2 năm nay Kim Yong Il đã làm một việc hiếm có là công khai lên tiếng xin lỗi nhân dân sau khi thất bại trong việc chỉnh đốn lại giá đồng tiền Bắc Hàn đã tạo ra bất ổn xã hội và nạn đói lan tràn.

Vậy các ông Cộng sản đổi tiền như thế nào? Hồi tháng 11 năm 2009, dân chúng Bắc Hàn được lệnh "đổi tiền", theo thể thức đem một số giấy bạc cũ của Nhà Nước nhưng hạn chế số tiền là bao nhiêu để đổi lấy một số bạc đặt tên lại giấy bạc mới cũng của Nhà Nước. Thế nhưng toàn bộ giấy mới này xuống giá thê thảm vì Nhà Nước đã in ra quá nhiều để trả lương cho quân đội và Công an, khiến đồng tiền bị lạm phát. Kiểu đổi tiền này nghe cũng hơi quen với người dân Việt Nam sau năm 1975.

Các nhà phân tích nước ngoài về thời sự Bắc Hàn nói việc thay ngôi hoán vị người lãnh đạo thường là để chuẩn bị một sự thay đổi ngoạn mục của chế độ. Vậy thay đổi như thế nào? Tất cả còn phải chờ xem, nhưng chúng tôi nghĩ ở một chế độ mà lãnh tụ trường kỳ đau ốm, nội bộ đã ngấm ngầm có biến với những rạn nứt gay go, bởi vì các phe nhóm ở sát cấp thượng tầng đã âm thầm kèn cựa lẫn nhau với mục tiêu tối hậu là cướp lấy quyền lực tối cao để nhất thống giang hồ. Kim Jong-il là người đã nối chức cha từ năm 1994 trong cương vị độc tài tàn bạo, tất nhiên đã nhìn thấy rõ những nguy cơ đó có thể làm tan nát chế độ.

Vậy tại sao Kim không truyền "ngôi" cho con trưởng là Kim Jong Nam năm nay 39 tuổi? Nhưng chính anh Jong Nam này đã "dính trấu" mất rồi. Năm 2001 Jong Nam đã bị thất sủng sau khi bị bắt vì đã đáp một chiếc tầu chở khách đến Nhật Bản với Thông hành giả mạo của nước Cộng hòa Dominican để du hí tại vườn Disney ở Tokyo. Hôm thứ hai tuần này, một tờ báo của Nam Hàn là Joong Ang Ilbo xuất bản đại đa số kiểu bán chợ trời ở Nam Hàn, cho biết người ta đã tìm thấy tung tích của cậu cả Jong Nam ở một khách sạn tại miền Nam Trung Quốc trên phần đất gọi là Macao.

Trong một cuộc phỏng vấn ngắn ngủi ở trên thang máy, Jong Nam đã cải chính tin nói anh ta đã xin tỵ nạn chính trị ở Âu châu, vì anh ta đã mất hết quyền lực trong vụ đấu đá tranh "vương quyền đỏ" với người em út của anh ta. Jong Nam nói: "Tôi không có kế hoạch qua Âu châu sinh sống. Tại sao tôi phải làm thế? Tôi qua Âu châu là để đi nghỉ hè". Có lẽ mùa hè ở nước băng tuyết năm nay rực lửa, nên cần phải "nghỉ mát", thật cũng hợp lý thôi".

Thế còn con trai út của họ Kim thì sao? Anh này tên là Kim Jong Un, 28 tuổi, còn quá trẻ nên 9 năm trước khi anh cả Jong Nam bị quần thần chống đối, Chủ tịch Kim Jong-il đã có định chuẩn bị cho Kim Jang Un lên kế vì. Khốn nỗi lúc đó Jong Un quá trẻ nên bị quần thần dị nghị, nhất là ông đồng hao ngày nay Jang Song Thaek cũng chống đối nên Kim Jong-il phải từ bỏ ý định lập con út kế vị ngai vàng..."đỏ".

Thế nhưng việc lập ra một tay lãnh đạo mới nghe chừng vẫn chưa đủ. Trước mắt việc khó khăn nhất chế độ Bắc Hàn phải đối phó là vụ bắn chìm chiến hạm của Nam Hàn. Bắc Hàn chối cãi, Nam Hàn đã đưa vấn đề ra trước Hội đồng Bảo an LHQ. Cố nhiên hai bên còn tranh chấp bằng mồm chớ chưa dùng súng, nhưng tình trạng này đã khiến các nhà đầu tư quốc tế thấy ngại ngùng, không muốn bỏ tiền ra làm ăn ở bán đảo này nữa. Đầu tư hết, mậu dịch cũng hết. Khó cho Bắc Hàn hơn Nam Hàn vì ở Nam Hàn còn có quân Mỹ đóng ở đó, sự giao lưu kinh tế Mỹ-Nam Hàn còn tiếp tục. Quân đội Mỹ và Nam Hàn có kế hoạch thao diễn quân sự trong tháng này, để xem quân đội hai nước đã sẵn sàng đến độ nào nếu Bắc Hàn gây hấn.

Trung Quốc là đồng minh chính của Bắc Hàn và là hội viên thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ. Nếu muốn có nghị quyết lên án Bắc Hàn, Hội đồng Bảo an cần phải có lá phiếu của Trung Quốc. Sáng thứ Ba lại có chuyện bất ngờ. Bắc Kinh loan tin quân biên giới Bắc Hàn đã bắn chết 3 người Trung Quốc bị nghi là buôn lậu. Vậy Trung Quốc sẽ có thái độ ra sao tại Hội đồng Bảo an? Tôi thích theo dõi vụ này, để xem Bắc Hàn có chịu biến đổi một chế độ cai trị, từ một chủ thuyết chính trị đã lỗi thời để cập nhật hóa thành một chế độ mới làm việc cho dân, lấy quyền lợi của dân tộc làm ưu tiên, thứ mới đến quyền lợi cho đảng hay bất cứ phe nhóm nào. Tôi tin nhiều người cũng đang theo dõi cuộc thí nghiệm này.

SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH


Nguồn: Việt Báo

Bên trong tâm trí Kim Jong Il của Bắc Triều Tiên

Nhà độc tài Bắc Triều Tiên Kim Jong-il đã lại kích động một cuộc khủng hoảng quốc tế nguy hiểm. Phóng viên của chúng tôi nghiên cứu tâm tưởng quái gở và đáng lo ngại của người Lãnh tụ Kính yêu này.

Bài của Aidan Foster-Carter

Trong các báo chí nhà nước có sự kích động về "những kẻ phản bội". Trong các thị trường ở Bình Nhưỡng, giá cả đã tăng vọt - đặc biệt là với thịt đóng hộp, đường, bếp gas xách tay và các mặt hàng khác cần thiết để có thể sống qua một cuộc chiến tranh.

Tuần trước, Kim Jong-Il đã sử dụng một cuộc họp nội các bất thường để ra lệnh cho các bộ trưởng Bắc Triều Tiên chuẩn bị cho "tất cả các trường hợp bất khả kháng có thể, kể cả trường hợp xấu nhất", trong khi tư thế nghênh chiến của quân đội được nâng lên mức cao nhất.

Tính cách của Kin Jong Il, theo các nguồn thông tin đáng tin cậy ở thủ đô, là "kiên quyết và xốc nổi".

Người Bắc Triều Tiên đã từng chuẩn bị chiến tranh nhiều lần trước đây. Nhưng trong vài ngày qua nhà nưóc cộng sản bí ẩn và nhà lãnh đạo hoang tưởng của nó dường như đã đạt đến một cấp độ mới về sự kích động. Có các loại diễn tập hàng ngày về phòng thủ dân sự, với việc các công dân được ra lệnh không sử dụng đèn chiếu sáng khi trời tối, không nguyền rủa la lối khi phải chui vào hầm trú ẩn tránh bom khi có tiếng còi báo động và không hoảng sợ mua bán linh tinh.

Những trận đónh võ mồm kể từ vụ tàu hộ tống Cheonan của Hàn Quốc nổ tung vào ngày 26 Tháng 3 gần vùng biển Bắc Hàn khiến mang theo mạng sống của 46 thủy thủ đoàn, trông rất chuệch choạng vào một cái gì tồi tệ hơn.

Nhà độc tài Bắc Triều Tiên lại đang quậy nữa: làm cả thế giới căng thẳng nhưng thực chẳng có ý nghĩa gì cho lắm. Thực chỉ là cái cách mà “lãnh tụ kính yếu” thích mà thôi.

Chỉ 10 ngày sau khi một nhóm các chuyên gia được chỉ định bởi Seoul đã chỉ rõ việc đánh đắm tàu Cheonan rõ ràng là từ Bình Nhưỡng. Họ đã mag các mảnh ngư lôi vớt từ đáy biển để chứng minh điều đó.

Với sự trả đũa quân sự được coi là quá mạo hiểm, miền Nam đã phản ứng bằng cách đẩy mạnh phòng thủ của mình, cấm chỉ các thương mại và liên lạc, và khôi phục chương trình tuyên truyền phát sóng trên toàn Khu vực Phi Quân Sự. Một cái tên gọi mỉa mai đã có từ 57 năm sau khi Chiến tranh Triều Tiên kết thúc với một hiệp ước đình chiến nhưng không có hiệp ước hòa bình, khu vực này vẫn còn là khu biên cưong được củng cố nhất trên hành tinh. Các lực lượng có tổng cộng là 1.8 triệu quân nhân, trong đó có 28.500 người Mỹ, đối mặt nhau trong sự báo động thường trực.

Bắc Triều Tiên đã phản ứng bằng cách giận dữ xé bỏ các điều ước quốc tế và đe dọa chiến tranh.

Vậy, Kim Jong-il đang chơi trò gì ? Ông là ai, và ông nghĩ rằng mình là ai ?

Vị Lãnh tụ Kính yêu, được tin ở tuổi 69, là một kẻ man trá vốn chủ trương “tung hỏa mù” để khiến kẻ thù bị rối trí. Tuy nhiên, nhờ vào Google Earth, tất cả chúng ta hiện có thể có được cái nhìn gần hơn về vương quốc lạ thưòng của ông ta.

Ở đó là những cung điện của y, các tuyến đường sắt riêng và các du thuyền sang trọng. Đó cũng là những quần đảo tù ngục nơi những kẻ điên loạn vì y cũng như gia đình của họ sống và chết ở đấy.

Lớp sương mù phủ quanh ông ta bắt đầu bằng nơi chốn ông sinh ra đời . Huyền thoại chính thức nhắc đến nơi ấy như là một căn lều gỗ trên đỉnh núi Paekdu cao và thiêng liêng nhất Hàn Quốc trên biên giới Trung Quốc. Nhưng sự thật bẩn thỉu hơn lại cho biết nơi ông sinh ra là một trại quân đội gần Khabarovsk ở Siberia, nơi người cha Kim Il-sung của ông đã rút lui khỏi cuộc chiến đấu với Nhật Bản.

Kim Il-sung, người sáng lập và cai trị Bắc Triều Tiên đã qua đời vào năm 1994 vì một cơn đột quỵ, có thể là vì sau khi một cuộc vật lộn cải vả với Kim Jong Il, con trai mình. Nhưng sau ba năm gián đoạn, cho thấy có một số chống đối, vào năm 1997 Kim Jong il, đã được công nhận - không có bầu cử tử tế - là tổng bí thư Đảng và là người cai trị tuyệt đối của nhà nước toàn trị.

Kỳ lạ thay, dù đã chết, cha ông vẫn là "tổng thống đời đời". Kim cai trị trong vai trò là Chủ tịch Ủy ban quốc phòng, đứng cao hơn hẳn cả nội các theo chính sách dưới một chính sách kiểu “quân sự trước” (Songun) vốn được ông ta công khai thừa nhận.

Trong thực tế, ông ta cai trị thông qua các thuộc hạ tin cẩn - khen thưởng họ bằng những món quà xa hoa và bữa tiệc rượu say sưa – cùng một mạng lưới của các cơ quan an ninh.

Là một con cú đêm, một kẻ cai trị đến từng tiểu tiết, khiến các quan chức luôn phải sống trong sợ hãi đến một bức điện thư hoặc tờ fax nửa đêm, Kim hiện ngồi như một con nhện héo hon ở trung tâm của một mạng lưới rộng lớn với tất cả các đường cong quẹo chỉ mình ông ta biết và kiểm soát được. Nhưng để đi đến đâu ? Trái ngược với loại tiểu sử của những bậc thánh giả tạo ngọt ngào, thực chất Kim Jong-il là một nhà lãnh đạo tệ hại.

Ông và các chế độ của ông vẫn còn đó, 20 năm sau khi các nước cộng sản khác đã sụp đổ hay thay đổi để thích nghi. Nhưng Bắc Triều Tiên vẫn không đi đến đâu cả. Chính sách Songun què cụt vì khiếu khích và thiếu tiền. Đi theo chính sách hạch nhân và phát triển vũ khí nguyên tử để dồn Tổng thống George W. Bush vào đường cùng, nhưng thực ra cuối cùng chẳng hề có một sự phòng thủ thực sự.

Kim Jong-il đã từ chối cải cách kinh tế, bất chấp những ví dụ thành công của Trung Quốc mà ông từng viếng thăm nhiều lần.

Trở ngại không kém của ông là sự thất bại trong việc theo gương cha mình để xức dầu thánh cho người nối nghiệp, khiến gây hoảng loạn trong năm 2008 khi ông bị đột quỵ.

Sự lưỡng lự này phản ánh một lịch sử hôn nhân phức tạp. Kim có ba người con trai (và một cô con gái thông minh, người không được tính đến: vì một số cuộc cách mạng) với hai người phụ nữ, không một ai là vợ và hiện đều đã chết. Cả hai đều được giáo dục một phần tại Thụy Sĩ.

Kim Jong Nam, con trai lớn nhất đã bị bắt tại Nhật Bản vào năm 2001 vì một hộ chiếu giả của Cộng hoà Dominica mang tên của Pang Xiong (tiếng Trung Quốc nghĩa là "gấu béo"). Hiện 39 tuổi đang sống bán lưu vong tại Ma Cao.

Jong-Chul, 28 tuổi, con trai thứ hai, là một fan hâm mộ Eric Clapton, bị phát hiện và chụp ảnh tại một buổi biểu diễn ở Đức vào năm 2006 - và đã từng bị loại bỏ bởi cha của mình vì "nhu nhược". Điều này được hiểu nhiều cách khác nhau, hoặc anh ta là ái nam (gay) bị mất cân bằng hormone, hoặc chỉ đơn giản rằng anh quá mềm mỏng và có tính cách quá dịu dàng không lãnh đạo Bắc Triều Tiên được.

Vậy là người trẻ nhất, Jong-eun, 26 tuổi, ít được ai biết đến. Anh ta được biết là kẻ cứng đầu. Năm ngoái, một chiến dịch bắt đầu xây dựng hình ảnh của anh, và tuần này anh đã tham dự các cuộc họp với nội các khủng hoảng của Kim. Nhưng vẫn chưa có gì được công bố, điều đó cho thấy có thể có khó khăn trong việc đảm bảo sự chấp nhận anh với Đảng và quân đội Bắc Triều Tiên.

Vào ngày 7 Tháng 6 con dấu cao su “quốc hội” của đất nước sẽ tiến hành một phiên họp bất thường, mà có thể chỉ là buổi tiệc cho sự xuất hiện của lãnh đạo đảng Kim Jong-eun. Đây là cách quá hạn rồi. Nếu không, một cú đột quỵ khác xô ngã được Kim Jong-il, thì tất cả tiền cá cược vào sẽ mất cả.

Quân đội có thể nắm lấy quyền hành, nhưng các khó khăn còn lằng nhằng lâu dài- chẳng hạn như các căng thẳng như giữa phe diều hâu và phe bồ câu - sẽ phát nổ. Lãnh tụ Kính yêu đã chẳng giải quyết được gì, ngài chỉ trì hoãn ngày trả tiền thôi.

Trong khi đó ông tự thỏa mãn chính mình. Những người hầu trong Cung điện trưóc đây kể lại họ đã lau chùi cọ rửa phục vụ những món ngon vật lạ đắt nhất, hiếm nhất thế gian. Kim chẳng hề e thẹn gì về những điều này. Konstantin Pulikovsky, một người Nga từng tháp tùng ông trên chiếc tàu hỏa bọc thép 21 toa do Nhật chế tạo tới Moscow trong năm 2001, đã viết về món ưa thích của ông ta: tôm hùm sống và thịt lừa rang - được chở đến hàng ngày bằng máy bay, xối rửa bằng rượu vang thượng hạng của Pháp. Đoàn tùy tùng của Lãnh tụ Kính yêu gồm từ phụ nữ trẻ đẹp đến không dưới 95 tay bắn tỉa và vệ sĩ người Hàn Quốc và người Nga.

Tại sao một người tình của xa hoa như vậy lại đi đánh chìm tàu Cheonan? Ông đã có nghĩ rằng Trung Quốc, người ủng hộ quốc tế duy nhất của mình sẽ không bị phiền hà ? Nếu vậy thì ông có thể bị nhầm lẫn: sau khi ngoại trưởng Mỹ, Hillary Clinton, viếng thăm Bắc Kinh hồi tuần trước, các quan chức Hàn Quốc tuyên bố rằng Trung Quốc cuối cùng cũng đã tuyên bố rằng họ sẽ không bảo vệ cho bất cứ ai đứng đằng sau việc đánh chìm tàu Cheonan.

Tôi thấy có hai động cơ. Kim tức giận với Lee Myung-bak, tổng thống Hàn quốc, vì việc ông kết thúc chính sách “Ánh Dương " vốn từng tưới rải viện trợ cho Bắc Triều Tiên mà gần như chẳng nhận lại được gì.

Và cũng giống như vụ tên lửa và vụ thử hạt nhân hồi năm ngoái - một phương cách quái đản để chào đón cuộc đối thoại mới ủng hộ Tổng thống Mỹ - là cuộc bắn pháo hoa để vinh danh Kim Jong-eun bằng việc đánh chìm tàu Cheonan để tạo một tín hiệu mạnh rằng người thừa kế rõ ràng là một người cứng rắn. Tất nhiên là bị vỡ mặt, gây căng thẳng và chẳng có ý nghĩa gì cả. Nhưng lại có thể tạo được ý nghĩa cho phía Bắc Triều Tiên.

Những quái gở của Kim thì rất nhiều. Phát hành tiền 100 đô Mỹ giả, hoặc có các nhà ngoại giao đi buôn lậu ma túy đã không chỉ làm phiền đến mọi người nhưng còn thu lợi được ít hơn nhiều so với việc ông ta cứ đi bằng một con đường thẳng, noi theo gương Trung Quốc, Việt Nam, và bán hàng hóa hợp pháp để xuất khẩu.

Vì lý do nào đó, Lãnh tụ Kính yêu lại cứ thích đi bên phía bờ man dại. Người được biết là rất cuồng nhiệt yêu phim ảnh. Chắc có lẽ Kim đã xem phim James Bond quá nhiều.

Ông chẳng phải một nhà tư tưởng. Không giống như cha mình, ông cũng không hề quan tâm đến việc Bắc Triều Tiên có tồn tại mình mãi hay không. Ông cũng chẳng phải một kẻ ngu khờ, như Madeleine Albright và những người khác từng chứng thực, ông có vẻ như hay giễu cợt, hoặc thậm chí là một kẻ hư vô chủ nghia. Cũng giống như Mme de Pompadour, có thể ông ta đã nghĩ rằng: “Sau ta là cơn hồng thủy" (Apres moi, le deluge).

Hay là với tình yêu điện ảnh của ông có thể lập lại một Nero: rong chơi trong khi thành Rome bốc cháy và thốt lên “Ta chết như một nghệ sĩ lớn” (Qualis artifex pereo).

Và như với Nero, có thể kéo theo sự hỗn loạn. Rồi sẽ phải mất hàng nhiều thế hệ để dọn sạch đống rác mà Lãnh tụ Kính yêu đã để lại. Hàn Quốc có thể không bao giờ thực sự thống nhất, dó đó cái khoảng cách sẽ phát triển vô cùng lớn - và những người nông nô còi cọc suy dinh dưõng của Kim Jong-il rõ ràng nhỏ bé hơn người anh em họ miền Nam của họ.

Trong khi đó, cái tên Kim Jong Il, được chạm trong nghệ thuật khắc đá khiến làm mất cả vẻ đẹp của rặng núi, sẽ sống mãi mãi: để nhắc nhở các thế hệ tương lai của các triều đại ác mộng về vị vua tồi tệ nhất mà miền đất cổ xưa này đã từng có.

nguồn: http://www.telegraph.co.uk/news/worl...m-Jong-il.html

Lại những sự thật éo le của một dân tộc khốn khổ

Định mở một chủ đề mới nhưng đọc lại, thấy tiêu đề Bắc Triều Tiên: Những bí ẩn và dối trá nghe thật thích hợp, nên xin dùng lại thớt này để giới thiệu cùng X Cà một bài mới của bà Sharon La Franiere đăng trên tờ Nữu Ước Thời Báo viết về đất nước khốn khổ Bắc Hàn.

Những gì mục kích được ở Bắc Hàn đã cho thấy một chính sách lan tràn đau khổ ra sao

YANJI, Trung Quốc - Giống như bao nhiêu người Bắc Hàn khác, các công nhân xây dựng luôn sống trong túng quẫn. Đã quá lâu, vị chủ nhân quốc doanh không hề trả lương đến nỗi anh quên cả tiền lương của mình. Thực ra, anh đã đút lót ông chủ của mình để được liệt kê như là một công nhân xoàng hầu có thể rời khỏi hiện trường công việc. Sau đó, anh và vợ anh có thể lẻn ra sinh sống bằng cách bán những túi nhỏ bột giặt nhỏ ở chợ đen.

Không ai nghĩ rằng cuộc sống có thể tồi tệ hơn nữa. Nhưng sau đó, vào một buổi chiều thứ bảy cuối tháng mười một, người em gái anh đã nhảy bủa vào căn hộ của anh ở Chongjin với một tin động trời: chính phủ Bắc Triều Tiên quyết định phá giá tiền tệ của quốc gia. Thế là tất cả vốn liếng dành dụm của cả gia đình, khoảng 1.560 đồng đã tụt giảm xuống chỉ còn khoảng 30 đồng.

Tháng trước, người công nhân xây dựng này ngồi trong một căn nhà an toàn trong thành phố nhộn nhịp này ở phía bắc Trung Quốc, than tiếc về những năm tháng sự cần kiệm hoài công. Nào là, rau quả cho cha mẹ, thuốc suyễn cho vợ, bộ đồ xanh kiểu hải quân mà đưá con gái 15 tuổi của anh thèm khát - tất cả đều đã như cá trê trôi ống vì một sự giả dối rằng, ngay cả như ở Bắc Hàn, cũng đáng phải dành dụm cho tương lai.

"Đau quá ! " anh gào lên, nguyền rủa giữa tiếng nức nở. "Chúng tôi đã cực khổ biết dường nào mới dành dụm được số tiền ấy! Cứ nghĩ đến là tôi lại phát điên lên".

Người Bắc Hàn đã quen với vất vả và khổ đau. Nhưng cuộc phá giá tiền tệ ngày 30 tháng 11 rõ ràng là một nỗ lực để chống đỡ cho một nền kinh tế nhà nước chết đuối, là một trong những thảm trạng tồi tệ nhất kể từ nạn đói đã giết chết hàng trăm ngàn giữa những năm 1990.

Những cuộc phỏng vấn trong tháng qua với tám người Bắc Triều Tiên vừa rời khỏi đất nước - một người trốn tù, những người buôn bán bất hợp pháp, những người lưu vong tạm thời để tìm việc làm tại Trung Quốc và một du khách vốn là vợ một quan chức trong Đảng Lao động cầm quyền - đã vẽ lên một bức chân dung ám ảnh của sự tuyệt vọng bên trong Bắc hàn, một quốc gia của 24 triệu dân và của sự bất mãn ngày càng tăng đối với nhà lãnh đạo Kim Jong Il thất thường của họ.

Tối thiểu là cho đến nay, dường như điều còn thiếu chính là sự mất ổn định của xã hội. Khó khăn lan rộng, giận dữ phổ biến vì sự đánh giá lại giá trị tiền tệ và sự bất định chính trị tăng trưởng khi ông Kim đang tìm cách đặt người con trai thứ ba của mình vào vị trí kế nhiệm đã không đủ chín mùi để trở thành một sự đối kháng chính phủ có thể nhìn thấy được. Ít nhất có hai trong số những người được phỏng vấn ở Trung Quốc đã thấm nhuần với dòng tuyên truyền chính thức rằng Bắc Hàn là nạn nhân của những kẻ thù dai dẳng, sự nghèo khổ của họ là một âm mưu của phương Tây, sự sống còn của họ bị đe dọa bởi Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Nhật Bản.

Việc Nam Hàn cáo buộc Bắc Hàn đánh chìm Cheonan, một tàu chiến của họ trong tháng ba là một phần của các âm mưu này, người vợ của một viên chức trong đảng nói.

"Đó là lý do tại sao chúng tôi phải có vũ khí để bảo vệ chính mình", cô nói trong khi thăm thân nhân ở miền bắc Trung Quốc - và kiếm thêm tiền mặt từ việc làm bồi bàn. "Kẻ thù của chúng tôi đang cố gắng để đánh chúng tôi từ mọi phía, và đó là lý do tại sao chúng tôi thiếu điện và các cơ sở hạ tầng tốt. Bắc Hàn cần phải khoá chặt cửa lại ".

Những người khác nghi ngờ các tuyên truyền của chính phủ hơn, nhưng vẫn xem chiến tranh như một điều không tránh khỏi. "Chúng tôi luôn mong chờ một cuộc xâm lược", một cựu giáo viên trường tiểu học nói. "Con trai tôi nói rằng hắn muốn chiến tranh xảy đến bởi vì cuộc sống khổ quá và đằng nào thì chúng tôi có lẽ cũng chết đói thôi".

Họ và những người Bắc Hàn khác chỉ chịu thổ lộ với điều kiện tên tuổi được giữ kín trong các cuộc trao đổi phần lớn được sắp xếp bởi các nhà thờ ngầm hoạt động tại Trung Quốc chỉ ngay phía bên kia biên giới. Nếu bị phát hiện là đi du lịch hoặc làm việc tại Trung Quốc bất hợp pháp, họ có thể bị trục xuất, bị bỏ tù cùng với thân nhân của mình.

Khoảng một nửa số người được hỏi cho biết họ dự định sẽ quay trở lại Bắc Hàn; một nửa hy vọng trốn được sang Hàn Quốc.

Nhiều chi tiết, các giải thích của họ, dù được cung cấp riêng rẽ, đều ăn khớp với nhau. Tất cả cũng đều củng cố các mô tả của các nhà kinh tế và phân tích chính trị về một đất nước tả tơi.

Một nền kinh tế chao đảo

Trích dẫn không ảnh của những ống khói nhà máy không hề tỏa khói, các nhà kinh tế cho rằng khoảng ba trong số bốn nhà máy của Bắc Hàn đang bỏ không. Nền kinh tế đã chao đảo một cách tồi tệ từ năm 2006, khi Kim Jong-il rút ra khỏi cuộc đàm phán đa quốc gia nhằm chấm dứt chương trình vũ khí hạt nhân của mình. Vụ đánh chìm tàu Cheonan sẽ còn tiếp tục gây thiệt hại cho nền kinh tế: Hàn Quốc đã đình chỉ gần như tất cả các giao thương, lấy đi 33 triệu giá trị (mỗi năm) các mặt hàng xuất khẩu và hải sản của Bắc Hàn.

Khi bán đảo Triều Tiên được chia hai vào năm 1945, Nam Hàn là nước nghèo hơn. Bây giờ công nhân trung bình của Hàn Quốc kiếm được 15 lần hơn so với người công nhân trung bình của Bắc Hàn, căn cứ theo các dữ liệu đã được điều chỉnh về chi phí sinh hoạt. Lượng người đào thoát trốn được qua ngả Trung Quốc tới Nam Triều Tiên đã liên tục gia tăng trong một thập kỷ, đến mức 3.000 người hồi năm ngoái.

Tỷ lệ sản phụ và trẻ sơ sinh tử vong đã tăng ít nhất 30 phần trăm từ 1993 đến 2008, và tuổi thọ giảm ba năm xuống mức 69 tuổi trong cùng thời kỳ, theo số liệu điều tra dân số của Bắc Hàn và Tiên và Quỹ Dân số của Liên Hiệp Quốc.

Chương trình Lương Thực Thế giới của Liên Hiệp Quốc nói rằng một trong ba đứa trẻ Bắc Hàn dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng. Nhiều hơn một trong bốn người cần viện trợ lương thực, nhưng trong năm nay chỉ có khoảng một trong 17 người nhận được, một phần vì các nhà tài trợ ngần ngại khi cấp viện cho một quốc gia đã cứ khăng khăng vào việc phát triển vũ khí hạt nhân.

Sự mất giá tiền tệ chỉ làm tăng thêm khổ đau. Mục đích của việc phá giá tiền tệ là để chuyển số tiền kinh doanh lậu khổng lồ của Bắc Triều Tiên – các thị trường trên phố xá của chúng - cho các doanh nghiệp đói khát tiền mặt của chính phủ.

Các thị trường là nguồn thu nhập duy nhất của nhiều người Bắc Triều Tiên, nhưng các thị trường chính là sự lăng nhục đến cương lĩnh của chính phủ về kinh tế xã hội chủ nghĩa. Về mặt lý thuyết, tất cả mọi người trừ giới vị thành niên, cao niên và các bà mẹ có con nhỏ đều làm việc cho nhà nước. Nhưng các doanh nghiệp nhà nước đã tàn úa trong suốt 30 năm, và người dân Bắc hàn đã làm tất cả những gì mình có thể làm được để thoát khỏi việc phải làm cho các doanh nghiệp nhà nước.

Nông dân chăm tỉa khu vườn riêng của họ khi cỏ dại mọc đầy các trang trại tập thể. Các công nhân đô thị né tránh các nhiệm vụ nhà nước để để bán rong mọi thứ từ kim loại lượm lặt được từ các nhà máy hoang phế đến máy truyền hình nhập lậu từ Trung Quốc.

"Nếu không đi buôn, bạn sẽ chết", người phụ nữ măt tròn, một cựu giáo viên 51 tuổi có tóc kiểu đuôi ngựa nói. Cô đã đi từ một nhân viên biết vâng lời của nhà nước trở nên một người buôn lậu nhưng cũng không thể thoát khỏi cảnh ngộ khốn cùng.

Đói quá chẳng học hành gì được

Cô dạy trường tiểu học ở Chongjin 30 năm, thành phố lớn thứ ba của Bắc Hàn với khoảng 500.000 dân. Đó từng là công việc của cả một ngày nhưng đến năm 2004 thì rút ngắn lại chỉ còn một buổi sáng vì trường học phải đóng cửa vào giữa trưa. Ít nhất có đến 15 trong số 50 học sinh của cô đã bỏ học hoặc bỏ về sau một giờ ngồi học vì quá đói không học nổi.

"Thật hết sức khó để mà dạy một đứa trẻ đang chết đói" cô nói. "Ngay cả việc ngồi vào bàn học cũng là khó khăn cho chúng".

Các giáo viên cũng đói. Lương hàng tháng của cô khó mua nổi hai cân gạo, cô nói. Là người tốt nghiệp đại học nhưng cô đã phải kéo con mình ra khỏi lớp ba vào năm 1998 để gửi đến một người hàng xóm mà học may vá.

Cô bỏ dạy vào năm 2004 để bán mì bắp bên ngoài thị trường chính của Chongjin, một khu vực rộng bằng nửa khu phố đầy những quầy hàng và tăng bạt nhựa nơi những con buôn chủ yếu bán các mặt hàng Trung Quốc, bao gồm kem đánh răng, kim may và các dĩa DVD của những vở tuồng Hàn Quốc mùi mẫn bị cấm.

Nhưng buôn mì sợi hầu như không có lợi nhuận vì vậy cô đã liều lĩnh buôn các mặt hàng nhà nước kiểm soát: các loại hạt và quả cây thông đỏ được sử dụng phổ biến trong trà. Ý đồ ấy sụp đổ vào tháng Mười. Sau khi cô và các bạn hàng thu gom được 17 bao tải hàng hóa từ một ngôi làng, một bảo vệ tại trạm kiểm soát tịch thu tất cả thay vì nhận hối lộ để cho họ đi qua. Thế là cô lại mang 300 bạc nợ.

Tương tự như cô, gã công nhân xây dựng 45 tuổi, gầy như que củi với một cái đầu chuyên trị tính toán, từng tính rằng buôn bán tư là con đường cứu rỗi duy nhất cho gia đình mình. Nhưng vì là nam giới, lẩn tránh khỏi công việc nhà nước giao còn khó khăn hơn.

Trên danh nghĩa giấy tờ, anh nói, một công ty xây dựng quốc doanh ở Chongjin thuê anh ta. Nhưng công ty có ít nguồn cung cấp và không có tiền mặt để trả lương nhân viên. Vì vậy, anh cho biết, giống như hơn một phần ba công nhân khác, anh đã trả khoảng 5 đồng một tháng để được hàng ngày đăng nhập nhà máy vào như một công nhân của công ty - sau đó lại đi làm vất vả ở nơi khác.

Một phụ nữ buôn bán 62 tuổi ở Chongjin cho biết, các khoản thanh toán như vậy, phổ biến rộng rãi tại các doanh nghiệp quốc doanh nhỏ hơn, lẽ ra có thể giữ được tín nhiệm cho doanh nghiệp. Thậm chí một doanh nghiệp lớn như nhà máy lọc kim loại của thành phố đã không trả lương từ năm 2007, cô và những người khác cho biết, mặc dù mỗi tháng công nhân ở đó vẫn nhận được một khẩu phần có giá trị 10 ngày ăn.

"Làm thế nào mà các công ty có thể tồn tại nếu họ đã không nhận được tiền từ các công nhân", cô đã đặt câu hỏi mà không một chút mỉa mai nào.

Gần đây, xí nghiệp của các công nhân xây dựng đã khởi sắc hơn. Nhà nước đã khôi phục con đường tráng nhựa duy nhất của Chongjin, xây dựng một bệnh viện và trường đại học cho dịp kỷ niệm một trăm tuổi năm vào năm 2012 sự ra đời của Kim Il-sung, cha của Kim Jong-il và là người sáng lập Bắc Hàn.

Thế nhưng dự án lại gánh một chi phí: mỗi gia đình bị yêu cầu phải cung cấp hàng tháng 17 bao sỏi đến ủy ban Đảng ở địa phương của mình. Các công nhân xây dựng phải đăng ký cha mẹ già của mình để lùng sục các lòng sông và các cánh đồng đá tảng để mọi người trong nhà hè nhau đập vỡ ra thành các mảnh nhỏ bằng hai tay không.

Không có tiền lương nhà nước, anh kiếm tiền bằng trí khôn của mình. Mỗi tháng Mười, anh bán cá mực đánh bắt được từ một con thuyền lèo lái trong vùng biển nguy hiểm ven biển. Vào những tháng khác, anh đạp xe khoảng 20 dặm mỗi ngày săn lùng hàng hóa để bán, chủ yếu là một loại chất tẩy rửa thường mua được từ một nhà máy để vợ anh bán lại với lợi nhuận 12 phần trăm ở một lều bạt màu tím bên ngoài ngôi chợ chính.

Theo định kỳ, chính phủ vẫn cố gắng kiểm soát, kiềm chế thị trường, điều tiết giá cả, giờ giấc mua bán, các mặt hàng hoá bán ra, giới tính và độ tuổi của người bán buôn thậm chí cho dù họ chở hàng trên xe đạp hoặc cõng trên lưng.

Của dành dụm bị mất trắng

Trong một thông cáo Uỷ ban Trung ương năm 2007, Kim Jong-il phàn nàn rằng các thị trường đã trở thành "một nơi sinh sản ra tất cả các loại thực hành phi xã hội chủ nghĩa" Cuộc phá giá tiền tệ ngày 30 tháng 11 đã lật úp các thị trường. Nghị định quy định rằng một loại đồng won nhà nước mới, có giá trị hơn sẽ thay thế đồng tiền cũ, nhưng lại quy định rằng các gia đình chỉ có thể đổi 100.000 đồng won, giá trị khoảng 30 đô theo tỷ giá chợ đen cho đồng tiền mới. Biện pháp này đã tiêu diệt hoàn toàn các dự trữ tiền bạc của tư nhân.

Để xoa dịu cú đánh này, các công nhân nói, họ được hứa hẹn rằng tiền lương của họ sẽ được phục hồi nếu họ quay lại làm việc cho chính phủ. Trong thực tế, các công nhân xây dựng và những người khác cho biết, họ đã được trả chỉ một tháng lương hồi tháng Giêng, trước khi tiền lương biến mất một lần nữa.

Một số người có đưọc các mối quen biết chính trị đã tránh né được những sự tồi tệ nhất. Một phụ nữ từ Hamhung, thành phố lớn thứ hai của Bắc Triều Tiên, cho biết rằng vị giám đốc ngân hàng địa phương đã cho phép thân nhân của bà đổi được 3 triệu đồng won, gấp 30 lần giới hạn chính thức.

Người vợ của viên chức Đảng này, với mái tóc hơi uốn xoăn và một túi xách hàng hiệu dỏm cạnh người, tự hào về ngôi nhà sáu phòng với hai truyền hình màu và một khu vườn. Trong lời thì thào kế tiếp, cô ca ngợi việc phá giá đồng bạc như một sự trừng phạt xứng đáng đến những người đã lừa dối nhà nước, mặc dù cô cũng thừa nhận rằng sự việc ấy có dẫn đến hỗn loạn và ghi nhận rằng một quan chức tài chính hàng đầu đã bị xử tử vì áp dụng sai chính sách.

"Rất nhiều người xấu đã trỏ nên giàu có nhờ kinh doanh phi pháp với Trung Quốc, trong khi những người tốt ở các công ty nhà nước lại không có đủ tiền", cô nói. "Vì vậy, họ phải cho lại những người không có".

Người cựu giáo viên đã đi cho tất cả những gì mình đã có. Cô nói, sau khi các chủ nợ tước đi tất cả tiền của mình, cô đã băng ngang sông Tumen đông giá vào ban đêm để đến Trung Quốc tìm sự giúp đỡ từ họ hàng của cô ở đó. Đói khát và sợ hãi, cô cho biết mình đã cứ gõ đại các cánh cửa người lạ cho đến khi một người không quen biết đã giúp cô liên lạc với người thân.

Bây giờ, được an toàn trong nhà người thân của mình, cô nói, cô ngạc nhiên về việc làm sao mà họ có thể thưởng thức được những món ngon như món dưa chuột vào giữa mùa đông. Tuy nhiên, tạm thời phải bỏ lại người con trai và con gái của mình, cả hai đang ở giữa tuổi 20, đã để lại cảm giác tội lỗi căn rứt khiến đôi khi cô không thể nuốt trôi được thức ăn. "Tôi không biết liệu các con tôi có kiếm được tiền hay chúng sẽ phải chết đói", cô nói mà đôi mắt rưng rưng lệ.

Đối với anh công nhân xây dựng, tin tức về sự phá giá sắp tới của người chị mang lại đã làm tung ra một cuộc tranh dành giận dữ để cứu lấy tổ trứng của gia đình. Anh đã đổ tất cả các ngăn kéo tủ phòng khách vốn cất giữ tiền tiết kiệm của họ, chia cả cho vợ và con gái và bảo họ, "Hãy đi mua ngay bất cứ điều gì có thể mua được, càng nhanh càng tốt".

Ba chiếc xe đạp phóng vội ra chợ Chongjin. "Y như một bãi chiến trường" anh nói.

Hàng ngàn người điên cuồng thách giá lẫn nhau để đổi cho được những đồng tiền sắp trở thành giấy lộn lấy một cái gì đó hữu hình. Trước khi những cuộc trao đổi đóng cửa, một số giá cả tăng lên đến 10.000 phần trăm, anh nói, cũng sớm nhận rằng lợi nhuận của họ cũng trở nên vô giá trị.

Cả ba nói rằng họ trở về nhà với 66 cân gạo, một cái thủ lợn và 220 cân đậu. Các cô con gái của người công nhân xây dựng đã dành mua được một cái thớt nhỏ và một cặp quần kaki cũ. Cả nhà, anh nói, đã dành mua được những món hàng trị giá 860 đồng vốn chỉ tương đương với dưới 20 đồng trong ngày hôm trước.

Con gái anh đã cố gắng an ủi "Cha ơi, con sẽ giữ cho đôi quần cũ này cho đến con chết !", cô đã hứa. Anh bảo con gái rằng cái thớt sẽ là quà cưới tương lai của nó.

"Lúc ấy, tôi thực muốn tự sát" anh nói. Anh nhìn ra phía cửa sổ xa về phía màn đêm của thành phố Yanji, sáng rực rỡ và ồn ào xe cộ. "Ở đấy không như ở đây" anh nói. "Ở đây, kiếm tiền không phải là một việc gì lớn lao. Còn ở đó là đau khổ và đau khổ, hy sinh và hy sinh ".

Anh nói rằng sau đó anh đã nằm thao thức đêm này qua đêm khác, nhìn dán mắt vào bộ đồ màu xanh hải quân mà con gái mình đã từng thèm muốn. Con gái anh bảo rằng bộ đồ này đẹp hơn hẳn cái áo len mùa đông và những chiếc quần dài xoàng xĩnh. Anh đã lờ ý muốn của con mình đi bởi vì những bộ rẻ nhất cũng đã gần 15 đồng. Khi đứa con gái cứ nhắc hoài, anh đã nguyền rủa nó và giận dữ la tướng lên rằng “Mọi người trong nhà này cần cái đổ vào miệng trước đã !”.

"Tôi không thể diễn tả được là mình đã cảm thấy ray rứt đến thế nào khi đã không mua bộ quần áo cho con gái mình" anh run rẩy nói.

Một sự cô lập khắc nghiệt

Những người Bắc Hàn chưa bao giờ vượt qua biên giới không có cách nào hiểu được tinh thần khổ nạn của họ. Không có Internet. Truyền hình và radio luôn gắn dính vào các kênh của chính phủ. Ngay ả phu nhân của viên chức đảng cũng thiếu cái điện thoại và luôn than thở về sự mất liên lạc với thế giới bên ngoài. câu đầu tiên cô thưòng hỏi một người nước ngoài là "Tôi có xinh đẹp không ?".

Tuy nhiên, dần dà, các tin tức cũng rò rỉ vào được. Những thương nhân trở về từ Trung Quốc thuật lại rằng thiên hạ giàu có hơn và tương đối tự do hơn, và rằng người Nam Hàn còn giàu và tự do hơn cả thế. Một số thương nhân có điện thoại di động liên kết đến các mạng di động của Trung Quốc và có thể lén vay mượn được với chi phí cắt cổ.

Hình phạt cho chuyện xem phim và chương trình truyền hình nước ngoài rất nghiêm khắc. Người thương nhân cho biết, năm ngoái một người hàng xóm 35 tuổi, đã bị nhốt sáu tháng trong một trại lao động vì đã lén lút xem phim "Twin Dragons", một phim hành động Hong Kong do Thành Long đóng. Thế mà, trước sự kinh hoảng của người cựu giáo viên, cậu con trai 26 tuổi của bà vẫn cứ mạo hiểm xem phim như thường.

Chị gái của cô kết hôn với một quan chức chính phủ tại thủ đô Bình Nhưỡng, cô nói, nhưng cả hai đều không phải là người hâm mộ Kim Jong-il. Trong chuyến thăm gần đây nhất của cô, cô nói, em gái của cô thì thầm với cô, "nhân dân đi theo ông ta vì sợ hãi chứ không phải vì tình yêu ".

Kể từ sau vụ phá giá tiền tệ, cô và những người khác nói, mọi người đang chú ý mạnh bạo hơn với ý kiến đó.

"Bây giờ, nếu bạn ra chợ, mọi người đều nói toạc ra cả " người công nhân xây dựng cho biết. "Họ sẽ nói rằng chính phủ là một thằng ăn cắp - ngay cả giữa ban ngày."

Vợ ông đã không được ở trong số bày tỏ thẳng thừng đó. Anh nói, sau tuần lễ bị mất giá cô ấy nằm bất động, trầm cảm trên tấm thảm nơi phòng khách. "Tôi chẳng còn hơi sức để nói bất cứ điều gì với cô ta nữa " anh nói.

Cuối cùng, anh nói với nàng hãy ngồi dậy. Đó là lúc để bắt đầu lại tất cả.

Hết.
theo: http://www.nytimes.com/2010/06/10/wo...oreans.html?hp

Những lời ta thán từ chế độ

Nói chuyện xứ người mà nghĩ đến xứ mình, các bác nhắc đến "đói" làm cho em nhớ lại cái vị the đắng của khoai lang sùng, cái vị chát xít của cám gạo(loại cám được xay từ lúa để nguyên vỏ trấu) khi nuốt nửa chừng nó tắc ngay cổ họng. Đói quá hái cả đọt bông bụt(hoa dâm bụt) nấu canh ăn, luộc đọt khoai mì(miền Bắc gọi là sắn mì, sắn Đồng Nai) chấm muối, có bữa vò xả nước đọt khoai mì không kỹ ăn bị ngộ độc tưởng chết. Thật khốn nại! Không bằng con heo, con chó thời bây giờ. Thời đó mà có được thức ăn gia súc cho heo, gà bây giời mà ăn đã phước. Những anh em nào sanh cuối thời '80 đến '90 ít có người nào hiểu được thế nào là đói. Bây giờ người ta chỉ đổ lỗi cho ba chữ "thời bao cấp" là xí xóa hết hay sao?

VN hiện nay, ngược lại, đã qua giai đoạn giống như Bắc Hàn rồi. Nếu năm 1975, CSVN không chiếm được miền Nam, thì ngày nay miền Bắc XHCN sẽ giống Bắc Hàn, tự cô lập với các lãnh tụ vĩ đại, những chủ thuyết sáng ngời và niềm tự hào to lớn, bóp nghẹt dân chúng sau bức màn sắt.

VN hiện nay đang dùng chính sách ru ngủ dân chúng thì đúng hơn. Mọi biện pháp đều hướng về các mục tiêu :

1/ Dùng giáo dục để tiếp tục hạn chế sự độc lập và sáng tạo trong suy nghĩ.

2/ Dùng chính sách cây gậy và củ cà rốt : ai một lòng gia nhập tầng lớp có quyền, có tiền thì sẽ có tất cả. Ai chống lại thì mất tất cả. Để mặc (và khuyến khích) tình hình "cá lớn nuốt cá bé" trong xã hội.

3/ Ru ngủ dân chúng bằng cách cố tình buông lỏng cho những quyền "tự do" quá trớn, tuyên truyền phương châm "làm giàu bằng mọi giá", tạo cho dân chúng có một ảo giác là cuộc sống "tự do và ngày một đi lên". Ví dụ tình hình ăn nhậu, chơi bời thoải mái,xài hàng xịn, giết thịt thú rừng, kinh doanh thuốc lá, tổ chức thật nhiều lễ hội hoành tráng, thi hoa hậu và thời trang vv...

4/ Tuyên truyền nói dối về thực chất tình hình kinh tế-xã hội, thổi phồng "sự phát triển", che giấu và tái chế số liệu, che giấu các báo cáo về an sinh xã hội, để làm cho người dân "tự hào, lạc quan" thái quá về tình hình đất nước, quên đi sự ăn mòn đang gặm nhấm con người và đất nước.

Tóm lại, người dân Bắc Hàn là một khối tuy đói khát nhưng không não, cuồng tín, đằng đằng sát khí và hận thù.

Người dân VN thường chỉ mất một phần não thôi, có xu hướng ích kỷ, bàng quan, thích trụy lạc. Làm một tháng 10,15 triệu là tự xem như cái rốn vũ trụ rồi, ai chết mặc ai. Như vậy là đúng ý đảng, để đảng rảnh tay vơ vét.

Dĩ nhiên là VN không đi theo kịch bản cổ đại của Bắc Hàn nhưng tôi e rằng VN sẽ đi theo một kịch bản hiện đại hơn của Bắc Hàn. Nghĩa là một chế độ bản chất vẫn là gian dối, dùng quyền và lợi cùng sự nguy biện siêu đẳng để đào tạo nên những thế hệ trí thức XHCN, thế hệ này (thực chất) cũng vhỉ vì quyền và lợi mà sẽ ra sức bảo vệ một chế độ gian dối. Gian dối cứ tiếp tục đẻ ra giối dan ở mức độ tinh vi hơn cho đến khi dân tộc trở thành què quặt quái gở trước cộng đồng nhân loại chung quanh.

Hiện nay, trước tiến bộ vũ bão của cuộc cách mạng thông tin, trong khi các thể chế độc tài chưa tìm được phương cách ngăn chặn, họ đã và đang loay hoay tìm cách chống đỡ những hệ quả tất yếu của sự mở cửa tri thức và sự thật.

Thế mà, ngay trong tâm tưởng những người tự nhận là trí thức - tạm gọi là những người có năng lực dẫn đạo - vẫn có một bộ phận không nhỏ chủ trương rằng dân chủ, đa nguyên, đa đảng chưa thích hợp vói xã hội VN. Nói thẳng ra, họ cho rằng dân ta đa phần còn ngu dốt lắm,cần phải bịt mắt, trói cổ lôi đi. Để tự do ắt sẽ … loạn !!!

Những bài học đau thương của các dân tộc bị đè nén trong các thể loại độc tài chuyên chế, từ độc tài CS đến độc tài Tôn giáo vẫn sờ sờ ra đấy, nhưng ít ai chịu học.

Ít hàng suy nghĩ chia xẻ với nhau.

Đúng là như vậy, chế độ độc tài đang tìm cách đối phó, kéo dài thời gian.

Biết là chủ nghĩa CS không "ăn" nữa, họ nghĩ ra "tư tưởng HCM", kết hợp với "kinh tế thị trường định hướng XHCN", mặc dù họ không biết định hướng XHCN là cái gì. Không những không biết, họ còn làm ngược lại : độc quyền tư bản, độc quyền kinh tế, tập đoàn kinh tế gia đình, cắt giảm an sinh xã hội đến mức tối thiểu.

Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể "đi trong ruột" những "trí thức" rêu rao dân trí không đủ, cần phải tiếp tục độc đảng : họ chính là thành phần đang ăn trên ngồi trốc, là COCC, là những người đang kiếm mỗi năm nhiều tỷ đồng ở những vị trí béo bở, đang được ông TT Dũng dung túng cho tham nhũng, cường quyền. CSVN nói vòng nói vo cũng quay về một mối là quyền và tiền.
Sự thật là đối với người có quyền và tiền, VN là thiên đường, không cần đi đâu xa; vì vậy họ không dễ từ bỏ thiên đường ấy.

Thế hệ COCC sau này cũng thật là ghê gớm : họ được du học, được học hành hơn cha ông họ, nhưng vì thế mà họ có thủ đoạn tinh vi hơn. Hầu hết trong số họ đi học về để bảo vệ cái ghế của cha ông họ, chứ chẳng có lý tưởng, chẳng có tiến bộ gì; họ thật sự mị dân, phản động. Ta nắm được tim đen của họ : họ nói vòng vo là dân trí chưa cao này nọ blah blah, thực chất là để nói : cứ nằm im chừng vài mươi năm nữa, để gia đình họ hàng chúng tao ăn xong chùi mép, kết toán tiền nong, phi tang, xuất cảnh qua Hoa Kỳ vui cảnh yên bình, lúc nó tụi mày ở lại lãnh nợ và ở đợ cho Tàu.

Tôi đã có lần viết : VN đã bỏ lỡ nhiều cơ hội để phát triển cùng năm châu , đó là vào năm 1954. Một chính phủ mạnh, dân chủ, biết quan tâm đến dân, có sự giúp sức của một tầng lớp ưu tú (elite class), sẽ làm đầu tàu đưa nước VN đi xa từ cách đây nửa thế kỷ, bất chấp dân trí lúc ấy chưa cao. Lúc ấy thì dân trí Nam Hàn, Singapore, Mã lai có cao không?

Đúng là như vậy, chế độ độc tài đang tìm cách đối phó, kéo dài thời gian.

Biết là chủ nghĩa CS không "ăn" nữa, họ nghĩ ra "tư tưởng HCM", kết hợp với "kinh tế thị trường định hướng XHCN", mặc dù họ không biết định hướng XHCN là cái gì. Không những không biết, họ còn làm ngược lại : độc quyền tư bản, độc quyền kinh tế, tập đoàn kinh tế gia đình, cắt giảm an sinh xã hội đến mức tối thiểu.

Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể "đi trong ruột" những "trí thức" rêu rao dân trí không đủ, cần phải tiếp tục độc đảng : họ chính là thành phần đang ăn trên ngồi trốc, là COCC, là những người đang kiếm mỗi năm nhiều tỷ đồng ở những vị trí béo bở, đang được ông TT Dũng dung túng cho tham nhũng, cường quyền. CSVN nói vòng nói vo cũng quay về một mối là quyền và tiền.
Sự thật là đối với người có quyền và tiền, VN là thiên đường, không cần đi đâu xa; vì vậy họ không dễ từ bỏ thiên đường ấy.

Thế hệ COCC sau này cũng thật là ghê gớm : họ được du học, được học hành hơn cha ông họ, nhưng vì thế mà họ có thủ đoạn tinh vi hơn. Hầu hết trong số họ đi học về để bảo vệ cái ghế của cha ông họ, chứ chẳng có lý tưởng, chẳng có tiến bộ gì; họ thật sự mị dân, phản động. Ta nắm được tim đen của họ : họ nói vòng vo là dân trí chưa cao này nọ blah blah, thực chất là để nói : cứ nằm im chừng vài mươi năm nữa, để gia đình họ hàng chúng tao ăn xong chùi mép, kết toán tiền nong, phi tang, xuất cảnh qua Hoa Kỳ vui cảnh yên bình, lúc nó tụi mày ở lại lãnh nợ và ở đợ cho Tàu.

Tôi đã có lần viết : VN đã bỏ lỡ nhiều cơ hội để phát triển cùng năm châu , đó là vào năm 1954. Một chính phủ mạnh, dân chủ, biết quan tâm đến dân, có sự giúp sức của một tầng lớp ưu tú (elite class), sẽ làm đầu tàu đưa nước VN đi xa từ cách đây nửa thế kỷ, bất chấp dân trí lúc ấy chưa cao. Lúc ấy thì dân trí Nam Hàn, Singapore, Mã lai có cao không?

Định ăn cơm chiều xong ngồi nhâm nhi cà phê với bác, chợt thấy bài hay quá lại ngồi hí hoáy dịch.

Giờ xong rồi ta trở lại câu chuyện nhé.

Đúng đấy bác ơi. Sau những năm dài của chính sách khủng bố, bỏ đói, bịt mắt bưng bít dân để trị, gần đây, CS chủ trương “mở cửa, cởi trói” (nghĩa là gián tiếp thú nhận từng đóng cửa, trói dân) để bắt đầu chuyển sang chính sách mị dân thâm độc không kém.

Sau những năm dài tẩy não và xử dụng chiêu bài giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước để sản xuất ra các thiếu nhi, đoàn viên, đảng viên CS, ngày nay giới CS (trá hình) cầm quyền trong nước chuyển sang đào tạo một lớp elite mới của Đảng, một thế hệ ngoan ngoãn được Đảng nuôi cho ăn học, giao cho quyền hành để tiếp tục sự nghiệp dối trá của Đảng ở cấp độ cao, thời đại hơn.

Những người dân bình thường, chân chính vẫn khổ cực trong kiếp sống phải bịt tai che mắt cho qua ngày tháng. Thành phần tư bản đỏ thiểu số vẫn ăn trên ngồi chốc. Cha ở trong nước phá rừng, buôn lậu gỗ quý, bán đất cha ông làm giàu, con sang nước tư bản học them ba ngón nghề để về nối nghiệp cha cho thêm vững. Để mị dân, thỉnh thoảng cũng phát biểu, viết lách lên tiếng ở vài tiểu tiết này nọ như thể con người chân chính nhưng bản chất lưu manh khi bị động đến quyền lợi sát sườn của chúng sẽ lộ ngay ra hình dạng thằng ăn cắp.

Đất nước quá nghèo những người có lòng chân, lại gặp một chế độ chủ trương đào tạo những kẻ nói dối thì thử hỏi dân tộc này sẽ còn khổ đến bao lâi nữa ???

Cái vòng luẩn quẩn chính là: cố tình không đầu tư giáo dục sự thật cho tương lai, lại đổ lỗi là dân ngu không thể mở cửa cho dân chủ. Và càng bóp nghẹt dân chủ, càng giáo dục kiểu dối trá ngu dân thì dân lại càng ngu để mà có thể dân chủ được. Cứ thế và cứ thế bác ạ…

Biết rồi, khổ lắm nói mãi !!!