20/2/11

Phản đối cướp đất, kỹ sư Phạm Thành Sơn tự thiêu trước UBND TP Đà Nẵng

Phản đối cướp đất, kỹ sư Phạm Thành Sơn tự thiêu trước UBND Đà Nẵng

danlambao – Như đã đưa tin, ngày 17/02/2011, người kỹ sư trẻ Phạm Thành Sơn đã tự thiêu ngay trước trụ sở UBND TP Đà Nẵng để phản đối chính quyền lấy đất & đền bù không thỏa đáng. Vụ việc đã tạo nên làn sóng bàn tán xôn xao trong dư luận nhân dân Đà Nẵng, mặc dù chính quyền & công an địa phương đã tìm mọi cách bưng bít thông tin, cô lập toàn bộ việc tiếp xúc với gia đình nạn nhân.
Nguyên nhân dẫn đến việc thương tâm này xuất phát từ tình trạng tham nhũng trong kế hoạch giải phóng mặt bằng phục vụ dự án Cầu Rồng. Được biết, gia đình nạn nhân Phạm Thành Sơn đã nhiều lần khiếu nại với lý do đền bù không thỏa đáng, sau nhiều lần làm việc, chính quyền vẫn thẳng tay ra lệnh cưỡng chế.
Trưa ngày 17/02/2011, kỹ sư Phạm Thành Sơn đến UBND TP Đà Nẵng khiếu nại lần cuối cùng, nhưng đáp lại vẫn là những cái lắc đầu vô cảm của của chính quyền. Quá uất ức, lo sợ gia đình rơi vào thế cùng đường, anh Sơn đã dừng xe ngay trước trụ sở UBND Đà Nẵng để tự thiêu.

Toàn cảnh vụ tự thiêu thương tâm của kỹ sư Phạm Thành Sơn trước UBNDTP Đà Nẵng – Ảnh Facebook Tiêu Diêu
Ngọn lửa bùng lên đã thiêu rụi chiếc xe cùng nạn nhân, lực lượng công an được điều động tỏ ra vô cảm, không nỗ lực dập tắt đám cháy là một phần nguyên nhân dẫn đến cái chết của người kỹ sư trẻ Phạm Thành Sơn.
Ngay sau vụ tự thiêu diễn ra, chính quyền Đà Nẵng đã định hướng dư luận bằng cách lệnh cho báo chí đưa tin đây chỉ là một “tai nạn nổ bình xăng hy hữu”. Trơ trẽn hơn, chính quyền địa phương đã thông báo cho người dân rằng kỹ sư Sơn là một người mắc bệnh tâm thần. Việc tiếp xúc với thân nhân nạn nhân đều bị giám sát hoàn toàn, khắp tuyến đường Ngô Quyền dẫn đến ngôi nhà số 737 của nạn nhân đều bị công an chìm nổi túc trực.

Ảnh facebook Tiêu Diêu
Bạn đọc danlambao có nick “Một Người dân ở đường Ngô Quyền”
cho biết :
Tôi vừa đi ngang qua nhà anh Sơn: 737 Ngô Quyền. 16h30 ngày 19.2.2011
Cáo phó ghi: Tên Phạm Thành Sơn
Các giao lộ gần nhà anh Sơn có rất nhiều Công an áo xanh, áo vàng, và thường phục – với các loại xe mô tô Công An.
Ngay sát lễ tang cũng có rất nhiều người mặc thường phục ngồi trên xe máy, và lảng vảng tới lui, không biết họ là người “lạ” hay “quen”.
Gia đình và khách đến viếng đang được Công An “chăm sóc đặc biệt”.
Lễ tang một “tai nạn” thật đặc biệt !!!
Một chính quyền tráo trở !
Một bạn đọc khác cũng xác nhận : Dường như tất cả “xe ôm” ở Đà Nẵng đều tập trung về đường Ngô Quyền, vừa dừng xe đã bị hỏi giấy tờ…
Nguồn tin dấu tên hiện đang công tác trong chính quyền TP Đà Nẵng cũng xác nhận về trường hợp tự thiêu của kỹ sư Phạm Thành Sơn, người hiện đang công tác tại công ty cao su Đà Nẵng.
Thương tâm từ dự án tham nhũng
Từ khi Đà Nẵng bắt đầu các kế hoạch “Chỉnh trang đô thị” dưới sự lãnh đạo của Bí thư Thành Ủy Nguyễn Bá Thanh, bộ mặt TP tuy đã thay đổi đáng kể, nhưng kéo theo là một lượng lớn những người dân oan bị mất đất, mất nhà, ngày đêm oan khuất thấu trời.
Với cách điều hành độc đoán của Nguyễn Bá Thanh, chính quyền địa phương đã răm rắp làm theo một cách máy móc, bất kể hậu quả gây ra, miễn là đạt được chỉ tiêu. Bộ máy chính quyền Đà Nẵng thường xuyên tham gia vào các dự án có mùi tham nhũng.

Những dự án bốc mùi tham nhũng có sự tham gia của chính quyền Đà Nẵng
Nguyên tác của Nguyễn Bá Thanh : lãnh đạo địa phương nếu không hoàn tất được chỉ tiêu, tiến độ kế hoạch đề ra sẽ bị cách chức. Vì vậy, những nhân viên dưới quyền ông ta thường bất chấp mọi thủ đoạn để được giữ ghế.
Dự án Cầu Rồng vốn là một dự án tham nhũng ngay từ khâu giải phóng mặt bằng, nhưng để giữ ghế và đẩy nhanh tiến độ công trình, chính quyền Đà Nẵng đã thẳng tay đẩy người dân vào thế đường cùng dẫn đến thảm cảnh thương tâm như trên.
Hành động tự thiêu của người kỹ sư trẻ Phạm Thành Sơn là ngọn lửa báo động cho những chính quyền chỉ biết bám theo đồng tiền dơ bẩn mà tước đoạt quyền sống của nhân dân, như một so sánh sau đây của BBT Đàn Chim Việt :
“một vụ tương tự diễn ra tại Tunisia đã làm bùng nổ cuộc cách mạng dẫn tới sụp đổ của chế độ độc tài và xu hướng lan rộng sang các cước lân cận. Theo chân Tunisia, nhân dân Ai Cập đã đứng lên giật sập chế độ độc tài 30 năm đè nén đất nước này.”
* Bài viết hôm 18/02 trên danlambao có nêu tên nạn nhân không chính xác, tên đúng của nạn nhân là Phạm Thành Sơn. Xin chân thành cảm ơn bạn đọc tại đường Ngô Quyền – Đà Nẵng đã giúp xác minh.
Vì những khó khăn trong việc tiếp cận với thân nhân nạn nhân, danlambao xin chân thành cáo lỗi cùng bạn đọc vì sai sót này

Thảm hại lễ hội và giấc mộng Tâm hương

Quảng Hạnh - Hôm nay đọc báo, thấy biển người hừng hực men say tín ngưỡng, giẫm đạp lên nhau để lấy ấn đền Trần, chợt thấy xót xa.
Văn hóa hay cuồng tín?
Để sở hữu những lá ấn chưa biết có mang lại quan lộc, người ta kéo giập barie sắt, giẫm đổ hàng rào dây thép, húc sập vách ngăn bảo vệ. Hăng lên, có người trèo lên ngọn cây, mái nhà rồi phi xuống vai, xuống đầu biển người phía dưới.
Kiệu rước ấn Thánh cũng không được đối xử nền nã hơn. Khi đoàn rước còn đang long trọng tiến hành nghi lễ, kiệu đã loạng choạng bởi sóng người ào tới, xé rách cả hàng rào bảo vệ dày đặc. Ai cũng gắng ném tiền lẻ cho trúng vào trong kiệu; thế mới đắc lộc quanh năm!
Lộc có thể đâm chồi ngay trong đêm khai ấn nếu biết cách phi thân trong không trung, hoặc… bước trên vai người khác. Mua ấn 20 ngàn đồng/lá, ra ngoài bán lại 200 ngàn, cả đêm chỉ vài chuyến cũng đút túi bạc triệu.
Bạc triệu thấm vào đâu so với túi tiền của kẻ hành hương đang sục sôi tham vọng thăng tiến và lợi lộc! Hãy ngắm lò lửa hóa vàng ngùn ngụt ở đền Bà Chúa Kho, những mâm lễ bạc triệu ngồn ngộn vàng, bạc, đô la âm phủ người ta nườm nượp dâng bà. Hãy nghe những lời cầu khẩn quyết liệt của các “tín đồ đô la”, “con chiên của tước vị” nơi cửa thánh, để thấy nỗi khát khao tiền tài, danh vọng cháy bỏng của họ.
Hỡi ôi, đâu rồi sự chính tâm?
Đền Trần mở hội đầu năm để các thế hệ người Việt tưởng nhớ các anh hùng dân tộc, tôn vinh hào khí Đông A và tinh thần yêu nước, sao lại thành dịp để người ta chi bạc lẻ mua ấn triện, cầu tước danh?
Đền Trần Thương, đền Bà Chúa Kho – nơi giáo dục tinh thần tận tụy và liêm chính, trách nhiệm với kho dự trữ của nhà nước, sao lại thành chốn mặc cả vay mượn, mua bán cầu lợi lộc của phàm trần?
Năm 2009, người ta dâng các Vua Hùng bánh chưng bánh dầy “to khủng”, với mong ước đẹp lòng tổ tiên, nhân thể giật cái kỷ lục guiness. Tiếc là nhân bánh độn xốp, vỏ bánh thiu vữa, mốc xanh.
Nói chuyện bánh to, rượu khủng, tung tiền mua ấn, sắm lễ bạc triệu trong các lễ hội đầu năm, lại nhớ những vật phẩm thanh khiết mà người Việt từng dâng cúng Phật, Thánh, tổ tiên và các vị anh hùng dân tộc, với đầy đặn một lòng thành kính, biết ơn.
Hội Làng Giang Xá (xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Hà Nội) ngày 12 tháng Giêng (âm lịch) hàng năm, dân làng thường tiến cúng bánh bác dâng vua Lý Nam Đế – vị khai sinh ra nước Vạn Xuân, người Việt đầu tiên xưng đế.
Bánh bác chỉ xuất hiện duy nhất dịp ấy trong năm. Làng Giang Xá dựng rạp ngay trong sân đình để làm bánh suốt 3 ngày đêm; không ai được lai vãng, trừ đội nấu cỗ – khoảng chục nam giới trên 50 tuổi tuyển chọn từ các phe giáp trong làng, phải là những người sạch nhất, khéo nhất, bàn tay chịu được lửa lâu nhất.
Sau hàng chục công đoạn chế biến cầu kỳ tỉ mỉ, bánh bác được cung kính xếp vào các đĩa cổ lĩnh từ đình làng. Trước khi đặt lên ban thờ, bánh được đội tế kiểm tra độ sạch sẽ, thơm, dẻo, dai, bùi, ngọt mát, đo độ đều của bánh bằng thước sơn son thếp vàng. Xem xét cả lòng thành kính của người làm bánh, dâng bánh rồi mới quyết định vật phẩm có được phép tiến vua hay không. Để ngày chính hội, lễ vật này trang trọng trên bệ thờ như những mắt rồng uy nghi với màu đỏ chói của gấc, trắng tinh khiết của gạo nếp và vàng rực của đỗ xanh.
Trưởng ban Lễ hội di tích Giang Xá, ông Đỗ Thúy Dậu (78 tuổi) nói, từ bé ông và người làng Giang Xá đã được chỉ dạy rằng người cúng tiến bánh bác phải dâng trọn tâm thành. Nay, 600 hộ dân Giang Xá vẫn dâng vua bánh bác dịp hội làng 12 tháng Giêng hàng năm, để trước tỏ lòng biết ơn người có công với nước, sau gửi đến ngài ước vọng mưa thuận gió hòa, nhà nhà no đủ.
Đấy là ở làng Giang Xá. Khi mà xuân chưa cạn ngày, ở những chốn được rỉ tai là “đại linh” người ta vẫn nườm nượp châm những bó hương cỡ đại, đút lót thánh thần những mâm đại lễ và lớn giọng mặc cả lấy tước lộc giàu sang.
Chẳng cần biết người nhà Phật dạy: “Tâm hương mới là nén hương quý nhất!”.
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-02-19-tham-hai-le-hoi-va-giac-mong-tam-…
http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2011/02/xe-hop-xep-hang-du-khai-an-den-tran/

Một trong những tội ác của cộng sản Việt Nam đã làm trong Tết Mậu Thân 1968

Mồ chôn tập thể Mậu Thân Huế 1968
Anh còn nhớ hay đã quên?
- Cuộc tàn sát - Mậu Thân-Huế 1968.mp3
- Cuộc tàn sát - Mậu Thân-Huế 1968p2.mp3

    Cái Chết Của Nghị Sĩ Trần Điền Tết Mậu Thân (1968) Tại Huế
Nguyễn Lý Tưởng

Năm 1998, nhân kỷ niệm 30 năm vụ "Thảm Sát Mậu Thân ở Huế" (1968-1998), Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại có xuất bản một tuyển tập tài liệu nói về biến cố nầy, trong đó cá nhân chúng tôi cũng như một số bạn bè, với tư cách nhân chứng, đã thuật lại phần nào những điều mắt thấy tai nghe về Tết Mậu Thân ở Huế.

Rất tiếc, vì có nhiều vấn đề cần phải được trình bày ưu tiên nên chúng tôi chưa có dịp đề cập đến cái chết của Nghị Sĩ Trần Điền. Chúng tôi cũng có đọc một vài bài báo có đề cập đến trường hợp nầy, nhưng so với những điều chúng tôi thu nhặt được, có chỗ khác nhau. Vì thế, sau một thời gian tìm hiểu qua các nhân chứng trực tiếp, trong đó có Anh Trần Tiễn San là trưởng nam của nạn nhân, kể lại. Thể theo yêu cầu của một số bạn bè, nhân dịp Tết Nhâm Ngọ (2002), 34 năm sau biến cố Mậu Thân 1968, chúng tôi xin được phép nhắc lại chuyện xưa để tưởng nhớ một bậc đàn anh, một bậc thầy mà chúng tôi hằng quý mến.

1. VÀI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI CỦA NGHỊ SĨ TRẦN ĐIỀN:

Theo gia phả họ Trần, ông Trần Điền sinh ngày 19 tháng 3 năm Tân Hợi, giờ Dần tức 17 tháng 4 năm 1911, nhưng giấy khai sinh lại ghi ngày 01-01-1912. Ông bị Việt Cộng thảm sát trong Tết Mậu Thân 1968, lúc đó vào khoảng 67 tuổi.

Tổ tiên vốn là người tỉnh Phước Kiến, nhân việc người Mãn Thanh đánh chiếm Trung Quốc (đời nhà Minh), nên đã bỏ nước ra đi, đến lập nghiệp tại Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Đời tổ thứ sáu có Ông Trần Bá Lượng, thi đỗ cử nhân khoa Canh Thìn (1820) đầu đời Minh Mạng, được bổ nhiệm Tri Phủ Tân Bình (Gia Định). Tổ đời thứ bảy (con trưởng của Ông Trần Bá Lượng) tên húy là Dưỡng Độn, tự Thời Mẫn, hiệu Tồn Trai, thi đỗ tiến sĩ năm Mậu Tuất (1838) dưới thời Minh Mạng, sau vì kỵ húy vua Tự Đức (tên là Thời) nên được vua Tự Đức cho đổi tên là Trần Tiễn Thành, làm đến Thượng Thư Bộ Công, Bộ Hộ, Bộ Binh, Cơ Mật Viện Đại Thần, Phụ Chính Đại Thần, tước Cần Chánh Điện Đại Học Sĩ, đứng đầu triều. Sau khi vua Tự Đức mất, hai vị đồng Phụ Chính là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết phế vua Dục Đức (con nuôi vua Tự Đức), lập vua Hiệp Hòa (em vua Tự Đức) lên ngôi, rồi lại phế vua Hiệp Hòa lập vua Kiến Phước.

Lúc bấy giờ, Ông Trần Tiễn Thành đã ngoài 70 tuổi, từ chức về nhà nhưng hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết vẫn sai người mang bản thảo đề nghị truất phế vua Hiệp Hòa đến nhà ông, xin ông phải ký vào "đồng ý". Ông từ chối.

Trưa ngày 30 tháng 10 Quý Mùi (tức 29-11-1883), vua Hiệp Hòa bị hai ông Nguyễn Văn Tường và Tốn Thất Thuyết ép phải uống thuốc độc chết. Quá nửa đêm hôm đó, hai ông Tường và Thuyết đã sai bộ hạ đến nhà ám sát ông Trần Tiễn Thành (bắt đầu ngày 01 tháng 11 Quý Mùi, giờ Tý tức 30-11-1883). Sử sách đời sau gọi vụ nầy là "Tứ Nguyệt Tam Vương" (trong 4 tháng có đến ba người được lập lên làm vua) đó là Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phước.

Trong số các con của ông Trần Tiễn Thành có ông Trần Tiễn Huấn (cử nhân, làm Tri Huyện Hậu Lộc) và Trần Tiễn Hối (đậu giải nguyên tức đậu đầu cử nhân, làm Án Sát tỉnh Bình Định), ông Trần Dương, hiệu Quế Lâm làm nghề thuốc Bắc, không ra làm quan. Sau khi Ông Trần Tiễn Thành bị mưu sát, con cháu bỏ quê, trốn tránh đi xa, bỏ chữ lót "Tiễn", chỉ lấy họ Trần. Đời thứ 8 là ông Trần Dương (hiệu Quế Lâm) sinh ra Ông Trần Chánh (đời thứ 9) là thân phụ của ông Trần Điền (đời thứ 10).

Ông Trần Điền tự Nghênh Hòe, hiệu Hà Trì, con thứ tư của ông Trần Chánh.

Sau khi đậu Cao Đẳng Tiểu Học Pháp Việt tại Huế (1931), Ông Trần Điền ra học trường Bưởi ở Hà Nội. Chương trình Tú Tài phải học 3 năm, nhưng ông chỉ học trong 2 năm và thi đậu Tú Tài Triết học Pháp (1933). Ông trở về Huế làm giáo sư Trung học tư thục Thiên Hựu (instituit de la Providence). Sau đó, ông qua ngành Hành Chánh, làm công chức tại Thanh Hóa (1-7-1936) và hoạt động cho Hội Hướng Đạo. Năm 1941, ông được thuyên chuyển về Huế làm Kiểm Sự tại Bộ Tài Chánh rồi lên tới Ngự Tiền Văn Phòng và Văn Hóa Viện. Năm 1944, ông thi đỗ Tri Huyện đứng hàng thứ 4 trong 5 thí sinh được trúng tuyển mà đa số đã có bằng cử nhân Luật. Từ 01-02-1944 đến 9-1945, ông làm tri huyện Tiên Phước rồi Đại Lộc (Quảng Nam). Sau khi Việt Minh cướp chính quyền tại Hà Nội, ông về Huế làm Thẩm Phán tại quận Hương Trà cho đến 19-12-1946. Khi cụ Trần Văn Lý ra làm Hội Đồng Chấp Chánh Trung Phần (tương đương Thủ Hiến), ông được cử làm Chủ Sự Phòng Thông Tin Trung Phần (từ 15-4-1947 đến 15-4-1948). Sau đó ông xin nghỉ giả hạn không lương vì không chịu hợp tác với Thủ Hiến Phan Văn Giáo (từ 16-4-1948 đến 5-10-1949). Từ 06-10-1949 đến 06-08-1951, ông làm Giám Đốc Thông Tin Trung Phần (dưới thời cụ Trần Văn Lý làm Thủ Hiến). Sau đó, ông làm Phủ Trưởng Triệu Phong (1952) rồi Tỉnh Trưởng Quảng Trị (1954-1955). Ông có công tái lập an ninh trật tự, lập các đồn hương vệ, kiểm soát được các đường giao thông trong quận. Sau Hiệp Định đình chiến 20-7-1954, thường gọi là hiệp định Genève, ông lo đón tiếp đồng bào Quảng Trị từ phía Bắc vĩ tuyến 17 di cư vào Nam. Tết năm 1955, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đến thăm tỉnh Quảng Trị, đã ban tặng cho ông Bảo Quốc Huân Chương.

Mùa Xuân năm 1955, nhân vụ đảng Đại Việt lập chiến khu Ba Lòng, ly khai chống chế độ của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, ông bị mất chức Tỉnh Trưởng và bị bắt giam tại Huế 3 tháng, sau đó được tại ngoại hầu cứu. Trước ngày Lễ Quốc Khánh 26-10-1957 (Đệ I Cộng Hòa), Tòa án quân sự tại Huế họp phiên đại hình do Ông Nguyễn Tri Chỉ ngồi ghế Chánh Án, Thiếu Tá Nguyễn Văn Chuân (sau nầy là Thiếu Tướng, Nghị Sĩ...) ngồi ghế Công Tố, xử vụ Ba Lòng. Ông Trần Điền tự biện hộ, không cần đến luật sư . Ông bị kết án 6 năm tù nhưng theo lệnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông được miễn thụ hình (không bị ở tù).

Từ 1957-1964, ông dạy học tại Huế và làm Hiệu Trưởng trường Bình Minh (do LM Nguyễn Văn Lập để lại). Mùa Hè 1964, theo lệnh của Thiếu Tướng Tôn Thất Xứng, Tư Lệnh Quân Đoàn I kiêm Đại Biểu Chính Phủ tại Vùng I, trường Bình Minh bị nhà nước tịch thu vì đó là tài sản của ông Ngô Đình Cẩn. Sau đó, ông Trần Điền rời trường Bình Minh qua làm Giám Đốc Viện Hán Học Huế (từ 17-6-1964 đến 15-8- 1966) thay thế Ông Võ Như Nguyện từ chức.

Từ 1964, ông và một số nhân sĩ Công Giáo tại Huế được mời vào Ủy Ban Đặc Biệt đại diện cho Giáo Dân bên cạnh Hội Đồng Linh Mục để cố vấn cho Đức Tổng Giám Mục Philipphê Nguyễn Kim Điền về các vấn đề văn hóa, xã hội, chính trị...

Tháng 9-1966, ông ứng cử vào Quốc Hội Lập Hiến tại đơn vị Thừa Thiên. Liên danh Nguyễn Văn Ngải-Trần Điền đắc cử, dẫn đầu phiếu. Ông có ra ứng cử Chủ Tịch Quốc Hội Lập Hiến nhưng thua ông Phan Khắc Sửu 3 phiếu ở vòng đầu.

Tháng 9-1967, ông đắc cử Nghị sĩ trong liên danh "Nông Công Binh" do Trung Tướng Trần Văn Đôn làm thụ ủy và được bầu làm Chủ Tịch Ủy Ban Canh Nông Thượng Nghị Viện.

Ông đã bị Cộng Sản sát hại trong Tết Mậu Thân tại Huế tháng 2-1968.

2. HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI:

Ngoài các hoạt động trong lãnh vực hành chánh, chính trị, giáo dục như đã nói trên, ông còn là một nhà hoạt động thanh niên và xã hội nổi tiếng từ 1934 cùng thời với Tạ Quang Bửu, Hoàng Đạo Thúy, v.v...trong Phong Trào Hướng Đạo Việt Nam. Ông là một trong những người đầu tiên lập tráng đoàn Hướng Đạo tại Huế và tổ chức trại huấn luyện trung ương ở Bạch Mã (thừa Thiên). Năm 1934, ông chủ trương tạp chí "Bạn Đường" tại Thanh Hóa, ngoài mục đích huấn luyện Hướng đạo sinh, còn thêm phần nghị luận về văn chương và xã hội. Ông cũng đã thành lập một Ban Văn Nghệ của Hướng Đạo để đi trình diễn nhiều nơi, rất thành công. Ông là một trong những trưởng Hướng Đạo đầu tiên được lãnh "Bằng Rừng" và đã tham dự trại họp bạn quốc tế của tổ chức Hướng Đạo tại Úc (1952), được bầu chức Tổng ủy viên Hướng Đạo toàn quốc năm 1966. Ông được anh em Hướng Đạo quý mến như là bậc đàn anh đạo đức, gương mẫu và có tài hùng biện, xứng đáng với truyền thống của tổ chức nầy.

3. ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH:

Năm 1936, ông lập gia đình với bà Hà Thị Việt Nga, một nữ Hướng Đạo tại Huế (con Ông Hà Thúc Huyên - Thượng Thư Bộ Lễ - và bà Tôn Nữ Thị Hiệp). Qua tổ chức Hướng Đạo, ông bà Trần Điền đã gặp được Thiên Chúa và đã trở lại đạo Công Giáo năm 1937 mặc dầu cả hai ông bà đều xuất thân trong một gia đình danh gia, vọng tộc với truyền thống Nho học. Đặc biệt, hai cụ thân sinh của bà Trần Điền đã lập chùa Phổ Tế và đã quy y theo Phật. Ông bà sinh hạ được 10 người con, 4 trai và 6 gái. Ngoài thú đọc sách, nghiên cứu và bơi thuyền, ông không có một đam mê nào khác như hút thuốc lá, rượu chè, cờ bạc.

4. TẾT MẬU THÂN VÀ NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA NGHỊ SĨ TRẦN ĐIỀN

Ông sống với gia đình tại Huế nhưng từ tháng 10-1966, ông vào Sài Gòn họp Quốc Hội Lập Hiến (1966-1967) rồi Thượng Nghị Viện (10-1967...), thỉnh thoảng ông về thăm gia đình vào những dịp Quốc Hội hưu khóa. Tháng 01-1968, ông về Huế ăn Tết với gia đình tại số 19 B đường Lý Thường Kiệt, Quận 3, Huế.

Từ tháng 08-1967, trong thời gian có cuộc vận động bầu cử Quốc Hội và Tổng Thống, Việt Cộng gia tăng các hoạt động phá hoại tại nông thôn Thừa Thiên, gây áp lực quân sự nặng nề toàn vùng I và đặc biệt tại hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên.

Tại quận Phú Lộc, phía Nam tỉnh Thừa Thiên, Việt Cộng xuất hiện quấy phá nhiều nơi, thỉnh thoảng pháo kích vào các đồn và căn cứ của quân đội VNCH trong quận, đánh các trụ sở xã, v.v... Sư Đoàn I Bộ Binh do Chuẩn Tướng Ngô Quang Trưởng chỉ huy đã điều động chiến đoàn Dù của Thiếu Tá Đào Văn Hùng mở cuộc hành quân trong vùng Phú Lộc nhưng vì VC khéo giấu quân nên không phát hiện được gì. Trong lúc đó, tin tình báo cho biết khu rừng thuộc quận Hương Trà (Bắc Thừa Thiên) xuất hiện nhiều điện đài. Sư Đoàn 1 cũng cho hành quân vùng sông Bồ, nhưng cũng không có đụng độ. Tuy nhiên trong các cuộc hành quân trong vùng nầy, quân đội ta đã bắt được một số súng ống và dụng cụ giải phẩu chôn giấu của VC. Những dụng cụ nầy hoàn toàn mới. Ngoài ra còn bắt được những mô hình để nghiên cứu hành quân trong đó VC đã phác họa địa thế gồm thành lũy, hào sâu và chuẩn bị thang leo vô thành. Các dụng cụ y khoa đó, theo nhận xét của bên quân y thì có thể phục vụ cho cấp quân đoàn. Do những dữ kiện đó, nhiều người nghĩ rằng Việt Cộng có thể đánh Huế. Nhưng Tướng Ngô Quang Trưởng thì nhận đinh rằng VC có thể đánh quận Hương Trà hoặc có thể đánh vào một vị trí quân sự nào đó thuộc Bắc Thừa Thiên. Tướng Trưởng không ước tính rằng VC có thể đánh Huế.

Trước Tết Mậu Thân, Sư Đoàn 101 của Hoa Kỳ hành quân bắt được một chuẩn úy Việt Cộng, y khai dang thực tập đánh Huế. Tin Phòng Nhì và An Ninh Quân Đội cũng cho biết Việt Cộng có thể đánh Huế. Hai ngày trước Tết, ông Đoàn Công Lập, Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa Thiên báo cáo có đặc công Việt Cộng xâm nhập vào thành phố trong dịp Tết. Một số sinh viên, học sinh tham gia vụ tranh đấu chống chính quyền trung ương năm 1966, bị đàn áp, đã chạy theo Việt Cộng vào rừng, nay trở lại hoạt động nội thành, hướng dẫn cho bọn đặc công CS vào thành phố Huế ... Khoảng 20 tháng 12 năm 1967, trước lễ Giáng Sinh mấy hôm, Việt Cộng đã tấn công vào xã Thủy Phước (làng Công Giáo Phủ Cam) thuộc quận Hương Thủy, bên cạnh TP Huế. Chúng đã xâm nhập từ nghĩa địa phía sau núi Ngự Bình và phía lầu Jerard, bắn B.40 vào làm một số người chết và bị thương, một số nhà dân bị cháy. Với tư cách Dân Biểu tỉnh Thừa Thiên, ngay lúc đó, tôi có gởi một văn thư cho Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng đề nghi tăng cường hỏa lực cho Nghĩa Quân xã Thủy Phước với súng cối 60 ly và đại liên ... để có khả năng ngăn chận sự xâm nhập của địch từ hướng Nam Giao, Ngự Bình ... vào thành phố.

Trước tình hình như thế, Chuẩn Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 BB và Trung Tá Phan Văn Khoa, Tỉnh Trưởng Thừa Thiên-Huế, vẫn đinh ninh rằng Việt Cộng không thể đánh Huế được. Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư Lệnh Quân Đoàn I kiêm Đại Biểu Chính Phủ tại Vùng I cho chúng tôi biết ông đã tăng cường phòng thủ Huế hai đơn vị lính nhảy dù thiện chiến. Hai tiểu đoàn này đã được Chuẩn Tướng Ngô Quang Trưởng bố trí ở quận Quảng Điền (Bắc Thừa Thiên) cách Huế 15 cây số và phía Nam phi trường Phù Bài, cách Huế 17 cây số về phía Nam. Do đó, khi Việt Cộng tấn công vào thị xã Huế thì hai đơn vị nầy đều ở ngoài thành phố, không làm nhiệm vụ bảo vệ Huế được...

Trước Tết, tôi có đến thăm Nghị Sĩ Trần Điền tại tư thất của ông, 19 B Lý Thường Kiệt, Quận Ba, Huế. Sau đó, tôi đi ra Quảng Trị và có đến thăm Nghị Sĩ Hoàng Xuân Tửu tại tư thất, đường Phan Thanh Giản, thị xã Quảng Trị vào sáng 30 tháng Chạp...Tôi có bày tỏ sự lo lắng của tôi về tình hình trong vùng. Cả hai vị đều tỏ ra quan tâm.

Tổng hợp các tin tức và tài liệu sách vở, báo chí của Việt Cộng cũng như của VNCH, nói về Tết Mậu Thân 1968 tại Huế, chúng tôi được biết:

Việt Cộng đã tấn công Huế vào đêm Giao Thừa Tết Mậu Thân (đêm 30 tháng 01-1968 bước qua sáng 01 tháng 2 năm 1968). Sáng mồng một Tết (01 tháng 2 năm 1968) người ta đã thấy Việt Cộng xuất hiện trên đường phố rồi.

Tại Cửa Chánh Tây, phía VNCH lúc đó có một Tiểu đội thuộc Đại Đội "Hắc Báo" (lính thám báo) trấn giữ. Phía Việt Cộng do Phan Nam (tức Lương) cán bộ Thành ủy nằm vùng phụ trách "đặc công". Theo lời Nam, chất nổ và vũ khí đã được đưa vào Thành nội trước 10 tiếng đồng hồ. Bọn đặc công CS đã hạ được vọng gác của Lực Lượng Thám Báo VNCH và dùng chất nổ phá cổng cho lực lượng chính quy CS từ bờ đối diện sông đào tràn vào thành nội. Rạng sáng mồng một Tết, đơn vị Hắc Báo chống không nổi phải rút lui. Việt Cộng đã đóng chốt, cố thủ trên thành kiên cố. Do đó, việc đánh đuổi chúng ra khỏi thành nội phải kéo dài nhiều ngày...

Tại khu vực An Hòa, một tiểu đoàn của Trung Đoàn E.9 (SĐ 309 Bắc Việt) có nhiệm vụ tấn công cầm chân Tiểu Đoàn 2 Dù của Thiếu Tá Thạch từ phía Bắc Thừa Thiên tiến vào làng An Hòa. Khoảng 2 giờ 30 sáng, một mũi đặc công VC đã vượt sông đột nhập cổng An Hòa và cùng với cánh quân của E.9 tràn vào làng An Hòa. Tuy nhiên từ chiều mồng một Tết, Tiểu Đoàn 2 Dù đã không còn ở làng An Hòa nữa. Cộng Quân chiếm cầu Bạch Hổ và phá hủy một nhịp cầu bên tả ngạn để chặn viện binh Mỹ.

Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 do Tướng Ngô Quang Trưởng chỉ huy đóng tại đồn Mang Cá bị một Dại Đội của Tiểu Đoàn 12 đặc công VC do Nguyễn Trọng Tấu chỉ huy tấn công. Đại đội nầy được chia làm 4 mũi từ thôn Triều Sơn Tây (thuộc quận Hương Trà, Bắc Huế) dùng phao ny-lông vượt sông rồi men theo bờ thành tiến vào Mang Cá. VC đã mở nhiều đợt tấn công vào đồn nầy nhưng không chiếm được vì quân VNCH trú đóng bên trong đã chống trả quyết liệt và bên ngoài Mang cá, có Thiếu Tá Nguyễn Hữu Đệ, Quận Trưởng Hương Trà và đơn vị Hải Quân Mỹ đóng ở Bao Vinh yểm trợ.

Tại phi trường nhỏ Tây Lộc (trong thành nội), một cán bộ nằm vùng VC đã cắt giây kẽm gai ở miệng cống Thủy Quang để cho đặc công VC chui qua cống vào bên trong, đốt kho đạn, kho xăng và khu nhân viên kỹ thuật. Tuy nhiên, lực lượng chủ lực của CS bị lạc đường qua trại Quân Cụ. Lính quân cụ ở đây chiến đấu rất hăng say, suốt mấy tuần, VC không chiếm được đồn nầy. Nhờ vậy, lực lượng phòng thủ bên phi trường, kịp thời bố trí, bảo vệ được sân bay.

Dũng, con trai hãng gỗ Lê Hữu Tý ở cửa Thượng Tứ, đang học ở Sài Gon, được bố gọi về đưa vào mật khu huấn luyện một tuần lễ, vừa mãn lớp huấn luyện, Dũng nhận công tác đưa đơn vị E.6 từ cửa Hữu vào Kỳ đài (cột cờ) để treo cờ "Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình" một tổ chức trá hình của CS Bắc Việt. Cờ rộng 94 mét vuông, gồm hai vạt xanh kèm lấy một vạt đỏ có sao vàng ở giữa (đây cũng là cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam). Đơn vị chiếm cột cờ thành nội nầy tiến ra cửa Thượng Tứ, rạp Hưng Đạo, đồn Cảnh sát Đông Ba. Các cơ sở khác như Ty Chiêu Hồi, Ty Thông Tin, Tòa Thượng Thẩm, v.v. đều bị chiếm ...

Phía Nam Huế do Đại Tá Thân Trọng Một của VC, người Thừa Thiên, biết rõ địa hình địa vật vùng nầy. Lực lượng của Một có "Đoàn 5" gồm 4 tiểu đoàn bộ, Trung đoàn 9 của SĐ 309 Bắc Việt, một tiểu đoàn ĐKB và 4 đội đặc công. Lực lượng của Thân Trọng Một đánh căn cứ thiết giáp VNCH ở đồn Tam Thai (An Cựu), nhưng không thành công vì hệ thống phòng thủ ở đây rất kiên cố. Cộng quân đã vượt sông An Cựu tiến vào thị xã Huế, 7 giờ sáng mồng một Tết người ta đã thấy Cộng quân ở ngoài đường phố. Chúng đã chiếm Đại đội quân cụ ở đường Nguyễn Huệ gần cầu Phủ Cam, Bưu điện, Ty Ngân khố, Tòa Đại Biểu Chính Phủ Trung Nguyên Trung Phần, Tòa Hành Chanh Thừa Thiên, Lao Xá Thừa Phủ và giải thoát hàng ngàn tù nhân. Phía VNCH còn giữ Đài Phát Thanh gần cầu Trường Tiền, Tiểu Khu, Ty Cảnh sát, trụ sở MACV (tức Khách sạn Thuận Hóa) và bến tàu hải quân. Những căn cứ nầy ở gần nhau nên hỗ trợ nhau khiến cho Cộng quân không chiếm được.

Bộ Chỉ Huy chiến dịch của Việt Cộng đóng tại làng La Chữ (Hương Trà, Thừa Thiên) và tại đây đã xảy ra một trận đánh rất ác liệt với Sư Đoàn Không Kỵ Hoa Kỳ do trực thăng chuyển quân đến. Phía Hoa Kỳ có 9 trực thăng bị bắn hạ và khảong 100 binh sĩ tử trận. Theo hồi ký của Văn Tiến Dũng thì phía Việt Cộng có hai tướng lãnh tử trận.

Sau khi chiếm toàn bộ quận Ba (Hữu Ngạn) thành phố Huế, Việt Cộng chia nhau đi kiểm soát từng nhà, bắt người. Chúng cho xe chạy đi khắp nơi kêu gọi các thành phần quân nhân, công chức trình diện. Chúng đã bắt được ông Nguyễn Văn Đãi, Phụ Tá Hành Chánh tại Tòa Đại Biểu Chính Phủ Vùng I, lúc đó đang có mặt tại Huế. Ông Bảo Lộc, Phó Tỉnh Trưởng Thừa Thiên đang có mặt tại tư thất (đường Lý Thường Kiệt) đối diện với Tòa Lãnh Sự Mỹ, cũng bị bắt đem tạm giam tại trường Thiên Hữu (đường Nguyễn Huệ). Những người nầy được giải lên núi và đưa thẳng ra Bắc trước khi Cộng quân rút lui khỏi thành phố nên không bị giết tập thể.

Tại Huế, Việt Cộng đã lập ra "Liên Minh Dân Tộc, Dân Chủ, Hòa Bình" và đưa Lê Văn Hảo (GS Đại Học Văn Khoa), lên làm Chủ Tịch và Thượng Tọa Thích Đôn Hậu (chùa Thiên Mụ) và Bà Nguyễn Đình Chi (cựu Hiệu Trưởng trường Đồng Khánh) làm Phó Chủ Tịch và Hoàng Phủ Ngọc Tường (GS trường Quốc Học, thoát ly theo Việt Cộng mùa Hè 1966) làm Tổng Thư Ký... Chúng lập tòa án nhân dân tại thành nội và Gia Hội (khu vực bị chúng kiểm soát lâu ngày) để xét xử thành phần quân nhân, cảnh sát, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Cách Mạng, v.v... Một số thường dân thuộc thành phần buôn bán cũng bị bắt đem ra xét xử ... Một số người bị giết một cách dã man như Thiếu Tá Từ Tôn Kháng (Tỉnh Đoàn Trưởng Xây Dựng Nông Thôn Thừa Thiên) bị giết trước mặt vợ con tại 176 đường Bạch Đằng (gần cầu Đông Ba, Huế), ông Lê Đình Thương (Phó Thị Trưởng Huế), ông Lê Ngọc Kỳ (Việt Nam Quốc Dân Đảng), Phạm Đức Phác (Việt Nam Quốc Dân Đảng), vợ chồng ông Trần Ngọc Lộ (Đại Việt Cách Mạng), ông Trần Mậu Tý (sinh viên, Đại Việt Cách Mạng)... ông Võ Thành Minh (nhân vật Hướng Đạo nổi tiếng) bị bắt tại từ đường cụ Phan Bội Châu (Bến Ngự Huế) và bị giết ...

Những sinh viên trong các Phong Trào Tranh Đấu chống chính phủ tại Sài Gòn thoát ly theo Việt Cộng vào mùa Hè 1966 như Nguyễn Đắc Xuân, Trần Quang Long, Hoàng Phủ Ngọc Phan...cũng xuất hiện tại Huế trong Tết Mậu Thân. Phan Chánh Dinh (tức Phan Duy Nhân) xuất hiện ở Đà Nẵng ... hướng dẫn Việt Cộng đi bắt bạn bè (trước đây đã tham gia Việt Nam Quốc Dân Đảng hay Đại Việt Cách Mạng ...) và những ai có tinh thần chống Cộng mà chúng biết.

Việt Cộng cũng đã vào nhà thờ Phủ Cam bắt đi ba, bốn trăm thanh niên, đàn ông trong đó có anh em Lê Hữu Bôi, Lê Hữu Bá (từ Bến Ngự chạy đến Phủ Cam ẩn núp) ... Số người nầy đã bị giết tập thể một cách dã man tại Khe Đá Mài (vùng núi thuộc quận Nam Hòa, Thừa Thiên). Hàng trăm, hàng ngàn người bị chôn sống tại vùng Gia Hội, Tiểu Chủng Viện, khu lăng Đồng Khánh, chùa Therevada Gia Hội, An Ninh Thượng, Chợ Thông, Lang Xá Cồn ... Phú Vang, Phú Thứ ... Những nạn nhân gồm đủ mọi thành phần từ các nhà tu hành như Linh Mục Bửu Đồng, Linh Mục Hoàng Ngọc Bang, Linh Mục Urbain (Dòng Thiên An) LM Guy (Dòng Thiên An), LM Lê Văn Hộ (Quảng Trị), các Thầy Dòng La San ở Phú Vang ... cho đến học sinh, sinh viên, thường dân buôn bán...Đặc biệt chúng đã giết các bác sĩ người Đức đến giúp giảng dạy tại Đại Học Y Khoa và giúp bệnh viện Huế như BS Alterkoster, BS Discher, Ông và Bà BS Krainick ... đem chôn sống tại chùa Tuyền Vân. Tổng số nạn nhân tại Huế, Thừa Thiên lên đến trên 4.000 người. (Chúng tôi đã có dịp trình bày chi tiết về Tết Mậu Thân trong tuyển tập tài liệu "Thảm Sát Mậu Thân ở Huế" tái bản 1999 có bổ túc và hiệu đính).

NGHỊ SĨ TRẦN ĐIỀN ĐÃ BỊ VIỆT CỘNG BẮT VÀ SÁT HẠI TRONG TRƯỜNG HỢP NÀO ?

Tất cả mọi người trong gia đình Nghị Sĩ Trần Điền đều có mặt đông đủ vào dịp Tết , kể cả người con trai trưởng là anh Trần Tiễn San (Sĩ Quan Biệt Động Quân). Thấy Việt Cộng xuất hiện, anh San liền cởi bỏ bộ đồ quân nhân, mặc quần đùi chạy trốn. Để tránh bom đạn, dân cư ngụ chung quanh khu Dòng Chúa Cứu Thế Huế trong đó có gia đình Nghị Sĩ Trần Điền, kéo nhau chạy vào ẩn núp trong nhà Dòng. Tất cả mọi người chạy vào phòng sinh hoạt của nhà Dòng, riêng Nghị Sĩ Trần Điền và mấy người con trai vì quen biết với các Linh Mục nên được đưa vào trong khu nội viện của Dòng, nơi dành riêng cho các tu sĩ ở. Nghị Sĩ Trần Điền ẩn trốn trong một căn phòng kín bên trong nhà Dòng.

Được hơn một tuần, đến ngày mồng mười tháng Giêng âm lịch (tức 8 tháng 2-1968) Việt Cộng đến Dòng Chúa Cứu Thế, kiểm soát và lùa tất cả mọi người ra ngồi ngoài sân, bắt công chức, quân nhân, thanh niên, sinh viên học sinh ngồi riêng theo thành phần của mình và bắt kê khai lý lịch từng người. Khi chúng đến trước mặt Nghị Sĩ Trần Điền và hỏi ông là ai ? Ông trả lời "Tôi là Nghị Sĩ Trần Điền". Bọn chúng không hiểu "nghị sĩ" là gì thì ông giải thích cho chúng hiểu ông là người được dân bàu vào làm đại diện dân tại Quốc Hội.

Ông và hai người con trai của ông bị tách riêng ra khỏi đám đông dân chúng và bị dẫn qua bên sân nhà thờ cũ, quay mặt ra đường Quỳnh Lưu.(Đường nầy nay đã đổi tên mới). Mọi người đều bị trói tay lại phía sau lưng. Anh Trần Tiễn Hà, con trai thứ của Nghị Sĩ Trần Điền thừa lúc lộn xộn đã bỏ trốn khỏi Dòng Chúa Cứu Thế, chạy đi ẩn núp ở chỗ khác. Còn anh Trần Tiễn San vẫn đi chung với ông cụ.

Tại sân nhà thờ cũ phía sau lưng nhà thờ lớn (thường gọi là nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp hay nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Huế), anh Trần Tiễn San đang ngồi trước liền đổi chỗ ra ngồi cuối cùng, rồi tự cỡi trói và bỏ trốn. Anh San trốn thoát được còn Nghị Sĩ Trần Điền cùng những người còn lại thì bị dẫn đi về phía chợ An Cựu. Người ta thấy đoàn người đi dọc theo bờ sông An Cựu về ngã Lang Xá Cồn. Lúc đó trong người ông chỉ mặc một bộ áo quần ngủ, bên ngoài khoác thêm một áo choàng bằng vải nỉ. Trong mười ngày đầu tháng 2 năm 1968, quân đội Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ đã tái chiếm khu vực Hữu Ngạn (Quận Ba) Huế, do đó Việt Cộng chưa kịp lập Tòa Án Nhân Dân tại đây như đã làm ở Thành Nội và Gia Hội (phía Bắc sông Hương). Mãi đến tuần cuối tháng 2-1968, toàn bộ Thành Nội Huế mới được giải tỏa, quân đội VNCH kiểm soát hoàn toàn thành phố Huế. Những nạn nhân bị giết chết cá nhân hay bị chôn sống tập thể hoặc bị bom rơi đạn lạc được chôn trong thành phố Huế, trong cuối tháng 2 và tháng 3/68 đã được cải táng. Riêng các nạn nhân bị bắt đi mất tích, chưa ai biết chết sống ở đâu, mãi đến tháng 4 năm 1968, nhờ các cuộc hành quân của quân đội VNCH mở rộng để bình định các vùng nông thôn nên người ta đã phát hiện ra nhiều mồ chôn tập thể tại Phú Vang, Phú Thứ, Hương Thủy, Nam Hòa,v.v... Ngày 09 tháng 4 năm 1968, Quân Đội và Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn đã khám phá ra nhiều mồ chôn tập thể tại Lang Xá Cồn, cách An Cựu chừng 5 cây số thuộc quận Hương Thủy. Một người con nuôi trong gia đình Nghị Sĩ Trần Điền đã đi theo đoàn người đi tìm thân nhân, đến tại Lang Xá Cồn và nhận ra xác của Nghị Sĩ trong một mồ chôn tập thể. Ông bị chôn chung với một số người khác, áo quần còn nguyên vẹn, trong người vẫn còn giấy tờ tùy thân như thẻ căn cước bọc nhựa. Mặt của ông nằm úp xuống, dính với lớp đất sét ướt. Vì là mùa Đông, mưa lạnh, nên xác của nạn nhân vẫn còn nguyên vẹn, chưa bị thối rữa.

Người con nuôi nầy đã trở về nhà báo tin cho bà Trần Điền và các con. Gia đình liền báo tin đi khắp nơi cho bà con họ hàng biết. Đài Phát Thanh Huế cũng đã đọc tên các nạn nhân vừa tìm được xác ... Chính Quyền tỉnh Thừa Thiên cũng như gia đình đã báo tin cho Quốc Hội (Thượng Nghị Viện) biết. Báo chí và các đài phát thanh tại Sài Gòn và khắp VNCH đều loan tin về cái chết của Nghị Sĩ Trần Điền.

Thi hài của nạn nhân được đưa về quàn tại tư gia và gia đình đã tổ chức lễ tẩm liệm, nhập quan. Hiện diện trong ngày hôm đó có Trung Tướng Trần Văn Đôn, Nghị Sĩ Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Phòng Thượng Nghị Viện cùng Bà Luật Sư Nguyễn Phước Đại (Phó Chủ Tịch Thượng Nghị Viện), Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân (Nghị Sĩ trong liên danh Nông Công Binh của Trung Tướng Trần Văn Đôn)... và phái đòan từ Sài Gòn ra thăm.

Lễ an táng được tổ chức một cách long trọng tại tư thất vào lúc 15 giờ 30 ngày 12 tháng 4 năm 1968 trước sự hiện diện của Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật đại diện Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Luật Sư Nguyễn Văn Huyền, Chủ Tịch Thượng Nghị Viện, Nghị Sĩ Hoàng Xuân Tửu, Phó Chủ Tịch Thượng Nghị Viện, Trung Tướng Trần Văn Đôn (Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Phòng TNV) và đại diện chính quyền địa phương, đại diện các đoàn thể chính trị từ trung ương đến địa phương. Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm đã đọc bản Tuyên dương công trạng và gắn Bảo Quốc Huân Chương đệ tứ đẳng cho Cố Nghị Sĩ Trần Điền.Chủ Tịch Thượng Nghị Viện và Nghị Sĩ Trần Văn Đôn đã đọc điếu văn nói lên lòng thương tiếc một người bạn đồng viện xuất sắc, một chiến hữu có nhiều khả năng và tâm huyết đối với quốc gia, dân tộc. Quan tài được đưa đến an táng tại nghĩa trang Dòng Chúa Cứu Thế Huế. Lễ hạ huyệt vào lúc 17 giờ 30 chiều ngày 12-4-1968. Hôm đó bầu trời âm u, nhiều mây và có gió lạnh vào cuối mùa Đông còn sót lại, gây cho mọi người một hình ảnh vĩnh biệt đầy thương tiếc.

Tại Sài Gòn, lễ truy điệu cố Nghị Sĩ Trần Điền đã được tổ chức lúc 16 giờ 30 ngày 22 tháng 4 năm 1968 tại Hội Trường Diên Hồng (Thượng Nghị Viện VNCH) có mặt đầy đủ các Nghị Sĩ, Dân Biểu. Về phía chính phủ có Phó Tổng Thống VNCH, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ,-Luật Sư Nguyễn Văn Lộc, Thủ Tướng Chính Phủ,-các vị Tổng Bộ Trưởng, Ngoại Giao Đoàn. Vợ con, họ hàng, bạn bè của Cố Nghị Sĩ cũng có mặt đầy đủ trong buổi lễ ruy điệu nầy.

Một buổi lễ cầu nguyện cho Cố Nghị Sĩ Trần Điền cũng đã được tổ chức tại Vương Cung Thánh Đường Sài Gòn do Thượng Nghị Viện và Hội HướngĐạo VN tổ chức.

Gia đình đã chọn ngày mồng mười tháng Giêng âm lịch hằng năm (là ngày ông bị Việt Cộng bắt) làm ngày húy nhật.

NẮM TRO TÀN:

Sau năm 1975, gia đình đã cải táng và gởi bình tro cốt của ông vào nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Huế. Khoảng 1990, trước khi qua định cư tại Hoa Kỳ theo diện Cựu tù nhân chính trị (HO), anh Trần Tiễn San (Thiếu Tá Biệt Động Quân) là con trai trưởng của Cố Nghị Sĩ Trần Điền, đã từ Sài Gòn ra Huế gặp Cha Bề Trên Dòng Chúa Cứu Thế xin nhận lại bình tro cốt của ông cụ để đưa vào để ở Sài Gòn vì ở Huế cũng không còn ai là họ hàng gần.

Gia đình cố Nghị Sĩ Trần Điền gồm có bà cụ và các con trai, một số con gái, cháu chắt ... hiện đang định cư tại Hoa Kỳ. Xin cám ơn anh Trần Tiễn San đã giúp chúng tôi một số tài liệu về gia phả họ Trần và cố Nghị Sĩ Trần Điền. Nếu có điều gì sai sót, xin quý vị bổ túc cho. Xin cám ơn.

Nguyễn Lý Tưởng

19/2/11

BA MƯƠI NĂM TỘI ÁC XÂM LƯỢC: ĐÂU RỒI LÒNG YÊU NUOC_17/02/2009

J.B Nguyễn Hữu Vinh



Đúng
ngày này ba mươi năm trước (17/2/1979) bọn bá quyền bành trướng Bắc Kinh xua
quân xâm lược toàn tuyến biên giới nước ta. Cả đất nước vùng dậy, dù trong cơn
đói kém đến kiệt quệ vẫn vững vàng tay súng với ý chí ngùn ngụt căm thù bọn xâm
lăng. Hàng vạn thanh niên trai tráng lên đường, tạm biệt vợ con, người yêu
thương để xông ra chiến trường giết giặc.

Cả đất nước đứng lên, cả thế
giới căm hận

Lương tâm loài người được báo động, cả thế giới phỉ nhổ vào
chính sách Đại Hán bành trướng ngang ngược xâm lược nước ta với những lời hăm
doạ ngổ ngáo rất du đãng: “Dạy cho Việt Nam một bài học”.

Bài hát “Tiếng
súng đã vang trên bầu trời biên giới” được phát đi phát lại nhiều lần thôi thúc
những người con đất Việt dâng lên một hào khí Thăng Long, Đông A, quyết tâm trừ
giặc nước bảo vệ non sông gấm vóc của cha ông ngàn đời để lại.

Tất cả đã
thề một lời không đội trời chung với lũ xâm lăng, tất cả một lời thề dù hi sinh
xương máu vẫn quyết giữ vững từng mảnh đất, khóm cây bụi cỏ là giang sơn của đất
nước.

Những lời thề đó như còn vang vọng đến bên tai tôi tận hôm nay, 30
năm sau.

Tôi còn nhớ, những người bạn tôi đã ra đi thề quyết tử để Tổ
quốc trường tồn. Tất cả dân tộc bừng lên khí thế hào hùng giết giặc.

Hàng
ngàn chiến sỹ đã đổ máu xương của mình để bảo vệ từng tất đất biên cương của Tổ
quốc, hàng triệu gia đình chắt chiu những hạt gạo quý giá cuối cùng để gửi ra
tiền tuyến. Tất cả mọi người từ già đến trẻ đều thể hiện dòng máu anh hùng yêu
nước Việt Nam trong từng công việc, từng hành động từ các công trường, nhà máy,
hầm mỏ và từ các cháu học sinh đến cụ già tóc bạc da mồi.

Với khí thế
bừng bừng lửa hận, bọn bá quyền bành trướng Đại Hán vốn muôn đời nay vẫn không
nguôi ý đồ xâm lược nước ta đã phải nhục nhã lui quân, ôm đầu máu tháo
chạy.

Quân dân Việt Nam anh hùng đã ghi vào sử sách một trang vàng chiến
công rực rỡ: Một lần đứng lên oai hùng, không chịu vết nhục ngàn năm bắc thuộc
có cơ hội lặp lại trên đất nước Việt Nam.

Để có những chiến công vang dội
đưa đến chiến thắng oai hùng đó, biết bao nhiêu chiến sỹ đã ngã xuống nơi tuyến
đầu Tổ quốc. Bao bà mẹ, bao người vợ đã mãi mãi trên đầu những chiếc khăn tang
vì đã hi sinh cho đất nước những người con anh dũng.



Bao
tiền của, vật lực và mồ hôi xương máu của nhân dân đã dốc ra tiền tuyến, chi
viện cho chiến trường. Tất cả đã được ghi xương, khắc cốt và viết nên dòng chữ
vàng trong lịch sử Việt Nam: LỊCH SỬ CHỐNG NGOẠI XÂM ANH DŨNG.

Dù biết
rằng, mọi cuộc chiến tranh là bất hạnh, nhưng khi kẻ thù của đất nước, của nhân
dân, của dân tộc ta đã buộc chúng ta đến bước đường cùng, thì tất cả dân tộc đã
biết kết liên thành một khối.

Bài ca chiến thắng ngày đó là hùng tráng,
là đẫm máu và nước mắt, xen lẫn giữa những tiếng khóc chia ly, mất mát là những
nụ cười mãn nguyện: Chúng ta đã làm hết sức mình để bảo vệ giang sơn mà ngàn đời
cha ông đã cố công gây dựng và trải biết bao cuộc chiến núi xương biển máu để
giữ gìn.

Những người bạn tôi ra đi ngày đó, khi trở về con số hao hụt khá
nhiều, đã có những con người không biết bây giờ còn nằm nơi nao trên núi rừng
biên giới. Những người còn lại trở về, có những bạn không còn nguyên vẹn, một
phần máu thịt để lại nơi núi rừng nào đó.

Nhưng tất cả, dù còn sống trở
về hay đã vĩnh viễn không trở lại, tôi biết họ đã mãn nguyện và tự hào khi được
đứng lên thay cho cả đất nước để nói với kẻ thù rằng: Đất nước này không hèn đớn
và không chịu nhục: Nỗi nhục mất nước, nỗi nhục bị đô hộ và xâm lăng.

Ba
mươi năm đã qua

Ngày hôm nay, kỷ niệm ngày mà ngọn lửa chiến tranh bị bọn
bá quyền đốt cháy bùng lên biên giới nước ta nhằm thiêu cháy cả dân tộc trong
nỗi đau đớn và nhục nhã.

Những ngày này của cả đất nước Việt Nam đang
tưng bừng lễ hội, những lễ hội tốn kém và hoành tráng. Phải chăng người ta đã
quên mất những chiến sỹ trận vong năm nào, người ta đã quên mất những người đã
bỏ mình vì Tổ Quốc?

Trên các báo của Việt Nam tôi đã cố tìm nhưng khó tìm
thấy một dòng nào về ngày này, ngày mà đất nước chúng ta thể hiện tinh thần quật
cường trước ngoại xâm. Không một dòng nào về những chiến sỹ, những người dân đã
bỏ mình vì Tổ Quốc trong một ngày kỷ niệm lớn lao: Ba mươi năm chiến tranh biên
giới bảo vệ Tổ Quốc.

Từ những tờ báo được coi là lớn ở Việt Nam như Tuổi
trẻ, Thanh niên đến muôn vàn tờ báo lá cải khác, vẫn những bản tin : “vàng tăng
giá, quan chức xâu xé đất tái định cư, tội phạm xã hội…” mà tuyệt nhiên không
thấy một dòng nào để nói về một mốc son kỷ niệm cuộc chiến tranh vệ quốc mà bao
nhiêu xương máu đã đổ.

Tôi cũng lục tìm đến tờ Hà Nội mới, tờ An ninh Thủ
đô, Đài phát thanh và Truyền hình Hà Nội, những tờ báo và nhà đài đã đi đầu và
hết sức nhiệt tình trong việc bóp méo, xuyên tạc và vu khống những giáo dân,
những công dân Việt Nam ở Hà Nội đang đòi công lý và sự thật qua sự việc Toà
Khâm sứ và Thái Hà.

Trên tờ Hà Nội mới, nổi bật hàng chữ “Đạo đức Hồ Chí
Minh” khi click vào trang Chính trị. Tuyệt không có một dòng nào về ngày kỷ niệm
này. Tôi không rõ trong mục đạo đức Hồ Chí Minh có dạy người dân Việt Nam phải
biết yêu quê hương đất nước và kính trọng các anh hùng liệt sỹ đã bỏ mì
nh vì
giang sơn hay không mà trên tờ báo này không có một lời nào về ngày
này?

Trên tờ An ninh Thủ đô, những hàng chữ chạy ngang mà tôi đọc được
nổi bật là: “Vào tù vì yêu sớm, chồng đâm vợ trọng thương, lừa tình chiếm xe…”
và giữa trang vẫn là những bài viết đậm mùi xuyên tạc vu cáo, kích động hằn thù
tôn giáo trong cộng đồng dân tộc mà ở trong đó không thiếu những lời lẽ mùi mẽ
khi kích động đám quần chúng thiếu hiểu biết, thừa hằn học về cái gọi là “Lòng
yêu nước” của họ.

Nhớ lại những ngày cách đây chưa lâu, dàn đồng ca báo
chí nhà nước được lệnh đã nhất loạt dùng những ngón đòn nhơ bẩn nhất để đánh
phá, kích động hằn thù đối với một cộng đồng tôn giáo ở Hà Nội. Thậm chí trên
truyền hình Trung ương, hàng loạt bản tin, hàng loạt chương trình nhằm bôi xấu
cộng đồng tôn giáo, xuyên tạc sự thật, bất chấp nhân tâm đã được ưu tiên. Khi đó
những từ ngữ “lòng yêu nước, tự hào dân tộc…” trên chót lưỡi đầu môi được thể
hiện một cách cuồng nộ nhất.

Đâu rồi những lời gào thét “yêu nước” đến
khản giọng khi muốn nhấn chìm một lãnh tụ tôn giáo và một cộng đồng dân tộc? Đâu
rồi các quan chức khi mở miệng nói về “lòng tự hào dân tộc”, “tự hào là người
Việt Nam” khi xuyên tạc câu nói của Đức Tổng Giám mục Hà Nội nhằm làm mồi cho lũ
cô hồn đòi giết người trong đêm?

Đâu rồi đám quần chúng tự phát vì “yêu
nước thương nòi” đêm nào bao vây Thái Hà và Toà Khâm sứ? Đâu rồi đám “Đoàn Thanh
niên cộng sản Hồ Chí Minh” những đêm nào bao vây giáo dân, phá rối và khiêu
khích đoàn người cầu nguyện bằng những cú hích vào mạng sườn và những bãi nước
bọt nhổ vào mặt và gào lên “Như có bác Hồ…”?

Đâu rồi đám “Uỷ ban Đoàn kết
Công giáo” đang là “đại diện của giới công giáo” yêu nước, yêu chủ nghĩa xã
hội?

Tất cả trốn đâu hết mà để ngày này, kỷ niệm 30 năm cuộc chiến anh
hùng giữ gìn đất đai thiêng liêng của Tổ quốc lại để các chiến sỹ trận vong thêm
tủi nhục cho sự hi sinh của mình bởi sự lãng quên và vô cảm.

Thật đáng
thương thay cho thân phận báo chí nô lệ và những con người chỉ biết tôn thờ đồng
tiền bất chấp lương tâm.

Thật đáng thương thay cho cả những con người yêu
nước thương nòi thật sự mà không dám hay không thể nói lên được suy nghĩ của
mình.

Thật đáng thương thay cho một đất nước, khi mà cả dân tộc đang phải
mím miệng, ngậm tăm trước những sự càn rỡ hống hách của bọn xâm lăng đối với bờ
cõi đất nước.

Phải chăng họ đã quên, phải chăng họ đã không còn nhớ những
điều không bao giờ được quên đó? Tôi không nghĩ thế. Vậy ai dạy họ quên những
điều này?

Hay bởi họ bị cấm không được nhớ, không được nói ra? Ai cấm họ
nói lên lòng yêu nước của mình, những người đó có yêu nước thương nòi thật sự
không?

Phải chăng khi cả xã hội, cả đất nước đua nhau hò hét giành giật
từng mảnh đất, tài sản của từng cá nhân, tổ chức trong nước, thì họ đã quên mất
tất cả?

Đáng thương thay.

Bên tai tôi vẫn văng vẳng một câu nói 30
năm trước của Đài Tiếng nói Việt Nam về bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh rằng:
“Một đất nước mà trong ngoài lục đục trên dưới không yên thiên hạ bất đồng nhân
tâm ly tán thì thử hỏi có sức mạnh làm sao được”.

Hà Nội, Kỷ niệm 30 năm
ngày chiến tranh bảo vệ Biên giới Phía Bắc 17/2/1979- 17/2/2009.

· J.B
Nguyễn Hữu Vinh

17.2.1979 – 17.2.2011: Các nghĩa trang bộ đội hương khói vắng tanh!

17.2.1979 – 17.2.2011: Các nghĩa trang bộ đội
hương khói vắng tanh!
Lãnh đạo im thin thít, nhưng để Nguyễn Chí Vịnh phân
trần với Bắc kinh!
Âu Dương Thệ



Hôm
nay là ngày kỉ niệm 32 năm chiến tranh biên giới Việt-Hoa do Đặng Tiều Bình phát
động để „dạy VN bài học“. Ngày 17.2.1979 Bắc kinh đã đưa 20 sư đoàn sang đánh
chiếm  nhiều tỉnh ở sát biên giới Trung quốc và đã giết hại mấy chục ngàn binh
sĩ và thường dân VN. Như vậy đúng ra xét về quyền cũng như trách nhiệm thì những
người cầm đầu Nhà nước phải đứng ra tổ chức lễ kỉ niệm những bộ đội và thường
dân đã bị quân xâm lược phương Bắc giết hại và cử các đại diện tới thăm viếng
nghĩa trang, mồ mả của những người đã hi sinh vì Tổ quốc. Lễ kỉ niệm như vậy
không phải là khơi dậy hận thù giữa hai dân tộc láng giềng, nhưng là để tố cáo
cuộc chiến tranh xâm lược của chế độ CS Trung quốc, đồng thời cũng là để thức
tỉnh nhân dân VN trước các chính sách gây hấn và lấn chiếm hiện nay của bá quyền
Bắc kinh!



Bộ
binh và xe thiết giáp Trung Quốc xâm lược Việt Nam trên tuyến Cao Bằng

Nhưng thật là vô cùng ngạc nhiên, hôm nay cũng như các ngày vừa qua,
từ tân Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cho tới Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng không có một lời tuyên bố nào về biến cố lịch sử cận đại
này. Các tờ báo chính thức của chế độ toàn trị như tờ Nhân dân, Cộng sản, Chính
phủ, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân không đăng một dòng tin nào về ngày
kỉ niệm này. Dĩ nhiên các tờ báo „đi bên lề phải“ cũng phải câm nín!  Trong khi
đó báo chí của chế độ lại dành những phần rộng rãi tường thuật các cuộc chẩy hội
của các quan lớn với xe xịn và dân chúng chen lấn, giẫm đạp đến ngất xỉu để „xin
ấn cầu danh“ ở các đền nhân ngày 15 tháng giêng âm lịch. Trong số này thấy có cả
Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân và Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu.  Nhưng
trong các ngày qua nhiều Blog điện tử độc lập ở trong nước đã can đảm viết bài
và đưa tin rất trân trọng về ngày lịch sử 17.2.1979!

Giữa khi không dám
nhắc tới cuộc chiến tranh xâm lược của phương Bắc, nhóm cầm đầu cũng không dám
tổ chức kỉ niệm và thăm viếng mồ mả, nghĩa trang các chiến sĩ và thường dân đã
bị giết hại; nhưng cho tới nay năm nào họ cũng đứng ra tổ chức long trọng cấp
Nhà nước kỉ niệm ngày 30.4.1975. Mặc dầu các đơn vị quân đội Mĩ đã rút khỏi miền
Nam không lâu sau Hiệp định Paris 27.1.1973. Cho nên nói đúng ra, vào giai đoạn
chót của cuộc chiến VN là một cuộc nội chiến. Như chính cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt
đã nhìn nhận, người Việt ở miền Bắc cũng như người Việt ở miền Nam đều nặng lòng
yêu nước theo cách của họ!

Hàng năm cố tình tổ chức long trọng ngày 30.4
kết thúc một cuộc nội chiến thì rõ ràng là những người cầm đầu chế độ toàn trị
chỉ nhằm khơi dậy  hận thù và gây tức tưởi giữa các thành phần dân tộc VN, trái
với mục tiêu đoàn kết và hướng tới tương lai giữa người Việt với nhau!  Nhưng
giữa lúc đó thì chính những người cầm đầu này lại im lặng làm như không có ngày
17.2. 1979!  Không cho cả bộ đội và thân nhân được tổ chức kỉ niệm, thăm viếng
mồ mả những người đã bị quân đội xâm lược phương Bắc giết hại! Thái độ cực kì
mâu thuẫn này đối với hai sự kiện lịch sử quan trọng cận đại của VN không phải
do sự mất trí nhớ của nhóm cầm đầu, mà phải thấy đây là lòng dạ tính toán hơn
thiệt của họ.  Nếu xét về mặt tiêu chuẩn đặt giá trị về việc, ai có thể giúp họ
ngồi vững trên các ghế cao hiện nay, thì những người cầm đầu chế độ toàn trị đặt
rất cao vai trò của Bắc kinh và đặt rất thấp vai trò của nhân dân
VN!

Giữa lúc những người cầm đầu mới (cũ) của chế độ toàn trị giữ thái độ
ngậm miệng như thế thì ngày 16.2 tờ Quân đội nhân dân lại cho phổ biến bài phỏng
vấn dài của tân Ủy viên Trung ương đảng đồng thời là Thứ trưởng quốc phòng
Nguyễn Chí Vịnh với tựa đề „Việt Nam chưa chủ trương tham gia các cuộc tập trận
quốc tế“. Cuộc phỏng vấn được chọn lựa đúng vào thời điểm kỉ niệm 32 năm cuộc
chiến xâm lược của Trung quốc, nhưng cũng như thượng cấp, ông Vịnh cũng biết
tiết kiệm không có một lời hay một chữ nào nhớ tới đồng đội và đồng bào đã bị hi
sinh! Trái lại, khi trả lời câu hỏi (đã được mớm cho nhà báo) tại sao đã có tin
của báo chí bên ngoài nói rằng, VN sẽ tham gia cuộc tập trận „Hổ mang vàng“ do
các đơn vị quân đội Thái lan và Hoa kì tổ chức ở Thái lan vào đầu tháng 2? Tướng
Vịnh đã trả lời:

„Việt Nam đã tham dự các cuộc tập trận "Hổ mang vàng"
với tư cách Quan sát viên từ năm 2003. Từ đó đến nay, tùy thuộc vào điều kiện
của mình cũng như tùy thuộc vào tính chất hay nội dung của cuộc tập trận, có năm
Việt Nam tham dự, có năm không. Mục đích tham dự của Việt Nam là để xem các nước
thực hiện tập trận như thế nào.

Năm nay, Việt Nam không cử người tham gia
cuộc tập trận kể cả ở mức độ Quan sát viên. Thông tin về Việt Nam cử người tham
gia lập kế hoạch tác chiến là sai lệch, không rõ nguồn tin xuất phát từ đâu.
Thông tin sai lệch này có thể làm cho dư luận hiểu sai chủ trương của Việt Nam.
Trong thời điểm hiện nay Việt Nam không tham gia các cuộc tập trận hay các cuộc
diễn tập quân sự.“

Phần trả lời của Nguyễn Chí Vịnh khiến các quan sát
viên lưu ý ba việc. Thứ nhất, sự giải thích có tính cách phân trần để tránh „dư
luận hiểu sai“  như thế này là nhắm vào đối tượng nào? Với Washington hay với
Bắc kinh? Chắc chắn là không phải nói với Washington mà ở đây đúng là tìm cách
phân trần với anh cả Bắc kinh. Vì từ hè 2010 Bắc kinh đã rất khó chịu trước việc
Ngoại trưởng Mĩ, Bộ trưởng quốc phòng Mĩ và nhiều phái đoàn cao cấp của Hoa kì
đã có mặt ở VN và tuyên bố ủng hộ quốc tế hóa vấn đề tranh chấp biển Đông. Trong
những tuần lễ gần đây Bắc kinh còn cảnh cáo Hà nội gián tiếp là, đi với
Washington là chống Bắc kinh. Hà nội phải chọn lựa dứt khoát!

Vì thế,
ngay sau khi hãng thông tấn Nhật Kyodo loan tin về việc năm nay VN còn cử cả sĩ
quan tham gia việc lên kế hoạch tập trận cùng 9 nước khác thì Bộ quốc phòng chế
độ CSVN đã phải vội vã lên tiếng cải chính ngay về việc này vào ngày 9.2. Nhưng
đối với Bắc kinh, đính chính sơ sài như tthế không được. Vì vậy nhóm cầm đầu Hà
nội đã phải để cho Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vính công khai đính đính!
Nếu ai theo dõi tình hình nội bộ nhóm cầm đầu mới của Đảng cộng sản VN thì sẽ
thấy, trong thời gian qua Tướng Nguyễn Chí Vịnh không chỉ tuyên bố những vấn đề
chính về an ninh quốc phòng và ngoại giao vào nhiều dịp quan trọng và được theo
dõi đặc biệt của dư luận quốc tế, khiến người ta có cảm tưởng là Nguyễn Chí Vịnh
mới chính là người có quyền thực sự trong Bộ quốc phòng, còn Tướng Phùng Quang
Thanh chỉ đứng làm vì mà thôi. Việc ông Vịnh nhẩy cả được vào Trung ương đảng
tại Đại hội 11 vào giữa tháng giêng vừa qua, mặc dầu Đại tướng Võ Nguyên Giáp
-một đại thần cuối cùng còn sống- và nhiều tướng lãnh đã về hưu hay còn tại chức
đã công khai chống tướng Vịnh, lại càng biện minh cho giả thuyết
này!

Tuyên bố trên của Nguyễn Chí Vịnh còn nêu ra điểm thứ hai cũng rất
đáng chú ý: Tại sao ông đã phải nhấn mạnh trong câu cuối „Trong thời điểm hiện
nay Việt Nam không tham gia các cuộc tập trận hay các cuộc diễn tập quân sự.“? 
Theo dõi tình hình bang giao giữa hai chế độ toàn trị Bắc kinh và Hà nội sẽ
thấy, sự lệ thuộc của Hà nội đối với Bắc kinh không chỉ giới hạn trong lãnh vực
ý thức hệ theo phương trâm „nếu Bắc kinh trụ được thì Hà nội cũng trụ được“,
trong các năm gần đây sự lệ thuộc đang mở rộng cả trong lãnh vực kinh tế và
thương mại. Trung quốc đã trở thành nước cung cấp hàng lớn nhất cho VN. Điều cực
kì nguy hiểm nữa là, mức nhập siêu của VN với Trung quốc ngày càng cao. Theo tin
của chính Hà nội thì trong năm qua đã lên tới trên 12 tỉ USD. Trong khi ấy số
ngoại tệ dự trữ của VN chỉ còn khoảng 10 tỉ USD. Như vậy trọc phú Bắc kinh đã
trở thành chủ nợ lớn nhất của VN! Ai cũng biết, ngay cả với siêu cường Mĩ từ khi
trở thành con nợ của Bắc kinh thì Bắc kinh cũng đã từng đưa ra các yêu sách cao
có lợi cho chủ nợ. Vì thế người ta có thể nhận ra được những áp lực và yêu sách
mà Bắc kinh đang đặt ra cho Hà nội mạnh như thế nào, nhất là đối với nhóm cầm
đầu vừa mới được cử ra trong Đại hội 11.

Cụm từ „trong thời điểm hiện
nay” mà Nguyễn Chí Vịnh nhấn mạnh trong bài phỏng vấn ngày 16.2 còn có hàm ý
quan trọng khác nữa. Hiên nay tân Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đang chuẩn bị ráo
riết chuyến thăm ra mắt tại Bắc kinh. Vì chỉ một ngày sau khi được bầu làm Tổng
bí thư, ông Trọng đã phải tiếp Trưởng ban Đối ngoại Đảng cộng sản Trung quốc
Vương Gia Thụy, đặc phái viên của Tổng bí thư và Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào để
nhận lời „mời“ sang thăm Trung quốc càng sớm càng tốt. Như vậy thì Nguyễn Phú
Trọng phải tạo một không khí thích hợp cho chuyến đi này, đừng có làm gì phật
lòng người anh cả phương Bắc. Cho nên việc năm nay nhóm cầm đầu CSVN không dám
cử quan sát viên tới dự cuộc tập trận „Hổ mang vàng“ là thái độ tất yếu, nhưng
nó là một tín hiệu về sự cúi đầu thêm. Tiếp đến chuyện phải để Nguyễn Chí Vịnh
đính chính và phân trần công khai với Bắc kinh về việc báo chí quốc tế đưa tin
khác trước đó lại càng chứng tỏ mức độ cúi đầu càng nhiều hơn nữa!

Từ đó,
người ta hiểu được tại sao thái độ của tân Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng từ việc
tuyên bố tình hình biển Đông „không có gì mới“ , tới việc coi như không có ngày
17.2.1979 là hệ luận tất yếu, mặc cho những mồ mả của bộ đội và nhân dân đã bị
hi sinh và giết hại phải chịu cảnh hương khói vắng tanh. Đối với những người chỉ
biết đội quyền-tiền thì việc cúi đầu trước phương Bắc lại là một vinh hạnh! ♣


Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện
tử:
www.dcpt.org hay www.dcvapt.net

Lật tẩy CSVN lạm danh UNESCO

1. HCM & UNESCO
Nghiêm Văn Thạch – 2005
Đầu năm 1987, Ông Trần Văn Ngô (Từ Nguyên) là chuyên viên theo dõi thời cuộc trong tập thể tranh đấu tại Pháp, đã triệu tập một buổi họp các nhân sĩ cùng đại diện đoàn thể ở khu vực Paris-Ile de France để báo động : đảng CSVN vận dụng UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học, Văn hóa của Liên Hiệp Quốc) để vinh danh HCM, hy vọng lấy lại hào quang ngụy tạo “anh hùng giải phóng dân tộc” cho xác ướp mà họ đã dựng thành biểu tượng của Chủ nghĩa Xã hội.
Theo tin tức nhận được, CSVN căn cứ vào tập tục UNESCO nhắc nhở ngày sinh nhật thứ 100 của các vĩ nhân trong lãnh vực cơ quan Liên Hiệp Quốc hành động, xếp đặt ghi tên HCM vào danh sách sinh nhật bách niên năm 1990, rồi dự tính vận động tiếp để đến năm ấy sẽ có khoản tài trợ của UNESCO dùng tổ chức rầm rộ kỷ niệm ở trụ sở Paris, đài thọ những buổi lễ cùng thời điểm ở VN và tại một số thủ đô, thành phố lớn khắp thế giới, tổ chức triển lãm và ấn hành sách báo đặc biệt về sự nghiệp lừng lẫy của HCM, “nhà cách mạng và nhà văn hóa trác tuyệt”!!!
Hội nghị đã thảo luận, phân tách hoàn cảnh cùng thời cơ thuận lợi cho CSVN :
- Dư âm cuộc chiến thắng 30.4.1975 khiến HCM còn lưu giữ cảm tình trong tả phái Âu Mỹ Úc chưa đủ can đảm thừa nhận sai lầm quá khứ và trong quần chúng Á châu, Phi châu thiếu thông tin nghị luận chính xác.
- Phái đoàn đại diện CSVN, theo nguyên tắc luân phiên trong Tiểu ban Văn hóa UNESCO, đến lượt tham gia Ban Chấp hành Tiểu ban, đề nghị của họ chắc chắn được sự chấp nhận của đa số thành viên là những nước Á Phi khi trước từng biểu lộ cảm tình thiên lệch trong cuộc chiến VN-2.
- Khi Tiểu ban đã tán thành, Đại Hội Đồng thường thông qua đề nghị do Tiểu ban chuyển lên, không có thảo luận gì cả.
- Một yếu tố thuận lợi quan trọng khác cho CSVN là hậu thuẫn của ông M’Bow, Tổng Thư Ký kiêm Giám đốc Văn phòng trung ương UNESCO. Ông trấn nhậm hai nhiệm kỳ liền trụ sở Paris nhờ sự ủng hộ của Nga Xô cùng chư hầu CS, và các nước Á Phi chống đối Hoa Kỳ.
Theo vết thân phụ là lãnh tụ độc tài tham nhũng ở một quốc gia chậm tiến Phi châu, ông đã trắng trợn khai thác thủ lợi guồng máy quản trị cơ quan quốc tế. Thành tích nổi bật của ông M’Bow là cài đặt rất nhiều thành viên bộ tộc (tribu) của ông – đương nhiên với lương cao bổng hậu không cần chiếu theo bằng cấp hay khả năng, thậm chí không phải làm việc, không cần có mặt ở sở – vào số viên chức thực thụ (nếu sa thải phải bồi thường rất nặng) của Văn phòng. Nhân số ăn bám cộng với chi tiêu bừa bãi – có hà lạm, nhưng về sau không ai muốn bới móc thêm ra – khiến cho ngân quỹ UNESCO liên tục thâm thủng trầm trọng. Vì thế, tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ phủ quyết (veto) đề nghị gia tăng ngân sách dành cho UNESCO, sau đó tạm đình chỉ sự đóng góp cho riêng cơ quan này. Anh quốc với vài nước Âu Mỹ hưởng ứng sự tẩy chay góp tiền cho cá mập. Chỉ riêng niên liễm của Hoa Kỳ đã là ngân khoản cao nhất trong thu nhập của UNESCO mỗi tài khóa. Ông M’Bow lúc đó chuẩn bị tái ứng cử nhiệm kỳ thứ ba, tất sẽ ra sức tán trợ đề nghị vinh danh HCM để tranh thủ lá phiếu của khối CS và các nước Đệ Tam, luôn thể, để trả đũa sự phản kháng cùng hành động thắt chặt túi tiền của Hoa Kỳ.
Hội nghị cũng lượng định một cách thực tiễn trở ngại lớn lao phải đương đầu vì thiếu phương tiện tài chính và nhân sự, vì thái độ thờ ơ bất động dễ phỏng đoán của nhiều thành viên Liên Hiệp Quốc không Cộng sản gồm cựu thân hữu của VN Cộng Hòa như Nhật Bản, Đại Hàn, Phi Luật Tân, của giới truyền thông và dư luận kể cả Hoa Kỳ, vì địa vị cô đơn và thiểu số của tập thể tị nạn VN khó gây nên sức mạnh chuyển đổi cần thiết. Tuy nhiên, hội nghị vẫn quyết tâm đương đầu và nhất trí nỗ lực tìm phương cách giải trừ kế hoạch CSVN lợi dụng UNESCO để tuyên dương HCM và chế độ tàn bạo phi nhân ông tạo lập. Một ủy ban hành động được tức thời thành lập, với ông Nguyễn Văn Trần là Tổng thư ký, Phụ tá là một số tuyển chọn trong các nhân sĩ, đại diện đoàn thể hiện diện.
Tại một buổi họp thường kỳ sau đó ở trụ sở Hội Thanh niên Tị nạn cho sử dụng, ủy ban chọn danh hiệu là Ủy ban Tố cáo Tội ác HCM. Chủ đích ủy ban tự vạch là tiến tới một luận định quốc tế vô tư, đúng đắn, về các hành động của HCM và CSVN vi phạm nhân phẩm nhân quyền, hủy diệt văn hóa, mâu thuẫn với mục tiêu của Liên Hiệp Quốc và UNESCO. Ủy ban cũng có ý mong  công luận thế giới nhân dịp, duyệt lại những biến cố lịch sử đã bị xuyên tạc, bóp méo, bởi thành kiến với nhãn quan một chiều của phe phản chiến, đặc biệt là Tòa án Chiến tranh VN do Bertrand Russell đề xướng. Công tác khẩn yếu là thâu thập những dữ kiện đích xác về tội ác của HCM và đảng CSVN, yêu cầu chứng nhân và nạn nhân tiếp tay với Ủy ban lập thành hồ sơ sẽ trình bày trong một cuốn “hắc thư” (livre noir) coi như bản cáo trạng trước thế giới. Cùng lúc, chiến dịch gửi thư phản kháng tới UNESCO được phát động.
Hầu hết các cơ quan truyền thông Việt ngữ – báo chí, chương trình phát thanh, bản tin nội bộ – ở các nước định cư đã sốt sắng phổ biến tin tức và tài liệu do Ủy ban cung cấp; lại tự động đăng tải nhiều bài viết, nhiều thư tố cáo huyền thoại HCM do ký giả, nhân sĩ, nhà văn hóa giáo dục, đại diện đoàn thể, gửi đến. Vị Giám đốc Đông Nam Á Vụ của UNESCO sau này cho Ủy ban hay đã tiếp nhận tổng cộng hơn ba-mươi ngàn thư phản kháng. Cộng đồng người Việt ở Pháp và một vài nước lân cận đã hăng hái tham dự cuộc biểu tình chống đối do Ủy ban đề xướng nhân Ngày Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc 1987 ở công trường Nhân quyền, đối diện tháp Eiffel.
Tại cơ quan tranh đấu trực diện là UNESCO, Ủy ban trù liệu tiếp xúc rộng rãi với các thành viên quốc gia không cộng sản, các thành viên là tổ chức ngoài chính quyền (Organisation Non Gouvernementale – ONG), các nhân vật chủ chốt ở cơ quan Liên Hiệp Quốc, kể cả Tổng Thư Ký M’Bow đương nhiệm. Luận cứ đầu tiên Ủy ban trình bày là CSVN muốn UNESCO lấy ngày 19.5.1990 làm sinh nhật bách niên của HCM. Nhưng theo sự kê khai của đương sự hồi sinh tiền và theo các tài liệu chính thức của đảng, HCM có tới 5 ngày tháng năm sinh khác nhau. Thời điểm lễ kỷ niệm quốc tế ấn định một cách hồ đồ sẽ khiến cho uy tín của UNESCO và Liên Hiệp Quốc bị thương tổn. Bằng chứng gần cận về lề thói thay đổi dữ kiện lịch sử bởi CSVN là họ đã loan báo HCM tạ thế ngày 03.9.1969, trong khi ông mất từ ngày hôm trước, 02.9.1969.
Và để tạo áp lực phía chính phủ Pháp – có ảnh hưởng đáng kể vì Paris là nơi đặt trụ sở UNESCO – Ủy ban tranh thủ được sự ủng hộ triệt để của Hội Người Pháp Đông Dương (ANAI – Association des Françaises d’Indochine) gồm các gia đình Pháp kiều, cựu quân nhân khi trước cư trú hay phục vụ tại ba nước Việt-Miên Lào. Hai bên đồng ý phối hợp chương trình và phương thức vận động.
Hội ANAI sẽ nhường cho cộng đồng VN ra mặt trước công luận, đi hàng đầu khi biểu tình, hội họp, để Hội khỏi vướng mắc lời đối phương cáo buộc có hành động trả thù sự thất trận năm 1954.
Do sự thúc đảy của Hội ANAI và lời thỉnh cầu của Ủy ban, một số dân biểu, nghị sĩ đối lập lên tiếng chất vấn trên diễn đàn quốc hội, yêu cầu chính quyền – do tả phái lãnh đạo sau khi ô. Mitterand đắc cử tổng thống năm 1981 – bác bỏ sự vinh danh HCM. Thêm lời rỉ tai ở hậu trường: nếu chính phủ Pháp có thái độ tán thành, Hội ANAI, các chính đảng phái hữu, và Ủy ban hành động của người Việt, sẽ huy động cựu chiến binh gồm thương binh và gia đình tử sĩ trận chiến VN-1, cùng với thuyền nhân, người tị nạn CS mọi quốc tịch, các đoàn thể như Hội Y sĩ Thế giới, Hội Nhân quyền, v. v… xuống đường liên tiếp khắp nơi. Kết quả là chính phủ Pháp hứa đứng ngoài không bỏ phiếu nếu Đại hội đồng UNESCO thảo luận Nghị quyết đề cao HCM.
Tuy nhiên, như đã dự đoán, Tiểu ban Văn hóa với đa số thuận, đã có một Nghị quyết ghi vào nghị trình Đại hội đồng UNESCO năm 1987 danh sách sẽ được tuyên dương năm 1990 gồm 7 nhân vật: Phya Anuman Rajadhon (Thái Lan), Thomas Munzer (Đông Đức), Anton Semionovitch Makarenko (Liên Xô), HCM (Việt Nam), Jawaharlal Nehru (Ấn Độ), và Sinan (Thổ Nhĩ Kỳ). Lời tuyên dương HCM dùng trọn bản văn do phái đoàn CSVN soạn (President HCM, Vietnamese hero of national liberation and great man of culture : Chủ tịch HCM, anh hùng giải phóng dân tộc VN và nhà văn hóa lớn), cũng như lời tuyên dương các nhân vật khác do phái đoàn quốc gia liên hệ đề nghị – được Đại hội đồng thông qua không thảo luận.
Ủy ban đành chuyển qua vận động giảm thiểu tầm vóc tổ chức kỷ niệm. Hai biến cố thời sự đem lại thời cơ thuận lợi cho hành động của Ủy ban và các đồng minh :
- Ông M’Bow thất cử, Ông Frederico Meillor nhân sĩ Tây-Ban-Nha (Espagne), thay thế làm Tổng Thư Ký UNESCO.
- Rồi những chính thể Cộng sản ở Đông Âu kế tiếp sụp đổ;
- Chấn động vang dội nhất là sự phá hủy “bức tường ô nhục” ở Berlin, Đức quốc và
- Sự thống nhất Đức quốc sớm  hơn các lời tiên đoán.
- Sự phát triển mạnh mẽ của trào lưu dân chủ có hiệu lực xóa bỏ luôn những công trình bưng bít, thổi phồng, hóa trang, của guồng máy tuyên truyền cộng sản.
Bộ mặt thực của mô hình chế độ cộng sản, của các lãnh tụ tối cao Staline, Mao Trạch Đông, HCM, Ceaucescu, Kim Nhật Thành, v. v… dần dần bộc lộ, làm tiêu tan những hình ảnh thần tượng tuyệt đỉnh hoàn mỹ dựng lên từ mấy chục năm.
Ủy ban được vị tân Tổng Thư Ký Frederico Meillor trả lời là không thể hủy bỏ Nghị quyết 1987 ghi nhận đề nghị của VN về việc kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông HCM năm 1990 (vì cần phải có một Nghị quyết khác của Đại hội đồng), nhưng UNESCO sẽ không tổ chức kỷ niệm và không can dự bất cứ hành động nào để vinh danh HCM tại trụ sở Paris.
Thực tế là ngân sách UNESCO do ông soạn thảo sẽ không dự trù ngân khoản cho công việc đó. Việt Nam cùng nước nào muốn cử hành lễ sinh nhật bách niên của HCM là tùy ý riêng, không liên quan gì tới UNESCO cả. Do đó, Ủy ban nhận định rằng công tác mà cộng đồng ủy nhiệm đạt kết quả tương đối thỏa mãn.
- Ủy ban quyết định chấm dứt chiến dịch thư phản kháng;
- Đình chỉ việc lập hồ sơ, ấn hành hắc thư tố cáo tội ác HCM và CSVN;
- Không trù liệu tập họp, biểu tình phản đối kỷ niệm sinh nhật HCM bởi UNESCO vì sự việc ấy sẽ không xảy ra.
- Nhưng Ủy ban tiếp tục theo dõi nội vụ để phản ứng khi cần thiết.
Quả nhiên trước ngày 19.5.1990, Ủy ban được tin rằng CSVN loan báo mập mờ kỷ niệm trọng thể sinh nhật bách niên của HCM tại phòng khánh tiết UNESCO.
Một số văn công nghệ sĩ từ quốc nội sang, gồm đoàn múa rối nước, sẽ trình diễn trong buổi lễ, phụ thêm triển lãm và tiếp tân.  Tổng thư ký Nguyễn Văn Trần lập tức tới gặp ông Giám đốc Đông Nam Á Vụ UNESCO để chất vấn, mang theo thiệp mời của sứ quán in hình HCM với bối cảnh là trụ sở UNESCO.
Nhà chức trách đó cho hay UNESCO tiếp đơn giữ chỗ trước, đã theo qui lệ cho sứ quán mướn 2 căn phòng thường dành cho mọi sinh hoạt của thành viên mà thôi. Ông không hay biết chương trình tổ chức, và nếu có thiệp mời, chắc chắn ông Tổng Thư Ký cùng các cộng sự viên sẽ không tham dự.
Ông ghi nhận lời phản đối hợp lý của Ủy ban, bảo đảm Văn phòng sẽ đòi sứ quán hủy bỏ thiệp mời có thể gây ngộ nhận. Hội ANAI tiếp xúc với Bộ Ngoại giao Pháp, cũng được xác nhận không có đại diện chính quyền, nhân viên chính phủ, đại diện quốc hội, đại diện Đô thành Paris, tham dự lễ kỷ niệm hay tiếp tân, triển lãm, sứ quán CSVN dự liệu.
Sau đó, sứ quán CSVN đã phải thu hồi thiệp mời in hình HCM gửi cho ngoại giao đoàn, thành viên UNESCO, các nhân vật chính quyền và dân sự Pháp …Ê mặt … Thiệp chỉ sử dụng với tính cách nội bộ để mời Việt kiều.
Một đặc phái viên của Ủy ban tới trụ sở UNESCO ngày 19.5.1990 để kiểm tra, báo cáo rằng chung cuộc, sứ quán CSVN chỉ mướn một phòng sinh hoạt nhỏ thay vì hai (gồm thêm một phòng lớn có sân khấu). Nhân số hiện diện khoảng chừng 60, 70 tân khách; hầu hết là hội viên Việt kiều “Yêu nước”. Lác đác vài khuôn mặt ngoại quốc, phỏng đoán là đảng viên cộng sản Pháp, thành viên các phái đoàn thân hữu với chế độ như Cuba, Trung quốc, Bắc Hàn, Miên, Lào.
Một cuộc biểu tình phản kháng vào đúng giờ khắc buổi kỷ niệm của sứ quán CSVN qui tụ hơn một trăm người đã diễn ra ở công trường Fontenoy gần trụ sở UNESCO. Hành động do Ủy ban Quốc tế Trần Văn Bá, không phải là thành viên Ủy ban Tố cáo Tội ác HCM (vì chưa ra đời năm 1987), đề xướng. Hai đại diện đoàn biểu tình là ông Trần Văn Tòng và ký giả Olivier Tod đến trụ sở UNESCO đưa lời phản kháng đã được ông Giám đốc Đông Nam Á Vụ tiếp kiến.
Khi nghe xong lời trình bày về lập trường và thái độ của cơ quan Liên Hiệp Quốc, sự can thiệp của Ủy ban Tố cáo Tội ác HCM và các biện pháp đã thỏa hiệp, hai vị đại diện đồng ý là UNESCO vô can; đoàn biểu tình sẽ chỉ tập trung hành động để đả đảo sự vinh danh HCM, người có tội trước lịch sử nhân loại đã tàn hại đất nước và dân tộc Việt Nam và hai nước láng giềng Mên Lào.
Ủy ban Tố cáo Tội ác HCM chính thức giải tán cuối tháng 5-1990.
Đáng tiếc là Ủy ban không chủ trương quảng bá thành quả công tác vì cho rằng đó chỉ là bổn phận, nên còn có thể có dư luận thiếu chính xác ngay tại Pháp về thủ đoạn của đảng CS mập mờ sử dụng danh nghĩa UNESCO đánh bóng hình tượng HCM.
Nghiêm Văn Thạch www.hon-viet.co.uk – 2005
2. UNESCO & HCM
Bùi Tín – Paris15 Aug 2005
 (Trích từ cuốn sách “San sẻ tình yêu thương”, viết riêng cho tuổi trẻ trong và ngoài nước của nhà báo Bùi Tín, sẽ ra mắt bạn đọc tháng 9 này).
- Thế còn việc UNESCO suy tôn HCM là “Danh nhân Văn hóa Thế giới” thì thế nào ?  Người bảo có, người bảo không, sự thật là thế nào ?
Tôi đã dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch HCM tại Hội trường Ba đình Hà Nội vào ngày 19-5-1990, có một số bạn bè quốc tế dự đến từ Liên Xô, Trung Quốc, Cu-ba, Bắc Triều Tiên, Lào, Cam-bốt, Pháp, Anh, Angiêri…  Tôi gặp ông A. Patti (người Mỹ, trong tổ chức tình báo OSS từng có mặt ở Việt Bắc và Hà Nội hồi Cách mạng Tháng Tám 1945) tại đây; có ông R.Chandra, người Ấn Độ, nguyên trước kia là chủ tịch Hội đồng Hoà bình Thế giới dự.
Không có đại diện nào của UNESCO. Và cũng không ở đâu UNESCO đứng ra tổ chức lễ kỷ niệm cảTôi đã đến hỏi tại trụ sở chính của UNESCO ở Paris. Đầu đuôi là thế này.
UNESCO có nếp làm việc : nhân kỷ niệm ngày sinh những nhân vật nổi bật của các nước thành viên vào những năm chẵn thứ một trăm (năm sinh lần thứ 1, 2, 3 , 4 hay 5 trăm năm) thì các nước gửi đề nghị đến UNESCO, UNESCO ghi nhận, xem xét và khuyến cáo các nước thành viên tham gia và Chủ tịch UNESCO có thể ủng hộ, hỗ trợ các nước ấy nếu cần.
Vì đây là tổ chức về giáo dục, khoa học và văn hoá nên người được đề nghị phải có hoạt động nổi bật về 1 trong 3 mặt này.
Cuộc họp của Đại hội đồng UNESCO lần thứ 24 ngày 20/10 – 20/11 năm 1987 tại Paris xét đề nghị ngày 14-7-1987 của bộ trưởng Võ Đông Giang, chủ tịch UNESCO của Việt Nam, thông báo rằng Việt Nam sẽ tổ chức trọng thể kỷ niệm ngày sinh lần thứ 100 của Chủ tịch HCM vào dịp 19-5-1990, chủ tịch HCM còn là “nhà văn hoá xuất sắc của Việt Nam”; cuộc họp quyết nghị (bằng một Nghị quyết ghi nhận đề nghị của VN) :
- ghi nhận (noter) thông báo của Việt Nam;
- khuyến cáo (recommander) các Nước hội viên tham gia kỷ niệm;  
- yêu cầu (prier)  Ngài Tổng giám đốc UNESCO ủng hộ (soutenir) việc kỷ niệm, nhất là ở Việt Nam.
- Cùng trong  phiên họp này, UNESCO ghi nhận đề nghị của Liên Xô  kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của ’’nhà văn và nhà giáo dục lớn‘’ Semionovitch Makarenko; ghi nhận đề nghị của Cộng hoà Liên bang Đức về kỷ niệm lần thứ 500 ngày sinh của nhà ‘’tiên tri cấp tiến’’ (prédicateur progressiste) Thomas Mùnzer ; ghi nhận đề nghị của Thái Lan về kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của nhà phê bình văn học uyên bác Phya Anuman Rajadhon; và cuối cùng là đề nghị của Thổ Nhĩ Kỳ (Turquie) về kỷ niệm 400 năm ngày sinh của ‘’nhà kiến trúc kiệt xuất’’ Sinan, từng xây dựng nhà thờ Hồi giáo kỳ vỹ Suleymaniye giữa thủ đô Istanbul cùng nhiều công trình ở vùng Balkan và các nước Ả-rập, đều vào dịp 1990.
Nhưng sau đó, một số thư từ, kiến nghị, bài báo gửi đến UNESCO phản đối mạnh mẽ về ông HCM trong Nghị quyết này, suốt cả năm 1988, 1989 và đầu năm 1990, nêu bật sự kiện thuyền nhân và trại cải tạo, của chính những người trong cuộc với phim ảnh kèm theo, nêu rõ bản chất chế độ đàn áp tàn bạo do ông HCM lập nên, một chế độ phi nhân – phản văn hoá. UNESCO còn tiếp hàng chục đoàn đại biểu từ Pháp, Mỹ, Anh chống đối việc UNESCO dính vào một việc không được dư luận tán đồng.
Thế là ông chủ tịch UNESCO quyết định lờ đi, không tham gia việc kỷ niệm để bảo toàn uy tín tổ chức quốc tế này.
Còn Chính phủ Việt Nam làm gì thì tùy họ. Vì chưa đến cuộc họp sau nên vấn đề này không đưa ra Đại hội đồng UNESCO.
- Trước ngày kỷ niệm 19-5-1990, 2 sự kiện dồn đến. Bức tường Berlin đổ sập; một loạt chế độ Cộng sản Đông Âu tan rã. Hà Nội mất một loạt đồng minh. Tổng giám đốc UNESCO Amadou M’Bow người châu Phi bê bối về tài chính bị thay thế bởi ông Frederico Leillor người Tây Ban Nha; ông này ra hẳn chủ trương :
UNESCO không tổ chức cũng không tham dự một hình thức nào kỷ niệm ông Hồ; ông cũng nói rõ: không có khoản tiền nào của UNESCO để chi cho việc này nữa.
Đến ngày kỷ niệm, Sứ quán Việt Nam ở Paris vất vả chạy vạy thuê một phòng nhỏ ở trụ sở UNESCO để vớt vát thể diện.
Ban quản trị trụ sở UNESCO còn giao hẹn không được treo ảnh và apphích ngoài hành lang, giấy mời chỉ được ghi là dự một tối văn nghệ. 
Giấy mời của sứ quán in hình trụ sở UNESCO làm nền bị Văn phòng UNESCO phản đối là “không được phép, không nghiêm chỉnh” (incorrect) phải huỷ.
Một đoàn múa rối nước từ Hà Nội sang biểu diễn; cuộc kỷ niệm dự định vài trăm, chỉ có dưới một trăm người Việt của sứ quán và Hội Việt kiều “yêu nước” cùng mươi người của đảng CS Pháp.
Đầu đuôi câu chuyện là thế. Cái gọi là “Bác Hồ chúng ta được UNESCO của Liên Hợp Quốc ra Nghị quyết tuyên dương, công nhận là anh hùng dân tộc và danh nhân văn hoá thế giới, và UNESCO tổ chức long trọng lễ kỷ niệm”  hóa ra là thế. Cần rõ ràng, minh bạch như vậy. @@@
Bùi Tín – 15-8-2005
@@@ Nghĩa là có nộp đơn xin thi “hoa hậu”, Ban Tổ chức có ra Nghị quyết chấp nhận đơn xin thi. Nhưng sau 3 năm, đến ngày thi, 1990, thì bị Ban Tổ chức đánh hỏng. Sự thật trần trụi chính xác là như thế và chỉ có thể hiểu đúng như thế. BBT. @@@
12
0
i
Rate This
Quantcast


Đăng trong Bùi Tín, Hồ Chí Minh, Nghiêm Văn Thạch, Sự thật Dân cần biết
Be the first to like this post.

7 Responses to Lật tẩy CSVN lạm danh UNESCO Để lừa gạt có hệ thống 86 triệu Dân VN & Quốc tế suốt 20 năm qua

  1. Huong Nguyen
    Cám ơn ông “Lão Móc”.  Câu hỏi này tôi dành cho ông Bùi Tín, để chính ông xác nhận với cộng đồng người Việt.
    0
    0
    i
    Rate This
    Quantcast

  2. Phạm Quang Nghị và TH VNOnline ĐÃ LỪA Bà IRINA BOKOVA (UNESCO)
    http://vietnamsaigon.multiply.com/journal/item/726/726
    UNESCO đã xác định là không hề xem HCM là một danh nhân văn hoá như các báo và truyền thông CSVN đã tuyên truyền bịa ra nhằm lừa gạt nhân dân trong nước bao lâu nay.
    1)  UNESCO đã HUỶ BỎ NGHỊ QUYẾT VINH DANH và
    2) TỪ CHỐI KHÔNG THAM DỰ   (Lễ kỷ niệm 100 năm Hồ Chí Minh) và
    3) KHÔNG CÔNG NHẬN Hồ chí Minh là danh nhân Thế giới khi Chính Phủ Hà Nội đã mời tham dự lễ kỷ niệm 100 năm sinh nhật Hồ Chí Minh vào năm 1990.
    http://vietnamsaigon.multiply.com/photos/album/14
  1. Pingback: Lật tẩy CSVN lạm danh UNESCO Để lừa gạt có hệ thống 86 triệu Dân VN & Quốc tế suốt 20 năm qua | dânlầmthan
  2. Pingback: Lật tẩy CSVN lạm danh UNESCO Để lừa gạt có hệ thống 86 triệu Dân VN & Quốc tế suốt 20 năm qua | dânlầmthan
  3. Huong Nguyen
    Thành lập đảng CSVN, tiến hành cách mạng theo đường lối CS, ông Hồ phải chịu trách nhiệm trước Lịch Sữ Việt-Nam về những tang thương của dân tộc.
    Người Việt-Nam có truyền thống kính trọng người lớn tuổi nhưng đối với những “tội ác” của ông HCM, gọi ông ta là “ông” là đã thể hiện 1 cố gắng lịch sự rất lớn rồi.  Nhận mình là 1 người phản tỉnh, trong lần viếng thăm California tháng rồi(?), ông Bùi Tín khi phát biểu trên truyền hình gọi ông Hồ là “Cụ Hồ”, một cách gọi cho những người đáng được tôn kính, ông Bùi Tín có giải thích gì?
    2
    1
    i
    Rate This
    Quantcast

    • Xin góp ý với Huong Nguyen:
      Ký giả Al Santoli đã có nhận xét ngay khi ông Bùi Tín đưa ra Kiến nghị của một công dân vào năm 1992: “Con bài Bùi Tín giống như những thủ đoạn chính trị mà Hà Nội đã dùng trước năm 1975 để đạt được những thắng lợi của họ.”