http://vn.360plus.yahoo.com/tuanddk/article?mid=5123
Sáng nay, giở Tuổi trẻ ra đọc, mình mới biết đã mắng oan một bạn cùng phòng. Bảo đi làm tin phiên họp thứ 38 của Ủy ban thường vụ QH, người này cứ nhem nhẻm cãi: Cấm báo anh ơi. Mình bảo: Cấm là cấm thế đéo nào, chuẩn bị cho bầu cử thì có gì mà cấm. Lại bảo: Ai? ở đâu quy định thường vụ QH họp là bí mật mà bảo cấm. Hóa ra, Tuổi trẻ cũng đăng lại tin của TTX thật.
Giở lại thông cáo báo chí Chương trình phiên họp, từ 14 đến 19-2 thì thấy các cơ quan thông tấn báo chí không tham dự về những vấn đề sau: 1- Ngày khai mạc phiên họp. Mà ngày khai mạc không cho tham dự có nghĩa là về nguyên tắc sẽ không biết được nội dung của kỳ họp. 2- Chiều ngày 14, buổi cho ý kiến về việc chuẩn bị Báo cáo công tác nhiệm kỳ của Chánh án. 3- Chiều ngày 15, buổi cho ý kiến về việc chuẩn bị Báo cáo công tác nhiệm kỳ của Chủ tịch nước. 4- Sáng ngày 16, buổi cho ý kiến về việc chuẩn bị Báo cáo công tác nhiệm kỳ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. 5- Chiều ngày 17, buổi cho ý kiến về báo cáo công tác nhiệm kỳ khóa XII của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội. 6- Chiều ngày 18, từ 15 giờ 30 phút, đây là quãng Thường vụ nghe Chính phủ báo cáo về việc Tập đoàn dầu khí Việt Nam sử dụng ngân sách nhà nước năm 2011. 7- Chiều ngày 19, buổi cho ý kiến một số vấn đề về công tác chuẩn bị nhân sự đại biểu Quốc hội chuyên trách khóa XIII.
6 ngày họp, 7 buổi cấm lai vãng.
Những nội dung thì tham dự như bình thường.
Thảo nào bạn cùng phòng bảo: Kỳ này xin nghỉ, vì chả có gì. Mình bảo: Ừ nghỉ, nhưng không phải là vì không có gì đâu đấy nhé.
Bây giờ, làm báo nhiều khi cũng sướng. Cái gì tế nhị cứ TTXVN mà phang, tội đâu “thằng TTX” nó chịu. Nhưng đến cỡ Tuổi trẻ cũng lấy lại TTX thì mình nghĩ các báo khác cần quái gì đăng lại, tốn tiền bạn đọc, có lẽ lần sau chỉ cần đưa rằng “Tin họp thường vụ QH mời bạn đọc tìm đọc trên TTX”, tất nhiên có cả trên Vê tê vê, trên báo Nhân Dân nữa (Cái này được gọi là bộ tam tam thì phải). Mình có cậu bạn, tên Huy Boom, từ độ chuyển sang TTX đâm ra lại khó gặp. Thật tình cờ và thật bất ngờ, 8h sáng nay mình gọi điện xin gặp, cậu chàng cáu nhặng lên, chắc gắt ngủ. Khỉ thật, không biết làm ở TTX rồi thì bao lâu nữa hình dáng của nó chuyển từ thuôn thuôn hình cái bơm xe ra thành tròn tròn như cái bát tô. Mình nghĩ làm TTX sướng thật. Đương nhiên được mời đi họp, đương nhiên được đưa tin, đương nhiên định hướng cho các cơ quan chuyên tưởng mình có cái quyền thứ tư to tướng là định hướng dư luận.
Chuyện này làm mình nhớ lại anh Minh Tuấn, giờ đã bỏ báo, làm giáo sư ngôn ngữ ở Tokio. Hồi xưa, có lần mình nhớ anh Minh Tuấn mắng như hát hay giữa chiếu chèo ĐĐK rằng: Chi bộ họp quái gì mà cứ lén la lén lút, cứ phải buông rèm. Nghe nói họp chi bộ ở đâu cũng phang nhau kinh lắm- cái đó gọi là phê và tự phê thì phải- nhưng đến lúc rèm kéo lên, ai nấy thảy đều tươi tỉnh. Hỏi: Có gì không? Đáp: Không.
Nhưng cái gì cũng buông rèm thì biết lấy gì mà viết. Dù là viết kiểu bị buồng rèm! Đấy, chiều nay Thường trực Chính phủ họp với các Tổng 90-91, các “đầu tàu của nền kinh tế” đấy. Mình gọi cho một cậu bạn bên VPCP, bảo: Có cách nào cho anh vào nghe với. Nó bảo: Ông ở trên mây à. Bàn toàn chuyện lớn cả đấy. Ối chao, hóa ra Chính phủ họp triển khai nhiệm vụ với các “đầu tàu” cũng lại là chuyện buông rèm, cũng lại là những thông tin chỉ có bộ tam tam được vào ngồi nghe và định hướng lại cho các cơ quan định hướng dư luận. Đành bảo: Hay chiều cho anh cái bóc băng, chứ không lẽ lại mời bạn đọc mai tìm báo Nhân Dân?!
20/2/11
Khi chiến tranh biên giới 1979 không địch nổi đám cưới Đan Lê
bởi Da Vàng
| Sự kiện đám cưới của Đan Lê được báo chí khai thác triệt để. |
Trong khi hàng trăm tờ báo chính thống không có một dòng nào về sự kiện oai hùng và cũng rất tan thương của dân tộc thì ngày hôm qua 16/02/2011 hàng loạt báo lại khai thác triệt để đám cưới của Đan Lê. Lướt nhìn qua một vài tờ báo, ta sẽ thấy những cái tít ấn tượng được giật lên, như Tiết lộ ảnh cưới Đan Lê – Khải Anh, Những bức ảnh đầu tiên về đám cưới Đan Lê – Khải Anh, Đan Lê – Khải Anh lặng lẽ tổ chức đám cưới, Đan Lê khóc trong đám cưới với Khải Anh, … thậm chí những chuyện như Vợ chồng Đan Lê chưa ra ở riêng cũng không được các báo bỏ qua.
Sự kiện chiến tranh biên giới chỉ được giới blogger và các trang báo nước ngoài nhắc tới.
Khi không nói hay không được nói đến một sự kiện lịch quan trọng trong của đất nước mà lại quá tốn giấy mực cho sự kiện Đan Lê không biết các nhà báo hay các báo có suy nghĩ gì không? Có cảm thấy hổ thẹn với lương tâm, với nghề nghiệp mình không? Chẳng lễ sự kiện Đan Lê đám cưới lại quan trọng đến thế sao?, …
Hàng loạt câu hỏi được đặt ra, dù biết rằng khi hỏi sẽ khiến không ít người thực sự đau lòng. Đau lòng cho những người con của tổ quốc đã ngã xuống khi xưa, đau vì những người làm báo hôm nay. Rất đau.
Nhưng sẽ không có gì bất ngờ khi mới đây, trên blog của mình, nhà báo Đào Tuấn cũng có nêu lên một thực tế khác, đó là bài viết Báo chí thời buông rèm. Theo Đào Tuấn thì báo chí thời nay đang bị cấm cửa ở những cuộc họp quan trọng. Chỉ có bộ ba báo được phép tham dự là Báo Nhân Dân, VTV, TTXVN mà thôi.
Phải chăng báo chí đang bị “tắc đường”? Khi nào có tín hiệu “đèn xanh” mới được viết, ngay cả những chuyện đáng viết? Và phải chăng những chuyện đại loại như Đan Lê thì cứ thoải mái mà khai thác, vì Đan Lê thì có ảnh hưởng gì đến ai, đúng không?
Ngẫm nghĩ mà buồn cho một thời kỳ quá “thảm hại” của báo chí. Khi mà Chiến tranh biên giới 1979 không địch nổi đám cưới Đan Lê thì thực sự chẳng biết nói gì hơn là buông tiếng thở dài ngao ngán.
Sự đời phũ phàng là vậy. Trong khi có người đang rầu cho báo chí VN thì chắc chắn cũng sẽ có người cười thầm và tâm đắc: Đan Lê muôn năm!
- Da Vàng
ÂM MƯU ĐÁNH TRÁO NGÔN NGỮ CỦA BỌN NGUỴ DANH CHỦ NGHĨA
VẤN ĐỀ TÙ CHÍNH TRỊ VÀ SỰ CẦN THIẾT LỘT TRẦN ÂM MƯU ĐÁNH TRÁO NGÔN NGỮ CỦA BỌN NGUỴ DANH CHỦ NGHĨA - Cung Trầm Tưởng
Cung Trầm Tưởng
Tặng Đỗ Ngọc Uyển và các bạn tù chính trị trọng chính danh khác
Vấn đề tù chính trị có một tầm vóc lịch sử: khoảng một triệu người miền Nam, gồm các quân dân cán chính và những người đi tìm tự do, đã bị cộng sản bắt giam, bỏ tù lâu ngày và đối xử thật tàn nhẫn. Quy mô và cường độ này đã khiến nó trở thành một vấn đề nhạy cảm, dễ lay động lòng người quốc gia mà lương tâm chưa chai đá. Trong lúc tuyệt đại đa số người Việt hải ngoại đều cảm thấy se lòng khi được nhắc nhở đến nó, thì một số ít không phải là tù chính trị đã nắm lấy và khai thác nó để đánh bóng tên tuổi và tạo sự nghiệp chính trị cho bản thân hơn là để giúp những người họ nói là muốn giúp. Họ có đứng ra tổ chức rầm rộ một cuộc họp mặt của một số gia đình tù chính trị nhằm tạo cho những người này cơ hội công khai vinh danh những ân nhân của mình.
Vở kịch diễn ra xoàng xĩnh, cường điệu, không thiếu những pha lố bịch. Với các diễn viên vỗ ngực rêu rao hết năm này qua năm khác rằng, nếu không có sự can thiệp ráo riết, kiên trì và hữu hiệu của họ với chính phủ Hoa Kì, thì đã không có sự ra đi tỵ nạn tại Mỹ của hàng trăm ngàn người tù chính trị và gia đình của những người này!!??
Dưới tác động của một thứ lên đồng tập thể, thể loại văn chương thậm xưng đã được sử dụng vô tội vạ. Có một ông trong một phút bốc hốt đã mượn dã sử Tầu để vật hoá bà trưởng ban tổ chức thành một “bát cơm phiếu mẫu”, tức nôm na là bát cơm của một bà mẹ giặt giũ quần áo, nhưng ở đây phải được hiểu không là bùa hộ mạng của nghề giặt mà là biểu tượng của một công ơn trời biển người thọ ơn phải ghi lòng tạc dạ và đền đáp suốt đời. Một ông khác trong một phút sảng ngôn đã đẩy sự cung kính lên tới mức siêu hình tôn giáo bằng ảo hóa bà ta thành một “bà tiên nhiệm mầu chan chứa lòng bác ái!!??” Thiển nghĩ cách tụng xưng này chỉ nên dành cho những bậc á thánh như Phật Bà Quan Âm hay Đức Mẹ Maria.
Vẫn với cái tâm lý trịch thượng của thứ “ma cũ bắt nạt ma mới”, nhóm người ấy không hiểu rằng, sau những ngày tháng đầu bỡ ngỡ nơi đất khách quê người, người tù chính trị đã sớm lấy lại được lòng tự tin và đã tỏ ra có một khả năng hội nhập vào nếp sống mới rất cao, khiến người dân bản địa phải trọng nể. Ngoài ra, với một mối hoài nghi có được từ một thực trạng không thiếu những kẻ đầu cơ chính trị giả nhân giả nghĩa, người tù chính trị đã tỏ ra sáng suốt hơn và do đó đã phát hiện được một số hạt sạn trong bát cơm phiếu mẫu người ta đưa cho mình. Ý người viết muốn nói: đó là những kẻ trước kia đã thủ lợi chiến tranh, nay lại muốn hưởng cổ tức hoà bình (peace dividend) trên sự thống khổ của đồng bào đang quằn quại dưới gót sắt của một chế độ tham tàn chưa từng thấy trong lịch sử của đất nước.
Phải chăng thái độ huênh hoang, tự cao tự đại của nhóm người trên xuất phát từ việc họ chủ quan cho rằng, dưới tác động của tuổi tác và một hậu chấn thương gây nên bởi nhiều năm tù đày khắc nghiệt, người tù chính trị chỉ muốn an phận thủ thường và do đó sẽ im lặng để cho họ mượn danh nghĩa mình để múa gậy vườn hoang, hoặc nếu có phản ứng thì sẽ chỉ phản ứng một cách yếu ớt hay chiếu lệ thôi.
Có lẽ đó là lý do tại sao họ đã tỏ ra sửng sốt và lung túng trước những phản ứng bất ngờ, mạnh mẽ, sắc bén và chững chạc từ phía người tù chính trị.
Thật ra, vì trân quý tình đoàn kết giữa những người đồng hương với nhau, người tù chính trị chỉ muốn sống khiêm nhường, hoà thuận với mọi người, kể cả những người đã coi thường mình, miễn là sự coi thường này đừng vượt ngưỡng cho phép của một xử thế coi tha nhân là một nhân cách phải được tôn trọng. Tiếc rằng những người ấy đã không nhận ra được lằn ranh tinh tế này - một điều kiện cần cho một tương quan xã hội cân đối, hài hoà và văn minh - nên người tù chính trị mới phải lên tiếng.
Ở một thời buổi khi những sinh hoạt quy mô của cộng đồng người Việt hải ngoại, kể cả các sinh hoạt thuộc lãnh vực bất vụ lợi như tôn giáo, cứu trợ nhân đạo và thờ phụng hương linh các tử sĩ đã vì nước hi sinh, thường hay bị lũng đoạn bởi những ý đồ chính trị không lành mạnh như hiện nay, hoài nghi chính trị là một đức tính cần thiết để tránh rơi vào những bẫy giăng trên đường đi tìm sự thật. Với hoài nghi này, người viết cảm thấy thắc mắc về việc một số người có ăn học và biết suy nghĩ đã hơn một lần gọi người tù chính trị là H.O., một mật ngữ của cộng sản. Khi ăn nói như vậy, quý vị có hiểu được cái ý đồ khuất tất núp sau mật ngữ này không?
H.O. thực ra chỉ là cách đánh số thứ tự (H 01, H 02…) trong danh sách xuất cảnh đi Mỹ của những người tù chính trị do cộng sản thiết lập chứ không phải là chữ viết tắt của cái chúng tung tin là Humanitarian Operation nhằm che đậy chân tướng việc làm của chúng. Nếu H.O. được hiểu theo nghĩa này, thì hoá ra sự đi Mỹ của những người tù chính trị và gia đình họ là do chính sách nhân đạo của cộng sản hay sao! Thực ra đây chỉ đơn giản là một nhượng bộ chính trị quan trọng của chúng để được bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ và được Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận kinh tế đang làm cho chúng sống dở chết dở. Đây mới là nguyên nhân cốt tủy của cái gọi là Humanitarian Operation, một đánh lận con đen nhằm tạo một ấn tượng giả: một chiêu bài ngôn ngữ không hơn không kém.
Với thắc mắc về việc từ ngữ H.O. bị thâm dụng bởi những người có ăn học và biết suy nghĩ ấy, người viết xin đặt ra một câu hỏi: họ ăn nói như vậy do thói quen hay có chủ ý?. Muốn trả lời chính xác câu hỏi này, ta phải biết được lập trường chính trị thực sự của đối tượng. Việc làm này không dễ bởi vì những người làm điều khuất tất thường khéo che giấu hành tung của họ. Tuy nhiên, đây trước hết là một vấn đề gọi tên, nên ta có thể dựa vào ngôn ngữ học để tìm hiểu nó.
Thoạt đầu, ta thấy có một hiện tượng ngôn ngữ là thời gian lịch đại và tần số sử dụng bào mòn con chữ và làm nó biến thể. Hãy lấy từ ngữ H.O. làm một dẫn chứng điển hình. Việc nó bị lặp đi lặp lại năm này sang năm khác với một tần số cao đã biến nó từ là tiếng lóng của một hội kín - ở đây là Sở Ngoại Vụ của công an cộng sản - thành một từ chính quy được sử dụng rộng rãi, thường xuyên và công khai trên các diễn đàn truyền thông và trong các buổi sinh hoạt của cộng đồng hải ngoại. Đó là nhận xét chung chung. Muốn biết được động cơ thực sự của thâm dụng này ta phải đặt nó vào bối cảnh của khí hậu chính trị hiện thời, một khí hậu không lành mạnh.
Ở trong một môi trường như vậy, nó khó mà không là một thâm dụng có ý xấu. Nói rõ hơn, nó khó mà không là một đích ngắm của cộng sản muốn dùng những hư chiêu ngôn ngữ để tạo ấn tượng giả và qua đó tha hoá người sử dụng, dựa trên một quy luật của tuyên truyền học: tần số tạo thành thói quen, và thói quen lâu ngày hoá thành bản tính. Hãy lấy một thí dụ: sau khi nhiều lần buột miệng nói ra vì thói quen từ ngữ H.O. chẳng hạn - được thiên hạ phiên âm thành Hát Ô hay Ếch Ô - người nói đã vô hình trung bị điều kiện hoá bởi tuyên truyền của cộng sản. Nói cách khác, họ đã tự nguyện một cách không tự nguyện tham gia vào trò chơi chữ bẩn thỉu của chúng. Họ đã tự biến mình thành một cái loa vô giác cho chúng: một sự vong thân thảm hại.
Ngoài ra, trong lãnh vực tâm lý quần chúng, cộng sản đã tỏ ra lãnh hội được bài học của Adolf Hitler, một tổ sư của khoa tuyên truyền hiện đại: “Người dân thường sẵn sàng bị đánh lừa bởi những lời nói dối lớn hơn là bởi những lời nói dối nhỏ. Bởi chính họ thường hay nói những lời dối trá nhỏ … nhưng lại cảm thấy xấu hổ khi phải dùng những lời dối trá lớn. Đầu óc họ không bao giờ nghĩ đến việc tạo ra những điều giả dối vĩ đại (colossal untruths) và không tin rằng những người khác lại có thể trâng tráo bóp méo sự thật một cách đê tiện như vậy.”
Gọi bọn chủ trương đánh tráo ngôn ngữ bằng gán cho sự vật một cái tên không phải của nó, một cái tên bị xâm thực bởi những tà ý chính trị, gọi bọn này là bọn ngụy danh chủ nghĩa. Trong từ vựng của chúng, người tù chính trị là một vô thể được khoác cho cái lốt tù cải tạo; và, tù cải tạo là tên gọi bóng bẩy của một thành phần bị coi là cặn bã của xã hội: người tù hình sự. Nói theo ngôn ngữ hình tượng, tù cải tạo là cái tốt mã, còn tù hình sự là con dẻ cùi, một loài chim phải ăn phân chó để tồn tại. Cái khốn nạn của ngôn ngữ cộng sản là như thế đó. Ở cuối vận động thoái hoá ngữ nghĩa này là sự ra đời của một định nghĩa quái gở - sự bẻ vặn ngôn ngữ - phản ánh một quan niệm pháp lí quái gở: người tù chính trị là một người tù hình sự không có án. Cách chơi chữ bằng thủ pháp đối lập này ẩn dụ một tương lai vô định, không biết bao giờ người tù chính trị mới được trả tự do để được về đoàn tụ với gia đình họ, cái phao cứu cuối cùng của đời họ.
Bây giờ ta hãy gấp quyển từ điển lại và bước vào hiện thực đời sống. Với tội danh lấp lửng không minh văn trên và với một chính sách đối xử dựa trên quan điểm trả thù giai cấp chĩa vào họ, người tù chính trị trên thực tế đã phải hứng chịu một hình phạt nặng hơn gấp đôi sự hình phạt đối với người tù hình sự. Bởi vì ngoài hình phạt thể xác, họ còn là đối tượng của một tra tấn tinh thần với liên miên những buổi gọi là học tập và kiểm thảo chính trị mà thực chất chỉ là cái cớ để đàn hặc, nhục mạ gay gắt, quất điếng tim gan và làm chảy máu nhân cách họ. Hậu quả tổng hợp của trận đòn não cân này và nỗi lo sợ triền miên trước một tương lai mờ mịt gây nên bởi cái tội danh lấp lửng trên đã làm cho một số không ít người tù chính trị bị mất trí hoặc tự tử vì tuyệt vọng. Cần phải ghi thêm vào bản liệt kê u ám này một hình thức khủng bố tinh thần khác ác liệt hơn gấp bội: những cuộc thẩm vấn gắt gao, căng thẳng của công an chấp pháp, tức bộ phận hỏi cung chuyên nghiệp, với hậu quả là làm cho người tù chính trị bị mất ngủ thường xuyên, tăng huyết áp và héo tàn thân thể. Trong trường hợp đối tượng bị xếp vào loại tình báo chiến lược bị nghi là trước kia đã nhờ vào kế hoạch cài người mà biết được đường đi nước bước của chúng, chúng bèn sử dụng biện pháp tối hậu: khai thác xong thì thủ tiêu.
Để có một ý niệm về mức độ tội ác của cộng sản, ta hãy nghe lời kể của một chứng nhân trở về từ cõi chết. Theo anh ta, tỷ số sống sót tại trại Cổng Trời, một trại chuyên giam tù chính trị, là cứ mỗi một trăm người vào thì chỉ có mười người ra. Tỷ số kinh dị này dẫn ta trở về một chỉ tiêu kinh dị khác của bộ công an cộng sản đặt ra cho nghiệp đoàn giết người của nó: thà giết lầm mười người còn hơn để lọt một tên phản động. Vẫn lại con số 10 hắc ám đó. Con số bùa chú của bọn đồ tể đỏ, viết bằng máu đỏ của hàng trăm ngàn người tù chính trị đã bị chúng thủ tiêu mất tích.
Xin xem bài viết có giá trị về vấn đề này của Đỗ Ngọc Uyển có tựa đề “Tội Ác Thủ Tiêu Mất Tích 165.000 Quân Dân Cán Chính VNCH” hiện còn được lưu trữ trên một số Websites toàn cầu. (http://teolangthang.blogspot.com/2010/01/toi-ac-thu-tieu-mat-tich-165000-quan.html)
Dĩ nhiên thời gian mang đến đổi thay. Nhưng, cơ bản, những Ba Khe, Tân Lập, Thanh Cầm, Thanh Phong, Nghệ Tĩnh, Gia Trung, you name it, vẫn chỉ là sự tái bản với dăm ba hiệu đính của những Cổng Trời, Sơn La, Thanh Liệt, Đầm Đùn, Lý Bá Sơ trước kia. Bởi vì trại tập trung là hệ luận tất yếu của logic chuyên chế vô sản toàn trị lấy trấn áp chính trị và thủ tiêu đối lập làm tiền đề để tồn tại.
Ta hãy trở lại với việc làm của bọn nguỵ danh chủ nghĩa. Chúng là đội quân du kích trên mặt trận chữ nghĩa của cộng sản. Để tiến hành âm mưu đánh lén nhằm trục lợi chính trị này, chúng chọn những khoảng xám của không gian ngôn ngữ làm đất dụng võ. Nghề ruột của chúng là đẻ ra một thứ hạ ngôn ngữ (sublanguage), ngôn ngữ địa đạo, ngôn ngữ chữ chi, ngôn ngữ chập chờn, ngôn ngữ bóng gió, ngôn ngữ ngụy trang, ngôn ngữ thò lò sáu mặt, ngôn ngữ ba que xỏ lá. Ngôn ngữ chợ đen của một băng đảng đỏ buôn lậu chữ nghĩa đã trên sáu chục năm rồi. Một ngôn ngữ tật nguyền, ngọng nghịu, làm thâm môi méo miệng bầy quỷ biện ngoắt ngoéo.
Tiếng súng đã tắt từ lâu. Nhưng chiến tranh văn hoá vẫn còn tiếp diễn. Thu nhỏ lại, đây là một ngữ chiến giữa người quân tử trọng chính danh và tên tiểu nhân nngụy danh chủ nghĩa. Trận chiến giữa công khai minh bạch ngoài ánh sáng và khuất tất lập lờ trong bóng tối này chỉ chấm dứt với sự sụp đổ của cộng sản và sự lên ngôi của một chế độ tự do, dân chủ, nhân bản vàtrọng chính danh. Tự do tư tưởng, tự do diễn đạt, tự do sáng tạo chỉ có thể đơm hoa kết trái nếu được gieo trồng và vun xới trên mảnh đất của một xã hội mở. Ở đây những hư chiêu ngôn ngữ sẽ bị nhổ đi như những cỏ dại để nhường chỗ cho những con chữ trung thực, những con chữ-sự vật, những con chữ gọi đúng tên sự vật. Gọi người tù chính trị là người tù chính trị chứ không là cái gì khác. Một người viết văn có ý thức, tự trọng và trọng chính danh hiểu rằng đây là đạo đức tự thân của ngôn ngữ học.
Minnesota, tháng 4 năm 2010
Cung Trầm Tưởng
Tặng Đỗ Ngọc Uyển và các bạn tù chính trị trọng chính danh khác
Vấn đề tù chính trị có một tầm vóc lịch sử: khoảng một triệu người miền Nam, gồm các quân dân cán chính và những người đi tìm tự do, đã bị cộng sản bắt giam, bỏ tù lâu ngày và đối xử thật tàn nhẫn. Quy mô và cường độ này đã khiến nó trở thành một vấn đề nhạy cảm, dễ lay động lòng người quốc gia mà lương tâm chưa chai đá. Trong lúc tuyệt đại đa số người Việt hải ngoại đều cảm thấy se lòng khi được nhắc nhở đến nó, thì một số ít không phải là tù chính trị đã nắm lấy và khai thác nó để đánh bóng tên tuổi và tạo sự nghiệp chính trị cho bản thân hơn là để giúp những người họ nói là muốn giúp. Họ có đứng ra tổ chức rầm rộ một cuộc họp mặt của một số gia đình tù chính trị nhằm tạo cho những người này cơ hội công khai vinh danh những ân nhân của mình.
Vở kịch diễn ra xoàng xĩnh, cường điệu, không thiếu những pha lố bịch. Với các diễn viên vỗ ngực rêu rao hết năm này qua năm khác rằng, nếu không có sự can thiệp ráo riết, kiên trì và hữu hiệu của họ với chính phủ Hoa Kì, thì đã không có sự ra đi tỵ nạn tại Mỹ của hàng trăm ngàn người tù chính trị và gia đình của những người này!!??
Dưới tác động của một thứ lên đồng tập thể, thể loại văn chương thậm xưng đã được sử dụng vô tội vạ. Có một ông trong một phút bốc hốt đã mượn dã sử Tầu để vật hoá bà trưởng ban tổ chức thành một “bát cơm phiếu mẫu”, tức nôm na là bát cơm của một bà mẹ giặt giũ quần áo, nhưng ở đây phải được hiểu không là bùa hộ mạng của nghề giặt mà là biểu tượng của một công ơn trời biển người thọ ơn phải ghi lòng tạc dạ và đền đáp suốt đời. Một ông khác trong một phút sảng ngôn đã đẩy sự cung kính lên tới mức siêu hình tôn giáo bằng ảo hóa bà ta thành một “bà tiên nhiệm mầu chan chứa lòng bác ái!!??” Thiển nghĩ cách tụng xưng này chỉ nên dành cho những bậc á thánh như Phật Bà Quan Âm hay Đức Mẹ Maria.
Vẫn với cái tâm lý trịch thượng của thứ “ma cũ bắt nạt ma mới”, nhóm người ấy không hiểu rằng, sau những ngày tháng đầu bỡ ngỡ nơi đất khách quê người, người tù chính trị đã sớm lấy lại được lòng tự tin và đã tỏ ra có một khả năng hội nhập vào nếp sống mới rất cao, khiến người dân bản địa phải trọng nể. Ngoài ra, với một mối hoài nghi có được từ một thực trạng không thiếu những kẻ đầu cơ chính trị giả nhân giả nghĩa, người tù chính trị đã tỏ ra sáng suốt hơn và do đó đã phát hiện được một số hạt sạn trong bát cơm phiếu mẫu người ta đưa cho mình. Ý người viết muốn nói: đó là những kẻ trước kia đã thủ lợi chiến tranh, nay lại muốn hưởng cổ tức hoà bình (peace dividend) trên sự thống khổ của đồng bào đang quằn quại dưới gót sắt của một chế độ tham tàn chưa từng thấy trong lịch sử của đất nước.
Phải chăng thái độ huênh hoang, tự cao tự đại của nhóm người trên xuất phát từ việc họ chủ quan cho rằng, dưới tác động của tuổi tác và một hậu chấn thương gây nên bởi nhiều năm tù đày khắc nghiệt, người tù chính trị chỉ muốn an phận thủ thường và do đó sẽ im lặng để cho họ mượn danh nghĩa mình để múa gậy vườn hoang, hoặc nếu có phản ứng thì sẽ chỉ phản ứng một cách yếu ớt hay chiếu lệ thôi.
Có lẽ đó là lý do tại sao họ đã tỏ ra sửng sốt và lung túng trước những phản ứng bất ngờ, mạnh mẽ, sắc bén và chững chạc từ phía người tù chính trị.
Thật ra, vì trân quý tình đoàn kết giữa những người đồng hương với nhau, người tù chính trị chỉ muốn sống khiêm nhường, hoà thuận với mọi người, kể cả những người đã coi thường mình, miễn là sự coi thường này đừng vượt ngưỡng cho phép của một xử thế coi tha nhân là một nhân cách phải được tôn trọng. Tiếc rằng những người ấy đã không nhận ra được lằn ranh tinh tế này - một điều kiện cần cho một tương quan xã hội cân đối, hài hoà và văn minh - nên người tù chính trị mới phải lên tiếng.
Ở một thời buổi khi những sinh hoạt quy mô của cộng đồng người Việt hải ngoại, kể cả các sinh hoạt thuộc lãnh vực bất vụ lợi như tôn giáo, cứu trợ nhân đạo và thờ phụng hương linh các tử sĩ đã vì nước hi sinh, thường hay bị lũng đoạn bởi những ý đồ chính trị không lành mạnh như hiện nay, hoài nghi chính trị là một đức tính cần thiết để tránh rơi vào những bẫy giăng trên đường đi tìm sự thật. Với hoài nghi này, người viết cảm thấy thắc mắc về việc một số người có ăn học và biết suy nghĩ đã hơn một lần gọi người tù chính trị là H.O., một mật ngữ của cộng sản. Khi ăn nói như vậy, quý vị có hiểu được cái ý đồ khuất tất núp sau mật ngữ này không?
H.O. thực ra chỉ là cách đánh số thứ tự (H 01, H 02…) trong danh sách xuất cảnh đi Mỹ của những người tù chính trị do cộng sản thiết lập chứ không phải là chữ viết tắt của cái chúng tung tin là Humanitarian Operation nhằm che đậy chân tướng việc làm của chúng. Nếu H.O. được hiểu theo nghĩa này, thì hoá ra sự đi Mỹ của những người tù chính trị và gia đình họ là do chính sách nhân đạo của cộng sản hay sao! Thực ra đây chỉ đơn giản là một nhượng bộ chính trị quan trọng của chúng để được bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ và được Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận kinh tế đang làm cho chúng sống dở chết dở. Đây mới là nguyên nhân cốt tủy của cái gọi là Humanitarian Operation, một đánh lận con đen nhằm tạo một ấn tượng giả: một chiêu bài ngôn ngữ không hơn không kém.
Với thắc mắc về việc từ ngữ H.O. bị thâm dụng bởi những người có ăn học và biết suy nghĩ ấy, người viết xin đặt ra một câu hỏi: họ ăn nói như vậy do thói quen hay có chủ ý?. Muốn trả lời chính xác câu hỏi này, ta phải biết được lập trường chính trị thực sự của đối tượng. Việc làm này không dễ bởi vì những người làm điều khuất tất thường khéo che giấu hành tung của họ. Tuy nhiên, đây trước hết là một vấn đề gọi tên, nên ta có thể dựa vào ngôn ngữ học để tìm hiểu nó.
Thoạt đầu, ta thấy có một hiện tượng ngôn ngữ là thời gian lịch đại và tần số sử dụng bào mòn con chữ và làm nó biến thể. Hãy lấy từ ngữ H.O. làm một dẫn chứng điển hình. Việc nó bị lặp đi lặp lại năm này sang năm khác với một tần số cao đã biến nó từ là tiếng lóng của một hội kín - ở đây là Sở Ngoại Vụ của công an cộng sản - thành một từ chính quy được sử dụng rộng rãi, thường xuyên và công khai trên các diễn đàn truyền thông và trong các buổi sinh hoạt của cộng đồng hải ngoại. Đó là nhận xét chung chung. Muốn biết được động cơ thực sự của thâm dụng này ta phải đặt nó vào bối cảnh của khí hậu chính trị hiện thời, một khí hậu không lành mạnh.
Ở trong một môi trường như vậy, nó khó mà không là một thâm dụng có ý xấu. Nói rõ hơn, nó khó mà không là một đích ngắm của cộng sản muốn dùng những hư chiêu ngôn ngữ để tạo ấn tượng giả và qua đó tha hoá người sử dụng, dựa trên một quy luật của tuyên truyền học: tần số tạo thành thói quen, và thói quen lâu ngày hoá thành bản tính. Hãy lấy một thí dụ: sau khi nhiều lần buột miệng nói ra vì thói quen từ ngữ H.O. chẳng hạn - được thiên hạ phiên âm thành Hát Ô hay Ếch Ô - người nói đã vô hình trung bị điều kiện hoá bởi tuyên truyền của cộng sản. Nói cách khác, họ đã tự nguyện một cách không tự nguyện tham gia vào trò chơi chữ bẩn thỉu của chúng. Họ đã tự biến mình thành một cái loa vô giác cho chúng: một sự vong thân thảm hại.
Ngoài ra, trong lãnh vực tâm lý quần chúng, cộng sản đã tỏ ra lãnh hội được bài học của Adolf Hitler, một tổ sư của khoa tuyên truyền hiện đại: “Người dân thường sẵn sàng bị đánh lừa bởi những lời nói dối lớn hơn là bởi những lời nói dối nhỏ. Bởi chính họ thường hay nói những lời dối trá nhỏ … nhưng lại cảm thấy xấu hổ khi phải dùng những lời dối trá lớn. Đầu óc họ không bao giờ nghĩ đến việc tạo ra những điều giả dối vĩ đại (colossal untruths) và không tin rằng những người khác lại có thể trâng tráo bóp méo sự thật một cách đê tiện như vậy.”
Gọi bọn chủ trương đánh tráo ngôn ngữ bằng gán cho sự vật một cái tên không phải của nó, một cái tên bị xâm thực bởi những tà ý chính trị, gọi bọn này là bọn ngụy danh chủ nghĩa. Trong từ vựng của chúng, người tù chính trị là một vô thể được khoác cho cái lốt tù cải tạo; và, tù cải tạo là tên gọi bóng bẩy của một thành phần bị coi là cặn bã của xã hội: người tù hình sự. Nói theo ngôn ngữ hình tượng, tù cải tạo là cái tốt mã, còn tù hình sự là con dẻ cùi, một loài chim phải ăn phân chó để tồn tại. Cái khốn nạn của ngôn ngữ cộng sản là như thế đó. Ở cuối vận động thoái hoá ngữ nghĩa này là sự ra đời của một định nghĩa quái gở - sự bẻ vặn ngôn ngữ - phản ánh một quan niệm pháp lí quái gở: người tù chính trị là một người tù hình sự không có án. Cách chơi chữ bằng thủ pháp đối lập này ẩn dụ một tương lai vô định, không biết bao giờ người tù chính trị mới được trả tự do để được về đoàn tụ với gia đình họ, cái phao cứu cuối cùng của đời họ.
Bây giờ ta hãy gấp quyển từ điển lại và bước vào hiện thực đời sống. Với tội danh lấp lửng không minh văn trên và với một chính sách đối xử dựa trên quan điểm trả thù giai cấp chĩa vào họ, người tù chính trị trên thực tế đã phải hứng chịu một hình phạt nặng hơn gấp đôi sự hình phạt đối với người tù hình sự. Bởi vì ngoài hình phạt thể xác, họ còn là đối tượng của một tra tấn tinh thần với liên miên những buổi gọi là học tập và kiểm thảo chính trị mà thực chất chỉ là cái cớ để đàn hặc, nhục mạ gay gắt, quất điếng tim gan và làm chảy máu nhân cách họ. Hậu quả tổng hợp của trận đòn não cân này và nỗi lo sợ triền miên trước một tương lai mờ mịt gây nên bởi cái tội danh lấp lửng trên đã làm cho một số không ít người tù chính trị bị mất trí hoặc tự tử vì tuyệt vọng. Cần phải ghi thêm vào bản liệt kê u ám này một hình thức khủng bố tinh thần khác ác liệt hơn gấp bội: những cuộc thẩm vấn gắt gao, căng thẳng của công an chấp pháp, tức bộ phận hỏi cung chuyên nghiệp, với hậu quả là làm cho người tù chính trị bị mất ngủ thường xuyên, tăng huyết áp và héo tàn thân thể. Trong trường hợp đối tượng bị xếp vào loại tình báo chiến lược bị nghi là trước kia đã nhờ vào kế hoạch cài người mà biết được đường đi nước bước của chúng, chúng bèn sử dụng biện pháp tối hậu: khai thác xong thì thủ tiêu.
Để có một ý niệm về mức độ tội ác của cộng sản, ta hãy nghe lời kể của một chứng nhân trở về từ cõi chết. Theo anh ta, tỷ số sống sót tại trại Cổng Trời, một trại chuyên giam tù chính trị, là cứ mỗi một trăm người vào thì chỉ có mười người ra. Tỷ số kinh dị này dẫn ta trở về một chỉ tiêu kinh dị khác của bộ công an cộng sản đặt ra cho nghiệp đoàn giết người của nó: thà giết lầm mười người còn hơn để lọt một tên phản động. Vẫn lại con số 10 hắc ám đó. Con số bùa chú của bọn đồ tể đỏ, viết bằng máu đỏ của hàng trăm ngàn người tù chính trị đã bị chúng thủ tiêu mất tích.
Xin xem bài viết có giá trị về vấn đề này của Đỗ Ngọc Uyển có tựa đề “Tội Ác Thủ Tiêu Mất Tích 165.000 Quân Dân Cán Chính VNCH” hiện còn được lưu trữ trên một số Websites toàn cầu. (http://teolangthang.blogspot.com/2010/01/toi-ac-thu-tieu-mat-tich-165000-quan.html)
Dĩ nhiên thời gian mang đến đổi thay. Nhưng, cơ bản, những Ba Khe, Tân Lập, Thanh Cầm, Thanh Phong, Nghệ Tĩnh, Gia Trung, you name it, vẫn chỉ là sự tái bản với dăm ba hiệu đính của những Cổng Trời, Sơn La, Thanh Liệt, Đầm Đùn, Lý Bá Sơ trước kia. Bởi vì trại tập trung là hệ luận tất yếu của logic chuyên chế vô sản toàn trị lấy trấn áp chính trị và thủ tiêu đối lập làm tiền đề để tồn tại.
Ta hãy trở lại với việc làm của bọn nguỵ danh chủ nghĩa. Chúng là đội quân du kích trên mặt trận chữ nghĩa của cộng sản. Để tiến hành âm mưu đánh lén nhằm trục lợi chính trị này, chúng chọn những khoảng xám của không gian ngôn ngữ làm đất dụng võ. Nghề ruột của chúng là đẻ ra một thứ hạ ngôn ngữ (sublanguage), ngôn ngữ địa đạo, ngôn ngữ chữ chi, ngôn ngữ chập chờn, ngôn ngữ bóng gió, ngôn ngữ ngụy trang, ngôn ngữ thò lò sáu mặt, ngôn ngữ ba que xỏ lá. Ngôn ngữ chợ đen của một băng đảng đỏ buôn lậu chữ nghĩa đã trên sáu chục năm rồi. Một ngôn ngữ tật nguyền, ngọng nghịu, làm thâm môi méo miệng bầy quỷ biện ngoắt ngoéo.
Tiếng súng đã tắt từ lâu. Nhưng chiến tranh văn hoá vẫn còn tiếp diễn. Thu nhỏ lại, đây là một ngữ chiến giữa người quân tử trọng chính danh và tên tiểu nhân nngụy danh chủ nghĩa. Trận chiến giữa công khai minh bạch ngoài ánh sáng và khuất tất lập lờ trong bóng tối này chỉ chấm dứt với sự sụp đổ của cộng sản và sự lên ngôi của một chế độ tự do, dân chủ, nhân bản vàtrọng chính danh. Tự do tư tưởng, tự do diễn đạt, tự do sáng tạo chỉ có thể đơm hoa kết trái nếu được gieo trồng và vun xới trên mảnh đất của một xã hội mở. Ở đây những hư chiêu ngôn ngữ sẽ bị nhổ đi như những cỏ dại để nhường chỗ cho những con chữ trung thực, những con chữ-sự vật, những con chữ gọi đúng tên sự vật. Gọi người tù chính trị là người tù chính trị chứ không là cái gì khác. Một người viết văn có ý thức, tự trọng và trọng chính danh hiểu rằng đây là đạo đức tự thân của ngôn ngữ học.
Minnesota, tháng 4 năm 2010
Cung Trầm Tưởng
Việt Nam hóa Phật giáo ở Trần Nhân Tông
| Nguyễn Tài Đông, Tiến sĩ, Phó trưởng phòng Quản lý khoa học và Đào tạo, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Tạp chí Triết học | ||||||||||||
Xét từ nhiều góc độ, Trần Nhân Tông là một nhân vật lịch sử vĩ đại. Do vậy, việc một lần nữa đánh giá về ông trên các phương diện lãnh tụ đất nước, anh hùng dân tộc, Phật hoàng, nhà cải cách tôn giáo hay nhà triết học, v.v., là không hề đơn giản. Dưới mỗi một lăng kính, ông hiển hiện ra với một uy thế khiến chúng ta khâm phục. Nhưng, cái đáng quý là ở chỗ, tất cả những tư thế đó, giá trị đó, thành tựu đó lại được tựu trung vào một con người - Phật hoàng Trần Nhân Tông. Bài viết này đưa ra một số suy nghĩ về điểm nhấn Trần Nhân Tông trong tiến trình Việt Nam hoá Phật giáo với việc ông thành lập Thiền phái Trúc Lâm - giáo phái bản địa hóa đầu tiên ở Việt Nam. Việt Nam, từ khi giành lại được độc lập sau nghìn năm Bắc thuộc, từ triều Đinh đến Tiền Lê đều rất coi trọng Phật giáo, đặc biệt là triều Lý và Trần đều lấy Phật giáo làm quốc giáo, tạo nên cục diện “vua và sư cùng trị thiên hạ” (đế dữ tăng cộng thiên hạ). Song, các tông phái Phật giáo ở thời kỳ này đều được sáng lập bởi người nước ngoài, như Tì Ni Đa Lưu Chi (? - 594) là người Nam Thiên Trúc (Ấn Độ), sáng lập thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi; Vô Ngôn Thông (759? - 826), nhà sư đời Đường Trung Quốc, thành lập phái thiền Vô Ngôn Thông; Thảo Đường, cũng là nhà sư Trung Quốc thuộc Vân Môn tông, thành lập ra phái Thảo Đường. Việc ra đời Thiền phái Trúc Lâm đã kết thúc thời kỳ các tông phái Phật giáo Việt Nam do người nước ngoài sáng lập, chứng minh Phật giáo đã thực sự bắt rễ tại Việt Nam, thực sự được người Việt đương thời tiếp thu và phát triển. Nói cách khác, Phật giáo ở Việt Nam giai đoạn này không còn là Phật giáo Ấn Độ tại Việt Nam, cũng không phải là Phật giáo Trung Quốc tại Việt Nam, mà là Phật giáo Việt Nam. Bước chuyển trong quá trình bản địa hóa Phật giáo chính thức được đánh dấu bởi sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm. 1. Tiền đề thiền học của Trần Nhân Tông Ngay từ nhỏ, Trần Nhân Tông đã tỏ ra là người xuất chúng. Tam tổ thực lục còn ghi, Trần Nhân Tông “thánh tính thông minh, tài giỏi hiếu học, đọc hết các sách vở, thông suốt nội điển (kinh Phật) và ngoại điển (sách vở khác)” (thánh tính thông minh, đa năng hiếu học, thiệp lịch quần thư, thông nội ngoại điển); “thông thảo cả các vấn đề về thiên văn, lịch số, binh pháp, y dược, âm luật” (chí ư thiên văn, lịch số, binh pháp, y dược, âm luật, mạc bất giai tạo kỳ khổn áo). Việc tiếp xúc với các hệ tư tưởng khác, đặc biệt là Nho giáo và học thuyết Lão Trang, là một tiền đề quan trọng để sau đó, ông tập đại thành các tư tưởng Thiền học phức tạp thời bấy giờ. Đã có rất nhiều học giả nghiên cứu và phân tích sâu về những cá nhân (chủ yếu là thiền sư, đặc biệt là Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sỹ) ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng của Trần Nhân Tông. Tựu trung lại, đa phần các học giả khẳng định, ông chịu ảnh hưởng của các phái thiền vốn có tại Việt Nam trước đó, song từ trường phái nào thì có hai quan điểm khác nhau. Quan điểm đầu tiên cho rằng, Trần Nhân Tông có một ít ảnh hưởng từ phái Lâm Tế (Thiên Phong thiền sư phái Lâm Tế đã từng được Trần Thái Tông mời sang Việt Nam thuyết giảng Phật học), nhưng chủ yếu là ông chịu ảnh hưởng từ thiền phái Vô Ngôn Thông(1). Quan điểm thứ hai cho rằng, Trần Nhân Tông, cụ thể là Thiền phái Trúc Lâm, bắt nguồn trực tiếp và chủ yếu từ Thiền phái Thảo Đường. Đồng thời, theo quan điểm này, thiền phái Thảo Đường là do Lý Thánh Tông thành lập chứ không phải được xuất phát từ chính Thảo Đường. Chúng ta hãy xem xét đoạn sau: “Vậy là sau chủ trương và đường lối đoàn kết dân tộc cho sự nghiệp giữ nước, thì tư tưởng Thiền phái Trúc Lâm cho sự nghiệp Nam tiến của dân tộc là một đóng góp khác của vua Trần Nhân Tông cho lịch sử tư tưởng Việt Nam. Như ta đã thấy tư tưởng thiền phái này bắt nguồn từ thiền phái Thảo Đường do vua Lý Thánh Tông thành lập. Nó do thế có thể nói là một nối dài hay đúng hơn là một phát triển cao hơn của thiền phái Thảo Đường, nếu không nói là một hoá thân của thiền phái này” (2). Tuy nhiên, ngay sau đó, tác giả cũng trình bày: “Điều đáng tiếc là toàn bộ tư liệu về thiền phái Thảo Đường ngày nay đã hoàn toàn bị tán thất. Ta chỉ còn một bản tên duy nhất ghi lại thế thứ của dòng thiền này và được chép vào cuối sách Thiền Uyển tập anh. Vì vậy mọi bàn cãi về hệ tư tưởng của dòng thiền này tốt lắm thì cũng chỉ là những suy đoán, từ đó dễ đưa đến những nhận định thiếu cơ sở, đôi khi sai lầm” (3). Trong hai quan điểm trên, chúng tôi nghiêng nhiều về quan điểm thứ nhất. Trong sách Trúc Lâm Tuệ Trung Thượng Sỹ ngữ lục có một bức đồ tên là Lược dẫn thiền phái đồ, miêu tả các thế hệ thiền sư từ đời nhà Lý đến Trúc Lâm tam tổ, có đưa ra quan hệ truyền thừa như sau: Thông Thiền --> Tức Lự --> Ứng Thuận --> Tiêu Dao --> Tuệ Trung --> Trúc Lâm --> Pháp Loa --> Huyền Quang. Trong đó, Thông Thiền, Tức Lự và Ứng Thuận lần lượt là đệ tử đời thứ 13, 14 và 15 của Vô Ngôn Thông, điều này được thể hiện rõ ràng trong Thiền uyển tập anh. Tuệ Trung Thượng Sỹ, người ảnh hưởng lớn đến Trần Nhân Tông, là một học trò xuất sắc của Tiêu Dao. Ngoài ra, chúng ta cần nhớ đến một người nữa có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc tới Trần Nhân Tông là Trần Thái Tông. Vào năm 1236, Trần Thái Tông từng đến núi Yên Tử để tham kiến quốc sư Viên Chứng, Trúc Lâm đại sa môn, mà Viên Chứng lại là đệ tử của Thường Chiếu, truyền nhân đời thứ 12 của Vô Ngôn Thông. Bên cạnh đó, nếu xét về sắc thái tư tưởng thì rõ ràng, Thiền học của Trần Nhân Tông có nhiều điểm tương đồng với phái Vô Ngôn Thông (Vô Ngôn Thông được cho là theo đúng dòng thiền của Huệ Năng), nhất là các quan niệm “tức tâm tức Phật”, “vô niệm”,…
2. Quan niệm tâm chính là Phật (“tức tâm tức Phật”) Với Trần Nhân Tông, Việt Nam hóa Phật giáo không chỉ là sáng lập giáo phái, có ý thức trong việc xây dựng và củng cố một giáo hội Phật giáo thống nhất(4), mà còn là khẳng định tầm lý luận của Phật giáo Việt Nam, cụ thể ở đây là thiền học Việt Nam. Để đạt tới con đường giác ngộ, Trần Nhân Tông vừa sử dụng, vừa phát triển quan niệm của truyền thống Thiền Nam tông Trung Quốc (đại biểu là Huệ Năng và Thiền học Việt Nam) về “kiến tính”, “ngộ” và “giác”. Chúng ta có thể xuất phát từ quan niệm tâm chính là Phật của Trần Nhân Tông để tìm hiểu tư tưởng giải thoát, tư tưởng giác ngộ của ông. Xuất phát điểm của quan niệm tâm chính là Phật (tức Phật tức tâm), Phật ở trong tâm (Phật tại tâm trung) của Trần Nhân Tông là việc ông quan niệm tâm con người không được thanh tịnh là do bị “vô minh”, “tham ái” che mờ, bị phiền não, vọng niệm bịt kín. Chỉ cần loại bỏ được vọng niệm, ngay lập tức quay về tâm thanh tịnh là đạt đến giải thoát: “Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tính; Nửa ngày rồi tự tại thân tâm. Tham ái nguồn dừng, chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quý; Thị phi tiếng lặng, được dầu nghe yến thốt oanh ngâm” (Cư trần lạc đạo, đệ nhất hội) (5); “Dứt trừ nhân ngã thời ra tướng báu kim cương; Dừng hết tham sân mới lảu lòng màu viên giác” (Cư trần lạc đạo, đệ nhị hội); “Áng tư tài tính sáng chẳng tham, há vì ở Cánh Diều Yên Tử; Răn thanh sắc niềm dừng chẳng chuyển, lọ chi ngồi am Sạn non Đông” (Cư trần lạc đạo, đệ tam hội). Quan niệm tâm chính là Phật của Trần Nhân Tông đã kế thừa và phát triển học thuyết tư tưởng Nam Tông do Huệ Năng đề xướng. Bài phú chữ Nôm Cư trần lạc đạo (ở nơi trần thế mà vui với đạo) đã thể hiện rất rõ tư tưởng này. Quan niệm tâm chính là Phật (tức tâm tức Phật) của Trần Nhân Tông đóng vai trò làm nền tảng lý luận cho giáo nghĩa của ông. Theo ông, “Bản tính lặng yên trong trẻo, không thiện không ác” (Bản tính trạm ngưng, vô thiện vô ác); “Nên biết rằng tội và phúc vốn là không, nhân quả thực ra chẳng thật. Người người vốn đủ, ai nấy tròn đầy. Phật tính pháp thân như hình với bóng, lúc ẩn lúc hiện, chẳng dính chẳng rời” (Cố tri tội phúc bản không, tất cánh nhân quả phi thực. Nhân chi bản cụ, cá cá viên thành. Phật tính pháp thân, như hình như ảnh, tùy ẩn tùy hiện, bất tức bất ly) (Tam tổ thực lục). Như vậy có nghĩa là, con người, nhân sinh vốn không có thiện, không có ác, không tồn tại ranh giới giữa phúc và tội, trong mỗi một con người, ai ai cũng có Phật tính. Lý luận này cho rằng, người ta ai cũng có thể thành Phật. Sự phân biệt giữa Phật và chúng sinh chỉ ở chỗ giác ngộ hay không giác ngộ: “Nhân khuây bản nên ta tìm bụt; Đến cốc hay chỉn bụt là ta” (Cư trần lạc đạo, đệ ngũ hội); “Chuộng công danh, lồng nhân ngã, thực ấy phàm phu; Say đạo đức, dời thân tâm, định nên thánh trí. Mày ngang mũi dọc, tướng tuy là xem ắt bằng nhau; Mặt thánh lòng phàm, thực cách nhẫn vạn vàn thiên lý.” (Cư trần lạc đạo, đệ thập hội). Những mệnh đề “khuây bản”, “chuộng công danh”, “lồng nhân ngã” được Trần Nhân Tông đề cập đến chính là vọng tâm, do đó mới gọi là “thực ấy phàm phu”. Một khi người ta truy cầu đạo đức, đạt đến cảnh giới trí tuệ của bậc giác ngộ, thì Phật với ta có thể hợp nhất làm một. Trần Nhân Tông đã từng nói với đệ tử như sau: “Lỗ mũi thẳng xuống cửa mặt, lông mày vắt ngang hố mắt, há dễ tìm thấy được đâu? Nên hãy đi tìm cái đạo không thấy. Ba ngàn pháp môn cùng về tấc dạ. Hà sa diệu dụng thảy tại nguồn tâm. Cái gọi là giới môn, định môn, tuệ môn, các người không thiếu. Nên trở về mà tự nghĩ suy. Phàm những tiếng ho hắng, mày dương mắt nháy, tay cầm chân bước, đó là tính gì? Biết được tính đó là tâm gì, tâm tính rõ thông, thì cái gì đúng, cái gì là không đúng. Pháp tức là tính, Phật tức là tâm. Tính nào chẳng phải là pháp? Tính nào chẳng phải là Phật. Tức tâm tức Phật, tức tâm tức pháp, pháp vốn chẳng pháp. Tức pháp tức tâm, tâm vốn chẳng tâm, tức tâm tức Phật” (6). Có thể nói, “tính” và “pháp” ở đây chính là chỉ sự vật và quy luật của nó. Ông phát huy tác dụng của tâm đến vô hạn, cho rằng mọi sự vật đều giống như ý thức chủ quan của con người, chính vì vậy, “Phật” không phải nằm ở một nơi xa xăm nào đó, mà là ở ngay trong tâm của mỗi con người. Nếu tâm không giác ngộ, thì dù cho suốt đời niệm kinh thờ Phật cũng không thể thành chính quả. Như vậy, đối với Trần Nhân Tông, con đường hiện thực để thành Phật chính là sự giác ngộ của “bản tính” trong mỗi một con người, nhấn mạnh đến truy cầu nội tại từ trong tâm. Ông khẳng định: “Bụt ở trong nhà; Chẳng phải tìm xa” (Cư trần lạc đạo, đệ ngũ hội); “Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương; Di Đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực lạc” (Cư trần lạc đạo, đệ nhị hội); “Biết chân như, tin bát nhã, chớ còn tìm Phật tổ Tây Đông; Chứng thực tướng, nên vô vi, nào nhọc hỏi kinh Thiền Nam Bắc” (Cư trần lạc đạo, đệ tứ hội). Trần Nhân Tông khẳng định rằng, Phật tính nằm ngay trong tâm mình, không cần phải hướng ngoại, truy cầu ở sự vật. Trí tuệ Bát Nhã là vốn có của mỗi chủ thể, thấy được tính này thì lập tức trở thành Phật, không thấy được tính này thì lập tức là chúng sinh, vượt từ mê sang ngộ hoàn toàn là do bản thân. Chúng sinh hoặc Phật chỉ là các cảnh giới khác nhau của chủ thể, chứ không phải là có một chủ thể khác được mang tên “Phật”. Đồng thời, mê vọng phiền não và giải thoát chỉ là các hoạt động khác nhau của cùng một chủ thể, chứ không phải thoát khỏi chủ thể “phiền não” này để sang một “Bồ Đề” khác. Quan niệm về Phật tính này được ông phát triển từ quan niệm của Huệ Năng trong Pháp bảo đàn kinh: “Này thiện tri thức, người tiểu căn nghe pháp môn đốn giáo này giống như các loài cỏ cây có gốc rễ nhỏ, sẽ bị ngả nghiêng nếu gặp mưa to gió lớn, không thể nào sinh trưởng được… Trí Bát Nhã cũng không có lớn nhỏ, vì tất cả chúng sinh tự tâm mê ngộ không đồng, tâm mê tu hành hướng ngoại tìm Phật mà chưa ngộ tự tính, tức là tiểu căn. Nếu khai ngộ đốn giáo, chẳng chấp lấy hình tướng bên ngoài, chỉ ở trong tự tâm thường khởi chính kiến, phiền não trần lao thường chẳng ô nhiễm, tức là thấy tính” (Lục tổ đàn kinh. Bát nhã phẩm). Cái gọi là “ngộ tự tính” ở đây có những nghĩa khác biệt so với cách dùng từ quen thuộc của Phật giáo. Cái gọi là “tự tính” của Phật giáo là chỉ “tính thực hữu” của cá thể và vì vậy, từ giáo nghĩa nguyên thủy cho đến các tông phái đại thừa đều nói là “mọi pháp đều không có tự tính” (chư pháp vô tự tính). “Tự tính” mà Huệ Năng nói đến mang nghĩa “tính của tự mình”, tức là nói đến chủ thể tự do hoặc tính chủ thể thuần túy, do đó nếu tự thấy được tính chủ thể đó thì chính là đại giác. Cái gọi là “Phật” ở đây là chỉ cảnh giới ngộ của chủ thể, nếu ngược lại thì là chúng sinh. Chính vì vậy, Pháp bảo đàn kinh viết: “Không ngộ tức Phật là chúng sinh, khi niệm ngộ chúng sinh là Phật” (Bất ngộ, tức Phật thị chúng sinh; nhất niệm ngộ thời, chúng sinh thị Phật) (7). “Tính” mà Pháp bảo đàn kinh nói đến chính là “tính” mà tất cả các pháp hiện ra (biến hóa); “Tính bao chứa tất cả các pháp” (tính hàm vạn pháp) và “tất cả mọi pháp đều nằm ở tính” (nhất thiết pháp tại tự tính) đều không xa rời tính, đồng thời cũng không chỉ là tính. Chính vì vậy, tính vừa là siêu việt (xa rời mọi tướng, thể tính thanh tĩnh), vừa là nội tại (tất cả các pháp đều không khác với điều này). Sở dĩ từ cái trước mắt mà ngộ được cái siêu việt, mà lại không khác với tất cả, viên ngộ tất cả, chính là nhờ tác dụng thần diệu của tính. Nhờ vậy, có nhập và xuất, có thể và dụng, từ đó muôn việc thống nhất, không bị mơ hồ. Trong thế giới hiện thực, tính là chủ thể của sinh mệnh, là bản nguyên của vũ trụ. Tính hiển hiện ra thành tất cả, nhưng lấy tâm làm chủ. Tâm không chỉ là nhận thức, mà còn là hành vi, là sự vận động. Tri giác và vận động trực tiếp thể hiện lên tính - tác dụng của tự tính, chân tính và Phật tính. “Kiến tính thành Phật”, cần phải tự chứng nghiệm trong tâm thân của mình, chứ không phải là đi lĩnh hội từ sắc thân. Nếu như xuất phát từ sắc thân, thì tại sao lại không hướng đến núi sông trời đất?(8). Như vậy, Thiền tông Trung Quốc có đặc trưng cơ bản là “nội tại siêu việt”. Với tư cách là một tôn giáo, Phật giáo có các kinh điển để phát triển giáo nghĩa của mình, có hệ thống nghi thức quy củ và tuân thủ các giới luật, có các đối tượng để cúng bái, v.v.. Song, Thiền tông Trung Quốc từ Huệ Năng trở về sau đã vứt bỏ tất cả những thứ ngoại tại trên, không phải niệm kinh, chẳng cần trì giới, chẳng có bất cứ một nghi thức nào cần tuân thủ, cũng không cần phải sùng bái bất cứ ngẫu tượng nào, thậm chí đến việc xuất gia cũng không trở thành bức thiết, bắt buộc nữa; trở thành Phật, đạt tới cảnh giới Niết Bàn chỉ cần dựa vào cái tâm giác ngộ của bản thân, “Chỉ cần giác ngộ là tức khắc thành Phật, nếu vẫn mê muội thì chỉ là chúng sinh” (nhất niệm giác, tức Phật; nhất niệm mê, tức chúng sinh). Nghĩa là, con người đạt tới cảnh giới siêu việt, trở thành Phật hoàn toàn dựa vào tác dụng của bản tâm nội tại (9). Song, trên phương diện này, Trần Nhân Tông không hoàn toàn đi theo truyền thống Thiền Nam tông mà ngược lại, ông cương quyết xác lập quy tắc cho Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam. Ông rất chú ý đến các quy phạm đạo đức, không coi nhẹ tu dưỡng ngôn - hành, chú trọng mối quan hệ giữa “đốn” và “tiệm”. Điều mà Trần Nhân Tông liên tục nhấn mạnh đến chính là “bản tính thanh tịnh” và phương pháp để đem lại sự thanh tịnh cho bản tính vừa là “đốn ngộ”, vừa là “tiệm tu”. Bên cạnh việc coi trọng kiến tính, giác ngộ trong từng khoảnh khắc, từng sát na, ông cũng chú trọng đến việc mỗi người phải không ngừng tu dưỡng lời nói và hành vi của mình. Cư trần lạc đạo đệ nhị hội viết: “Xét thân tâm, rèn tính thức, há rằng mong quả báo phô khoe; Cầm giới hạnh, địch vô thường, nào có sá cầu danh bán chác. Ăn rau ăn trái, nghiệp miệng chẳng hiềm thửa đắng cay; Vận giấy vận sồi, thân căn có ngại chi đen bạc” và “Tích nhân nghì, tu đạo đức, ai hay này chẳng Thích Ca; Cầm giới hạnh, đoạn ghen tham, chỉn thực ấy là Di Lặc”.
4. Tinh thần nhập thế tích cực Một số học giả thường sử dụng khái niệm “bản địa hóa” khi đưa ra nhận định, đánh giá việc Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm đã kế thừa, phát triển Thiền Nam tông, thông qua Thiền Trúc Lâm để phản ánh một cách khái quát hiện thực cuộc sống dân tộc Việt và dùng Thiền Trúc Lâm để đưa ra lời giải cho các vấn đề xã hội và nhân sinh được xuất phát từ mảnh đất Việt Nam. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với cách sử dụng khái niệm “bản địa hóa”, song trong bài viết này, chúng tôi sử dụng khái niệm “Việt Nam hóa” chứ không phải là “bản địa hóa”; chủ yếu là để nhấn mạnh đến tính quốc gia dân tộc chứ không phải tính vùng văn hóa trong Thiền phái Trúc Lâm cũng như trong tư tưởng Thiền học của Trần Nhân Tông. Điểm khác biệt đầu tiên, dễ nhận thấy nhất giữa thiền phái Trúc Lâm và Thiền Nam tông Trung Quốc chính là ở người sáng lập của nó. Trước khi là Phật tử, Trần Nhân Tông là một hoàng tử, trước khi làm Trúc Lâm đầu đà, ông là vua của nước Việt. Trần Nhân Tông là một vị vua được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử, hay “vua hiền đời Trần” (Trần triều chi hiền vương - Đại Việt sử ký toàn thư). Trong thời gian trị vì, ông đã lãnh đạo nhân dân qua 2 cuộc chống xâm lược Nguyên Mông (1285 và 1287). Sau khi đánh thắng trận đánh quyết định Bạch Đằng, đứng trước lăng vua cha mình là Trần Thái Tông, nhìn chân những con ngựa đá trước lăng lấm lem do giặc đào phá, Trần Nhân Tông đã cảm khái thốt lên hai câu thơ nổi tiếng: “Xã tắc hai phen chồn ngựa đá, Non sông nghìn thuở vững âu vàng” (Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã, Sơn hà thiên cổ điện kim âu) (13). Trong Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, ông đã nêu lên rất rõ quan niệm yêu nước, gắn chặt “tam hữu” với “tứ ân”: "Tụng kinh niệm bụt, Chúc thánh khẩn cầu, Tam hữu tứ ân, Ta nguyền được bả”. Trong đó, tam hữu là dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu, đây chính là tam giới. Tứ ân là cha mẹ, chúng sinh, đất nước và tam bảo: hiếu dưỡng cha mẹ, quảng độ chúng sinh, bảo vệ đất nước và cung kính tam bảo"(14). Thánh Nghiêm pháp sư cũng trích dẫn câu chuyện Đức Phật Thích Ca yêu nước và bảo vệ tổ quốc trong Kinh Tăng Nhất A-hàm để chứng minh Phật giáo không những có quan niệm về tổ quốc mà còn chủ trương biết ơn đất nước, yêu nước. Tư tưởng của Trần Nhân Tông, nhất là tư tưởng thiền sau khi xuất gia, là tư tưởng nhập thế, kết hợp lý tưởng phật quốc và lý tưởng đất nước. Sau hai lần đại phá quân xâm lược triều Nguyên, ông thực hành chính sách trị quốc khoan hòa, ổn định xã hội, phát triển văn hóa. Trong bài dẫn cho bức họa “Tranh Đại sĩ Trúc Lâm xuống núi” (Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn chi đồ (15)) của học sĩ đời Nguyên là Trần Giám Như, Trần Quang Chỉ có đưa ra nhận xét như sau về Trần Nhân Tông: “Ông lấy lòng nhân để trị nước, lấy thành tín để phụng sự Trung Quốc, đối đãi với quần thần như tay chân, vỗ về muôn dân như con đỏ, rút bớt hình phạt, giảm nhẹ thuế khóa, thưởng phạt nghiêm minh” (Kỳ trị quốc dĩ nhân, kỳ sự Trung Quốc dĩ thành, ngộ quần thần như thủ túc, phủ bách tính như xích tử, khinh hình bạc phú, tín thưởng tất phạt). Như trên chúng tôi đã trình bày, Trần Nhân Tông rất có ý thức trong việc xây dựng Thiền phái Trúc Lâm mang nét đặc sắc của Việt Nam. Ông sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm, bên ngoài thì cử sứ thần sang Trung Quốc xin Đại tạng kinh, bên trong thì in ấn kinh điển Phật giáo, dựng chùa chiền, tô đắp tượng Phật. Phật giáo là một học thuyết hướng dẫn con người thoát khỏi “biển khổ”, là một loại triết học xuất thế. Mục đích giải thoát cũng chính là điều Trần Nhân Tông, với tư cách người sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm, truy cầu. Song, Trần Nhân Tông cũng đồng thời là một vị vua, hơn nữa lại là một vị vua có công lao to lớn đối với đất nước, nên mặc dù ông đã thoái vị xuất gia, nhưng vẫn còn nhiều quan hệ mật thiết với triều đình. Để phát triển mạnh mẽ thế lực của Thiền phái Trúc Lâm, ông đã rất ý thức trong việc sử dụng các quyền lực thế tục của mình. Tam Tổ thực lục còn ghi lại buổi lễ trọng thể Điều Ngự (tức Trần Nhân Tông) chính thức ủy cho Pháp Loa làm tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm, tham dự buổi lễ có cả vua Trần Anh Tông, các quan lại và tăng chúng nhằm củng cố uy tín của người lãnh đạo phái Trúc Lâm tương lai (16). Tuy Trần Nhân Tông tôn sùng Phật học, nhưng thái độ của ông đối với các học thuyết khác là một thái độ cởi mở, tôn trọng và tiếp thu trên cơ sở Thiền. Tam tổ thực lục còn ghi lại, năm Giáp Thìn (1304), Trần Nhân Tông “đi khắp các chốn thôn quê loại bỏ dâm từ, dạy dân thi hành mười điều thiện” (chu hành tụ lạc, hóa trừ dâm từ, giáo hành thập thiện). Rõ ràng là Trần Nhân Tông muốn lấy giáo nghĩa Phật giáo để trị nước, lấy đạo đức Phật giáo làm tiêu chuẩn cho đạo đức xã hội. Song, ở đây, cũng cần chú ý là, ông muốn loại bỏ dâm từ, song ông không có quan niệm về cái mà chúng ta gọi là “dị giáo”, không chủ trương loại bỏ các tôn giáo hay học thuyết khác để độc tôn Phật giáo. Ông không chỉ chủ trương phát triển tính đa dạng Phật giáo lấy Thiền phái Trúc Lâm làm cốt lõi, mà còn có khuynh hướng phát triển tính đa dạng tư tưởng lấy Phật giáo làm nền tảng. Chính vì vậy, ở thời ông và hầu hết cả thời Lý - Trần, bên cạnh việc Phật giáo được suy tôn thì Nho giáo và Đạo giáo cũng rất phát triển. Với tinh thần nhập thế, cởi mở và khai phóng như vậy, Trần Nhân Tông đã khiến giáo pháp Thiền phái Trúc Lâm trở thành cầu nối giữa triều đình và người dân. Thiền học của ông không chỉ dành riêng cho một tầng lớp quý tộc hay bó buộc trong triều đình, mà đối tượng của nó đã thực sự được mở ra cho tất cả mọi người, phù hợp với xã hội Việt Nam. Nhìn từ góc độ tư tưởng, quan niệm “tức tâm tức phật” và “vô niệm” của Trần Nhân Tông đã phủ định mọi bó buộc từ bên ngoài, phá vỡ mọi chấp trước, loại bỏ mọi quyền uy của truyền thống cũng như của hiện tại, tất cả chỉ dựa vào tâm và từ góc độ này, con người có thể trở thành chủ thể của chính bản thân mình, tác dụng giải phóng tư tưởng này có ý nghĩa vô cùng to lớn trong suốt chiều dài của xã hội chuyên chế phong kiến. Song, thiền của ông không thoát ly cuộc sống, mà ngược lại, nó lúc nào cũng mang đẫm hơi thở của cuộc sống, chứng minh thiền của Trần Nhân Tông đã được sinh ra từ sự đau đáu với cuộc đời, với hạnh phúc nhân sinh. Có thể Phật giáo quan niệm đời là bể khổ, song với Trần Nhân Tông, cuộc đời của mỗi người chính là một mùa xuân và phải sống làm sao để không uổng phí mùa xuân đó: “Chớ để luống qua mùa xuân một cách tầm thường” (Bất thị tầm thường không quá xuân). Chú thích: (1) Phương Hoài Nhẫn. Việt Nam Trúc Lâm phái Thiền tông sáng thủy nhân Trần Nhân Tông đích thiền học tư tưởng, Phật học nghiên cứu, số 3, 1994. (2) Lê Mạnh Thát. Trần Nhân Tông: con người và tác phẩm. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1999, chương VII: Một số vấn đề tư tưởng Trần Nhân Tông. Trích từ trang web: http://www.thivien.net/ (3) Lê Mạnh Thát. Trần Nhân Tông: con người và tác phẩm. Sđd. (4) Xem: Nguyễn Tài Thư (chủ biên). Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, 1988, tr.247. (5) Nguyễn Huệ Chi (chủ biên). Thơ văn Lý Trần, t.II quyển thượng. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988; Cư trần lạc đạo phú, tr.497 - 510. Các đoạn trích dẫn sau từ bài phú này chúng tôi sẽ chỉ nêu số hội trong bài. (6) Trích theo: Lê Mạnh Thát. Trần Nhân Tông: con người và tác phẩm (phần “Bài giảng tại Viện Kỳ lân”). Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1999. (7) Xem: Lao Tư Quang. Tân biên Trung Quốc triết học sử (tái bản lần thứ 5), q.2, Tam dân thư cục, 1990, tr. 329. (8) Ấn Thuận. Trung Quốc Thiền tông sử (xuất bản lần thứ 3). Giang Tây Nhân dân xuất bản xã, 2002, tr.2. (9) Xem: Thang Nhất Giới. Tựa; Ấn Thuận. Trung Quốc Thiền tông sử. Sđd. (10) Xem: Lao Tư Quang. Tân biên Trung Quốc triết học sử. Sđd., tr.332. (11) Trích theo: Thích Thông Phương. Vua Trần Nhân Tông với Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2006. (12) Xem: Nguyễn Huệ Chi (chủ biên). Thơ văn Lý Trần. Sđd., tr.489 - 450. (13) Nguyễn Huệ Chi (chủ biên). Sđd., tr. 483. (14) Thánh Nghiêm pháp sư. Chính tín đích Phật giáo, Pháp Cổ văn hoá, Đài Bắc, 1996, tr.129. (15) Trong bài viết của mình, Phương Hoài Nhẫn chú thích là “Trúc Lâm đại sĩ xuất thế đồ”. Trích từ “Thạch cừ bảo cấp tục biên”, Càn Thanh cung tạng tam. Song, ở đây, chúng tôi dựa theo nguồn của tác giả Nguyễn Nam, “Diện mạo Trần Nhân Tông qua Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ”, Tạp chí Hán Nôm, số 2,1999. (16) Xem: Nguyễn Tài Thư (chủ biên). Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988, tr.247 - 249. | ||||||||||||
Bình Ngô Đại Cáo- Nguyễn Trãi
- Bình Ngô Đại Cáo
Tượng mảng:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt chỉ vì khử bạo
Như nước Việt ta từ trước,
Vốn xưng văn hiến đã lâu,
Sơn hà cương vực đã chia,
Phong tục bắc nam cũng khác.
Từ đinh, Lê, Lý, Trần gây nền độc lập,
Cùng Hán,Ðường,Tống, Nguyên hùng cứ một phương.
Dẫu cường nhược có lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào cũng có.
Vậy nên:
Lưu Cung sợ uy mất vía,
Triệu Tiết nghe tiếng giật mình.
Cửa Hàm tử giết tươi Toa Ðô,
Sông Bạch Ðằng bắt sống Ô Mã.
Xét xem cổ tích Đã có minh trưng.
Vừa rồi:
Vì họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước nhân dân oán hận.
Quân cường Minh đã thừa cơ tứ ngược,
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh.
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Chước dối đủ muôn nghìn khóe,
Ác chứa ngót hai mươi năm.
Bại nhân nghĩa, nát cả càn khôn,
Nặng khóa liễm vét không sơn trạch:
Nào lên rừng đào mỏ,
Nào xuống bể mò châu,
Nào hố bẫy hươu đen,
Nào lưới dò chim trả.
Tàn hại cả côn trùng thảo mộc,
Nheo nhóc thay! quan quả điên liên.
Kẻ há miệng đứa nhe răng máu mỡ bấy! no nê chưa chán.
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa
Nặng nề về những nỗi phu phen,
Bắt bớ mất cả nghề canh cửi
Ðộc ác thay! Trúc rừng không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay! Nước bể khôn rửa sạch mùi
Lẽ nào trời đất tha cho
Ai bảo thần nhân nhịn được.
Ta đây:
Núi Lam Sơn dấy nghĩa,
Chốn hoang dã nương mình.
Ngắm non sông căm nỗi thế thù,
Thề sống chết cùng quân nghịch tặc.
Ðau lòng nhức óc, chốc là mười mấy nắng mưa,
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phê đắn đo càng kỹ.
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính là lúc quân thù đang thịnh
Lại ngặt vì:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc.
Ðôi phen vùng vẫy, vẫn đăm đăm con mắt dục đông
Mấy thủa đợi chờ, luống đằng đẵng cỗ xe hư tả.
Thế mà trông người, người càng vắng ngắt,
vẫn mịt mờ như kẻ vọng dương
Thế mà tự ta, ta phải lo toan, thêm vội vã như khi chửng nịch.
Phần thì giận hung đồ ngang dọc,
Phần thì lo quốc bộ khó khăn.
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Khi khôi huyện quân không một độị
Có lẽ trời muốn trao cho gánh nặng
Bắt trải qua bách chiết thiên ma,
Cho nên ta cố gắng gan bền, chấp hết cả nhất sinh thập tử.
Múa đầu gậy ngọn cờ phất phới,
ngóng vân nghê bốn cõi đan hồ.
Mở tiệc quân, chén rượu ngọt ngào,
khắp tướng sĩ, một lòng phụ tử.
Thế giặc mạnh, ta yếu mà ta địch nổi,
quân giặc nhiều, ta ít mà ta được luôn.
Dọn hay:
Ðem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chí nhân mà thay cường bạo
Trận Bồ Ðằng sấm vang sét dậy,
Miền Trà Lân trúc phá tro baỵ
Sĩ khí đã hăng ,
Quân Thanh càng mạnh.
Trần Trí, Sơn Thọ mất vía chạy tan,
Phương Chính, Quý An tìm đường trốn tránh.
Ðánh Tây Kinh phá tan thế giặc,
Lấy Ðông Ðô thu lại cõi xưa
Dưới Ninh Kiều máu chảy thành sông,
Bến Tụy động xác đầy ngoài nội
Trần Hiệp đã thiệt mạng,
Lý Lương phải phơi thây
Vương Thông hết cấp lo lường,
Mã Anh khôn đường cứu đỡ.
Nó đã trí cùng lực kiệt, bó tay không biết tính sao,
Ta đây mưu phạt tâm công, chẳng đánh mà người chịu khuất.
Tưởng nó phải thay lòng đổi dạ, biết lẽ tới lui,
Ngờ đâu còn kiếm kế tìm phương, gây mầm tội nghiệt
Cậy mình là phải, chỉ quen đổ vạ cho người,
Tham công một thời, chẳng bỏ bày trò dơ duốc.
Ðến nỗi đứa trẻ ranh như Tuyên Ðức, nhàm võ không thôi ;
Lại sai đồ nhút nhát như Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
Năm Ðinh Mùi tháng chín,
Liễu Thăng tự Khâu Ôn tiến sang
Mộc Thạch tự Vân Nam kéo đến.
Ta đã điều binh thủ hiểm, để ngăn lối Bắc quân,
Ta lại sai tướng chẹn ngang, để tuyệt đường lương đạo
Mười tám, Liễu Thăng thua ở Chi Lăng,
Hai mươi, Liễu Thăng chết ở Mã Yên.
Hai mươi lăm, Lương Minh trận vong,
Hai mươi tám, Lý Khánh tự vẫn.
Lưỡi dao ta đang sắc,
Ngọn giáo giặc phải lùi
Lại thêm quên bốn mặt vây thành,
Hẹn đến rằm tháng mười diệt tặc.
Sĩ tốt ra oai tì hổ
Thần thứ đủ mặt trảo nhạ
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Ðánh một trận sạch thông kình ngạc
Ðánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê cũ.
Thôi Tụ phải quỳ mà xin lỗi,
Hoàng Phúc tự trói để ra hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đồng,
Xương Giang, Bình Than máu trôi đỏ nước.
Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay! Sáng nhựt nguyệt phải mờ.
Binh Vân Nam nghẽn ở Lê Hoa, sợ mà mất mật;
Quân Mộc Thạnh tan chưng Cần Trạm, chạy để thoát thân.
Suối máu Lãnh Câu, nước sông rền rỉ,
Thành xương Ðan xá, cỏ nội đầm đìa
Hai mặt cứu binh, cắm đầu trốn chạy;
Các thành cùng khấu, cởi giáp xuống đầu
Bắt tướng giặc mang về, nó đã vẫy đuôi phục tội;
Thế lòng trời bất sát, ta cũng mở đường hiếu sinh.
Mã Kỳ, Phương Chính cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
ra đến bể chưa thôi trống ngực.
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
về đến Tàu còn đổ mồ hôi
Nó đã sợ chết cầu hòa, mở lòng thú phục,
Ta toàn quân làm cốt, cả nước nghỉ ngơi
Thế mới là mưu kế thật khôn,
Vả lại suốt xưa nay chưa có.
Giang sơn từ đây mở mặt
Xã tắc từ đây vững bền.
Nhật nguyệt hối mà lại minh,
Càn khôn bỉ mà lại thái
Nền vạn thế xây nên chăn chắn,
Thẹn nghìn thu rửa sạch làu làu
Thế là nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng giúp đỡ cho nước ta vậy.
Than ôi!
Vẫy vùng một mảnh nhung y, nên công đại định,
Phẳng lặng bốn bề thái vũ, mở hội vĩnh thanh.
Bá cáo xa gần, Ngỏ cùng nghe biết.
Nguyễn Trãi
Phim tài liệu Việt Nam Việt Nam được dấu kín 37 năm
Bút Sử
Vào tháng 8 năm 2008, bộ phim tài liệu gồm nhiều tập được phổ biến tại Hoa Kỳ có tựa "Vietnam A Retrospective" trong đó có tập "Vietnam Vietnam!" "Vietnam Vietnam" dài 58 phút, do John Ford làm ra, người diễn đạt là tài tử Charlton Heston. Nội dung chính bao gồm hai phần: phản chiến tại Hoa Kỳ và tranh luận (debate) giũa các tổng thống, thống đốc, dân biểu quốc hội.

Phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ khởi nguồn từ đầu thập niên 60, bùng dậy càng ngày càng mạnh vào đầu thập niên 70. Trong những tổ chức, nhóm chống chiến tranh kêu gọi "hoà bình" phải kể: nhóm "khủng bố nội địa" Weather Underground, Black Panthers (Mỹ da đen ủng hộ cộng sản), Đảng Cộng Sản Hoa Kỳ, Malcolm X, May 19 Organization, Saul Alinsky, tài tử Hollywood, nhóm hoạt động chính trị điển hình như Bill Clinton, Hillary Rodham Clinton, John Kerry, kể cả mục sư Martin Luther King đã ví quân đội Mỹ tham gia tại Việt Nam cũng giống như quân Đức Quốc Xã tại Âu Châu, v.v...Nặng nề hơn hết là sự sách động sinh viên của hằng chục trường đại học như Berkley ở California, Harvard và Boston ở Massachusetts.
Tài liệu cho thấy trong giai đoạn này, hằng năm quốc tế cộng sản đã chi ra riêng cho Hoa Kỳ 3 tỷ US dollars lo việc tổ chức biểu tình phản chiến. Tài liệu cũng đưa ra cái gọi là "toà án nhân dân" của quốc tế phán tội người Mỹ tại Việt Nam được tổ chức tại Sweden và Denmark vào các năm 1966-1968, do hai nhân vật chống chiến tranh mệnh danh là triết gia Bertrand Russell và Jean-Paul Sartre. Phần tài chánh lớn chi phí cho việc thực hiện "toà án" này lại do chính tiền từ Hà Nội gửi sang (Financing for the Tribunal came from many sources, including a large contribution from the North Vietnamese government after a request made by Russell to Ho Chi Minh -Source from Wikipedia).
Năm 1968, khi nằm trong tù tại miền Bắc, nghe đài Hà Nội loan tin ca ngợi "toà án nhân dân quốc tế," ngục sĩ Nguyễn Chi Thiện đã làm bài thơ "Gửi Bertrand Russell": 


Tài liệu này đã đưa ra hai mặt: chống và ủng hộ cuộc chiến. Như thế để người xem tự tìm ra đâu là sự thật, đâu là chính nghĩa, tại sao Hoa Kỳ phải nhúng tay vào Việt Nam. Truớc cuộc chiến bùng nổ, người Mỹ đã chụp bằng satellite nhiều hình ảnh nơi vũ khí đạn dược Nga Tàu được cộng sản chôn giấu trong Nam để chuẩn bị cuộc chiến xâm lăng. Hình ảnh rất linh động, cảnh cộng sản thảm sát đồng bào vào Tết Mậu Thân 1968, những mồ chôn tập thể tại Huế, qua chủ trương "tiêu thổ kháng chiến," cộng sản đốt nhà dân trước khi rút quân làm phụ nữ và trẻ con chết loạn xạ v.v.
Ở đây chỉ điểm qua một vài nét nói lên tội ác của cộng sản Việt Nam mà nhân loại ngay thời điểm đó đã không quan tâm đúng mức. Hằng ngàn nạn nhân bị cộng sản tàn sát tại Huế thì không được bàn luận phổ biến rộng rãi, trong khi sau đó vài tháng, hiện tượng Mỹ Lai chỉ có trên bốn trăm nạn nhân thì quân đội Hoa Kỳ bị kết án nặng nề, mặc dù cá nhân viên sĩ quan phi công dội bom đã bị đưa ra toà án quân đội xử lý công minh. Truyền thông phản chiến cũng là công cụ góp phần đưa đẩy việc bỏ rơi miền Nam.

Các người thật là ngu ... Tôi là một chiến sĩ tự do ... Một điều rất là sỉ nhục khi các người đang làm những chuyện đối với chính quốc gia mình. Tôi cảm thấy nhục cho nước Mỹ. Tôi không phải là một người Mỹ. Tôi là người Hung Gia Lợi. Người ta phải chết cho con cháu, cho tương lai con cháu, cho tự do của con cháu. Các người bị hướng dẫn sai lầm. Trong tận cùng, các người là những thành phần tốt, có lương tâm. Các người muốn sự nhân đạo tuyệt vời, nhưng nhân đạo bị chấm dứt trong những quốc gia dưới chế độ cộng sản. Hãy tới nước Hungary, Chezlovakia ... Những người đang đấu tranh cho tự do dân chủ, những người Việt đó xứng đáng được tuyên dương, và mỗi người Mỹ đang chiến đấu chống cộng sản là một anh hùng.

Mùa Quân Lực 19/6/2009
(You can buy "Vietnam A Retrospective" DVD on www.amazon.com)
*
* *
Có người đưa ra thắc mắc tại sao phim thực hiện xong từ 1971 mà đến gần cuối 2008 mới đưa ra phổ biến? Một nhận xét cho rằng giai đoạn 1971 đang là phong trào phản chiến cao độ, xao động cả toàn dân Mỹ đến độ chính phủ phải đưa ra giải pháp "rút quân." Việc "Pentagon Papers" của Daniel Ellsberg là một bất lợi vô cùng to lớn đối với chính sách đương đầu với phe cộng sản tại Việt Nam. Nguyên là nhân viên của Bộ Quốc Phòng từ thời chiến tranh lạnh,1964, đến một chức vụ dân sự trong Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tại Việt Nam sau đó, ông Ellsberg lúc nào cũng bi quan về sự chiến thắng trong cuộc chiến và nghiêng về phía cộng sản. Trong "Pentagon Papers" Ellsberg đã tung ra những bí mật của Bộ Quốc Phòng, rất nhiều trang được đăng trên New York Times 1971. Hiện tượng này châm ngòi thêm cho phong trào phản chiến, và cũng đi từ những nguyên do này mới có hiện tượng "Watergate" và đưa đến việc tổng thống Nixon phải xin từ chức.
Tài liệu cho thấy trong giai đoạn này, hằng năm quốc tế cộng sản đã chi ra riêng cho Hoa Kỳ 3 tỷ US dollars lo việc tổ chức biểu tình phản chiến. Tài liệu cũng đưa ra cái gọi là "toà án nhân dân" của quốc tế phán tội người Mỹ tại Việt Nam được tổ chức tại Sweden và Denmark vào các năm 1966-1968, do hai nhân vật chống chiến tranh mệnh danh là triết gia Bertrand Russell và Jean-Paul Sartre. Phần tài chánh lớn chi phí cho việc thực hiện "toà án" này lại do chính tiền từ Hà Nội gửi sang (Financing for the Tribunal came from many sources, including a large contribution from the North Vietnamese government after a request made by Russell to Ho Chi Minh -Source from Wikipedia).
Năm 1968, khi nằm trong tù tại miền Bắc, nghe đài Hà Nội loan tin ca ngợi "toà án nhân dân quốc tế," ngục sĩ Nguyễn Chi Thiện đã làm bài thơ "Gửi Bertrand Russell":
Ông là một bậc triết nhân. Nhưng về chính trị ông đần làm sao. Ông bênh Việt Cộng ồn ào. Nhưng ông hiểu chúng tí nào cho cam. Mời ông tới Bắc Việt Nam. Xem nô lệ đói phải làm ra sao. Mời ông tới các nhà lao. Xem bò lợn được đề cao hơn người. Không ai kêu nổi một lời. Mồm dân Đảng khoá đã mười mấy năm. Xem rồi ông mới hờn căm. Muốn đem bọn chúng ra bằm ra văm. Tuổi ông ngót nghét một trăm. Nhưng thua cậu bé mười lăm đói gầy. Về môn "cộng sản học" này!
Nói như thế để chúng ta thấy nguyên do chính của sự bỏ rơi đồng minh Việt Nam Cộng Hoà và dọn đuờng cho cộng sản Bắc Việt ồ ạt dùng vũ khí đạn dược Nga Tàu cưỡng chiếm miền Nam. Do vậy mà miền Nam thua là thua chính trị tại Washington chứ không phải thua tại trận chiến. Vũ khí đâu để đối đầu với lực lượng súng đạn của Nga Tàu? Việc sắp đặt rút khỏi Việt Nam để nhường cho cộng sản rõ ràng nhất qua hiệp định Paris ngày 27/01/ 1973, mặc dù trong đó đã ghi rõ miền Bắc không thể dùng vũ lực để xâm lăng miền Nam, nhưng không ai có thể tin cộng sản thực thi.
Như vậy thì lý luận cho rằng sở dĩ phim "Vietnam Vietnam" bị "cất kín" hơn 37 năm qua vì nhu cầu của sự "tuyên truyền" thông tin chính nghĩa không còn cần thiết nữa khi Quốc Hội Hoa Kỳ đã đang bàn luận bỏ rơi Việt Nam Cộng Hoà xem ra cũng có lý. Hơn nữa, Ủy Ban gọi là USIA (United States Information Agency) có thẩm quyền cho ra hay không phim Vietnam Vietnam họ đã có quyết định.
Ở đây chỉ điểm qua một vài nét nói lên tội ác của cộng sản Việt Nam mà nhân loại ngay thời điểm đó đã không quan tâm đúng mức. Hằng ngàn nạn nhân bị cộng sản tàn sát tại Huế thì không được bàn luận phổ biến rộng rãi, trong khi sau đó vài tháng, hiện tượng Mỹ Lai chỉ có trên bốn trăm nạn nhân thì quân đội Hoa Kỳ bị kết án nặng nề, mặc dù cá nhân viên sĩ quan phi công dội bom đã bị đưa ra toà án quân đội xử lý công minh. Truyền thông phản chiến cũng là công cụ góp phần đưa đẩy việc bỏ rơi miền Nam.
Hình ảnh những sinh viên tại Hoa Kỳ biểu tình rần rộ với cờ đỏ sao vàng và cờ xanh đỏ của cộng sản miền Nam. Một người đàn ông tị nạn cộng sản gốc Hungary có mặt trong buổi biểu tình tại Saigon có một số sinh viên Mỹ. Cũng như Nguyễn Chí Thiện đã cho ông Russell một bài học nhỏ về môn học cộng sản trong lời thơ, ông Hungary này đã ít nhất đưa ra một vài ý niệm về bản chất của chế độ cộng sản. Ông tức giận bày tỏ với đám đông xung quanh:
(You are stupid, idiot, you know ... I am a freedom fighter ... It's disgraceful for what you are doing here for your own country. I am ashamed for America. I am not an American. I am a Hungarian. People have to die for their children, for their future, for their freedom. You are mislead. Deep inside you, you are very very decent people. You want the best humanity, but humanity is finished in the communist countries. Go to Hungary, Chezlovakia ... The people are fighting for freedom, every Vietnamese should get a medal and every American who fights communist is a hero ...)
Phim đã đưa ra hình ảnh và những phát biểu của các chính trị gia Hoa Kỳ: một số tán đồng rút quân, cũng như thành phần tiếp tục ủng hộ cuộc chiến chính nghĩa. Đặc biệt hơn hết là thống đốc California, 1967-1975, ông Ronald Reagan. Ông đưa ra lời tuyên bố:
Tất cả chúng ta không thể thay thế giá trị to lớn của người dân của chúng ta. Ai có thể đưa ra lằn ranh để định giá sự sống của một người Mỹ, nếu bằng cách bảo vệ một mạng sống người Mỹ khi có thể hằng ngàn người Việt Nam phải chết? Mạng sống con người là mạng sống con người. Một thực thể hiển nhiên nhất đã xảy ra là gần 2 triệu người dân miền Bắc đã rời bỏ chạy về miền Nam để xa lánh chế độ cộng sản. Đó có phải dấu hiệu rằng chính phủ này đã không đại diện nguyện vọng của dân chúng? Chấm dứt sự xung đột mâu thuẫn không thể đơn giản chỉ là ra lệnh ngừng chiến và trở về nhà, bởi vì cái giá phải trả cho loại hoà bình đó có thể là hằng ngàn năm của tăm tối hay tăm tối cho những thế hệ chưa sinh ra đời.
(All of it can’t replace the great value of our own people ... But ... Can you really draw a line to whether it ‘s worth one American life ... if that by saving an American life, you subject to probably thousands of Vietnamese to death?... Human life is human life. The very fact is practically two millions of the North Vietnamese fled to South Vietnam to escape the communist regime. Is it indication that this government did not represent the will of the people?... Ending the conflict is not so simple as just calling it off and coming home, because the price for that kind of peace could be a thousand years of darkness or generations yet unborn.)
Nhân đạo bị chấm dứt trong những quốc gia dưới chế độ cộng sản! Nhắc lại lời phát biểu của người tị nạn cộng sản Hungary để ứng dụng ngay trong đất nước Việt Nam! Nhiều vụ cộng sản bắt bớ bỏ tù, trù dập những nhà đấu tranh cho nhân quyền chỉ vì họ còn lương tâm làm người trước thảm trạng quốc biến gia vong.Thấm thía hơn khi nghe lại lời tuyên bố của thống đốc Reagan. Những người mang biểu ngữ, khẩu hiệu "hoà bình" chẳng qua là dấu hiệu cho sự tàn sát đẵm máu sau đó. Tổng thống Nixon đã có lần nói: Khi hai bên ký ngưng chiến có nghĩa là chúng ta ngưng (cease), còn cộng sản thì đánh (fire). Hoà bình rồi mà số nạn nhân chết dưới chế độ cộng sản còn cao gấp hai, gấp ba lần khi có chiến tranh! Chết vì vượt biên, chết vì bị bệnh và đói trong nhà lao, chết vì bệnh và thiếu ăn ngoài nhà tù lớn, bị xử tử v.v.. Những thành phần phản chiến lại im re khi nhìn những hiện tượng này, mặc dù trước đó họ xuống đường kêu gọi hoà bình, cho rằng rút quân chấm dứt chiến tranh là hết chết chóc.
Việt Nam đã có ngàn năm nô lệ Tàu. Hơn ba thập niên qua, dưới chế độ cộng sản, có thể là giai đoạn đầu của một thời kỳ dài tăm tối mà thống đốc Reagan đã tiên đoán chăng? Đã có hai thế hệ sống trong tăm tối sau lời phát biểu của ông. Lớp trẻ này không có quyền lựa chọn khi họ được sinh ra đời, nhưng có phải kết quả đó một phần là do thái độ của những người đi trước, mà chính ông Reagan đã bén nhạy nhận biết, trong khi ông cũng bất lực trước ván cờ. Ngay thời điểm này, những ai quan tâm về tình hình chính trị tại Việt Nam đều thấy rằng cái hoạ nô lệ Trung Cộng càng ngày càng rõ nét. Tập đoàn cộng sản tại Hà Nội là một phần tử của Trung Cộng, bị sự chỉ huy của Trung Cộng, ngoan ngoãn thi hành chính sách của Trung Cộng đề ra trên đất nước Việt Nam.
Bài học lịch sử từ lời tuyên bố của ông Reagan cho ta thấy kẻ đi trước có trách nhiệm với người sau, không thể phó thác cho dòng đời đến đâu thì đến. Quan trọng là sự hiểu biết, đi sâu vào tâm lý quần chúng, nhận ra sự thật khi xung quanh có quá nhiều "lộng giả thành chân." Mặc dù cho rằng vấn đề Việt Nam luôn còn là đề tài bàn cãi, phim "Vietnam Vietnam" cho người xem thấy rằng nó ra đời với mục đích nêu rõ âm mưu, thủ đoạn của người cộng sản, cái vô nhân bản trong chính sách, và sự lừa dối là chủ trương, cũng như dùng cứu cánh để biện minh cho phương tiện tàn bạo của họ. Hiểu ra như vậy để không lầm lẫn dễ tin theo những tuyên truyền hoa mỹ, để không bị sách động dễ dàng. Niềm tin con người nên đặt đúng chỗ, nhất là kinh nghiệm lịch sử bằng xương máu mà thế hệ cha anh đã để lại phải coi đó là thước đo lường. Người đi trước, ông Nguyễn Chí Thiện, đã trải qua kinh nghiệm dạn dày để nhận ra rằng:
Bút SửNếu nhân loại mọi người đều biết
Cộng sản là gì tự nó sẽ tan đi
Thứ sinh thành từ ấu trĩ ngu si
Sự hiểu biết sẽ là mồ huỷ diệt
Mùa Quân Lực 19/6/2009
(You can buy "Vietnam A Retrospective" DVD on www.amazon.com)
* *
|
Phim đang phổ biến trên mạng tên "Vietnam! Vietnam" được cho là cuốn phim cuối cùng của nhà đạo diễn gạo cội hàng đầu của Hoa Kỳ John Ford (1894-1973), ông đoạt tất thảy 4 giải Oscars vào năm 1973 ông nhận giải AFI Life Achievement Award cùng năm Ford was awarded the Presidential Medal of Freedom by President Richard Nixon). Phim bắt đầu quay vài tháng sau cuộc tổng công kích Mậu Thân (1968) và cho đến khi cuộn phim được hoàn tất vào cuối năm 1971.
Vào lúc đó luật pháp liên bang của Hoa Kỳ ngăn cấm chuyện trình chiếu bất cứ một phim ảnh nào do Cơ quan Truyền Thông Hoa Kỳ (United States Information Agency), trong đó có phim "Việt Nam! Việt Nam!" Cho nên phim tài liệu cuối cùng của ông John Ford đã được khóa kín trong két sắt 27 năm trời cho đến khi luật pháp được thay đổi cho phép phim được chiếu cho công chúng xem.
Đây là một phim tài liệu rất có giá trị về sự thật của chiến tranh VN, với cái nhìn công bằng và khách quan của người Mỹ.
Nó cho thấy lý do mà Hoa Kỳ đổ quân vào VN vì thấy rõ ý đồ của Hà Nội là muốn xâm chiếm miền Nam bằng vũ lực với sự giúp đỡ của Trung cộng. Nó cho thấy hình ảnh gian ác của cộng sản VN bằng lời kể của viên phi công Mỹ ở buổi họp báo khi được trả tự do là ông bị đành đập và tra tần khi bị bắt và bị buộc phải nói láo là được Hà nội đối xữ tử tế.
Họ cho thấy hình ảnh nhân đạo của người lính Việt nam Cộng Hòa khi chăm sóc vết thương của các tù binh việt cộng, mà nói xin lổi, mặt mày coi rất hung ác và ngu dốt, không có vẽ vì là người có văn hóa hết so với hình ảnh của người lính miền Nam. Rồi họ còn cho thấy cả một làng bị việt cộng tàn sát, xác đàn bà trẻ con nằm ngổn ngang.
Rồi trong cảnh đám biểu tình chống chiến tranh ở Sài gòn do bọn phản chiến Mỹ và việt cộng nằm vùng tổ chức, thì có một người Hung Ga Ry nhào lại đám phóng viên truyền hình chưởi vào mặt bọn phản chiến như sau: ''Tụi bây là đồ ngu dốt mới làm chuyện này, bỡi vì tụi bây không biết gì về cộng sản hết. Mọi người dân miền Nam VN đáng được hường một huy chương vì đang đấu tranh chống bọn cộng sản, và cả mọi ngừơi Mỹ đang chiến đấu nữa''. Bọn biểu tình đứng chung quanh im ru không dám nói một lời.
Phần 2 nói về sự tranh luận của quốc hội HK và dư luận về có nên tiếp tục viện trợ cho miền Nam VN hay không? Thì có người nói chiến tranh VN là một cuộc chiến tranh không thể thắng được vì Mỹ không hiểu được người VN và nếu có thắng được HN thì liệu TC có để yên?
Tôi thích nhất lời nói nhân đạo của TT Regan là ''Liệu chúng ta có thể vẻ một lăn ranh giữa sinh mạng con người? Một sinh mạng là một sinh mạng, không thể nói 1 sinh mạng người Mỹ có thể thay thế 1000 sinh nạng người Việt'', khi ông muốn nói việc Mỹ muốn rút lui để tự quân đội miền Nam chống cộng sản. và phần kết luận là câu hỏi của lương tâm người Mỹ là ''Liệu miền Nam VN có thể chiến đấu để bảo vệ tự do sau khi HK rút quân khi mà những họng súng của CS trong miền Nam không bao giờ ngửng nổ''.
Nên nhớ cuốn phim này được thực hiện vào lúc Hoa Kỳ đang rút quân khỏi VN, và vì vậy đã bị bộ thông tin của MỸ cấm chiếu vì không muốn dân Mỹ thấy đây là một cuộc chiến thật sự chống chế độ cộng sản giửa HK và nhân dân miền Nam VN và cộng sản bắc Việt, vì đã lở nói xa lầy rồi...
Vì vậy không thể nói đây là phim tuyên truyền láo khoét giồng như những phim của các chế độ cs.
Vào lúc đó luật pháp liên bang của Hoa Kỳ ngăn cấm chuyện trình chiếu bất cứ một phim ảnh nào do Cơ quan Truyền Thông Hoa Kỳ (United States Information Agency), trong đó có phim "Việt Nam! Việt Nam!" Cho nên phim tài liệu cuối cùng của ông John Ford đã được khóa kín trong két sắt 27 năm trời cho đến khi luật pháp được thay đổi cho phép phim được chiếu cho công chúng xem.
Đây là một phim tài liệu rất có giá trị về sự thật của chiến tranh VN, với cái nhìn công bằng và khách quan của người Mỹ.
Nó cho thấy lý do mà Hoa Kỳ đổ quân vào VN vì thấy rõ ý đồ của Hà Nội là muốn xâm chiếm miền Nam bằng vũ lực với sự giúp đỡ của Trung cộng. Nó cho thấy hình ảnh gian ác của cộng sản VN bằng lời kể của viên phi công Mỹ ở buổi họp báo khi được trả tự do là ông bị đành đập và tra tần khi bị bắt và bị buộc phải nói láo là được Hà nội đối xữ tử tế.
Họ cho thấy hình ảnh nhân đạo của người lính Việt nam Cộng Hòa khi chăm sóc vết thương của các tù binh việt cộng, mà nói xin lổi, mặt mày coi rất hung ác và ngu dốt, không có vẽ vì là người có văn hóa hết so với hình ảnh của người lính miền Nam. Rồi họ còn cho thấy cả một làng bị việt cộng tàn sát, xác đàn bà trẻ con nằm ngổn ngang.
Rồi trong cảnh đám biểu tình chống chiến tranh ở Sài gòn do bọn phản chiến Mỹ và việt cộng nằm vùng tổ chức, thì có một người Hung Ga Ry nhào lại đám phóng viên truyền hình chưởi vào mặt bọn phản chiến như sau: ''Tụi bây là đồ ngu dốt mới làm chuyện này, bỡi vì tụi bây không biết gì về cộng sản hết. Mọi người dân miền Nam VN đáng được hường một huy chương vì đang đấu tranh chống bọn cộng sản, và cả mọi ngừơi Mỹ đang chiến đấu nữa''. Bọn biểu tình đứng chung quanh im ru không dám nói một lời.
Phần 2 nói về sự tranh luận của quốc hội HK và dư luận về có nên tiếp tục viện trợ cho miền Nam VN hay không? Thì có người nói chiến tranh VN là một cuộc chiến tranh không thể thắng được vì Mỹ không hiểu được người VN và nếu có thắng được HN thì liệu TC có để yên?
Tôi thích nhất lời nói nhân đạo của TT Regan là ''Liệu chúng ta có thể vẻ một lăn ranh giữa sinh mạng con người? Một sinh mạng là một sinh mạng, không thể nói 1 sinh mạng người Mỹ có thể thay thế 1000 sinh nạng người Việt'', khi ông muốn nói việc Mỹ muốn rút lui để tự quân đội miền Nam chống cộng sản. và phần kết luận là câu hỏi của lương tâm người Mỹ là ''Liệu miền Nam VN có thể chiến đấu để bảo vệ tự do sau khi HK rút quân khi mà những họng súng của CS trong miền Nam không bao giờ ngửng nổ''.
Nên nhớ cuốn phim này được thực hiện vào lúc Hoa Kỳ đang rút quân khỏi VN, và vì vậy đã bị bộ thông tin của MỸ cấm chiếu vì không muốn dân Mỹ thấy đây là một cuộc chiến thật sự chống chế độ cộng sản giửa HK và nhân dân miền Nam VN và cộng sản bắc Việt, vì đã lở nói xa lầy rồi...
Vì vậy không thể nói đây là phim tuyên truyền láo khoét giồng như những phim của các chế độ cs.
Source: http://vimeo.com/3177499
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
