2/5/11

Văn hóa của E Dùi Cui


Nguyễn Văn Tuấn
Ai trong chúng ta từng có đôi ba dịp đi ra nước ngoài mà không trên một lần nảy ra trong đầu những sự so sánh rất khó nghĩ (đúng hơn là khó chịu) về cung cách ứng xử của tiếp viên các hãng hàng không các nước với tiếp viên VNA. Tôi đã đọc bài viết của Từ Sơn với nhiều tấm tắc về cách nói kiềm chế của anh khi kể lại những chuyện đối nghịch trái khoáy mà anh vừa là thượng khách lại vừa là kẻ được bố thí, từ một chuyến trở về trên mấy hãng hàng không liên vận, trong đó cái ấn tượng đang từ trên mây xanh rớt xuống sát mặt đất chính là chặng bay của VNA từ sân bay Charles de Gaulle đến sân bay Nội Bài. Bây giờ, đọc đến bài này của một người bạn khác, GS Nguyễn Văn Tuấn, tôi thật sự choáng váng, và lại buộc mình phải ngẫm nghĩ rất lâu. Nói cho cùng, cái gì gắn liền với chữ “độc” thì đều là tai hại cả - độc quyền, độc tôn, độc... không là một mình một chợ tung hoành, tha hồ làm mưa làm gió đối với nhân quần thì còn là gì nữa. Xin bạn đọc mỗi buổi sáng hãy cố gắng lượm lấy một ít tin tức xa gần trên báo chí; nếu là tin dữ quý bạn thử liên hệ xem tin đó có bắt nguồn từ chữ một chữ “độc” nào hay không?
Nguyễn Huệ Chi
clip_image002Đó là tên mà các bạn bên báo Diễn đàn (Paris) đặt cho Vietnam Airlines (VNA) sau vụ hành hung hành khách vừa qua. Tôi cũng có nhiều kinh nghiệm với VNA, ủng hộ VNA lâu dài. Nhưng đọc qua câu chuyện của huấn luyện viên Lê Minh Khương và những đe dọa của VNA cho anh vào “danh sách đen” thì tôi thấy cần phải xem lại lòng trung thành của mình.
Giới thương gia nước ngoài gọi VNA là Sorry Airlines.  Cái tên đó tôi nghe được trong phòng chờ chuyến bay đi Hà Nội, vì chuyến bay trễ gần 2 giờ đồng hồ, cô nhân viên liên tục cập nhật tình hình, nhưng cứ mỗi lần cập nhật như thế là mỗi lần xin lỗi.
  Thú thật, đã nghe qua quá nhiều lần xin lỗi (nhiều đến độ đếm không xuể) tôi không còn tin vào “lòng thành” của họ nữa.  Họ nghĩ chỉ một lời “xin lỗi” là xong.  Lời nói không mất tiền mua mà – ông bà mình vẫn dạy như thế.  Nhưng các hãng hàng không ngoại quốc xin lỗi khác với VNA: lời xin lỗi đi đôi với việc làm. Máy bay có sự cố, họ xin lỗi và đền bù cho hành khách. Có khi đền bù chỉ là một chai nước, một món ăn, nhưng cũng có khi là tiền. Họ bắt buộc hành khách phải nhận tiền đền bù. Thế mới biết lời xin lỗi của VNA không có ý nghĩa gì, chỉ là lời nói cuốn theo gió bay đi và mây khói, chẳng ai còn nhớ. Lời xin lỗi của VNA là nói cho có, và biết đâu chính người nói, chính lãnh đạo VNA cũng không tin vào lời xin lỗi của mình. Nhưng cái tên Sorry Airlines dù muốn hay không cũng gắn liền với VNA rồi.
Bây giờ thì VNA còn có thêm một cái tên vui khác: E Dùi Cui.  Cũng có thể gọi đó là hỗn danh.  Cái hỗn danh này được báo Diễn đàn (Paris) đặt cho, sau khi đọc báo về một hành khách bị hành hung. Vị hành khách đó là Lê minh Khương, một huấn luyện viên Tae Kwon Do, một võ sư.  Chúng ta hãy nghe lời kể của anh Khương, và để cho công bằng, tôi trích luôn giải thích của VNA (xem phía dưới). Chỉ cần đọc qua giọng văn của VNA là đã thấy bỏ chữ vào miệng người ta rồi.  Vụ việc chưa biết ra sao nhưng VNA đã viết “hành khách có hành vi gây mất trật tự”! Người đọc cần thông tin thật từ VNA, chứ đâu cần nhận định của VNA. Với một cách viết như thế, chúng ta không cần đọc tiếp làm gì, bởi vì chắc chắn VNA sẽ kết tội hành khách mà thôi. Trong trường hợp này, tôi thấy lời giải thích của anh Lê Minh Khương nghe có tình tiết hơn, đáng tin cậy hơn là giải thích theo kiểu áp đặt của VNA. Thật vậy, đã có ít nhất 3 người có địa vị trong xã hội sẵn sàng làm chứng cho những gì anh Khương giải thích. Nhưng giải thích của VNA thì thiếu những chi tiết bạo động của nhân viên an ninh. Nói theo tiếng Anh, kiểu giải trình của VNA là selective explanation – giải thích có lựa chọn.  Có lựa chọn có nghĩa là không khách quan.
Trong bảng thông cáo báo chí của E Dùi Cui tôi thấy có một thông tin đáng chú ý: đó là quan điểm “Khi đi máy bay, hành khách cần tuân thủ tuyệt đối chỉ dẫn của Cơ trưởng và tiếp viên”.  Đọc câu này thì tôi hiểu hết văn hóa phục vụ của E Dùi Cui rồi. Đó là văn hóa mà tiếp viên là sếpkhách là những kẻ thuộc hạ. Chính vì quan điểm này mà tiếp viên VNA không xem việc phục vụ khách là ưu tiên trong công việc của họ; họ ưu tiên trong việc ra lệnh cho khách. Và, trong thực tế, tôi đã chứng kiến nhiều cách họ ra lệnh cho khách. Tôi có vài nhận xét về tiếp viên của VNA, ủa quên, E Dùi Cui như sau:
Tiếp viên E Dùi Cui hay tỏ thái độ khinh hành khách và ra lệnh. Tiêu biểu cho thái độ này là phục vụ trà và cà phê. Rất nhiều lần tôi chứng kiến các cụ già đưa tách cà phê ra để nhận trà từ tiếp viên, và được câu nói: cái kia kìa. Câu Cái kia kìa được nói như dằn giọng, nói lớn như để cảnh cáo hành khách bên cạnh. Có lần bay từ Hà Nội và Sài Gòn, một tiếp viên lên lớp một bà cụ chắc là gốc miền Nam khi bà cụ đưa sai tách cà phê để nhận trà: bác có phân biệt cái cốc và cái tách không? Cô tiếp viên lên cái giọng Bắc Kỳ rất chua, rất chói tai, đến nỗi tôi ngồi bên cạnh không giấu được bực mình và phải nhắc nhở cô ta rằng dân miền Nam không phân biệt cái cốc và cái tách chị à. Nếu bạn đọc đi hãng Singapore Airlines hay bất cứ một hãng nào trong vùng như Thai Airways, các bạn sẽ thấy tiếp viên trực tiếp giúp bà cụ, chứ không ra lệnh và làm tài khôn lên lớp như tiếp viên của E Dùi Cui.
Tiếp viên E Dùi Cui ít khi (hay không khi nào) giúp khách.  Không quá khó khăn để nhận ra điểm này. Thử chú ý khi hành khách lên máy bay (boarding), chúng ta sẽ thấy các tiếp viên E Dùi Cui đứng trơ ra đó, chẳng nói chẳng rằng gì với khách, hay có nói thì cũng lí nhí chẳng ai nghe. Khi thấy khách khó khăn trong việc sắp xếp hành lí thì tiếp viên không bao giờ giúp họ. Chẳng những không giúp mà còn… ra lệnh. Họ ra lệnh kiểu như anh ơi, chỗ này còn trống, anh để hành lí vào đó nhé. Tôi chưa bao giờ thấy tiếp viên đụng tay để nâng một cái xách tay cho người già. Chưa bao giờ thấy. Trong khi đó, thử lên Thai Airways, mới bước vào máy bay đã được chào welcome onboard, nụ cười tươi như hoa, khi thấy khách lúng túng là tiếp viên đến giúp ngay hay hỏi có cần giúp không, còn tiếp viên nam thì sẵn sàng giúp khách sắp xếp hành lí nặng, nữ giúp trẻ em thắt giây an toàn. Họ (các tiếp viên ngoại quốc) làm hết mình, làm đúng nhiệm vụ của họ. Còn tiếp viên E Dùi Cui thì hình như chỉ đứng làm cảnh. Mà, thật ra họ cũng chẳng làm cảnh gì vì sắc diện của họ cũng chỉ thường thường bậc trung, đánh phấn lỏe loẹt trông phát ớn, cứ như là thôn nữ thích trét phấn vậy.
Tiếp viên E Dùi Cui có xu hướng khinh người Việt. Tôi thấy tiếp viên E Dùi Cui rất ít cười với khách Việt Nam, nhưng khi tiếp khách nước ngoài thì họ cười rất tươi. Khách Việt yêu cầu gì thì bị chờ lâu hoặc bị lờ đi.  Khách nước ngoài, nhất là nói tiếng Anh một chút, là được phục vụ tận tình. Chính tôi đã từng làm “thí nghiệm”, trong chuyến đi tôi nói tiếng Anh (giả bộ không biết tiếng Việt) thì được phục vụ khá chu đáo, nhưng chuyến về tôi nói tiếng Việt thì bị phục vụ một cách hời hợt. Hời hợt đến nỗi họ không buồn tình đẩy cái xe thức ăn hỏi tôi ăn gì! Nói cho ngay hôm đó chỉ có 3 khách nên chắc họ cũng chán phục vụ chăng? Thái độ của tiếp viên E Dùi Cui rõ ràng là khôn nhà dại chợ. Mấy người nước ngoài, dù là người mà nhìn qua là biết loại gì, cũng được phục vụ tốt hơn hành khách VIP Việt. Mà, tiếng Anh của tiếp viên E Dùi Cui thì thuộc vào loại thấp nhất trong các hãng hàng không quốc tế. Họ nói có khi chẳng ai hiểu. Để ý họ phát âm chữ gentlemen xem thì biết họ líu lưỡi ra sao. Ấy thế mà thích khoe tiếng Anh với khách nước ngoài. Tại sao tiếp viên E Dùi Cui lại khinh người mình thế?
Nói chuyện tiếng Anh tôi nhớ đến một chuyện vui trong chuyến đi từ Sài Gòn về Rạch Giá vào năm ngoái. Trong nhóm hành khách lên xe bus để ra máy bay, có một nhóm thanh niên Việt ở Mĩ và Úc quần áo theo kiểu Tây ba lô, chắc là đi du lịch ở Phú Quốc, và một nhóm khách nước ngoài chắc là Đông Âu vì tiếng Anh lơ lớ của họ. Nhóm thanh niên Việt thì lớn lên ở ngoài nên họ nói tiếng Anh như là người Mĩ, người Úc, nhưng vì họ cố tập nói tiếng Việt nên làm nhiều người cười ngất. Thấy một anh chàng khách Tây nói gì đó với cô gái Việt, cô này quay sang đám bạn của cô ta và cười ré lên: hi mấy anh, cái thằng này nó hỏi mi [me] có biết nói tiếng Anh không, hí hí hí. Thế là cả đám cười ngất trong khi anh chàng Tây ngơ ngác chẳng hiểu họ cười cái gì.  Họ cười tiếng Anh của anh chàng Tây còn bồi như thế mà đã hỏi người khác là biết tiếng Anh không. Câu chuyện anh chàng Tây đó làm tôi nhớ đến tiếp viên E Dùi Cui.
Tiếp viên E Dùi Cui rất lười biếng. Điều này thì tôi đã nói từ lâu. Hãy xem qui trình “phục vụ” của đội ngũ tiếp viên E Dùi Cui: sau khi máy bay cất cánh, họ phát giấy lau mặt cho khách, sau đó là thức ăn, kế đến là nước / cà phê, và sau đó là… tán dóc. Chú ý giữa khâu thức ăn và cà phê / trà họ làm rất nhanh.  Ăn chưa hết đĩa thức ăn thì đã ra lệnh lấy cà phê hay trà rồi. Họ bất cần khách ăn hết hay chưa, lệnh là lệnh: trà hay cà phê. Kiểu như yes hay no, không có lựa chọn khác. Họ làm như thế để tiện lợi cho họ chứ không phải tiện cho hành khách. Tiện lợi cho họ là trong khi khách ăn uống thì họ về buồng của mình để tán dóc. Tôi đã nhiều lần không ăn (vì không thể nào ăn được thức ăn của E Dùi Cui) nên đi lang thang tìm hiểu xem họ làm gì, và phát hiện họ ngồi tán dóc với nhau. Có cô ăn mặc áo dài lịch sự như thế mà ngồi bệt xuống trông rất buồn cười và rất nông dân, có cô thì ngồi chồm hổm để lộ đủ thứ trông rất kì cục. Sau bữa ăn, tiếp viên E Dùi Cui càng thoải mái. Họ ra lệnh đóng cửa sổ, tắt đèn, và một lần nữa vào buồng để tán dóc. Phong cách “phục vụ” này rất khác với phong cách của các tiếp viên các hãng khác. Người ta lúc nào cũng luân phiên đi khắp nơi để xem hành khách có cần gì và giúp đỡ. Ngay cả khi khách ngủ, người ta cũng giúp cho khách ngủ ngon, chứ đâu phải như tiếp viên của E Dùi Cui. Đừng nghĩ rằng tiếp viên E Dùi Cui quan tâm đến an toàn cho khách. Đừng nghĩ rằng tiếp viên E Dùi Cui phục vụ khách.
Với những nhận xét trên, tôi không ngạc nhiên khi anh Lê Minh Khương bị ngược đãi bởi tiếp viên của E Dùi Cui.  Cho dù anh Khương có bức xúc và lớn tiếng thì E Dùi Cui cũng không nên dùng bạo lực (đến 20 nhân viên an ninh vũ khí trang bị tận răng) để hành hung khách. Người có văn hóa nên dùng lời lẽ để giải quyết chứ đâu phải hành xử như bọn lưu manh và vô giáo dục được. Điều đáng nói là vụ việc chưa ngã ngũ mà đã có quan chức đe dọa cho tên anh Khương vào danh sách đen không cho bay. Đây không chỉ là đe dọa, mà còn là cách hành xử cả vú lấp miệng em. Thật khó tưởng tượng cả một hệ thống được huy động chỉ để hành hung và khủng bố một cá nhân! Đó có phải là văn hóa của VNA?
VNA có khẩu hiệu rất hay: đem văn hóa Việt Nam đến thế giớibringing vietnamese culture to the world. Nhưng tôi e rằng họ cần phải làm nhiều hơn nữa, tốt hơn nữa, để đem văn hóa của Việt Nam, thay vì đem văn hóa dùi cui, đến hành khách thế giới.
Lời giải thích của anh Lê Minh Khương
  Thông cáo báo chí của VNA
“Theo lịch trình, tôi cùng với bố tôi bay vào TP HCM để chữa bệnh cho một người. Do thời tiết xấu, máy bay không đáp xuống TP HCM được, phải quay về và hạ cánh xuống sân bay Đà Nẵng. Khi tôi  đến khoang V.I.P và hỏi cô tiếp viên có thể cho bố con tôi xuống Đà Nẵng được không thì cô ta bảo phải đi hỏi mặt đất. Theo yêu cầu của cô tiếp viên, tôi đưa cho cô ta cuống vé (boarding pass) rồi ngồi xuống chờ. Một lúc sau cô tiếp viên trở lại bảo tôi có thể xuống máy bay được và sẽ gọi mặt đất đón tôi.
Thế nhưng khi bố con tôi đã xách hành lý ra chuẩn bị xuống sân bay thì cô tiếp viên lại bảo không xuống được nữa vì chuẩn bị bay. Tôi cũng đồng ý cùng bố tôi trở lại chỗ ngồi và bảo cô tiếp viên cho xin lại cuống vé. Cô ta đi ra ngoài to tiếng với ai đó rồi quay lại bảo tôi là cuống vé đã bị mất rồi. Tôi đề nghị cô ta viết cho tôi mấy chữ để tôi còn về quyết toán với cơ quan vì tôi đi bằng kinh phí Nhà nước.
Sau đó chưa thấy cuống vé đâu thì tôi đã bị một đám người xông vào, thay vì hỏi nguyên nhân thế nào, họ đã có thái độ quá đáng, nạt nộ  rồi bẻ quặt tay, dí dùi cui điện vào cổ, thúc vào ngực, bịt mồm và đưa xuống máy bay. Vừa đánh đập, hành hung, các nhân viên an ninh này còn liên tục văng tục, chửi bậy. Bố tôi đã hơn 70 tuổi lên tiếng bênh con cũng bị họ bẻ quặt tay đưa xuống. Cam đoan tuyệt đối không xảy ra mâu thuẫn hay cự cãi gì cả. … Rất may, tôi là người luyện võ, chứ là người bình thường thì chết”.
 
Liên quan đến trường hợp hành khách có hành vi gây mất trật tự tại khoang hạng Thương gia trên chuyến bay VN1169 từ Hà Nội đi TP Hồ Chí Minh ngày 18.4.2011, Vietnam Airlines thông báo cụ thể như sau:
Chuyến bay VN1169 (Boeing 777-200, số hiệu 141) cất cánh tại Hà Nội lúc 21h55 ngày 18.4.2011, dự kiến hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất (TP Hồ Chí Minh) lúc 23h45 cùng ngày. Tuy nhiên, do thời tiết xấu (mưa to), không đảm bảo điều kiện hạ cánh tại sân bay đến, Cơ trưởng chuyến bay đã chuyển hướng hạ cánh xuống sân bay Đà Nẵng lúc 01h03 ngày 19.4.2011. Sau đó, điều kiện thời tiết tại TP Hồ Chí Minh đã tốt lên, đảm bảo an toàn khai thác, chuyến bay dự kiến xuất phát tiếp từ Đà Nẵng đi TP Hồ Chí Minh lúc 01h30 sáng ngày 19.4.2011. Do thời gian dừng ngắn, cơ trưởng Ivanov Krassimir quyết định để hành khách ngồi trên tàu bay trong khi chờ đợi.
Đến 01h43, tàu bay khởi hành. Sau khi máy bay đóng cửa, bắt đầu lăn bánh ra đường băng, khách Lê Minh Khương to tiếng trên khoang hạng Thương gia (C) yêu cầu trả lại thẻ lên tàu (boarding pass) đã đưa cho nhân viên mặt đất và không chịu trở về chỗ ngồi tại ghế 37K. Do máy bay đang lăn bánh, Tiếp viên trưởng đã mời khách trở về chỗ của mình ở khoang hạng Phổ thông (Y) và nói sẽ ghi nhận phản ánh của khách, báo Cơ trưởng để hỗ trợ và liên lạc với nhân viên mặt đất Đà Nẵng về việc khách phản ánh.
Tuy nhiên, khách Lê Minh Khương không trở về chỗ ngồi và có biểu hiện gây rối, tiếp tục la hét, không tuân thủ yêu cầu của phi hành đoàn. Sau nhiều lần thuyết phục mà không nhận được sự hợp tác của khách, Tiếp viên trưởng Trịnh Thị Hoa đã báo cáo cơ trưởng chuyến bay về sự việc.
Xét thấy việc khách không tuân thủ quy định an toàn, an ninh hàng không, có nguy cơ ảnh hưởng tới an toàn chuyến bay và phi hành đoàn, Cơ trưởng đã quyết định cho tàu bay quay trở lại sân đỗ và liên hệ lực lượng an ninh tại sân bay Đà Nẵng đề nghị trợ giúp. Do khách Lê Minh Khương không chịu xuống máy bay, nhân viên an ninh đã áp giải khách xuống và bàn giao cho Cảng vụ hàng không Miền Trung giải quyết.
N.V.T.

Hàng không Việt Nam và sự thua cuộc trên chính sân nhà


Quý Thanh
Hôm qua, BVN đã đăng bài viết đặc sắc của Nguyễn Văn Tuấn “E Dùi Cui” để gián tiếp bày tỏ thái độ của mình trước hiện tượng phản cảm vừa xảy ra trên chuyến bay của Hãng hàng không Vietnam Airline.
Hôm nay đọc thêm bài viết xác đáng của Quý Thanh trên báo Công an nhân dân lại thấy chưa dừng được, đành phải cố sưu tầm thêm một bài khác nhằm giúp bạn đọc tạo một mối liên tưởng khi đọc bài này: thử đi tìm chân dung người bạn đồng minh của những kẻ được gọi là E Dùi Cui – tức là người làm chứng cho VNA đúng còn huấn luyện viên Lê Minh Khương sai – là tip người như thế nào. Và không phải đi tìm gián tiếp qua văn chượng mà bằng hình ảnh trực cảm.
Bauxite Việt Nam
Với khẩu hiệu của hãng "Đem văn hóa Việt Nam ra thế giới", không thể phủ nhận Vietnam Airlines đang đối mặt với một thất bại văn hóa ê chề trên chính đất nước của mình. Có lẽ hướng ra thế giới vẫn là một điều quá xa vời khi chính Vietnam Airlines đang tự tạo nên một hình ảnh tệ hại trong tâm trí mỗi khách hàng trong nước.
Bất kỳ ai vào trang web của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam đều cảm thấy bị thu hút bởi dòng chữ "Bring Vietnamese culture to the world". Bằng khẩu hiệu này, Vietnam Airlines đã khẳng định sự gắn bó của mình với dân tộc cũng như sự trân trọng những nét tinh hoa trong nền văn hóa Việt. Đó là một cách tiếp cận đầy bản lĩnh và cũng hết sức tinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, chỉ một sự kiện xảy ra gần đây cũng có thể làm lung lay cả một khẩu hiệu của một Tổng công ty nhà nước. Đó là sự kiện ầm ĩ gắn liền với một HLV Taekwondo của Đội tuyển quốc gia, ông Lê Minh Khương.
Sự việc xảy ra ngày 19/4 trên chuyến bay VN1169 cất cánh tại Hà Nội đi TP Hồ Chí Minh. Do xảy ra một sự việc không được giải quyết giữa Tiếp viên trưởng và ông Lê Minh Khương nên kết quả là an ninh sân bay áp giải ông Lê Minh Khương xuống sân bay. Những người chứng kiến sự việc bị chia rẽ thành hai luồng dư luận.
Một là ông Khương không làm gì đáng để an ninh sân bay sử dụng bạo lực để chế ngự. Hai là ông Khương có những biểu hiện thiếu kiềm chế. Ngay ngày hôm sau, Vietnam Airlines ra văn bản cho rằng phi hành đoàn chuyến bay VN1169 từ Hà Nội đi TP Hồ Chí Minh ngày 18/4 đã xử lý tình huống theo đúng quy định an toàn hàng không và ông Khương có biểu hiện gây rối, tiếp tục la hét, không tuân thủ yêu cầu của phi hành đoàn. Một bộ phận lên tiếng ủng hộ ông Khương trong đó tiêu biểu có đạo diễn Trần Lực, ca sỹ Quang Hà.
Xét cho cùng đó là một sự việc hết sức đơn giản bởi nó xảy ra ở chỗ đông người và những người đi máy bay đều có thể xếp ở tầng lớp trung lưu trong xã hội. Tức là họ đều là người có học thức, có vốn văn hóa nhất định và biết cư xử đúng sai phải trái. Muốn tìm hiểu sự việc, hãy biết lắng nghe từ nhiều phía và thấu hiểu diễn biến của sự việc một cách khách quan, công bằng. Văn hóa Việt Nam có câu: "Một điều nhịn là chín điều lành". Trong kinh doanh thì cũng có một kim chỉ nam "Khách hàng là Thượng đế".
Thế nhưng nhìn vào cách cư xử của Vietnam Airlines chúng ta không thấy bất kỳ một mong muốn đối thoại nào. Biểu hiện của sự nhã nhặn, lịch thiệp cần có của một hãng hàng không và phương thức ứng xử thể hiện sự tôn trọng khách hàng dừng lại ở con số 0. Tất cả chỉ là căn cứ trên bản tường trình của chính những nhân viên Vietnam Airlines. Và từ những căn cứ ấy, Vietnam Airlines trích dẫn những cơ sở pháp lý bảo vệ cho hành động của mình.
Một trong những căn cứ có vẻ khách quan nhất là việc Vietnam Airlines đưa ra bản tường trình của khách hàng Eileen Tan. Bản tường trình dù sao cũng là của một bên thứ ba, của một người được cho là chứng kiến từ đầu đến cuối vụ việc. Thế nhưng nước cờ tưởng thuyết phục ấy bỗng trở nên phản tác dụng khi Eileen Tan là Giám đốc Điều hành của Công ty lữ hành Viking, một đối tác của Vietnam Airlines. Eileen Tan không thạo tiếng Việt. Thậm chí những phát ngôn của Eileen Tan theo như sự thuật lại ở mức thiếu văn hóa. Những hình ảnh thể hiện một cá tính khác lạ của người mang giới tính nữ này khiến người đọc không thể không nghiêng về phía ca sỹ Quang Hà.
Vietnam Airlines đã lao vào một cuộc tranh đấu thắng thua với chính khách hàng của mình. Cuộc chiến ấy tưởng chừng như lợi thế nghiêng hẳn về phía Vietnam Airlines. Pháp luật thì trao quyền quyết định cho Cơ trưởng của chuyến bay. Căn cứ để thực thi pháp luật thì đến từ tường trình của chính những nhân viên Việt Nam Airlines. Từ căn cứ này họ có thể cấm huấn luyện viên Lê Minh Khương bay. Việc cấm một chứ có cấm đến một trăm ông Lê Minh Khương cũng chẳng phải điều gì đáng quan ngại vì con số đó không thể ảnh hưởng đến thị trường mà Vietnam Airlines vẫn mang thế độc quyền.
Thế nhưng có một rủi ro nằm ngoài tầm kiểm soát của Vietnam Airlines. Đó là phản ứng của cộng đồng. Văn hóa Việt Nam có câu "Nhân nào thì quả đấy". Chưa thể kết luận về đúng sai của hai bên trong vụ việc nhưng cộng đồng đã tìm thấy ngay sự đồng cảm với huấn luyện viên Lê Minh Khương. Vì sao vậy?
Một người mẹ trẻ kể ngày 13/2/2011, gia đình bay  từ TP Hồ Chí Minh ra Hà Nội trên chuyến bay VN782 (18h30). Lúc máy bay đang hạ cánh, cháu bé bị đau bụng và đã trót đi ngoài làm bẩn hết quần áo. Khi máy bay dừng tại Nội Bài, được sự đồng ý của tiếp viên hàng không cô đã thay tã và quần áo cho con trong toa lét của máy bay vì thời tiết bên ngoài rất lạnh nên sợ em bé bị cảm do quần áo ướt. Khi đó một chị tiếp viên hàng không đã đập cửa xông vào toa lét và lôi hai mẹ con cô khi đứa trẻ còn chưa kịp mặc quần áo. Người mẹ bảo với chị tiếp viên đó cho thêm 1 phút để mặc quần áo cho con, ngoài trời lạnh nếu ra ngoài em bé sẽ ốm. Nhưng chị ta đã quát, nguyên văn như sau: "Chị đi ra! Ốm hay không là việc của con chị, tôi không quan tâm!" và kéo rồi đẩy 2 mẹ con ra.
Một người khác kể trong một chuyến bay từ Nam ra Bắc với một người bạn gái thì người bạn gái mệt nên bị lạnh. Khi hỏi xin cô tiếp viên hàng không một cái chăn để đắp cho người bạn thì được trả lời rằng chăn đã hết. Trên mỗi chuyến bay chỉ được trang bị một số chăn nhất định. Phát hết thì dù có lạnh cũng phải chịu. Một chuyến bay dài khoảng 1 tiếng 45 phút. Ngồi im, chịu lạnh và không có lựa chọn nào khác. Chỉ cần một tấm chăn nhỏ cũng đủ để phủ lên một thương hiệu lớn.
Ngoài ra, chuyện chậm chuyến, hoãn chuyến hoặc thiếu tôn trọng khách hàng thì xảy ra như cơm bữa. Có lẽ vì thế, Vietnam Airlines còn có những biệt danh khác như Delay Airlines và Sorry Airlines. Tính thuyết phục của những nhận định này ngay lập tức được chứng minh một cách ngẫu nhiên. Chiều 23/4, nhiều hành khách báo tin chuyến bay từ TP Hồ Chí Minh đi Hà Nội cất cánh buổi sáng nhưng đến chiều khách vẫn còn ở... sân bay Đà Nẵng do tổ bay phát hiện kính buồng lái bị nứt. Cơ trưởng chuyến bay đã quyết định hạ cánh khẩn cấp xuống sân bay Đà Nẵng. Toàn bộ hành khách và hành lý của chuyến bay đã phải chuyển xuống và chờ tại nhà ga sân bay Đà Nẵng.
Những lời ca thán dành cho Vietnam Airlines xuất hiện dày đặc trên các diễn đàn. Với sự đồng cảm của phần lớn xã hội, chuyện xảy ra với huấn luyện viên Lê Minh Khương không còn là chuyện cá nhân. Nó đã trở thành cái cớ cho tất cả mọi người bộc lộ những bức xúc của mình quanh chất lượng và thái độ phục vụ hành khách của Vietnam Airlines. Huấn luyện viên Lê Minh Khương đã trở thành một điểm nút của vấn đề. Qua đó Vietnam Airlines phải đối mặt với cả một cộng đồng và những bất bình được tích tụ trong một thời gian dài.
Khi sự việc đã bị đưa tới cao trào đó, dù sự phân xử có được thực hiện như thế nào đi nữa thì người thua cuộc vẫn là Vietnam Airlines. Nếu Vietnam Airlines sai thì sự việc thể hiện một cung cách làm việc theo kiểu "xe đò". Khách hàng từ vị trí của người được phục vụ trở thành những kẻ phải tuân lệnh và chấp nhận. Nếu Vietnam Airlines đúng thì khi đó việc trả lời cho câu hỏi Tại sao tôi đúng mà bị tẩy chay hẳn là chuyện đụng chạm tới những vấn đề bản chất trong nội tại tổ chức.
Rõ ràng ngay từ đầu, Vietnam Airlines đã áp đặt một cách ứng xử của bề trên. Đó là việc không chấp nhận khả năng thua cuộc của tổ chức. Do đó, việc đối thoại để tìm sự thật và cách giải quyết không được ưu tiên. Diễn biến của sự việc không khỏi khiến người đọc liên tưởng tới thói quen của một doanh nghiệp độc quyền. Tuy nhiên, sự độc quyền có thể áp đặt khách hàng sử dụng dịch vụ nhưng không thể tạo ra sự  gắn bó trong tình cảm. Đó mới là sự thua cuộc đau đớn nhất trên chính đất nước mà mình vẫn là số một.
Ở phương diện này, Vietnam Airlines đã không có thói quen và không dám đối diện với chính mình.
Trở lại với khẩu hiệu của hãng "Đem văn hóa Việt Nam ra thế giới", không thể phủ nhận Vietnam Airlines đang đối mặt với một thất bại văn hóa ê chề trên chính đất nước của mình. Có lẽ hướng ra thế giới vẫn là một điều quá xa vời khi chính Vietnam Airlines đang tự tạo nên một hình ảnh tệ hại trong tâm trí mỗi khách hàng trong nướcclip_image001
Q.T.
Nguồn: cand.com.vn
Phụ lục:
Chân dung của nhân chứng vụ "võ sư bị đánh" Eileen Tan
Tiến Lộc
(Phunutoday) Bà Eileen Tan là một nhân chứng người nước ngoài trên chuyến bay VN1169 (máy bay Boeing 777-200, số hiệu 141) của hãng hàng không Vietnam Airlines, từ Hà Nội vào TPHCM vào đêm 18/4.
Phóng viên đã liên lạc với anh Quang Cường và được anh xác nhận nhân vật trong ảnh chính là chân dung của bà Eileen Tan, người mà anh Cường đã "chạm mặt" trên chuyến VN1169. Chính bà là người đã giơ máy ảnh chụp cảnh ca sĩ Quang Hà đang đứng dàn xếp giữa anh Lê Minh Khương và tiếp viên của hãng hàng không Vietnam Airlines.
Cũng theo xác nhận của anh Quang Hà thì hiện tại bà Eileen là Giám đốc Công ty Viking Travel & Media, Công ty này bán vé cho tất cả các tuyến quốc nội và quốc tế trên toàn cầu; Tư vấn các chuyến bay quốc tế của các hãng hàng không; Cung ứng các dịch vụ hàng không liên quan, đặt và giữ chỗ hành khách, giao vé tận nhà, nhanh chóng miễn phí… Văn phòng của Công ty Viking Travel & Media được đặt tại 79 Trần Hưng Đạo, quận 1, TP HCM.
Từ khi bà Eileen lên tiếng là người làm chứng cho nhân viên an ninh của hãng hàng không Vietnam Airlines xô xát với HLV trưởng Taekwondo Việt Nam Lê Minh Khương, bà đã đưa ra ý kiến hoàn toàn trái chiều với những nhân chứng: đạo diễn Trần Lực, anh em ca sĩ Quang Hà, Quang Cường.
Những ngày qua dư luận cũng xôn xao với lời chửi thậm tệ ca sĩ Quang Hà của bà Eileen Tan. Tuy nhiên, đấy mới chỉ là cái tên còn thật sự bà là ai thì khó mà kiểm chứng được.
clip_image003

Phạm Quỳnh, “đi không bao giờ trở lại”

Về ngày “Ủy ban Khởi nghĩa Thuận Hóa mời Phạm Quỳnh ra làm việc” để rồi “đi không bao giờ trở lại”

Đại tá, Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan
Chúng tôi đã đăng bài Góp phần tìm hiểu và làm theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Bất tất nhiên” của Đại tá Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan, ký bút danh Sông Hương, và được đông đảo bạn đọc ở trong nước và cả ngoài nước nữa hoan nghênh, khen ngợi, truyền cho nhau đọc…
Kỳ này chúng tôi lại may mắn được Đại tá Tiến sĩ ưu ái gửi cho một bài mới, kết quả của quá trình làm việc nghiêm túc, đúng phong cách của nhà sử học chân chính, nhưng vẫn với bút pháp rất độc đáo của ông, lật đi lật lại vấn đề nhiều lần, dưới nhiều góc nhìn khác nhau, thể hiện sự tin tưởng vào lương tri và trình độ hiểu biết của bạn đọc.
Xin mời các bạn cùng thưởng thức để có thêm những suy nghĩ mới về một vấn đề xảy ra cách nay đã hơn 60 năm.
Phạm Tôn
Năm 1992 tôi là Trưởng ban Ban văn học Cổ cận đại Viện Văn học, đồng thời đang đảm nhiệm chức Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện. Vào khoảng tháng Hai năm ấy, vừa sau Tết âm lịch, tôi tính ra biết sắp đến 75 năm ngày ra đời Nam phong tạp chí (1-7 -1917 – 1-7-1992), bèn bàn với Viện trưởng Viện Văn học lúc bấy giờ là Phong Lê tổ chức một Hội thảo Khoa học trong phạm vi hẹp ở Ban văn học Cổ cận đại, mời các chuyên gia văn học Cận đại và những học giả có hiểu biết về Phạm Quỳnh và về Tạp chí Nam phong đến trao đổi với nhau một cách thực sự cầu thị về chỗ được và chỗ không được của tờ tạp chí này cùng những đóng góp của ông Chủ bút Phạm Quỳnh, giới hạn ở góc độ một nhà văn hóa. Phong Lê tán thành đề nghị của tôi.
Một mặt chúng tôi gửi thư mời đến nhiều học giả, được các anh Nguyễn Đình Chú, Trần Quốc Vượng, Vương Trí Nhàn, Phạm Xuân Nguyên... và các cụ Hoàng Đạo Thúy, Vương Hồng Sển... nhiệt tình hưởng ứng, ai cũng nhận lời viết bài cho hội thảo; mặt khác tôi đích thân đến gặp ông Hoàng Tùng, bấy giờ đã hưu trí, để xin ông tư vấn thêm. Ông Hoàng Tùng nghe có hội thảo Nam phong thì tỏ ý rất vui, ông nói với tôi: “Bác Hồ không bao giờ tán thành giết Phạm Quỳnh. Khi nhận được báo cáo đã giết cụ Phạm, Bác ngạc nhiên lặng đi, rồi giơ tay làm hai vạch chữ thập trên tờ báo cáo, tỏ ý không chấp nhận việc làm xốc nổi tả khuynh ấy”.
Tôi còn viết thư cho ông Nguyễn Văn Trung ở TP Hồ Chí Minh mời ông viết bài, có nói rõ: quan điểm đánh giá như thế nào là tùy ông chứ không áp đặt. Một thời gian ngắn sau tôi nhận được cuốn sách Trường hợp Phạm Quỳnh do ông gửi tặng, kèm theo lá thư của ông, báo tin không tham gia Hội thảo được vì quá bận.
Tôi và Phong Lê lại rủ nhau đến gặp gia đình Phạm Quỳnh là nhạc sĩ Phạm Tuyên và GS Bác sĩ Phạm Khuê trình bày mục đích yêu cầu của hội thảo và mời hai ông tham dự. Vợ chồng nhạc sĩ Phạm Tuyên hết sức hoan hỷ, nhận lời sẽ cho vẽ một pa-nô làm phông cho hội thảo, còn BS Phạm Khuê lúc đầu có hơi ngần ngại vì sợ sẽ không đến đâu cả, nhưng sau khi nghe tôi nói rõ đây là hội thảo về Nam phong tạp chí, mời những tiếng nói nhiều chiều tranh luận với nhau, cốt tìm ra chân lý, chứ không phải nhằm kỷ niệm học giả Phạm Quỳnh, bởi chưa đến lúc, mặc dầu thế nào cũng có ngày ấy, ông bèn đổi ngại làm vui và nhận lời đến nghe với tư cách con cháu trong gia đình.
Trong tháng Sáu, công việc chuẩn bị của chúng tôi đã tạm xong. Các tham luận gửi về đã tương đối phong phú. Anh chị em xếp đặt chương trình bài nào trước bài nào sau, chủ trương trong vòng một ngày mỗi người chỉ đọc chừng 20 phút, còn 20 phút nữa là dành cho trao đối ý kiến như các Hội thảo mà tôi thường tổ chức. Giấy mời cũng đã in.Tôi bèn đến nhà nhạc sĩ Phạm Tuyên xem lại tấm pa-nô, thấy kẻ chữ rất công phu, tiêu đề lớn ghi rõ: Hội thảo 75 năm Tạp chí Nam phong và học giả Phạm Quỳnh, ở dưới đề thêm Ban Văn học Cổ cận đại Viện Văn học chủ trì, thế là có thể yên tâm.
Vào khoảng giữa tháng Sáu, Viện Văn học có tổ chức một hội nghị mà đến nay tôi không còn nhớ là hội nghị gì nhưng có nhiều vị khách quan trọng được mời, trong đó có ông Tố Hữu. Tôi biết lúc này ông Tố Hữu đã thôi giữ chức Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng và Bí thư Trung ương Đảng lâu rồi, tuy vậy vẫn là một nhân vật danh dự trong nhiều cuộc họp, và mỗi lần nghe ông phát biểu – tuy khá hiếm hoi chứ không nhiều như trước – người ta vẫn nể xen với e dè. Có một nữ Giáo sư ở Khoa Văn Trường đại học Sư phạm cũng đến dự hội nghị, nhân nhìn thấy ông Tố Hữu và cũng nhân có tôi đang ngồi cạnh chị, chị bèn bảo: “Này, có ông Tố Hữu ở đây, anh tiếc gì mà không đến nói với ông ấy một tiếng cho phải phép; chả ông trước là Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa Thuận Hóa, chuyện cái chết của Phạm Quỳnh chắc ông ấy phải rõ chứ!” Tôi nghe bùi tai bèn đi thẳng đến chỗ ông Tố Hữu đang ngồi ở bàn trên xin tranh thủ gặp ông vài phút, rồi khi ông vừa quay lại gật đầu là tôi nói ngay vào đề, rằng Ban văn học Cổ cận đại của Viện sẽ tổ chức một hội thảo hẹp nhân 75 năm Tạp chí Nam phong vào ngày 1-7 tới, nhân thể có lời mời ông đến dự cho vui. Ông vừa nghe, hai mắt nhướng lên, mặt vẫn không đổi sắc nhưng có vẻ trắng hơn, sau đâu chừng vài phút im lặng như ngẫm nghĩ, bèn nói, giọng vẫn chầm chậm rỉ rả: “À... à... Tạp chí Nam phong à? Chuyện này... theo mình thì có lẽ còn hơi vội...” Ông im một lát rồi nói tiếp: “Để chừng hai ba năm nữa hãy làm... sẽ thuận hơn”. Ông chỉ nói có thế và nhìn xoáy vào mắt tôi, nhắc rõ từng tiếng “E còn hơi vội đấy... để chừng vài năm nữa...” đến lần thứ hai. Tôi cũng nhìn lại ông như bày tỏ một sự ngạc nhiên nhưng không đáp lại, sau đó gật đầu chào ông rồi rút lui.
Sau buổi họp, tôi có trao đổi lại với Phong Lê. Chúng tôi cân nhắc, cho rằng mấy lời của ông Tố Hữu chỉ là một ý kiến để tham khảo. Vả chăng, cuộc hội thảo đã thu lại trong phạm vi một ban chuyên môn thì chỉ là thảo luận học thuật thông thường, như các buổi thảo luận khác mà Ban thường làm, chứ không phải là hội thảo khoa học nhằm truyền thông rộng rãi, bởi vậy ta cứ tiến hành. Tôi bèn cho phát giấy mời và báo cho nhạc sĩ Phạm Tuyên đúng sáng 1-7 đưa pa nô đến thật sớm.
Tối hôm 30 tháng Sáu, khác với thường lệ, tôi không về nhà mà nằm lại ở phòng làm việc tại tầng một cuối ngôi nhà lớn của Viện (chúng tôi đã được chia nhà từ mấy năm trước nhưng vẫn có thói quen nằm lại phòng làm việc mỗi khi có chuyện gì khẩn), để đọc lại bản Đề dẫn và soát lại các bài tham luận của mọi người gửi tới. Rất khuya, bỗng nghe từ phía Phòng Hành chính gần ngoài cổng Viện có tiếng reo của chuông điện thoại. Trong không khí yên tĩnh, tiếng chuông tuy xa nhưng nghe rất rõ. Như có linh tính, tôi bỏ giấy xuống và chạy vội ra hành lang. Khi đến nơi thì một người nào đó không hiểu vì sao có khóa đã kịp mở cửa vào Phòng Hành chính cầm ống nghe và báo lại với tôi: “Trên Tuyên giáo Trung ương báo xuống ngày mai hãy dừng hội thảo Nam phong lại đã”. Tôi chỉ biết đứng sững người. Một cái lệnh đến vào giữa khuya không sao kịp xoay trở. Tính toán giỏi quá chừng!
Hôm sau anh chị em trong Ban đến rất sớm, không cần nói người nào cũng hiểu ngay cơ sự trước bộ mặt ủ ê của tôi. Chúng tôi lại phải chầu chực trước cửa Viện tìm những lời khéo léo xin lỗi quý khách để mọi người thông cảm và yên tâm ra về.
Nguyễn Huệ Chi
clip_image002
Sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, Phạm Quỳnh “ở nhà”, không tham gia Chính phủ Trần Trọng Kim. Mặc dù Chính phủ của ông Kim gồm phần lớn các Bộ trưởng là những người yêu nước, ghét Pháp, cũng không ưa Nhật (…)
clip_image003
Theo lời Phạm Quỳnh, ông muốn “nghỉ việc”, để chăm lo vào đường văn học. Tổng khởi nghĩa diễn ra ở Huế, ông vẫn bình tĩnh. Con cháu tham gia biểu tình, ông chẳng những không ngăn cản mà còn khuyến khích, bảo người nhà mua và may cở đỏ sao vàng cho con cháu đi biểu tình. Có lẽ ông cho mình là một người yêu Tổ quốc – theo cách của ông – đòi Pháp trả lại quyền cho vua Việt Nam – đấu tranh cho một nền quân chủ lập hiến hiện đại, v.v. Và cũng biết mình chưa nắm được tình hình diễn biến của thế sự, tin (cả tin) vào suy nghĩ của mình,
clip_image004
không lường được những gì sẽ xảy ra, chủ quan không chủ động tìm hiểu thông tin để tự bảo vệ.[1]
Ngày 23 tháng 8 năm 1945, hai sinh viên Trường Thanh niên Tiền tuyến – Huế là Đặng Văn Việt và Cao Pha[2] hạ cờ quẻ ly ở Kỳ đài Huế, kéo cờ đỏ sao vàng lên. Vào lúc 14 giờ, lá cờ rộng chừng 100 mét vuông ấy đã tung bay trên bờ sông Hương, trước núi Ngự Bình, trên đỉnh cột cờ Phu Văn Lâu.
Ngày 23 ấy, nhân dân Thừa Thiên-Huế đã tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi.
Cũng trong ngày 23, “Tôi (Phan Hàm sinh viên Trường Thanh niên Tiền tuyến Huế - NVK chú) nhận lệnh, nghiên cứu thì được biết thêm là trong nhà Phạm Quỳnh cũng như nhà Ngô Đình Khôi đều có rất nhiều súng ống. Vì vậy buổi sáng hôm ấy, anh Hồ[3] và tôi phải cải trang đi trinh sát địa hình trước. Kết quả chỉ biết đích xác nhà (biệt thự Hoa Đường), sân, còn trong nhà không rõ. Đến trưa ông Phan Tử Lăng[4] trực tiếp chỉ thị cho tôi: đến trại Bảo An binh, ông ta sẽ phối thuộc cho hai Tiểu đội lính Bảo An (một Tiểu đội do tôi chỉ huy, một Tiểu đội do anh Việt chỉ huy) để giúp vào việc đi bắt hai tên Việt gian đầu sỏ này. Ông ta còn nói thêm: “Bắt được rồi đem về lao Thừa Phủ, rồi báo xuống sân vận động Huế người ta biết, mở màn cuộc mít tinh”.
“Mệnh lệnh rất ngắn mà chúng tôi mang theo chỉ thấy nói “Ủy ban Khởi nghĩa Thuận Hóa mời Phạm Quỳnh ra làm việc”. Tôi được trang bị một khẩu súng lục St.Etienne 6.35. Khi xe của tôi vòng vào sân, thấy Nguyễn Tiến Lãng trong nhà chạy ra. Lúc bấy giờ trên áo tôi đã có cái băng cờ đỏ sao vàng nên Lãng biết, toan chạy. Tôi đưa súng lên bắn thì kẹt đạn, nên bắt lên xe luôn. Anh Hồ lên lầu bước vào phòng Quỳnh đang chuẩn bị nghỉ trưa. Đưa giấy “mời” ra, ông ta thản nhiên đứng dậy mặc áo ra đi.
clip_image005
Phần cuối tập tư liệu 10 trang do chính tay Thiếu tướng Phan Hàm viết ngày 8/11/1993 và Tuyên huấn Tỉnh  ủy Thừa Thiên-Huế nhận chiều 14/11/1993. Có chữ ký trên tên do Thiếu tướng viết.
“Tôi lục soát khắp nhà (Chúng tôi nhấn mạnh - N.V.K) chẳng thấy súng đạn đâu cả ngoài khẩu súng săn cỡ 12 ly của con trai ông ta và ít đạn săn. Con trai của ông ta là Phạm Khuê cũng đi dự mít tinh, ở nhà chỉ còn hai cô con gái là học sinh Trường Khải Định trước đây” (…) “Đây là ý kiến tôi muốn đóng góp với những bản tổng kết quân sự, Đảng, chính quyền của tỉnh nhà”[5].
“Chúng tôi đưa những người bị bắt về lao Thừa Phủ, sau đó giao cho anh Nguyễn Trung Lập[6] đưa họ đi khỏi thành phố Huế để tránh sự dòm ngó của người ngoài[7].
Ngày 28 tháng 8, Pháp cho sáu tên nhảy dù xuống Hiền Sĩ. Mười ngày sau (6 hoặc 7 tháng 9) lại có một toán người Pháp khác đổ bộ vào Thuận An. Bọn nhảy dù xuống Hiền Sĩ, vừa xuống mặt đất đã hỏi thăm người địa phương “Phạm Quỳnh ở đâu? (nguyên văn tiếng Pháp: Où est Pham Quynh?)”
Trong khi đó, cũng ngày 23 “sáng, Hồ Chí Minh (rời Tân Trào từ ngày 22 để về Hà Nội) đi qua huyện Đa Phúc, Phú Yên (nay là Sóc Sơn, Hà Nội). Chiều, người qua sông Hồng ở bến Phúc Xá. Tối người đến nghỉ trong nhà ông Công Ngọc Kha ở làng Gạ (Phú Gia, huyện Từ Liêm)[8]”. Ngày 24 người nghỉ tại đây. “Sáng ngày 25, tại làng Gạ, Người nghe các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh từ nội thành ra báo cáo8. “Chiều, người đi ô tô vào Hà Nội, dừng ở số nhà 35 phố Hàng Cân, lên gác tầng hai nhà số 48 phố Hàng Ngang”8. Ngày 26, Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng. Ngày 27, Người họp với Ủy ban Dân tộc Giải phóng, “đề nghị thi hành chính sách đoàn kết rộng rãi, thành lập Chính phủ thống nhất quốc gia bao gồm cả những đảng phái, những người có danh vọng”8
Ngày 28, Hồ Chí Minh đến làm việc tại nhà số 12 Ngô Quyền, dành thời gian soạn Tuyên ngôn độc lập. Được báo cáo là Trần Huy Liệu cùng phái đoàn đã vào Huế nhận ấn kiếm của Bảo Đại thoái vị, Bác nói với Hoàng Hữu Nam: “Chú tìm một người[9] thay chú vào Huế gặp Phạm Quỳnh đưa thư tôi mời cụ Phạm[10].
Trong đêm 23 tháng 8, Chính phủ cách mạng lâm thời đã điện đòi Bảo Đại thoái vị. Chiều 30 tháng 8, Bảo Đại nộp ấn, kiếm cho phái đoàn Chính phủ ta[11].
clip_image006
Trở lại ngày 27 tháng 8, khi họp Ủy ban Dân tộc Giải phóng tại Hà Nội, chưa  rõ là Chủ tịch Hồ Chí Minh có “đả động” gì đến Phạm Quỳnh không? Và Người có kịp căn dặn Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, Huy Cận vào Huế tìm hiểu hoặc đến thăm Phạm Quỳnh?
Ngày 28, Pháp nhảy dù xuống Hiền Sĩ. Ngày 30, Trần Huy Liệu – nếu có tìm gặp Phạm Quỳnh cũng không được. Vì, có thể là những người lãnh đạo Ủy ban Khởi nghĩa cho biết là “có dấu hiệu Pháp liên lạc với Phạm Quỳnh” hoặc là Phạm Quỳnh bị bắt và đã giải đi xa rồi… Trần Huy Liệu chắc là có báo tin về Hà Nội, nên ngày 30 tháng 8 (ngày tiếp nhận thoái vị của Bảo Đại), Hoàng Hữu Nam đã thưa với Bác: “Ông Phạm Quỳnh đã bị bắt”[12] thì Bác đã nói ngay “Bất tất nhiên”[13].
Ngày 31, Vũ Đình Huỳnh đưa các cô Phạm Thị Giá, Phạm Thị Thức đến gặp Hồ Chủ tịch, báo tin cha mình (Phạm Quỳnh) đã bị bắt.
Bảy ngày sau, tức mùng 6 hay 7 tháng 9 năm 1945[14], theo Phan Hàm, Võ Quang Hồ, sau khi Giải phóng quân Huế được thành lập vào ngày 1/9 thì có tin tàu Pháp xuất hiện ở cửa bể Thuận An[15]. Võ Quang Hồ cùng một số chiến sĩ có vũ khí đi thuyền áp mạn tàu Pháp, leo lên tàu Pháp đưa thư của ta cho chúng. “Xem xong thư, tên Pháp ôn tồn nói: Mời các ông lên bờ trước, tôi cho tàu nhổ neo sát vào bờ, rồi dùng ca nô lên bờ sau. Khi thuyền của Võ Quang Hồ, Đoàn Huyên15 cặp bờ thì tàu Pháp nhổ neo, giương buồm, hướng biển khơi mà chạy [16]. Có thể là “sau đó” Phạm Quỳnh bị bắn, nhưng bị bắn vào ngày nào?
Báo Quyết thắng, cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt minh Trung Bộ, số 11 ra ngày 9/12/1945, cho biết: “Cả ba tên Việt gian đại bợm (Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Huân) bị bắt ngay trong giờ cướp chính quyền, 2 giờ (chiều) ngày 23/8 và đã bị Ủy ban Khởi nghĩa kết án tử hình và đã thi hành ngay trong thời kỳ thiết quân luật”[17].
Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa Thừa Thiên-Huế bấy giờ là Tố Hữu. Vậy, ông Phan Tử Lăng nhận lệnh đi bắt Phạm Quỳnh hẳn không phải là do ông Tôn Quang Phiệt Chủ tịch Ủy ban Nhân dân hay ông Hoàng Anh – phụ trách chính trị đại diện Đảng bố trí trong chính quyền – ra lệnh, mà phải là Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa.
Theo tư liệu nước ngoài, sau khi tàu chiến Pháp vào cửa Thuận An ngày 6 tháng 9, có lẽ Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa cho rằng “Pháp có thể tiếp tục tìm bắt liên lạc với Phạm Quỳnh (dù chỉ có một câu nói của nhóm nhảy dù “Phạm Quỳnh ở
clip_image007
đâu?”. Cũng không rõ bọn Pháp hỏi để nhờ Phạm Quỳnh làm “phiên dịch” hoặc “tôn” Phạm Quỳnh lên làm chức gì đó?) nên họ xử lý ngay.
Sau khi Phạm Quỳnh “lên xe đi” (và “không bao giờ trở về nữa”), ông vẫn tin “Cách mạng sẽ cho về”. Và lúc nhận viên đạn trước khi rời bỏ cuộc đời, sự nghiệp còn dở dang, ông vẫn tự cho mình là không có tội với Nước – có chăng là chưa thuận theo thời đại – ông vẫn không tin rằng “Cách mạng, những người Cộng sản Việt minh” lại xử bắn mình. Vì thế ông mới hét lên “Quân sát nhân!” (Quân giết người).
Theo Vũ Đình Huỳnh, khi ông Tôn Quang Phiệt ra Hà Nội gặp Bác và báo cáo “Cụ Phạm Quỳnh đã bị khử rồi” (nguyên văn). Bác nói: “Giết một học giả (chú ý: Bác không nói người mà nói học giả) như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì? Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với Cụ Phạm (chú ý: Bác dùng chữ Cụ) ở Pháp. Đó không phải là người xấu”[18].
Trở lại với thông báo của Việt minh Trung Bộ, ta có thể đặt các câu hỏi sau đây:
a) Tại sao đã xử bắn “Kết án tử hình” từ ngày 6 (7) tháng 9 năm 1945, mà mãi đến ngày 9 tháng 12 mới ra “thông báo”?
b) Bản án đã “thi hành ngay trong thời kỳ thiết quân luật”. Vậy “thời kỳ thiết quân luật” bắt đầu từ ngày nào đến ngày nào, trong phạm vi địa phương nào? Có được Chính phủ cho phép?
c) Ủy ban Khởi nghĩa “kết án tử hình”. Vậy bản án ấy số bao nhiêu? Ai là quan tòa? (Hoặc do thời kỳ cách mạng, bão táp, v.v. và v.v.)
d) Thông báo viết: “Phạm Quỳnh còn dựa vào thế lực Pháp (…) bóc lột vơ vét tài sản quốc dân…”. Vậy, khi khám nhà Phạm Quỳnh đã thu được được bao nhiêu “tài sản”, vàng bạc, v.v.? Có mâu thuẫn gì không với ý kiến của Thiếu tướng Phan Hàm: “Chẳng thấy dấu hiệu gì (chứng tỏ liên lạc với Pháp), cũng chẳng có tài sản gì…(ngoài khẩu súng săn)”? Và nếu thu được “tài sản” liệu có thống kê không, danh mục ai thu, ai giữ, gửi ai, cơ quan nào bảo vệ?
đ) Tờ thông báo này là một công văn của “Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương, Thừa Thiên-Huế gửi Tòa án Quân sự Thuận Hóa
Thông báo này có hai điểm cần xem xét:
1/ Cho đến ngày 9/12/1945, nghĩa là sau khi nước ta tuyên bố độc lập, có Chính phủ rồi, hệ thống chính quyền ở các địa phương là Ủy ban Nhân dân kỳ, tỉnh, huyện…liệu có phải chỉ riêng ở Thừa Thiên-Huế vẫn tồn tại Ủy ban Khởi nghĩa?
2/ Tòa án quân sự Thuận Hóa – sự thật đã có hay chưa? Ai là Chánh án?
Trong sách Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, 1993, trang 17 có viết: “Ngày 13 tháng 9, sắc lệnh số 33C quy định lập Tòa án Quân sự ở Bắc Bộ (Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình), ở Trung Bộ (Vinh, Huế, Quảng Ngãi…) Tòa án Quân sự sẽ xử tất cả những ai có hành động phương hại đến nền độc lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa… Những quyết nghị của Tòa án Quân sự sẽ đem thi hành ngay (không có quyền chống án –NVK chú) trừ trường hợp tử hình (Chúng tôi nhấn mạnh – NVK), cần có thời gian cho tội nhân xin ân giảm (chỉ có Chủ tịch nước mới có quyền ân giảm – NVK chú) nếu họ muốn và phải được ghi vào bản án. Nếu không, bản án (tử hình – NVK chú) thành vô giá trị”.
Xử Phạm Quỳnh trước khi có sắc lệnh lập Tòa án Quân sự, “cũng phải” thôi! Sau khi có sắc lệnh lập Tòa án Quân sự ngày 13/9/1945 rồi, tại sao đến ngày 9 tháng 12 cùng năm, Ủy ban Khởi nghĩa mới báo cáo lên tòa án – một việc đã làm cách đó hơn ba tháng? Với mục đích gì? Nhằm giải quyết việc gì?
Phải chăng đây là một “tờ trình” cho hợp lệ, khi Ủy ban Khởi nghĩa có thể không còn, thời gian “thiết quân luật” đã qua, việc “kết án tử hình đã thi hành ngay rồi”. Cũng cần nói thêm là khó có thể tránh…Tuy nhiên, nước nhà đã độc lập, đã có Chính phủ, chính quyền các cấp, người công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa phải được hưởng quyền công dân (tự do báo chí, hội họp…không bị xâm phạm thư từ, tài sản, càng không được xâm phạm tính mệnh). Nhưng những người lãnh đạo ở tỉnh Thừa Thiên – Huế, chịu trách nhiệm trước dân lại vô tình (hay hữu ý?) không biết (hay cậy quyền?) dựa vào uy tín của cách mạng, tự tiện quyết định mà không cần xin phép, không báo cáo…Họ chủ trương (có hay không?) làm một việc đã rồi. Khoan nói đến tầm nhìn hạn hẹp, ấu trĩ, mà cần xem xét sự việc này như là một “di căn” của “đấu tranh giai cấp” từ 1930 – 1931 còn sót lại, với “Trí-Phú-Địa-Hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” của những “nhà cách mạng yêu nước” tinh thần cao nhưng lại giáo điều, tả khuynh “hủ Mác”[19].
Tạp chí Tri tân số 205 ra ngày 7/9/1945 (suýt soát ngày 6 (7) Phạm Quỳnh bị thủ tiêu) đăng bài Cuộc hội đàm giữa Cụ Hồ Chủ tịch với ba đại biểu Liên đoàn Văn hóa (Trương Tửu, Thượng Sĩ, Nguyễn Đức Quỳnh - NVK chú).
Trong buổi gặp ấy, Cụ Hồ có nói: “Trong Chính phủ lâm thời có cả vua, quan lại cũng có, địa chủ cũng có, nông dân cũng có, công nhân cũng có (chú ý: Bác không nói Việt minh – Cộng sản – Dân chủ – Quốc Dân đảng – NVK chú)… Lúc này bất cứ người nào miễn là có tài và đừng phản cách mạng thì có thể phụng sự quốc gia, Tổ quốc”[20].
Chắc chắn là vẫn còn những nhân chứng, chi tiết, sự kiện mà lịch sử chưa tiếp cận được, chưa khai thác được, hoặc chưa tìm ra, chưa công bố được nhiều vụ việc – trong đó có “vụ Phạm Quỳnh”.
Chúng ta có thể tự an ủi rằng: Bác Hồ đã “gặp” Phạm Quỳnh rồi mà vẫn “lỡ”[21]. “Gặp” ở tinh thần yêu nước, muốn làm gì đó để nước thoát khỏi ách nô lệ, mỗi người theo cách riêng của mình, “gặp” ở tri thức, “gặp” ở sự cống hiến cho Tổ quốc. Còn “lỡ” là “lỡ” không kháng chiến, kiến quốc, “lỡ” để mất đi “một học giả”… khi chính Cụ Hồ, Tổ quốc đang rất cần những “học giả” như thế…
Không phải là “bới lông tìm vết”. Mà khoa học lịch sử là phải công bằng, rõ ràng công, tội: Công bao nhiêu, tội bao nhiêu?.
Không thể “mờ mờ nhân ảnh”, để thế hệ này và cả các thế hệ mai sau cũng “mờ mờ” theo[22].
N.V.K.
[1] Xin nói rằng bộ phim Ngọn nến hoàng cung, dù là phim “tiểu thuyết lịch sử” (do Đạo diễn tuyên bố) nhưng đã “sáng tác” ra  quá nhiều chi tiết-sự kiện phi lịch sử – sai lệnh về cách ứng xử, nhân cách của các nhân vật trong phim.
[2] Đặng Văn Việt, năm 2009 vẫn còn sống, ở tuổi 90, là “đệ tứ quốc lộ đại vương”, vua đường số 4 những năm 1949-1950; Cao Pha, Thiếu tướng Cục Tình báo, đã mất.
[3] Võ Quang Hồ, Thiếu tướng, 120/6 đường Lê Văn Thọ, Phường 11, Quận Gò Vấp, TP HCM. Điện thoại số: 3996 7419
[4] Phan Tử Lăng bỏ nghề dạy học để đi học Võ bị Tông, cùng khóa với Dương Văn Minh, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa sau này, được Chính phủ Trần Trọng Kim giao “Tổng chỉ huy lực lượng vũ trang của Chính phủ”, trực tiếp chỉ huy lực lượng Bảo An binh Trung Bộ, đồng thời là Hiệu trưởng Trường Thanh niên Tiền tuyến.
[5] Tư liệu viết tay 10 trang, Thiếu tướng Phan Hàm viết ngày 8/11/1993, Tuyên huấn Tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế nhận chiều 14/11/1993
[6] Trung đoàn phó 84 – Quân khu V, liệt sĩ 1950. Địa chỉ gia đình: nhà 50 – đường 40 – phường Thảo Điền – Quận 2 – TP HCM. Điện thoại số:  3512 5778
[7] Theo bài Thiếu tướng Phan Hàm viết ngày 15/8/1995, ông đã mất năm 2004. Địa chỉ gia đình: số 9 đường Đống Đa, phường 2, quận Tân Bình, TP HCM. Điện thoại số: 3844 7396
[8] Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử tập II, 1930-1945, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, các trang 283, 284, 285….
[9] Theo hồi ký Trần Huy Liệu: “Nhớ là ngày 25/8/1945, phái đoàn Chính phủ lâm thời từ thủ đô Hà Nội ra đi bằng hai chiếc ô tô, có một Tiểu đội Giải phóng quân đi theo bảo vệ. Trong khi ấy bọn Pháp đã bắt đầu nhảy dù xuống Huế, tên Pháp vừa nhảy xuống đã hỏi ngay Bảo Đại, Phạm Quỳnh. Ta đã xử lý thích đáng ngay nhiều tên tay sai của Pháp như Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh” Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 18 (tháng 9 năm 1960).
[10] Tư liệu của nhà văn Sơn Tùng gửi Nhạc sĩ Phạm Tuyên, 12/2008. Trong lúc đó, Phạm Quỳnh đã bị bắt mà Chủ tịch nước vẫn chưa biết (không được báo cáo). Bác viết thư chứ không đánh điện, có thể là một cử chỉ coi trọng người hiền tài.
[11] Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, chủ biên Nguyễn Khánh Toàn, Lịch sử Việt Nam tập II, NXB Khoa học Xã hội, 1985, trang 340.
[12] Nhà văn Sơn Tùng thuật lại theo ý kiến của Vũ Đình Huỳnh, Bí thư của Bác hồi đó.
[13] Có nghĩa là “Không cần thế, có thể có cách khác”.
[14] Theo gia đình Phạm Quỳnh thì ông mất vào ngày 6/9/1945.
[15] Sách Trường Thanh niên Tiền tuyến - Huế, trang 242. Đoàn Huyên, Thiếu tướng đã mất năm 2004. Địa chỉ gia đình: 7 Đống Đa, phường 2, quận Tân Bình, TP HCM. Điện thoại số: 3844 6322
[16] Trong hồi ký này không thấy Pháp có hỏi han gì về Phạm Quỳnh
[17] Lưu tại Thư viện Trung ương Hà Nội, ký hiệu T520, không rõ Ngô Đình Huân, con trai Ngô Đình Khôi, “Việt gian đại bợm” thế nào? Thông tin về con người này còn quá ít
[18] Tư liệu của nhà văn Sơn Tùng gửi nhạc sĩ Phạm Tuyên, ghi theo lời kể của ông Đào Nhật Vinh và Vũ Đình Huỳnh. Qua chữ khử mà Tôn Quang Phiệt dùng dễ nhận ra là ông Tôn Quang Phiệt cũng không đồng ý việc xử lý Phạm Quỳnh và cả cách (phương pháp) tiến hành vụ xử. Và dù ông Phiệt không đồng ý cũng chẳng làm được gì.
[19] Trong Cách mạng Tháng Tám, ở Trung Bộ, Nam Bộ từng xảy ra một số vụ “xử bắn”, “bắt giam” người trái phép rất đáng tiếc. Còn ở Bắc Bộ, nhiều quan Tổng đốc, Án sát… do “đoàn thể” quán triệt đường lối của Đảng nên đã may mắn được an toàn.
[20] Cuối năm 1945, sau khi Đảng ta tuyên bố tự giải tán, trong một lần trả lời các nhà báo, Bác nói: “Sau này tôi sẽ thành lập một đảng mới. Đảng ấy có tên gọi là Đảng Việt Nam. Chỉ có hai hạng người không được vào Đảng: phản quốc và tham ô”.
[21] Bài Đã gặp rồi mà vẫn lỡ đăng trên Nhà báo Huế, Xuân 2009.
[22] Một vị Tổng đốc Hà Đông, giàu tiền lắm ruộng, xây lăng to, không ít “thành tích”, chỉ viết có một cuốn sử mỏng, vậy mà cũng đã được công chúng ngày nay hoan nghênh. Tại sao đánh giá, xác định vai trò của Phạm Quỳnh – người có công lớn với văn hóa nước nhà, lại phức tạp, khó khăn đến thế? Liệu lịch sử còn công bằng không? Có thể còn kéo dài chế độ thi tốt nghiệp trung học phổ thông chưa hề có môn lịch sử?
Nguồn: Pham Ton’s blog - Phamquynh.wordpress.com/

Không tin kho xương đã 2.100 tuổi

TS. Nguyễn Lân Cường: Không tin kho xương đã 2.100 tuổi

Phạm Ngọc Dương
clip_image001
 
TS Nguyễn Lân Cường không tin hài cốt trong lòng núi Sài Sơn là của nghĩa quân Lữ Gia.
 
(VTC News) - Hiện Thần Quang Động vẫn chưa được chính quyền quan tâm đúng mức, chưa được các nhà khoa học nghiên cứu, tìm hiểu. Người dân cả nước vẫn mong chờ những lời giải đáp rõ ràng về hàng ngàn bộ xương của những người chết thảm trong lòng núi.
Nhà khoa học duy nhất để tâm đến những bộ xương trong lòng núi Sài Sơn là PGS TS Nguyễn Lân Cường. Ông Cường bảo rằng, ông đã từng có thời gian tìm hiểu về bể xương trong hang Cắc Cớ cách nay chừng 20 năm và ông thu được 2 luồng ý kiến của người dân quanh vùng. Phần lớn ý kiến cho rằng, xương cốt của nghĩa quân Lữ Gia, song cũng có một số ý kiến cho rằng đó là xương của quân Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc.
Thời kỳ đó, TS Nguyễn Lân Cường cũng có ý nguyện muốn khai quật, nghiên cứu những bộ xương này, song nhà chùa không ủng hộ, nên ông không tiếp tục tìm hiểu.
Người dân kể với ông Cường rằng, xưa kia, quân Lưu Vĩnh Phúc trốn vào hang cố thủ, đã bị người Pháp hun khói đến chết. Giả thuyết người chết vì bị hun khói cũng hợp lý, vì trong quá trình thám hiểm hang động, chúng tôi thấy nhiều khu vực ám muội than đen sì. Sau một ngày chui hang, hai lỗ mũi tôi như hai ống khói, chả khác nào xuống hầm than ở Quảng Ninh.
Qua hai thông tin do người dân cung cấp, nếu chỉ có hai giả thuyết này, ông Cường nghiêng về giả thuyết những bộ hài cốt trong hang là của quân Lưu Vĩnh Phúc, chứ không thể là của quân Lữ Gia, vì trải qua hơn 2.000 năm, xương cốt đã tan thành đất từ lâu rồi. Tất cả những ngôi mộ thời Hán ở nước ta mà ông Cường khai quật, đều không còn xương cốt, vì đã bị tiêu cả, thì không có lý do gì mà hàng ngàn bộ hài cốt ở khắp các ngóc ngách ẩm thấp trong hang núi Sài Sơn vẫn còn tồn tại đến ngày nay.
clip_image002
Tìm xương trong ngách hang.
Ngoài ra, theo ông Cường, từ hàng ngàn năm nay, có thể không ít người dân quanh vùng, khách tham quan, cũng bị lạc và chết dưới hang động này.
Tôi thắc mắc rằng, nếu là quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc (cuối thế kỷ XIX), chết trong hang, thì nhà chùa phải nắm rõ chứ? PGS Nguyễn Lân Cường cho rằng, sở dĩ nhà chùa nắm không vững lịch sử, là vì từ hơn 100 năm nay, nhà chùa đã thay không biết bao nhiêu trụ trì, nên chuyện không còn nắm rõ thông tin cũng là bình thường.
Sở dĩ ông Cường không tiếp tục nghiên cứu những bộ xương trong động là vì không có dự án của Nhà nước, không có tài trợ để ông nghiên cứu. Việc xác định những bộ xương cốt trong động thuộc thời kỳ nào là quá dễ dàng với phương tiện khoa học kỹ thuật trong nước, chỉ cần dùng phương pháp phóng xạ C14 là xác định được ngay.
clip_image003clip_image004
Chỉ cần dùng phương pháp C14 là biết rõ xương cốt bao nhiêu tuổi.  Ảnh: Đặng Bá Hiệp.
Ông Cường cũng tuyên bố rằng, dù ông rất bận, song nếu cơ quan, tổ chức hoặc mạnh thường quân nào tài trợ, ông sẵn sàng vào hang nghiên cứu và làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến những bộ xương trong lòng núi Sài Sơn.
Trong quá trình thám hiểm xương cốt dưới động, nhóm thám hiểm chúng tôi đã chú ý rất kỹ, song không tìm được dấu vết của vũ khí, dù đã han gỉ. Với hàng ngàn quân trong lòng núi, việc mang theo nhiều vũ khí là điều rõ ràng. Nhưng việc không tìm ra dấu vết vũ khí, khiến chúng tôi không khỏi nghi ngờ đây không phải là quân Lưu Vĩnh Phúc.
Ngoài ra, nếu là quân Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc, mới bị hun chết trong động hơn 100 năm nay, thì người dân, đặc biệt là các cụ già quanh vùng phải nắm rõ chứ. Nhưng có một thực tế, người dân quanh vùng nhất nhất khẳng định xương cốt trong hang là của nghĩa quân Lữ Gia, mặc dù họ chả biết ông Lữ Gia là ông nào, làm quan triều nào. Có lẽ, cả nhà chùa, người dân tin xương cốt trong động là của nghĩa quân Lữ Gia vì đôi câu thơ khắc trên bia đá lập cách nay hơn 70 năm: “Lữ Gia chống Hán lưu sử sách/ Bể hận ngàn xương mãi mãi ghi”.
clip_image005
Vì những dòng chữ trên bia đá này khẳng định xương cốt trong núi của nghĩa quân Lữ Gia, nên người dân Sài Sơn và nhà chùa tin rằng, xương cốt trong động đã 2.100 năm tuổi.
Quá trình tìm kiếm xương cốt trong động, nhóm thám hiểm chúng tôi thu thập được một số đồ vật gồm tiền cổ, mảnh gốm tráng men xanh và men đỏ rất đẹp (mục đích là nhờ các nhà khoa học nghiên cứu, chứ không phải đem về sở hữu). Hiện, những mảnh gốm chưa xác định được niên đại, song PGS TS Nguyễn Lân Cường đã đọc được thông tin trên một số đồng tiền do chúng tôi chuyển cho ông.
Những đồng tiền có nhiều niên đại khác nhau, gồm: Tiền Minh Mạng thông bảo, niên đại 1820-1840, triều vua Nguyễn Phúc Đảm, niên hiệu Minh Mạng; Tiền Đại Quan thông bảo, niên đại 1100-1125, triều vua Bắc Tống Huy Tông (Triệu Cát), niên hiệu Tuyên Hòa (1107 - 1110); Tiền Nguyên Hựu thông bảo, Niên đại 1058 – 1100, Triều vua Bắc Tống Triết Tông (Triệu Húc), Niên hiệu: Nguyên Hựu (1068-1094).
clip_image006
Những đồng tiền đoàn thám hiểm "mượn tạm" trong động để các nhà khoa học nghiên cứu.
Ông Cường mới đọc được 3 đồng trong số những đồng tiền tôi gửi cho. Những đồng còn lại đã han gỉ, quá mờ, không rõ chữ, nên chưa đọc được.
Qua những đồng tiền chúng tôi tìm được dưới hang, có thể đặt ra giả thiết rằng, từ cách đây gần 1.000 năm, đã có người tìm xuống hang Cắc Cớ này và có thể bỏ xác tại đây!
Khu vực mà đoàn thám hiểm chúng tôi gặp xương cốt có rất nhiều ngóc ngách. Tuy nhiên, suốt mấy giờ đồng hồ lần tìm, các ngóc ngách đều thông nhau như ma trận, hoặc là đường cụt, nên không tìm được đường đi tiếp.
clip_image009clip_image008clip_image007
Một số mảnh gốm có màu men rất đẹp.
Theo một số người từng săn cổ vật trong hang, thì tại khu vực Thung Lũng Tình Yêu, có một hố nhỏ sâu hoắm. Khi thả hòn đá xuống hố, một lát sau mới nghe thấy tiếng đá rơi dội lên. Thả thang dây rất dài xuống hố nhỏ này, sẽ tới một vòm hang cực rộng, là “tầng địa ngục” tiếp theo. Cứ thế, khi tìm được đường đến “tầng địa ngục” thứ 9, thì sẽ đến được “suối xương”. “Suối xương” là một địa danh vô cùng ly kỳ, hấp dẫn, mà bất kỳ người dân nào ở Sài Sơn cũng kể, song chưa có ai xuống đến đó.
Những người xuống được “suối xương” đều đã chết cả rồi. Người xuống “suối xương” nhiều nhất là ông Thứ và ông Như, là hai bố con. Hai bố con ông Thứ được dân Sài Sơn mệnh danh là sâu hang, vì rất giỏi đi hang động. Cụ Thứ đã từng đi suốt một tuần mới hết được ngóc ngách hang động trong núi Sài Sơn và đã đến được “suối xương”, mang về cho người dân Sài Sơn vô số câu chuyện rùng rợn. Dưới con suối trong lòng núi đó, có vô số xương cốt và những loài cá kỳ dị, giống cá trê, nhưng đầu to bằng nắm tay, mà thân chỉ bằng ngón chân cái.
clip_image010
Cuộc tìm kiếm đường xuống "suối xương" đã diễn ra nhiều lần, song chưa thành công.
Người cuối cùng ở Sài Sơn đến được “suối xương” là ông Thịnh, nhà ở xóm Chợ. Theo người dân, ông Thịnh đã xuống được “suối xương” nhờ sự chỉ đường của cụ Thứ. Ông Thịnh mang lên từ “suối xương” vô số đồ cổ. Tuy nhiên, sau lần xuống “suối xương”, ông không đi lại nữa. Sau này ông mắc trọng bệnh, rồi mất cách đây mấy năm khi mới ngoài 50 tuổi.
Việc rất nhiều người từng xuống hang sâu, đặc biệt là “suối xương” huyền thoại, sau đó mắc bệnh rồi chết, cứ lưu truyền trong những câu chuyện truyền miệng, khiến “suối xương” càng trở nên bí ẩn và không ai dám tìm xuống nữa. Đó cũng là lý do đoàn thám hiểm chúng tôi đã qua lại chùa Thầy nhiều lần, song không thuê được người dẫn đường. Có lẽ, “suối xương” sẽ mãi mãi chìm vào bí ẩn, sẽ lạc vào huyền thoại, nếu không được khám phá.
Đoàn thám hiểm chúng tôi đã tìm kiếm rất lâu ở khu vực Thung Lũng Tình Yêu, thậm chí trèo lên cả nóc động để tìm ngóc ngách, song không thể tìm thấy cái lỗ dốc đứng này. Nếu tìm được, chúng tôi sẵn sàng dòng dây để leo xuống.
Theo lời Hiệp, nhóm của cậu cũng đã bỏ nhiều công sức, song cái ngách nhỏ xíu dẫn đến những bí ẩn to lớn hơn nữa của Thần Quang Động vẫn chưa lộ diện. Phải chăng, vì nó quá nguy hiểm, nên ai đó đã lấp miệng hang? Trong quá trình thám hiểm, chúng tôi cũng từng gặp một miệng hang bị lấp lại bởi những hòn đá lớn. Tuy nhiên, khi vần những tảng đá này ra, chui xuống một đoạn, mới phát hiện đó là hang cụt.
Đoàn thám hiểm chúng tôi rời Thần Quang Động khi bóng chiều đã nhập nhoạng, bỏ lại những bộ xương với những truyền thuyết bao phủ. Còn vô vàn câu hỏi chưa có lời giải đáp liên quan đến hang động bí ẩn chứa đầy xương cốt này. Hiện Thần Quang Động vẫn chưa được chính quyền quan tâm đúng mức, chưa được các nhà khoa học nghiên cứu, tìm hiểu. Người dân cả nước vẫn mong chờ những lời giải đáp rõ ràng về hàng ngàn bộ xương của những người chết thảm trong lòng núi.
P.N.D.
Nguồn: baomoi.com

Nhân ngày 30/4, đọc lại vài dữ liệu cũ

Nguyễn Văn Tuấn
clip_image002Cuộc sống văn hóa và tinh thần thì có thể nói thời trước [ở miền Nam] có hai mặt của nó. Một mặt là sự hiện diện của quân đội Mỹ và quân đội đồng minh để lại những ảnh hưởng rất xấu trong xã hội. Đó là tệ nạn đĩ điếm, ma cô, chạy theo đồng đô la một cách khá trắng trợn. Chính người dân miền Nam thời đó cũng phản ứng rất gay gắt. Nhưng mặt khác, cuộc sống xã hội và tinh thần trong nội bộ xã hội Việt Nam, trong trường học, trong công sở, trong các gia đình, xóm giềng, bạn hữu... lại là quan hệ có nề nếp, có văn hóa. Học trò lễ phép với thầy, vợ chồng, cha con, mẹ con thương yêu gắn bó với nhau. Thời đó học trò ra đường không hỗn láo như bây giờ. Không có hiện tượng chửi thề, các quan chức cũng có chơi bời nhưng không tệ hại tới mức như một số quan chức hiện nay. Công an thời đó ít có hiện tượng chặn đường để ăn tiền mãi lộ một cách phổ biến như ngày nay. Xin giấy tờ ở cấp này cấp kia cũng không phải đút lót một cách phổ biến, đặc biệt là trong trường học thì tình trạng chạy điểm, mua điểm, ném phao, quay cóp gần như không có. Có thể nói, so với xã hội trước đây thì trên một số khía cạnh nào đó, cuộc sống văn hóa và tinh thần hôm nay đã xuống cấp nghiêm trọng... Những trí thức trước đây, công chức trong công sở là những người có tư cách, đàng hoàng, cả nói năng và hành xử rất có văn hóa. Còn bây giờ, một tỉ lệ đáng kể công chức và cả một số trí thức cũng không có được một phong độ văn hóa như trước đây.
Đặng Phong

Thấm thoát mà đã 36 năm. Tính từ ngày 30/4/1975. Nhân dịp đọc một cuốn sách cũ, tôi thấy có vài thông tin về kinh tế của miền nam Việt Nam trước 1975 cũng có ý nghĩa so sánh nào đó ...
Về thu nhập bình quần, theo số liệu kinh tế, GDP bình quân ở miền Nam vào thời trước 1975 là 150 USD.  Thu nhập này tuy chưa cao mấy thời đó, nhưng cao hơn ở các nước Thái Lan, Bangladesh, Ấn Độ, và Pakistan.  Ba mươi sáu năm sau, GDP bình quân đầu người của Việt Nam là khoảng 1.100 USD, thua xa Thái Lan (khoảng 4.000 USD).
Về giáo dục đại chúng, theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, năm 1973, tỉ lệ dân số biết đọc, biết viết là 70%, rất cao so với các nước Á châu láng giềng hồi đó. Hiện nay, tỉ lệ dân số biết đọc và viết là 90%.  Ba mươi sáu năm, chỉ tăng 20%?
Hôm nọ, khi tôi viết rằng thời trước 1975, du học sinh Thái Lan sang đại học miền Nam học, còn bây giờ thì mình sang đó... du học. Chẳng có gì xấu hổ. Người ta giỏi hơn mình thì mình học người ta.  Nhưng nói ra sự thật ấy làm tôi nao lòng và buồn về sự đổi đời. Có người từ miền Bắc hỏi tôi có bằng chứng gì giáo dục miền Nam tốt hơn bây giờ? Tôi nói chính tôi là sản phẩm của nền giáo dục thời trước 1975 đây.  Còn hàng vạn "sản phẩm" của nền giáo dục trước 1975 đang ở nước ngoài và họ cũng thành danh, thành tài. Đó là một bằng chứng của nền giáo dục trước kia.
Về trình độ của giới cầm quyền, 36 năm sau nước ta đã có 50% Bộ trưởng có văn bằng Tiến sĩ.  Thời trước 1975, tôi không có con số chính xác, nhưng chỉ nhớ số Bộ trưởng có bằng Tiến sĩ chỉ đếm đầu ngón tay.  Ngay cả ông Hoàng Đức Nhã với bằng Thạc sĩ nhưng được giới báo chí và công chúng nể lắm rồi.  Nhưng theo Giáo sư Đặng Phong thì tuy họ học không cao, nhưng trình độ thật thì cao và đáng nể:  “Cần phải phân biệt rõ: nền chính trị thối nát (không phải tôi nói, mà người Mỹ và người trong giới chính trị Sài Gòn nói) với bộ máy kinh tế chuyên nghiệp. Những cấp cao nhất, Tổng thống, Phó tổng thống, Thủ tướng... phần lớn là dân võ biền, là lính sang làm chính trị như Thiệu, Kỳ, Khiêm... Nói chung, họ không có mấy kinh nghiệm để điều hành một xã hội dân sự văn minh. Nhưng điều đặc biệt là cấp dưới của họ (Bộ trưởng, Tổng trưởng...) và các chuyên gia hàng đầu đều là những người có học vấn, kiến thức kinh tế - xã hội rất giỏi để vận hành khối lượng tiền, hàng cực lớn. Bằng chứng là Nam VN khi đó đã có hệ thống ngân hàng, hệ thống thuế, bảo hiểm ... trình độ quốc tế, hoạt động toàn cầu. Dân đã xài séc, các công cụ tín dụng, công sở xài máy tính IBM, tổ chức nền kinh tế đã sử dụng các phương tiện hiện đại, mà bây giờ chúng ta mới chập chững tiến vào”.
Ngày xưa (thời VNCH) cũng có tham nhũng, nhưng hình như bản chất hơi khác với thời nay.  Ngày xưa, giới quan chức VNCH tham nhũng chủ yếu là ăn chặn tiền tài trợ của Mĩ.  Thật ra, tham nhũng của VNCH là có lợi cho cách mạng, vì lợi dụng đó mà du kích mới có tiếp viện!  Tham nhũng thời VNCH theo GS Đặng Phong là “một nguồn hậu cần quan trọng giúp chúng ta thành người chiến thắng”.  Còn ngày nay, cứ như báo chí phản ánh thì quan chức ăn chặn tiền của… dân.  Họ cũng ăn chặn (hay ăn cắp?) tài nguyên đất nước.  Hình thức tham nhũng nào cũng nguy hiểm, nhưng ăn chặn tiền dân và tài nguyên quốc gia thì đúng là nguy hiểm và […].  Giáo sư Đặng Phong nói: “Tham nhũng cũng là một cách ra đời tầng lớp hữu sản cho nên đạo lý kém hơn, chụp giật hơn, lưu manh hơn”.
Ngày 30/4 thường được nhắc đến như là một “ngày chiến thắng”, “ngày giải phóng miền Nam”.  Đứng trên quan điểm kẻ thắng người thua, thì chắc cũng có lí do để gọi đó là ngày chiến thắng.  Nhưng thử hỏi với cả 4 triệu (?) người phải bỏ mạng trong cuộc chiến đó, cộng thêm hàng trăm ngàn bỏ mạng trên biển, và 3 triệu người lưu vong, thì chiến thắng đó có vẻ vang không?  Chẳng lẽ ăn mừng chiến thắng trên xác người?  Còn giải phóng thì có nghĩa là giải phóng từ nô lệ, gông cùm của bọn đế quốc, nhưng trong thực tế ngày xưa đâu có nô lệ, và bọn đế quốc Mĩ cũng đâu có gông cùm gì; chúng vẫn phát triển giáo dục tốt, hệ thống y tế tốt, kinh tế gia đình khá no ấm, học trò lễ phép, báo chí nói khá thoải mái (giễu cợt ông Thiệu, ông Kỳ liên miên).  Do đó, hai chữ “giải phóng” e rằng không thích hợp với thực tế của những con số vừa trình bày.
Hóa ra, thời trước 1975 cũng không đến nổi tệ, nếu không muốn nói là có nhiều khía cạnh tốt hơn hẳn ngày nay. Nhớ có lần bà con tôi là bộ độ tập kết vào tiếp quản miền Nam, các chú và cậu đem mấy con gà và vài lít gạo cho nhà tôi, vì tưởng tụi tôi đói khát lắm và nghèo lắm. Đến khi lên nhà, bà con tôi hết sức ngạc nhiên vì họ không ngờ tôi có xe Honda lại còn đeo đồng hồ 2 cửa sổ không người lái nữa chứ, còn gia đình tôi có độ 100 công đất và 3 chiếc máy cày!  Vài năm sau, tôi mất cái Honda, và lưu lạc xứ người, còn gia đình thì còn đúng 5 công đất. Ba mươi sáu năm mà vẫn chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào nghiêm chỉnh để trả lại sự thật cho lịch sử. Nhưng may thay, có nghiên cứu của GSs Đặng Phong đã để lại vài dữ liệu có ý nghĩa. Xin xem bài trả lời phỏng vấn dưới đây của GS Đặng Phong để có cái nhìn khách quan hơn về thời trước 1975.
NVT
Tư sản hôm qua, hữu sản hôm nay
Hân Hương thực hiện
Người đô thị, Tháng 5/2008
Trong giới sử học, ông thuộc số ít viết sử kinh tế. Người như ông, GS Đặng Phong - tác giả của hàng chục ngàn trang sử kinh tế VN, còn ít hơn nữa. Ông bảo: “Nền kinh tế miền Nam trước 1975 phồn vinh thật nhưng giả tạo ở chỗ nó không tự nuôi nổi nó”. Báo Người đô thị xin giới thiệu cùng bạn đọc bài phỏng vấn GS Đặng Phong, thuộc ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội trong chuyên đề “Sài Gòn-TPHCM năm thứ 33: Nhận định bản sắc, phát triển tiềm năng”
Ông mời tôi ăn cơm trưa: "Có cá diếc kho tương và rau muống học trò vừa mang đến. Đừng ra quán, tôi mà thấy “chúng nó” hét dzô, dzô... không nuốt nổi". Ăn lối nhà quê, nhưng ông hút xì gà và có cả một bộ sưu tập tẩu Tây sang trọng.
Người ta sợ tôi bị “mua”
Thưa, ông học kinh tế trong nước, sao lại qua Pháp giảng dạy?
- GS Đặng Phong: Tôi học ĐH Kinh tế Quốc dân ở Hà Nội, rồi làm Tổng biên tập tờ Vật giá của Ủy ban Vật giá Trung ương. Đến 1988, cao trào thời kỳ đổi mới, Tổ chức Lương Nông Liên hiệp quốc (FAO) dành cho VN 2 suất học bổng Học viện Nông nghiệp Địa Trung Hải (TP Montpellier – Pháp). Trường này nổi tiếng, các tiền bối GS Nguyễn Mạnh Tường, GS Phạm Huy Thông, GS Đỗ Đình Thiện... ở đó ra. Tôi cũng bất ngờ vì họ chọn mình, luận văn kết thúc khóa học của tôi là: “Chế độ thu mua thóc ở VN”, được đánh giá tốt, có lẽ vì thế ông Thứ trưởng Bộ Giáo dục Pháp mời tôi ở lại giảng ở Trường ĐH Paris VII.
Nghe nói ông từng bị “đả đảo” ở Mỹ?
- Việc tôi du học Pháp, được họ giữ lại giảng dạy là “chuyện động trời” đối với một trí thức xã hội chủ nghĩa. Thêm chuyện Trường ĐH Irvine (bang California - Mỹ) mời tôi từ Pháp qua luôn với họ, dư luận xôn xao rằng tôi đã “bị phương Tây mua rồi”. Ngại bị hiểu lầm, nên sau khi trao đổi thẳng thắn với một cán bộ Đại sứ quán ta ở Pháp, tôi quyết định trở về nước. Rồi từ VN tôi mới qua Mỹ vào năm 1991.
Buổi giảng đầu tiên tại Irvine “Thực trạng kinh tế VN” khá ồn ào vì bị một số Việt kiều biểu tình “đả đảo”, đòi “Đặng Phong hãy nói về nhân quyền!” Họ đòi bằng được phải có đại diện vào giảng đường chất vấn. Tôi đồng ý, có ba người sấn vào nóng nảy lên án tình trạng tham nhũng ở VN và chính quyền tham quyền cố vị. Về tham những, tôi nói đúng có tham nhũng - nhưng chính quyền Sài Gòn trước kia tham nhũng gấp 10 lần cơ. Tôi làm sử kinh tế, có đầy đủ số liệu chứng minh, họ chịu. Còn tham quyền cố vị, thì chính quyền Thiệu, Kỳ... không hề muốn xuống ghế. Vì bản chất người cầm quyền có ai chịu tự nguyện rời chức vụ đâu? Tôi cũng chỉ là một công dân, có nguyện vọng chính quyền không nên tham quyền, và được bày tỏ nguyện vọng đó như mọi công dân khác.
Sau này trở thành bạn bè, thỉnh thoảng qua Mỹ tôi lại gặp họ trò chuyện. Tôi có một kinh nghiệm rằng đừng nổi nóng, đừng vội quy kết ta-địch, mình có sai lầm thì thừa nhận, sửa chữa - sự tử tế là cách thuyết phục nhau tốt nhất.
Nhặt tiền lẻ xây được nhà lầu?
Năm 1975 ở R về Sài Gòn, khá “choáng váng” trước cảnh phồn vinh của đô thị này, tôi được nghe giải thích sự phồn vinh ấy chỉ là giả tạo?
- Phồn vinh là thật đấy! Miền Nam VN dân số trước 1975 chừng 17 triệu, trừ số dân thuộc vùng giải phóng, còn khoảng 8 triệu người. Sở dĩ họ giàu là nhờ nguồn viện trợ khổng lồ của Mỹ bằng 4 con đường chính.
Thứ nhất, bình quân mỗi năm Mỹ đổ vào Nam VN 1 tỉ USD. Con số đó không thấm tháp gì so với vốn nước ngoài bây giờ đầu tư vào VN – nhưng xin nhớ dân số VN nay khoảng 84 triệu. 1 tỉ USD chia bình quân cho 8 triệu người, vẫn là lớn. 1 tỉ USD trút vào nuôi bộ máy Nhà nước, binh lính - thu nhập của họ rất cao. Cấp Thiếu úy được nhà riêng (gia binh), một Tổng trưởng (Bộ trưởng) lương trị giá 10 cây vàng/tháng.
Thứ hai, chi phí chiến tranh (nằm ngoài 1 tỉ USD viện trợ - có thời kỳ lên đến 28 tỉ USD/năm, như các năm 1967, 1968). Mỹ quản lý nhưng vẫn rơi vãi vô khối ra dân sự. Riêng vỏ đạn cũng đủ tạo ra 7 nhà máy đồng, xác chiến xa và các loại vũ khí... là đầu vào của các nhà máy cán thép, dù miền Nam làm gì có mỏ sắt. Chi phí quân sự đã trở thành kinh tế dân sự.
Thứ ba, cũng nằm ngoài 1 tỉ USD viện trợ - là sức chi tiêu tại chỗ của nửa triệu binh lính Mỹ, bình quân 1 người 800 USD/tháng. Khoản tiền khổng lồ này tạo ra vô khối ngành dịch vụ và thu nhập cho người dân. Câu “nhất Mỹ, nhì lô, tam cô, tứ tướng” là vậy. Tôi quen một chủ tiệm giặt là từng nhận thầu giặt đồ cho lính Mỹ. Anh ta bảo chỉ nhặt tiền lẻ trong đống quần áo, gom lại trong 1 năm xây được nhà 4 tầng lầu và anh ấy có đến dăm cái tiệm như thế ở các quận Sài Gòn.
Thứ tư, ngoài 1 tỉ USD tiền còn các khoản viện trợ thường xuyên bằng hàng hóa do người Mỹ chỉ định mua từ nước nào, hãng nào, loại hàng gì, theo giá nào... để giải quyết cán cân thương mại giữa Mỹ và các nước đồng minh. Cách làm này tạo ra vô số nhà máy đường, nhà máy dệt v.v. không trồng mía, bông – nhưng nhập nguyên liệu từ Indonesia, Malaysia, Nhật Bản... để sản xuất.
Có thể nói chiến tranh là bầu sữa quan trọng nhất của nền kinh tế Nam VN trước năm 1975. Nó tạo ra cuộc sống phồn vinh thật ở các đô thị miền Nam (vùng nông thôn rất nghèo khổ). Nhưng đó là nền kinh tế không nuôi nổi nó.
Bộ máy kinh tế giỏi
Không nuôi nổi nó, cần gì một bộ máy vận hành kinh tế giỏi?
- Cần phải phân biệt rõ: nền chính trị thối nát (không phải tôi nói, mà người Mỹ và người trong giới chính trị Sài Gòn nói) với bộ máy kinh tế chuyên nghiệp. Những cấp cao nhất, Tổng thống, Phó tổng thống, Thủ tướng... phần lớn là dân võ biền, là lính sang làm chính trị như Thiệu, Kỳ, Khiêm..., Ngô Đình Diệm là ông quan của triều đại phong kiến. Nói chung, họ không có mấy kinh nghiệm để điều hành một xã hội dân sự văn minh. Nhưng điều đặc biệt là cấp dưới của họ (Bộ trưởng, Tổng trưởng...) và các chuyên gia hàng đầu đều là những người có học vấn, kiến thức kinh tế - xã hội rất giỏi để vận hành khối lượng tiền, hàng cực lớn. Bằng chứng là Nam VN khi đó đã có hệ thống ngân hàng, hệ thống thuế, bảo hiểm... trình độ quốc tế, hoạt động toàn cầu. Dân đã xài séc, các công cụ tín dụng, công sở xài máy tính IBM, tổ chức nền kinh tế đã sử dụng các phương tiện hiện đại, mà bây giờ chúng ta mới chập chững tiến vào.
Theo ông, có thể kế thừa công nghệ quản lý nền kinh tế đó?
- Rất tiếc chúng ta xóa bỏ bộ máy điều hành kinh tế miền Nam nhanh quá. Tới Đại hội Đảng VI đã ghi nhận sai lầm do chủ quan, nóng vội xóa bỏ các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa. Nhưng nhiều chuyên gia kinh tế đã ra đi...
Nhưng bây giờ chúng ta lại có nhiều doanh nhân làm kinh tế giỏi?
- Marx nói “Giai cấp tư sản đã tạo ra sự phát triển trong 100 - 200 năm bằng tất cả lịch sử của nhân loại”. Tức là tư sản tạo ra sự tăng trưởng. Trước kia ta đánh tư sản mại bản (xuất nhập khẩu hàng hóa), giờ ta khuyến khích xuất khẩu đồ gỗ sang Mỹ và nhập máy móc của họ. So với mại bản trước 1975, thì mại bản bây giờ (trong công nghiệp, tài chính, hàng không) quy mô lớn hơn nhiều. Sự tăng trường ấy tốt về số lượng, nhưng quản lý tồi.
Chúng ta đánh đổ giai cấp tư sản cũ, nhưng phải xây dựng được tầng lớp hữu sản mới. Sự ra đời của tầng lớp này là cần thiết, chứ với chỉ “lực lượng lao động hợp tác xã” thì chết. Nhưng đó phải là một tầng lớp hữu sản có văn hóa và có lương tâm. Con đường ra đời giai cấp này trên thế giới khác ta - bằng cách cướp bóc thuộc địa, gây chiến tranh. Ở ta, ra đời bằng cách đánh đổ giai cấp tư sản cũ - nằm trong diễn biến chung của các nước xã hội chủ nghĩa.
Tham nhũng cũng là một cách ra đời tầng lớp hữu sản cho nên đạo lý kém hơn, chụp giật hơn, lưu manh hơn...
Nhưng chính quyền Sài Gòn trước 1975 tham nhũng ghê gớm?
- Đó là một trong các nguyên nhân lớn của sự sụp đổ. Quân đội thì nhận hàng của Mỹ, tuồn ra ngoài, lợi dụng chiến tranh nhiều rủi ro không kiểm soát nổi. Chính quyền dân sự thì ăn vào các dự án, Bệnh viện Vì Dân (Thống Nhất bây giờ), sân bay Tân Sơn Nhất... là vài ví dụ. Tướng tá, quan chức thầu công trình, đường sá... rồi bán thầu cho Hoa kiều. Tướng Đồng Văn Khuyên thầu hết các bãi rác quanh các căn cứ quân sự (tivi, honda, tủ lạnh cũ...) chuyển thành hàng secondhand cho dân Sài Gòn v.v. Tất nhiên sự tham nhũng ấy có lợi cho ta. Nhờ thế ta mua được xăng, gạo, thuốc men, vũ khí... Đó là một nguồn hậu cần quan trọng giúp chúng ta thành người chiến thắng.
Làng Yên Phụ cổ của ông giờ nằm kẹp giữa hai con đường đang mở. Đô thị hóa đến tận nhà rồi, miếng đất 150m² này đã đưa ông thành người hữu sản?
- Năm 1975 dọn từ phố ra làng, tôi mua nó giá 1,5 cây vàng. Bây giờ 7 cây vàng/m2, tài sản của tôi tăng 1.000 lần, mà không cần làm gì. Chiếm hữu thật nhiều đất đai cũng là con đường "nâng giai cấp" của người Việt hiện nay đấy, anh bạn.
Hơn và kém xưa
Tròn 33 năm giải phóng miền Nam, GS Đặng Phong nhận xét về đời sống người dân đô thị miền Nam trước 1975 và ngày nay:
- Mức sống vật chất bây giờ rõ ràng là cao hơn trước đây rất nhiều. Thu nhập, tiện nghi, nhà cửa, phương tiện đi lại, mức ăn, mặc... đều vượt xa Sài Gòn trước đây, nếu nhìn trên bình diện chung của toàn xã hội. Riêng một số tầng lớp trên - thì ngày xưa giới thượng lưu giàu có không nhiều và cũng không giàu như những triệu phú đô la ngày nay.
- Về mức an toàn của cuộc sống thì trước đây rất kém, vì có chiến tranh. Nhà nào cũng có người đi lính, nếu muốn tránh đi lính thì phải trốn, phải chạy vạy, đút tiền. Cái chết đe dọa, rình rập tất cả các gia đình ở thành thị. Xe của cảnh binh có khi chặn ngay ở các cửa trường để bắt lính. Đến năm 1975 thì hầu như nhà nào cũng có bàn thờ một hay hai đứa con chết trận. Còn bây giờ đã có hòa bình, người ta không sợ đi bộ đội, thậm chí người ta còn chạy vạy để được đi bộ đội, để học các trường sĩ quan. Vào quân đội bây giờ không bị cái chết đe dọa mà lại được đảm bảo cuộc sống, vị trí xã hội. Trong đời sống hiện nay cũng có nhiều khía cạnh không an toàn như những vụ trấn lột, chém giết, cướp bóc... Nhưng đó chỉ là những hiện tượng cá biệt, đột xuất. Cuộc sống hằng ngày của người dân nói chung rất an toàn. Thậm chí có thể nói cuộc sống ở VN là một trong những nơi an toàn nhất thế giới. Không có khủng bố, không có phe này phái kia đánh nhau, trừng trị nhau, không có lật đổ, không có bạo loạn... Mọi người được yên ổn làm ăn.
- Cuộc sống văn hóa và tinh thần thì có thể nói thời trước có hai mặt của nó. Một mặt là sự hiện diện của quân đội Mỹ và quân đội đồng minh để lại những ảnh hưởng rất xấu trong xã hội. Đó là tệ nạn đĩ điếm, ma cô, chạy theo đồng đô la một cách khá trắng trợn. Chính người dân miền Nam thời đó cũng phản ứng rất gay gắt. Nhưng mặt khác, cuộc sống xã hội và tinh thần trong nội bộ xã hội Việt Nam, trong trường học, trong công sở, trong các gia đình, xóm giềng, bạn hữu... lại là quan hệ có nề nếp, có văn hóa. Học trò lễ phép với thầy, vợ chồng, cha con, mẹ con thương yêu gắn bó với nhau. Thời đó học trò ra đường không hỗn láo như bây giờ. Không có hiện tượng chửi thề, các quan chức cũng có chơi bời nhưng không tệ hại tới mức như một số quan chức hiện nay. Công an thời đó ít có hiện tượng chặn đường để ăn tiền mãi lộ một cách phổ biến như ngày nay. Xin giấy tờ ở cấp này cấp kia cũng không phải đút lót một cách phổ biến, đặc biệt là trong trường học thì tình trạng chạy điểm, mua điểm, ném phao, quay cóp gần như không có. Có thể nói, so với xã hội trước đây thì trên một số khía cạnh nào đó, cuộc sống văn hóa và tinh thần hôm nay đã xuống cấp nghiêm trọng... Những trí thức trước đây, công chức trong công sở là những người có tư cách, đàng hoàng, cả nói năng và hành xử rất có văn hóa. Còn bây giờ, một tỉ lệ đáng kể công chức và cả một số trí thức cũng không có được một phong độ văn hóa như trước đây.
- Các nhà kinh doanh, trước đây hầu hết là tư nhân. Ngày nay kinh doanh tư nhân cũng phát triển khá mạnh, nhưng doanh nghiệp quan trọng nhất vẫn là doanh nghiệp quốc doanh. Xét riêng khu vực tư nhân thì trước đây những nhà kinh doanh tư nhân phần lớn là những người đã có truyền thống từ nhiều đời để lại. Họ có kinh nghiệm, họ có văn hóa, họ có bạn hàng, họ có thị trường, có những quy tắc nghiêm ngặt trong kinh doanh. Kinh doanh tư nhân hiện nay là một tầng lớp mới lên, đa số chưa có nhiều kinh nghiệm, không có truyền thống, mang nặng tính chất chụp giật, tạm bợ, số phận của họ cũng không ổn định.
- Về quản lý và điều hành nền kinh tế, như tôi đã nói sơ trên, cấp điều hành và các chuyên gia hàng đầu đều là những người có học vấn. Họ hiểu luật pháp quốc tế vì đã từng tu nghiệp ở Mỹ, ở Pháp. Họ có phong độ của những nhà quản lý, có kiến thức quản lý. Họ có thể tham dự các cuộc đàm phán quốc tế không cần phiên dịch. Hệ thống quản lý của ta ngày nay về mặt đó là kém hơn. Phần lớn là các cán bộ chính trị của ta tri thức về quản lý vẫn còn bất cập so với những đòi hỏi của một cơ chế kinh tế thị trường hoàn hảo. Trình độ ngoại ngữ cũng như kiến thức chung về xã hội cũng vậy. Do đó, trong sự điều hành gặp nhiều vấp váp. Tình trạng lạm phát, những ách tắc trong đời sống kinh tế như nạn kẹt xe, xây cất lung tung, tai nạn xảy ra liên tục... thể hiện sự bất cập của hệ thống quản lý hiện nay.
Đặng Phong
Người đô thị, Tháng 5/2008