2/9/11

Điều 4 Hiến pháp – những bất cập

Quỳnh Chi-  2011-08-29

Điều 4 Hiến pháp vẫn được nói đến rất nhiều, điển hình là các buổi tọa đàm về “Chỉnh đốn để tồn tại và phát triển” trước đại hội 9 năm 2001. Lần này điều 4 Hiến pháp lại một lần nữa được quốc hội khoá 13 mang ra “mổ xẻ”.

Noi theo các nước Cộng Sản
Dịp thảo luận nhân đại hội 9 năm 2001, một số nhà lý luận đã nhận định rằng “điều 4 Hiến pháp đã đặt Đảng vào vị thế siêu quyền lực”. Nay điều 4 lại được đem ra trước diễn đàn Quốc hội trong dịp quốc hội bàn việc tu chính hiến pháp 1992.
Có thể nói điều khoản này của Hiến pháp là một trong những đề tài gây nhiều tranh cãi nhất, đặc biệt khi áp dụng vào những vấn đề trọng đại của quốc gia. Trong đó, điều luật xác định sự cầm quyền của Đảng Cộng sản cùng với ảnh hưởng của điều 4 trong đời sống dân chủ của người dân thường được nói đến nhiều nhất.
Khi chúng ta làm Hiến pháp 1980 cũng tham khảo qui định của Liên Xô và vận dụng vào hiến pháp của mình”.
nguyên Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn đình Lộc
Việt Nam không phải là nước đầu tiên hay duy nhất nói đến Đảng trong Hiến pháp. Mặc dù ngôn ngữ khác nhau nhưng hiến pháp các nước Liên Xô cũ, Trung Quốc, Bắc Hàn và Cuba cũng có những điều khoản nhằm khẳng định sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Thực chất điều 4 Hiến pháp 1980 được xây dựng dựa trên sự tham khảo điều 6 Hiến pháp Liên Xô. Việc này đã được khẳng định trong lời phát biểu của người từng tham gia xây dựng hiến pháp năm 1980 và 1992, nguyên bộ trưởng Bộ Tư pháp, ông Nguyễn Đình Lộc. Trong cuộc phỏng vấn với báo Tuổi Trẻ vào tháng 10 năm 2007, ông Lộc nói:
“Điều 6 hiến pháp năm 1977 của Liên Xô đã nói đến vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Khi chúng ta làm Hiến pháp 1980 cũng tham khảo qui định của Liên Xô và vận dụng vào hiến pháp của mình”.
Điều 4 Hiến pháp năm 1980 đã khẳng định “Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Điều 4 Hiến pháp Việt Nam 1992 xây dựng trên cơ sở điều 4 Hiến pháp 1980, chỉ bỏ đi từ “duy nhất” sau khi chủ nghĩa cộng sản Đông Âu sụp đổ.

“Ông vua tập thể”

Việc bỏ đi từ “duy nhất” xem ra không làm nhẹ đi sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, ở một xứ sở mà khái niệm đa đảng chưa được khuyến khích. Bằng chứng là nhiều vị quan chức về hưu, thậm chí còn tại vị đã phải lên tiếng khi điều khoản này đã tạo ra những lạm dụng quyền lực. Trong cuộc phỏng vấn với nhà báo Nguyễn Anh Tuấn trên Tuần Việt Nam năm ngoái, ông Nguyễn Đình Lộc cũng nói rằng “Liên Xô sụp đổ, cũng là lúc cái điều trong Hiến pháp về sự lãnh đạo của Đảng cộng sản được khẳng định rất mạnh mẽ”.
Không phải dân chủ nữa mà là đảng chủ rồi
Cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An
Cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An cũng đã phát biểu trong bài phỏng vấn với Tuần Việt Nam, số ra tháng 10 năm ngoái rằng
“Quyền lực nhà nước được phân công ra làm ba nhánh song lại thống nhất ở nơi Đảng. Vậy, Đảng trở thành ông vua tập thể rồi. Không phải dân chủ nữa mà là đảng chủ rồi”.
Một khi đã là ông vua tập thể, nếu quyền lực tập trung như thế, thì sự lạm quyền là tất yếu. Đó cũng chính là tư tưởng của thuyết Montesquieu, nền móng cho các Hiến pháp dân chủ, trong đó hiến pháp Hoa Kỳ được nhiều người công nhận là mô thức điển hình .
Việc quy định quyền lãnh đạo của Đảng trong hiến pháp tất nhiên tạo ảnh hưởng đến cả các bộ luật hay văn bản dưới luật cũng như gây ảnh hưởng trực tiếp đến các điều khoản, luật lệ khác trong hiến pháp.  Có thể nói không quá lời khi cho rằng hầu hết các điều trong Hiến pháp đều bị điều 4 chi phối, nghĩa là sự lãnh đạo của Đảng vẫn là tối thượng.
Tháng 10 năm 2007, khi có nhiều ý kiến về việc sửa đổi Hiến pháp, TS Uông Chu Lưu phó chủ tịch Quốc hội phát biểu rằng việc sửa đổi Hiến pháp “cần chờ đại hội Đảng toàn quốc để sửa đổi cương lĩnh…Bây giờ nếu chúng ta sửa Hiến pháp, rồi sau khi Đảng sửa cương lĩnh, lại đặt vấn đề sửa Hiến pháp nữa thì rất phức tạp”.
Phản biện trước ý kiến này, nguyên chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn An đã nói “Ai có quyền tối hậu trong Lập Hiến thì người đó là người chủ đích thực của đất nước”.  Như vậy phải chăng Đảng Cộng Sản, thực chất chỉ là một nhóm người được quy định tại điều 4 Hiến pháp, đã tước đi vai trò làm chủ thật sự của người dân?
Luật gia Lê Hiếu Đằng, phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam phát biểu:
“Ví dụ có những vấn đề Đảng lại quyết định trước rồi mới thông qua Quốc hội. Như vậy vai trò của QH không có ý nghĩa gì cả. Cho nên vấn đề này cần được minh bạch”.

Quyền lập hiến phải thuộc về toàn dân

Hiến pháp không phải là một văn bản bình thường. Hiến pháp qui định những điều căn bản của xã hội, trong đó bao gồm tự do, dân chủ, nhân quyền. Chính vì thế, quyền lập hiến chỉ thuộc về một bộ phận duy nhất là nhân dân, vì họ là người chủ đất nước thực sự. Điều 83 của Hiến pháp 1992 qui định “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền Lập Hiến và Lập Pháp”. 
Đây là một sự chuyển quyền mà theo cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An là “sự thay đổi rất lớn, rất cơ bản về quyền lập hiến từ dân đã được chuyển sang Quốc hội”. Trong khi đó thì Quốc hội luôn luôn nằm dưới sự lãnh đạo của Đảng bởi hơn 90% đại biểu Quốc hội là đảng viên. Ai cũng thấy được rằng một nước dù theo thể chế nào đi nữa thì mọi đảng viên của một đảng chính trị nào cũng phải theo chính sách của đảng ấy.
bây giờ người dân phải bầu (chọn hiến pháp) qua Quốc hội. Mà Quốc hội có đến hơn 90% là đảng viên rồi”  
Cổ động bầu quốc hội khóa 13, tháng 5-2011- AFP photo
Cổ động bầu quốc hội khóa 13, tháng 5-2011- AFP photo


luật gia phó chủ tịch UB Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Một trong hai nguyên tắc bắt buộc để xác định người chủ đất nước là việc bầu cơ quan đại diện cao nhất cho mình, tức Quốc hội. Thế nhưng ở Việt Nam người dân phải bầu chọn từ một danh sách được Mặt trận tổ quốc và Ban bầu cử đã chọn trước và đưa ra. Đảng Cộng sản coi Mặt Trận Tổ Quốc do đảng chọn ra cũng là đại diện của nhân dân, vậy liệu có phải các vị “nhân dân cấp cao” trong Mặt Trận lại được chọn ra danh sách ứng cử viên quốc hội để toàn dân chọn lại chăng? Ông Lê Hiếu Đằng, cho biết:
“Về vấn đề nhân sự, người dân phải bầu trực tiếp. Tuy nhiên, bây giờ người dân phải bầu (chọn hiến pháp) qua Quốc hội. Mà Quốc hội có đến hơn 90% là đảng viên rồi”.
Trong bài “Một chiến lược dân chủ hóa để chống tham nhũng” năm 2000, trung tướng Trần Độ từng nhận định rằng một khi đã nắm hết quyền mà không ai kiểm soát thì sẽ sinh ra tham nhũng. Về điều này, luật gia Lê Hiếu Đằng chia sẻ:
“Điều 4 cần được thể chế hóa thành luật quy định sự lãnh đạo của Đảng phải để người dân giám sát. Nếu không có giám sát thì Đảng dễ sinh ra tệ quan liêu, chuyên quyền, lạm quyền.

“Luật hóa” điều 4: chống lạm quyền

Chính vì thế, từ lâu, đã có những ý kiến về điều 4 Hiến pháp, trong đó có việc đề nghị luật hóa điều này. Gần đây nhất, GS.TS Nguyễn Minh Thuyết, nguyên ĐBQH cũng từng phát biểu rằng
“Còn riêng về điều 4, tôi cho là cần phải cụ thể hóa hơn nữa, để người dân cũng biết được sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với xã hội ở trong khuôn khổ pháp luật là nghĩa như thế nào. Và thậm chí cũng nên cụ thể hóa bằng một đạo luật”.
Theo điều 2 Hiến pháp, thì Nhà nước Việt Nam là một nhà nước pháp quyền, vậy nên nếu không thể chế hóa về mặt pháp lý sự lãnh đạo của Đảng, thì chẳng lẽ Đảng lại nằm ngoài vòng pháp luật hoặc đứng trên pháp luật? Ông Lê Hiếu Đằng nói thêm:
 “Nếu muốn tiến lên một xã hội dân sự, pháp quyền, thì phải như thế thôi. Mọi bộ máy trong hệ thống chính trị phải được người dân giám sát chặt chẽ, không loại trừ một ai. Như thế mới gọi là dân chủ”.
Nếu Đảng là đảng cầm quyền thì dĩ nhiên những chính sách và phương thức lãnh đạo của Đảng có mối quan hệ trực tiếp và sâu rộng với đời sống gần 90 triệu dân. Cho nên, nếu không có những biện pháp chế tài và kiểm soát của pháp luật thì lợi ích người dân trong tất cả các mối quan hệ xã hội từ chính trị, văn hóa xã hội, thể chế… sẽ bị ảnh hưởng theo hướng tiêu cực nhiều hơn tích cực, do xu hướng lạm quyền.
Suy cho cùng, các quy định của pháp luật, dù là đối với Đảng, không phải được đặt ra để ngăn cấm hay hạn chế, mà chính là tạo ra khuôn khổ để đảm bảo quyền lợi của người chủ thật sự của đất nước: đó là nhân dân.  Chính vì thế, mà đề nghị luật hóa điều 4 đã được nói đến. Việc này nhằm xác định những giới hạn trách nhiệm công việc, phương thức kiểm soát và chế tài khi cần thiết như ông Lê Hiếu Đằng chia sẻ:
“Mặc dù có điều 4 Hiến pháp nhưng nếu chính sách, chủ trương của Đảng không phù hợp thì sự lãnh đạo của Đảng cũng rất yếu và không có tác dụng nhiều”....“Và khi Đảng có những sai lầm thì cũng phải có những chế tài nhất định’.
Ông Nguyễn Minh Thuyết không phải là người đầu tiên và duy nhất nói đến luật hóa điều 4 Hiến pháp. Trong một đề tài quốc gia của Học viện Hồ Chí Minh, cũng đã có ý kiến đề nghị xây dựng một dự án luật về sự lãnh đạo của Đảng. Thêm vào đó, ông Nguyễn Đình Lộc cũng từng cho rằng có một số văn kiện gây lúng túng và đạo lý của nó chưa được thấm hết. Theo ông, “thế nào là đảng cầm quyền, trách nhiệm đến đâu, quan hệ với nhà nước thế nào”.

Một nền móng bất cập, mập mờ

Những nhà lãnh đạo Việt Nam hay dùng hình mẫu "độc đảng" của Singapore trong thời kỳ lập quốc như một minh chứng rằng một đảng lãnh đạo vẫn có thể mang đến một xã hội phát triển. Tuy nhiên, một điều rất quan trọng là hiến pháp Singapore không hề qui định về sự lãnh đạo của đảng, trong khi điều 4 Hiến pháp Việt Nam, qui định sự lãnh đạo của Đảng; đó là một trong những điều tối quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân chủ của tất cả công dân Việt Nam.
Những phân tích vừa được dẫn giải cho thấy những chồng chéo, bất cập, và thậm chí mập mờ của Hiến pháp Việt Nam, nền móng của luật pháp ở Việt Nam - một việc không nên xảy ra với bất kỳ một Hiến pháp nào. Hiến pháp là luật gốc, là luật mẹ, là khế ước của toàn dân.
Một khi đã không đảm bảo được tính dân chủ thật sự cho người dân, từ tay người dân, thì hiến pháp, dù là hiến pháp mang tên dân chủ, cũng chẳng có ý nghĩa gì.

1/9/11

Ghé thăm các Blog: 14/10/2010


Thursday, October 14, 2010

BLOG MẸ NẤM



“Quân đội hoạt động với tư cách lực lượng yểm trở hậu cần khi cần và cứu trợ cho các tàu cá. Quân đội là lực lượng quân sự, không tham gia giải quyết vấn đề tàu cá bị bắt, vì đó là vấn đề dân sự”. - Nguyễn Chí Vịnh


*

Mẹ Nấm – Hôm qua, mình đọc bài “Biển Đông không phải chuyện tranh nhau mảnh sân trước nhà” trên TuanVietNam
http://www.tuanvietnam.net/2010-10-08-bien-dong-khong-phai-chuyen-tranh-nhau-manh-san-truoc-nha-
Trả lời câu hỏi của Phương Loan về trách nhiệm của quân đội trong việc bảo vệ ngư dân trước hàng loạt vụ bắt giữ tàu cá trên biển Đông, ông Nguyễn Chí Vịnh – chức vụ Trung tướng – Thứ trưởng phụ trách Đối ngoại, Bộ Quốc phòng đã trả lời :
Thời gian qua, hàng loạt các vụ bắt giữ tàu cá và ngư dân Việt Nam bị bắt trên Biển Đông. Quân đội làm gì để bảo vệ họ, thưa ông?


Quân đội hoạt động với tư cách lực lượng yểm trở hậu cần khi cần và cứu trợ cho các tàu cá. Quân đội là lực lượng quân sự, không tham gia giải quyết vấn đề tàu cá bị bắt, vì đó là vấn đề dân sự.

Với vấn đề Biển Đông, mục tiêu lớn của Việt Nam là giữ cho được những gì thuộc chủ quyền của Việt Nam, bất kì nước nào có ý xâm phạm, ta nhất quyết chống. Chúng ta kiên trì khẳng định chủ quyền trên Biển Đông, bởi đó không phải là vấn đề của một năm hay mười năm mà là vấn đề của hàng trăm năm.

Trong các xung đột nếu có, chúng ta sẽ nỗ lực giải quyết bằng giải pháp chính trị, kiềm chế để có hòa bình và ổn định. Những vấn đề phát sinh, cần giải quyết tại chỗ và co nhỏ vấn đề lại.

Thế là thế nào nhỉ? Đã có người đặt ra câu hỏi : “Ngư dân đánh bắt trên vùng biển nhà nước tuyên bố chủ quyền bị bắt giữ mà quân đội im lặng? Thì giữ cho được những gì thuộc chủ quyền của Việt Nam là giữ cái gì? “bất kì nước nào có ý xâm phạm, ta nhất quyết chống” – chống là chống cái gì???


“Vấn đề dân sự” mà ông đặt ra ở đây là gì nhỉ?

Cũng trong ngày hôm qua, mình đọc được tin “Trung Quốc thả vô điều kiện ngư dân “trên Vietnamnet, thấy vui quá, định bụng sẽ viết vài dòng ghi nhận thành công của tính “khôn ngoan và mềm dẻo trong đường lối ngoại giao” nay đã có kết quả.

Ai ngờ chiều nay search để lấy lại link làm dẫn chứng thì không có.

Cách đưa tin lên, rồi lại hạ xuống hẳn không phải là chuyện lạ với báo chí nước ta. Tuy nhiên, với sự việc đáng phấn khởi như thế này, lẽ ra phải công khai để “đập tan luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch”.
Lạ thật, lẽ ra đây là dịp để vỗ vô mặt “mấy ông mấy bà lắm chuyện, chả có hiểu biết gì về chính sách ngoại giao của nhà nước ta trong vấn đề biên giới hải đảo”, sao lại rút tin xuống vậy ta?

Lại đọc được những dòng này:
Trung Quốc đã thả các ngư dân Quảng Ngãi trước khi bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt sang thăm Việt Nam và dự Hội nghị các bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng với 8 nước đối thoại, ADMM+, khai mạc ngày hôm nay, 12/10, tại Hà Nội.

Chiều tối ngày hôm qua, báo chí chính thức của Việt Nam trên internet đã loan tin này, nhưng sau đó lại rút bài xuống. Một nguồn tin từ bộ Ngoại giao Việt Nam, xin giấu tên, cho DPA biết là Trung Quốc đã yêu cầu Việt Nam chỉ đưa tin thả 9 ngư dân Quảng Ngãi sau Hội nghị ADMM+.

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20101012-bo-truong-quoc-phong-viet-nam-thong-bao-trung-quoc-tha-cac-ngu-dan-quang-ngai

Thế là thế nào nhỉ?

Mẹ Nấm


BLOG DA VÀNG

Posted on Tháng Mười 13, 2010 by Da Vàng

Ngay từ bây giờ, Trung Quốc nên biết hãnh diện vì công dân họ, ông Lưu Hiểu Ba là một người Trung Quốc đích thực đạt được giải Nobel danh giá

Trần Minh Quân

Những năm trước, giải thưởng Nobel ở mọi lĩnh vực tuy có ý kiến bàn tán, khen chê, có người đồng tình, có người phản đối, nhưng không gay gắt và tốn nhiều giấy mực trên các báo, báo mạng trong, ngoài nước, các blog cá nhân tiếng Việt như năm nay, đặc biệt là giải Nobel hòa bình.

Giải Nobel hòa bình năm 2010 được trao cho ông Lưu Hiểu Ba, người đang lãnh án tù giam 11 năm tại Trung Quốc.

Do đâu mà giải Nobel hòa bình năm nay lại được bàn tán nhiều đến vậy? Phải chăng do ông Lưu Hiểu Ba được trao giải khi còn đang ngồi tù. Lý do này là có thật, tuy nhiên chưa hẳn đúng. Bởi trước ông, đã từng có người đoạt giải thưởng cao quý này cũng đang ngồi tù, hay đang trong vòng lao lý. Có thể kể ra đây là ông Nelson Mandela: Ông đoạt giải Nobel hòa bình năm 1993, gắn liền với những hoạt động chống lại các chính sách phân biệt chủng tộc. Cuộc đời ông gắn liền với nhiều lần giam cầm liên tục từ năm 1962 cho tới năm 1982; Bà Aung San Suu Kyi: Bà đoạt giải Nobel hòa bình năm 1991 trong khi bà bị quản thúc tại gia, bà là nhà lãnh đạo đối lập ủng hộ dân chủ Miến Điện. Bà đã được trả tự do năm 1995, rồi vừa mới bị cầm giữ lại – và lại bị lại lần nữa. Hiện nay bà vẫn là một tù nhân.

Vậy có chăng sự bàn tán xung quanh giải thưởng Nobel hòa bình năm nay vì ông Lưu Hiểu Ba là người Trung Quốc. Thật vậy, có một đặc điểm dễ nhận thấy là trong thời gian gần đây, trên các phương tiện truyền thông Tiếng Việt toàn thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng, đặc biệt là các Blogger, hầu hết những tin tức liên quan đến Trung Quốc hay mang yếu tố Trung Quốc đều nhận được sự chú ý. Từ những chuyện mang tầm quốc tế như giải Nobel hòa bình, tranh chấp Biển Đông, biển Hoa Đông, đến những chuyện tầm cỡ quốc gia như Bauxite Tây Nguyên, bắt ngư dân Quảng Ngãi và gần đây là bộ phim lịch sử Việt Nam tràn ngập dáng dấp Trung Quốc.

Trong hầu hết các bài viết, những phản ánh liên quan đến Trung Quốc hay mang yếu tố Trung Quốc, đa phần đều tỏ ra không hài lòng với cách cư xử, cách giải quyết của chính quyền Trung Quốc, nặng hơn là đã có những lo ngại thật sự về cách ứng xử từ phía Trung Quốc trong mọi vấn đề từ trong nước đến vấn đề quốc tế. Sự việc nổi bật trong thời gian gần đây gây sự chú ý dư luận có thể kể ra là cái lưỡi bò mà Trung Quốc tự vẽ ra trên Biển Đông.

Trung Quốc trong mắt mọi người như một anh nhà giàu tham lam, kệch cỡm. Anh nhà giàu này đã cặm cụi làm giàu bằng bất cứ giá nào, không cần biết đến đúng sai, bất chấp đạo lý miễn sao vét đầy túi tham. Khi nhìn lại, xung quanh anh ta không còn ai thân thiết, không còn ai bầu bạn. Cuối cùng anh ta bị xa lánh, bị lên án.

Đã có một bộ phận người Việt Nam không ưa thích gì người Trung Quốc, một số người cực đoan hơn còn đòi tẩy chay hàng Trung Quốc, xem Trung Quốc như một hiểm họa tiềm tàng nguy hiểm. Đó là thực tế đáng suy nghĩ đối với Trung Quốc.

Trở lại sự kiện giải thưởng Nobel hòa bình. Sự việc này sẽ không gây ồn ào dư luận nếu nó được trao cho người khác hoặc người được trao là ông Lưu Hiểu Ba không phải là người Trung Quốc. Đã có sự lên tiếng kêu gọi thả tự do cho ông Lưu Hiểu Ba được phát ra từ những người có tầm ảnh hưởng nhất nhì trên thế giới như Tổng thống Mỹ Obama và một số nhân vật quan trọng của Quốc tế khác, … Trong khi đó, Trung Quốc liên tục lên tiếng phản đối giải thưởng này.

Một giải thưởng danh giá, lâu đời và có uy tín như giải Nobel được trao, tức là những người đánh giá và trao giải thưởng đã tham vấn thật kỹ càng, khách quan, đánh giá đúng công trạng của người đoạt giải. Điều đó là sự thật. Không cần phải quá nhiều bàn cãi quanh giải thưởng này như trong thời gian qua. Có chăng nên bàn tán xem người nhận giải có xứng đáng hay không xứng đáng mà thôi.

Qua sự kiện ông Lưu Hiểu Ba nhận giải thưởng Nobel hòa bình, thiết nghĩ đã đến lúc người Trung Quốc cần suy nghĩ lại, cần có cái nhìn khách quan trong mọi sự việc, có cách hành xử hợp đạo lý hơn với chính họ và với thế giới bên ngoài, lúc đó mới nhận được cái nhìn thiện cảm hơn từ mọi người.

Ngay từ bây giờ, Trung Quốc nên biết hãnh diện vì công dân họ, ông Lưu Hiểu Ba là một người Trung Quốc đích thực đạt được giải Nobel danh giá.

BLOG ĐÀO TUẤN

Đăng ngày: 00:13 14-10-2010
Thư mục: Tin vịt

Tắc đường 10 tiếng đồng hồ; Cụ rùa cái bị đem nướng chả; Đôi giày cho cha Thánh Gióng và Người đẹp tắc đường kịch tính... là những kỷ lục đã được ghi vào top kỷ lục Việt Nam sau Đại lễ 1000 năm
1- Kỷ lục tắc đường suốt 5h đồng hồ tại ngã tư Khuất Duy Tiến- Nguyễn Trãi ngày 8-9-2010 đã nhanh chóng bị phá vỡ. Vào ngày 10-10, vụ tắc đường trên diện rộng có bán kính 5km kể từ sân vận động Mỹ Đình và kéo dài suốt 10h đồng hồ, kéo đến sáng ngày 11-10, đã phá vỡ ngoạn mục kỷ lục cũ. Tính chất kỷ lục của sự kiện là ở chỗ các loại xe ưu tiên như xe cảnh sát dẫn đoàn, xe cứu thương... cũng lùng nhùng hàng tiếng đồng hồ trong đám tắc. Với khoảng gần 100 điểm tắc đường, trong đó có 25 điểm ngày nào cũng tắc, Hà Nội đã lọt vào top những thành phố tắc đường nhất thế giới, chỉ sau Jio De Janiero, Bangkok và Bắc Kinh. Từ nhiều năm nay, tắc đường đã được coi là một trong những nét văn hóa Tràng An để lại những cảm xúc khó... nhịn và không thể nào quên cho du khách mỗi lần lai kinh. Một cụ già được dẫn lời phát biểu: Trong không khí ầm ì tinh thần tương thân tương ái của vụ tắc đường, nhiều người bỗng nhớ lại những ngày đêm của Hà Nội năm 1972 với tiếng ô tô xe máy ù ù như tiếng B52 và phương trâm "tứ khóai tại vị" đặc trưng. Vụ tắc đường kéo từ 10-10 đến 11-10 là vụ tắc đường vô tiền khoáng hậu trong suốt 1000 năm lịch sử Thăng Long- Hà Nội.

2- Kỷ lục Đôi giày to nhất thuộc về đôi giày cỡ 1000 của nhãn hiệu TS Milan. Đôi giày, biểu hiện cho "cỗ lòng" của TS, to như cái thuyền, được giới thiệu làm ra để tưởng nhớ đến cha của... Thánh Gióng, người có bàn chân khổng lồ in trên đá. Ngày 20-09-2010 Đại diện TS.MilanShoes J.S.C, ông Phạm Quốc Thắng đã trao "cỗ lòng" đó cho Hà Nội nhân dịp Đại lễ 1000 năm sau một phát biểu khẳng định TS Milan cam kết chất lượng tuyệt hảo tầm cỡ hành tinh và một câu đố vui: Đố bạn biết TS.Milan là hãng giày Việt giả Ý hay Italia giả Việt Nam. Báo Hà Nội Mới sau đó khen rằng: "Tặng vật nào cũng khiến người xem xúc động". Đôi giày, sau khi triển lãm ở cung Việt Xô, đã được chuyển thẳng vào miền Trung để ủng hộ đồng bào lũ lụt.

3- Một cụ rùa cái được làm từ 100 kg mực trong 8h đồng hồ với chiều dài 1,38m, rộng 0,9m và cao 0,5m đã được ghi vào sách kỷ lục Việt Nam hôm 27-9-2010. Đây là ý tưởng của nhà hàng Phúc Đình Quán- Hải Phòng dâng lên Đại lễ với mục tiêu quảng bá món chả rùa. Đầu bếp Vũ Văn Vinh cho biết: Chúng tôi hy vọng người dân Tràng An sau đại lễ sẽ quen ăn món chả rùa thay cho chả cá Lã Vọng mà theo tôi là quá nhạt và quá... Tàu. Sau khi rán chín, cụ rùa- mực này đã được thả xuống hồ Gươm làm bạn với cụ rùa của Hà Nội. "Việc "thả rùa" đang cổ vũ ý tưởng rất hay là tìm bạn gái cho cụ rùa hồ Gươm, tránh nguy cơ tuyệt chủng, tránh tội bất hiếu với liệt tổ liệt tông cho cụ, ý tưởng mà chúng tôi đã nhiều lần khẩn thiết kiến nghị"- Một nhà rùa học nói. Chỉ đáng tiếc là sau khi thả ả rùa cái, cụ rùa im thin thít và lặn mất tăm. Cũng có thể cụ xấu hổ vì clip tắm tiên, nghi là ghép hình, ngay chân cầu Thê Húc. Nhà hàng Phúc Đình Quán cho biết trong lễ hội Gióng tới đây, họ sẽ tiếp tục thực hiện món "người Thần-ngựa Thánh" với món ngựa sắt làm bằng thịt ngựa thực sự. Riêng món "Thánh Gióng" được làm bằng cơm, cà và... tim. "Ngài đã ăn bảy nong cơm, ba nong cà trước khi vỗ đít ngựa đi đánh giặc Ân, hơn nữa, bây giờ ngài còn có tim"- Đầu bếp Vũ Văn Vinh giải thích

4- Bộ phim hấp dẫn nhất, có kinh phí lớn nhất trong lịch sử điện ảnh Việt Nam được đưa vào sách kỷ lục là bộ phim Trung Quốc "Lý Triển Chiêu- Đường tuần thú phương Nam". Phim của đạo diễn Cận Đức Mậu, kịch bản Kha Chương Hòa do hãng Trường Thành của nhà dân tộc chủ nghĩa, "chí thức" Tôn Trung Sơn sản xuất với kinh phí 100 tỷ VND. Bộ phim đã quy tụ dàn diễn viên thượng thặng được thuê từ Việt Nam. Ngôi sao Tiến Lộc, người từng thủ vai ca sĩ đồng tính Quang Bình đóng vai vua Lý Công Uẩn; với sự có mặt của Á hậu Thụy Vân, ngôi sao Trung Hiếu, "Hoa hậu" Phan Hòa, "Cảnh sát hình sự" Hoàng Hải... Yếu tố để bộ phim được sự thống nhất tuyệt đối đưa vào sách kỷ lục là dù nó chưa chiếu nhưng đã gây được "tiếng vang" lớn và rẽ lịch sử dân tộc sang một hướng mới, lạ hơn, độc hơn.

5- Ý tưởng sáng tạo nhất được trao cho Vũ Phương, Giám đốc Quỹ Văn hóa Hà Nội. Trong một lần du hí xứ Hàn, ông Phương lạc đường, vô tình lạc vào Bảo tàng lịch sử Seoul nơi lưu giữ hiện vật gửi tương lai 600 năm. Sau đó Hà Nội "sao chép có sáng tạo" qua dự án "Nổi lẩu gửi tới mai sau". Ý tưởng sáng tạo tuyệt vời này sở dĩ thất bại là do căn bệnh "bàn" quá nặng của người Việt. Trước câu hỏi "Để làm gì và gửi cái gì?" của Nhà sử học Dương Trung Quốc (ông là người Việt Nam), Hà Nội tranh cãi mãi không ngã ngũ nên gửi cái gì, nên bỏ cái gì. Dù GS Lê Văn Lan gọi đây là dự án "tam vô" (vô nghĩa, vô lý và vô bổ), nhưng Đại diện Trung tâm Sách kỳ cục Việt Nam vẫn cho rằng: Sự thất bại của Dự án không làm mất đi vẻ long lanh mắt trâu của sự sáng tạo và độc đáo trong việc sao chép không hề ngớ ngẩn, của ý tưởng.

Một trong những nguyên tắc xác lập kỷ lục Việt Nam là Quảng bá được hình ảnh đất nước con người, xã hội Việt Nam một cách tốt nhất, Khuyến khích mọi ước muốn vươn tới những kỷ lục mới. Đại diện Trung tâm Sách kỳ cục Việt Nam hy vọng những kỷ lục này sẽ là phương thức hữu hiệu quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Khuynh hướng rất dễ nhận thấy là những kỷ lục ngày càng to hơn, lớn hơn, dài hơn, lâu hơn và tạo hiệu ứng dậm dật hơn... nhiều lần so với bình thường. Điểm đáng tiếc nhất trong Đại lễ năm nay là những cây lúa làm từ hạt thóc 3000 năm có ký hiệu là "Khang Dân- Tung Của" khai quật được ở di chỉ Thành Dền đã không kịp chín để làm ra 1000 chiếc bánh "trưng", mỗi chiếc 1000 cân, dâng bác Vua Hùng và cụ Lý.
Nhưng cũng may chưa có hãng "áo mưa" nào tặng Hà Nội chiếc áo mưa cỡ 1000 bởi đối với mặt hàng này khâu trưng bày có thể không khó nhưng rõ ràng sau đó sẽ trao cho ai và dùng như thế nào thì lại không đơn giản. Không lẽ cái gì cũng trao cho Mặt trận tổ chức bán đấu giá để ủng hộ người nghèo.

Ngoài ra còn có 5 kỷ lục khác được ghi sách: Nồi lẩu lớn nhất dành cho cái tên Mỹ Đình. Tà áo dài gây tắc đường nhất là áo mà cựu Hoa hậu Mai Phương Thúy đã mặc. Nhiều khách du lịch quyết tử nhất- khi cả triệu người sẵn sàng đợi trong nồi lẩu từ 13h trưa đến 21h30 tối để xem 10 phút pháo hoa. Điểm mới của kỷ lục Việt Nam năm nay là có một người đẹp sống nhăn được đưa vào sách kỷ lục: Hoa hậu Ngọc Hân. Cô đã lập nên kỷ lục: Người đẹp tắc đường kịch tính nhất, mắt rơi nhiều nước nhất, với một thời gian biểu cao su nhất, và lời thanh minh... trung thực nhất.

Riêng, kỷ lục thứ 10... PV tự biên tập bằng dấu ba chấm (...) cho đỡ mất... mỹ quan.


BLOG NGUYỄN QUANG LẬP



Hãy bắn pháo hoa đi. Cháy kho pháo Mỹ Đình thì mua ngay kho khác. Bắn lên cho tỏ mặt người yêu nước, ai không hớn hở sẽ bị coi là vô cảm.


Hãy bắn pháo hoa đi. Nhảy nhót hát ca đi, màn múa hát 30 ngàn người nếu thấy còn ít quá thì sang Bắc Triều mà học tập. Ở đấy lúc nào cũng có 200 ngàn người nhảy múa ngợi ca đất nước, ca ngợi Đảng quang vinh.


Hãy bắn pháo hoa đi để thấy dân Miền Trung đang ngoi ngóp trong lũ lụt, 20 ngàn hộ dân lũ cuốn, thiệt hại hơn 2 ngàn tỉ. Ok ok không sao không sao, hãy bắn đi để ngợi ca đất nước.


Những người dân Miền Trung trong lũ lụt không phải đang ngồi chờ xem pháo hoa đâu, họ đang chờ cứu nạn. Ok ok không sao không sao, cứ bắn đi, ai can ngăn đừng bắn sẽ bị coi là xúc phạm niềm tự hào dân tộc.


4, 5 tỉ đô la cho Thủ đô kỉ niệm Ngàn năm, 60 triệu đô la cho Đại lễ… ok ok không sao không sao, vì Hà Nội là trái tim của Tổ quốc. Chỉ sợ trái tim không còn biết đau khi thấy dân Miền Trung phải ngụp lặn kiếm tìm từng gói mì tôm từ thiện.


Hãy bắn pháo hoa đi để biết nhà ta đang có tang, tám chục con người bỏ mạng trong bão lụt. Ok ok không sao không sao, ai chết cứ chết, ai vui cứ vui, hãy bắn pháo hoa đi.


Hãy bắn pháo hoa đi để thấy dân Miền Trung đang kêu cứu. Ok ok không sao không sao, 19 điểm pháo hoa sáng rực rỡ trên bầu trời Đất nước tất thấy rõ mặt người, ai là kẻ bất lương, ai là người vô cảm.

Hãy bắn pháo hoa đi, trời có mắt đấy.


BLOG NGUYỄN QUANG LẬP



Rứa là 10 ngày Đại lễ đã xong. Đĩnh đạc. Đông đúc. Đẹp đẽ. Được được được. Đích đáng. Tốn kém thì đã tốn kém rồi, thôi không bàn nữa. Chỉ xin có ý kiến nhỏ như ri: lần sau có kỉ niệm chi thì Nhà nước chỉ lo cái phần lễ thôi, phần hội nên để cho dân họ mần, vừa đỡ tốn kém vừa đa sắc. Nhà nước thương dân xin chớ ôm rôm rặm bụng.

Nhiều người nói đang khi miền Trung chết chóc, khổ đau thì lễ hội nên thu gom lại nhỏ đi, đừng rộn ràng rinh rang quá, hơi bị chướng, khó coi. Có lý. Nhưng thôi, nghìn năm mới có một lần, vì khổ đau mà lễ lạt sơ sài thì chính dân miền Trung cũng không muốn. Đang khi ngoi ngóp trong lũ mà dân Miền Trung còn lo Hà Nội bị mưa, hỏi đi hỏi lại ngoài nớ có mưa không, nữa là bây giờ nước đã rặc, cái chết không còn bị đe doạ nữa, chẳng người dân miền Trung nào muốn vì mình mà làm Hà Nội mất vui.

Có điều một còm sĩ của chiếu rượu Quê choa là Kim Dung ( mụ ni nghe nói hồi trẻ xinh đẹp nổi tiếng Hà Thành, đi valse ngọt lịm sườn. Tiếc quá hồi đó tui không quen, hi hi) có một đề xuất cực hay, đăng ở Vietnamnet: Cần một phút mặc niệm cho Miền Trung trong ngày Đại lễ. Mụ Kim Dung nói: “Máu chảy, ruột mềm”. Câu thành ngữ từ ngàn đời xưa cha ông ta đã nói, hiển nhiên như một đạo lý sống. Hoạn nạn và khốn khó vì thiên tai những ngày này của đồng bào miền Trung, cũng chính là nỗi đau của người Hà Nội, của cả nước.” Đọc xong bài của mụ Kim Dung, Anh Ba Sàm đã vỗ đùi đánh đét, kêu to “Cực kì chí lí”. Ai cũng thấy chí lí chứ chẳng riêng gì Anh Ba Sàm. Sau đó báo Sài gòn tiếp thị có hưởng ứng một bài của Tất Đạt: Xin một phút cho đồng bào miền Trung ruột thịt, anh nói cũng cực hay: “ Một phút mặc niệm, đó không chỉ là sự đồng cảm, là tấm lòng của con người với con người, mà còn là văn hoá ứng xử. Đó còn là hành động của lương tâm và trách nhiệm. Cao hơn nữa, đó là thái độ đồng cảm, chia sẻ đầy tính nhân văn của mỗi con người, của cộng đồng.”

Rứa là mụ Kim Dung thì bảo cần, anh Tất Đạt thì khẩn khoản xin, còn thiên hạ đảm bảo trăm người như một đều nói phải lắm phải lắm. Nói thiệt nỏ có xứ mô như xứ mình, dân phải đi góp ý mấy chuyện đương nhiên phải làm như ri. Góp ý xong cứ ngồi lo nơm nớp, sợ người ta không làm, đã thế còn sẵn sàng chụp cho mình mấy cái mũ to đùng. Tui bận tối mắt tối mũi mà cũng cố xem hết cả buổi sáng lễ diễu hành, coi thử có khi mô họ dừng lại làm một phút mặc niệm không. Nhưng không. Không hề. Tui chú mục vào bài diễn văn của cụ Triết, bụng bảo dạ răng rồi cụ cũng dừng giữa chừng mời bà con một phút mặc niệm. Hu hu nỏ có, cụ đọc tuốt luột từ đầu tới cuối không một phút nào dừng lại (Thừa nhận bữa ni cụ đọc hay). Buồn thiu. Có lẽ mấy ông viết diễn văn cho cụ không mở ngoặc : Dừng lại một phút tưởng niệm nên cụ cứ rứa chơi cho hết bài. Mở ngoặc cũng nguy lắm, ai cũng nhớ cái giai thoại có cụ đã đọc sang sảng Kính thưa đồng chí nếu- có- vỗ- tay rồi, sợ lắm. Mà để cụ nói vo ở cái nơi lễ trọng này thì không ai dám.

Nhân đây xin đính chính một chút xíu, cái câu cụ Triết nói chuyện Cu Ba, Việt Nam thức ngủ có người nói đó là câu của Bác Hồ. Tui nỏ biết câu đó có phải Bác Hồ đã nói không nhưng tui nhớ đó là thơ của nhà thơ Hải Bằng quê tui: “ Khi Việt Nam ngủ Cu Ba thức/ Giữa thế kỉ này ta đổi canh nhau”. Tui không nhớ hai câu ni ở bài mô, chỉ nhớ bài ni Hải Bằng viết năm 1973 khi cụ Fidel đến thăm Quảng Bình.

Lại một đính chính nho nhỏ nữa. Bữa hôm cụ Triết phát biểu tại lễ khai trương tượng Thánh Gióng, cụ có nói: Thánh Gióng có đáng để cho ta học tập không? Thưa cụ, ngữ pháp Việt Nam nó phức tạp lằng nhằng lắm. Chữ đáng để nếu đặt vào câu khẳng định thì nó chứa nghĩa tốt, còn đặt vào câu nghi vấn thì nó mang nghĩa xấu, cụ hỏi rứa nỏ khác chi nói Thánh Gióng chả đáng để cho ta học tập. Chỉ là chuyện ngữ pháp thôi cụ, không có ý chi mô. Cái ni khi mô cụ vô Quảng Trị, ghé thăm o Nụ Cười, hỏi o nớ tui nói có đúng không.

Trở lại chuyện một phút mặc niệm, mặc dù tui đã mần đến tập 39 Bộ phim ti vi cuối cùng của đời tui – Từ nay em cạch đến già/ em chẳng dám mó đồ bà nữa đâu/ đồ bà vừa xấu vừa sâu/ vừa nhạt vừa nhão vừa lâu đồng tiền – định bụng cố cày cho nó xong quách đi, rồi nghỉ khoẻ nhưng rồi vẫn bỏ đó, ngồi phục cho được xem người ta có dành một phút mặc niệm không. Đề phòng mình hay bỏ đi hút thuốc, tui cẩn thận nhắn tin cho bác Mèo Hen, mụ Kim Dung, chú Fil, chú Hồng Chương coi giùm tui thiệt kỹ. Tóm lại không có là không có, một phút cũng không có.

Ngay khi nhận được tin nhắn của mụ Kim Dung: bọ ơi không có hu hu. Tui đứng bật dậy mặc niệm một phút, không phải mặc niệm cho những người dân xấu số quê tui, tui mặc niệm tui, vĩnh biệt những ảo tưởng ngu xuẩn. Than ôi cái vô tình của con người.

Sao lại thù hận những người yêu nước như vậy?

Nguyễn Hưng Quốc

Công an mặc thường phục bắt người biểu tình lên xe buýt sau khi giải tán
một cuộc tuần hành chống Trung Quốc tại Hà Nội, ngày Chủ nhật 21/8/2011 - Hình: ASSOCIATED PRESS
 Công an mặc thường phục bắt người biểu tình lên xe buýt sau khi giải tán một cuộc tuần hành chống Trung Quốc tại Hà Nội, ngày Chủ nhật 21/8/2011

Theo dõi phản ứng của chính quyền Việt Nam đối với các vụ biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội gần đây, tôi thấy có một số điều chúng ta có thể hiểu nhưng đồng thời cũng có một số điều, thú thực, không có cách nào có thể giải thích được.

Hiểu được là sự sợ hãi của chính quyền trước các cuộc biểu tình ấy.

Sợ hãi ít nhất vì hai lý do chính.

Thứ nhất, nó dễ tô đậm sự khác biệt của những người biểu tình sôi sục tinh thần yêu nước và công phẫn trước những sự uy hiếp và xâm lấn ngang ngược của Trung Quốc với thái độ mập mờ, thậm chí, hèn yếu của chính quyền Việt Nam. Từ mấy năm nay, đã nghe xôn xao nhiều lời phê phán của dân chúng là chính quyền hèn. Hèn đến độ từng có lúc không dám gọi thẳng tên tàu Trung Quốc mà chỉ dám nói bâng quơ “tàu lạ” khi những chiếc “tàu lạ” ấy giết hại hoặc bắt bớ ngư dân Việt Nam ngay trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Cái ấn tượng “hèn” ấy chắc chắn sẽ càng dễ nổi bật hẳn lên khi hàng tuần người ta nhìn thấy bao nhiêu người nhiệt tình đổ xuống đường lên tiếng đả đảo Trung Quốc.

Thứ hai, các cuộc biểu tình ấy rất dễ trở thành đe dọa đối với chính quyền. Một là, nó tập cho dân chúng thói quen xuống đường bày tỏ thái độ và chính kiến. Hai là, từ việc biểu tình chống Trung Quốc, một ngày nào đó, nó có thể thay đổi mục tiêu thành biểu tình chống chính phủ và đảng Cộng sản Việt Nam. Nhìn những gì mới xảy ra ở Tunisia và Ai Cập và những gì đang xảy ra ở Libya hiện nay, những người cầm quyền Việt Nam không thể không run sợ.

Ai cũng thấy, và dĩ nhiên, chính quyền Việt Nam lại càng thấy rõ: Hai nguy cơ vừa nêu chắc chắn dễ bộc phát ở Sài Gòn hơn là ở Hà Nội. Lý do rất dễ hiểu: Sự bất mãn của dân chúng ở Sài Gòn sâu sắc hơn, tinh thần bất phục tùng cao hơn; niềm tin vào chính phủ và đảng chắc chắn yếu hơn hẳn. Chính vì biết rõ như vậy nên chính quyền thẳng tay đàn áp các cuộc biểu tình ở Sài Gòn ngay khi nó mới manh nha, trong khi đó, họ lại ngần ngừ và ít nhiều tỏ ra nhân nhượng, ít nhất trong một thời gian ngắn, đối với các cuộc biểu tình ở Hà Nội.

Sự sợ hãi ấy của chính quyền có thể hiểu được. Thật ra, bất cứ chính phủ độc tài nào cũng khiếp sợ điều đó. Không có chính quyền độc tài nào muốn dân chúng tụ tập thành đám đông cả. Ngay việc tụ tập trong nhà hay trong các quán cà phê cũng khiến họ e ngại, đừng nói gì đến các cuộc tụ tập công khai ngoài đường phố. Bởi vậy, không có gì lạ khi, đối diện với những cuộc biểu tình tương tự, dù có chính nghĩa đến mấy, chính quyền cũng tìm cách dẹp tan: Chuyện độc lập dân tộc là chuyện lâu dài; còn chuyện an nguy của chế độ lại là chuyện trước mắt. Bất cứ tên độc tài nào, tự bản chất, cũng chạy theo những cái lợi trước mắt như thế.
Tôi nghĩ, dù không đồng tình, chúng ta cũng có thể hiểu được những nỗi lo sợ ấy. Chúng ta cũng có thể hiểu được tại sao, từ những nỗi lo sợ như thế, chính quyền đã thẳng tay trấn áp các cuộc biểu tình. Họ thừa hiểu cái giá phải trả cho việc trấn áp ấy: Khuôn mặt của họ sẽ hiện ra, dưới mắt công chúng trong và ngoài nước, không phải chỉ như những tên độc tài thô bạo mà còn như những kẻ rụt rè khiếp hãi trước một Trung Quốc hung hãn và ngang ngược.

Chính quyền sợ và tìm cách ngăn chận các cuộc biểu tình: Chúng ta hiểu. Chính quyền sợ và tìm mọi cách để lấy lòng Trung Quốc: chúng ta hiểu.

Tuy nhiên, riêng tôi, tôi không hiểu được điều này: Tại sao họ lại thù ghét và lăng nhục những người biểu tình chống Trung Quốc?

Không đồng ý với họ?

– Được!

Không muốn họ tuần nào cũng xuống đường?

– Được.

Nhưng tại sao lại bắt bớ họ như những kẻ thù như vậy? Tại sao phải lôi kéo họ như lôi kéo những con vật như vậy? Tại sao lại đạp vào mặt họ ngay cả khi họ đang bị giữ chân giữ tay như vậy? Tại sao phải chửi bới mày-tao, thậm chí, đánh đập họ khi đã bắt họ vào các đồn công an?

Gần đây nhất, Vũ Quốc Ngữ, trong bài "Năm ngày trong nhà tạm giam công an Từ Liêm" kể chuyện ông bị bắt và bị đánh sau cuộc biểu tình ngày Chủ nhật 21 tháng 8:
"Một đám cảnh sát bắt chúng tôi mang chăn ra đứng một góc để giũ xem có giấu gì trong đó không. Sau đó chúng bắt cởi hết quần áo và cũng giũ rồi cho mặc lại và ôm chăn về phòng. Bị xúc phạm như một con vật nhưng tôi đành cắn răng, mình mà phản ứng chắc chúng cho ăn đòn. "Ngoan" đến thế rồi mà cũng không thoát. Một tên trung uý Nguyễn Mạnh Tường (số hiệu 023-175) nhìn thấy tôi, nói "Thằng này mới nhập trại vì tội biểu tình hôm qua đây ah?" rồi bắt tôi đi vào một cái phòng trống ở cuối dãy. Vào đó nó đấm tôi một phát đau điếng người ở bụng mỡ. Tôi oằn người xuống. Nó tát liên tiếp lên hai mang tai và nói "Chúng mày biểu tình gây rối, kích động Trung quốc đánh Việt Nam, làm hại đến gia đình tao, vợ con tao", nói rồi nó lại đấm, lại tát, rồi vu cho tôi là tình báo của Tàu. Tôi chỉ nói "không" và tập trung nhìn vào biển hiệu của tên này để nhớ. Đấm chán nó bảo tôi ra ngoài mặc quần áo rồi đưa tôi về phòng. Có nhiều công an xúc phạm và chửi bới tôi trong suốt 5 ngày giam giữ, nhưng tên Trung uý Tường là tên duy nhất đánh tôi. Tôi không sợ đau, nhưng mỗi từ thốt ra từ miệng tên này thể hiện sự căm thù tột độ đối với người yêu nước."

Tại sao?

Rồi tại sao lại viết báo bôi nhọ họ? Một hai tuần vừa qua, trên báo chí và truyền hình chính thống cũng như một số website thân chính quyền, người ta thấy xuất hiện một số bài không có mục tiêu nào khác ngoài việc lăng nhục những người tham gia các cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội. Họ bị xem là “ngây thơ” hay “thiếu thông tin”. Chưa hết. Họ còn bị cho là “bị xúi giục” hay “bị xách động”. Cũng chưa hết. Họ bị kết án là “gây rối trật tự công cộng”, “coi thường luật pháp”. Cũng vẫn chưa hết. Một số người còn bị xem là “lố bịch” hay “láo xược”, muốn “lợi dụng biểu tình” để “đánh bóng cá nhân” hay để “khỏa lấp tội lỗi” gì đó.

Cũng giống như thái độ của các tên công an bắt bớ hay đánh đập người biểu tình ngoài đường phố, giọng điệu trong các bài báo ấy cũng đầy vẻ thù nghịch và thù hận.

Nhưng tại sao phải thù hận những người biểu tình chống Trung Quốc khi động cơ của họ rõ ràng là từ lòng yêu nước?

Một sự thù hận như thế rất dễ được hiểu là sự thù hận đối với chính lòng yêu nước.

Nhưng tại sao họ lại thù hận lòng yêu nước?

Thực tình tôi không thể hiểu được.

28/8/11

Núi Vẫn Xanh

    
Tác giả/Nhân vật: Hà Kỳ Lam |10-05-2011|

Cả bốn tay súng của toán thám sát Biệt Cách Nhảy Dù vẫn bố trí lưng chừng đồi theo hình cánh cung để bảo vệ người toán trưởng và hiệu thính viên đằng sau lưng họ trên đỉnh đồi từ nãy giờ đang hướng mặt về phía đối diện để quan sát đám người lố nhố dưới kia, trong thung lũng trãi dài hai bên con suối ngoằn ngoèo như con rắn bạc lấp lánh dưới ánh nắng ban trưa chói chan của một ngày đẹp trời tháng tư. Hết quan sát những người xê dịch dưới thung lũng lại cúi nhìn đồng hồ, người trưởng toán có vẻ nôn nóng.
- Ít nhất là một tiểu đoàn. Có thể là K 25B công binh như tin tình báo cho hay. Mẹ kiếp, máy bay lên chậm thế này để chúng di chuyển hết thì hoài công.
- Không sao đâu, ông thầy. Bọn nầy có vẻ còn ở đây lâu đấy, vì nhiều tên còn đang tắm, thậm chí giặt giũ nữa kia.
Bỗng hiệu thính viên Thịnh đưa ống liên hợp cho thiếu úy Tuấn:
- Thằng L 19 đang lên vùng và cần gặp ông thầy.
Tuấn bóp chặt ống liên hợp, đưa lên miệng:
- Họa Mi đây Thạch Ðộ, trả lời.
Giọng miền Nam của viên phi công vang lên trong ống nghe:
- Thạch Ðộ đây Họa Mi, bạn điều chỉnh hướng bay khi bắt đầu thấy tôi để xác định vị trí bạn, trả lời.
- Họa Mi đây Thạch Ðộ. Tình thế khẩn cấp lắm, tôi sẽ nháy mắt để anh có thể thấy tôi nhanh hơn, trả lời.
- Tôi nhận bạn năm trên năm, và trực máy.
Tuấn đưa tay vẫy Tâm, một toán viên dưới lưng chừng đồi đang ngoái đầu nhìn lên anh. Khi người lính vừa bò đến gần Tuấn khẻ ra lệnh:
- Mày ra chỗ lúc nãy chờ, khi thấy thằng L 19 thì chiếu kiếng cho nó thấy mình.
Lần hành quân nào cũng vậy, Tuấn chỉ giao công tác chỉ điểm này cho Tâm. Không hẳn vì anh chàng làm công việc này giỏi hơn các toán viên khác – Tuấn có bao giờ sát hạch môn này cho cả toán đâu mà chấm điểm được – nhưng tình cờ một lần giao công việc này cho anh lính và thấy được việc nên Tuấn chẳng muốn “thay đổi nhân sự”.
Gài khẩu M 16 vào khoen leo núi móc gần vai bên phải, Tâm bò về phía mõm đồi cỏ tranh cách xa bên trái của Tuấn khoảng một trăm thước. Lúc mọi người vừa thoáng thấy chiếc máy bay quan sát màu trắng ở nẽo xa thì Tâm cũng vừa quỳ tại bải cỏ tranh ngập nắng, rút từ túi áo trên cái kiếng hình chữ nhật chỉ hơi lớn hơn chiếc hộp quẹt Zippo và nâng lên ngang mắt, nhìn từ phía sau kiếng qua lổ nhắm ở trung tâm kiếng để hướng cái chấm đỏ của tia mặt trời nằm thẳng hàng với phi cơ đang bay. Ðoạn anh ta khẻ lắc nhẹ để tạo sự nhấp nháy. Bỗng một tràng tiếng nổ dòn vang lên, cùng lúc Tâm bật ngữa ra sau rồi nằm bất động. Cả toán biết điều không lành đã đến với người đồng đội, ghìm súng ở tư thế đối đầu với mọi hướng. Thịnh nằm cạnh Tuấn khẻ nói:
- Ð.M. tụi nó ở đầy cả rừng rồi!
Tuấn chưa kịp đáp lời người lính mang máy truyền tin thì những quả đạn sơn pháo 75 ly, đạn cối 82 ly, và những loạt AK 47 thi nhau đổ về phía toán đang bố trí trên đồi. Cành cây, đất đá bắn tung tóe vào thầy trò Tuấn. Không cần lệnh của người toán trưởng, mỗi toán viên nằm thủ tại chỗ. Họ biết trong tình thế loại này tháo chạy hoặc co cụm lại với nhau chỉ tổ lãnh thêm thiệt hại. Tuấn nhìn qua các toán viên và thấy tất cả còn “nguyên”. Thịnh trao ống liên hợp cho Tuấn:
- L 19 gọi.
Tuấn chụp máy :
- Họa Mi đây Thạch Ðộ.
- Ðây Họa Mi, tôi vẫn chưa thấy bạn nhưng thấy nhiều cột khói và nhiều lằn chớp dưới đó.
- Ðang bị ném đá. Tôi đang ở hướng ba giờ của anh.
Sau hai lần “bẻ góc” nữa, chiếc máy bay quan sát từ xa gióng chính hướng ngọn đồi lướt tới. Tuấn cho viên phi công biết đang bay đúng hướng và sẽ báo cho anh ta biết khi nào máy bay vừa ngang qua đỉnh đồi. Súng địch vẫn nổ dòn, mưa đạn vẫn tới tấp đổ về ngọn đồi, khiến công việc điều không của anh càng khó khăn. Nằm dài trên mặt đồi để tránh tầm đạn đi, bên chiếc máy truyền tin, tay cầm ống nói áp sát một bên tai, mắt vẫn ngước lên dõi theo chiếc L 19 trên không đang tiến gần vị trí mình, rồi ngay lúc nó vừa ở trên đầu, Tuấn bóp ống liên hợp, nói như reo:
- Họa Mi, anh đang ở ngay trên đầu tôi, trả lời!
- Thạch độ đây Họa Mi. Nhận bạn rõ năm. Rất tốt.
- Họa Mi đây Thạch Ðộ. Cứ trực máy, tôi sẽ có việc cho anh.
Tuấn vừa trao ống liên hợp cho Thịnh tiếp tục liên lạc với máy bay để bò gần về phía bìa rừng quan sát trãng cỏ tranh, thì thình lình tiếng súng im bặt. Mấy giây sau cả rừng vang tiếng thét “xung phong”. Rồi trước mặt Tuấn, từ hướng mõm đồi cỏ tranh nơi Tâm quì chỉ điểm cho phi cơ vừa rồi, và từ hướng trước mặt toán lố nhố người cứ ùn ùn tiến tới. Hóa ra đợt bắn phá vừa rồi là trò đánh phủ đầu để bộ binh tiến sát. Bóng dáng những bộ quân phục kaki màu lá cây, nón tai bèo cứ xông lên bất kể những tràng đạn M 16 đốn ngã từng đợt người. Khoảng một trung đội địch tiến hàng ngang đã lên tới đỉnh đồi, cách bọn anh không đến mười thước, với tiểu liên AK kẹp nách bắn xối xả. Một tên địch gần Tuấn hơn ria một tràng đạn về phía anh, nhưng, như một phép lạ, anh vô sự. Thịnh nhanh tay siết cò súng hạ hắn đo đất. Nhiều tràng M 16 đáp lễ ngăn được chốc lát sự “tiếp cận” kia. Lúc này hai chiếc A 37 cũng vừa xuất hiện và bay cao hơn chiếc L 19. Trung sĩ Hiến báo cáo hai sự kiện dồn dập: Châu bị nguyên một tràng đạn AK vào ngực, chết ngay trên đồi, và địch bây giờ tràn lên đông hơn. Tuấn ra lệnh cả toán rút xuống triền dốc về phía thung lũng. Anh biết thung lũng đang có một đơn vị lớn của địch. Anh chỉ muốn bỏ ngọn đồi, men theo triền dốc, rồi xin phi pháo đánh ngay trên đồi để toán tiện bôn tẩu. Nhưng di chuyển một đoạn ngắn thì nhiều tràng AK từ dưới chân đồi khạc đạn xối xả về phía bọn anh. Không xong. Tứ bề thọ địch. Chỉ vỏn vẹn bốn tay súng mà tử thủ với biển người hay liều mạng phá vòng vây trùng trùng của địch thì phỏng ích lợi gì? Tuấn bấm ống liên hợp:
- Họa Mi đây Thạch độ.
- Họa Mi nghe. Bạn cho biết cần gì?
- Anh cho đánh ngay trên đầu chúng tôi.
- Không được! Bạn xác nhận lại, đánh ở đâu?
- Tôi, thẩm quyền Thạch Ðộ nhắc lại đánh ngay trên đầu chúng tôi và bất cứ chỗ nào có người. Ðịch tràn ngập rồi, không chần chờ gì nữa. Ðánh ngay đi. Dứt!
Tuấn trả máy cho Thịnh trước vẻ mặt hốt hoảng của anh này. Không có thì giờ và cũng không cần giải thích về quyết định của mình với người lính truyền tin của toán, Tuấn nép sau một thân cây to để tránh các tràng tiểu liên AK từ dưới chân đồi vẫn không ngừng quạt lên. Trên đỉnh đồi bây giờ đã lố nhố người của đối phương. Bốn người thám sát Biệt Cách Dù chỉ còn biết tử thủ: Hiến và Sắc chĩa súng về hướng đỉnh đồi, còn Tuấn và Thịnh quay súng xuống chân đồi. Cả bốn tay súng chiến đấu trong một ô vuông mỗi cạnh khoảng mười thước. Họ bắn dè xẽn từng ba phát một nhưng rất hiệu quả, và nhờ vậy đã làm chậm bước tiến của địch. Trong khi đó chiếc L 19 vẫn chưa chịu thi hành điều Tuấn yêu cầu, cứ bay lòng vòng bên trên. Anh “thông cảm” cho người phi công, nhưng không khỏi tức giận vì cảnh dầu sôi lửa bỏng của mình. Anh ta phải xin lệnh từ Trung Tâm Không Trợ về điều yêu cầu “điên khùng” kia, và chắc đang chờ trả lời. Tuấn cũng lấy làm lạ lần này không có biệt đội trưởng hay một sĩ quan của Liên Ðoàn bay L 19 hay trực thăng C&C như mọi lần. Thình lình mọi người cùng nghe rõ âm thanh “chéo-éo-éo … đoành!”. Một cột khói trắng bốc cao và cuồn cuộn tỏa ra như một đám mây, vươn lên khỏi tàng cây rừng ngay đỉnh đồi mà toán thám sát vừa rời bỏ. Tuấn biết viên phi công quan sát vừa bắn một trái khói chỉ điểm mục tiêu oanh kích. Ðiều yêu cầu của anh đang được đáp ứng. Tuấn vẫn nếp sau thân cây. Rồi anh bỗng thấy hành động nấp sau thân cây rõ lẩm cẩm vì biết bom sẽ rơi hướng nào. Nhưng đành phó mặc cho may rũi, anh cứ ngồi bên gốc cây. Tuấn tưởng chừng như anh đang gồng mình lại, các bắp thịt toàn thân như rắn lại, chờ đợi sấm sét giết người từ trời cao … Chiếc oanh tạc cơ thứ nhất đâm bổ xuống ngay trên đầu Tuấn, rồi hẳn nhiên đã đạt tới một độ thấp vừa đủ, con chim sắt ấy lại vút lên cao vài giây trước khi hai trái bom từ dưới cánh đâm thẳng xuống quả đồi của anh. Tuấn không dám tiếp tục ngẩng nhìn lên trời. Anh nằm cúi mặt xuống, thân chịu trên hai cùi chỏ để tránh áp ngực với mặt đất. Anh thấy vài con kiến ung dung bò trên nền lá khô. Thốt nhiên Tuấn cảm nhận được cái mong manh của thân xác mình lúc này – khác gì những cái kiến kia! Chỉ có mỗi một khác biệt là anh đau khổ chờ đón cái chết chóc, cái hủy diệt, còn chúng thì không hay biết gì cả, vẫn thản nhiên, vẫn ung dung cho đến khi nào cái chết xảy ra là xong, không còn cảm giác nữa. Chúng hạnh phúc hơn anh trong lúc này. Từng khuôn mặt thân yêu trong gia đình diễn hành nhanh qua trí anh: mẹ anh, các em, và chị. Rồi anh nghĩ đến Trinh thật xa xăm và cũng thật gần. Anh có còn trở lại cổng trường Trưng Vương nữa không? Rồi bên tai anh nghe mơ hồ giọng một ca sĩ quen thuộc với “em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại. Xin trả lời mai mốt anh về…” Tuấn lại nghĩ đến tập thể tuổi trẻ Sài Gòn: không có anh trong đó! Và trong cái khoảnh khắc chờ đón một sự hủy diệt khủng khiếp sắp giáng xuống mọi người, một khoảnh khắc rất ngắn nhưng cũng rất thiên thu, giác quan anh đón nhận cả một trình tự ngoại vật lướt qua chóng vánh: âm thanh động cơ phản lực gầm thét qua đầu, tiếng bom xé gió, hàng loạt tia chớp lóe lên, từng tràng tiếng nổ kinh hồn, và mă? đất rung chuyển. Tuấn bị nhiều nguồn lực từ mọi hướng đẩy bật ngữa rồi xô tới trước hoặc xoay vòng; anh có cảm giác ngực bị ai đấm một quả rõ mạnh, tức đến khó thở. Ðất, sỏi ùn lên hắt vào người anh. Khói đen tỏa ra chung quanh, không khí khét lẹt mùi thuốc nổ. Tuấn biết một trái bom đã đáp cách anh không xa, đào một hố rõ to và làm dạt một mớ cây nhỏ bên trái anh, tung tóe đất lên quần áo anh. Riêng thân cây to vẫn đứng vững và hiển nhiên đã hứng hết những mãnh bom, đất đá và sức ép cho anh. Anh sờ khắp người để thấy mình vô sự. Trái bom khác rơi trên đỉnh đồi đã bật gốc một cây cổ thụ, tạo nên một âm thanh phụ nghe đánh ầm và làm trống hẳn một khoảng rừng.
Tuấn bò qua những cành cây gãy đổ ngổn ngang, tìm Thịnh nhưng không thấy hắn đâu cả. Trong mọi tình huống anh phải có máy bên cạnh mình. Nhưng chiếc A 37 lại đang đâm bổ xuống đầu Tuấn một lần nữa. Anh vội ngồi nấp sau một thân cây. Có lẽ đây là chiếc thứ hai, đang theo gót phi tuần trưởng của nó vừa rồi. Dù sao thì anh sắp hứng chịu một “trận đòn thù” nữa. Lại “ầm! ầm!” rồi mấy tiếng “ầm” phụ nổi lên. Tuấn lại bị lộn nhào một lần nữa, và anh giật bắn người khi thấy một cây cổ thụ vừa bật gốc ngã sóng soài cách anh không đầy một thước. Giá mà nó phang ngay anh thì còn gì nữa! Ngọn đồi bỗng “đổi mới”; cây ngã la liệt. Tuấn vẫn tìm Thịnh, tìm trung sĩ Hiến – người toán phó – và Sắc. Toán may ra thì còn được bốn mạng, kể cả anh. Tâm và Châu đã ra đi rồi! Nhưng sao thế này: im phăng phắc – địch đâu rồi, và ta đâu rồi? Bỗng lá cây lay động sột soạt sau lưng. Tuấn quay phắt lại, khẩu M 18 dưới nách chỉ thẳng vào bóng người từ trong bụi rậm vừa đứng lên.
- Sắc đây ông thầy.
Tuấn thở phào một cách dễ chịu. Anh khẻ nói:
- Mày không sao chứ?
Anh lính khẻ lắc đầu thay lời đáp. Tuấn biết mình vừa hỏi một câu không cần trả lời; nó chỉ có nghĩa của một câu xác định, “à, may quá còn có mày.” Anh đang lo cho số phận của các toán viên.
- Trung sĩ Hiến và Thịnh có sao không?
Sắc vừa nói vừa đưa tay chỉ về hướng hơi chếch đỉnh đồi:
- Ông Hiến bị thương nằm ở đằng kia. Ổng hỏi thăm ông thầy, và bảo em đi tìm.
Tuấn muốn đến gặp ngay trung sĩ Hiến xem tình trạng thương tích của ông ta ra sao, nhưng anh phải tìm Thịnh trước vì máy móc truyền tin là linh hồn của toán. Hai chiếc phản lực bây giờ đang ở tít trên mây; tiếng động cơ của chúng nghe nghe rất xa và đứt đoạn. Chiếc L 19 vẫn quầng trên đầu hai người. Có lẽ viên phi công đang gọi Thạch Ðộ khàn cả tiếng, Tuấn nghĩ thế. Quái, Thịnh biến đâu mất với chiếc máy truyền tin. Tuấn vẫn nhớ hắn chạy theo sau anh và nấp gần đây trước khi bom rơi. Tuấn bỗng nẩy ra ý nghĩ bới tìm trong mớ cây cối đổ ngổn ngang ngay cạnh hố bom. Và trong lúc hai thầy trò đang len lõi bò vào từng đống cây lá nằm bên trên hoặc bị vùi lấp dưới lớp đất mới thì phía trảng cỏ tranh một tiếng nổ phát ra và một cột khói trắng bốc cao. Anh biết viên phi công máy bay quan sát vừa bắn một trái chỉ điểm cho phản lực đánh bom xuống nơi anh ta vừa thấy địch ẩn núp đâu đó.
Trong tiếng rít của hai chiếc A 37 trên đầu, tiếng rền và chấn động liên hồi của bom, Tuấn chợt nghe giọng gọi đầy khích động của Sắc:
- Ông thầy ơi.
Tuấn nguớc nhìn theo ngón tay trỏ của người lính và thấy cách họ vài thước khúc cần ăng-ten của chiếc máy PRC 25 nhú ra khỏi mớ đất vàng tươi mới tinh khôi dưới mấy cành cây phủ lên. Anh lặng người mấy giây, cảm thấy đôi chân như không đứng vững nỗi. Giọng nói Tuấn nghe yếu ớt qua hơi thở:
- Moi đất ra.
Hai người hì hục lôi các cành cây bỏ sang một bên, dùng tay bới mớ đất bột lên. Chiếc máy truyền tin bị thủng, móp méo, vỡ nhiều chỗ, từ từ lộ ra, rồi màu áo rằn ri bày ra, dính đất và máu. Tuấn và Sắc cùng nâng người Thịnh đang nằm sấp lên. Xông pha trận mạc đã nhiều, đã trông thấy bao nhiêu xác chết của cả đôi bên, nhưng anh phải nhận chưa bao giờ thấy một xác người như thế này, nói chi xác ấy là đồng đội, là thuộc cấp của mình. Cả người Thịnh từ bụng lên vai bị mất tùng mãng thị lớn, và xương vai một bên bị gãy. Nhưng cái chân, ôi cái chân trái, anh không biết phải nói thế nào … đứt đến trên đầu gối, chỉ còn dính tòn teng với toàn thân bằng một mãnh da rộng bằng một bàn tay, và thịt chỗ hai đầu bị cắt lìa trở nên xám đen giống như vừa bị nướng trên lửa!
Sắc mở thử máy truyền tin. Chỉ là một cục kim khí im thin thít vô dụng. Chợt nhớ tới trung sĩ Hiến, hai người thận trọng di chuyển, và Sắc dẫn đường ngược lên đồi. Họ bước qua nhiều xác lính Bắc Việt nằm đủ vị thế – nghiêng, ngữa, sấp, hay cong queo. Tuấn cúi xuống bên người toán phó, xem xét vết thương ở bụng. Có vẻ một mãnh bom đã cứa một đường dài và sâu trước bụng. Anh thử xốc người thương binh lên nhưng anh ta nhăn nhó một cách đau đớn:
- Ối, ông thầy để tôi nằm đi.
- Trước khi bom nổ anh đã rút xuống triền dốc với toán mà sao lại ở đây?
Trên gương mặt tái xanh vì mất nhiều máu của Hiến Tuấn thấy một sự cố gắng dùng sức mới bật ra thành tiếng:
- Tôi chạy lên để.. kéo xác thằng Châu xuống.. kẻo bom dần nát mất nhưng..
Hiến ngưng nói, vẻ mệt nhọc, đưa lưỡi liếm quanh vành môi tái nhợt và khô khốc. Sắc mở nắp bi-đông, khẻ nâng đầu anh lên và kề miệng bình nước vào môi. Tuấn nhắc:
- Cho uống ít thôi để giữ cho máu bớt chảy.
Trong khi tháo cuộn băng cá nhân để băng cho trung sĩ Hiến, Tuấn vẫn thận trọng quan sát chung quanh. Anh thấy nhiều xác chết đối phương rãi rác khắp nơi. Xác Châu nằm cách trung sĩ Hiến khoảng năm thước, mắt còn nhìn lên trừng trừng. Anh rón rén bò đến bên người toán viên vẫn hay di chuyển hàng đầu trong các cuộc xâm nhập của toán, đoạn từ từ vuốt cho đôi mắt nhắm lại. Rừng im phăng phắt. Có lẽ chúng chỉ di tản những kẻ bị thương. Những người nằm kia đều “câm nín”. Sau khi đảo lại mấy vòng để bắn rocket và đại liên mười hai ly bảy xuống một điểm mới dưới thung lũng do phi cơ quan sát chỉ điểm, hai chiếc phản lực đã rời vùng. Chiếc L 19 vẫn còn lượn trên không phận hành quân. Tuấn vừa quay sang bảo Sắc lấy chiếc pa-nô tìm cách trãi để ra hiệu cho máy bay biết mình có mặt tại chỗ thì bỗng rừng núi lại rền vang từng tràng nổ. Tuấn nói:
- Mười hai ly bảy.
Chiếc L 19 vụt cất cao lên và mất hút vào khoảng không. Tuấn đề nghị khiêng trung sĩ Hiến men theo triền dốc về hướng Bắc cho xa vùng giao tranh được bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Anh đoán địch sẽ chiếm lại đồi này. Bỗng dưng trung sĩ Hiến quàng một tay ôm chặt chân Tuấn và thều thào nói:
- Ông thầy đi đâu anh em cũng đi theo ông thầy. Bây giờ ông thầy bỏ
anh em …
Tuấn định thốt một lời an ũi, hay trấn an nhưng bàn tay trung sĩ Hiến đã buông rơi khỏi cổ chân anh, đầu ngoẹo sang một bên, mắt nhắm nghiền như đi vào một giấc ngủ. Anh lay mạnh vai Hiến:
- Anh Hiến! anh Hiến!
Chỉ có tiếng gió ngàn xào xạt đáp lại. Rừng chiều hửng nắng ở những đồi xa. Sắc bỗng vỗ vào cạnh sườn Tuấn và chỉ về hướng trãng cỏ tranh. Lố nhố một đoàn quân dàn hàng ngang đang tiến lên đồi của anh. Họ vận kaki xanh, nón tai bèo, súng kẹp nách, vai đeo ba lô. Hai thầy trò vội lom khom chạy về phía triền dốc, rồi di chuyển về hướng Bắc men theo sườn đồi.
Ði được một giờ, vượt qua vài con suối, mấy quả đồi thấp, Tuấn dừng lại xem bản đồ, đoạn bảo Sắc đổi hướng, đi về đông theo phương giác 1800. Năm giờ chiều. Ðêm rừng bao giờ cũng đến nhanh. Trong ánh sáng nhá nhem hai thầy trò kẻ trước người sau cứ tiếp tục luồn lách qua cây lá, bụi rậm. Rồi sực nhớ phải có một độ quan sát tối thiểu mới có thể chọn một vị trí ngủ đêm an toàn, Tuấn khẻ nói với người toán viên đồng hành:
- Ta lên đỉnh đồi trước mặt tìm chỗ nghỉ đêm.
Mới hơn bốn giờ sáng Tuấn đã thức giấc. Bao giờ người lính hành quân cũng thức giấc sớm, vì giấc ngủ đến vào khoảng bảy giờ chiều thay vì một hai giờ sáng ở những “đêm đô thị”. Trời còn tối mịt. Anh nằm nghe ngóng một lát, đoạn đưa tay sờ lưng võng của Sắc. Một giọng nói rất khẻ:
- Ông thầy thức rồi hả?
Rồi ánh sáng nhờ nhờ đổi dần sang trắng đục. Rồi mọi vật bỗng hiện rõ trước một ngày đang lên. Có vài tiếng chim hót. Có vài tiếng hú đâu đó bên một ngọn đồi khác, rồi không biết bao nhiêu tiếng hú cất lên vang cả một vùng đồi núi, cơ hồ như tiếng hú này lây sang tiếng hú khác, và cứ thế truyền đi khắp nơi. Tuấn đã quá quen với các tấu khúc bình minh của rừng núi. Hai người cuốn võng bỏ vào ba lô, dọn dẹp “sạch sẽ” chỗ đất dưới chân, lùa mớ lá cây chung quanh phủ lên, không để lại một dấu vết nào có thể tố cáo sự hiện diện của hai thầy trò. Sắc mở một bịch gạo sấy, rót nước từ bi-đông vào bao làm một bửa ăn sáng. Tuấn chẳng thấy đói, tuy suốt ngày hôm qua anh chỉ ăn có một gói cơm sấy vào buổi sáng. Tâm trí anh quay về với những gì đã xãy ra. Bị lộ, trận oanh kích, những xác đồng đội bị bỏ lại, và bây giờ hai nguời lạc lỏng giữa rừng không máy móc liên lạc để biệt đội biết tung tích. Anh có trách nhiệm gì với những thuộc cấp vừa ra đi vĩnh viễn kia? “Ông thầy đi đâu anh em cũng theo ông thầy. Bây giờ ông thầy bỏ anh em …” Tuấn thấy miệng đắng khi nuốt nước bọt. Anh thèm một điếu thuốc, và một ly cà phê. Anh nhìn Sắc đang ngồi ăn, nhìn xuống khẩu M 18 gác trên đùi mình, ngước nhìn bầu trời xanh biếc ban mai. Sắc vụt hỏi:
- Bây giờ tính sao, ông thầy?
- Không có máy móc, không biết ở nhà thế nào, còn ở nhà cũng chẳng biết mình sống chết ra sao. Cứ tiếp tục đi về hướng Ðông, được bao nhiêu hay bấy nhiêu, càng gần nhà càng tốt. Có trực thăng thì trãi pa-nô cho nó thấy mình. Thế nào biệt đội cũng cho máy bay đi tìm.
- Cha con nó bị thiệt hại nặng. Hai chiếc A 37 đánh hiệu quả thật. Sườn đồi bên kia và trãng cỏ tranh lãnh trọn mấy trái bom. Em thấy chung quanh chỗ ông Hiến nằm ít nhất cũng cả chục xác nằm la liệt. Ông thầy có để ý không? Ðợt bom đầu tiên chận đứng ngay cuộc tấn công. Em nghĩ có lẽ chúng kêu phòng không đến tiếp cứu sau này, vì suốt trong khi oanh kích đâu có khẩu mười hai ly bảy nào hoạt động đâu.
Tuấn đồng ý với phần lớn những lập luận của Sắc, nhưng anh chẳng thấy hứng thú bàn luận về chiến trận vừa qua. Tỷ số tử vong của chiến trường và tỷ số tử vong của lòng mình, cái nào làm nên chiến thắng? Ðợi cho người lính ăn xong và đào đất lấp mọi dấu vết, Tuấn đề nghị lên đường.
Sang đến ngày thứ ba hai người vẫn tiếp tục băng rừng, ngày đi đêm nghỉ. Còn khoảng hai chục cây số đường chim bay nữa mới về đến bộ chỉ huy của Liên Ðoàn. Cả hai đều thấy ngao ngán. Hai mươi cây số đường chim bay, điều đó có nghĩa là bốn, năm mươi cây số đường núi, mà tốc độ di chuyển băng rừng – chứ không phải theo theo đường mòn – có nhanh lắm cũng chỉ đạt tới bảy cây số một ngày. Nhưng điều bất ổn trong lòng họ không phải đường về dịu vợi, đầy đe dọa, bất trắc, lương thực cạn. Cái bất ổn là không trung vắng lặn. Từ cái buổi sáng đầu tiên sau khi bỏ ngọn đồi và đồng đội ở lại anh và Sắc không hề thấy thấp thoáng, dù xa, bóng dáng một chiếc máy bay. Lạ thật. Không một chiếc trực thăng, không một chiếc L 19, không một chiếc vận tãi, không một chiếc oanh tạc cơ phản lực, thậm chí không một chiếc máy bay dân sự, không có gì ráo trên bầu trời quang đảng. Chưa bao giờ như thế, ít ra từ ngày Tuấn vào lính; chưa bao giờ có một ngày không có một hoạt động nào của không quân. Anh ngồi nghỉ mệt trên một ngọn đồi, tựa lưng vào một thân cây, dựng súng bên cạnh. Sắc ngồi xếp bằng trên mặt đất, cạnh Tuấn. Người lính cảm thấy bồn chồn khi nhìn vẻ tư lự của người chỉ huy. Anh ta không dám hỏi bất cứ điều gì lúc này. Tại sao bầu trời vắng lặn thế này? Sao không nghe một tiếng đại bác, một tiếng bom nổ xa xa? và vân vân. Cuối cùng, không nén nỗi những băn khoăn trong lòng, Sắc lên tiếng:
- Em thật không hiểu nổi. Chắc có chuyện gì đây, chứ không thể nào Liên Ðoàn đem con bỏ chợ như thế này.
- Tao cũng chịu thua, không hiểu nổi. Ðành rằng mình không có phương tiện liên lạc, không biết tình hình ở nhà hay các đơn vị bạn ra sao, nhưng Liên Ðoàn vẫn có thể cho trực thăng đi tìm. Ðằng này bặt vô âm tín. Mà cái điều lạ lùng nhất là không có bóng dáng một chiếc máy bay nào cả, chứ đừng nói trực thăng C&C của biệt đội. Tao cũng nghĩ như mày: chắc có biến cố gì đây. Ðiều cần nhất bây giờ là bằng mọi cách phải gắng về tới bộ chỉ huy Liên Ðoàn. Mầy còn mấy gói gạo sấy?
- Dạ ba gói, và không tới nửa chai xì dầu.
- Tao còn năm gói. Tao sẽ đưa thêm cho mày một gói. Mỗi thằng như vậy có bốn gói.Tao ước tính từ đây về tới Liên Ðoàn có thể mất sáu, bảy ngày nữa. Bây giờ tao tạm ấn định kỷ luật dùng lương khô là mỗi thằng chỉ được ăn nửa gói một ngày. Cố gắng chịu đựng như vậy thì mới đủ sức mà lết về tới nhà. Tao nói sáu, bảy ngày là trong giả thuyết di chuyển vô sự, không đụng địch.
Ðiều Tuấn nói sau cùng nhắc lại sự bất an của hai người. Trong ba ngày qua thầy trò anh đã né tránh mấy đoàn quân dài dằng dặc. Trong đời nhảy toán của mình Tuấn chưa bao giờ thấy địch chuyển quân rầm rộ như thế. Một điều lạ lùng nữa là những đoàn người cứ nườm nượp hướng về Ðông, cùng chiều với anh và Sắc, chỉ khác là họ dùng đường mòn. Tuấn đứng dậy tháo ba lô đặt xuống đất, lôi một gói gạo sấy đưa cho Sắc, đoạn cả hai lên đường.
***
Tuấn nhìn đồng hồ tay: ba giờ chiều. Tuy gần cuối ngày, cái nắng như nung như đốt của tiết trời đầu tháng Năm vẫn chưa dịu đi chút nào. Ðưa bi đông lên miệng tu một ngụm nước xong, anh xoay xoay tấm bản đồ, nhìn thật kỷ những vòng cao độ nâu lẫn xanh nhạt, rồi ngước nhìn địa thế chung quanh. Cho chắc chắn, anh mở cái địa bàn, xoay cho hướng bắc của bản đồ trùng với hướng mũi tên của địa bàn, đoạn anh đối chiếu chi tiết bản đồ với địa thế một lần nữa. Anh hân hoan nói với Sắc:
- Tới vùng Tân Uyên rồi!
- Chắc không, ông thầy?
- Bảo đảm!
Hai thầy trò bỗng thấy khỏe khoắn trong người, mặc dù mới trước đó mấy phút họ cảm thấy gần kiệt sức sau sáu ngày băng rừng lội suối với những cơn đói triền miên làm bủn rủn chân tay, hoa cả mắt. Nhìn lại đoạn đường dài gian nan, hiểm nguy, Tuấn thấy thương hại Sắc. Hắn ta to con, ăn khỏe, nên trong mấy ngày qua quả thật là một chuỗi ngày khốn khổ “tận cùng bằng số” đối với hắn. Tuấn bảo:
- Bây giờ mày có thể ăn nốt nửa bịch gạo sấy cuối cùng cho đỡ đói. Còn vài cây số nữa là tới chi khu rồi, tha hồ mà gọi mì, phở, hủ tiếu…
- Lạ thật, không thấy thèm nữa ông thầy ơi. Thôi, mình đi lẹ tới chi khu đặng báo Liên Ðoàn đón.
Hai người lội qua một con suối, tiếp tục đi về Ðông. Họ bước đi vững vàng hơn những ngày còn lếch thếch giữa rừng. Sau khoảng một tiếng đồng hồ di chuyển, nhìn xuyên qua một khoảng rừng thưa, hai người thoáng thấy mấy nóc nhà lợp tôn của chi khu Tân Uyên ở tít đằng xa, bên kia sông. Cùng với bước tiến của Tuấn và Sắc, mọi vật rõ dần. Rồi lá cờ phấp phới trên trụ cờ tuy vẫn còn mờ mờ trong quãng xa nhưng đã đủ để thấy không phải lá cờ vàng ba sọc đỏ quen thuộc. Hai người không tin nổi mắt mình: làm thế nào mà lá cờ nửa đỏ nửa xanh với ngôi sao ở giữa lại ngang nhiên tung bay nơi này. Thầy trò nhìn nhau, nhưng mỗi người theo đuỗi những suy nghĩ riêng. Sắc bỗng vỗ vai Tuấn chỉ về phía con sông trước mặt, vẫn ở nẽo xa và chen vào giữa khoảng cách từ chỗ họ đến chi khu: vài chiếc ghe cũng treo loại cờ đó. Nhìn qua mấy mái nhà tranh gần bờ sông cũng lại thấy những lá cờ đó. Sắc khẻ nói:
- Chắc chúng chiếm vùng Tân Uyên rồi. Không khéo Biên Hòa cũng di tản chiến thuật nốt.
Tuấn nói, để tự trấn an hơn là làm yên lòng người thuộc cấp:
- Không thể có chuyện đó được.
Chợt nhìn bên trái, qua một khoảng rừng chồi lưa thưa, thấy có mấy người nông dân đang cuốc đất trong một thữa ruộng, anh chợt nẩy ra ý nghĩ đến tiếp xúc họ để dò hỏi tình hình. Tiến sát mãnh ruộng, để Sắc ngồi lại trong một bụi cây yểm trợ, Tuấn cầm khẩu M 18 trong tay phải, bước đến bên bốn người đang làm việc đồng áng. Họ ngừng tay, nhìn anh chằm chặp. Tuấn hỏi người lớn tuổi nhất trong nhóm người, một ông già khoảng năm mươi, xương xẩu nhưng còn nhanh nhẹn:
- Thưa Bác, hình như chi khu đã rút đi rồi, phải không ạ?
Gương mặt thoáng bối rối, ông nhìn Tuấn từ đầu đến chân rồi nói rất khẻ:
- Chú là biệt kích 81 trong rừng mới ra hả?
- Dạ phải.
- Ông Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng từ năm, sáu ngày nay rồi, từ hôm ba mươi tháng Tư. Ai nấy đều buông súng trở về nhà hết. Chính phủ Cách Mạng chẳng làm khó dễ gì cả. Anh em còn bao nhiêu người?
Tuấn chẳng còn nghe rõ ông già hỏi gì nữa. Anh cúi đầu rất lâu. Giòng ý thức của anh bỗng như ngừng lại – không hẳn là nó đặc quánh lại, cũng không hẳn nó trống rổng, chỉ biết nó tuồng như không còn khả năng suy nghĩ rõ ràng, mạch lạc nữa. Tuấn có cảm tưởng sau bao nhiêu suy đoán, thắc mắc, giờ đây được thực tế trả lời, trí não mình bỗng thấy “no” rồi, không đòi hỏi nữa, cũng không nhận dữ kiện nào từ ngoại giới nữa! Sắc từ trong bụi vội bước ra. Nhìn dáng điệu của người toán trưởng anh đã đoán tình hình hẳn là rất xấu. Trong ánh mắt ái ngại, ông cụ lặp lại cho người lính thứ hai nghe:
- Ông Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng hôm ba mươi tháng Tư rồi. Các chú nên bỏ súng ống đi, trở về gia đình thôi.

Ðến lược Sắc đứng đờ người ra. Lúc ngồi trong bụi anh đã đoán tình hình phải xấu, anh đã lờ mờ phát họa một vài viễn anh tệ hại, nhưng “xấu” như ông già này cho biết thì thật vượt quá xa dự tưởng của anh.
Ðột nhiên Tuấn ngước lên chào từ giã:
- Tụi cháu cám ơn Bác. Thôi, tụi cháu về.
Tuấn bước đi trước, và Sắc theo sau. Họ tiến về phía bờ sông. Hai người đứng nhìn giòng sông êm ả, trong vắt một hồi lâu. Rồi Tuấn nhìn Sắc, ngập ngừng vài giây, nói với một giọng hơi lạt đi, nhưng không kém dứt khoát:
- Qua bên kia sông, có thể đi bộ ra đến xa lộ, từ đó đón xe về Sài Gòn. Sắc, thôi thầy trò mình chia tay. Kể từ giờ phút này tao không còn là trưởng toán của mày nữa. Cứ tự do về với gia đình. Tao chỉ muốn nói một điều. Trong những ngày mày theo toán, nếu tao có làm những gì khiến mày buồn lòng, hoặc vì trách nhiệm, hoặc vì sai lầm, tao mong mày bỏ qua cho. Cầu chúc mày thật nhiều may mắn.
Sắc cố bậm môi để giữ cho miệng khỏi bị méo xệch. Anh ta muốn nói cả nghìn lời nhưng không thốt được một tiếng. Cúi gầm mặt xuống một lúc như cố đè cơn xúc động cứ chực bật ra thành tiếng nấc, cuối cùng anh ta hỏi:
- Còn ông thầy?
- Tao không thể bỏ toán còn nằm lại trong đó.
- Nhưng họ chết hết rồi mà.
- Chính vì vậy mà tao thấy mình không thể về nhà được. Lời nói sau cùng của trung sĩ Hiến rất đúng.
Tuấn ngập ngừng một lát, định nói thêm điều gì nữa nhưng lại thôi. Anh sẽ mang những đắng cay trong lòng mình vào rừng núi. Có lẽ anh chỉ cần nói điều đó với toán của anh vẫn còn lại trong rừng: người lính ở đâu cũng thế, chỉ là công cụ; thắng bại không phải do họ định đoạt, và vinh quang của chiến thắng cũng không thuộc về họ – có thuộc về họ chăng chỉ là những đau khổ của chiến bại và của hy sinh!
Tuấn quay lưng đi về hướng khi nãy hai thầy trò từ trong rừng ra. Trong một thoáng cõi lòng Sắc như hứng chịu bão táp tơi bời từ mọi hướng. Tìm về xa lộ sao ngập ngừng bước chân. Anh muốn rão bước theo sau người toán trưởng, nhưng hình ảnh những đường phố Sài Gòn thân thuộc giờ đây không xa lắm như níu chân anh, dù anh nghĩ nơi ấy chắc cũng đang phấp phới những lá cờ này. Rồi hình ảnh mẹ anh hiện ra thật rõ và bao trùm cả không gian. Sắc gọi:
- Ông thầy!
Tuấn quay lại. Sắc đứng ở thế nghiêm, đưa bàn tay phải lên ngang mày chào. Tuấn chào đáp lễ, đoạn quay gót tiến bước. Người lính đứng nhìn theo cái dáng gầy, phong sương xa dần rồi khuất sau ngàn lá. Anh ta lại nhìn những dãy núi xa xa ở chân trời. Núi ở chân trời bao giờ cũng xanh lơ. Chắc toán của anh đang nằm trên một trong những dãy núi đó. Chắc người trưởng toán lại trèo lên nơi ấy. Sắc không sao ngăn nổi mấy giọt nước mắt từ từ lăn xuống, quyện với mồ hôi làm lưỡi anh mặn chát.
Hà Kỳ Lam

Lữ đoàn 147 Thủy Quân lục chiến

Tác giả/Nhân vật: Phạm Văn Tiền |28-07-2011| 254 lần xem | |

Từ một cuộc di tản chiến thuật tháng ba 1975
Chúng ta đang bước vào những ngày lễ tưởng niệm Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19-6. Cuộc chiến đấu một mất một còn với chủ thuyết cộng sản toàn cầu đã chấm dứt hơn 34 năm về trước, nhưng niềm đau xót khôn nguôi luôn ám ảnh vào tâm khảm của mỗi chiến sĩ miền Nam Tự Do. Người lính Việt Nam Cộng Hoà bị buộc phải thua đau trong niềm tức tưởi nghẹn ngào. Còn kẻ chiến thắng thì bàng hoàng ngơ ngác, không biết từ đâu mà mình chiến thắng quá nhanh và dễ dàng như vậy. Niềm oan ức về một sự sụp đổ một thể chế Cộng Hòa suốt hơn 20 năm gầy dựng, ngày nay đã được minh oan bằng những chứng cớ lịch sử. Chính nghĩa của một chế độ đã được phục hồi cùng những chiến sĩ can trường bất khuất trong cuộc chiến đó. Những người lính VNCH đã nằm xuống trên mọi miền đất nước nay đã được vinh danh, cùng những Thương phế binh đã mất một phần thân xác mình cũng đã được phục hồi danh dự, bằng những buổi ca nhạc gây quỹ “Cám ơn Anh”với sự tham dự vài chục ngàn người. Cờ vàng chính nghĩa đã được công nhận trên rất nhiều tiểu bang Hoa Kỳ, cùng rất nhiều đài tưởng niệm chiến sĩ Việt Mỹ đã được dựng lên, để tôn vinh và mãi mãi ghi nhớ công lao của những anh hùng đã nằm xuống, và máu xương đã đổ ra trong cuộc chiến đấu bảo quốc an dân đó.
Tôi vẫn nhớ mãi cái ngày mà đơn vị tôi đã phải tan hàng tại cửa biển Thuận An, Huế. Một cuộc bại trận không phải do những người lính chúng tôi không chịu chiến đấu, mà do từ lệnh trên của các cấp thẩm quyền, ngoài khả năng hiểu biết của anh em chúng tôi. Một cuộc lui binh chưa từng được viết ra trong binh pháp, và cũng chưa đơn vị nào đem ra áp dụng bao giờ. Ðó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng trong quân sử miền Nam VN.
Bài viết nầy xin dành tặng các chiến hữu TQLC của tôi, những người đã may mắn không hiện diện tại mặt trận phía Bắc Quảng Trị vào những ngày cuối tháng ba gãy súng. Các anh có lệnh xuôi Nam còn chúng tôi những Kình Ngư, Hắc Long, Mãnh Hổ, Sói Biển, Thần Tiễn còn ở lại. Những diễn biến có thật mà máu và nước mắt tưởng chừng như không đủ để nói lên những oan trái xót xa đã dành sẵn cho thân phận của một người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

oOo
Ðầu tháng 3 năm 1975, Cộng sản Bắc Việt dốc toàn lực lượng tấn công hầu cưỡng chiếm toàn bộ miền Nam.. Bình Long, An Lộc thất thủ. Thị xã Ban Mê Thuộc sau đó cũng bị bỏ ngõ hoàn toàn với sự rút quân ồ ạt như nước vỡ bờ của Quân Ðoàn 2 về Nha Trang và nhiều nơi khác. Trong khi đó phòng tuyến phòng thủ phía Bắc do SÐ/TQLC đảm trách vẫn còn là một vùng đất yên tĩnh trong sự cẩn thận, dè dặt chờ đợi lẫn nhau.
Sau sự phối hợp nhịp nhàng của 2 Sư Ðoàn tổng trừ bị thiện chiến nhất là Nhảy Dù và TQLC, với thế đánh gọng kìm liên tục từ 2 phía Ðông Tây, đã buộc địch phải tháo chạy với nhiều tổn thất nặng nề, bằng chiến thắng tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị ngày 14-9-72. SÐ Nhảy Dù được điều động về mật trận Ðức Dục, Quảng Nam. SÐ/TQLC ở lại chịu trách nhiệm trên một tuyến khá rộng trải dài từ bờ biển Ðông sang tận những mỏm núi tận cùng phía Tây thuộc dải Trường Sơn, qua các vùng Mỹ Thủy, Long Quang, Bích La, Triệu Phong, Nam sông Thạch Hãn, Như Lệ, Tích Tường, La Vang, Ðộng Ông Ðô, Barbara, Anne, Cổ Bi, Hiền Sĩ, Thanh Tân, Lồ Ô…
Liên đoàn 911 và các đại đội biệt lập ÐPQ tiểu khu Quảng Trị được đặt dưới quyền điều động của BTL/SÐ/TQLC hành quân trong việc phòng thủ này. Mặc dù là đơn vị được giao nhiệm vụ phòng thủ, nhưng SÐ/TQLC vẫn luôn chứng tỏ khả năng cơ động tấn cộng tận sào huyệt địch, như cuộc đổ bộ vượt sông Thạch Hãn của TÐ6/TQLC vào tháng 10 năm 72, cuộc hành quân thần tốc tái chiếm cửa Việt tháng 1 năm 1973 trước giờ ngưng bắn có hiệu lực của hiệp định Paris và đặc biệt Lữ Ðoàn 258 TQLC đã hạ một tàu vận tải lớn tiếp tế địch đang mon men ngoài khơi bờ biển Mỹ Thủy tháng 6 năm 1973.
Ngược lại, địch quân chưa có lần nào dám liều lĩnh tấn công vào các đơn vị TQLC. Có chăng chỉ là những hành động phá hoại lén lút, đặc công, giật mìn lẻ tẻ trên các trục lộ giao thông tiếp tế. Phải nói rằng đây là phòng tuyến phòng thủ vững chắc nhất, thừa sức ngăn chặn mọi cuộc xâm lăng từ phương Bắc xuống của CS Bắc Việt.
Do tình hình xáo trộn chung của đất nước và vì nhu cầu đòi hỏi cấp bách của chiến trường lúc này, bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH đã quyết định điều động phân lớn các lực lượng TQLC về Nam gồm các LÐ-258, LÐ-369 và LÐ-486 vừa mới được thành lập. LÐ-147 do Ðại Tá Nguyễn Thế Lương chỉ huy gồm các Tiểu đoàn 3, 4, 5, TÐ Pháo binh, 2 đại đội Viễn Thám và Tiểu đoàn 7/TQLC thuộc Lực Lượng Ðặc Nhiệm Tango do Ðại Tá Tư Lệnh Phó trực tiếp chỉ huy đang nằm sẵn trên các tuyến. Thay vào lỗ hỏng to lớn trên là 2 Liên Ðoàn BÐQ với trang bị quân số thiếu hụt. Ðây là khởi điểm cho tất cả sự bỏ ngõ sau này ở mật trận Bắc Quảng Trị.
Mãi đến chiều tối ngày 7/3/1975, địch bắt đầu mở cuộc tấn công đầu tiên thật mãnh liệt vào một trung đội tiền đồn tại đồi 51 thuộc căn cứ Tư Tưởng, hướng Tây Quốc Lộ 1, cây số 23. Ðơn vị này được chỉ huy bởi Trung Úy Sáng ÐÐP/ÐÐ1 tiểu đoàn 4 TQLC đã chiến đấu thật can cường, đẩy lui nhiều đợt xung phong biển người của địch. Lần liên lạc sau cùng qua máy PRC-25 vào lúc 4 giờ sáng, anh đã yêu cầu pháo binh chụp thẳng trên đầu mình vì vị trí bị địch tràn ngập. Anh đã tử thương sau đó trong cuộc cận chiến bằng lựu đạn với kẻ thù. Sáng sớm ngày 9/3/75, Thiếu Tá Trần Ngọc Toàn TÐT/TÐ4/TQLC điều động toàn bộ lực lượng còn lại, nhờ có sự yểm trợ thật chính xác của các phi vụ A-37 thuộc không lực vùng I chiến thuật, ta đã hoàn toàn làm chủ tình hình. Xác địch nằm ngỗn ngang trong các bãi mìn của hàng rào phòng thủ, một số đồng bọn khác đang lẫn tránh trong các bụi rậm bị ta bắt sống. Cũng cùng trong đêm đó, tại một nơi khác, tiểu đoàn 121/ÐPQ Tiểu Khu Quảng Trị đã tóm nguyên trung đội địch khi chúng tìm cách tiến về hướng quận Hương Ðiền. Ngày 22/3/75, đoàn xe tiếp tế cuối cùng của đơn vị rời hậu trạm Măng Cá, Huế vào vùng hành quân. Chúng tôi được biết hầu hết dân chúng đã di tản vào Ðà Nẵng và hậu trạm cũng được Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn mang tất cả trang thiết bị về cửa biển Thuận An chờ lệnh.
Tôi chỉ thị cho các đại đội thu gọn lại các trang bị và phải gấp rút di tản các thương bệnh binh đi theo chuyến tiếp tế này. Ngày 23/3/75 vào lúc 3 giờ chiều, sau khi VC đồng loạt pháo kích dữ dội vào tất cả các vị trí, địch từ thượng lưu sông Bồ, xung phong tấn công vào các tuyến của ÐÐ2/TÐ5/TQLC, vì quá bất ngờ và thiếu cảnh giác nên 2 Trung đội tận cùng cánh trái của đại đội này bị bung tuyến. Tôi liên lạc với Ðại-úy Trần Văn Loan ÐÐT hãy cố gắng gom con cái lại và chỉnh đốn đội hình, đồng thời báo cáo tình hình này về BCH Lữ-đoàn. Ðại Tá Lữ đoàn trưởng ra lệnh là bằng bất cứ giá nào cũng phải chiếm lại vị trí vừa mất.
Chấp nhận mọi hy sinh thiệt hại, ÐÐ4 của Ðại-úy Nguyễn Văn Hai được tăng cường và đã hoàn tất nhiệm vụ vào lúc 6 giờ sáng ngày 24/3/75. Cũng trong thời gian này, hầu hết tất cả các đơn vị Biệt Ðộng Quân, Ðịa Phương Quân tự động rã ngũ bỏ tuyến phòng thủ Bắc Quảng Trị kéo về Huế thật hỗn độn. Thị xã Quảng Trị coi như bị bỏ ngõ hoàn toàn. Tiểu đoàn 4/TQLC được điều động về làm nút chặn tại phía Nam cầu An Lỗ. TÐ7/TQLC trấn dọc sông Mỹ Chánh từ cầu Vân Trình ra biển Ðông, phòng tuyến cao nhất phiá Bắc của miền Nam.
Khoảng 4 giờ chiều cùng ngày, nhận dược lệnh về tham dự cuộc họp khẩn cấp tại BCH/LÐ. Ðại-tá Lương, LÐT cho chúng tôi biết rõ tình hình tổng quát và nhiệm vụ phải thi hành đêm nay là một cuộc di tản chiến thuật cho tất cả các lực lượng về cửa biển Thuận An, vùng đất từ Bắc đèo Hải Vân trở ra rồi sẽ lọt vào tay địch… Cũng như thành phố Quảng Trị bị vất bỏ một cách vô tội vào sáng hôm nay khi mới chỉ có một vài loại pháo kích lẻ tẻ đâu đó.
Thế là hết, còn gì đâu hào quang chiến thắng “Cờ bay, cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu vừa chiếm lại đêm qua bằng máu…” Máu của hàng vạn đồng bào, máu của hàng ngàn chiến hữu nằm xuống cho vùng đất hồi sinh và ngay bây giờ, từ tối nay Huế cũng sẽ chịu chung số phận. Cố Ðô đầy niềm kiêu hãnh tự hào dân tộc rồi sẽ bị nhuộm đỏ bởi lũ người khát máu CS. Hàng trăm nấm mồ chôn sống tập thể còn đó, máu xương mồ hôi nước mắt của bao chiến sĩ QLVNCH còn đây trong lời thề quyết tử bảo vệ cố đô Mậu Thân 1968. Còn đâu nữa những ngày tháng vàng son nhất của người lính chiến nơi tuyến đầu lửa đạn lúc nào cũng hùng dũng hiên ngang. Có nỗi đau nào hơn niềm tủi nhục của người lính bại trận!
Việc cần thiết trước nhất là phải làm sao bảo đảm được đơn vị rút lui một cách trọn vẹn, an toàn hầu đủ sức chịu đựng một cuộc dạ hành trên đoạn đường dài gần 30 km. Thiếu-tá Ngô Thành Hữu, Tiểu đoàn phó và Ðại úy Gianh Văn Nhân, ban 3 đang chờ đợi tại BCH Tiều đoàn. Chúng tôi cùng đồng ý với nhau bằng một cuộc lui binh trong bí mật, bất ngờ. Tất cả vũ khí nặng, cồng kềnh như 90 ly, súng cối 81 ly, hỏa tiễn TOW chống chiến xa, đạn dược và những trang bị nặng nề được lệnh phá hủy tại chỗ hay ném xuống dòng sông. Ðại đội 1 của Ðại úy Hồ Văn Chạnh đóng chốt từ xa được di chuyển trước, chúng tôi không xử dụng đoạn đường quen thuộc hàng ngày, phải băng qua một xóm nhỏ để đến cây số 17 cầu An Lỗ mà là dọc con đường sắt suôi Nam, rồi sau đó sẽ đổi hướng vế quốc lộ 1 khi các đại đội đã bám sát được với nhau. Ðã có chừng cả trăm người lính đủ mọi binh chủng, không còn đơn vị đang tụ tập vây quanh 4 chiến xa M-48 nằm chơ vơ giữa lộ, nòng súng chỉa thẳng về hướng quân thù, bình thản cười nói vui vẻ như đang tham dự một cuộc dạ hành ngoài trời. Ðến trường trung học Hương Trà nằm sát lề Ðông quốc lộ, tiểu đoàn dừng lại để kiểm điểm quân số và củng cố lại đội hình. May mà trong tay chúng tôi còn 1 xe Jeep hành quân, cứ thế chạy lên, chạy xuống để “tha” những người lính bết bát, trễ nãi sau cùng. Ðiều tưởng như không ngờ, thế mà đã xảy ra một cách thật tội nghiệp cho trung đội Nghĩa Quân quận Hương Trà, tập họp và bị bỏ quên tại đây chờ lệnh thượng cấp từ mấy ngày nay. Người trung đội trường già đến xin tháp tùng cùng chúng tôi. Vài chiếc xe M41 nữa cũng bắt đầu nổ máy rầm rộ tiến giữa đoàn quân. Nhiều đám đông dân chúng hòa lẫn hoặc nối đuôi phía sau họ ra đi từ chợ Cạn, Hội Yên, Vân Trình, Hải Lăng, Mỹ Chánh… từ ngày hôm qua hay sớm hôm nay vì không còn gì để hy vọng vào sự bảo vệ của người lính chúng tôi.
Tiếng khóc than vang vọng thấu trời xanh, họ, những kẻ bất hạnh, còn lại sau cùng đang lê lết từng bước một lần mò tìm “tự do” vì một cuộc chủ nghĩa cộng sản bạo tàn. Vài cụ gìà chống gậy, các trẻ thơ vô tội kia rồi sẽ ra sao? Liệu có còn đủ súc hay phải kiệt hơi ngã qụy dọc đường.
Rời ngã ba An Hòa rẽ phải tiến về Huế, thành phố bỏ ngõ tối tăm rải rác còn lại vài bóng bên đường. Nhiều vết lửa tung tóe lên bầu trời u tối do những trái sáng dược ném từ các toán lính tan hàng mất đơn vị chẳng biết phải làm gì. Súng vẫn nổ lẹt đẹt đó đây hòa lẫn tiếng chó tru vọng ra từ các căn nhà vắng chủ. Phú Văn Lâu vẫn nằm đây bên bờ sông Hương, nhưng còn đâu bóng dáng các con đò quen thuộc hàng ngày. Tiều đoàn bắt đầu tiến quân qua chiếc cầu đúc mới xây bên dưới bến bờ Nam dòng sông, rồi từ đó quẹo trái về Ðông, hướng ra biển. Tôi cho xe dừng lại ở phía bên này cầu chờ đợi cho hết người lính sau cùng. Cảm thấy khá an tâm và một chút hãnh diện về những binh sĩ thuộc quyền, tất cả đều can đảm, hy sinh chịu đựng và luôn tuân lệnh cấp chỉ huy ngay trong những giờ phút nguy hiểm nhất như lúc này.
Tôi không nhớ là bao nhiêu lần mình đã nhân danh thẩm quyền để mà ra lệnh cho thuôc cấp xung phong vào chỗ chết. Với 12 năm trong cuộc đời binh nghiệp, con số này chắc không ít lắm đâu? Dĩ nhiên là cấp chỉ huy nhỏ, tôi cũng chỉ là kẻ truyền và kiểm soát lệnh và cá nhân mình cũng bị xoay quanh trong các vòng luẩn quẩn ấy! Vài con gió mạnh thổi từ mặt biển vào, cũng nơi đây cây cầu, dòng sông một thời kỷ niệm, tôi bỗng cảm thấy luyến tiếc thèm khát tìm gặp lại một vài nơi chốn quen thuộc lần cuối may ra hình ảnh cũ để nhớ người xưa! Cho tài xế lùi xe lại tiến về hướng đại lộ Trần Hưng Ðạo và dự định theo cầu Trường Tiền cũ qua sông. Ðường trống vắng chẳng có một chiếc xe nào lai vãng, xa xa trong bóng tối chập chờn, lác đác vài bóng người. Tôi bắt đầu cảm thấy ớn lạnh. Bây giờ ngoài đơn vị TQLC ra, các đơn vị khác chẳng còn gì nữa để mà phân biệt lẫn nhau, qủa thật chẳng còn tình nghĩa gì ràng buộc, nếu có ai đó nổi hứng “bóp cò”.
Có lệnh cho tôi tiến về phía trước để gặp Ðại Bàng Long Mỹ (Ðại tá LÐT), ông giao cho một xấp bản đồ và thay đổi lộ trình về phía phà Tân Mỹ, đoạn đường từ đầu thôn Vỹ Dạ về cửa biển Thuân An không thể nào nhúc nhích nổi, nhiều dòng người di tản cùng các đơn vị tan hàng đổ về đây với không biết bao nhiêu xe cộ. Thượng sĩ Thương, thường vụ tiểu đoàn, chẳng biết từ đâu mang về vài két bia 33, có lẽ từ khách sạn Hương Giang bỏ trống? Anh nói với tôi:
– Nhậu đi Ðại Bàng, đang buồn ngủ mà gặp chiếu manh.
– Thôi nhanh lên mà đi ông ơi! Non nước này mà còn nhậu với nhẹt!
Từ hướng quán cơm Âm Phủ, một người đàn ông già trạc 60 tuổi tìm đến phàn nàn về một số lính vào đập phá, lục lạo nhà của ông ta.
– Coi chừng Việt cộng đó Ðại Bàng.
Thử hỏi ai mà biết được ai trong thời buổi tranh tối, tranh sáng này, ngay cả toán lính đập phá kia – có điều tại sao trong hoàn cảnh như thế này mà ông ta là kẻ dửng dưng như vậy!
Qua khỏi cầu Ðập Ðá một quãng nữa, bắt đầu rẽ phải vào con đường đất, thôn Vỹ Dạ chìm đắm trong màn đêm u tịch, đó đây leo lét nhiều ngọn đèn dầu từ khắp các miếu thờ, vết tích vàng son của một thời vua chúa. Chó càng lúc càng sủa vang bên những khu vườn trống vắng, đoàn quân vẫn tiến đều. Ðến khúc lộ bị hư, đành phải vất bỏ xe lại dọc đường.
– Phá hủy xe đi ông thầy.
– Không cần, mình đang di chuyển, không nên gây tiếng nổ.
Lẩm bẩm trong miệng, Liên, tài xế mò vào túi quần lấy ra con dao, cắt hết tất cả dây trong đầu máy xe và quăng bình điện vào một bụi rậm gần đó. Anh cũng không quên hốt thật nhiều cát bỏ vào bình xăng và nói:
– Ai ngu để cho lũ ác ôn xử dụng, mình không dùng, phá hư luôn…  hì… hì…
Ðến tờ mờ sáng thì toàn thể đơn vị đã có mặt bên này phá Tam Giang mênh mông, nềm vui rạng rỡ trên mặt mọi người. Phải mất thêm 3 tiếng đồng hồ nữa mới đến được bờ bên kia sát biển bằng một số “ghe gọ” của dân còn lại ở xóm chài. Từ lâu mới có một ngày nắng đẹp như hôm nay, bầu trời trong xanh với nhiều tia nắng long lanh chiếu vào mặt biển. Gió vi vu vừa đủ để mơn trớn các con sóng vỗ ì ạch vào bờ. Không còn gì thích bằng ngồi đây, dưới bóng râm của hàng dương xanh thẩm, trên đồi cát, hướng mắt về đại dương bao la, nơi đó nhấp nhô nhiều con tàu như người tình mơn trớn hưá hẹn. Ăn vội ít cơm ở bao gạo sấy còn lại, trong chớp mắt chập chờn, tiếng la khóc, than van còn mãi ám ảnh trong trí tôi trên đường rút chạy sáng hôm nay.
Cuộc đời khổ đến thế là cùng! Tỉnh giấc khi có lệnh cho đơn vị chuẩn bị ra bãi bốc để lên tàu. Ðó là khoảng 2 giờ ngày 25/3/75. Cả Lữ Ðoàn tập họp trên bãi cát trắng xóa theo thứ tự sẵn sàng như một cuộc hành quân đổ bộ ngày nào. Ðâu phải chỉ việc sắp hàng chờ lệnh lên tàu là xong, địch đã rượt theo ta đêm hôm qua, đã mò sát đít chúng tôi sáng hôm nay, địch đã có mặt bên kia bờ phà, địch đã trà trộn trong đòan quân. Theo lệnh của mặt trời Papazulu nào đó (Tướng Lâm Quang Thi, TLP/QÐ1!!!), chiếc HQ-801 dành riêng cho TQLC đã chực sẵn cách bờ khoảng 50m. Nhưng đâu phải chỉ có chúng tôi cần sống, còn dân chúng, những người lính mất đơn vị hỗn độn kia, họ cũng cần cứu vớt như chúng tôi, mà chẳng ai có kế hoạch gì riêng để giúp đỡ họ.
Trong cơn quẫn bách này, không ai cần nghĩ đến ai, chà đạp tranh giành nhau mà sống, mạnh được yếu thua, khi con rắn đã mất đầu chỉ còn lại cái đuôi tha hồ mà ngóc nguẩy. Như sức bật của chiếc lò xo, tất cả ùa nhau tràn ra tàu, người không biết lội ôm sát người biết bơi, ngụp lặn với tử thần trong sóng nước, vài chiếc xe M-113 lội nước ủi tới đè lên, tiếng rên la gào thét. Một sơn sóng nhồi lên, hai cơn sóng đập xuống, những cái đầu lô nhô, nhiều thân hình chìm lịm, mất hút trong khi con tàu vẫn nổ máy đợi chờ. Ðịch đã vượt phá Tân Mỹ, đã có mặt ở cái miếu trên đồi cát đầu làng. Ðịch đã bắt sống một số lính phía sau, địch bắt đầu pháo rải rác khắp nơi trên mặt biển.
Bãi bốc đã không còn an ninh mà trật tự cũng chẳng có. Con tàu đành bất lực rời bến. Ðể được an toàn hơn, Lữ Ðoàn quyết định dời bãi bốc về hướng Nam và bằng đủ mọi cách phải tách rời đám đông hỗn loạn kia hầu dễ dàng đối phó với tình hình mới. Dọc theo mé nước đầy rẫy xác người, những bộ mặt nhợt nhạt, bất động, ngừng thở theo cơn sóng biển dập vùi, có lạ, có quen. Người dễ nhận ra nhất là Ðại úy Ân, ÐÐT/ÐPQ Tiểu khu Quảng Trị.
Chúng tôi đã di tản chiến thuật bằng con đường máu ở mặt trận Hạ Lào 1971, đã rời bỏ Ðông Hà, Quảng Trị dọc đại lộ kinh hoàng mùa hè đỏ lửa năm 1972. Với sự nguy hiểm cùng cực nhưng tinh thần đâu có quá tuyệt vọng như bây giờ vì dù sao cũng còn chút gì để hy vọng ở đoàn quân tiếp tế phiá sau. Còn ở đây rơi vào tình thế vô cùng tuyệt vọng. Cả nguyên Lữ đoàn có hơn 3000 quân, tiến thoái lưỡng nan trong cái túi càn khôn chỉ vỏn vẹn 4 km 2, đang gìơ lưng chịu trận. Tàu chiến Hải Quân QLVNCH vẫn trương cờ lảng vảng ngoài khơi, nhưng các khẩu đại bác đâu rồi?! Niềm hy vọng mong manh còn nhen nhóm là sẽ được tàu vào đón, nhưng sẽ ưu tiên theo thứ tự nào? Ðơn vị nào sẽ phải nằm lại chịu trận và làm vật hy sinh sau cùng? Bóng chiều bắt đầu trải dài trên bãi cát trắng xóa mênh mông để báo hiệu màn đêm buông xuống. Lữ Ðoàn quyết định rải quân phòng thủ. TÐ4 và 7 phụ trách mặt trận Tây, TÐ3 phía Nam, TÐ5 chúng tôi phía Bắc. Ðại uý Tô Thanh Chiêu, ÐÐT/ÐÐ2 và Thiếu tá Nguyễn Trí Nam TÐP/TÐ4/TQLC đã hy sinh trong giờ phút thứ 25 này cùng một loạt đạn của tên du kích hèn nhát bắn lén trong khi làm nhiệm vụ điều động quân rải tuyến. Ðiều đáng thương tâm nhất là hai người vừa mới lập gia đình và cả hai bà vợ đang mang thai. Cái chết thật quái ác, tình cờ bởi bàn tay oan nghiệt của tạo hóa, định mệnh!
Tin từ BCH/LÐ cho biết là tàu sẽ vào đón đêm nay hay trễ nhất là sáng sớm ngày mai theo thứ tự như sau: BCH/LÐ, TÐ2PB, TÐ4, TÐ3, TÐ5, TÐ7… Ðúng theo sự suy nghĩ dự đoán của chúng tôi, lẽ dĩ nhiên các đơn vị tan hàng hay bị sứt mẻ không còn khả năng chiến đấu thì ưu tiên mang họ đi càng sớm càng tốt để không làm vướng bận các đơn vị còn lại. Nhưng cả BCH/LÐ đi hết thì ai sẽ là người chỉ huy chúng tôi. Ðiều này thật cần thiết và quan trọng nhất. Cái thứ tự di chuyển mà không một binh thư nào viết ra hoặc chúng tôi chưa hề áp dụng trước đây.
Qua ánh trăng mờ ảo, dòng người bị bỏ lại ban chiều đang ồ ạt kéo về tuyến phòng thủ. Không còn cách gì hơn là phải chận họ lại nằm sát phòng tuyến trong tầm bảo vệ hỏa lực để khỏi làm xáo trộn cho sự điều động chỉ huy của quân bạn bên trong. Súng vẫn nổ đều khắp nơi và chẳng có con tàu nào cập bến. Trăng vẫn lên cao, khuya dần. Cùng lúc, vài tốp người xé lẻ, hèn nhát tách bến rã ngũ ra khơi.
Rạng sáng ngày 26/3/75, khi ánh bình minh vừa ló dạng ở phương Ðông thì con tàu cùng thủy thủ đoàn cũng bắt đầu tiếp tục nhiệm vụ, ủi thẳng vào bờ theo sự điều động của BCH. Ðã có chuẩn bị sắp xếp từ trước, nên việc di chuyển lần này tương đối trật tự hơn. Ưu tiên vẫn là BCH/LÐ và các thương phế binh từ các đơn vị mang đến. Ðịch thừa thắng xông lên cố ra sức đánh vào đầu chúng tôi những đòn thù chí tử. Ðây là điều nghiệt ngã nhất của chiến tranh, có vay có trả. Chúng tôi đã diệt gọn nguyên trung đoàn 48 địch một cách không thương tiếc khi quét sạch chúng ra khỏi hang cuối cùng tại cổ thành Quảng Trị. Những vòng sắt oan nghiệt của đoàn chiến xa M48 và M41 đã nghiền nát vô số lính cộng sản Bắc Việt, sinh Bắc tử Nam, qua các dãy địa đạo ngầm trong hầm khi tấn công tiến vào cửa Việt.
Pháo địch cùng lúc càng mãnh liệt hơn và chiếc tàu nằm chình ình giữa biển khơi vẫn là mục tiêu tốt nhất để chúng điều chỉnh tác xạ ngắn, dài… Một cục lửa, hai cục lửa, rồi quá nhiều cục lửa của loại hỏa tiễn tầm nhiệt AT3 rải rác đó đây. Có cái rớt ngay dòng người di tản ngụp lặn theo sóng nước. Có cái trúng thẳng vào thân tàu. Con tàu chòng trành nhổ neo tách bến.
Ðể bớt căng thẳng, tôi chui ra khỏi hố trú ẩn làm một vòng quanh tuyến. Những vệt sáng của lằn đạn đạo thẳng cùng nhiều quả đạn pháo kích đan chéo nhau vi vút trong gió biển. Các khẩu súng cối 60 ly và phóng lựu M79 của ta đáp lễ cầm chừng, không khả năng nhiều lắm nhưng cũng để chứng minh rằng “bên em vẫn đang có ta đây!” Dọc theo mé nước sát biển, thầy trò Thiếu tá Võ Ðằng Phương, TÐT/TÐ2/PB/TQLC, Ðại uý Lê Tự Hào cùng một vài người lính đang gấp rút xử dụng các mũ sắt của mình để cào cào moi hố. Họ là những người sau cùng bị sót lại khi hầu hết đơn vị mình đã được lên tàu.
– 207 đây 416 gọi. Anh ở lại take care con cái.
– Vâng! Nhận rõ.
416!207 là biệt hiệu của Thiếu tá Phạm Cang TÐT/TÐ7/TQLC, người thâm niên và giỏi nhất trong đoàn bạn tôi. Còn 416 là danh xưng của Trung tá Nguyễn Ðằng Tống LÐP/LÐ147.
Nắng chiều nhạt dần, sóng biển rì rào và bờ cát lại trống vắng đến lạnh lùng, không còn một bóng người lai vãng, họ đang chiến đấu ở tuyến đầu, họ tránh núp đạn dưới hố sâu, họ hối tiếc, thèm thuồng về một con tàu khác. Các đại đội lại thêm một số bị thương, lại thêm vài người chết nữa. Ðạn dược, lương thực cạn dần trong khi chúng tôi cố hết sức giữ vững tinh thần binh sĩ bằng cách liên lạc máy thường xuyên với các đại đội. Cảm giác bị vất bỏ bắt đầu nhen nhúm trong ý nghĩ mình, nhưng tôi vẫn chưa dám tin rằng điều này có thật, vì nếu như vậy thì còn thể thống gì đến quân đội và tổ quốc mà biết bao người đã hết lòng yêu thương và phục vụ. Mò mẫm vào cuốn đặc lệnh truyền tin, tôi vận máy qua tầng số BTL/SÐ đang ở đâu trên đèo Hải Vân, với trạm liên lạc chuyển tiếp giữa Huế và Ðà Nẵng. Người tiếp tôi là Ð/U Ðan, tùy viên tư lệnh:
– Ðại Dương, cho tôi xin gặp Lạng Sơn (biệt danh của Thiếu tướng Bùi Thế Lân, tư lệnh SÐ/TQLC).
– Lạng Sơn đang bận lắm. Có gì ông anh nói, tôi sẽ chuyển.
– Nhờ Ðại Dương trình với Lạng Sơn cho chúng tôi lệnh kế tiếp.
– Ở đây cũng đang lu bù lắm, không ai có thể giúp gì được cho ông anh. Tốt hơn hết là self-service. Good luck ông anh!
Mặt mày tối tăm, xây xẫm, thất vọng, tôi ném ống liên hợp xuống cát… self service… có nghĩa là tự lực cánh sinh, tùy cơ ứng biến, có thể là mạnh ai nấy lo, có thể là tan hàng!
Khoảng quá xế trưa, mặt trời Papazulu lại xuất hiện bằng một giọng thật đanh thép, ông ra lệnh cho một chiếc HQ khác, bằng bất cứ giá nào cũng phải bốc tiếp chúng tôi. Con tàu lại tách sóng hướng thẳng vào bờ phiá Bắc tuyến phòng thủ chừng 200m. Lần này, TÐ4 sẽ lên tàu dưới sự sắp xếp chỉ huy của Thiếu tá Ðinh Long Thành, tân TÐT của đơn vị này. Bất kể là đơn vị nào, bất cứ là ưu tiên cho ai, thật nhiều đám người từ mọi hướng đổ ập về đây tràn xuống như thác lũ. Con tàu quá tải tròng trành trên mặt nước, chân vịt ngưng quay nằm bất động vì máy đã hỏng rồi. Lại thêm một đêm nữa rồi sẽ đến với tình thế mỗi lúc một tồi tệ hơn. Phải quyết định ngay bây giờ, nhưng giải quyết bằng cách nào đây? Tôi gọi HS1 Lê Hồng Quảng Nam, người cận vệ thân tín nhất đến, sau khi đã cạo nhẫn bộ râu của mình, chính nhờ nó mà tôi đã ăn nên làm ra trong đời binh nghiệp và được giấy phép của bộ TTM cấp hẳn hòi với lý do: “Uy tín cấp chỉ huy”.
– Anh chuẩn bị cho tôi một ít nước uống và vài gạo sấy để phòng thân.
Nam do dự mếu máo:
– Ông thầy đừng bỏ tụi em, có gì cho tụi em theo với. Thuận, Thành hai hiệu thính viên cũng oà lên khóc.
– Yên trí, thầy trò mình sẽ sống chết có nhau mà.
Ðầu óc tôi cứ mãi bị ám ảnh bởi lời đề nghị của Ð/U Ðan là ông anh nên “self service”. Nhưng chuyện này cũng có 5, 7 cách khác nhau. Hãy tìm một vài người lính thật khỏe mạnh, bơi nhà nghề, mà phải là dân chuyên đi biển ở Nha Trang hay Phan Thiết, mò vào nhà dân hay dọc theo mé nưóc, tìm sẵn một chiếc ghe thật tốt, chuẩn bị sẵn sàng, thừa nước đục thả câu sẽ cùng bỏ trốn như loài chuột. Nhưng cũng chẳng phải dễ dàng lắm đâu! Chúng tôi sẽ bị bắn chết bởi đồng đội trước khi nạp mình cho bầy cá mập, hay là tuyên bố hoạch toẹt rõ ràng, đơn vị tan hàng, mạnh ai nấy lo, đâu phải lỗi ở mình. Ðiều này quá trắng trở và trắng trợn, chẳng còn tình nghĩa gì. Nếu còn sống làm sao dám nhìn lại mặt nhau như Hai Chồn, Pake, Loan Mắt Nhung, Chanh Trọc, Ba Ngành, các ÐÐT lương đen lì lợm, nhậu rượu như uống nước mà đánh giặc rất chí tình. Tôi liên lạc máy với Thiếu Tá Cang TÐT/TÐ7 cùng Thiếu Tá Sử TÐT/TÐ3, chúng tôi cùng đồng ý với nhau là chẳng còn cách nào khác hơn, mở đuờng máu xuôi Nam về cửa biển Tư Hiền còn nước, còn tát.
Nói là mở đường máu chứ thực ra chỉ là cách thối thác cho một sự tan hàng, đường về bít lối, vì nếu có trầy da tróc vẩy đến nơi thì cũng chỉ là vùng trời mây nước mênh mông, ngồi đó chờ nộp thịt cho chằng. Di chuyển cũng theo thứ tự lớp lang, nhưng đội hình chẳng còn. Sức mòn, lực kiệt, súng cầm tay, tinh thần đã mất, đạn dược cũng không, cứ nhắm mắt nhắm mũi mà chạy 1,2,3,4… 1,2,3,4 “đường trường xa con chó nó tha con mèo….” càng xa địch bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.
Nhiều tiếng nổ chát chúa phía sau, của địch thì ít mà của ta thì nhiều. Những người lính bị thương không còn khả năng theo kịp đoàn quân, bò lết lại với nhau, bung chốt lựu đạn nổ để “thà chết vinh, còn hơn sống nhục”. Ðứa con đầu của TÐ3 Sói Biển đang bị một đại đội du kích chận lại, phía trước ùa về, ở sau đùn tới, vô vọng, tuyệt vọng, chưa bao giờ tôi cảm thấy thèm sự sống bằng lúc này, miệng luôn luôn lẩm bẩm xin Phật Trời giá hộ “cùng tắc biến, biến tắc thông”.
Nhóm chúng tôi gồm 5 người tấp vào xóm dân chài, hy vọng sẽ được giúp đỡ bởi tình quân dân cá nước ngày nào, nhưng hiện tại quân đã tan thì tình cũng chẳng còn, mặc dầu đã cố gắng nài nỉ hết sức kể cả tiền bạc thuê mướn, nhưng họ đã từ chối thẳng thừng. Chủ ghe là gã trung niên lực lưỡng, mặt rỗ hoa mè chắc là tên Việt cộng nằm vùng hay du kích gì đó. Thôi thì “tam thập lục kế”, kê súng vào đầu dọa nạt là thượng sách nhất.
Ðây là lần thứ hai tôi chạy giặc, lúc nhỏ vào lúc 5 tuổi theo mẹ trốn vào rẫy mỗi lần “mới sớm mai thằng Tây nó bố vào rừng ta quyết trốn”. Và bây giờ sau 26 năm khi đã trưởng thành trong quân ngũ… vẫn còn súng đạn trong tay cùng những chiến hữu bạn bè, tôi phải chạy trốn giặc cộng, thằng chủ ghe đang ngồi với tôi bây giờ là một tên VC chín rõ mười mươi, hắn phá máy cho ghe ngừng, hắn làm dấu chỉ điểm mỗi lần kề sát ghe địch. Nhiều người dọa đánh hắn tại chổ, tôi ngăn không cho, chuyện gì rồi cũng phải tính đường về, nếu nhỡ thì sao!
Chỉ vỏn vẹn mấy ngày phù du mà bao điều biến đổi dồn dập bất ngờ, không biết số phận của tôi và bao nhiêu người khác nữa rồi sẽ ra sao khi ánh bình minh của một ngày mới xuất hiện, Hy vọng sống còn chỉ là việc hiếm mọn nhỏ nhoi trong cái chết xảy đến mới là điều chắc chắn.
Tờ mờ sáng hôm sau, sau khi đã cạn hết nhiên liệu, chiếc ghe đành nằm chênh vênh trên mặt nước mênh mông vùng Tư Hiền, giữa rừng cờ giặc. Xa xa là những dãy núi chập chờn xanh thẳm của đỉnh đèo Hải Vân như réo gọi, mời mọc, thèm thuồng, tiếc rẻ. Và như số phận đã an bài, nhưng rồi cũng có lúc “chí tuy còn mong tiến bước mà sức không kham nổi đọan đường dài, sự nghiệp bao năm đeo đuổi thôi cũng đành gián đoạn từ đây… bởi đâu? do đâu? vì đâu?.
Giã từ vũ khí, ném súng xuống dòng sông định mệnh, ngồi chờ địch đến đổi đời lịch sử sang trang. Chúng tôi bị trói tay lùa lên bờ. Chúng tôi bị “giải phóng” tất cả quần áo, đồng hồ, dây chuyền, đồ đạc. Một vài người bị dẫn đi xử bắn dã man. Chúng tôi bị xỉ vả, đấu tố làm tay sai cho đế quốc. Chúng tôi không còn là chúng tôi nữa, chỉ vì chúng tôi là chiến sĩ QLVNCH bảo vệ miền Nam Tự Do, bị bỏ rơi lại phía sau thề sống chết thủy chung và chiến đấu hết mình. Cuộc đời tù đầy của vài ngàn quân cũng bắt đầu từ cái ngày đáng nhớ ấy… 27/3/75 tại một địa danh nhỏ, hẻo lánh, quen thuộc: thôn Vĩnh Lộc, Thừa Thiên, Huế ngay trên tổ quốc thân yêu của chúng tôi…
Mũ Xanh Phạm Văn Tiền