6/9/11

PHƯƠNG BÍCH: BƯỚC CHÂN VÀO CHỐN NGỤC TÙ


Bước chân vào chốn ngục tù
Ghi chép của Phương Bích

Trở về căn phòng giam mờ tối, tôi ngồi trên chiếc giường xi măng, kể cho cô bạn tù nghe về cuộc hội ngộ ngắn ngủi với những người đồng đội ở khu vực thẩm vấn. Nhớ lại cảnh Bùi Hằng và Tiến Nam thay nhau ôm ghì lấy tôi, tôi chợt thấy nghẹn ngào không nói được hết câu, bèn giấu mặt vào hai lòng bàn tay.

- Chị cứ khóc đi, đừng ngại, cứ khóc thật thỏa lòng đi.
Bàn tay cô ấy dịu dàng đặt lên vai tôi cùng với lời thủ thỉ đầy sự cảm thông, thế là tôi nức lên như một đứa trẻ. Vẫn úp hai bàn tay che lấy mặt, tôi đã khóc rất lâu, không thể nào kìm lại được...
*
Đêm trước ngày 21/8, tôi gần như thức trắng đêm. Bố tôi trước vốn ủng hộ tôi đi biểu tình chống Trung Quốc là thế, nay bỗng mềm lòng trước sự vật vã của mẹ tôi. Bà khó nhọc quỳ đôi chân khớp nặng của bà xuống trước mặt tôi van xin:
- Mợ lạy con, ngày mai con đừng đi nữa.
- Thôi thì con vì mẹ đi, bố không chịu nổi nữa.
Tôi vùng đứng dậy, lao vào buồng đóng chặt cửa lại, lửa giận bừng bừng trong lòng. Anh trai tôi đứng ngoài cửa nói vọng vào:
- Anh nói điều này cô nghe hay không thì tùy, nhưng người ta đã đến xin anh thuyết phục cô. Thôi thì người ta đã xin thì cô cũng đừng nên đi nữa.
Hóa ra khi không thuyết phục được tôi, công an cùng cán bộ Phường kéo đến làm công tác dân vận với mẹ và anh trai tôi. Mới hôm nào tôi còn phấn khởi kể lại trên mạng, chuyện họ đến nhà thuyết phục tôi không thành thế nào. Hóa ra họ vẫn không chịu từ bỏ, tiếp tục dùng đòn sau lưng này để đánh tôi.
Nếu tôi vì gia đình, tôi sẽ trở thành kẻ phản bội lại đồng đội mình. Ai sẽ là những người có mặt ở ngoài đó hôm nay, nếu ai cũng có một lý do để ngồi ở nhà như tôi? Hàng ngũ những người biểu tình có vỏn vẹn vài trăm người trong số vài triệu người ở đất Thủ đô, lâu nay vốn đã đơn độc, nay sẽ rơi rụng dần vì những đòn đánh trong nội bộ từng gia đình thế này ư? Tôi thấy đau nhói trong lòng khi nghĩ đến việc ngày mai, trong hàng ngũ những con người quả cảm đơn độc kia sẽ thiếu vắng tôi. Hẳn sẽ không ai nỡ trách móc tôi khi ở ngoài kia, ông bố già tuổi gần đất xa trời của tôi đang lên cơn cao huyết áp, còn bà mẹ 83 tuổi phải quỳ dưới chân tôi van xin, nhưng chắc hẳn họ sẽ rất buồn...
Xin bố mẹ hiểu cho lòng con. Con làm sao có thể sống để ngẩng mặt nhìn bạn bè, đồng đội của mình trong suốt phần đời còn lại chứ? Không đi một hôm thì có nghĩa lý gì, trong khi cuộc biểu tình này chưa biết đến bao giờ dừng lại?
Có lần bố cũng hỏi tôi: con đi thế này đến bao giờ?

Tâm tư. Ảnh: Phạm Văn Mùi
Thực sự tôi cũng không biết. Có lẽ đến khi nhà nước lên tiếng một cách chính thức chăng? Bởi vì bấy lâu nay, có lẽ tôi cũng như nhiều người dân khác, rất muốn nghe một lời tuyên bố của chính quyền cho nhân dân cả nước biết rõ, về chính sách bảo vệ ngư dân trước nạn cướp bóc tàn bạo của nhà cầm quyền Trung Quốc, về phản ứng trước những hành động đe dọa láo xược của nhà cầm quyền Trung Quốc...
Thấy tôi phản ứng dữ dội, mẹ và anh trai tôi lặng lẽ khóa cửa, quay về căn hộ dưới tầng 6. Tôi ngồi lỳ trong buồng, không thể quyết định được ngay việc ngày mai đi hay ở nhà. Lý trí bảo tôi phải đi, nhưng nếu bố tôi lên cơn đột quỵ thì sao?
Tôi đã thức gần trắng đêm để viết một bức thư cho ông Nguyễn Thế Thảo. Dự định nếu ngày mai bố tôi phải đi viện, gia đình tôi xảy ra nội chiến, tôi sẽ gửi bức thư này cho ông ta và gửi lên mạng để phản đối việc chính quyền đã không chính danh ngôn thuận cưỡng ép tôi không đi biểu tình...
Sau khi gửi bức thư cho Xuân Diện bày tỏ nỗi niềm, tôi vào facebook tìm bạn bè để than thở. Máy tải chậm quá, khi tôi đóng máy tính lại là vào lúc 5 giờ sáng. Thiếp đi đến 6 giờ thì chuông báo thức reo. Tôi dậy nấu cơm cho bố, định bụng xong xuôi sẽ đi tắm rửa, vì đêm qua tôi nhất định cố thủ trong buồng. Tôi thấy nhẹ cả lòng khi thấy bố dậy sớm, thần sắc đã trở lại bình thường. Ngoài trời lúc ấy đang mưa.
Gần 7 giờ thì chuông cửa reo, lại một đoàn công an lẫn cán bộ phường và tổ dân phố bước vào. Mẹ tôi còn huy động thêm cả bà chị gái tôi đến nữa. Lạ thật, tôi đã nói rõ ràng thế rồi, bây giờ họ còn đến làm gì?
Nếu lúc này tôi không kiên quyết, có thể tôi sẽ lỡ mất…Tôi vào buồng, lấy máy tính ra, đọc cho họ nghe bức thư tôi đã viết đêm qua. Đến đoạn cuối, tôi vừa đọc vừa nghẹn ngào:
“Người xưa có câu: Hiếu với cha mẹ mới chỉ là Trung hiếu, còn hiếu với đất nước mới là Đại hiếu. Tôi tuy chỉ là một người dân bé mọn, nhưng cũng xin được đặt chữ Đại hiếu làm đầu”.
Mọi người không ai nói gì, chị gái tôi cũng không nói gì.
Còn nữa.


 
Bước chân vào chốn ngục tù
Ghi chép của Phương Bích

Có điềm gì báo trước không khi tôi kiên quyết dứt khỏi những bàn tay đang cố níu kéo tôi? Thực ra tôi không hoàn toàn nghĩ rằng đó chỉ là do họ muốn làm tròn phận sự của mình, mà chẳng hề vì sự an toàn của tôi. Tôi cảm nhận được có lẽ có chút tình nào đó trong sự níu kéo ấy, nhưng chỉ vì tôi đã quyết đi nên tôi đã khước từ…
Trời vẫn lất phất mưa bay, tôi đi thẳng một mạch ra Hồ Gươm, không bận tâm đến việc có người nào đó vì nhiệm vụ đang đi theo tôi. Đến cửa hàng “Hàm cá mập” tôi gọi điện cho Minh Hằng. Khi thấy bảo có người theo tôi, hắn nói tôi vào cà phê Thủy Tạ chờ. 
Phương Bích. Ngày 3.7.2011. Ảnh: GS Hoàng Xuân Phú
Người ta đang chuẩn bị biểu diễn nghệ thuật ở quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Tôi vòng ra Thủy Tạ gửi xe rồi vào quán. Chả thấy Minh Hằng đâu, chỉ thấy vợ chồng con cái Bùi Quang Minh đang ăn sáng ở đó. Vừa gọi cốc ca-cao sữa, uống được một ngụm thì Minh Hằng gọi điện bảo ra chỗ vườn hoa Lý Thái Tổ. Lúc này vợ chồng Vân Anh cũng mới vào quán, chưa kịp gọi đồ uống. Tôi ra thanh toán tiền rồi chào gia đình BQ Minh, cùng vợ chồng Vân Anh đi bộ ra vườn hoa Lý Thái Tổ. Dọc đường gặp Tiến Nam, Quang Thạch, NV Dũng và một số người biểu tình đã quen mặt nhưng chưa nhớ tên.
Từ Thủy Tạ ra vườn hoa Lý Thái Tổ khá xa. Khu vực Đài cảm tử có một sân khấu, mấy cháu nhỏ đang biểu diễn, khán giả chủ yếu là những thanh niên mặc đồng phục áo xanh? Bên vườn hoa Lý Thái Tổ, một sân khấu nữa cũng đang được thiết lập, khán giả cũng lại là thanh niên đồng phục áo xanh. Bên kia đường, trên vỉa hè của bờ hồ là một đám đông, một chiếc xe buýt đỗ cạnh đó. Tôi vừa giục mọi người nhanh chân vừa chạy lên phía trước.
Có lẽ không kịp mất, tôi đã thấy trên xe đầy người, nửa người Đức xoăn nhô hẳn ra phía ngoài ở ô cửa phía sau cùng. Cả trên xe và ở dưới đường mọi người cùng đang hô to: Phản đối bắt người yêu nước! Phản đối bắt người yêu nước!
Tôi và NV Dũng chạy đến khi chiếc xe buýt đã đóng cửa và bắt đầu chuyển bánh. Nhìn chiếc xe buýt mang bóng dáng những người đồng đội của tôi xa dần, lồng ngực tôi nhộn nhạo, cồn cào một nỗi đau đớn lẫn phẫn uất. Tôi bất lực nhìn ngang nhìn dọc xem có những ai tôi quen mặt, nhưng dường như mắt tôi đã mờ đi nên tôi chả nhận ra ai. Một chiếc xe buýt khác trờ tới. Bên cạnh tôi lại chợt nhốn nháo, đám đông đang xô đẩy, giằng co cái gì đó, nhiều tiếng thét vang lên: Phản đối xé cờ, Phản đối xé cờ. Ngay lập tức tôi nhào vào, cố rướn người đập vào những cánh tay đang giằng giật lá cờ. Tôi chỉ vào mặt gã thanh niên bặm trợn chỉ đáng tuổi con tuổi cháu mình đang bị bà con xâu xé hét lên: Mày muốn xé cờ phải không? Muốn xé cờ phải không?
Thấy người dân phản ứng dữ dội trước hành động xúc phạm lá cờ, viên chỉ huy ra lệnh cho đám trật tự buông lá cờ ra. Mọi người bắt đầu lùi lên đứng trên vỉa hè. Tôi quay người lại, hy vọng tìm những gương mặt quen thuộc đi cùng tôi ban nãy - sau này nhìn ảnh trên mạng thấy tôi đang bước về phía sau, và sau lưng tôi, đám trật tự đang túm lấy một thanh niên mặc áo đỏ.
Tôi vốn là người chẳng thích xía vào chuyện của người khác, nhưng khi đi biểu tình, hễ ai bị bắt là thế nào tôi cũng nhào vô phụ bà con một tay giành lại người. Vì tôi tin vào chính nghĩa của mình, nên tôi chẳng hề sợ hãi ngay cả khi họ túm lấy tôi tống lên xe buýt. Dẫu họ có chưa tống tôi lên thì tôi cũng phải chen bằng được lên, vì ở đó có đồng đội của tôi, làm sao tôi không ở bên cạnh họ được.
Lần này thì không phải cầu được ước thấy, tôi cho rằng hôm ấy họ đã chủ tâm bắt tôi. Chẳng phải vì tôi là một kẻ nguy hiểm gì, nhưng thời gian qua, việc tôi viết một số bài tường thuật một cách trung thực các cuộc biểu tình, được cư dân mạng tỏ lòng mến mộ. Cư dân mạng cũng nhận ra tôi hay cầm loa hô khẩu hiệu, thường đi cùng với Minh Hằng – có người gọi hắn là “Hoa bất tử” của cuộc biểu tình. Có lẽ chính vì điều này khiến họ ngứa mắt chăng?
Có thể người nào đó nói rằng cư dân mạng họ tán dương, tâng bốc những người như chúng tôi để chúng tôi phổng mũi mà lăn xả vào đấu tranh thay họ…Thú thực tôi chả quan tâm đến việc phải thanh minh thanh nga gì. Sống hơn năm mươi năm trên đời, tuy chưa đủ quá già để nói những lời triết lý, nhưng thực sự tôi là kẻ không hám danh hám lợi, chỉ thích sống thu mình trong một thế giới hoàn toàn riêng tư và cách biệt. Nếu như không có chuyện báo chí đưa tin tàu Bình Minh bị phía Trung Quốc cắt cáp – một hành đồng gây hấn đầy thách thức láo xược, để rồi từ đó tôi lần mò vào mạng, chứng kiến cuộc thảm sát chiến sĩ ta trên bãi đá Gạc Ma – thì tôi vẫn mãi sống trong cái thế giới của riêng tôi.
Chiếc xe buýt đưa chúng tôi đi lòng vòng quanh thành phố. Sau này qua nhiều sự việc, tôi mới cảm thấy có vẻ họ sợ việc bắt giữ này sẽ khiến người biểu tình tập trung với số đông để đòi người như vụ giải cứu Nguyễn Tiến Nam tại trụ sở công an phường Tràng Tiền lần trước. Từ việc nhỏ suy ra việc lớn, chuyện giữ nước của cha ông ta cũng thành công khi vua tôi đoàn kết trên dưới một lòng, thất bại khi nội bộ chia rẽ, hoặc không đủ tâm và tín để quy tụ sức mạnh toàn dân.
Khi nhận ra xe lại hướng về Mỹ Đình, mọi người đều vui mừng vì sẽ được gặp lại người trên xe trước. Trên xe, khi hô phản đối bắt người yêu nước, đả đảo Trung Quốc xâm lược, tôi chợt thấy nghẹn ngào, không hô tiếp được nữa. Bé Cải đến gần tôi, giọng miền Trung như dỗ dành rất dễ thương:
- Sao cô Bích lại khóc?
Tôi muốn nói rằng tôi khóc vì uất ức, vì thương tất cả chúng tôi. Tôi không quen nhìn thấy cảnh người với người đối xử với nhau tàn nhẫn thế. Những người già, hay phụ nữ như chúng tôi đều là những kẻ dễ bị tổn thương nhất. Chỉ một lời to tiếng cũng đủ làm chúng tôi đau lòng, cần gì phải dùng đến sức lực võ biền của những gã thanh niên chỉ đáng tuổi con tuổi cháu mình như thế.
Xuống đến đồn công an Mỹ Đình, tôi không nhìn thấy ai trong số đoàn biểu tình đứng trên sân mà chỉ toàn công an với số lượng đông bất thường. Họ đưa chúng tôi lên phòng họp tầng 2. Ngồi chán chê, họ gọi một bác lớn tuổi tên là Dần, tôi, Thạch, Dũng, Tiến Nam ra ngoài. Tưởng lại gọi đi khai báo gì đó, hóa ra họ đưa chúng tôi lên xe đưa về công an quận Hoàn Kiếm. Tôi vừa đi vào, vừa ngắm nghía nơi mà Minh Hằng đã kể cho tôi nghe, khi hắn bị bắt hôm xử phúc thẩm tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, bị đưa về đây giữ 9 tiếng rồi thả.
Khu thẩm vấn là một dãy những căn buồng nhỏ, bên trong mỗi căn buồng là một chiếc bàn gỗ, một cái ghế dài dành cho người bị bắt và một chiếc ghế tựa dành cho các “vị quan tòa”. Qua những cánh cửa mở he hé, tôi nhìn thấy Minh Hằng, Đức xoăn, Trịnh Hữu Long. Lòng tôi chợt dịu lại. Dù gì thì chúng tôi lại được ở bên nhau. Mới chỉ cùng nhau đi biểu tình chưa đến 10 lần, chưa biết gì nhiều về nhau, nhưng tôi đã kịp mến yêu và cảm phục những con người này. Họ chưa một lần lên mạng nói về bản thân mình, dù chỉ là kể chuyện đi biểu tình. Nhìn những gương mặt sáng sủa, thông minh, nhân hậu của những chàng trai trẻ, sẵn sàng từ bỏ những thú vui chơi, như hàng triệu thanh niên bây giờ vẫn đang chìm đắm trong đó, để đến mỗi buổi sáng chủ nhật, lại thể hiện hết mình sự bất bình như vốn dĩ nó phải thế trước việc dân tộc mình bị sỉ nhục, bị ức hiếp…. Cảm ơn những Đức xoăn, những Trịnh Hữu Long, Tiến Nam, Phương, Dũng và những chàng trai, cô gái yêu quý khác tôi không kể được hết tên, đã khiến tôi chưa mất hẳn niềm tin vào thế hệ trẻ hôm nay.
Trong lúc ngồi đợi ngoài hành lang, tôi nghe thấy tiếng Minh Hằng gào to bất thường trong căn buồng đầu dãy. Tôi đứng bật dậy, bảo tay công an đang canh giữ chúng tôi:
- Để tôi vào trấn an cô ấy
Có lẽ họ cũng sợ ầm ĩ nên đồng ý để tôi vào. Minh Hằng đang ngồi thở dốc, nước mắt đầm đìa. Tôi vuốt vai hắn nghẹn ngào nói:
- Mình đây, bình tĩnh, bình tĩnh, có mình đây.
Minh Hằng chợt ôm choàng lấy tôi ghì chặt như thể sợ tôi biến mất. Thế là chính tôi mới lại là người tru lên tức tưởi. Cả hai chị em chúng tôi ôm chặt lấy nhau khóc rống lên khiến bọn họ hoảng sợ tách vội chúng tôi ra. Tôi cố dặn hắn trong nước mắt:
- Bình tĩnh nhé.
***
Đêm qua thức cả đêm, từ sáng lại chưa ăn uống gì, tôi mệt rũ cả người. Họ thay phiên nhau hỏi chúng tôi ba lần, mỗi lần một người khác nhau. Thoạt đầu tôi thắc mắc tại sao họ không dùng ngay những lời khai báo ban đầu mà cứ hỏi đi hỏi lại thế. Sau thì đoán họ làm thế để kiểm tra xem chúng tôi có gian trá gì không, bởi sự thật thì có nói đến một nghìn một vạn lần cũng không thể thay đổi được.
Nhân học được chút ít kinh nghiệm trên mạng, tôi tuyên bố không ký vào biên bản ghi lời khai, không ký khi biên bản làm việc không được lập thành 2 bản để tôi được giữ một bản. Tôi nói giờ tôi chẳng thể tin được chính quyền, bởi những chuyện làm sai lệch hồ sơ của các ngành chức năng là hoàn toàn có thật, chưa nói đến việc nguyên tắc khi lập biên bản, có bao nhiêu bên tham gia thì phải lập bấy nhiêu bản. Có một điều nữa tôi nhận thấy các điều tra viên luôn có xu hướng giảm nhẹ những lời tố cáo khi họ luôn viết không đúng lời nói của tôi. Nếu tôi nói là tôi phản đối hành vi xúc phạm lá quốc kỳ của các nhân viên bảo vệ thì họ lại ghi là hành động thu giữ cờ. Tôi hỏi việc giật cờ với thu giữ cờ có giống nhau không? Lá cờ Tổ quốc là tang vật phạm tội hay sao mà phải thu giữ? Hoặc họ viết như vô tình để tôi nhận tội gây rối trật tự công cộng như họ muốn.
Tôi thật ngây thơ khi nghĩ rằng mình bộc bạch hết lòng mình thì họ sẽ hiểu mình. Thậm chí họ bảo tôi nhận thức tốt thế, chưa kịp phấn khởi thì họ lại hỏi: vậy tại sao tôi lại còn làm thế - họ tránh nói việc tôi đi biểu tình. Tôi chán hẳn, rõ ràng họ không được phép nghĩ khác, họ giống hệt như một cỗ máy, chỉ được nói theo một lập trình đã được định sẵn như là đã có đảng và nhà nước lo, là các thế lực thù địch lợi dụng v.v…bất chấp những chứng cớ tôi dẫn ra là tuyên bố của ông Nguyễn Đức Nhanh trước báo chí thừa nhận đây là biểu tình yêu nước, chối bay chối biến cái clip đạp vào mặt Chí Đức là không có thật, và im lặng khi tôi hỏi vậy tại sao đại úy Minh lại bị đình chỉ công tác.
Không một ai trong số chúng tôi đoán được họ sẽ làm gì với chúng tôi. Không nhớ từ lúc nào có thêm cậu Quyền nhập bọn với chúng tôi, cậu ấy vẫn mặc cái áo sơ mi bị xé rách tay từ vụ bị bắt lần trước. Cậu ấy bảo bây giờ mỗi lần đi biểu tình, em sẽ lại mặc cái áo này.
Thời gian cứ trôi đi, ánh nắng chiều nhạt dần rồi tối thẫm sau ô cửa sổ trên cao mà chúng tôi vẫn phải ngồi đó. Tôi quá đỗi bồn chồn lo lắng cho bố tôi, giờ này đã đến lúc cụ phải ăn cơm chiều mà tôi vẫn còn ngồi ở đây. Thức ăn thì có sẵn trong tủ lạnh, nhưng một ông già 88 tuổi làm sao biết chế biến thức ăn? Tôi hỏi một phụ nữ trẻ mặc thường phục, có ai là chỉ huy ở đây không, cốt để xin được gọi điện về nhà cho mẹ lên chăm sóc bố tôi. Người phụ nữ trẻ không nhìn tôi, lạnh lùng đáp trống không trước khi bỏ đi:
- Không biết.
Minh Hằng thấy thế bèn dẩu mỏ lên chỉ trích thái độ vô cảm và thiếu lễ độ của người phụ nữ kia. Thật bất ngờ, cô ta quay ngay lại:
- Con kia! Mày không im mồm, tao mà không là công an tao tát vỡ mồm mày bây giờ.
Nếu so về tuổi tác, cô ta có lẽ kém Minh Hằng hơn cả chục tuổi. Chả thế mà Minh Hằng bảo chỗ này nó giống như sào huyệt của mafia hơn là trụ sở công an. Tôi chẳng còn thấy bất ngờ trước những gì diễn ra ở đây nữa.
Còn nữa...

BẮC TIẾN
Ta quyết dọn con đường Bắc tiến
Để tiêu trừ mộng giặc Nam chinh
Dẹp nội thù nối giáo quân Minh
Đánh cho biết dân Nam Hào kiệt
Hồn Trưng Vương ngàn năm dũng liệt
Triệu Trinh Nương Hùng Khí muôn đời
Bùi Thị Xuân ánh mắt rạng ngời
Ỷ Lan hỡi trí tài mưu lược
Hỡi nữ sĩ hãy mau xông lướt
Diệt nội thù sau chống xâm lăng
Tiền nhân ta ngàn năm dựng nước
Đâu thiếu trang nữ kiệt Anh Hào
Nhìn non sông dạ thắt lòng đau
Gương cứu nước ngàn sau lưu lại
Cô Giang đó pháp trường Yên Bái
Tiễn người yêu lên đoạn đầu đài
Nguyễn Thái Học rạng chí làm trai
Dầu hoài bão chưa thành nghiệp cả
Nay nước nhà trong cơn nghiêng ngã
Hỡi Anh Hùng Nữ Kiệt có đớn đau
Chung nhau góp nhặt máu đào
Nước dơ ta rửa sông nào hỡi Anh ?
Không chờ giặc tràn sang ta chống đỡ
Chính thân ta chống giặc chốn Trường Sa
Hỡi ai chung phận Đàn Bà
Cùng nuôi giấc mộng sơn hà dấn thân
Quyết lòng báo đáp thâm ân
Trước ân tổ quốc sau ân đồng bào
Tay Dơ Ta Rửa Sông Hào
Nước Dơ Ta Rửa Máu Đào Ai Ơi !
Lê Chân

Những phát ngôn ấn tượng

+Tiến sĩ Võ Trí Thành:“Tiền Việt Nam rẻ đến mức chỉ thấy các cô các chị ngồi liếm mép đếm tiền chứ không cần thoa nước”
+Chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng (Nói với sinh viên thủ khoa): “Các cháu đã bước chân vào “bàn đẻ” rồi nhưng có vượt qua được hay không là cả một hành trình. Thủ khoa chưa phải người tài, các cháu phải cố gắng để thành người tài, và sau đấy thành người có tài, có đức như Bác Hồ đã dạy”
+Nhà báo Phan Văn Tú: “Tất cả mọi blogger sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được note, quyền post ảnh, video và quyền comment trong những blog khác.
Lời bất hủ ấy ghi trong chỗ nào đó không nhớ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các blogger trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, đứa nào cũng có quyền nói, quyền càm ràm và quyền tự sướng”
Gs Trần Hữu Dũng: Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh: “Chúng tôi thấy phía Trung Quốc rất vui vẻ, lắng nghe và tiếp thu ý kiến của chúng ta. Trong khi đó, đoàn Việt Nam cũng lắng nghe và tiếp thu ý kiến của phía Trung Quốc”. Trung Quốc thì “rất vui vẻ, lắng nghe và tiếp thu”, Viêt Nam thì chỉ “lắng nghe và tiếp thu”. Tại sao Việt Nam không “vui vẻ”?
Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:”…hãy nhìn ra nước ngoài để thấy rõ hơn những thành tựu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong lĩnh vực Nhân quyền.”
Ông  Lâm Minh Tấn (Trưởng phòng Giáo dục huyện Thủ Thừa- Long An ) : “Chúng tôi không phân biệt con em của cán bộ hay người lao động. Thế nhưng do chưa đủ trường lớp nên chúng tôi đành phải khống chế số lượng học sinh thuộc diện ưu tiên”
Nhà thơ Văn Công Hùng: “Có một thực tế không biết nên vui hay nên buồn, là:  Trong khi con cái bỏ bú hai ba chục năm rồi thì các ông bố không cách gì bỏ bú được. Họ vừa không muốn vừa không dám “cai sữa” vợ.

IM LẶNG ĐÁNG SỢ

 Nguyễn Văn Tuấn

Một trong những nét văn hóa trong các cơ quan công quyền ở trong nước là “văn hóa im lặng”. Giới quan chức nói chung ít khi nào trả lời email hay thắc mắc của người dân, và càng im lặng trước những văn thư của quan chức nước ngoài. Thật khó giải thích thái độ im lặng đó, nhưng vấn đề là nó (sự im lặng) có khi gây tổn hại đến quốc gia …
Cách đây vài hôm tôi nhận được email của bạn đọc (là một sinh viên) phàn nàn rằng khi em gửi email đến thầy cô xin tư vấn thì đều không nhận được trả lời. Ngược lại, em này cho biết khi gửi email đến các thầy cô ở nước ngoài thì đều nhận được trả lời, có khi trả lời rất nhanh nữa. Em này hỏi tôi tại sao có sự khác biệt về thái độ giữa thầy cô ngoại và nội như thế. Tôi còn đang suy nghĩ câu trả lời thì chợt liên tưởng đến những chuyện gần đây. Những chuyện này nói lên cái văn hóa tôi gọi là văn hóa im lặng. Văn hóa này rất phổ biến trong giới quan chức.
Hình như các quan chức trong các cơ quan công quyền có văn hóa im lặng. Các nhân sĩ gửi thư đề nghị giải thích về tuyên bố của Trung Quốc liên quan đến chuyến đi của đặc phái viên Hồ Xuân Sơn. Đáp lại sự quan tâm đó là một sự im lặng dài từ Bộ Ngoại giao. Rồi đến phần lớn các kiến nghị của nhân sĩ cũng rơi vào … không khí. Thư từ thắc mắc của người dân cũng thế: rơi vào im lặng. Có lần nói chuyện với một cựu đại biểu Quốc hội, chị gọi đó là “im lặng đáng sợ”. Đáng sợ hay không thì tôi không rõ, nhưng thái độ đó chẳng những khó hiểu mà có khi còn gây tác hại.
Tác hại thì đã xảy ra. Chúng ta còn nhớ câu chuyện Vietnam Airlines (VNA) thua kiện chỉ vì sự im lặng. Khoảng 5 năm (?) trước, tòa án Ý buộc VNA phải bồi thường cho luật sư Maurizio Liberati gần 5 tỉ lia và đồng thời thanh toán chi phí luật sư gần 60 triệu lia. Sự việc xảy ra chỉ vì VNA khinh thường tòa án, không cử người tham dự phiên tòa. VNA làm ngơ án lệnh. Sự việc dẫn đến tòa án Paris ra lệnh phong tỏa tài khoản VNA. Chẳng biết kết cục câu chuyện ra sao, nhưng đó là một bài học đắt giá cho sự xem thường luật pháp quốc tế.
Hôm qua, đọc được một tin đáng chú ý khác về tai hại nghiêm trọng của văn hóa “im lặng đáng sợ”. Tác giả Nguyễn Duy An (làm việc tại tạp chí National Geographic của Mĩ) thuật lại câu chuyện đằng sau vấn đề bản đồ Hoàng Sa làm tốn nhiều giấy mực và công sức của người Việt vào năm ngoái như sau:
“Để chuẩn bị cho mình một ít kiến thức căn bản về việc làm bản đồ ở National Geographic, tôi liên lạc với một trong những nhân viên kỳ cựu trong nhóm “Bản Đồ” để hỏi về việc “đổi tên” quần đảo Paracel Islands. Ông ấy đã cho tôi biết một chi tiết rất quan trọng là đối với những vùng đất “đang tranh chấp”, ít nhất là 10 năm một lần, những người phụ trách bản đồ khu vực đó sẽ liên lạc với các chính phủ liên quan để xem có gì thay đổi hay không, nếu hai bên vẫn còn tranh chấp thì cứ theo ấn bản cũ như trường hợp quần đảo Falkland Islands giữa Anh Quốc và Argentina. Riêng quần đảo Paracel Islands “Hoàng Sa” thì hơi đặc biệt vì từ hơn một năm trước, nhóm của ông ta cũng gởi thư xin “xác định” tới cả hai chính phủ Việt Nam và Trung Quốc, nhưng họ không hề nhận được trả lời từ Việt Nam; trong khi đó, Trung Quốc thì ngược lại, không những họ “khẳng định chủ quyền” trên quần đảo Paracel Islands mà còn chính thức mời một nhân viên đến tham quan cho biết thực hư. Ông ta bảo tôi: “Anh nghĩ xem, khi anh tận mắt chứng kiến từ phi trường tới hải cảng, từ các văn phòng hành chính đến chợ búa đều do Trung Quốc điều hành, và họ còn dẫn chứng giấy tờ để chứng minh họ là chủ thì anh nghĩ vùng đất đó thuộc về ai? Bây giờ muốn sửa lại, chúng ta cần có tiếng nói chính thức từ chính phủ Việt Nam!”
Đọc những dòng chữ trên, tôi thật sự sốc. Thật khó tưởng tượng nổi tại sao những người có trách nhiệm quá vô cảm trước một vấn đề trọng đại như thế! Với những quan chức vô cảm như thế này thì nguy cơ mất mát và thua thiệt ngoại bang sẽ còn dài dài trong tương lai.
Tôi ngạc nhiên không hiểu tại sao có văn hóa im lặng. Có lẽ không ai biết đích xác lí do tại sao các quan chức ta tiết kiệm lời lẽ, nhưng có thể nghĩ đến một số lí do sau đây:
Thứ nhất là vô cảm. Nhiều quan chức trong nước chẳng quan tâm đến chủ quyền biển đảo. Tôi đã gặp quan chức cấp tỉnh thậm chí còn chẳng biết Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam! Thật ra, cũng không trách họ vì họ thiếu thông tin. Những gì báo chí đưa tin không đầy đủ, và những gì phổ biến trong Đảng thì chưa chắc là những thông tin đa chiều. Trong bối cảnh như thế, nếu một quan chức nhận một công văn từ nước ngoài về Hoàng Sa và Trường Sa, có thể họ nghĩ đó là chuyện của … Trung Quốc.
Thứ hai là ngạo mạn và khinh thường. Nhiều quan chức Việt Nam xem người dân như cỏ rác. Thử nhìn qua các quan chức ngồi vào ghế nói chuyện với người dân thì biết. Họ chẳng thèm nhìn mặt dân. Ngôn ngữ thì quát nạt hơn là nói. Có khi còn dùng cả ngôn ngữ tay chân. Còn nhớ một ông phó bí thư (?) tát một bạt tay vào mặt bà cụ khi bà nhờ ông này mua vé. Lại có quan chức nghĩ rằng VN có luật của VN, nên bất chấp luật quốc tế. Có lẽ chính vì suy nghĩ này mà VNA phớt lờ tòa án Ý và phải lãnh đủ hậu quả.
Thứ ba là văn hóa làm thuê. Người làm thuê chỉ nghĩ đơn giản làm cho xong việc và việc đáng với đồng lương. Một suy nghĩ rất phổ biến trong giới quan chức là trả lương đến đó thì làm việc đến đó. Họ không suy nghĩ gì ngoài chuyện cơm áo gạo tiền. Họ không cần phấn đấu (mà phấn đấu có khi lại nguy hiểm vì bị đồng nghiệp dèm pha) và chỉ làm việc như cái máy, cứ như đến hẹn lại lên. Tôi gọi đó là văn hóa làm thuê, và kẻ làm thuê thì chẳng cần quan tâm đến chuyện công chúng, vì đối với họ đất nước này ai quản lí chẳng thành vấn đề; vấn đề là có cơm ăn áo mặt cái đã. Đối với những quan chức loại này thì không mong gì họ có lòng với quê cha đất tổ và sự im lặng của họ hoàn toàn có thể hiểu được.
Thứ tư là do sợ trách nhiệm. Trong bối cảnh chức vụ đi đôi đặc quyền và đặc lợi, thì có thể hiểu được các quan chức cần bảo vệ chức vụ của mình. Một cách an toàn là không phát biểu gì đụng chạm, hay tốt hơn nữa là … im lặng. Đó là chưa kể tình trạng chồng chéo về trách nhiệm và quyền lực. Một cơ quan có thủ trưởng nhưng cũng có bí thư. Nếu hai người này là một thì thủ tục còn tin giản, nhưng nếu là hai người khác nhau thì có khi cũng phiền phức. Nếu một quan chức muốn phát biểu họ phải xin phép cấp trên, và cấp trên lại xin phép cấp trên, cấp trên xin phép Đảng ủy, và cứ như thế chẳng ai dám nói gì.
Thứ năm là đá bóng. Nhìn qua cách hành xử của các cơ quan công quyền, họ có xu hướng “đá bóng”. Người này tìm cách biện minh không nằm trong quyền hạn hay trách nhiệm của mình, rồi đề nghị qua người khác; người khác cũng có lí do để nói không thuộc trách nhiệm của mình. Nhất là vấn đề liên quan với nước ngoài, người ta càng dè dặt, dè dặt đến nổi cuối cùng chẳng ai có động thái gì.
Lại có một loại quan chức nghĩ chuyện quốc gia đại sự là chuyện của lãnh đạo, để cho lãnh đạo giải quyết. Còn lãnh đạo thì nghĩ đó là chuyện của lãnh đạo cấp cao hơn. Cuối cùng thì chẳng có ai hành động. Thay vì hành động thực tế thì Việt Nam có những đề nghị và chỉ thị (rất nhiều chỉ thị). Mà khi đã có hàng tá đề nghị lên và chỉ thị xuống thì sự việc coi như “đã rồi”, chẳng còn cứu vãn được tình thế.
Thứ sáu là vấn đề tiếng Anh. Phải ghi nhận rằng các quan chức rất kém tiếng Anh. Do đó, đứng trước một văn bản tiếng Anh, họ không hiểu, hoặc hiểu nhưng không tốt lắm, và ngay cả hiểu nhưng không biết cách soạn thảo một văn thư trả lời. Ngay cả quan chức Bộ Ngoại giao cũng hạn chế tiếng Anh thì khó trách các bộ và ngành khác. Từ hạn chế về tiếng Anh dẫn đến thiếu tự tin, và hệ quả là … im lặng.
Dù là vô cảm, ngạo mạn, vô trách nhiệm, đá bóng, hay tiếng Anh (hay bất kể lí do gì) thì văn hóa im lặng đáng sợ là không thể chấp nhận được. Ngày nào cái văn hóa đó còn tồn tại thì ngày đó hệ thống hành chính chưa văn minh, người dân vẫn còn khổ, và chủ quyền quốc gia còn bị đe doạ. Người ta có thể cười đùa với quan chức im lặng, nhưng im lặng trước vấn đề chủ quyền tổ quốc bị xâm phạm là một sự phản bội (và người đó không xứng đáng làm người Việt) chứ không phải chuyện đùa được.

LÒNG TỰ TRỌNG VÀ CÁI PHONG BÌ

Nguyễn Thị Từ Huy, theo BVN
Lòng tự trọng là gì ? Nói một cách đơn giản, nó được hiểu như là sự tôn kính đối với tâm hồn mình. Lòng tự trọng có được nhờ ý thức về phẩm giá của bản thân, ý thức về sự trung thực, sự thanh khiết, ý thức về những phẩm chất căn bản, những phẩm chất làm nên bản thể trong tầng sâu nhất của nó. Lòng tự trọng xác lập trên sự trùng hợp giữa lời nói và hành động. Lòng tự trọng thúc đẩy các hành động cho phép thể hiện các giá trị riêng của mình, cho phép thể hiện niềm tin của bản thân. Đồng thời lòng tự trọng được xây dựng trên sức mạnh chứ không phải trên sự yếu đuối.
Như vậy, lòng tự trọng thuộc về cái mà ta gọi là tâm hồn. Tâm hồn có thức ăn riêng của nó. Và đương nhiên thức ăn đó không có gì chung với cái phong bì. Một khi tâm hồn cũng được nuôi bằng phong bì, thử hỏi cái gì chờ đợi nó, nếu không phải là cái chết của chính nó?Từ «phong bì» hiện nay đã trở nên phổ biến đến mức không cần phải giải thích thì tất cả mọi người cũng đều hiểu đấy là loại phong bì nào. Đương nhiên đấy không phải là phong bì đựng thư. Nội dung chứa đựng trong cái phong bì ấy là thứ cho phép nó có thể mua được cái mà người đưa phong bì muốn. Nếu cần thiết phải có một sự phân biệt, thì có thể để sang một bên thứ phong bì dùng để chi trả công lao động. Hiện nay trong thời đại phát triển của công nghệ ngân hàng, nên chăng tất cả mọi khoản thù lao cho lao động được trả thẳng vào tài khoản cá nhân, để tránh sự nhập nhằng do cái hình thức phong bì gây nên. Tuy nhiên, trong thực tế, tất cả đều biết là không hề có sự nhập nhằng nào cả, tất cả đều biết rõ cái nghĩa thông dụng hiện nay của từ «phong bì».
Nếu cơ thể vật lý của con người được nuôi bằng thuốc trừ sâu, thuốc tăng trọng (dù gián tiếp qua thịt động vật hay rau quả), thuốc bảo quản… thì cái gì sẽ chờ đợi nó? Chúng ta vẫn mong có những thống kê của ngành y tế để biết được hiện nay tỉ lệ những người mắc bệnh ung thư và chết vì bệnh ung thư hàng năm là bao nhiêu. Cũng chờ đợi những phân tích chính xác và hữu ích về các nguyên nhân gây bệnh ung thư. Chúng ta chờ đợi những kiểm định khắt khe về những thực phẩm có khả năng gây bệnh, những gì có thể giúp người dân chúng ta phòng ngừa bệnh tật một cách hiệu quả, chứ không phải để nó xảy ra rồi chống đỡ nó một cách tuyệt vọng. Mong muốn đó hoàn toàn chính đáng, nhưng một người dân bình thường không biết tìm đâu những số liệu đó, không biết làm cách nào để có thể tin chắc rằng mình đã lựa chọn cho bữa ăn hàng ngày của mình những thực phẩm an toàn. Và rốt cuộc, bệnh ung thư ngày càng phát triển.
Nhưng điều mà ta không ngờ nhất, điều khó tin nhất, đó là: bệnh ung thư của cơ thể vật lý hiện nay đang trở nên trầm trọng trên diện rộng chính là hậu quả của căn bệnh ung thư tâm hồn. Hãy thử giải thích mối liên quan này để thấy rằng nếu trong mỗi con người, cơ thể và tâm hồn không thể tách rời, thì trong một xã hội sự phát triển và an sinh xã hội không thể tách rời khỏi nền tảng đạo đức của nó.
Nguyên do của bệnh ung thư về tâm hồn có nhiều, nhưng bài viết ngắn này chỉ tập trung vào một nguyên nhân mà thôi: cái phong bì.
Cái phong bì có thể biến những thực phẩm độc hại thành ra thực phẩm an toàn. Tại sao chứng chỉ về vệ sinh an toàn thực phẩm lại có thể được cấp cho các doanh nghiệp sản xuất không tuân thủ các yêu cầu nghiêm ngặt về kỹ thuật chế biến ? Đương nhiên đó là nhờ cái phong bì. Một cái phong bì bỏ ra để mua chứng chỉ ấy dù nặng thì vẫn còn đỡ phức tạp và đỡ tốn kém hơn là phải cố gắng để thực hiện những quy trình phức tạp của công nghệ thực phẩm. Khi quá trình chuyển giao chứng chỉ được thực hiện trên dây chuyền phong bì như thế này, lòng tự trọng của người đưa phong bì và của người nhận phong bì đương nhiên đều đã bị biến dạng thành một thứ tế bào độc hại. Thứ tế bào độc hại này nhanh chóng phát triển thành bệnh ung thư tâm hồn và thức ăn duy nhất của nó là tiền. Người đưa phong bì vì muốn có nhiều tiền hơn mà không phải vất vả. Người nhận phong bì vì muốn có tiền mà không phải làm gì cả. Đối với cả hai bên, sự trung thực, sự tôn trọng đối với tâm hồn của chính họ, niềm tin vào hành động của họ, giá trị sống của họ, phẩm chất của họ… tất cả đều bị gói vào trong chiếc phong bì. Nói cách khác, tất cả những thứ đó đều bị chết dưới áp lực của phong bì, của cái thứ được đựng trong phong bì.
Điều nguy hiểm là căn bệnh ung thư tâm hồn không chỉ gây tác hại đối với hai đối tượng cụ thể cho và nhận phong bì trong trường hợp này, mà nó còn khiến cho hàng bao nhiêu triệu người tiêu dùng có nguy cơ mắc bệnh ung thư thực thể. Bởi vì một cái chứng chỉ dởm sẽ cho phép các chất độc hại trong thực phẩm đi vào cơ thể của hàng triệu người tiêu dùng tin tưởng vào nó.
Một khi ta để cho mầm bệnh ung thư phát triển trong chính tâm hồn mình, trong chính con người mình thì việc người khác bị bệnh ung thư hay không, không còn là vấn đề nữa. Nghịch lí này có thể đã trở thành chuyện thường ngày ở huyện : trong số các bác sĩ chữa bệnh ung thư cho bệnh nhân, có những bác sĩ bị bệnh ung thư tâm hồn trầm trọng, vì họ thẳng tay nhận phong bì của bệnh nhân mà đôi khi trong thực tế họ không giúp gì được cho bệnh nhân cả, vì có những trường hợp bệnh đã ở giai đoạn cuối, và cứu chữa chỉ là đưa lại một ảo tưởng cho bệnh nhân để giúp họ vững vàng hơn về mặt tinh thần mà thôi, vậy mà có những bác sĩ đã thu phong bì cả trên những ảo tưởng này.
Cái phong bì có thể còn nguy hiểm hơn chúng ta có thể hình dung. Nó giống như một thứ virus có khả năng lây lan theo tốc độ internet, và đến khi mà mọi thứ đều giải quyết bằng phong bì thì lòng tự trọng sẽ chỉ còn là một hoài niệm của quá khứ. Một sinh viên năm thứ ba ở khoa Văn của một trường đại học đã viết trong một bài kiểm tra giữa kỳ như thế này: «Khi mà tất cả học sinh trong một lớp học đi phong bì cô giáo, còn một học sinh không đi, thì cái gì là phi lí và cái gì là có lí ở đây?». Quan hệ thầy trò ở đây thành ra là một quan hệ mua bán. Trong mối quan hệ mua bán này, lòng tự trọng của cả thầy lẫn trò đều bị triệt tiêu. Lòng tự trọng như vậy đã chết ngay từ thưở thiếu thời, phần đời còn lại cả thế hệ học sinh ấy sẽ sống trong căn bệnh ung thư về tâm hồn.
Cái phong bì liệu có tiếp tục phát huy tác dụng đến mức người ta có thể mua bán được tất cả mọi thứ? Điểm giới hạn sẽ là ở đâu?
Để trả lời câu hỏi này, tôi đưa ra một hình dung mang tính giả tưởng, hy vọng chỉ là giả tưởng mà thôi:
Mỗi một cá nhân là một thành tố cấu thành nên cộng đồng, cấu thành nên dân tộc, quốc gia. Khi mỗi một cá nhân đánh mất các nền tảng riêng của mình, đánh mất sự tôn trọng đối với bản thân mình, đánh mất sức mạnh giúp họ tự xác lập như một bản thể cá biệt với các giá trị mà họ có thể hãnh diện tự hào, thì cái dân tộc mà họ tạo nên cũng sẽ đánh mất tất cả những thứ đó. Một khi các giá trị của bản thân bị quy thành tiền, thì các giá trị của quốc gia rất có thể cũng bị quy thành tiền. Trong trường hợp này, có thể giả định (hãy nhớ rằng đây chỉ là giả định) một tương lai không mấy vui vẻ: nếu ta có thể để mất mọi thứ thuộc về tâm hồn mà không cần phải băn khoăn, miễn là có tiền,  thì ta cũng có thể để mất những thứ khác, kể cả cái gọi là đất nước. Vì đất nước là một giá trị chỉ khi nó được cảm nhận và đánh giá bằng tâm hồn ; còn khi nó nằm trong hệ quy chiếu của phong bì, khi giá trị của đất nước được đồng nhất với túi tiền cá nhân, khi không còn tâm hồn để cảm nhận về đất nước nữa, thì có nó hay mất nó, có thể cũng không quan trọng nữa.
Khi nào ta có thể tự cho phép mình làm những chuyện đồi bại, bất chấp dư luận, bất chấp đạo lý, bất chấp truyền thống, bất chấp luật pháp? Khi nào thì những quyết định có ảnh hưởng trầm trọng đến tương lai của dân tộc được đưa ra một cách dễ dàng và được chấp nhận một cách dễ dàng?  Khi nào ta có thể nhìn từng mảnh của giang sơn bị lấy đi mà không tiến hành các giải pháp hữu hiệu để bảo vệ? Tất cả những điều đó có thể xảy ra khi cảm giác xấu hổ, cảm giác nhục nhã không còn nữa; khi những cái phong bì làm tê liệt các dây thần kinh xấu hổ,  giết chết ý thức về sự nhục nhã, tức là tiêu diệt lòng tự trọng.
Marquez, trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của mình, đã cho ta thấy sự cô đơn và loạn luân có khả năng xoá bỏ cả một cộng đồng như thế nào. Cái phong bì còn vận hành với sức mạnh hiện tại liệu nó có thể đi tới chỗ xoá bỏ cả một đất nước không ? Chưa biết trong bao nhiêu năm, nhưng cũng có thể lắm chứ, nếu như không còn lòng tự trọng cá nhân và không còn lòng tự trọng quốc gia.
Cái phong bì thực chất là vấn đề miếng ăn. Chẳng lẽ lại để cho quốc gia tiêu vong chỉ vì miếng ăn?  Xin hiểu cho, đây là câu hỏi được cất lên từ lòng tự trọng.
Liệu những chiếc phong bì có thể hủy hoại cả một quốc gia?
Hà Nội, 18/11/2009
N.T.T.H.

4/9/11

HOẢ LÒ: Đàn Bò Sữa

http://baovecovang.wordpress.com/2009/12/03/ho%E1%BA%A3-lo-dan-bo-s%E1%BB%AFa/


Đàn Bò Sữa

Mới chín giờ sáng, nắng đã gắt. Lại một ngày nóng dữ. Hàng chục nữ tù nhân đổ năm bao tải chặt cứng những túi ni-lông ra cạnh bể nước trước phòng. Đó là những túi ni-lông gia đình các phạm nhân đựng quà gửi vào. Họ rửa sạch sẽ từng túi một, rải ra phơi khắp sân. Ngoài khoản ni-lông, còn có khoản dép nhựa. Tù ở các buồng chung phải đi chân đất. Giầy dép thu, vất vào kho. Ban giám thị Hỏa-Lò đem bán hai khoản này. Tiền thu được, mua lợn, nuôi cạnh nhà bếp. Bọn cấp dưỡng có trách nhiệm phải nuôi chúng bằng cơm tù, rau tù. Trong chuồng, lúc nào cũng ủn ỉn bảy, tám “ông ỷ” béo nục nịch. Thỉnh thoảng, quản giáo, công an võ trang lại thịt một “ông”, liên hoan. Tù không được một miếng. Mùa hè, sân gạch nóng bỏng. Tù không giầy dép, ngồi ăn quà, ăn cơm, chân dát rộp. Mùa đông, sân gạch lạnh ngắt, chân buốt giá, tê tím, như kim châm.

Chẳng mấy khi được ngồi ngoài hiên thoáng đãng, cạnh bể nước. Tha hồ vốc nước lên mặt, lên cánh tay, cho nó mát da, mát thịt. Các ả vừa thủng thẳng làm, vừa chuyện trò:

- Thằng bé tội quá. Gầy còm, ghẻ lở đầy mình.

- Hôm mới vào, trông nó kháu khỉnh. Cái mồm lúc nào cũng toe toét cười.

- Nó giống mẹ nó nhỉ. Tao cũng ước có một đứa con.

- Có con, để mày mang đầy nó vào tù với mày!

- Khổ thân thằng bé, mới có mười tháng đã là tù nhân rồi!

- Mẹ nó không có sữa nuôi nó.

- Ăn uống thế, mà đòi có sữa!

- Không ai có sữa hộp để cho nó.

- Dạo này, nó ốm, khóc quấy quá.

- Bố nó đi chiến đấu ở Căm-pu-chia, bị mìn chết. Mẹ nó chỉ có một bà chị. Bà này nghèo dớt mồng tơi, lại đông con, không dám nhận nuôi nó.

- Gia đình bố nó ở tận Quảng-Bình. Nghe đâu cũng đói lắm. Đường xá xa xôi. Tiền đâu tầu xe mà ra tận Hà-Nội đón nó về.

- Kể nó cũng liều. Là giáo viên, mà dám đem cả “Nghĩa vụ quốc tế” của Đảng ra chửi. Bị bắt là phải.

- Liều cái gì? Được tin chồng chết, nó đau khổ quá, hoá điên, mới làm vậy. Nó bảo vợ chồng nó yêu nhau lắm.

Tiếng mụ quản giáo, the thé:

- Mấy con đượi, nhanh tay lên, rồi vào. Đừng có lợi dụng ngồi mát, tán hươu, tán vượn với nhau. Bận sau, để những đứa khác làm. Không khiến chúng bay nữa. Có tí ni-lông, mà dềnh dàng, từ sáng đến giờ chưa xong. Quen thói nằm ngửa, ăn sẵn.

Các ả vội vã nhanh tay. Một lúc sau, xong việc, kéo nhau vào.

Đương ở ngoài, bước vào phòng như bước vào lò hấp. Phòng nữ tuy không quá đông như các phòng nam, nhưng cũng chật ních. Mùi cầu tiêu, mùi mồ hôi, mùi máu mủ ghẻ lở, lậu, giang mai, kinh nguyệt, quện vào nhau, lan tỏa. Tệ hơn phòng nam. Các ả đói meo, gầy teo, da dẻ nhăn nheo, ghét bẩn, đầu tóc bù xù. Những đường cong tuyệt mỹ trở thành những đường thẳng khẳng khiu. Không thể gọi là phái đẹp được nữa. Trừ những mụ tự giác, những mụ tham ô, buôn bán, và dăm bảy “nữ quái” trấn lột được của người khác mà ăn, là còn có da, có thịt.

Buổi chiều, đếm tù xong, mụ quản giáo khóa phòng lại. Trong phòng, gần hai trăm ả, kẻ cởi quần, kẻ cởi áo, nằm, ngồi ngổn ngang, lấy những miếng giẻ con, thấm máu mủ, ghẻ lở cho nhau. Mấy mụ tự giác, mấy nữ quái, phanh ngực, ngồi ở đầu phòng, gần cửa, chuyện trò.

Mụ trưởng phòng đã ngoài bốn mươi, nhưng vóc dáng thanh mảnh, trông còn tươi mát, bế đứa nhỏ trong tay, nựng:

- Cô thương cháu quá. Tí hon thế này, mà đã tù. Chỉ tại mẹ cháu trẻ người non dạ, ăn nói dại dột. Ngoan nào! Cô sẽ kiếm sữa cho cháu. Cười đi! Khổ thân cháu tôi quá. Ăn toàn cháo loãng. Mẹ nó có còn đường không? Cô giáo đừng ăn của con đấy nhé.

- Cảm ơn các chị thương cháu, cho nó. Em đâu nỡ ăn của con. Đường còn đủ nó ăn vài hôm nữa. Cháu nó ghẻ lở quá. Lại sốt. Em lo lắm. Ông y sĩ cho uống át-pi-rin, nó cứ ọe ra. Thuốc bôi ghẻ, thì đợi mãi chưa có. Nó quấy suốt đêm, không chịu ngủ. Gầy xọp đi. Không hiểu mẹ con em kiếp trước phạm tội gì, mà trời đầy đọa đến thế này. Bố nó bỏ mạng xứ người. Mẹ con em thì vào tù đã năm tháng rồi.

Nói xong, cô giáo ôm mặt, nức nở.

Mụ trưởng phòng an ủi:

- Đừng khóc nữa. Sẽ được về thôi. Trên thế nào cũng xét, chiếu cố cho mẹ con em. Em thật là dại. Bao nhiêu người chồng chết, con chết. Có ai dám cả gan chửi như em đâu. Em phải làm đơn, nhận hết khuyết điểm. Xin Đảng khoan hồng cho mẹ con em.

- Em đã nhận hết tội lỗi. Làm hai lá đơn rồi. Có thấy gì đâu. Thực ra, em không chửi. Em chỉ kêu khóc là “nghĩa vụ quốc tế” đã giết chồng em. Thế rồi, bị bắt ngay.

- Giữa trường học, mà kêu thế, ảnh hưởng lắm. Em phải thấy tội em nghiêm trọng.

Một nữ quái trẻ măng, thân hình thon thả, mặt trái xoan, mũi dọc dừa, da trắng mịn, đôi mắt to, đen láy, bĩu môi:

- Nói một câu như thế, mà cũng bỏ tù mẹ con người ta! Em cũng vậy. Có làm hại gì tới chế độ đâu, mà cũng bắt bớ. Em ngủ với bọn sứ quán Tây phương, thì việc gì tới Đảng? Em không có sức đi công trường đắp đường, gánh đá. Em kiếm tiền theo lối của em. Thuận mua, vừa bán. Có ăn trộm, ăn cắp của ai đâu.

- Mày là “phò tây” còn kiếm ra tiền. Bọn tao, ngày đi lao động, tối đi “kiếm thêm”, vẫn chưa đủ tiêu. Thế mà cũng tù ra, tù vào. Có lần, gặp thằng đểu. Nó đèo tao ra tận ngoại thành. Đã chơi quỵt thì chớ. Nó còn lấy cả quần, phóng xe đi mất. Lần ấy, may gặp một bác già cứu. Bác cho tao cái quần của bác, mặc quần đùi, đèo tao trở về. Tao nhớ ơn suốt đời. Tiếc rằng không gặp lại được bác ấy.

- Mày tưởng “phò tây” không nguy hiểm à? Mỗi lần ra vào sứ quán, tao phải nằm phục xuống sàn xe. Lần này, vừa ra khỏi xe, xuống đường, là bị “chôm” ngay. Còn bị nghi là gián điệp nữa!

Mụ trưởng phòng thở dài, nhớ lại thời xa xưa:

- Nói thực với các em, chị cũng tiếp Tây nhiều lắm. Chúng nó sang trọng, lịch sự. Cho chị nào tiền, nào ra-đi-ô, đồng hồ, xe đạp. Chị sống như một bà hoàng. Chị không phải lén lút như các em bây giờ đâu. Hồi đó, chị ở Hải-phòng. Bố Mẹ chị bán thuốc tây. Chị được ăn học. Nói tiếng Pháp khá trôi chảy. Chị tích cực hoạt động nên được kết nạp vào Đoàn. Chị được điều sang làm việc ở khách sạn Bắc-Kinh, gần ngang cầu Hạ-Lý. Đó là nơi các đồng chí chuyên gia y tế Tiệp-Khắc ở. Trước khi nhận công tác, chị được gặp một đồng chí trong Ban Bí-Thư thành-ủy, căn dặn là phải phục vụ các đồng chí chuyên gia hết mình. Đồng chí đó giơ ngón tay lên, nhấn mạnh: “Nhớ rằng phục vụ vô điều kiện. Thỏa mãn mọi yêu cầu của các bạn Tiệp. Chắc cháu hiểu chú muốn nói gì? Đây là công tác cách mạng. Đòi hỏi phải hy sinh. Bao đồng chí đã hy sinh cả cuộc sống cho cách mạng cơ mà. Nhiệm vụ của cháu rất vẻ vang”. Nhìn thấy người Tiệp họ ăn uống, mà thương cho các cán bộ của mình. Các loại thịt, các loại hải sản, thừa mứa. Bữa nào cũng phải đổ đi. Mứt sen mình biếu, họ chê ngọt, đổ đầy thùng rác. Cán bộ mình ăn có 18 đồng một tháng. Họ ăn những 180 đồng. Lại hưởng giá cung cấp, rẻ thối. Hoa quả, đồ hộp, bia rượu, không tính. Lương bác sĩ của họ hai nghìn đồng. Lương đầu bếp, sáu trăm đồng. Trong khi lương bác sĩ mình có sáu mươi đồng. Đầu tiên, chị tưởng có mình chị được giao trách nhiệm đó. Sau, chị mới biết có nhiều cô trẻ đẹp cũng làm như chị. Họ không làm việc ở khách sạn. Họ chỉ được ô-tô đưa tới vào buổi tối, hoặc buổi trưa. Tùy theo yêu cầu. Cô nào, cô ấy áo dài tha thướt, nước hoa thơm ngát. Trong đời phục vụ cách mạng của chị, chỉ có giai đoạn đó là vinh quang nhất. Mấy năm sau, chị được kết nạp vào Đảng. Được Đảng giới thiệu, cho lấy chồng. Lần này, bị tù, chỉ vì tham ô hai mươi tấn gạo. Nhân viên của chị ngồi bán hàng, đứa nào cũng giầu. Chúng nó ăn cò con, năng nhặt, chặt bị. Chẳng ai bắt được cả. Tiêu chuẩn nhân dân mười cân một tháng. Chúng cân cho chín cân rưỡi. Mỗi ngày, bán ra bao nhiêu là tấn gạo. Chúng kiếm vô số. Có điều, chúng phải biếu xén đủ mặt.

Nữ quái bất bình:

- Chị cũng làm như em, thì chị được coi là làm nhiệm vụ vẻ vang, được kết nạp vào Đảng. Em thì bị bêu rếu, bị bắt bỏ tù. Chẳng còn trời đất nào cả!

- Chị làm theo lệnh của Đảng. Còn em, là tự ý em. Khác nhau là ở chỗ đó. Nhưng thôi, chúng ta hãy tìm cách kiếm sữa cho thằng bé này.

Mụ đu đưa thằng bé, nựng:

- Khổ thân cháu cô. Còm quá! Thương quá!

- Ai mà chẳng thương. Nhưng những người có tiếp tế, không ai có sữa. Biết làm thế nào?

Nữ quái hớn hở:

- Em đã có cách. Tụi công an đi tuần ban đêm, biết chúng ta mùa hè không mặc quần áo. Chúng thường trèo lên chỗ song sắt trên cao nhòm vào. Thèm ứ tới tận họng. Tại sao chúng ta không giở nghề ra, kiếm sữa cho thằng cháu? Đêm, em sẽ ra đứng ở cửa dụ chúng. Thằng nào muốn đụng vào người em, em bắt phải đưa hai hộp sữa. Lão chánh giám thị ra lệnh bắt phải mặc quần áo. Làm như nghiêm lắm! Nhưng chính em, một lần đi tiểu ban đêm, nhìn thấy nó trèo lên, nhìn vào. Một hôm, em đi cung về, mắt lão hấp ha, hấp háy, vờ vẫn hỏi chuyện, còn giáo dục em. Mồm sặc hơi rượu.

- Lão ta đứt mạch máu não, chết hơn một tuần rồi. Lão đã trắng trợn tán tỉnh chị mấy lần. Đàn ông toàn một ruộc cả. Sáng kiến em hay đó. Bắt đầu ngay đêm nay đi.

Cô giáo nhìn nữ quái, ngập ngừng:

- Chị cảm ơn lòng tốt của em. Không ngờ em thương cháu đến như vậy. Nhưng chị không muốn em gặp phiền phức. Lộ chuyện, em có thể bị cùm.

Nữ quái cong cớn:

- Vì thằng bé, cùm, em cũng không sợ. Phục vụ nó còn tốt hơn phục vụ cách mạng!

Mụ trưởng phòng cười:

- Em nói xỏ xiên chị. Nhưng em nói đúng. Chị không giận. Nhớ phải thành công. Thận trọng một chút.

Đêm đó nữ quái ngồi ngay ở cửa. Cả phòng đã ngủ. Muỗi vo vo từng đàn, tha hồ hút máu trên tấm thảm người trần trụi, nham nhở ghẻ lở. Những tiếng mê sảng, thảng thốt, thỉnh thoảng bật ra, ú ớ, nức nở. Nghe tiếng giầy, nữ quái gục đầu xuống đùi gối.

- Đêm hôm không ngủ, ngồi ở đây làm gì?

Ả ngẩng đầu lên, cười:

- Báo cáo cán bộ, nóng quá, em không ngủ được. Ngồi đây cho thoáng một chút. Phòng bí quá.

Ả đứng lên. Chiếc áo không cài khuy tự động phanh ra. Hai tên công an không rời mắt khỏi hai trái tuyết lê chắc nịch, núm hồng hấp dẫn.

- Em có chuyện muốn báo cáo riêng với một trong hai cán bộ.

Một tên đưa mắt nhìn tên bạn, nói:

- Cậu ra ngoài canh.

Tên kia đi khỏi. Ả nói ngay, nũng nịu:

- Mấy hôm nay không có cơm. Em không ăn được bo bo. Em bị đau ngực lắm. Em muốn xin cán bộ hai hộp sữa.

Tên võ trang, giọng nhân đức:

- Phải cố mà ăn, giữ sức khỏe chứ. Được, ba giờ đêm mai, tôi sẽ cho sữa. Đau thế nào? Tù mà ốm đau là khổ lắm.

- Cảm ơn cán bộ. Em đau ở chỗ này. Nhức lắm.

Ả chỉ tay vào ngực. Tên võ trang thò ngay tay vào, mân mê.

Ả để yên khoảng một phút, rồi lùi lại:

- Thôi, em đi ngủ. Đêm mai, em đợi cán bộ. Nhớ cho em hai hộp sữa. Em sẽ đền bù lại thỏa đáng.

Ả đi vào.Tên võ trang đứng tần ngần một lúc, rồi bỏ đi.

Sáng hôm sau, như thường lệ, gã nhà bếp tới lấy thùng nước đặt ngoài cửa mang đi.

Mụ trưởng phòng gọi lại:

- Anh bạn cấp dưỡng, tôi muốn nhờ anh một việc.

Gã nhà bếp dừng lại, nhìn quanh, vẻ e ngại:

- Có việc gì, nói nhanh lên.

- Phòng tôi có một cháu bé mới mười tháng. Nó không ăn được. Chúng tôi có kẹo, bánh. Anh đổi dùm cho một hộp sữa để nó uống. Nếu có thể, anh kiếm cho ít kháng sinh. Nó sốt cao mấy hôm rồi. Ông y sĩ bảo trại hết thuốc kháng sinh, phải đợi. Anh làm phúc giúp hộ.

- Được, tôi sẽ cố.

Gã xách thùng về nhà bếp, nghĩ ngợi. Cánh nhà bếp thường được ông quản giáo phụ trách dẫn ra phố mua bán. Kiếm hộp sữa, không có gì là khó. Nhưng nội quy cấm ngặt việc liên lạc với các phòng. Mồm đàn bà bép xép. Lộ ra thì bị tống đi trại lập tức. Vợ gã phải mất mười cây vàng mới mua được chân làm bếp ở Hỏa-Lò. Gã cũng muốn giúp thằng bé. Nhưng bản thân gã quan trọng hơn nhiều. Không thể làm liều được. Còn chuyện thuốc kháng sinh, thì gã đã có sẵn. Ông y sĩ mới đưa cho gã ba chục viên tétra, dặn gã nghiền ra, rắc lên chỗ mông con lợn bị chuột gậm. Con lợn này béo quá, không đi đứng được. Cứ nằm ềnh ra. Ban đêm, chuột tới gậm mông ăn. Nhà bếp đã phải cấp tốc đan chiếc lồng bàn tre, úp lên nó. Cho thuốc thằng bé uống, nhỡ nó làm sao, thì đại họa. Thôi, việc thiên hạ, không nên bận tâm tới.

Đêm hôm đó, trước giờ hẹn, nữ quái đã đợi sẵn.

Tên võ trang hôm qua mò tới, cười nhăn nhở:

- Anh bận quá, chưa có thì giờ ra phố. Hẹn em đêm mai, khoảng một giờ. Tuy không phải phiên tuần tra của anh, nhưng vì em, anh sẽ mang sữa tới. Cho anh xem chỗ đau của em đi.

Nữ quái ức lắm, định chửi. Nhưng cố kìm lại. Vì hy vọng có hai hộp sữa đêm mai, ả chiều lòng, cho hắn mân mê một phút. Hắn hăng máu, đưa tay xuống phía dưới.

Ả lùi lại, nói nhỏ:

- Trong phòng có người vừa dậy. Hẹn anh tối mai.

Rồi đi vào, mặc tên võ trang đứng đờ đẫn ngoài song sắt.

Nữ quái về chỗ nằm, uất ức, mặt bừng bừng.

Mấy cô bạn nằm cạnh thì thào hỏi:

- Thế nào? Thất bại à?

- Gặp phải thằng bọ, chỉ muốn gỡ gạc, không muốn chi, phải không?

- Phải có cách nào chứ? Chẳng lẽ chịu lỗ với nó sao?

Nữ quái thì thầm, bàn tán kế hoạch tác chiến với mấy cô bạn. Tất cả đồng tình, quyết tâm phải làm bằng được. Phải thu hoạch lớn là đằng khác.

Sáng dậy, thấy không có sữa, mụ trưởng phòng than thở với nữ quái:

- Chị đã nhờ thằng nhà bếp. Nhưng nó sợ, không dám giúp. Em thì đã mất công toi hai đêm. Thôi, để chị xin phép bà quản giáo viết thư về gia đình. Chồng chị sẽ gửi sữa cho chị. Nhưng sớm nhất là tận cuối tháng mới có.

Nữ quái tươi cười:

- Chị cứ an tâm. Em hứa với chị đêm mai là có sữa. Có thể đêm nay đã có, không biết chừng.

Gần một giờ đêm, nữ quái đợi ở cửa. Ả đã mất hai đêm công cốc rồi, nên hận lắm. Ả nhất định không chịu thất bại. Gặp thằng đểu, ả phải đểu hơn. Vỏ quít dầy phải có móng tay nhọn.

Tên võ trang cay cú lại mò tới, tay không.

Ả đon đả:

- Em nhớ anh quá. Chỉ sợ anh không đến. Em đâu có phải vì hai hộp sữa, để em bỏ cả ngủ, chờ anh. Chỗ đau của em đã đỡ rồi. Nhờ anh xoa hộ lần này nữa là khỏi.

Tên võ trang vui mừng:

- Nếu em thật lòng yêu anh. Khi ra tù, chúng ta sẽ cưới nhau.

Hắn thò tay qua song sắt, say sưa xoa bóp. Hai tay nữ quái giữ chặt cánh tay hắn. Một cô bạn nấp sẵn ở bên tường nhẩy tới, nhanh như cắt, tháo chiếc đồng hồ đeo tay của hắn. Đó là nghề chuyên môn của ả. Tất cả diễn ra chớp nhoáng vài giây.

Nữ quái vểu mỏ, nói vào cái mặt nghệt ra của tên võ trang:

- Đồ bọ chó! Mỗi lần hai hộp. Đúng 11 giờ tối mai, mà không mang sáu hộp sữa tới, bà sẽ mang cái đồng hồ Seiko này báo cáo với Ban Giám-Thị. Bà không dọa mày đâu. Đúng 11 giờ, bà không thức đợi được!

Nói xong, ả bỏ vào phòng, không thèm nghe hắn ấp úng xin xỏ.

Sau khi nhận đủ sáu hộp sữa, giả lại đồng hồ cho tên võ trang, nữ quái đưa tất cả cho mụ trưởng phòng, vẻ đắc thắng:

- Chị giữ lấy. Mỗi ngày pha cho cháu nhỏ nửa hộp. Hết, em lại kiếm “con bò sữa” khác.

Mụ trưởng phòng thán phục:

- Công nhận em có bản lĩnh. Mưu kế thực. Xứng đáng với danh hiệu “nữ quái”. Bọn võ trang rồi sẽ khốn đốn với em.

- Từ nay trở đi, em phải chơi lối tiền trao, cháo múc. Không để rắc rối như lần này nữa.

Thằng bé có sữa uống, đã mập ra đôi chút. Mụ trưởng phòng kiếm được thuốc ghẻ, bôi cho nó. Ghẻ cũng đỡ. Không thuốc men gì, cơn sốt của nó cũng tự nhiên khỏi.

Cô giáo đưa con cho nữ quái bế, cảm động:

- Từ nay, em là mẹ nuôi của nó. Lớn lên, chị sẽ kể chuyện cho nó, bảo nó phải coi em như mẹ. Em đã cứu sống nó đấy.

Nữ quái nâng niu thằng bé trên tay, cười rất tươi. Ả vui trong lòng, vì thấy mình đã làm được một việc tốt.

Ngày lại ngày trôi đi. Trong vòng một tháng, đã có thêm ba tên võ trang nộp sữa cho nữ quái.

Mụ trưởng phòng cười vui:

- Đúng là một “đàn bò sữa”. Nữ quái chăn bò cừ thật!

Những ngày đầu tháng tám. Thời tiết nóng lạ thường. Mặt trời chói lóa dội lửa xuống. Tường, sàn xi-măng, mái ngói, phả hơi nóng ra, hầm hập, ngột ngạt. Trong phòng đầy người, mùi hôi tanh nồng lên.

Mụ quản giáo ngồi dưới quạt trần, cau có:

- Trời đất gì mà như cái lò lửa. Quạt máy chỉ toàn quạt hơi nóng vào người. Tắt mẹ nó đi. Đài nói nhiệt độ lên tới bốn mươi độ. Đợt nóng này còn kéo dài nhiều ngày.

Các nữ tù nhân, mình mẩy nổi mụn đỏ. Ngứa. Rát. Ban đêm không thể ngủ được. Thằng bé lại sốt cao. Át-pi-rin, sữa, uống vào, đều ọe ra. Rôm sẩy đầy người. Nó khóc tới nghẹt thở. Mẹ nó chỉ còn xương với da, mắt quầng thâm, ôm con, lo lắng. Mất ngủ nhiều đêm liền, quá mệt.

Một buổi sớm, cô giáo thiếp đi. Khi tỉnh dậy, thấy thằng con bé bỏng há hốc cái miệng nhỏ xíu, mắt trợn lên, bất động. Hai bàn tay tí hon nắm chặt. Cô sợ quá, ôm con vào lòng. Nó đã tắt thở. Cô hoảng loạn, kêu ầm lên, nước mắt dàn dụa:

- Con tôi chết rồi! Con tôi chết rồi!

Cả phòng xôn xao. Trưởng phòng, nữ quái, mấy ả nữa đổ xô tới. Nó đã chết thật. Cô giáo gục đầu vào ngực con, ngất xỉu. Nữ quái úp mặt vào hai bàn tay, nức nở.

Trưởng phòng nước mắt dòng dòng, ra cửa kêu:

- Báo cáo cán bộ! Phòng nữ có người chết!

Một lúc, mụ quản giáo cùng một tên tù tự giác tới. Mụ mở cửa, hỏi:

- Ai chết?

- Báo cáo cán bộ, thằng bé con.

- Đưa nó ra.

Trưởng phòng vào, định bế thằng bé ra. Mẹ nó đã tỉnh lại, ôm ghì con trong lòng, gào lên, điên loạn:

- Con của tôi, nó phải ở với tôi! Không ai có quyền đưa con tôi đi đâu!

Thấy cô giáo mắt trợn trừng, ôm chặt con không rời.

Trưởng phòng bối rối, dỗ:

- Em bình tĩnh lại. Cháu nó đã mất. Nên để người ta đưa đi chôn cất, cho nó được mồ êm, mả đẹp. Em giữ đây làm sao được. Nghe chị. Chị cũng đau khổ, thương cháu lắm.

Cô giáo ôm chặt con hơn:

- Không, không được, tôi phải giữ nó với tôi!

Mụ quản giáo ngoài cửa sốt ruột, bảo tên tự giác:

- Vào mang nó ra!

Tên tự giác vào phòng. Nó giật đứa bé khỏi tay cô giáo, đẩy cô ngã chúi xuống. Rồi ôm đứa bé đi ra. Cửa khóa lại.

Cô giáo vùng dậy, chạy theo, gào thét:

- Trả con tôi! Trả con tôi! Tôi tự tử chết!

Cô đập đầu vào song sắt. Trưởng phòng, nữ quái ôm chặt lấy cô. Máu từ đầu chảy xuống, hòa với nước mắt, đỏ lòm. Hai người khiêng cô vào, đặt lên sàn. Nữ quái xé áo mình, băng vết thương trên đầu, lau máu trên mặt cô.

Khi tỉnh lại, miệng cô lảm nhảm:

- Trả con tôi, trả con tôi. Con ơi, mẹ thương con quá!

Sợ cô giáo tự sát, suốt ngày, suốt đêm, nữ quái cùng mấy ả thay nhau ngồi bên, an ủi cô.

Sau cái đập đầu vào song sắt. Cô giáo không chết. Cô chỉ trở thành người mất trí. Lúc cười, lúc khóc, lúc ngồi thừ ra, lúc ôm túi quần áo trong tay như ôm con, hôn hít. Ngày nào cô cũng múa hát. Giọng cô khàn. Nhưng cô múa rất dẻo. Cô chỉ hát một bài duy nhất. Bài hát đã được các thầy, các cô dạy, từ thủa cô còn là một nhi đồng sáu, bảy tuổi. Cô vừa múa, vừa hát, miệng tươi cười:

Ai yêu bác Hồ-chí-Minh hơn các em nhi đồng
Bác chúng em, dáng cao cao, người thanh thanh
Bác chúng em mắt như sao, râu hơi dài
Bác chúng em, vì đất nước, quên thân mình
Bác nay tuy đã già rồi
Già rồi, nhưng vẫn vui tươi
Mong sao Bác sống muôn đời
Để dìu dắt nhi đồng thành người…

Một hôm, ăn cơm ngoài sân, cô đứng lên múa hát. Mụ quản giáo đương đọc tờ “Nhân Dân” cũng phải ngừng đọc, nhìn. Mụ khen cô múa hát giỏi. Thấy tờ báo có ảnh Bác Hồ to tướng, cô năn nỉ xin mụ quản giáo. Cô mất trí, nhưng hiền, không phá phách, mất trật tự. Mụ cũng thương hại. Mụ cắt hình Bác ở báo ra cho cô.

Từ đó, đêm đêm, cô đặt ảnh Bác ở đầu chỗ nằm, quỳ xuống, xụt xùi khóc lóc, cầu khấn: “Cháu lạy Bác. Chồng cháu đã hy sinh vì cách mạng. Bác thương tha cho mẹ con cháu! Mẹ con cháu biết có tội với Đảng rồi. Xin Bác khoan hồng, thương tha cho! ”

Nhìn cảnh tượng đó, trưởng phòng, nữ quái, nước mắt ứa ra.

Thế rồi, một sáng đầu tháng mười, ông y sĩ vào dẫn cô đi. Cô được đưa tới một trại giam người điên bên Châu-Quỳ, Gia-Lâm.

Trưởng phòng thì thầm với nữ quái:

- Chắc nó được đưa đi bệnh viện Việt-Đức điều trị. Bác Hồ phù hộ đấy. Bác thiêng lắm. Hôm Bác mất “Người tuôn nước mắt, Trời tuôn mưa” * cơ mà!
*Thơ Tố-Hữu.

Nguyễn Chí Thiện