12/11/11

Âm mưu bản đồ “đường lưỡi bò”: Khoa học phản công

Trung Quốc hiện nay là nước có số lượng ấn phẩm khoa học đứng vào hàng thứ 2 trên thế giới (chỉ sau Mĩ). Thử tưởng tượng một nước lớn như thế mà lạm dụng khoa học cho mục tiêu xâm lấn lãnh thổ và chính trị thì nguy hiểm biết dường nào cho thế giới. Tập san khoa học Nature đăng 2 bài liên quan đến vấn đề bản đồ Đường lưỡi bò. Ý nghĩa của hai bài này là gì và hàm ý gì? Trong bài này, tôi cố gắng diễn giải ý nghĩa và hàm ý của hai bài đó. Theo tôi, tác giả David Cyranoski đã dạy cho các nhà cầm quyền (và cả giới khoa học ?) Trung Quốc một bài học về mối quan hệ giữa khoa học và chính trị, và sự lạm dụng khoa học cho mục tiêu chính trị và bành trướng lãnh thổ là không chấp nhận được. Tôi xem đó như là một phản công của khoa học. 
Nhà chính trị học nổi tiếng Robert Gilpin trong tác phẩm War and Change in World Politics (chiến tranh và biến đổi chính trị thế giới) lý giải rằng sự tăng trưởng nhanh chóng ở trong nước sẽ thúc đẩy các quốc gia tái xác định và bành trướng lợi ích ở ngoài nước. Lợi ích ở đây bao gồm cả kinh tế, chính trị, và biên cương. Nhận xét này xem ra rất phù hợp với trường hợp Trung Quốc, một quốc gia đang lên và có tham vọng làm siêu cường. Người Trung Quốc có mặt khắp nơi trên thế giới để gây ảnh hưởng chính trị, ráo riết thu mua khoáng sản và nông sản, và gây áp lực đến các nước láng giềng trong vấn đề tranh chấp biên giới là lãnh hải. Họ có khả năng làm những điều này nhờ một phần vào thành tựu kinh tế đạt được trong ba thập niên qua.
Trung Quốc đã hoặc đang có tranh chấp về biên giới với 23 nước láng giềng. Nhưng Trung Quốc có vẻ “khôn” hơn so với trước đây. Thay vì dùng vũ lực đối với Việt Nam (để chiếm Trường Sa) và bị thế giới lên án, ngày nay Trung Quốc thường dùng đến phương tiện “mềm” hơn. Thật vậy, trong số 23 tranh chấp biên giới, Trung Quốc chỉ dùng vũ lực trong 7 trường hợp (với Ấn Độ năm 1962, Liên Xô 1969, Việt Nam 1979, v.v.), phần còn lại là qua các phương tiện khác. Các phương tiện hiện đại mà Trung Quốc có hẳn một chiến dịch sử dụng là lạm dụng khoa học và truyền thông để hợp thức hóa những vùng đất hay vùng biển còn trong vòng tranh chấp với các nước láng giềng.
Có thể lấy những sự việc xảy ra chung quanh bản đồ “đường lưỡi bò” (ĐLB) làm một ví dụ minh chứng. Đó là một bản đồ do Chính phủ Trung Quốc vẽ ra một cách tùy tiện và lưu hành nội bộ từ những năm trong thập niên 1940s dưới thời Trung Hoa dân quốc. Bản đồ này lúc đầu là 11 đoạn và sau này giảm xuống còn 9 đoạn, và điều đó cũng phản ảnh tính tùy tiện của tác giả vẽ ra nó. Dù 9 hay 11 đoạn thì bản đồ đó bao trùm gần 90% vùng biển Đông Nam Á, kể cả Hoàng Sa và Trường Sa của chúng ta. Điều quan trọng hơn là đó là một tài liệu phi pháp và phi khoa học. Phi pháp vì không một quốc gia nào trên thế giới công nhận. Không một tổ chức quốc tế nào công nhận bản đồ ĐLB. Nhưng Trung Quốc dùng bản đồ ĐLB đó để ra những yêu sách về lãnh hải, với lý giải rằng họ có “chủ quyền không thể tranh cãi” trên vùng biển đó. Từ những tuyên bố đơn phương như thế, Trung Quốc ngang nhiên cho tàu chiến tuần tra vùng biển, và khủng bố và sát hại những tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam. Tuy nói là tàu “ngư chính” nhưng thái độ hung hãn của họ lại rất phù hợp với quân cướp biển hơn. Trung Quốc đã và đang gây ra bất ổn trong vùng biển Đông Nam Á qua cái bản đồ phi lý và phi khoa học đó.
Dù đó là một bản đồ phi lí và phi khoa học, nhưng chính quyền Trung Quốc ra sức phổ biến nó trên các diễn đàn khoa học quốc tế. Trong thời gian qua, các nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài đã phát hiện gần 10 bài báo của các nhà khoa học Trung Quốc có chèn bản đồ ĐLB. Những tập san khoa học mà bản đồ ĐLB này xuất hiện rất đa dạng, từ những tập san rất chuyên ngành (tức ít độc giả) đến những tập san danh tiếng bậc nhất (như Nature và Science). Điều đáng chú ý là không có những liên hệ gì giữa nội dung chính của bài báo và bản đồ ĐLB mà họ lồng trong bài. Nếu không có liên quan, vậy tại sao các tác giả Trung Quốc đưa bản đồ phi pháp đó vào bài báo? Khi được hỏi, họ trả lời rằng họ làm theo luật của Trung Quốc! Đó là cách trả lời của tác giả, nhưng logic thông thường cho chúng ta biết đó là một sự lạm dụng khoa học. Lạm dụng tập san khoa học để quảng bá một bản đồ phi pháp!
Nhưng việc quảng bá này có tổ chức và nằm trong âm mưu bành trướng lãnh hải của Trung Quốc. Tập san Climate Change là một tập san đa ngành chuyên công bố những nghiên cứu về biến đổi khí hậu, với một hệ số ảnh hưởng thuộc loại trung bình (impact factor 3.016, số liệu 2010). Bốn năm trước, Climate Change công bố một bài báo của các tác giả Trung Quốc có bản đồ ĐLB, và bản đồ này không có liên quan gì đến nội dung và kết luận bài báo. Khi các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài phát hiện và gửi thư phàn nàn đến Tổng biên tập là GS Michael Oppenheimer, ông liền báo cho tác giả Trung Quốc biết về phàn nàn đó và yêu cầu họ chỉnh sửa, theo đúng qui trình xuất bản khoa học. Các tác giả Trung Quốc trả lời rằng họ sẽ không chỉnh sửa hay rút lại bản đồ đó, vì đó là “yêu cầu của Chính phủ Trung Quốc”. Đây là bằng chứng hùng hồn cho thấy Chính phủ Trung Quốc đứng đằng sau những chiến dịch “cửa sau” để quảng bá một bản đồ phi pháp và phi khoa học.
Climate Change không phải là tập san đầu tiên và sau cùng công bố bài báo có hình ĐLB. Trong thời gian gần đây, điều đáng lo ngại là tập san Science và Nature cũng công bố bài báo cũng của tác giả Trung Quốc có bản đồ ĐLB. Science và Nature là những tập san khoa học số 1 trên thế giới, là tập san loại “đàn anh”, là diễn đàn của các nhà khoa học tiên phong và Nobel tương lai. Chẳng những là tập san khoa học hàng đầu, Science và Nature còn là những nhà xuất bản khoa học với hàng trăm tập san dưới sự quản lý của họ. Do đó, Science và Nature còn đặt ra chuẩn mực cho các tập san khác noi theo. Ảnh hưởng của hai tập san này rất lớn trong cộng đồng khoa học quốc tế. Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của sự xuất hiện bản đồ ĐLB trên Science vàNature, chúng tôi và các đồng nghiệp thuộc Đại học Quốc gia TPHCM viết thư phản đối và chỉ ra những phi lý và bất tương quan giữa bản đồ và nội dung bài báo.
Nhưng phản ứng của Science và Nature về quan tâm của chúng tôi thì rất khác biệt. Science trả lời tôi (và nhiều nhà khoa học khác) rằng bản đồ và dữ liệu công bố trên Science phản ảnh ý kiến và quan điểm của tác giả, chứ không phải của Science, và Science không đứng về phe nào trong việc tranh chấp lãnh hải! Đó là một trả lời theo tôi là khó chấp nhận được, vì chúng tôi không bàn về quan điểm của Science, chúng tôi cho rằng bản đồ đó phi pháp và phi khoa học, và vi phạm đạo đức công bố (ethics of publication), và tác giả cần phải đính chính. Cần nói thêm rằng trước đây tôi có trả lời phỏng vấn trên Science về vấn đề chất độc da cam, vậy mà có người trong Sciencenói rằng đó là một bài trả lời phỏng vấn chống Mỹ! Nói như thế để thấy Science hoặc một số chuyên gia bình duyệt của Science có vẻ bận tâm đến chính trị hơn là khoa học. Khác với cách làm của Science, tập san Nature hồi đáp những quan tâm của chúng tôi rất đúng chuẩn mực khoa học. Họ cử một phóng viên thường trú của Nature ở Á châu là David Cyranosky liên lạc với chúng tôi để làm rõ những quan tâm của chúng tôi. Cần nói thêm rằng David Cyranosky từng làm chung và là bạn của TS Nguyễn Văn Thuận (lúc đó còn ở bên Nhật, nhưng nay thì đã “đầu quân” cho Hàn Quốc). Sau khi phỏng vấn chúng tôi, Cyranosky viết hai bài liền về sự lạm dụng khoa học và sự mâu thuẫn giữa chính trị và khoa học (bản dịch có thể đọc ở đây). Nội dung chính của hai bài viết có thể tóm lược qua 3 điểm sau đây:
  1. lạm dụng tập san khoa học để tranh giành lãnh hải hay biên giới nói chung là không chấp nhận được;
  2. trong tương lai, bất cứ bản đồ nào còn trong vòng tranh cãi, Nature sẽ yêu cầu tác giả hoặc là rút lại hoặc là ghi chú thêm rõ ràng là “còn tranh cãi”; nếu không, biên tập sẽ ghi chú như thế;
  3. Nature còn gián tiếp phơi bày âm mưu quốc tế hóa bản đồ phi lý ĐLB của Chính phủ Trung Quốc.
Theo tôi, Nature đã phản ảnh khá đầy đủ vấn đề. Cố nhiên, không thể đòi hỏi phóng viên Naturephải chính xác từng chi tiết trong bài báo, nhưng những điểm mà Nature nêu trong hai bài viết đã nói lên một cách đầy đủ tình hình tranh chấp trên Biển Đông, và gióng một tiếng chuông báo động về mưu đồ lạm dụng khoa học cho mục tiêu bất chính của Trung Quốc. Như nói trên, Naturelà một tạp chí khoa học số 1 trên thế giới, rất uy tín, những gì Nature viết được ngầm hiểu như là những thông điệp cho các nhà khoa học và tập san nhỏ hơn.
Hai bài báo trên Nature chắc chắn sẽ gây tác động và nhà cầm quyền cũng như giới khoa học Trung Quốc phải chú ý. Các quan chức Trung Quốc thường biện minh rằng bấy lâu nay không có ai phản đối bản đồ ĐLB, và do đó bản đồ đó được quốc tế công nhận. Chúng ta có thể phì cười trước lý luận con nít như thế, nhưng trong thực tế họ sử dụng lý giải đó trong quan hệ quốc tế. Lý giải đó còn cho thấy Trung Quốc muốn công bố bản đồ ĐLB càng nhiều càng tốt để hợp thức hóa lãnh hải. Hai bài báo trên Nature là một cảnh cáo cho Trung Quốc rằng họ không thể tiếp tục lạm dụng khoa học cho mục tiêu bành trướng lãnh hải.
Hai bài báo còn giảng dạy cho Trung Quốc phải phân biệt khoa học và chính trị. Có lẽ trong suy nghĩ của những người lãnh đạo Trung Quốc, khoa học là một phương tiện của chính trị (theo cách hiểu chính trị là “thống soái”). Nhưng suy nghĩ đó không phù hợp với vai trò thật của khoa học, vốn đặt sự thật lên hàng đầu. Sự thật có thể hóa giải những bất đồng và tranh chấp. Như David Cyranoski viết (và tôi đồng ý) rằng “Khi nghiên cứu khoa học và chính trị pha trộn nhau, khoa học nên là một công cụ ngoại giao, chứ không phải công cụ cho xâm lấn lãnh thổ. Hợp tác khoa học vẫn có thể nẩy nở ngay cả trong môi trường chính trị thiếu thân thiện”. Tôi cũng trả lời phỏng vấn củaNature rằng chúng tôi – những nhà khoa học gốc Việt Nam và Trung Quốc – là những người trưởng thành, không để chính trị làm chi phối đến tình nghĩa khoa học. Các nhà cầm quyền Trung Quốc nên nhìn lại khoa học như là một phương tiện góp phần vào việc hóa giải những tranh chấp hơn là để bành trướng lãnh thổ và lãnh hải.
Thế thì tại sao Nature và Science và các tập san khác không rút lại bản đồ ĐLB trong các bài báo đã đăng? Để trả lời câu hỏi này, cần phải hiểu qua quy trình xuất bản một bài báo khoa học. Trên nguyên tắc, tập san là phương tiện của nhà khoa học. Nhà khoa học, chứ không phải tập san, là người chịu trách nhiệm về nội dung của bài báo. Do đó, việc rút lại bài báo hay chỉnh sửa dữ liệu là phía tác giả hoặc cơ quan mà tác giả làm việc. Một khi bài báo có những dữ liệu không đúng hay có gì sai sót nghiêm trọng, thì thông thường các tác giả tình nguyện đăng đính chính, hoặc tự nguyện rút xuống. Khi có vấn đề nghiêm trọng như đạo văn hay ngụy tạo số liệu thì quy trình rút bài báo xuống phức tạp hơn. Thoạt đầu, tập san báo cho tác giả và cơ quan nơi tác giả làm việc biết để kiểm tra; sau đó nếu kết quả kiểm tra cho thấy có ngụy tạo dữ liệu thì cơ quan sẽ thông báo cho tập san; và sau cùng tập san rút bài báo xuống. Nói tóm lại, việc rút lại bài báo hay đính chính chủ yếu là xuất phát từ tác giả, chứ không phải tập san. Trong trường hợp bản đồ ĐLB, các tập san chưa rút những bản đồ phi lý đó xuống là vì các tác giả Trung Quốc không chịu nhận lỗi, và các cơ quan họ làm việc cũng không điều tra. Thật vậy, khi Nature liên lạc với các tác giả Trung Quốc để hỏi thêm về sự việc chung quanh bản đồ ĐLB thì tất cả (xin nhắc lại: tất cả) đều im lặng. Có thể diễn giải sự im lặng của họ như là một sự vô trách nhiệm, hoặc xem thường quy ước khoa học quốc tế, hoặc… bí. Nhưng dù hiểu như thế nào thì các tập san không thể rút các bản đồ ĐLB ra khỏi bài báo, vì tác giả và cơ quan tác giả làm việc không có yêu cầu. Các nhà khoa học Trung Quốc đã biết lợi dụng cái kẽ hở này để quảng bá cái bản đồ phi lý và phi khoa học.
Do đó, vấn đề của chúng ta là phải ngăn chặn trước khi bản đồ phi lý đó xuất hiện trên các tập san khoa học. Để làm việc này thành công, tôi suy nghĩ đến vai trò của Nhà nước và giới khoa học. Đối với Nhà nước, cần có một tầm nhìn xa và hệ thống. Qua thực tế, chúng ta thấy VN ta rất ít nghiên cứu về biển đảo, đặc biệt là Hoàng Sa và Trường Sa. Đấu tranh trong khoa học cần những chứng từ khoa học, những chứng từ này phải được đúc kết từ nghiên cứu khoa học. Do đó, Nhà nước cần chủ động đầu tư cho nghiên cứu về biển. Chúng ta có nhiều dữ liệu lịch sử quý báu cần phải công bố cho quốc tế biết. Tôi nghĩ đến việc thành lập một hay hai nhóm nghiên cứu khoa học ở các đại học lớn, có tài trợ hẳn hoi như các công trình nghiên cứu khoa học tự nhiên. Chúng ta cần nghiên cứu định tính và định lượng, nên những trung tâm này cần quy tụ các nhà khoa học đa ngành, trong và ngoài nước. Chỉ làm việc trong một nhóm chúng ta mới có khả năng nâng cao sự hiện diện của Việt Nam trong các diễn đàn khoa học liên quan đến Hoàng Sa và trường Sa.
Khách quan mà nói, những vấn đề như bản đồ ĐLB trên tập san khoa học là vấn đề khoa học, cần đến tiếng nói của giới khoa học hơn là của Nhà nước. Tuy nhiên, khó khăn ở đây là các tổ chức khoa học ở Việt Nam đều là tổ chức của Nhà nước, nên khi họ phát biểu, phía Trung Quốc không xem đó là những ý kiến độc lập, mà là quan điểm của Nhà nước. Do đó, vấn đề đấu tranh bảo vệ chủ quyền cần phải có tiếng nói và đóng góp của tất cả thành phần trong xã hội. Nên chăng qua những vụ việc gần đây, Nhà nước nên cho phép thành lập các nhóm xã hội dân sự độc lập để có tiếng nói độc lập liên quan đến các vấn đề quan trọng như chủ quyền quốc gia.
Đối với các nhà khoa học, chúng ta cần phải làm nhiều hơn nữa. Một thực tế hiển nhiên là số lượng ấn phẩm liên quan đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên các tập san quốc tế còn quá khiêm tốn. Do đó, giới khoa học xã hội cần phải chủ động công bố nghiên cứu, chủ động tranh luận với các học giả Trung Quốc trên các diễn đàn quốc tế bằng những dữ liệu thực. Ngoài ra, cần phải viết những bài báo bằng tiếng Anh cho các báo chí đại chúng ở nước ngoài để trình bày cho thế giới thấy âm mưu bành trướng lãnh hải qua lạm dụng khoa học của giới cầm quyền Trung Quốc.
Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Tương tự, chúng ta ngăn chặn sự xuất hiện của ĐLB hơn là viết thư phản đối nó trên các tập san khoa học. Một hình thức ngăn ngừa sự lây lan của ĐLB trên các diễn đàn khoa học là chúng ta chủ động viết những bài báo cho các báo chí đại chúng để cảnh báo về những hành động vi phạm đạo đức trong xuất bản khoa học của giới khoa bảng Tàu. Phải chỉ ra tính “unethical publication” của các nhà khoa học Tàu, vốn đã nổi tiếng với những hành động vô đạo đức khoa học khác như đạo văn và ngụy tạo số liệu.
Cần phải quốc tế hóa vấn đề ĐLB trên tập san khoa học. ĐLB không chỉ ảnh hưởng đến chủ quyền nước ta, mà còn ảnh hưởng đến Phi Luật Tân và Mã Lai. Tuy nhiên, cho đến nay, theo tôi biết các nhà khoa học của Phi Luật Tân và Mã Lai vẫn chưa lên tiếng về ĐLB. Cũng có thể họ chưa chú ý hay chưa quan tâm hay chưa biết. Tôi nghĩ chúng ta cần phải vận động và mời các bạn ở hai nước này tham gia phản đối ĐLB trên các tập san khoa học. Với sự quốc tế hóa này, chúng ta sẽ có nhiều lợi thế hơn là tranh luận như hiện nay mà có thể vài người nhìn như là tranh chấp giữa ta và Tàu.
Trung Quốc đã mạnh hơn và khôn hơn so với trước đây. Một mặt họ hung hãn đe dọa các nước láng giềng, mặt khác họ âm mưu lợi dụng và lạm dụng khoa học để bành trướng lãnh hải. Nhưng dù họ khôn hơn trước đây thì vẫn không qua khỏi cái khôn của giới khoa học quốc tế, và âm mưu đen tối của họ đã bị lật tẩy. Ý đồ xấu thường mang tính di truyền, và có thể đoán trước rằng âm mưu lợi dụng và lạm dụng khoa học cho mục tiêu chính trị của họ sẽ được lan truyền sang một địa hạt khác hoặc một hình thái khác. Và, chúng ta cần phải dùng khoa học để ngăn chặn không cho một sự lan truyền như thế xảy ra để gây tổn thất đến lãnh hải và lãnh thổ của cha ông đã để lại cho chúng ta.

Bản đồ “đường lưỡi bò” và vấn đề bình duyệt trong khoa học


InEmail
Hôm qua, tôi có hân hạnh trả lời phỏng vấn đài Radio Australia (chương trình tiếng Việt) về hai bài báo trên tập san Nature. Có một câu hỏi của phóng viên làm tôi suy nghĩ: đó là câu hỏi tập san có lỗi khi đăng bản đồ hình lưỡi bò không. Câu trả lời có thể là “có”, nhưng cũng có thể là “không”, tùy vào vị trí của người trả lời. Tôi thì nghĩ chuyện sai sót trong khoa học là … bình thường, vì khoa học nói cho cùng là một qui trình tự sửa sai.

Câu chuyện Science (và vài tập san khoa học khác) đăng những bài báo có bản đồ ĐLB làm tôi liên tưởng đến hệ thống bình duyệt trong khoa học (tiếng Anh gọi là peer review). Chính hệ thống bình duyệt của các tập san này vận hành chưa tốt nên mới dẫn đến sự việc bản đồ ĐLB xuất hiện. Nhưng nghĩ cho cùng, không thể nào kì vọng tập san khoa học hay hệ thống bình duyệt có thể sàng lọc hết tất cả những “rác rưởi” hay ngăn chận hết những gian lận trong bài báo. Đó là một thực tế chúng ta phải chấp nhận. Có thể hệ thống bình duyệt trong khoa học còn nhiều vấn đề, nhưng đó là hệ thống hay nhất mà chúng ta có hiện nay.
Có thể nói không ngoa rằng hệ thống bình duyệt là yếu tố làm nên khoa học, làm nên một tập san khoa học. Nghiên cứu khoa học mà không có hệ thống bình duyệt thì khó có thể nói là khoa học. Một tập san chuyên ngành mà không có hệ thống bình duyệt bài báo thì không thể xem là “tập san khoa học” được. Thế nhưng trong thời gian gần đây, có nhiều người trong giới khoa học lên tiếng phàn nàn về tình trạng suy thoái trong qui trình bình duyệt, và tình trạng này sẽ ảnh hưởng lớn đến uy tín của các tập san khoa học trong tương lai.
Để hiểu ảnh hưởng của qui trình bình duyệt như thế nào, có lẽ cần phải hiểu sơ qua vài nét chính. Khi bản thảo một bài báo khoa học nộp cho một tập san, ban biên tập sẽ phân công một người trong ban biên tập phụ trách. Nếu bài báo được đánh giá là có tiềm năng, người phụ trách sẽ gửi bài báo cho 3 chuyên gia bình duyệt. Tác giả không biết 3 chuyên gia này là ai, nhưng các chuyên gia đó biết tác giả là ai. Sau khi xem xét nhận xét của 3 chuyên gia, ban biên tập sẽ quyết định chấp nhận hay từ chối công bố bài báo. Chỉ cần một trong 3 người đề nghị từ chối, thì ban biên tập thường sẽ từ chối bài báo. Do đó, vai trò của 3 chuyên gia này rất quan trọng, vì những nhận xét của họ quyết định số phận bài báo.
Trong hệ thống bình duyệt khoa học, việc chọn chuyên gia bình duyệt rất quan trọng. Trên nguyên tắc, các chuyên gia bình duyệt là những người có chuyên môn tốt trong lĩnh vực bài báo quan tâm. Họ là những người đã có “tên tuổi” trong chuyên ngành, tức đã từng công bố những công trình nghiên cứu có ảnh hưởng nào đó. Cũng có thể họ là những người trong ban biên tập. Và theo nguyên lí đạo đức khoa học, họ chỉ nhận bình duyệt nếu họ (a) có chuyên môn trong lĩnh vực bài báo quan tâm; (b) có thể bình duyệt đúng thời hạn; và (c) không có mâu thuẫn quyền lợi với tác giả. Ban biên tập kì vọng rằng một khi đồng ý bình duyệt bài báo, các chuyên gia sẽ đọc kĩ bài báo, xem xét ý tưởng, kiểm tra phương pháp, đánh giá dữ liệu trình bày có ăn khớp với kết luận hay không, “văn chương” có hoàn chỉnh hay chưa, v.v. Họ làm những việc này hoàn toàn miễn phí; tất cả chỉ vì lí tưởng khoa học. Họ chỉ có một ghi nhận duy nhất là trong lí lịch, họ có quyền ghi là chuyên gia bình duyệt cho tập san. Nhưng trong thực tế ngày nay, rất khó tìm những chuyên gia hoàn toàn thích hợp, vì … nhân vô thập toàn. Các chuyên gia bình duyệt cũng thỉnh thoảng rất “trần ai”, hiểu theo nghĩa viết phê bình mang tính xúc phạm, hằn học, chủ quan; tỏ thái độ thiên vị, thiếu thành thật, ngụy tạo; và làm ẩu tả, thậm chí bất tài. Và, đó chính là nguồn gốc của nhiều oan khiên trong khoa học. Hệ thống bình duyệt làm cho nhà khoa học hài lòng, nhưng thỉnh thoảng cũng làm không ít người rất dễ nóng giận.
Không một chuyên gia nào có thể am hiểu tất cả những khía cạnh khoa học trong bài báo, và họ phải đặt sự tin tưởng (một phần lớn) vào tác giả. Do đó, một khi tác giả có ý gian dối thì các chuyên gia bình duyệt cũng rất khó phát hiện. Tất cả những số liệu trình bày trong bài báo là kểt quả phân tích từ “dữ liệu thô” (raw data); nếu tác giả sửa dữ liệu thô thì làm sao chuyên gia bình duyệt phát hiện được. Những hình ảnh trình bày trong bài báo cũng là bản copy, làm sao các chuyên gia có được bản gốc (và đây chính là phương thức ngụy tạo của vị giáo sư Hàn Quốc về vụ tạo sinh vô tính). Hay như bản đồ ĐLB trình bày trong bài báo, và nếu chuyên gia bình duyệt là người phương Tây không quan tâm đến tình hình biển Đông thì không thể chú ý đến. Do đó, việc các tập san khoa học gặp sai sót là chuyện có thể hiểu được, nhưng may mắn thay những sai sót này cũng rất hiếm xảy ra vì đại đa số các nhà khoa học đều là những người có đạo đức nghề nghiệp.
Nhưng khoa học có một đặc điểm tuyệt vời là tự sửa sai. Một khi bài báo được công bố, đồng nghiệp trên thế giới có thể săm soi và thẩm định. Có nhiều vấn đề các chuyên gia bình duyệt không phát hiện được, nhưng bạn đọc và đồng nghiệp trên thế giới có thể phát hiện và chỉ ra những sai sót. Đó cũng chính là trường hợp bản đồ ĐLB. Tôi đoán rằng các chuyên gia bình duyệt cho các tập san [có in bản đồ ĐLB] hoặc là không chú ý đến bản đồ đó, hoặc là không biết bản đồ đó mang tính phi pháp, hoặc là thiên vị (khả năng rất thấp). Nhưng dù là lí do gì đi nữa, thì sự xuất hiện bản đồ ĐLB đó trên các tập san khoa học như Science và Nature cũng là dấu hiệu của một hệ thống bình duyệt có vấn đề. Nếu hệ thống bình duyệt hoàn hảo thì bản đồ đó đã không có “cơ hội” xuất hiện trên các tập san khoa học lớn. Cũng có thể nói hệ thống bình duyệt của Science và Nature đã thất bại trong việc phát hiện một dữ liệu sai (bản đồ là một dữ liệu).
Nhưng như nói trên, dù hệ thống bình duyệt không hoàn hảo, nhưng đó là hệ thống tốt nhất mà chúng ta đang có. Vấn đề có lẽ không phải là chỉ ra những khiếm khuyết trong hệ thống bình duyệt (tuy cũng có thể cần), nhưng quan trọng hơn là phải tích cực tham gia phản biện khoa học cho các tập san.
NVT
====

Sau đây là trao đổi giữa phóng viên Vũ Hiền của RA và tôi:
RA: Theo ông, tại sao các nhà khoa học Trung Quốc lại có thể gửi đăng kèm một tấm bản đồ mà theo nhận xét là không liên quan đến nội dung của bài viết khoa học? Phải chăng họ làm theo yêu cầu của chính phủ Trung Quốc?
Nguyễn Văn Tuấn (NVT): Không ai biết chính xác lí do đằng sau việc họ lồng bản đồ đường lưỡi bò (ĐLB) vào bài báo khoa học của họ. Nhất là bản đồ đó chẳng liên quan gì đến nội dung của bài báo. Tuy nhiên, theo tiết lộ của chính một tác giả là giáo sư của một viện nghiên cứu ở Bắc Kinh, Chính phủ Trung Quốc yêu cầu họ phải làm như thế. Cụ thể là trong điện thư trả lời tổng biên tập của Tập san Climatic Change, giáo sư Xuemei Shao (thuộc Viện Khoa học Địa lí và Tài nghiên thiên nhiên, Trung Quốc) trả lời như sau (tạm dịch): “[…] Bản đồ nhỏ mà chúng tôi chèn trong biểu đồ 6 là do yêu cầu của Chính phủ Trung Quốc.” Đó là chứng từ duy nhất mà chúng ta có để tạm đi đến kết luận rằng Chính phủ Trung Quốc đứng đằng sau chiến dịch tung bản đồ ĐLB trên các tập san khoa học quốc tế.
RA: Về phía tạp chí Science, ông có cho rằng Science cũng có lỗi trong vụ việc này khi đăng tải một tấm bản đồ mang nặng mục đích chính trị như vậy? 
NVT: Đứng trên quan điểm của chúng ta (người Việt), có thể nói rằng Science có sai sót trong việc đăng bản đồ ĐLB, nhưng nên nhớ rằng sai sót là rất bình thường trong khoa học. Cũng cần nên hiểu qui trình công bố khoa học thì sẽ thấy khả năng một sai sót như thế rất thường xuyên xảy ra. Một cách ngắn gọn, khi một bài báo gửi đến cho tập san, ban biên tập sẽ mời 3 chuyên gia trong ngành bình duyệt, và việc kiểm tra sự chính xác của dữ liệu tùy thuộc vào 3 chuyên gia này. Các chuyên gia bình duyệt làm việc hoàn toàn trên tinh thần tình nguyện khoa học, tức không có thù lao gì cả, và họ cũng rất bận. Do đó, các chuyên gia không thể nào kiểm tra từng dữ liệu trong bài báo được, mà phải tin tưởng vào tác giả một phần. Nếu 3 chuyên gia bình duyệt là người Mĩ thì xác suất họ am hiểu tình hình biển Đông là rất thấp, và họ bỏ qua dữ liệu trong bản đồ là điều có thể đoán được. Nhìn như vậy để thấy rằng Science không có mục tiêu chính trị gì đằng sau việc đăng bản đồ xúc phạm đó. Nhưng khoa học là một quá trình tự sửa sai. Khi một bài báo công bố thì cộng đồng khoa học quốc tế có quyền săm soi, và cộng đồng khoa học Việt Nam đã làm việc đó cho Science.
RA: Động thái mới nhất của tạp chí Nature trong việc lật tẩy âm mưu lợi dụng khoa học để phục vụ mục đích chính trị thể hiện điều gì? Nó có tác động như thế nào đến giới học giả cũng như các tờ tạp chí khoa học khác?
NVT: Có một điều mà ai trong giới khoa học cũng nghi ngờ nhưng không ai nói ra: giới khoa học Trung Quốc có vấn đề về đạo đức khoa học. Đạo đức ở đây phải kể luôn cả đạo đức công bố (ethics of publication). Giới khoa học Trung Quốc có thể sẵn sàng theo chính phủ của họ để bẻ cong khoa học cho mục tiêu chính trị, và chúng ta đã thấy qua sự việc liên quan đến bản đồ ĐLB. Sự việc bản đồ ĐLB là cơ hội lí tưởng để Nature lên tiếng, và sự lên tiếng của họ như là một nhắc nhở về đạo đức khoa học. Như Nature viết rõ “khoa học nên là một công cụ ngoại giao, chứ không phải công cụ cho xâm lấn lãnh thổ”, và cảnh cáo những người còn có ý định lạm dụng khoa học cho mục tiêu chính trị. Nhìn một cách thực tế và trần trụi hơn, Nature đang lên lớp Trung Quốc về khoa học và đạo đức khoa học.
Nature là tập san khoa học hàng đầu trên thế giới, và có thể nói là còn danh giá hơn cả Science. Do đó, ảnh hưởng của 2 bài viết trên Nature theo tôi là rất đáng kể. Tôi nghĩ các tập san khác sẽ chú ý đến ý kiến của Nature và sẽ kiểm tra lại qui trình công bố của mình để không bị Trung Quốc lợi dụng biến thành công cụ tuyên truyền.
RA: Xin ông cho biết ý kiến (ủng hộ/phản đối) của mình về vấn đề chính trị hóa khoa học được thể hiện qua vụ việc trên và tác động tiêu cực của nó tới khoa học chân chính ? Trong thời gian qua, Trung Quốc đã lợi dụng khoa học để tìm cách hợp pháp hóa mục đích chính trị của mình như thế nào? Xin ông cung cấp cho bạn đọc một cái nhìn tổng quan về âm mưu và cách thức mà Trung Quốc đã thực hiện? 
NVT: Dĩ nhiên là tôi phản đối chính trị hóa khoa học. Tôi phản đối việc một số đồng nghiệp Trung Quốc đưa bản đồ ĐLB vào bài báo của họ một cách hoàn toàn vô cớ. Nếu sự việc xảy ra chỉ một vài lần thì tôi nghĩ đó có thể là ngẫu nhiên, nhưng ở đây sự việc xảy ra nhiều lần, ở nhiều nơi, qua nhiều năm, và tôi phải xem đó là một vấn đề có hệ thống. Bản đồ ĐLB đã xuất hiện trong các ấn phẩm khoa học tiếng Hoa khá lâu, nhưng xuất hiện trên tập san khoa học quốc tế thì từ 2005 (có thể trước đó, nhưng tôi chưa biết) và liên tục xuất hiện với mật độ dầy hơn trong vài năm gần đây. Ngoài ra, các nhà khoa học Trung Quốc đã viết về Hoàng Sa và Trường Sa (mà họ gọi là Nam Sa và Tây Sa) nhiều hơn các học giả Việt Nam viết về hai hòn đảo của ta. Nếu đếm con số, số bài báo của học giả Trung Quốc là tối thiểu 48 bài, còn Việt Nam chỉ công bố được … 2 bài! Rõ ràng, Trung Quốc có một chiến lược thuyết phục cộng đồng khoa học quốc tế bằng khoa học, còn phía Việt Nam ta thì thuyết phục bằng … cảm tính. Chúng ta có thể nói như thế vì đến nay thì chúng ta biết rằng cái hệ thống tính đó chính là Chính phủ Trung Quốc đứng đằng sau việc phổ biến cái bản đồ phi pháp và phi khoa học.
RA: Theo ông, giới học giả cần phải làm gì để tránh xảy ra trường hợp tương tự trong tương lai? 
NVT: Tôi nghĩ chúng ta cần phải làm nhiều hơn nữa. Họ nói chuyện khoa học, chúng ta cũng nên nói chuyện với họ bằng ngôn ngữ khoa học. Tôi nghĩ đến các nhà khoa học xã hội cần chủ động công bố những nghiên cứu liên quan đến Trường Sa, Hoàng Sa, lãnh hải Việt Nam trên các tập san quốc tế bằng tiếng Anh. Chúng ta cần nói chuyện bằng tiếng Anh, bởi vì đó là ngôn ngữ khoa học mà cộng đồng khoa học quốc tế sử dụng. Nếu chúng ta chỉ viết bằng tiếng Việt thì chỉ cho chúng ta đọc chứ các học giả nước ngoài đâu thể hiểu được. Công bố trên tập san khoa học quốc tế còn là một cách “thử lửa”, là cách chúng ta đối thoại với đồng nghiệp Trung Quốc trong tinh thần khoa học.
Tôi nghĩ Nhà nước cần có một tầm nhìn xa và hệ thống. Như tôi đề cập trên, VN ta rất ít nghiên cứu về lãnh hải. Nhưng chúng ta cần những chứng từ khoa học, những chứng từ này phải được đúc kết từ nghiên cứu khoa học. Do đó, Nhà nước cần chủ động đầu tư cho nghiên cứu về biển, như lập một vài nhóm nghiên cứu trong các đại học lớn để huy tụ các học giả có kinh nghiệm làm việc với nhau.
Chúng ta cũng cần phải liên kết với các đồng nghiệp ở các nước như Phi Luật Tân, Mã Lai, và Nam Dương. Bản đồ ĐLB xâm lấn lãnh hải của 3 quốc gia vừa kể, nhưng tôi nghĩ cần phải quốc tế hóa vấn đề và mời các đồng nghiệp láng giềng tham gia phản biện những lạm dụng khoa học của phía Trung Quốc.

Nature cảnh giác với tấm bản đồ "lưỡi bò" của Trung Quốc

Câu chuyện Nature đăng 2 bài về lạm dụng khoa học và ĐLB của Trung Quốc thu hút chú ý của giới báo chí. Bài dưới đây là của Biên tập viên Đỗ Nghĩa (Đài RFI, Pháp). Tối Chủ Nhật vừa qua tôi có một cuộc trao đổi (gọi là “phỏng vấn” cho oai) với anh Đỗ Nghĩa chung quanh vấn đề ĐLB và tập san khoa học, trong đó có câu hỏi tại sao các tập san khoa học chưa chịu rút lại bản đồ ĐLB và Việt Nam nên làm gì. Xin mời các bạn theo dõi. NVT
                                                                                                  Bấm vào 'play' dưới đây để nghe phỏng vấn:
NamePlay
rfi_nature
Tập san khoa học Nature cảnh giác với tấm bản đồ "lưỡi bò" của Trung Quốc
Trên một số tập san khoa học quốc tế gần đây, nhiều tác giả Trung Quốc đã cố lồng vào bài viết của họ tấm bản đồ "lưỡi bò" biểu thị chủ quyền của Bắc Kinh trên Biển Đông. Sự kiện này từng bị giới nghiên cứu Việt Nam tố cáo. Trong số đề ngày 20/10/2011, đến lượt tạp chí khoa học có uy tín Nature phản đối hành vi lạm dụng khoa học để quảng bá mưu đồ chính trị, lấy ví dụ cụ thể từ trường hợp tấm bản đồ hình chữ U của Trung Quốc.
Quan điểm rõ ràng của tập san Nature - được công nhận là một tạp chí khoa học thuộc loại có uy tín nhất trên thế giới – đã được xác định trong hai bài viết công bố lần đầu tiên trên trang web của Nature ngày 19/10. Quan trọng hơn cả là bài xã luận (Editorial) của ban biên tập mang tựa đề “Uncharted territory” (tạm dịch Vùng hoang). Bài viết xác định ngay từ đầu :
“Mọi bản đồ chính trị nhằm mục đích thúc đẩy các đòi hỏi lãnh thổ đều không có chỗ đứng trong các bài báo khoa học. Giới nghiên cứu nên giữ quan hệ thân thiện với nhau bằng cách phi chính trị hóa các công trình của mình”.
Tuyên bố trên đây thực ra không có gì mới lạ vì chỉ khẳng định trở lại nguyên tắc thông thường về tính chất khách quan, phi chính trị vốn có của khoa học. Điểm mới nằm trong phần nêu bật đối tượng cần lưu ý : “Bản đồ nhằm thúc đẩy đòi hỏi lãnh thổ”. Và cụ thể hơn nữa là tấm bản đồ chủ quyền trên Biển Đông gọi nôm na là “lưỡi bò” mà Trung Quốc đã đơn phương chuyển lên Liên Hiệp Quốc vào năm 2009 :
“Hãy lấy trường hợp biển Nam Trung Hoa [tức Biển Đông] : Các quan chức Trung Quốc nhấn mạnh rằng phần lớn vùng biển này thuộc quyền sở hữu của Trung Quốc, và các tấm bản đồ Trung Quốc có xu hướng lồng những đường gián đoạn vào để thể hiện quan điểm đó. Thế nhưng không có bất kỳ một thỏa thuận quốc tế nào công nhận chủ quyền của Trung Quốc, và nhiều nước khác cũng có đòi hỏi trùng lặp với Bắc Kinh.”
Điểm đáng phiền theo Nature, tuy nhiên là vấn đề tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông trong thời gian qua, đã len lỏi vào các bài vở đăng trên các tập san khoa học, trong đó có tờ Nature. Ban biên tập tạp chí khoa học này ghi nhận :
“Trong một chiều hướng phát triển đáng ngại, ngày càng có nhiều tấm bản đồ trong đó có một đường gián đoạn bao trùm hầu như toàn bộ Biển Nam Trung Hoa [tức Biển Đông] biểu thị sở hữu của Trung Quốc, được các nhà khoa học Trung Quốc lồng vào những bài báo khoa học của họ. Cũng dễ hiểu là giới khoa học gia và công dân các nước lân cận cảm thấy bị chọc tức vì các tấm bản đồ đó, mà trong đa số trường hợp không liên quan gì đến chủ đề bài báo mà các nhà khoa học Trung Quốc công bố”.
Trong tình hình đó, Nature xác định : “Việc lồng các đường gián đoạn vào bản đồ không phải là một nhận xét khoa học - đó là một nhận định, và có dấu hiệu cho thấy là chính quyền Trung Quốc đã ra lệnh [cho các nhà khoa học Trung Quốc] làm việc này. Đó là một yêu sách về chủ quyền lãnh thổ, và được đưa ra không đúng chỗ”.
Để ngăn ngừa việc tạp chí khoa học của họ bị tiếp tục lạm dụng như trong trường hợp nêu trên, ban biên tập Nature đã loan báo một quyết định dứt khoát : Giành quyền can thiệp vào những bài viết bị xét là có vấn đề, yêu cầu tác giả tự điều chỉnh, và nếu tác giả không làm, thì chính tạp chí Nature sẽ làm :
“Liên quan đến điều này (tranh chấp Biển Đông) và những tranh chấp quốc tế khác, quan điểm của tập san Nature là giới khoa học nên dựa vào khoa học. Các tác giả nên cố gắng phi chính trị hóa một cách tối đa những bài báo, bằng cách tránh những nhận xét mang tính kích động, những phát biểu gây tranh cãi, và những bản đồ còn tranh chấp. Trong trường hợp không tránh được những điều đó, chẳng hạn như một bài nghiên cứu về tài nguyên một quốc gia cần xét đến một hòn đảo nào đó, thì tấm bản đồ phải được ghi chú là “còn trong vòng tranh cãi (under dispute)” hoặc kèm theo lời mô tả có ý nghĩa tương tự. Về các bài viết trên tập san Nature, các biên tập viên có quyền lồng vào những ghi chú như thế, nếu tác giả không chịu làm như vậy”. 

Chính quyền Trung Quốc ra lệnh cho giới nghiên cứu khoa học ?
Ngoài bài xã luận xác định quan điểm của mình, tập san Nature còn công bố một bài báo mang tính chất thông tin về cuộc tranh cãi giữa các nhà khoa học về các tấm bản đồ hình lưỡi bò của Trung Quốc được âm thầm đưa vào các bài báo khoa học trong thời gian qua.
Bài viết mang tựa đề “Angry words over East Asian seas” (tạm dịch : “Những lời lẽ phẫn nộ về các vùng biển Đông Á”) của nhà báo David Cyranoski, đã phác họa lại bối cảnh cuộc tranh chấp trên biển hiện nay giữa Trung Quốc và các láng giềng, từ Đài Loan, Nhật Bản cho đến các quốc gia Đông Nam Á, nêu bật tham vọng tăng cường việc khai thác biển của Bắc Kinh, với các hành động quyết đoán của Trung Quốc nhằm áp đặt đòi hỏi chủ quyền.
Riêng về Biển Đông, bài báo đã thuật lại điều được tác giả “cuộc chiến” về chủ quyền “tràn lên trang giấy của các tạp chí khoa học”, với một thí dụ cụ thể lấy từ một bài viết về biến đổi khí hậu tại Trung Quốc được chính tờ Nature công bố vào năm ngoái, chứa đựng một tấm bản đồ Trung Quốc hàm ý cho thấy là hầu như toàn bộ Biển Đông thuộc chủ quyền Trung Quốc.
Tác giả ghi nhận sự kiện các nhà nghiên cứu Việt Nam trên thế giới đã lên tiếng tố cáo việc lạm dụng các tấm bản đồ kiểu như trên, trên Nature cũng như hai tạp chí khoa học khác là Climatic Change và Science. Điểm đáng lưu ý nhất trong bài báo của tờ Nature là một số lời chứng của chính các nhà khoa học Trung Quốc, xác nhận rằng họ được chỉ thị của chính quyền để lồng các tấm bản đồ còn trong vòng tranh cãi vào trong các bài nghiên cứu của họ. Bài báo nêu lên hai trường hợp cụ thể :
Khi được tạp chí Climatic Change đề nghị chỉnh sửa tấm bản đồ “lưỡi bò” mà bà đã lồng vào một bài viết đã đăng, nhà nghiên cứu Thiệu Tuyết Mai (Xuemei Shao) của Viện Nghiên cứu Địa lý và Tài nguyên Thiên nhiên tại Bắc Kinh đã từ chối, và giải thích rằng sở dĩ bà đã lồng bản đồ đó vào bài báo, đó là do yêu cầu của Chính phủ Trung Quốc.
Trường hợp thứ hai được nêu lên liên quan đến ông Phương Tinh Vân (Jingyun Fang), một chuyên gia về biến đổi khí hậu thuộc Đại học Bắc Kinh, đồng tác giả bài viết trên Nature. Về lý do lồng bản đồ “lưỡi bò” vào bài viết, nhân vật này khẳng định là ông phải tuân theo luật pháp của Trung Quốc (tức phải dùng bản đồ đường lưỡi bò).
Khi được tạp chí Nature chất vấn về nội dung chi tiết các luật lệ kể trên, từ ông Phương Tinh Vân, bà Thiệu Tuyết Mai, cho đến 4 nhà nghiên cứu Trung Quốc khác đều từ chối trả lời.
Trong phần kết luận bài báo, David Cyranoski đã ghi nhận rằng rốt cuộc cả ba tạp chí đã từng đăng bài của tác giả Trung Quốc có in bản đồ đường lưỡi bò, như Science, Nature và Climatic Change quyết định không xóa bỏ những bản đồ mang tính xúc phạm đó. Tuy vậy tác giả cũng đã trích lời giáo sư y khoa Nguyễn Văn Tuấn tại Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan ở Sydney (Úc), tiếp tục nói rằng : “Việc công bố bản đồ [đường lưỡi bò] thể hiện một sự lạm dụng khoa học“.
Là người đã gửi thư phản đối các vụ công bố này đến tổng biên tập các tập san khoa học, giáo sư Tuấn cho rằng bản đồ đăng trên các tập san khoa học phải được xử lý như các dữ liệu khoa học và được thẩm tra trước khi công bố.
Để hiểu rõ thêm về ý nghĩa của sự kiện tập san khoa học Nature khẳng định quan điểm chống lại việc công bố tấm bản đồ lưỡi bò, Ban Việt ngữ RFI đã được hân hạnh phỏng vấn giáo sư Nguyễn Văn Tuấn.

Cải cách toàn diện để phát triển đất nước (3)

D. Cải cách vì một nước Việt Nam giàu mạnh và tự chủ

1. Cải cách thể chế là quan trọng nhất
Có thể nói Việt Nam chúng ta đang đứng trước một bước ngoặt lịch sử. Phải có cuộc cách mạng về thể chế mới tránh được nguy cơ này và đưa đất nước phát triển bền vững. Ai sẽ đảm nhận cuộc cách mạng mới này và nội dung cốt lõi của cuộc cách mạng là gì?
Chúng tôi cho rằng ở thời điểm này chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới thực hiện được cuộc cách mạng này. Đảng Cộng sản Việt Nam cần tự thay đổi để lãnh đạo dân tộc bước vào một thời đại mới, thời đại củng cố và phát huy sức mạnh của toàn dân tộc để đất nước trở nên giàu mạnh, tự chủ. Đó cũng chính là sức mạnh to lớn mà Đảng cộng sản Việt Nam (trước đây là Đảng Lao động Việt Nam) đã phát huy, đã phấn đấu, hy sinh trong suốt lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc. Cuộc cách mạng thể chế này, theo chúng tôi, bao gồm những khía cạnh sau:
Thứ nhất, không áp đặt một hệ tư tưởng, một ý thức hệ duy nhất vào thể chế chính trị, vào đời sống của dân, vào các hoạt động kinh tế - giáo dục - văn hóa - báo chí, để tạo điều kiện cho người dân, nhất là giới trẻ tiếp cận được những tinh hoa, những tiến bộ của thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh nếu chỉ biết Mác-Lênin, không tiếp thu mọi tư tưởng tiến bộ của thế giới thì đã không viết được bản Tuyên ngôn độc lập gói ghém những giá trị phổ quát của nhân loại. Trên thực tế, chính Đảng Cộng sản đã từ bỏ nhiều khẩu hiệu phi lý một thời đã được cường điệu. Chẳng hạn “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” từng là một trong những khẩu hiệu được phổ biến rộng rãi (sau năm 1975) nhưng đã dần dần biến mất. Đó là một sự thay đổi tích cực cần ghi nhận. Mong rằng Đảng Cộng sản tiến thêm một bước tránh dùng các cụm từ như “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” để các thế lực bảo thủ vì lợi ích riêng không thể dựa vào đó để làm cho đất nước trì trệ, lạc hậu. Chúng tôi cho rằng Đảng Cộng sản chỉ giữ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là hợp lòng dân.
Ra khỏi sự ràng buộc vào một ý thức hệ cũng sẽ giúp cho Việt Nam độc lập với Trung Quốc về mặt này và đi trước Trung Quốc về cải cách thể chế. Làm được điều này, Đảng Cộng sản vừa được lòng dân vừa tạo được uy tín trên thế giới.
Thứ hai, phải triệt để thực hiện dân chủ, đúng như quy định của Hiến pháp và đúng như trong Cương lĩnh mà Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra. Đảng phải làm thế nào để nhân dân thấy rằng đó không phải là khẩu hiệu mà chính là khát khao, trăn trở thường xuyên của lãnh đạo, của nhà cầm quyền để mọi người dân thật sự được tham gia bàn bạc và quyết định việc chung. Để thực hiện dân chủ trong khuôn khổ pháp lý hiện nay, chỉ cần triển khai và thật sự áp dụng nội dung của Hiến pháp.
Trước hết, phải thực sự tôn trọng các quyền mà Hiến pháp đã ghi rõ, đặc biệt là quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận và quyền bình đẳng trước pháp luật. Đầu tiên là quyền tự do báo chí. Muốn biết một nước có dân chủ hay không, chỉ cần nhìn tình trạng báo chí là thấy. Mà tình trạng báo chí trong nước ta thì nhân dân thấy rõ là chưa làm được nhiệm vụ thông tin trung thực và soi sáng được dư luận. Tiếp theo là quyền bình đẳng trước pháp luật. Bình đẳng trước pháp luật có nghĩa rằng luật pháp là ở trên cao nhất, tối thượng, ai cũng ngang nhau và đều ở dưới pháp luật. Vậy mà nhân dân thấy quá nhiều người có quyền chức tự cho mình quyền đứng cao hơn người khác, thậm chí cao hơn cả pháp luật. Như vậy là ta chưa tiến được bước nào, thậm chí còn đi lùi, trên con đường "nhà nước pháp quyền" mà chính Hiến pháp đã đề xuất. Bình đẳng trước pháp luật bao hàm bình đẳng trước công vụ như một hệ quả tất nhiên. Do đó, những phân biệt đối xử như lý lịch, đảng viên hay không, đều là trái với Hiến pháp. Bình đẳng trước công vụ, ai cũng có quyền bầu cử, ứng cử như nhau, ai cũng phải được tuyển dụng vào các cơ quan hành chính trên cơ sở duy nhất là năng lực và tinh thần trách nhiệm. Chỉ với biện pháp đó, thực hiện triệt để, nền hành chính của ta, từ trung ương đến địa phương, mới có thể tuyển dụng được người tài giỏi xứng đáng.
Thứ hai, triệt để tôn trọng nguyên tắc “Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất”. Đảng Cộng sản phải thực sự thực hiện nguyên tắc đó để làm nhân dân tin rằng lá phiếu của mình chắc chắn góp phần vào việc xây dựng một cơ quan xứng đáng là đại diện toàn dân.
Thứ ba, bảo đảm có hệ thống tòa án độc lập là sự phân quyền vô cùng quan trọng. Để có được sự độc lập và bảo đảm khả năng chuyên môn về luật pháp, các thẩm phán cần phải được tuyển dụng như công chức, được bổ nhiệm theo một quy chế riêng có mục đích bảo vệ tính độc lập của họ. Thẩm phán ở cấp cao có trách nhiệm bổ nhiệm thẩm phán cấp dưới, cần có nhiệm kỳ dài, chỉ bị truất quyền giữa nhiệm kỳ nếu vi phạm luật pháp.
Cần nhấn mạnh điều này: Nếu Đảng đứng trên hiến pháp và quyết định thay cho Quốc hội và tòa án thì tình trạng mãi kéo dài như hiện giờ: Nhiều sai phạm lớn của cán bộ, đảng viên chỉ được xử lý nội bộ, được bao che, nên không phòng chống được tham nhũng, và kết quả là mất lòng dân và bộ máy nhà nước kém hiệu lực.
Thứ tư, cần tạo cơ chế công khai, minh bạch, thực sự dân chủ, trước hết là trong Đảng để có thể chọn lựa và làm xuất hiện những nhà lãnh đạo xứng tầm với trí tuệ của dân tộc, được dân tin tưởng và được thế giới kính trọng. Không nên tiếp tục cách làm hiện nay là dàn xếp trong nội bộ Đảng rồi đưa ra Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm.
Chúng tôi thẳng thắn nêu những vấn đề này chỉ với mong muốn Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng là tổ chức lãnh đạo đất nước, không bị trói buộc bởi những giáo điều, những mô hình đã bị thực tế lịch sử loại bỏ. Những giấc mơ, những lý tưởng tốt đẹp cần được chứng minh từng bước bằng thực tế, bằng kết quả hiện thực chứ không chỉ bằng duy ý chí, và bị lợi dụng bởi một nhóm người cầm quyền, dùng giáo điều, dùng khẩu hiệu để củng cố quyền lực và lợi ích phe nhóm mà hậu quả là đất nước tụt hậu và tha hóa…
Nếu bốn điểm nói trên được thực hiện, dân chúng sẽ tin tưởng ở Đảng Cộng sản, tin tưởng ở người lãnh đạo và hy vọng về một đất nước tốt đẹp hơn. Do đó dân chúng nếu có bất mãn và phê phán lãnh đạo hay quan chức thì chỉ là đối với cá nhân chứ không phải đối với Đảng Cộng sản. Ngược lại, dân chúng được tự do sử dụng các quyền chính đáng của mình thì chính là giúp Đảng phát hiện ra những người không đủ tư chất đảm trách công việc lãnh đạo hay quản lý. Thực hiện dân chủ cũng là biện pháp hữu hiệu để phòng chống tham nhũng.
Ngoài ra, Đảng Cộng sản cần quan tâm hơn đến vấn đề đoàn kết dân tộc. Nếu những điểm nói trên được thực hiện thì kết quả là gắn bó được dân với Đảng và thực hiện được đoàn kết. Tuy nhiên, cần đưa ra các chính sách cụ thể, chẳng hạn nghiêm cấm việc lạm dụng quyền lực để đề bạt người thân, có quy chế luật lệ nghiêm khắc để xử lý các trường hợp sai phạm. Việc cất nhắc, đề bạt không dựa trên lý lịch chính trị mà theo năng lực và tư chất đạo đức. Đảng và Nhà nước cần nghiêm chỉnh thực hiện chính sách hòa hợp hòa giải dân tộc đối với cựu quan chức và quân nhân của chế độ cũ ở Miền Nam, nhất là trong bối cảnh cần đoàn kết dân tộc trước yêu cầu tăng nội lực để phát triển đất nước và trước nguy cơ ngoại xâm. Đặc biệt trong tình hình phức tạp ở biển Đông, để cổ vũ lòng yêu nước của mọi người dân không phân biệt chính kiến, quá khứ, chúng tôi đề nghị nên có hình thức biểu dương sự dũng cảm hy sinh của quân đội Việt Nam Cộng hòa ở Hoàng Sa năm 1974.
Trong việc thúc đẩy sự hòa giải và hòa hợp dân tộc, cần có biện pháp hữu hiệu để người Việt ở nước ngoài hợp tác với các cơ sở trong nước, nhất là trong nghiên cứu khoa học, trong giáo dục và phát triển kinh tế, để cùng làm cho đất nước giàu mạnh.
2. Củng cố bộ máy nhà nước.
Một chính phủ mạnh và hiệu quả là điều kiện tối cần thiết để kinh tế phát triển nhanh và có chất lượng cao. Để củng cố bộ máy nhà nước, cần cải cách chế độ tiền lương và thực hiện việc thi tuyển quan chức. Đây là vấn đề cốt lõi của nhiều vấn đề.
Cải cách chế độ tiền lương là một việc tuy khó nhưng cấp bách và không thể trì hoãn, vì nếu không sẽ không thể giải quyết được vấn đề nào khác. Thiết nghĩ, đây là vấn đề nan giải nhưng không hẳn là không có giải pháp nếu nhà nước thực lòng quyết tâm. Trước mắt, chúng tôi đề khởi một số nội dung cải cách như sau:
Thứ nhất, hiện tượng phổ biến hiện nay là tiền lương chỉ chiếm một phần nhỏ trong thu nhập của quan chức, công chức, thầy giáo, v.v.. Do đó, trước tiên phải minh bạch hóa các nguồn thu nhập này và lần lượt đưa vào lương.
Thứ hai, cải cách thuế để tăng thu ngân sách. Đặc biệt cần đánh thuế lưu thông bất động sản, đánh thuế suất cao đối với những người sở hữu nhiều bất động sản, và đánh thuế thừa kế tài sản.
Thứ ba, tăng tỉ lệ tiền lương trong tổng thu ngân sách. Trước mắt giảm tỉ lệ đầu tư công lấy từ ngân sách, hoãn những dự án đầu tư lớn cần nhiều vốn nhưng chưa thật cần thiết..
Thứ tư, tinh giảm bộ máy công quyền ở trung ương và địa phương.
Chúng tôi đề nghị nhà nước lập ra ngay một ban chuyên trách về cải cách tiền lương gồm các chuyên gia kinh tế, tài chính, hành chánh. Ban chuyên trách này sẽ khẩn trương nghiên cứu, xem xét 4 nội dung cải cách nói trên, để trong thời gian ngắn đưa ra đề án cải cách khả thi.
Quan chức, công chức phải là những người được tuyển chọn nghiêm túc qua các kỳ thi định kỳ và cuộc sống của họ và gia đình họ phải được bảo đảm bằng tiền lương. Tiền lương cũng phải đủ sức hấp dẫn người có năng lực vào bộ máy công quyền. Nội dung các kỳ thi tuyển cho quan chức cấp trung trở xuống cũng cần chú trọng trình độ văn hóa và sự hiểu biết về luật pháp và cơ cấu hành chánh. Quan chức cấp trung ương, cũng với nội dung ấy nhưng ở trình độ cao cấp hơn và thêm các chuyên môn cần thiết. Trình độ văn hóa và sự khó khăn phải vượt qua các cửa thi tuyển sẽ nâng cao khí khái và lòng tự trọng của quan chức, tránh hoặc giảm được tệ nạn tham nhũng. Việc thi tuyển quan chức còn có tác dụng tạo niềm tin và động lực học tập trong giới trẻ vì ai cũng có cơ hội bình đẳng thi thố tài năng cho việc nước. Chế độ tiền lương và việc thi tuyển quan chức cần được thực hiện trong vòng 3-4 năm tới.
3. Về chiến lược, chính sách phát triển kinh tế
Đây là vấn đề khá rộng và lớn, ở đây chỉ xin nói đến mấy điểm chúng tôi cho là quan trọng nhất.
Nguồn lực lớn nhất của Việt Nam là con người. Chiến lược phát triển phải vì cuộc sống của đại đa số dân chúng và chủ yếu dựa vào nguồn nhân lực ngày càng có kỹ năng cao qua giáo dục và đào tạo, qua khả năng làm chủ công nghệ.
Hiện nay xuất khẩu lao động và phụ nữ lấy chồng nước ngoài vì lý do kinh tế đang là hiện tượng làm bức xúc người dân và ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam trên thế giới. Chúng tôi đề nghị nhà nước đưa ra mục tiêu đến năm 2020 phải thực hiện toàn dụng lao động, không còn ai phải miễn cưỡng ra nước ngoài chỉ vì sinh kế.
Để phát triển bền vững và hướng tới toàn dụng lao động cần đẩy mạnh công nghiệp hóa theo hướng ngày càng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và chú trọng phát triển nông thôn. Cho đến nay trí thức trong và ngoài nước đã đề xuất nhiều chiến lược, chính sách về các vấn đề này nhưng không được nhà nước quan tâm thực hiện. Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi đề nghị nhà nước cần tập trung những chuyên gia có trình độ, thành lập một bộ phận chuyên trách để xây dựng và giám sát việc thi hành chiến lược phát triển với đủ thẩm quyền và chế độ đãi ngộ thích hợp. Bộ phận này phải được đặt trên tất cả các bộ ngành liên quan tới lĩnh vực kinh tế, đứng đầu là Thủ tướng hoặc Phó thủ tướng thường trực, có những chuyên viên tài năng, có cơ chế tiếp thu ý kiến của giới doanh nhân và trí thức. Việt Nam hiện nay cũng có những cơ quan như Bộ Kế hoạch & Đầu tư hay Bộ Công thương nhưng quyền hạn liên quan tới vấn đề này bị phân tán, ràng buộc bởi nhiều mối quan hệ với cơ quan hay doanh nghiệp nhà nước, vì vậy thường khó có thể đề xuất được những chính sách hiệu quả, hoặc do phải cân nhắc lợi ích của quá nhiều đối tượng nên những nội dung thống nhất được cũng mang tính thỏa hiệp, chung chung.
Về xây dựng kết cấu hạ tầng, chúng tôi đề nghị hoãn kế hoạch xây dựng đường sắt cao tốc vì chưa cần thiết, tốn kém lớn và đã được chứng minh bằng các phân tích khoa học là không có hiệu quả. Thay vào đó, cần tu bổ nâng cấp đường sắt Thống Nhất, mở rộng mạng lưới đường sắt phổ thông đến vùng đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh miền Bắc, đồng thời xây dựng đường bộ cao tốc Bắc Nam và xây dựng các tỉnh lộ, huyện lộ nối nông thôn với đường sắt và đường cao tốc này, nhất là nối nông thôn với các đô thị gần đường cao tốc. Kết cấu hạ tầng như vậy mới thúc đẩy công nghiệp hóa nông thôn.
Liên quan đến phát triển nông thôn, việc cải cách chế độ hạn điền, tư hữu hóa sở hữu ruộng đất cần được đẩy mạnh. Chế độ hộ khẩu đã được cải thiện nhiều nhưng mỗi đô thị lại có các quy chế riêng, cần cải cách theo hướng tự do hóa việc thay đổi chỗ ở hơn nữa để người dân khi đến đô thị làm việc có thể yên tâm với cuộc sống ở đó và không cần giữ lại quyền sử dụng đất ở nông thôn. Với sự phân tán, manh mún của ruộng đất hiện nay, việc tăng năng suất nông nghiệp gặp khó khăn. Tăng năng suất nông nghiệp và công nghiệp hóa nông thôn là hai trụ cột để nâng cao mức sống của người dân ở nông thôn nói riêng và phát triển kinh tế nói chung.
Đối với hoạt động của doanh nghiệp, thị trường lao động hiện nay có vấn đề không ăn khớp giữa cung và cầu: Ở các khu công nghiệp tại các thành phố lớn bắt đầu có hiện tượng thiếu lao động, doanh nghiệp khó tuyển dụng số lao động cần thiết, mặc dù ở nông thôn vẫn còn lao động dư thừa. Nguyên nhân là do thị trường lao động chưa phát triển, cung và cầu không gặp nhau. Một nguyên nhân nữa là chất lượng lao động (trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, khả năng tiếp thu tri thức về hoạt động của doanh nghiệp,...) không đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Biện pháp để cung cấp lao động một cách ổn định phải bao gồm chính sách ngắn hạn (phát triển thị trường lao động) và chính sách trung dài hạn (nâng cao chất lượng lao động, tăng cường giáo dục nghề nghiệp). Chính quyền địa phương ở nông thôn cần tích cực hơn nữa trong lĩnh vực này.
Nhà nước cần lắng nghe chuyên gia, trí thức về việc quyết định các dự án lớn. Đặc biệt, chúng tôi đề nghị tạm ngưng kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận vì những lý do chúng ta đã biết và các chuyên gia của ta cũng đã có những phân tích cho thấy dự án này quá tốn kém và chứa nhiều rủi ro tiềm ẩn. Nhiều người trong chúng tôi cũng đã đề nghị ngưng kế hoạch khai thác bô-xit ở Tây nguyên vì các lý do về môi trường, an ninh, hiệu quả kinh tế, và sự lệ thuộc vào nước ngoài.
Vấn đề cuối cùng là cải cách doanh nghiệp quốc doanh trong đó có các tập đoàn. Cần đặt các doanh nghiệp đó trong khung cảnh chung của luật pháp, xóa bỏ việc để hành pháp trực tiếp lãnh đạo kinh doanh - dù dưới dạng Thủ tướng quản hay Bộ trưởng quản - và thay vào đó là Hội đồng quản trị độc lập và có nhiệm kỳ, do Quốc hội hay Hội đồng Nhân dân bổ nhiệm, nhằm hạn chế sự thao túng của các nhóm lợi ích. Doanh nghiệp quốc doanh dùng tiền của dân và nhằm phục vụ dân, do đó phải có tiếng nói của đại diện nhân dân. Hội đồng quản trị có đại diện của dân do các tổ chức hội chuyên nghiệp và Mặt trận Tổ quốc đề cử, có đại diện của người tiêu dùng chính do các ngành sử dụng đề cử, có các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực hoạt động doanh nghiệp do các hội chuyên gia đề cử. Hội đồng quản trị sẽ bổ nhiệm chủ tịch công ty hay tập đoàn. Để cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả và thực sự phục vụ nhân dân thì phải có các tổ chức chỉ đạo, kiểm tra nghiêm túc. Ngoài ra, số lượng doanh nghiệp phải hạn chế, không thể để cho chính quyền các cấp tự do lập ra như hiện nay. Đặc biệt, phải công khai, minh bạch trong việc cấp vốn, việc cấp và sử dụng các nguồn lực quốc gia cho các doanh nghiệp nhà nước. Ngoài những trường hợp đặc biệt ưu tiên cho doanh nghiệp nhà nước đã được công khai, minh bạch, chính sách cần bảo đảm công bằng cơ hội, bảo đảm hiệu quả sử dụng và không phân biệt giữa các thành phần kinh tế, không phân biệt giữa các công ty, kiểm soát và hạn chế việc hỗ trợ các nguồn lực quốc gia theo kiểu chủ nghĩa tư bản thân hữu.
4. Về văn hóa, giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học và công nghệ
Chúng tôi có mấy đề nghị cụ thể sau:
a) Cần có chính sách ngăn chặn sự xuống cấp của văn hóa và đạo đức xã hội. Tăng cường quảng bá và khuyến khích những giá trị phổ quát, tiến bộ của nhân loại như tự do, bình đẳng, bác ái, dân chủ, quyền con người,… Đồng thời, phục hồi những giá trị văn hóa truyền thống tích cực để làm nền tảng cho các ứng xử văn hóa, các chuẩn mực đạo đức trong sinh hoạt xã hội. Song song với việc này cần tích cực bảo tồn các di tích văn hóa, lịch sử của dân tộc và ngăn chặn sự xâm thực không chọn lọc của văn hóa ngoại lai, đặc biệt là từ Trung Quốc.
b) Cần giảm các hình thức thi đua, tuyên dương, trao huân chương như hiện nay: Các cơ quan, các đoàn thể tổ chức quá nhiều lễ kỷ niệm những mốc hoạt động (20 năm, 30 năm, v.v.) và vận động để được nhận huân chương. Đây là hình thức tốn kém thì giờ, ngân sách mà không có hiệu quả, chưa kể đến những tiêu cực trong quá trình xin-cho vốn rất phổ biến. Phong trào học tập đạo đức Hồ Chí Minh cũng không thật sự hiệu quả vì dân chúng thấy tình trạng tham nhũng ngày càng trầm trọng, người cần học tập đạo đức Hồ Chí Minh (cần kiệm liêm chính chí công vô tư, ...) trước hết phải là những người ở cấp lãnh đạo và quản lý nhà nước. Tổ chức học tập nghị quyết của Đảng sau các kỳ đại hội như cách làm hiện nay cũng tốn kém và làm ảnh hưởng đến việc quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương. Thay vào đó nên áp dụng các hình thức khác thích hợp và ít tốn kém thì giờ, ngân sách.
c) Việc cải tổ giáo dục được bàn quá nhiều trong thời gian qua nhưng không đưa lại kết quả. Do tầm quan trọng và tình hình ngày càng xuống cấp của giáo dục, chúng tôi đề nghị Thủ tướng trực tiếp chịu trách nhiệm về giáo dục, cụ thể là chỉ đạo nội dung cải cách, theo sát việc triển khai các chiến lược, chính sách, và chịu trách nhiệm về kết quả của các cải cách lớn.
Một trong những nội dung cải cách cấp bách phải là nâng cao vị thế của người thầy, bắt đầu từ đồng lương đủ sống và nuôi gia đình. Từ đó tiến đến việc thiết lập lại sự trung thực trong học tập và thi cử, trả lại tính trong sáng của tuổi trẻ cho học trò, tạo điều kiện cho những tài năng nảy nở.
Một nội dung nữa là tôn trọng quyền tự do học thuật và tư tưởng ở đại học cũng như trong các hoạt động trí thức, văn hoá nghệ thuật, tạo ra sức thu hút đối với tuổi trẻ và qua đó giúp thế hệ trẻ có động lực phấn đấu mạnh mẽ, có ý thức công dân cao và hoài bão phát triển đất nước. Nhân đây chúng tôi cũng đề nghị Thủ tướng hủy bỏ Quyết định 97 đòi hỏi trí thức chỉ được góp ý riêng với các cơ quan có thẩm quyền.
d) Cụ thể hóa các biện pháp làm cho giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu.
Triệt để thực hiện miễn phí bậc tiểu học và trung học cơ sở (chậm nhất là đến năm 2015) và trung học phổ thông (đến năm 2020). Song song với việc nâng cấp các đại học đang có, cần có ngay kế hoạch xây dựng một hoặc hai đại học chất lượng cao, trong đó nội dung giảng dạy, cơ chế quản lý, và trình độ giáo sư cũng như tiêu chuẩn đãi ngộ tương đương với các đại học tiên tiến ở châu Á. Về các đại học và trường cao đẳng ngoài công lập, cần có biện pháp chấn chỉnh giải quyết ngay những nơi không đủ chất lượng và có quy chế để ngăn ngừa hiện tượng kinh doanh giáo dục hiện nay. Ngoài ra, cần ban hành các sắc thuế khuyến khích doanh nghiệp và những cá nhân có tài sản đóng góp vô vị lợi (chủ yếu là tặng không) cho sự nghiệp giáo dục. Những vấn đề này cũng cần có kế hoạch thực hiện cụ thể trước năm 2015.
Cần tăng cường mở rộng và xây dựng thêm các trường, các khoa liên quan khoa học tự nhiên và công nghệ, xây dựng nhiều trường cao đẳng công nghệ để cung cấp đủ lao động cho công nghiệp hoá trong giai đoạn tới. Hiện nay, một mặt, trong nhiều ngành, sinh viên tốt nghiệp ra truờng không có việc làm, trong khi một số ngành về công nghệ tin học, điện tử, hoá học, kế toán, nông cơ, v.v.. thì nguồn cung cấp thiếu hoặc không đủ chất lượng. Chính sách sắp tới cần chú trọng đầu tư xây dựng thêm các ngành ở các lĩnh vực này và cải thiện chương trình, nội dung giảng dạy để nâng cao chất lượng. Mặt khác, nhu cầu về lao động có trình độ trung cấp và cao đẳng kỹ thuật, cao đẳng kế toán,... đang và sẽ tăng nhanh nhưng khả năng cung cấp còn rất hạn chế. Tâm lý coi thường bậc trung cấp và cao đẳng trong xã hội Việt Nam rất lớn. Cần có chính sách khuyến khích học tập trong các bậc học này, chẳng hạn tăng cường chế độ cấp học bổng và quan tâm giới thiệu việc làm cho học viên sau khi ra trường. Tóm lại, cần đổi mới thể chế giáo dục và đào tạo hiện nay mới có thể thực hiện toàn dụng lao động và đẩy mạnh công nghiệp hoá trong thập niên 2010.
Nhiều cải cách trong giáo dục cũng nên được áp dụng trong y tế: tăng đầu tư xây dựng bệnh viện, xây dựng các cơ sở y tế ở nông thôn và phổ cập bảo hiểm y tế để người nghèo có thể tiếp cận dịch vụ y tế với phụ phí thấp. Nên có chính sách miễn phí khám bệnh và phí nhập viện cho người dân nghèo hoặc cận nghèo.
e) Tăng cường đầu tư và cải thiện việc sử dụng ngân sách cho nghiên cứu khoa học: Một trong những lý do thành quả nghiên cứu khoa học của ta còn khiêm tốn là do thiếu đầu tư. Đầu tư cho nghiên cứu khoa học và công nghệ năm 2006 chẳng hạn chỉ có 428 triệu USD, chiếm khoảng 0,17% GDP. Trong cùng năm, Thái Lan đầu tư 1,79 tỉ USD (0,3% GDP) và Malaysia 1,54 tỉ (0,5% GDP). Đáng chú ý là Trung Quốc đầu tư 1,4% GDP cho khoa học và công nghệ trong năm 2010 và đặt mục tiêu đầu tư 4% GDP vào năm 2015. Ngân sách đầu tư cho khoa học công nghệ ở Việt Nam có đặc tính là tập trung vào việc xây dựng cơ sở vật chất thay vì chi tiêu cho việc thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học. Ngoài việc tăng đầu tư, cần phải xem xét lại việc sử dụng ngân sách khoa học. Theo cách làm hiện nay thì chúng ta có thể có những thiết bị khoa học tinh vi, nhưng không có người sử dụng hiệu quả những thiết bị này. Trong thực tế, tình trạng "thiết bị trùm chăn" đó đã trở nên phổ biến. Như đã phân tích ở trên, nền khoa học nước ta hiện nay còn lệ thuộc quá lớn vào các đồng nghiệp nước ngoài vì thiếu chuyên gia có trình độ cao. Do đó, thay vì đầu tư xây thêm phòng thí nghiệm, cần chú trọng đầu tư vào đào tạo chuyên gia có trình độ chuyên sâu.
Chẳng những cần tăng đầu tư cho khoa học và công nghệ, chúng ta cần phải cải cách hệ thống phân phối ngân sách cho nghiên cứu khoa học và quản lý khoa học. Hiện nay, các đề tài nghiên cứu cơ bản ở cấp nhà nước do các nhà khoa học xây dựng đã được quản lý khá tốt bởi Quỹ KH&CN quốc gia (Nafosted). Nhưng với các loại đề tài nghiên cứu ứng dụng và phát triển sản xuất ở các cấp - do cơ quan chủ quản ra đề tài, kêu gọi các nhà nghiên cứu nộp đơn xin và các cơ quan chủ quản xét duyệt và thẩm định - lại chưa có sự tham gia đúng mức của các nhà chuyên môn. Vì lý do này nhiều đề tài nghiên cứu của các bộ ngành, địa phương đề ra không theo kịp trào lưu và định hướng của khoa học quốc tế và nhu cầu thực tế.
5. Chiến lược đối ngoại
Trong chiến lược đối ngoại của Việt Nam hiện nay, Trung Quốc, Mỹ và ASEAN có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
"Đường lối ngoại giao của Việt Nam là thân thiện với mọi nước": nguyên tắc đó luôn luôn là lý tưởng. Nhưng lý tưởng đó cũng luôn luôn va chạm với một thực tế mà không nước nào tránh khỏi: đó là thực tế chiến lược mà vị trí địa dư là yếu tố then chốt.
Chẳng hạn quan hệ của ta với Trung Quốc. Dù Việt Nam muốn chân thành làm bạn với Trung Quốc đến đâu đi nữa, vị trí địa dư của Việt Nam cũng bắt buộc ta phải đồng thời nhìn Trung Quốc như một vấn đề an ninh cốt tủy và thường xuyên. Không việc gì ta phải giấu diếm quan tâm sinh tồn đó bằng 16 chữ vàng. Càng giấu, ngôn từ và hành động ngoại giao của ta lại càng để lộ yếu kém, sợ hãi, khiếp nhược. Chỉ bằng cách nói thẳng với Trung Quốc: "Nam quốc sơn hà nam đế cư", ta mới có thể làm bạn với Trung Quốc trên một vị thế không phải là khúm núm, thần phục. Ngày xưa, chỉ có ta với Trung Quốc thôi, ngoài trứng với đá không có ai khác, vậy mà tổ tiên ta vẫn có thể hiên ngang nói thẳng như thế, huống hồ bây giờ, thế giới đổi khác, quan hệ chiến lược có thể mở rộng với nhiều nước khác, cho phép Việt Nam lập hàng rào chiến lược bằng những quan hệ đặc biệt với nhiều nước.
Trung Quốc chắc phải hiểu cái thế tất yếu đó của Việt Nam. Cho nên họ vừa dụ dỗ, vừa uy hiếp để Việt Nam không thiết lập quan hệ đặc biệt với Mỹ và ngay cả không mơ tưởng đến một sách lược cân bằng lực lượng như nhiều nước trong khối ASEAN công khai áp dụng. Việt Nam có gì khác với các nước ASEAN khác khiến Trung Quốc có thể uy hiếp được? Không phải vì cái vị thế "núi liền núi sông liền sông" trong địa dư mà chính vì "núi liền núi sông liền sông" trong tư tưởng. Chẳng có ai phản đối: văn hóa Trung Quốc đã từng sáng chói cả một vùng trời Đông Á, ta chịu ảnh hưởng không phải là chuyện lạ, chuyện dở. Chuyện dở là chịu ảnh hưởng mà không biết sáng tạo như Nhật Bản. Chuyện dở là chịu ảnh hưởng đến cái mức phải làm cho giống nguyên bản để khỏi bị xem là man di. Từ trong tư tưởng, Trung Quốc đã là cái khuôn để rập theo. Họ Khổng giáo thế nào, ta Khổng giáo thế ấy. Họ Mao, ta cũng đã từng Mao. Họ đang là gì, ta cũng đang thế ấy. Suốt cả thế giới châu Á, có lẽ ngoài Việt Nam và Bắc Triều Tiên, không có nước nào làm cái bóng dưới mặt trời tư tưởng của họ. Trung Quốc biết rõ như thế, việc gì họ chẳng nắm cái điểm yếu đó để dụ và đe? Họ biết rõ ta sẽ không nghĩ đến cái thế cân bằng lực lượng, vì từ trong tư tưởng ta đã không có ý niệm cân bằng, đã lựa chọn nghiêng về một phía, đã nhượng bộ họ trên khắp lĩnh vực.
Họ lại còn tha hồ nắm cái điểm yếu đó vì biết chắc rằng không ai muốn sát cánh với ta thực sự khi quan hệ thân sơ của ta không rõ ràng. Về ngoại giao, dĩ nhiên ta cần giao hảo thân thiết với Trung Quốc như với Nhật, với ASEAN, nhưng về chiến lược, cả lịch sử lẫn thực tế ngày nay không cho phép ta xây dựng an ninh trường kỳ trên tư tưởng trụ cốt "Trung Quốc là bạn đặc biệt". Ta không minh bạch trên điểm đó, ai sẽ tin ta? Ai sẽ liên minh chiến lược với ta để ngăn chận kẻ mà ta vẫn nhận là "bạn đặc biệt"? Thế nhưng trên thực tế ta lại không thể minh bạch được vì một đằng quyền lợi quốc gia đòi hỏi ta phải cảnh giác Trung Quốc, một đằng tư tưởng chính thống lại xem Trung Quốc là bạn đặc biệt. Mâu thuẫn đó phải chấm dứt thì quan hệ chiến lược mới phân minh.
Vậy ai là đồng minh chiến lược với ta? Đồng minh ở đây không có nghĩa là gia nhập vào một liên minh quân sự mà bao gồm các trường hợp những nước có cùng quan tâm chiến lược trong các quan hệ ngoại giao. Trong định nghĩa rộng đó, thực tế ngày nay cho thấy dù muốn dù không chỉ có Hoa Kỳ mới có thể trở thành đối tác chiến lược của Việt Nam trong việc thiết lập thế cân bằng lực lượng để ta giữ nước. Câu hỏi duy nhất còn có thể đặt ra là: nước Mỹ có sát cánh với ta để cùng ta bảo vệ những quyền lợi thiết thân nhất của ta? Cụ thể, nước Mỹ có thể cùng ta ngăn chận bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông?
Nước Mỹ không dại gì trả lời câu hỏi đó rành rọt và công khai. Câu hỏi đó, chính ta phải trả lời, và chỉ ta mới trả lời rành rọt được mà thôi. Nếu ta làm cho người Mỹ thấy rằng quyền lợi của họ và quyền lợi của ta là một, không những chỉ trên Biển Đông mà cả trong chiến lược lâu dài của họ ở Đông Á và cả Á châu thì hai nước sẽ sát cánh với nhau. Hơn nữa, nếu ta giúp củng cố các thể chế ASEAN để vừa tăng đoàn kết và ổn định trong khu vực vừa tạo cho Mỹ cơ hội vận động nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới ủng hộ sự hiện diện của Mỹ tại Đông Nam Á thì ta lại càng thắt chặt quyền lợi của Mỹ với quyền lợi của ta hơn.
Nhưng quyền lợi mà thôi chưa đủ để xây dựng một quan hệ chiến lược bền vững, trường kỳ. Bởi vì đe dọa của Trung Quốc là trường kỳ, giải pháp đối phó cũng phải trường kỳ để quan hệ đồng minh (theo nghĩa rộng nói trên) không phải là quan hệ giai đoạn, chiến thuật. Cái gì tạo ra chất lượng cho một quan hệ chiến lược bền vững? Địa-chính trị ngày nay nói rõ: tư tưởng, văn hóa là yếu tố chiến lược cùng với vị trí địa dư. Chính thể dân chủ ở Đài Loan là yếu tố chiến lược gắn kết thêm với yếu tố quyền lợi trong quan hệ giữa Mỹ và xứ ấy. Nước Nhật quân phiệt phải dứt khoát viết lại hiến pháp để trở thành đồng minh chiến lược bền vững nhất của Mỹ trên thế giới. Do đó, cải cách thể chế theo hướng dân chủ hóa như đã trình bày ở trên ngoài mục đích tăng nội lực còn là điều kiện để mở rộng chiến lược ngoại giao.
Ai cũng biết: thực chất của ý thức hệ hiện nay ở Trung Quốc là chủ nghĩa dân tộc nước lớn. Dưới lớp áo xã hội chủ nghĩa, trái tim của Trung Quốc ra lệnh cho dân tộc họ phải trả thù nhục nhã của thế kỷ 19, nhanh chóng chiếm lĩnh địa vị đại cường, ngự trị như bá chủ trên vùng Đông Á. Làm sao ta đồng chí với họ được? Ngược lại, đó là tư tưởng mà ta phải triệt để chống như một đe dọa đè nặng trên sự sống còn của dân tộc. Tư tưởng chính trị của Việt Nam là tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng trên quan tâm duy nhất là độc lập của dân tộc. Vì độc lập, ta phải đoàn kết dân tộc, lấy đoàn kết làm tư tưởng, lấy dân tộc làm mục tiêu chứ không phải một lý thuyết nào xa lạ với thực tế mà người dân đang thấy trước mắt. Vì yếu tố tư tưởng quan trọng như vậy, chúng tôi đề nghị Việt Nam hãy dứt khoát cắt rốn tư tưởng với Trung Quốc. Ta đã có một Hồ Chí Minh đặt nền móng dân chủ cho một nước Việt Nam độc lập khác hẳn nền móng mà Mao đã đặt cho Trung Quốc năm 1954. Ta đã lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm tư tưởng chỉ đạo. Tư tưởng độc lập đó cần phải được vun xới sâu hơn trong bối cảnh ngày nay. Cần suy nghĩ rằng: một phần lớn tư tưởng đó đã được thoát thai từ tình trạng chiến tranh, hết chiến tranh thuộc địa đến chiến tranh chia cắt trong một thế giới chia hai theo lằn ranh ý thức hệ. Bây giờ nước ta không còn chiến tranh nữa, đã bắt đầu phát triển lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lại hội nhập vào một thế giới hoàn toàn đổi khác trong đó ý thức hệ tranh chấp ngày xưa đã biến mất rồi. Bối cảnh hoàn toàn đổi khác, tất nhiên tư tưởng của lãnh tụ cũng phải được hiểu theo một tinh thần mới, phải được chắt lọc lại, chỗ nào là tinh túy trường kỳ, chỗ nào là chiến thuật giai đoạn, chỗ nào thích hợp cho dân chủ ngày nay, chỗ nào đã đáp ứng xong rồi những nhu cầu trong quá khứ. Toàn dân sẽ tham gia thực hiện nền móng dân chủ mà lãnh tụ đã đặt viên gạch đầu tiên từ thuở khai sinh nhà nước. Ngôi nhà sẽ xây kết hợp hài hòa tư tưởng Hồ Chí Minh với những tư tưởng dân chủ của thế giới, vạch ra một mô hình dân chủ thích hợp với hoàn cảnh hiện nay của Việt Nam. Mô hình đó cũng sẽ không chối bỏ nguyên tắc căn bản của chính thể hiện nay là "đảng lãnh đạo". Vấn đề là phải thiết lập cho kỳ được dân chủ thật sự trong đảng và định nghĩa lại cho minh bạch thế nào là "lãnh đạo" theo ý kiến của toàn dân.
Không khó khăn gì để thể chế hóa hai vấn đề đó. Nhân dân và trí thức Việt Nam không thiếu óc sáng tạo. Thách thức là có ý muốn hay không. Từ lâu, vấn đề đã được đặt ra, nhưng chẳng bao giờ giải quyết. Thời cuộc ngày nay không cho phép trì hoãn nữa. Không những lòng tin của nhân dân có hạn mà an ninh của đất nước bắt buộc phải thế. Đe dọa từ phương Bắc buộc ta phải từ giã con đường cụt trong tư tưởng. Hoặc ta không có đồng minh, hoặc có đồng minh thì phải minh bạch, không ai hứng đạn cho ta nếu không tin ta.
Tất nhiên ai cũng có thể chất vấn: đồng minh (trong ý nghĩa cùng một quan tâm chiến lược) với Mỹ, ta có mất độc lập chăng? Trong lịch sử thế giới từ sau 1945, có hai kinh nghiệm đồng minh trong đó một bên là siêu cường, một bên là nước bại trận, mất cả chủ quyền, mất cả tiềm năng kinh tế, mất cả quân đội: đó là nước Đức và nước Nhật. Cả hai nước đều trở thành cường quốc. Nước Đức liên minh chiến lược với Mỹ nhưng không mất độc lập ngoại giao với Liên Xô. Nước Nhật liên minh với Mỹ nhưng không mất độc lập ngoại giao với Trung Quốc. Quan hệ chiến lược có ảnh hưởng trên quan hệ ngoại giao, nhưng không trùng hợp. Ngay cả Hàn Quốc, liên minh với Mỹ, họ có mất độc lập ngoại giao với ai đâu?
Tại sao họ không mất? Tại vì hai lẽ. Thứ nhất, họ biết vận dụng nội lực, xây dựng ở bên trong một thể chế lành mạnh, hữu hiệu, đưa đất nước họ từ tình trạng lệ thuộc, độc tài, lên tình trạng dân chủ, cường quốc. Sức mạnh bên trong là yếu tố không thể không có để độc lập với thế giới. Chính vì vậy mà toàn thể nhân dân ta khát vọng một cải cách toàn diện để lãnh đạo cùng với toàn dân đưa đất nước lên địa vị độc lập, độc lập với Trung Quốc, dĩ nhiên, và độc lập với cả Mỹ.
Thứ hai, họ biết vận dụng thời cuộc quốc tế để không trở thành chư hầu của một cực. Hiện nay, ai cũng tưởng chừng như Mỹ và Tây Âu đang trên đà đi xuống, Trung Quốc đang ở thế thượng phong bất khả cưỡng. Đúng vậy. Nhưng tình hình đó lại có một mặt tích cực khác cho ta mà chính ta cần phải thấy rõ: cái thế thượng phong trịch thượng, ngạo mạn, thủ đoạn của Trung Quốc hiện nay là vấn đề của cả thế giới dân chủ, hòa bình, tự do, chứ không phải riêng gì của ta. Việt Nam đang có một cái thế rất lớn, lớn hơn cả thời 1945, là đứng chung với cả thế giới đó trong một mặt trận chung. Chúng tôi nói "đồng minh" hoặc "quan tâm chiến lược" là nói trong ý nghĩa đó. Việt Nam "đồng minh" với cả thế giới đó chứ không phải với riêng ai. Việt Nam "đồng minh" với cả những lực lượng tiến bộ, dân chủ, trong lòng xã hội Trung Quốc. Vấn đề là ta có đủ quyết tâm làm như thế hay không, thế giới có xem ta như vậy hay không mà thôi. Đây là cơ hội ngàn năm một thuở, là quốc sách để cứu nước, chưa bao giờ có.
Việt Nam sẽ không bao giờ là chư hầu của ai nếu ta vận dụng được sức lực của toàn dân. Chọn dân tộc và chọn thế giới dân chủ, hòa bình, tự do, tôn trọng môi trường thì mới thoát ra được cái ách của Trung Quốc, hiện nay và mai sau.
Dĩ nhiên, dù đẩy mạnh quan hệ với Mỹ, ta vẫn coi trọng quan hệ với Trung Quốc trên nguyên tắc bình đẳng. Vì là láng giềng gần, sự giao lưu mật thiết giữa các tầng lớp dân chúng, nhất là giữa giới trí thức và lớp trẻ để tạo sự tương kính, hiểu biết nhau. Đó cũng là yếu tố góp phần gìn giữ hòa bình. Tuy nhiên, Việt Nam là nước nhỏ hơn nhiều về nhiều mặt, không thể theo phương châm “hợp tác toàn diện”, mà phải chọn lựa lĩnh vực và mức độ.
Riêng về vấn đề Biển Đông, chúng tôi có hai đề nghị: Một là, Quốc hội Việt Nam cần ra một tuyên cáo, một nghị quyết đặc biệt về Công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958, khẳng định đó không phải là sự thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Hoàng Sa và Trường Sa mà chỉ là thiện chí của Việt Nam ủng hộ Trung Quốc trong việc tranh chấp với Mỹ về an ninh ở vùng biển gần Đài Loan. Trung Quốc đã phản bội Việt Nam khi dùng công hàm đó để chủ trương chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa. Tuyên cáo này vừa để thanh minh trước dư luận quốc tế vừa xóa bỏ những ngờ vực trong không ít người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng thêm tình đoàn kết dân tộc trước hiểm họa ngoại xâm. Thứ hai, trên thực tế Việt Nam không làm chủ hết cả quần đảo Trường Sa nên cần đoàn kết với Philippines, Malaysia và Brunei trong việc gìn giữ quần đảo này và chống lại Đường Lưỡi Bò của Trung Quốc. Chúng tôi đề nghị Việt Nam chủ động đưa ra đề án với ASEAN đặt tên Biển Đông nước ta (mà Trung Quốc và nhiều nước khác gọi là biển Nam Trung Hoa) là Biển Đông Nam Á.

E. Kết luận
Trên đây là phân tích sơ lược về thực trạng của Việt Nam và đại cương về các giải pháp nhằm cải cách toàn diện để phát triển đất nước. Những nội dung chi tiết hơn không được đề cập để tránh loãng thông tin. Tuy nhiên, qua đó cũng có thể rút ra kết luận:
Việt Nam chúng ta đang đứng trước một khúc ngoặt lịch sử. Kinh tế, văn hóa giáo dục, khoa học đều suy thoái, nền tảng đạo đức xã hội lung lay và trên nhiều mặt ngày càng lệ thuộc vào nước láng giềng phương Bắc. Vì thế, Đảng Cộng sản Việt Nam cần làm một cuộc cách mạng mới để cứu đất nước khỏi nguy cơ này và mở ra con đường mới để dân tộc tiến nhanh về phía trước, để đất nước phát triển nhanh chóng, giàu mạnh và tự chủ. Cốt lõi của cuộc cách mạng mới là dứt khoát từ bỏ sự ràng buộc của một chủ nghĩa, một học thuyết đã không còn sức sống ở cả Việt Nam và trên thế giới. Gắn chặt với học thuyết ấy, chủ nghĩa ấy cũng làm nước ta ngày càng lệ thuộc vào quỹ đạo của phương Bắc ngày càng nặng.
Trí tuệ, khí khái, bản lĩnh và lòng yêu nước của tiền nhân ta là những bài học vô cùng phong phú, quý giá. Bây giờ là lúc phải học lại, học hơn nữa tầm nhìn chiến lược “khoan thư sức dân” của Trần Hưng Đạo, “khai dân trí, chấn dân khí” của Phan Châu Trinh, tư tưởng dân chủ, đoàn kết dân tộc và tinh thần học tập phóng khoáng của Hồ Chí Minh. Và hơn bao giờ hết chúng ta phải kế thừa khí phách Nguyễn Trãi “… Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương, tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có”.
Mong rằng với sự sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước chúng ta sẽ nhanh chóng ra khỏi thời kỳ khó khăn nghiêm trọng hiện nay và bước vào một kỷ nguyên phát triển mới./.

Đồng ký tên:
Hồ Tú Bảo, Giáo sư Tin học, Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản, Nhật Bản.
Nguyễn Tiến Dũng, Giáo sư Toán học, Đại học Toulouse, Pháp.
Trần Hữu Dũng, Giáo sư Kinh tế học, Đại học Wright State, Hoa Kỳ.
Giáp Văn Dương, Nhà nghiên cứu (Vật lý), Đại học Quốc gia Singapore.
Nguyễn Ngọc Giao, Nhà báo, nguyên Giảng viên Toán, Đại học Paris VII, Pháp.
Ngô Vĩnh Long, Giáo sư Sử học, Đại học Maine, Hoa Kỳ.
Vĩnh Sính, Giáo sư danh dự (Sử học), Đại học Alberta, Canada.
Nguyễn Minh Thọ, Giáo sư Hóa học, Đại học Leuven, Bỉ.
Trần Văn Thọ, Giáo sư Kinh tế học, Đại học Waseda, Nhật Bản.
Cao Huy Thuần, Giáo sư danh dự (Chính trị học), Đại học Picardie, Pháp.
Nguyễn Văn Tuấn, Giáo sư Y khoa, Đại học New South Wales, Úc.
Hà Dương Tường, Giáo sư danh dự (Toán học), Đại học Công nghệ Compiègne, Pháp.
Vũ Quang Việt, Chuyên gia tư vấn Thống kê Kinh tế cho Liên Hiệp Quốc, Myanmar, Philippines và Lào; nguyên chuyên viên cao cấp Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ.
Phạm Xuân Yêm, Nguyên Giám đốc nghiên cứu Vật lý, Đại học Paris VI và Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học, Pháp.