Nỗi nhục cho quốc thể
Quốc Tấn
Giải quyết chưa xong những vấn nạn cho dân tộc và đất nước do hành động lấn áp trắng trợn của nhà cầm quyền Trung Cộng trên biển Đông Hải, và do việc cho Trung Cộng đưa người vào khai thác bô-xít, nay lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam lại tiếp tục dấn bước trong sự nghiệp bán nước, ngụy trang bằng việc cho thuê đất rừng đầu nguồn suốt NỬA THẾ KỶ trước mặt. Đối với một nhà cầm quyền thiển cận, ngoan cố đến mức trơ trẽn hiện tại ở Việt Nam, dù đã có nhiều lời cảnh tỉnh, ta thán trên nhiều diễn đàn trong thời gian vừa qua, thiết tưởng có phải lập lại những hệ quả tai hại của vụ việc này cũng vẫn không là việc làm vô ích; nhất là khi những diễn đàn trong nước đang bầm dập vì sự bắt bớ trù dập và làn sóng phá hoại bằng tin tặc của nhà cầm quyền này. Tuy nhiên trong phạm vi bài này ta hãy cùng nhìn lại hành động cho thuê rừng đầu nguồn trên khía cạnh ảnh hưởng của nó thế nào đến thể diện của quốc gia và dân tộc Việt Nam, và sự khác biệt trong phản ứng của nhà cầm quyền CSVN và của những quốc gia khác ra sao đối với cái nhục quốc thể.
Việc một nhà nước cho một nước khác thuê đất không phải là một điều gì mới, nhưng thường chỉ là một hình thức lịch sự bề ngoài, cho đỡ xấu mặt nước bị mất đất, hơn là một cuộc lấn đất dành dân trắng trợn như đã từng xảy ra trong thời thực dân đô hộ của những thế kỷ trước. Thực chất của việc cho thuê đất đai trong nhiều trường hợp vẫn chỉ là mạnh thắng yếu, vẫn có kẻ được người thua. Vì lẽ đơn giản khi một nước có chủ quyền và có đủ sức để quản lý bờ cõi của mình, không có lý do nào lại giao một phần đất nước cho ngoại bang toàn quyền sử dụng trong một thời gian, dù ngắn dù dài. Khi sự bàn giao quyền sử dụng này xảy ra, lý lẽ dễ hiểu nhất là nhà nước cho thuê không đủ sức đảm đang một mình mảnh đất cho thuê, hoặc không chịu nổi áp lực bằng cách này cách khác của ngoại bang.
Điển hình là quần đảo Ryuku, thuộc tỉnh bang Okinawa của Nhật. Trong những năm sau cuộc đầu hàng của Nhật ở giai đoạn cuối Đệ Nhị Thế Chiến, Okinawa đã bị đặt dưới sự kiểm soát hành chính của Mỹ trong suốt 27 năm, và chỉ được trao trả trên bề mặt cho Nhật năm 1972. Tuy rằng trong thực tế vẫn còn hơn 25.000 quân nhân Mỹ sinh sống trong những căn cứ rải rác khắp cả quần đảo đó dưới danh nghĩa Hiệp ước Hỗ Tương về Hợp Tác và An Ninh giữa hai nước, nghĩa là một hình thức cho thuê.
Tương tự như Okinawa là trường hợp của Vịnh Subic trên đảo Luzon của Phi Luật Tân tuy thời gian và diễn biến có khác. Do nằm ở một vị trí hiểm yếu về mặt quân sự trong cả khu vực phía Đông Nam Á, vịnh Subic đã từng bị chiếm đóng bởi hải quân Tây ban nha từ những năm cuối thế kỷ 19, để rồi mất vào tay hải quân Mỹ vào năm 1899, không lâu sau khi người Anh giành lấy chủ quyền ở Hương cảng từ tay Trung quốc. Ngoài một vài sự chống chỏi không đáng kể của người Tây ban nha, người Đức, và của ngay cả dân Phi bản xứ, chủ quyền trong Vịnh hoàn toàn thuộc về Mỹ suốt gần trăm năm. Cũng như Okinawa, Vịnh Subic đã có thời được cho thuê, hợp thức hóa bằng việc thay đổi vào năm 1979 các Thỏa thuận Căn cứ Quân sự đã có từ 1947, và chỉ thật sự trở lại dưới chủ quyền của Phi năm 1992, khi hải quân Mỹ dỡ bỏ tất cả các căn cứ trong Vịnh.
Những sự kiện lịch sử kể trên cho thấy dù dưới hình thức nào, và dù có thể có một vài lợi nhuận trước mắt cho một số người, thực chất của việc cho thuê đất đai hay tài nguyên quốc gia vẫn là một sự nhượng bộ, một thua thiệt có thể kéo dài đến hàng trăm năm cho nước mất chủ quyền. Không cần phải có kiến thức sâu rộng, hay phải ở địa vị lãnh đạo xã hội, người dân bình thường nhất của nước mất chủ quyền vẫn cảm nhận được sự thua thiệt đó là một cái nhục, đó là cái nhục quốc thể. Từ Hương Cảng, Okinawa, tới Vịnh Subic, các dân tộc liên hệ đã bằng nhiều cách nói lên nhận thức đó, và đã liên tục tranh đấu để dành lại chủ quyền trên mọi miền của đất nước mình.
Hơn ai hết, người Trung quốc và lãnh đạo Bắc Kinh hiện nay biết việc phải nhượng một phần lãnh thổ cho nước khác “thuê” dài hạn là một sự sỉ nhục quốc gia. Họ đưa vào sách vở giáo khoa, không ngừng nhắc lại trên mọi kênh tuyên truyền về trọng tội của nhà Thanh đã để cho Anh Quốc “thuê” phần đất Hồng Kông (Hương Cảng) 99 năm, và cho Bồ Đào Nha (Portugal) “thuê” phần đất Ma Cao 1 thế kỷ. Do đó, dù các lãnh đạo Hà Nội có ý thức được hay không, thì việc “thuê” đất Việt Nam một nửa thế kỷ là hành động sỉ nhục có chủ ý của Bắc Kinh, vừa để khích động lòng ái quốc cực đoan của dân Tàu vừa để buộc chính lãnh đạo Hà Nội phải đạp dẹp hẳn lòng yêu nước và tự trọng của dân tộc Việt Nam. Mức độ hiểm độc này thật khó có ai bì kịp!
Trong những thua thiệt gần đây của Việt Nam đối với Trung Cộng, trên cái nhục quốc thể chung cho cả dân tộc, và cái nhục hèn nhược riêng của tập đoàn lãnh đạo Hà nội, Việt Nam còn chịu những rủi ro đe dọa môi sinh, không những cho những vùng phía Bắc mà còn cho cả đồng bằng hạ lưu phía Nam; cũng như sự nguy hại tiềm tàng trong lãnh vực an ninh quốc gia về lâu dài. Ngoài những yếu tố địa dư và quốc phòng, thì trên lãnh vực văn hóa, sự nguy hại này còn có liên hệ tới bản sắc thứ hai của người Hoa là khái niệm quan hệ, đồng nghĩa với chữ “guanxi” trong tiếng Quan Thoại của họ. Trong hai thập niên gần đây, song song với phát triển vượt bực trong lãnh vực kinh tế, Trung Cộng đã ráo riết gia tăng các quan hệ đa phương để bằng cách này cách khác, chủ yếu là qua đầu tư, các công ty quốc doanh Trung quốc đã lần lượt xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới, kể cả Phi châu và Trung Đông là những vùng đến mãi gần đây vẫn ngoài tầm với của họ. Do yếu tố điạ dư và hậu cần, những quan hệ nới rộng này có nhiều cơ may sẽ giới hạn phần lớn trong lãnh vực thương mại, hoặc có đi xa hơn nữa cũng chỉ tăng thêm ảnh hưởng chính trị của Trung Cộng trên địa bàn quốc tế. Nhưng đối với khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là đối với Việt Nam gần như đang hoàn toàn trong vòng kiểm soát, chắc chắn cái nhìn của Trung Cộng trong mọi quan hệ song phương chỉ là cái nhìn mạnh được yếu thua, cái nhìn của chủ và tớ, hoặc cái nhìn “mẫu quốc” đối với “thuộc quốc” từ mấy ngàn năm lịch sử. Do vậy một khi đã lọt vào tay họ, mỗi mảnh đất cho thuê dù để khai thác bô-xít như ở Tây Nguyên, hay dưới danh nghĩa để khai thác lâm sản hay vì một lý do nào khác, khả năng họ sẽ hoàn trả lại trong trăm năm tới chỉ gần bằng một con số không.
Việt Nam sẽ phản ứng ra sao trước cái nhục thua thiệt rành rành trước mắt đang có cơ nguy cho cả dân tộc phải gánh chịu đến hàng trăm năm, như đã xảy ra trong trường hợp của những Vịnh Subic, những Okinawa và Hương Cảng trong lịch sử? Hiện tại chỉ thấy người dân Việt không tiền, không quyền đứng lên phản đối; còn nhà nước CSVN thì ngoài việc trấn áp nhữg tiếng nói yêu nước bằng bạo lực, họ đang bận lo xiển dương quan hệ “tốt đẹp” với quan thầy đầy tham vọng phương Bắc. Ngày nào lãnh đạo Hà nội chưa cảm nhận được đâu là cái nhục quốc thể, ngày đó vẫn còn cơ nguy họ sẽ còn nhượng bộ thêm, sẽ còn bán rẻ thêm cho Trung Cộng nhiều mảnh da thịt của đất nước Việt Nam.
9/3/10
MẬU THÂN 1968
MẬU THÂN 1968
Thảm sát Mậu Thân (I)
Tác giả bài viết: LỮ GIANG
_________________________________________________________________________________________
Về quyết định thảm sát
Khi bài này đến với độc giả, nhiều tổ chức trong cộng đồng người Việt hải ngoại đang tổ chức kỷ niệm 40 Tết Mậu Thân để tướng nhớ đến những người đã bị thảm sát trong biến cố đó. Nhưng một câu hỏi được đặt ra và chưa có câu trả lời: Tại sao Cộng quân đã hành động dã man như vậy?
Sau trận Mậu Thân ở Huế, một ủy viên huyện ủy của quận Phú Vang ở Thừa Thiên là Hồ Ty, bí danh Sơn Lâm, đã bị bắt. Trong cuộc thẩm vấn, Hồ Ty đã khai rằng việc thủ tiêu tất cả những người bị bắt là thi hành lệnh Quân Ủy Trị-Thiên-Huế. Sở dĩ có lệnh này là vì khi rút lui, bị quân đội VNCH và Mỹ truy đuổi quá gắt, lo cho đơn vị không nổi làm sao làm lo được cho tù binh được. Số người bị bắt theo quá nhiều làm vướng bận không thể rút lui nhanh được, nên đã có lệnh giết tất cả tù binh.
Tạp chí Time của Mỹ số ra ngày 31/10/1969, trong bài “The massacre of Hue” (Cuộc thảm sát ở Huế) đã đặt câu hỏi: “Điều gì đã khiến Cộng Sản tàn sát?” Rồi tạp chí này trả lời:
Nhiều người dân Huế tin rằng lệnh hành quyết được đưa thẳng từ Hồ Chí Minh xuống. Tuy nhiên, có lẽ chắc chắn hơn, đơn giản là Cộng Sản đã mất tinh thần. Họ đã bị nhồi sọ để tin tưởng rằng nhiều người dân miền Nam sẽ xuống đường tranh đấu cùng với họ trong cuộc tổng tấn công vào dịp Tết. Nhưng điều đó đã không xảy ra, và khi trận chiến ở Huế bắt đầu nghiêng về phía quân đồng minh, Cộng Sản đã hoảng sợ và giết sạch các tù nhân.
Mới đây, trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 24.1.2008, ông Bùi Tín cũng đã đưa ra luận điệu tương tự:
Khi quân Mỹ đổ bộ lại từ Phủ Bài trở ra để lấy lại Huế thì anh em họ trói, di chuyển đi hàng mấy trăm tới hàng nghìn người. Do vướng chân, mệt, rồi bị pháo bắn ở ngoài biển vào dữ dội cho nên do phần lớn do tự động các chỉ huy trung đội tới trung đoàn đồng lõa với nhau để thủ tiêu không cho cấp trên biết.’’
Có một điều người ta quên là cuộc thàm sát đã xẩy ra trong khoảng 10 ngày đầu khi Cộng quân mới chiếm Huế khi Quân Lực VNCH và đồng minh chưa phản công, và nhiều mộ tập thể đã được tìm thấy ngay trong thành phố Huế.
Kế hoạch của Hà Nội
Đọc cuốn “Chiền trường Trị-Thiên-Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước toàn thắng” của Khu Ủy và Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị-Thiên-Huế do nhà xuất bản Thuận Hóa Huế ấn hành năm 1985, chúng ta biết được quyết định của Hà Nội về việc chiếm Huế làm căn cứ lâu dài của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
1.Thành lập Khu Ủy và Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị-Thiên-Huế
Năm 1965 và năm 1966, khi phong trào Phật Giáo đấu tranh nổi lên ở Huế chủ trương đi theo đường lối của MTGPMN, đòi hòa bình, rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam, đốt phòng thông tin và thư viện Mỹ ở Huế, v.v., Hà Nội nhận thấy rằng có thể chiếm Huế làm căn cứ địa lâu dài của MTGPMN vì hai lý do: Lý do thứ nhất là Huế có nhưng thành quách rất vững chắc, nếu chiếm giữ được, Quân Lực VNCH và đồng minh khó lấy lại được, trừ khi phá hủy thành phố. Lý do thứ hai là phong trào Phật ở Huế cho thấy các nhà lãnh đạo Phật Giáo ở đây ủng hội MTGPMN. Vì thế, Hà Nội đã lập một kế hoạch chiếm và giữ Huế rất kỹ càng.
Trước 1966, Trị Thiên là Phân Khu Bắc trực thuộc Quân Khu 5. Tháng 4 năm 1966, Thường Trực Quân Ủy Trung Ương ra quyết định thành lập Khu Ủy và Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị-Thiên-Huế tách khỏi Khu 5, và đặt trực thuộc Trung Ương và Quân Ủy Trung Ương. Thiếu tướng Trần Văn Quang được cử làm Tư Lệnh Quân Khu Trị-Thiên-Huế và Đại Tá Lê Minh làm Phụ tá kiêm Trưởng Ban An Ninh Quân Khu. Lê Chưởng, Phó Bí Thư Khu Ủy Trị Thiên Huế, được cử làm làm Chính Ủy.
Mới thành lập, Khu Ủy Trị Thiên Huế đã đứng ra lãnh đạo cuộc đấu tranh của Phật Giáo tại Huế, nhưng thất bại. Tài liệu ghi lại như sau:
Trong tháng 5,1966 cả thành phố Huế hầu như hổn loạn, ngụy quân, ngụy quyền bị tê liệt. Nhưng do tương quan lực lượng không cân xứng và sự lãnh đạo trực tiếp của ta chưa đủ mạnh, địch đưa quân đến đàn áp khốc liệt và dìm trong bể máu. Các đơn vị ly khai đầu hàng, lực lượng Phật Giáo tan rã, cơ sở của ta trong trào một bị bắt, một số rút vào bí mật. Phong trào kéo dài được 96 ngày.
(tr. 111).
Báo cáo của Khu Ủy Trị Thiên Huế cho biết lúc đó tại Thừa Thiên có 398 chùa, 9 hòa thượng, 15 thượng tọa, 220 tăng ni sư sãi và 80.000 Phật tử. Báo cáo nói rằng “chính tinh thần dân tộc và ý thức giác ngộ chính trị của nhân dân đã đánh bại quân địch ngay trên lãnh vực tôn giáo mà chúng ta đã ra sức lợi dụng.”
2. Lệnh chiếm Huế
Tài liệu cho biết:
“Ý đồ đánh vào thành phố Huế đã có từ lâu. Tháng 2, 1967 Đồng Chí Đặng Kính và Thanh Quảng ra báo cáo, Bộ đã chỉ thị cho Trị – Thiên nghiên cứu đánh vào Huế và thị xã Quảng Trị. Tháng 5, 1967, Thường Vụ Quân Ủy Trung Ương họp nhận định: “Tình hình phát triển của phong trào đã tạo ra khả năng đánh lớn vào thành phố Huế.”
(tr. 136).
Chỉ thị còn nói rõ hơn:
“Phấn đấu trong 7 ngày đêm hoàn thành mọi mục tiêu cơ bản, tập trung chủ yếu vào 2 ngày 3 đêm đầu. Dự kiến tình huống khó khăn, thì có thể phải một tháng hoặc nếu kéo dài 2, 3 tháng cũng phải chiếm lĩnh bằng được thành phố Huế và giữ đến cùng (dự kiến này chỉ phổ biến bằng miệnh cho cán bộ cao cấp)...”
“Nhanh chóng xây dựng lực lượng vũ trang, lực lượng chính trị, xây dựng chính quyền để phát triển thắng lợi...”
(tr. 110).
Những chỉ thị này cho thấy Hà Nội quyết định chiếm Huế và giữ Huế lâu dài rồi thiết lập một chính quyền tại đây. Ngoài Huế, không thành phố nào trên miền Nam được chỉ thị phải hành động như vậy.
3. Chuẩn bị tấn công Huế
Việc tấn công Huế không phải dễ dàng vì mặt trận quá rộng lớn. Vì thế, để tấn công Huế, Quân Khu Trị Thiên Huế được lệnh phải chuẩn bị về lực lượng, tổ chức, tư tưởng, lương thực, phương tiện, nhất là phải chuẩn bị chiến trường.
Về quân số, Quân Khu Trị Thiên Huế chỉ có 2 trung đoàn chủ lực là E6 và E9, 4 tiểu đoàn bộ binh của hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, 4 tiểu đoàn đặc công và các lực lượng pháo binh, công binh. Lực lượng này quá nhỏ bé, không đủ để mở cuộc tấn công Huế. Do đó, vào cuối năm 1967, Trung Ương đã tăng cường cho Huế Trung Đoàn 9.
Gần đến ngày nổ súng, Trung Ương đã tăng cường thêm: Trung Đoàn 2 của Sư Đoàn 324, Trung Đoàn 8 của Sư Đoàn 325. Sau đó tăng cường thêm Trung Đoàn 3/325 rồi Trung Đoàn 1/325. Sau khi chiếm được Huế, Bộ cho tăng cường thêm Trung Đoàn 141 để giữ Huế, nhưng quá muộn. Như vậy Trung Ương đã tăng cường cho Huế đến 5 Trung Đoàn. Với sự tăng cường này, Quân Khu Trị Thiên Huế đã có khoảng 7.500 quân.
Về lương thực, Quân Khu đã thu gom được 2000 tấn ở đồng bằng và 1000 tấn ở miền núi.
Về chính trị, an ninh và tuyên truyền, Quân Khu đã đưa khoảng 700 cán bộ từ thành phố Huế và đồng bằng lên chiến khu huấn luyện, phân công và ra lệnh phải hành động như thế nào sau khi đã chiếm được thành phố (tr. 141).
Chiếm Huế và lập chính quyền
Năm 1968, mồng một Tết Mậu Thân nằm vào ngày 30/01/1968 dương lịch. Lệnh tấn công được đưa ra vào luc 2 giờ 35 sáng 31/01/1968, tức sáng mồng 2 Tết. Cuộc tấn công được chia làm hai cánh. Cánh chính là cánh Bắc: Cộng quân tấn công vào Đồn Mang Cá, nơi có Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1, sân bay Tây Lộc, khu cột cờ Đại Nội, khu Gia Hội, khu Chợ Đông Ba, v.v... Cánh thứ hai là cánh Nam: Cộng quân tấn công vào Tiểu khu Thừa Thiên, cơ sở cảnh sát, đài phát thanh Huế, cầu Kho Rèn, Tòa Đại Biểu Chính Phủ, Dinh Tỉnh Trưởng, nhà lao Thừa Phủ, nhà Ga, v.v...
Cộng quân chia Huế thành ba mặt trận: Mặt trận Thành Nội do Đại Tá Lê Trọng Đấu chỉ huy; mặt trận Quận Nhì (tả ngạn sông Hương) do Chính Ủy Hoàng Lanh và mặt trận Quận Ba (hữu ngạn) do Nguyễn Mậu Hiên bí danh Bảy Lanh.
Tuy nhiên, Quân Lực VNCH vẫn giữ được Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1, cơ sở MACV, Tiểu khu Thừa Thiên, đài phát thanh Huế, Trường Kiểu Mẫu và cầu tàu Hải Quân.
Phải đến ngày 08/02/1968, tức hơn 7 ngày sau, Quân Lực VNCH và đồng minh mới huy động được lực lượng và chính thức phản công lại. Cuộc chiến rất ác liệt. Quân Lực VNCH và đồng minh đã xử dụng hỏa lực tối đa và tiến vào từng khu phố để đánh bật Cộng quân ra. Ngày 15/02/1968 Hà Nội ra lệnh cho Cộng quân phải tử thủ ở Huế đồng thời tăng cường thêm cho mặt trận Huế Trung Đoàn 141 để bảo vệ những cứ điểm đã chiếm được. Nhưng hỏa lực của Quân Lực VNCH và đồng minh quá mạnh nên Cộng quân được lệnh rút.
Sáng 25/02/1968 toàn thể khu Gia Hội được giải tỏa. Đại Đội Hắc Báo của Sư Đoàn 1/BB chiếm được Kỳ Đài, hạ cờ Cộng sản xuống và kéo cờ VNCH lên. Sau 25 ngày đêm giao tranh ác liệt, cuộc chiến ở Huế đã chấm dứt.
Vì các trận đánh ở Huế đã được mô tả đấy đủ trong cuốn “Cuộc tổng công kích – tổng khởi nghĩa của Việt Cộng Mậu Thân 1968” của Quân Lực VNCH nên chúng tôi thấy không cần ghi lại ở đây. Chúng tôi chỉ tìm hiểu Việt Cộng đã làm gì sau khi chiếm được Huế và tại sao các cuộc thảm sát đã xẩy ra trong khắp thành phố rồi lan rộng ra các vùng phụ cận.
Hoạt động sau khi chiếm Huế
Do sự chỉ đạo là huấn luyện từ trước, khi vào Huế, bộ đội lo chiếm các cơ sở quân sự và hành chánh quan trọng ở Huế, còn nhóm cán bộ chính trị, hành chánh và an ninh đã cùng với các thành phần nằm vùng tại địa phương thực hiện các công tác sau đây:
Về chinh trị: Ngày mồng 3 Tết (tức 1.2.1968) Hà Nội tuyên bối thành lập “Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hoà Bình tại Huế” do Tiền Sĩ Lê văn Hảo làm Chủ Tịch. Liên Minh này là một bộ phận của Liên Minh do Trịnh đình Thảo làm Chủ Tịch.
Lê văn Hảo gốc người Huế, sang Pháp học từ năm 1953, trở về Huế năm 1966 và dạy nhân chủng học đại học tại Huế và Sài gòn. Năm 1966, Hảo tham gia phong trào ly khai ở Huế và bị bắt sau đó được Đại Học Huế nhận ra. Giữa năm 1967, Hảo được Hoàng Phủ Ngọc Tường và Tôn Thất Dương Tiềm, một cán bộ cộng sản nằm vùng, móc nối vào Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
Ngoài Lê Văn Hảo, Liên Minh còn có Phó Chủ Tịch là bà Tuần Chi (tên thật là Đào thị xuân Yến, chị vợ Nguyễn Cao Thăng) hiệu trưởng trường nữ trung học Đồng Khánh và Hoà Thượng Thích Đôn Hậu, đương kim Chánh Đại Diện Phật Giáo miền Vạn Hạnh. Các thành phần nồng cốt của Linh Minh còn có: Nguyễn Đóa (cựu giám thị trường Quốc Học), Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Phan Duy Nhân, Phạm Thị Xuân Quế, Tôn Thất Dương Tiềm, Tôn Thất Dương Kỵ, Tôn Thất Dương Hanh...
Về hành chánh: Khu Ủy Trị Thiên quyết định thành lập Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thành Phố Huế và giao cho Tiến sĩ Lê Văn Hảo làm Chủ Tịch Ủy Ban, còn bà Tuần Chi (tức Đào Thị Xuân Yến) và Hoàng Phương Thảo, thường vụ Thành Ủy, làm Phó Chủ Tịch. Tuy nhiên, mọi quyết định đều năm trong tay Hoàng Phương Thảo.
Khu Ủy giao cho Hoàng Kim Loan (một cán bộ nằm vùng trong nhà Nguyễn Đóa), Hoàng Lanh (Thường Vụ Thành Ủy Huế) và Phan Nam (tức Lương) thành lập các Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng tại mỗi quận trong thành phố.
Hoàng Kim Loan phụ trách Thành Nội (Quận 1) đã đưa Nguyễn Hữu Vấn, Giáo Sư Trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế lên làm Chủ Tịch. Phan Nam phụ trách Quận Tả Ngạn (Quận 2) đã giao chức chủ tịch cho Nguyễn Thiết (tức Hoàng Dung). Tại Quận Hữu Ngạn (Quận 3), Hoàng Lanh, vì phải dồn mọi nổ lực vào việc bắt các thành phần bị coi là Việt gian, ác ôn và phản động và đưa đi thủ tiêu, nên chưa kịp thành lập Ủy Ban Nhân Dân
Về an ninh: Đi theo quân đội chủ lực là các đại đội đặc công, võ trang tuyên truyền và các toán an ninh. Hoạt động về an ninh được đặt dười quyền chỉ huy của Đại Tá Lê Minh, Phụ tá Bộ Tư Lệnh Quân Khu kiêm Trưởng Ban An Ninh Quân Khu. Trụ sở chính của Ban An Ninh được đật tại Chùa Từ Đàm.
Chỉ huy các toán an ninh là Tống Hoàng Nguyên và Nguyễn Đình Bảy (tực là Bảy Khiêm) thuộc Khu Ủy Trị Thiên.
Ban An Ninh chia thành phố Huế thành 4 khu để phân chia trách nhiệm hành động:
Khu 1 là Quận 1, tức Thành Nội.
Khu 2 là Quận 2 thuộc vùng tả ngạn sông Hương, nhưng lấy cầu Gia Hội làm ranh giới rồi kéo dài về hướng Tây, qua khỏi cầu Bạch Thổ, xuống tận An Vân, tức bao gồm một phần của Quận Hương Trà.
Khu 3 là Quận 3, tức khu vực hữu ngạn sông Hương, nhưng bao gồm luôn cả giáo xứ Phủ Cam thuộc Quận Hương Thủy ở phía Nam sông An Cựu.
Khu 4 là phần lãnh thổ từ cầu Gia Hội đến Cổn Hến. Phần này vốn thuộc Quận 3.
Tống Hoàng Nguyên phụ trách Khu 1 và Khu 2, Nguyễn Đình Bảy phụ trách Khu 3 và Nguyễn Đắc Xuân đặc trách Khu 4.
Còn tiếp
---------------------------------------------------------------------------------------
_________________________________________________________________________________________
Thảm sát Mậu Thân (Kết)
Thực hiện việc thảm sát
Trước khi Cộng quân mở cuộc tấn công Huế, các thành phần ly khai bỏ đi theo Việt Cộng từ năm 1966 và các tên nằm vùng đã lập sẵn danh sách những người mà chúng cho rằng cần phải thanh toán. Vì thế, khi mới vào Huế, chúng đã mở cuộc lục xét khắp nơi để tìm những người này.
Ngoài những người có tên trong “sổ đen”, các toán an ninh đi lùng bắt các thành phần bị coi là Việt gian, ác ôn hay phản động như công chức, binh sĩ VNCH, cảnh sát, nhân viên sở Mỹ, các thành phần đảng phái, người công giáo, v.v...
1. Tại Thành Nội (Quận 1) và một phần khu Tả Ngạn (Quận 2)
Hoàng Nguyên giao việc thanh lọc và xét xử cho cho hai sinh viên là Nguyễn Đọc và Nguyễn Thị Đoan. Hầu hết những người bị lôi ra tòa chẳng biết lý do tại sao họ bị bắt. Nhưng tất cả đều bị kết án tử hình sau khi bị dọa, qui chụp và kết tội. Một số bị xử tử ngay tức khắc.
Phiên tòa tại Thành Nội và khu Tả Ngạn chỉ kéo dài trong 2 ngày là xong, sau đó một chiến dịch khủng bố đã được phát động: Một người mở trộm radio nghe đã bị đưa ra bắn giữa đường phố để làm gương. Một anh sinh viên không tới dự lớp học tập cũng bị đưa ra bắn. Nguyễn Đọc đã bắn nhiều người trong đó có một bạn thân đồng lớp với anh ta, chỉ vì anh này không chịu hợp tác với y.
2. Tại khu Gia Hội: Hoàng Nguyên giao Nguyễn Đắc Xuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường phụ trách
Hoàng Phủ Ngọc Tường tốt nghiệp đại học Huế, đi dạy học và là một trong các lãnh tụ sinh viên Phật Giáo đấu tranh chống chính quyền VNCH năm 1966, sau đó Tường đi theo MTGPMN.
Chùa Theravada ở đường Võ Tánh được dùng làm trụ sở để các công chức và quân nhân VNCH đến trình diện, Trường Trung Học Gia Hội của Dòng Mai Khôi (Phú Xuân) được dùng làm nơi giam giữ và xét xử các thành phần bị coi là Việt gian hay phản động. Theo Bác sĩ Elje Vannema, các phiên tòa ở đây đểu do Hoàng Phủ Ngọc Tường chủ tọa.
Cuộc tàn sát tại đây được thực hiện rất bừa bải và tàn bạo, chẳng hạn như hai anh Nguyễn Ngọc Lộ và Nguyễn Thiết bị hạ sát chỉ vì làm nghề nghề dạy võ thất sơn thần quyền, bị cho là một bộ phận của Đại Việt Quốc Dân Đảng. Hai anh đã bị chôn sống ngay trên con đường nhỏ rẽ vào Trường Trung Học Gia Hội sau khi bị đánh bằng cuốc vào đầu. Nghe nói vợ anh Lộ và ba cháu gồm hai gái một trai cũng bị giết tại nhà ở xã Phú Lưu.
Trong số những người bị giết tại Gia Hội, người ta thấy có các nhân vật sau đây: Ông Lê Văn Cư, Phó giám đốc cảnh sát quốc gia vùng một và ông Phú (em vợ anh Cư), Quận Trưởng Quận 2; ông Từ Tôn Kháng, thiếu tá Tỉnh Đoàn Trưởng Xây Dựng Nông Thôn Thừa Thiên; ông Hồ Đắc Cam và ông Kim Phát, Việt Nam Quốc Dân Đảng; ông Trần Văn Nớp, Trưởng Phòng Hành Chánh Ty Cảnh Sát Thừa Thiên. v.v.
Nguyễn Đắc Xuân là người tổ chức và lãnh đạo “Đoàn Phật Tử Quyết Tử” tại Huế năm 1966 để chống lại VNCH. Khi bị đánh bại, Xuân đãù trốn theo VC và trở lại cố đô vào Tết Mậu Thân, phụ trách đội “Công tác thanh niên” nhắm mục đích khuyến dụ các quân nhân VNCH và cảnh sát bị kẹt ở Huế ra trình diện.
Với quân nhân VNCH, Xuân thành lập “Đoàn Quân Nhân Sư Đoàn 1 ly khai” và bắt Đại Úy Nguyễn Văn Lợi, Tiểu Đoàn Phó Thiểu Đoàn 4, Trung Đoàn 2, mới từ Đồng Hà trở về ăn Tết làm Trưởng Đoàn. Sau đó, Xuân lập “Đoàn Nghĩa Binh Cảnh Sát”, bắt ép Quận Trưởng Hữu Ngạn là Nguyễn Văn Cán ra chỉ huy.
Tuy nhiên, chỉ một thời gian ngắn sau, Bộ Tư Lệnh Quân Khu ra lệnh giải tán hai tổ chức này. Đột nhiên, ngày 18.2.1968, toán an ninh ra lệnh cho các công chức và quân nhân phải ra trình diện lần hai tại Trường Gia Hội rồi giữ lại và đem đi thủ tiêu luôn.
3. Tại khu Hữu Ngạn (Quận 3)
Toán an ninh ở khu Tả Ngạn không lập tòa án để xét xử các nạn nhân như ở khu Thành Nội và khu Gia Hội. Tại đây, các nạn nhân bị bắt đều bị đưa về giam ở chùa Từ Đàm, bắt làm tờ khai và được thanh lộc rồi đưa đi thủ tiêu. Số nạn nhân ở khu vực này đông nhất vì gồm những người đến ẩn nấp trong khu Dòng Chúa Cứu Thế và nhà thờ chính tòa Phủ Cam.
Tại khu Dòng Chúa Cứu Thế: Khu Hữu Ngạn (tức Quận 3) do Nguyễn Mậu Hiên, bí danh Bảy Lanh đánh chiếm. Bảy Lanh là con nuôi của nhà thuốc bắc Thiên Tường tại chợ An Cựu. Hai con trai của nhà thuốc Thiên Tường là cán bộ Việt Cộng nằm vùng ở cơ quan Xây Dựng Nông Thôn, Vì thế, khi Bảy Lanh vừa làm chủ vùng An Cựu, ông Thiên Tướng và hai người con đã đi lùng bắt tất cả những công chức, quân nhân, cảnh sát, thành phần đảng phái... trong khu vực Dòng Chúa Cứu Thế.
Tiếp theo, chúng lùa khoảng 150 người đang ẩn trú trong Dòng Chúa Cứu Thế ra sân để thanh lọc. Chúng xét hỏi giấy tờ của từng người. Những ai có căn cước ghi là quân nhân hay công chức đều được đưa ra khỏi hàng ngay, trong đó có Thượng nghị sĩ Trần Điền. Có khoảng 500 người trong khu vực này bị bắt đưa về chùa Từ Đàm. Về sau, cả ba cha con ông Thiên Tướng đều bị bắt.
Tại nhà thờ Phủ Cam: Nhà thờ này lúc đó chỉ mới được xây xong phần cung thánh và hai cánh tả hữu, nhưng có tường rất dày và trần được đúc bằng bê-ton cốt sắt, nên có thể che chở phần nào bom đạn. Do đó, có trên 3.000 người đã đến ẩn nấp tại đây. Khoảng 1 giờ đêm 7.2.1968, du kích và các toán an ninh đã vào lục soát nhà thờ, sau đó chúng bắt những người từ 15 đến 50 tuổi đứng lên, không phân biệt thành phần. Có khoảng 500 người thuộc lớp tuổi này. Chúng tuyên bố: “Các anh được đưa đi học tập 3 ngày rồi trở về.” Sau đó chúng dẫn những người này đi về chùa Từ Đàm và bắt làm tờ khai. Thỉnh thoảng chúng đưa một người ra gốc cây bồ đề trước sân chùa và bắn chết rồi chôn ngay trong sân chùa. Về sau, người ta đếm được có 20 xác.
Hai hôm sau, vào lúc trời tối, các toán an ninh gọi mọi người ra sân, lấy dây điện thoại trói ké lại, rồi dùng dây kẻm gai xâu 20 người lại một xâu, và dẫn đi về phía Nam Giao.
Ở bệnh viện, trò tương tự cũng đã diễn ra. Dân quanh vùng, đặc biệt là vùng quanh căn cứ Mỹ, Cộng quân viện lý do chiến tranh sắp xẩy ra trong vùng nên ra lệnh cho dân chúng tập trung vào bệnh viện. Sau ba ngày, họ bảo đàn bà và trẻ con ngồi xuống, còn đàn ông đứng dậy. Sau đó, chúng đưa hai tên nằm vùng đến nhận diện. Hai tên này vừa mới được xổ tù khi Cộng quân chiếm thành phố. Một số người, trẻ có già có, được cấp thẻ và dẫn về nhà thờ chính tòa Phủ Cam và từ đó họ được đưa lên chùa Từ Đàm.
Tất cả những người bị giam ở chùa Từ Đàm đểu được lần lượt dẫn đi về phía Tây Nam và hạ sát tại những nơi khác nhau, kể cả ở Khe Đá Mài, cách Huế khoảng 26 cây số. Theo tạp chí Time ngày 31.10.1969, trong số các nạn nhân bị giết tại đây có 398 người là giáo dân Phủ Cam. Cách giết người của Cộng quân cũng đặc biệt. Cộng quân ra lệnh cho những người bị bắt phải đào hố, nói là để làm hầm trú ẩn tránh bom đạn, hoặc để làm mương dẫn nước cho dân chúng cày cấy. Sau khi đào xong, Cộng quân trói thúc ké tay chân nạn nhân và quăng xuống hố rồi lấp đất lại. Có người cho rằng Cộng quân phải chôn sống như vậy vì sợ bắn sẽ gây tiếng động và để lộ mục tiêu.
Con số nạn nhân
Trong cuốn “Công và Tội”, ông Nguyễn Trân cho biết: “Về phía dân chúng, có 5.800 người chết, trong đó có 2.800 người bị Việt Cộng giết và chôn tập thể: 790 hội viên các Hội đồng tỉnh, thị xã và xã bị gán tội “cường hào ác bá”, 1892 nhân viên hành chánh, 38 cảnh sát, hằng trăm thanh niên tuổi quân dịch, một linh mục Việt (Bửu Đồng), hai linh mục Pháp, một bác sĩ Đức và vợ, và một số người Phi Luật Tân.” Trong “Encyclopedia of the Viet Nam War”, David T. Zabecki ghi nhận rằng số thi hài nạn nhân tìm được trong các mồ chôn tập thể ở Huế là 2.810 người và hàng ngàn người bị mất tích.
Trong cuốn “The Vietcong Massacre at Hue” (Vintage Press, New York, 1976), Bác sĩ Elje Vannema, người có mặt tại Huế trong biến cố Tết Mậu Thân, cho biết theo tài liệu kiểm kê được qua 22 mồ tập thể, số nạn nhân bị Cộng quân giết là 2.326 người, chia ra như sau:
Trường Gia Hội: 203 người; Chùa Theravada [Gia Hội]: 43; Bãi Dâu [Gia Hội]: 26; Cồn Hến [Gia Hội]: 101; Tiểu Chủng Viện: 6; Quận Tả ngạn: 21; Phía đông Huế: 25; Lăng Tự Đức và Đồng Khánh: 203; Cầu An Ninh: 20; Cửa Đông Ba: 7; Trường An Ninh Hạ: 4; Trường Văn Chí: 8; Chợ Thông: 102; Lăng Gia Long: 200; Chùa Từ Quang: 4; Đồng Di: 110; Vinh Thái: 135; Phù Lương: 22; Phú Xuân: 587; Thượng Hòa: 11; Thủy Thanh – Vinh Hưng: 70; Khe Đá Mài: 428.
Trong cuốn “Viet Cong Strategy of Terror” (tr. 23 đến 29) Giáo Sư Douglas Pike cho biết qua vụ Tết Mậu Thân ở Huế, có khoảng 7.600 nạn nhân của Cộng Sản, trong đó 1.946 người bị mất tích.
Tại sao phải thảm sát?
Những sự kiện cụ thể chúng tôi vừa trình bày trên cho thấy:
(1) Việc chiếm Huế làm căn cứ địa cho MTGPMN là một quyết định được Hà Nội nghiên cứu kỹ càng và ra lệnh cho Khu Ủy và Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị Thiên Huế thi hành. Cán bộ thi hành cũng đã được huấn luyện trước. Do đó, không thể có chuyện các cấp chỉ huy địa phương quyết định tàn sát mà không có lệnh từ trung ương.
(2) Đa số các cuộc thảm sát đã diễn ra trong thời gian từ 2 đến 12.2.1968, tức trong thời gian Cộng quân còn chiếm đóng Huế. Các nạn nhân thường được kiểm tra hay xét xử rồi mới giết. Rất nhiều mộ tập thể đã được tìm thấy ngay trong thành phớ Huế, nhất là tại khu Gia Hội. Điều này cho thấy không phải vì bị vướng chân khi rút quân nên Cộng Sản mới tàn sát tâp thể để có thể rút nhanh như một số người đã biện hộ cho Cộng Sản.
(3) Đến tối 24.2.1968 Cộng quân mới ra lệnh rút quân toàn bộ khỏi Huế. Tài liệu của Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị Thiên Huế nói rằng có 23.702 tên quân địch, trong đó có 8.000 Mỹ, đã bị diệt, bắt sống và ra hàng (tr. 153). Như vậy số quân nhân Quân Lực VNCH và Mỹ đã bị tiêu diệt hoặc bắt sống lên đến khoảng 3 sư đoàn, trong khi đó số quân VNCH và Mỹ được dùng để tái chiếm Huế chưa đến 2 sư đoàn! Giả thiết tài liệu của Cộng quân là đúng và số người đã bị họ bắt đi theo đã bị giết tập thể để khỏi bị vướng chân..., vậy những người này đã được chôn ở đâu? Các cuộc tìm kiếm sau Tết Mậu Thân không cho thấy có các quân nhân VNCH và Mỹ được chôn trên đường rút quân của Cộng quân.
Chỉ có một trường hợp bị bắn khi Cộng quân rút lui là trường hợp những thanh niên bị bắt gia nhập quân MTGPMN. Những thanh niên không chịu đi theo đều bị bắn tại chỗ. Tại Gia Hội, người ta khám phá ra xác của 18 thanh niên bị bắn chết vì không chịu đi theo. Có khoảng 600 thanh niên vì sợ bị bắn phải đi theo họ.
Tóm lại, lập luận cho rằng các nạn nhân đã bị tàn sát vì làm vướng chân Cộng quân khi rút lui là hoàn toàn láo phét. Đảng CSVN đã duy trì kỷ cương rất chặt chẽ trong khi hành quân nên không thể có chuyện các cấp chỉ huy địa phương tự ý ra lệnh tàn sát tập thể như một số người đã biện minh cho Hà Nội. Phải có lệnh của trung ương, các cán bộ cấp dưới mới làm như vậy. Nhưng vấn đề được đặt ra là: Tại sao Đảng CSVN đã đưa ra quyết định tàn sát tâp thể như thế?
Có tác giả cho rằng sở dĩ Hà Nội đã đưa ra quyết định tàn sát tập thể vì lý do an ninh. Hà Nội muốn chiếm Huế và giữ Huế lâu dài như là một căn cứ địa của MTGPMN. Do đó, để bảo vệ an ninh trong vùng chiếm đóng, Hà Nội đã ra lệnh thanh toán tất cả những thành phần bị coi là cho thể gây nguy hại cho an ninh như tuyên truyền chống đối, quấy rối, làm nội ứng, hình thành các nhóm võ trang chống lại lực lượng chiếm đóng, v.v...
Ngoài những tiêu chuẩn thanh toán mà Hà Nội đã đưa ra, các nhóm Phật Giáo đấu tranh chống VNCH bỏ đi theo MTGPMN từ năm 1966, khi trở lại đã đi tìm và thanh toán những người trước đây không đồng ý hay chống lại chủ trương của họ, đặc biệt là những người Công Giáo.
Nhưng Hà Nội đã có nhận định sai lầm về quyết tâm của Quân Lực VNCH và sự hưởng ứng của quần chúng Phật tử ở Huế. Quân Lực VNCH và đồng minh đã xử dụng hỏa lực tối đa, bất chấp những sự hư hại cho cố đô, để đánh bật Cộng quân ra khỏi thành phố, còn quần chúng Phật tử chỉ có một số nhỏ theo họ. Do đó, quyết định chiếm Huế làm căn cứ địa đã thất bại.
Bài do tác giả LỮ GIANG gởi. DCVOnline biên tập và minh hoạ
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=4641
Thảm sát Mậu Thân (I)
Tác giả bài viết: LỮ GIANG
_________________________________________________________________________________________
Về quyết định thảm sát
Khi bài này đến với độc giả, nhiều tổ chức trong cộng đồng người Việt hải ngoại đang tổ chức kỷ niệm 40 Tết Mậu Thân để tướng nhớ đến những người đã bị thảm sát trong biến cố đó. Nhưng một câu hỏi được đặt ra và chưa có câu trả lời: Tại sao Cộng quân đã hành động dã man như vậy?
Sau trận Mậu Thân ở Huế, một ủy viên huyện ủy của quận Phú Vang ở Thừa Thiên là Hồ Ty, bí danh Sơn Lâm, đã bị bắt. Trong cuộc thẩm vấn, Hồ Ty đã khai rằng việc thủ tiêu tất cả những người bị bắt là thi hành lệnh Quân Ủy Trị-Thiên-Huế. Sở dĩ có lệnh này là vì khi rút lui, bị quân đội VNCH và Mỹ truy đuổi quá gắt, lo cho đơn vị không nổi làm sao làm lo được cho tù binh được. Số người bị bắt theo quá nhiều làm vướng bận không thể rút lui nhanh được, nên đã có lệnh giết tất cả tù binh.
Tạp chí Time của Mỹ số ra ngày 31/10/1969, trong bài “The massacre of Hue” (Cuộc thảm sát ở Huế) đã đặt câu hỏi: “Điều gì đã khiến Cộng Sản tàn sát?” Rồi tạp chí này trả lời:
Nhiều người dân Huế tin rằng lệnh hành quyết được đưa thẳng từ Hồ Chí Minh xuống. Tuy nhiên, có lẽ chắc chắn hơn, đơn giản là Cộng Sản đã mất tinh thần. Họ đã bị nhồi sọ để tin tưởng rằng nhiều người dân miền Nam sẽ xuống đường tranh đấu cùng với họ trong cuộc tổng tấn công vào dịp Tết. Nhưng điều đó đã không xảy ra, và khi trận chiến ở Huế bắt đầu nghiêng về phía quân đồng minh, Cộng Sản đã hoảng sợ và giết sạch các tù nhân.
Mới đây, trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 24.1.2008, ông Bùi Tín cũng đã đưa ra luận điệu tương tự:
Khi quân Mỹ đổ bộ lại từ Phủ Bài trở ra để lấy lại Huế thì anh em họ trói, di chuyển đi hàng mấy trăm tới hàng nghìn người. Do vướng chân, mệt, rồi bị pháo bắn ở ngoài biển vào dữ dội cho nên do phần lớn do tự động các chỉ huy trung đội tới trung đoàn đồng lõa với nhau để thủ tiêu không cho cấp trên biết.’’
Có một điều người ta quên là cuộc thàm sát đã xẩy ra trong khoảng 10 ngày đầu khi Cộng quân mới chiếm Huế khi Quân Lực VNCH và đồng minh chưa phản công, và nhiều mộ tập thể đã được tìm thấy ngay trong thành phố Huế.
Kế hoạch của Hà Nội
Đọc cuốn “Chiền trường Trị-Thiên-Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước toàn thắng” của Khu Ủy và Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị-Thiên-Huế do nhà xuất bản Thuận Hóa Huế ấn hành năm 1985, chúng ta biết được quyết định của Hà Nội về việc chiếm Huế làm căn cứ lâu dài của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
1.Thành lập Khu Ủy và Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị-Thiên-Huế
Năm 1965 và năm 1966, khi phong trào Phật Giáo đấu tranh nổi lên ở Huế chủ trương đi theo đường lối của MTGPMN, đòi hòa bình, rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam, đốt phòng thông tin và thư viện Mỹ ở Huế, v.v., Hà Nội nhận thấy rằng có thể chiếm Huế làm căn cứ địa lâu dài của MTGPMN vì hai lý do: Lý do thứ nhất là Huế có nhưng thành quách rất vững chắc, nếu chiếm giữ được, Quân Lực VNCH và đồng minh khó lấy lại được, trừ khi phá hủy thành phố. Lý do thứ hai là phong trào Phật ở Huế cho thấy các nhà lãnh đạo Phật Giáo ở đây ủng hội MTGPMN. Vì thế, Hà Nội đã lập một kế hoạch chiếm và giữ Huế rất kỹ càng.
Trước 1966, Trị Thiên là Phân Khu Bắc trực thuộc Quân Khu 5. Tháng 4 năm 1966, Thường Trực Quân Ủy Trung Ương ra quyết định thành lập Khu Ủy và Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị-Thiên-Huế tách khỏi Khu 5, và đặt trực thuộc Trung Ương và Quân Ủy Trung Ương. Thiếu tướng Trần Văn Quang được cử làm Tư Lệnh Quân Khu Trị-Thiên-Huế và Đại Tá Lê Minh làm Phụ tá kiêm Trưởng Ban An Ninh Quân Khu. Lê Chưởng, Phó Bí Thư Khu Ủy Trị Thiên Huế, được cử làm làm Chính Ủy.
Mới thành lập, Khu Ủy Trị Thiên Huế đã đứng ra lãnh đạo cuộc đấu tranh của Phật Giáo tại Huế, nhưng thất bại. Tài liệu ghi lại như sau:
Trong tháng 5,1966 cả thành phố Huế hầu như hổn loạn, ngụy quân, ngụy quyền bị tê liệt. Nhưng do tương quan lực lượng không cân xứng và sự lãnh đạo trực tiếp của ta chưa đủ mạnh, địch đưa quân đến đàn áp khốc liệt và dìm trong bể máu. Các đơn vị ly khai đầu hàng, lực lượng Phật Giáo tan rã, cơ sở của ta trong trào một bị bắt, một số rút vào bí mật. Phong trào kéo dài được 96 ngày.
(tr. 111).
Báo cáo của Khu Ủy Trị Thiên Huế cho biết lúc đó tại Thừa Thiên có 398 chùa, 9 hòa thượng, 15 thượng tọa, 220 tăng ni sư sãi và 80.000 Phật tử. Báo cáo nói rằng “chính tinh thần dân tộc và ý thức giác ngộ chính trị của nhân dân đã đánh bại quân địch ngay trên lãnh vực tôn giáo mà chúng ta đã ra sức lợi dụng.”
2. Lệnh chiếm Huế
Tài liệu cho biết:
“Ý đồ đánh vào thành phố Huế đã có từ lâu. Tháng 2, 1967 Đồng Chí Đặng Kính và Thanh Quảng ra báo cáo, Bộ đã chỉ thị cho Trị – Thiên nghiên cứu đánh vào Huế và thị xã Quảng Trị. Tháng 5, 1967, Thường Vụ Quân Ủy Trung Ương họp nhận định: “Tình hình phát triển của phong trào đã tạo ra khả năng đánh lớn vào thành phố Huế.”
(tr. 136).
Chỉ thị còn nói rõ hơn:
“Phấn đấu trong 7 ngày đêm hoàn thành mọi mục tiêu cơ bản, tập trung chủ yếu vào 2 ngày 3 đêm đầu. Dự kiến tình huống khó khăn, thì có thể phải một tháng hoặc nếu kéo dài 2, 3 tháng cũng phải chiếm lĩnh bằng được thành phố Huế và giữ đến cùng (dự kiến này chỉ phổ biến bằng miệnh cho cán bộ cao cấp)...”
“Nhanh chóng xây dựng lực lượng vũ trang, lực lượng chính trị, xây dựng chính quyền để phát triển thắng lợi...”
(tr. 110).
Những chỉ thị này cho thấy Hà Nội quyết định chiếm Huế và giữ Huế lâu dài rồi thiết lập một chính quyền tại đây. Ngoài Huế, không thành phố nào trên miền Nam được chỉ thị phải hành động như vậy.
3. Chuẩn bị tấn công Huế
Những mũi tấn công Huế (31/01/1968) Nguồn: images4.fotki.com
Về quân số, Quân Khu Trị Thiên Huế chỉ có 2 trung đoàn chủ lực là E6 và E9, 4 tiểu đoàn bộ binh của hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, 4 tiểu đoàn đặc công và các lực lượng pháo binh, công binh. Lực lượng này quá nhỏ bé, không đủ để mở cuộc tấn công Huế. Do đó, vào cuối năm 1967, Trung Ương đã tăng cường cho Huế Trung Đoàn 9.
Gần đến ngày nổ súng, Trung Ương đã tăng cường thêm: Trung Đoàn 2 của Sư Đoàn 324, Trung Đoàn 8 của Sư Đoàn 325. Sau đó tăng cường thêm Trung Đoàn 3/325 rồi Trung Đoàn 1/325. Sau khi chiếm được Huế, Bộ cho tăng cường thêm Trung Đoàn 141 để giữ Huế, nhưng quá muộn. Như vậy Trung Ương đã tăng cường cho Huế đến 5 Trung Đoàn. Với sự tăng cường này, Quân Khu Trị Thiên Huế đã có khoảng 7.500 quân.
Về lương thực, Quân Khu đã thu gom được 2000 tấn ở đồng bằng và 1000 tấn ở miền núi.
Về chính trị, an ninh và tuyên truyền, Quân Khu đã đưa khoảng 700 cán bộ từ thành phố Huế và đồng bằng lên chiến khu huấn luyện, phân công và ra lệnh phải hành động như thế nào sau khi đã chiếm được thành phố (tr. 141).
Chiếm Huế và lập chính quyền
Năm 1968, mồng một Tết Mậu Thân nằm vào ngày 30/01/1968 dương lịch. Lệnh tấn công được đưa ra vào luc 2 giờ 35 sáng 31/01/1968, tức sáng mồng 2 Tết. Cuộc tấn công được chia làm hai cánh. Cánh chính là cánh Bắc: Cộng quân tấn công vào Đồn Mang Cá, nơi có Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1, sân bay Tây Lộc, khu cột cờ Đại Nội, khu Gia Hội, khu Chợ Đông Ba, v.v... Cánh thứ hai là cánh Nam: Cộng quân tấn công vào Tiểu khu Thừa Thiên, cơ sở cảnh sát, đài phát thanh Huế, cầu Kho Rèn, Tòa Đại Biểu Chính Phủ, Dinh Tỉnh Trưởng, nhà lao Thừa Phủ, nhà Ga, v.v...
Cộng quân chia Huế thành ba mặt trận: Mặt trận Thành Nội do Đại Tá Lê Trọng Đấu chỉ huy; mặt trận Quận Nhì (tả ngạn sông Hương) do Chính Ủy Hoàng Lanh và mặt trận Quận Ba (hữu ngạn) do Nguyễn Mậu Hiên bí danh Bảy Lanh.
Tuy nhiên, Quân Lực VNCH vẫn giữ được Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1, cơ sở MACV, Tiểu khu Thừa Thiên, đài phát thanh Huế, Trường Kiểu Mẫu và cầu tàu Hải Quân.
Phải đến ngày 08/02/1968, tức hơn 7 ngày sau, Quân Lực VNCH và đồng minh mới huy động được lực lượng và chính thức phản công lại. Cuộc chiến rất ác liệt. Quân Lực VNCH và đồng minh đã xử dụng hỏa lực tối đa và tiến vào từng khu phố để đánh bật Cộng quân ra. Ngày 15/02/1968 Hà Nội ra lệnh cho Cộng quân phải tử thủ ở Huế đồng thời tăng cường thêm cho mặt trận Huế Trung Đoàn 141 để bảo vệ những cứ điểm đã chiếm được. Nhưng hỏa lực của Quân Lực VNCH và đồng minh quá mạnh nên Cộng quân được lệnh rút.
Sáng 25/02/1968 toàn thể khu Gia Hội được giải tỏa. Đại Đội Hắc Báo của Sư Đoàn 1/BB chiếm được Kỳ Đài, hạ cờ Cộng sản xuống và kéo cờ VNCH lên. Sau 25 ngày đêm giao tranh ác liệt, cuộc chiến ở Huế đã chấm dứt.
Vì các trận đánh ở Huế đã được mô tả đấy đủ trong cuốn “Cuộc tổng công kích – tổng khởi nghĩa của Việt Cộng Mậu Thân 1968” của Quân Lực VNCH nên chúng tôi thấy không cần ghi lại ở đây. Chúng tôi chỉ tìm hiểu Việt Cộng đã làm gì sau khi chiếm được Huế và tại sao các cuộc thảm sát đã xẩy ra trong khắp thành phố rồi lan rộng ra các vùng phụ cận.
Hoạt động sau khi chiếm Huế
Do sự chỉ đạo là huấn luyện từ trước, khi vào Huế, bộ đội lo chiếm các cơ sở quân sự và hành chánh quan trọng ở Huế, còn nhóm cán bộ chính trị, hành chánh và an ninh đã cùng với các thành phần nằm vùng tại địa phương thực hiện các công tác sau đây:
Về chinh trị: Ngày mồng 3 Tết (tức 1.2.1968) Hà Nội tuyên bối thành lập “Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hoà Bình tại Huế” do Tiền Sĩ Lê văn Hảo làm Chủ Tịch. Liên Minh này là một bộ phận của Liên Minh do Trịnh đình Thảo làm Chủ Tịch.
Lê văn Hảo gốc người Huế, sang Pháp học từ năm 1953, trở về Huế năm 1966 và dạy nhân chủng học đại học tại Huế và Sài gòn. Năm 1966, Hảo tham gia phong trào ly khai ở Huế và bị bắt sau đó được Đại Học Huế nhận ra. Giữa năm 1967, Hảo được Hoàng Phủ Ngọc Tường và Tôn Thất Dương Tiềm, một cán bộ cộng sản nằm vùng, móc nối vào Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
Ngoài Lê Văn Hảo, Liên Minh còn có Phó Chủ Tịch là bà Tuần Chi (tên thật là Đào thị xuân Yến, chị vợ Nguyễn Cao Thăng) hiệu trưởng trường nữ trung học Đồng Khánh và Hoà Thượng Thích Đôn Hậu, đương kim Chánh Đại Diện Phật Giáo miền Vạn Hạnh. Các thành phần nồng cốt của Linh Minh còn có: Nguyễn Đóa (cựu giám thị trường Quốc Học), Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Phan Duy Nhân, Phạm Thị Xuân Quế, Tôn Thất Dương Tiềm, Tôn Thất Dương Kỵ, Tôn Thất Dương Hanh...
Về hành chánh: Khu Ủy Trị Thiên quyết định thành lập Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thành Phố Huế và giao cho Tiến sĩ Lê Văn Hảo làm Chủ Tịch Ủy Ban, còn bà Tuần Chi (tức Đào Thị Xuân Yến) và Hoàng Phương Thảo, thường vụ Thành Ủy, làm Phó Chủ Tịch. Tuy nhiên, mọi quyết định đều năm trong tay Hoàng Phương Thảo.
Khu Ủy giao cho Hoàng Kim Loan (một cán bộ nằm vùng trong nhà Nguyễn Đóa), Hoàng Lanh (Thường Vụ Thành Ủy Huế) và Phan Nam (tức Lương) thành lập các Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng tại mỗi quận trong thành phố.
Hoàng Kim Loan phụ trách Thành Nội (Quận 1) đã đưa Nguyễn Hữu Vấn, Giáo Sư Trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế lên làm Chủ Tịch. Phan Nam phụ trách Quận Tả Ngạn (Quận 2) đã giao chức chủ tịch cho Nguyễn Thiết (tức Hoàng Dung). Tại Quận Hữu Ngạn (Quận 3), Hoàng Lanh, vì phải dồn mọi nổ lực vào việc bắt các thành phần bị coi là Việt gian, ác ôn và phản động và đưa đi thủ tiêu, nên chưa kịp thành lập Ủy Ban Nhân Dân
Về an ninh: Đi theo quân đội chủ lực là các đại đội đặc công, võ trang tuyên truyền và các toán an ninh. Hoạt động về an ninh được đặt dười quyền chỉ huy của Đại Tá Lê Minh, Phụ tá Bộ Tư Lệnh Quân Khu kiêm Trưởng Ban An Ninh Quân Khu. Trụ sở chính của Ban An Ninh được đật tại Chùa Từ Đàm.
Chỉ huy các toán an ninh là Tống Hoàng Nguyên và Nguyễn Đình Bảy (tực là Bảy Khiêm) thuộc Khu Ủy Trị Thiên.
Ban An Ninh chia thành phố Huế thành 4 khu để phân chia trách nhiệm hành động:
Khu 1 là Quận 1, tức Thành Nội.
Khu 2 là Quận 2 thuộc vùng tả ngạn sông Hương, nhưng lấy cầu Gia Hội làm ranh giới rồi kéo dài về hướng Tây, qua khỏi cầu Bạch Thổ, xuống tận An Vân, tức bao gồm một phần của Quận Hương Trà.
Khu 3 là Quận 3, tức khu vực hữu ngạn sông Hương, nhưng bao gồm luôn cả giáo xứ Phủ Cam thuộc Quận Hương Thủy ở phía Nam sông An Cựu.
Khu 4 là phần lãnh thổ từ cầu Gia Hội đến Cổn Hến. Phần này vốn thuộc Quận 3.
Tống Hoàng Nguyên phụ trách Khu 1 và Khu 2, Nguyễn Đình Bảy phụ trách Khu 3 và Nguyễn Đắc Xuân đặc trách Khu 4.
Còn tiếp
---------------------------------------------------------------------------------------
_________________________________________________________________________________________
Thảm sát Mậu Thân (Kết)
Thực hiện việc thảm sát
Trước khi Cộng quân mở cuộc tấn công Huế, các thành phần ly khai bỏ đi theo Việt Cộng từ năm 1966 và các tên nằm vùng đã lập sẵn danh sách những người mà chúng cho rằng cần phải thanh toán. Vì thế, khi mới vào Huế, chúng đã mở cuộc lục xét khắp nơi để tìm những người này.
Ngoài những người có tên trong “sổ đen”, các toán an ninh đi lùng bắt các thành phần bị coi là Việt gian, ác ôn hay phản động như công chức, binh sĩ VNCH, cảnh sát, nhân viên sở Mỹ, các thành phần đảng phái, người công giáo, v.v...
1. Tại Thành Nội (Quận 1) và một phần khu Tả Ngạn (Quận 2)
Hoàng Nguyên giao việc thanh lọc và xét xử cho cho hai sinh viên là Nguyễn Đọc và Nguyễn Thị Đoan. Hầu hết những người bị lôi ra tòa chẳng biết lý do tại sao họ bị bắt. Nhưng tất cả đều bị kết án tử hình sau khi bị dọa, qui chụp và kết tội. Một số bị xử tử ngay tức khắc.
Phiên tòa tại Thành Nội và khu Tả Ngạn chỉ kéo dài trong 2 ngày là xong, sau đó một chiến dịch khủng bố đã được phát động: Một người mở trộm radio nghe đã bị đưa ra bắn giữa đường phố để làm gương. Một anh sinh viên không tới dự lớp học tập cũng bị đưa ra bắn. Nguyễn Đọc đã bắn nhiều người trong đó có một bạn thân đồng lớp với anh ta, chỉ vì anh này không chịu hợp tác với y.
2. Tại khu Gia Hội: Hoàng Nguyên giao Nguyễn Đắc Xuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường phụ trách
Hoàng Phủ Ngọc Tường tốt nghiệp đại học Huế, đi dạy học và là một trong các lãnh tụ sinh viên Phật Giáo đấu tranh chống chính quyền VNCH năm 1966, sau đó Tường đi theo MTGPMN.
Chùa Theravada ở đường Võ Tánh được dùng làm trụ sở để các công chức và quân nhân VNCH đến trình diện, Trường Trung Học Gia Hội của Dòng Mai Khôi (Phú Xuân) được dùng làm nơi giam giữ và xét xử các thành phần bị coi là Việt gian hay phản động. Theo Bác sĩ Elje Vannema, các phiên tòa ở đây đểu do Hoàng Phủ Ngọc Tường chủ tọa.
Phản công tái chiếm Huế (Phía Nam cầu Tràng Tiền, Huế) Nguồn: images4.fotki.com
Người đi bắt và bắn chết các nạn nhân là tên Linh, người Quảng Ngãi, làm nghề thầy bói và khoác cái áo Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cuộc tàn sát tại đây được thực hiện rất bừa bải và tàn bạo, chẳng hạn như hai anh Nguyễn Ngọc Lộ và Nguyễn Thiết bị hạ sát chỉ vì làm nghề nghề dạy võ thất sơn thần quyền, bị cho là một bộ phận của Đại Việt Quốc Dân Đảng. Hai anh đã bị chôn sống ngay trên con đường nhỏ rẽ vào Trường Trung Học Gia Hội sau khi bị đánh bằng cuốc vào đầu. Nghe nói vợ anh Lộ và ba cháu gồm hai gái một trai cũng bị giết tại nhà ở xã Phú Lưu.
Trong số những người bị giết tại Gia Hội, người ta thấy có các nhân vật sau đây: Ông Lê Văn Cư, Phó giám đốc cảnh sát quốc gia vùng một và ông Phú (em vợ anh Cư), Quận Trưởng Quận 2; ông Từ Tôn Kháng, thiếu tá Tỉnh Đoàn Trưởng Xây Dựng Nông Thôn Thừa Thiên; ông Hồ Đắc Cam và ông Kim Phát, Việt Nam Quốc Dân Đảng; ông Trần Văn Nớp, Trưởng Phòng Hành Chánh Ty Cảnh Sát Thừa Thiên. v.v.
Nguyễn Đắc Xuân là người tổ chức và lãnh đạo “Đoàn Phật Tử Quyết Tử” tại Huế năm 1966 để chống lại VNCH. Khi bị đánh bại, Xuân đãù trốn theo VC và trở lại cố đô vào Tết Mậu Thân, phụ trách đội “Công tác thanh niên” nhắm mục đích khuyến dụ các quân nhân VNCH và cảnh sát bị kẹt ở Huế ra trình diện.
Với quân nhân VNCH, Xuân thành lập “Đoàn Quân Nhân Sư Đoàn 1 ly khai” và bắt Đại Úy Nguyễn Văn Lợi, Tiểu Đoàn Phó Thiểu Đoàn 4, Trung Đoàn 2, mới từ Đồng Hà trở về ăn Tết làm Trưởng Đoàn. Sau đó, Xuân lập “Đoàn Nghĩa Binh Cảnh Sát”, bắt ép Quận Trưởng Hữu Ngạn là Nguyễn Văn Cán ra chỉ huy.
Tuy nhiên, chỉ một thời gian ngắn sau, Bộ Tư Lệnh Quân Khu ra lệnh giải tán hai tổ chức này. Đột nhiên, ngày 18.2.1968, toán an ninh ra lệnh cho các công chức và quân nhân phải ra trình diện lần hai tại Trường Gia Hội rồi giữ lại và đem đi thủ tiêu luôn.
3. Tại khu Hữu Ngạn (Quận 3)
Toán an ninh ở khu Tả Ngạn không lập tòa án để xét xử các nạn nhân như ở khu Thành Nội và khu Gia Hội. Tại đây, các nạn nhân bị bắt đều bị đưa về giam ở chùa Từ Đàm, bắt làm tờ khai và được thanh lộc rồi đưa đi thủ tiêu. Số nạn nhân ở khu vực này đông nhất vì gồm những người đến ẩn nấp trong khu Dòng Chúa Cứu Thế và nhà thờ chính tòa Phủ Cam.
Tại khu Dòng Chúa Cứu Thế: Khu Hữu Ngạn (tức Quận 3) do Nguyễn Mậu Hiên, bí danh Bảy Lanh đánh chiếm. Bảy Lanh là con nuôi của nhà thuốc bắc Thiên Tường tại chợ An Cựu. Hai con trai của nhà thuốc Thiên Tường là cán bộ Việt Cộng nằm vùng ở cơ quan Xây Dựng Nông Thôn, Vì thế, khi Bảy Lanh vừa làm chủ vùng An Cựu, ông Thiên Tướng và hai người con đã đi lùng bắt tất cả những công chức, quân nhân, cảnh sát, thành phần đảng phái... trong khu vực Dòng Chúa Cứu Thế.
Tiếp theo, chúng lùa khoảng 150 người đang ẩn trú trong Dòng Chúa Cứu Thế ra sân để thanh lọc. Chúng xét hỏi giấy tờ của từng người. Những ai có căn cước ghi là quân nhân hay công chức đều được đưa ra khỏi hàng ngay, trong đó có Thượng nghị sĩ Trần Điền. Có khoảng 500 người trong khu vực này bị bắt đưa về chùa Từ Đàm. Về sau, cả ba cha con ông Thiên Tướng đều bị bắt.
Tại nhà thờ Phủ Cam: Nhà thờ này lúc đó chỉ mới được xây xong phần cung thánh và hai cánh tả hữu, nhưng có tường rất dày và trần được đúc bằng bê-ton cốt sắt, nên có thể che chở phần nào bom đạn. Do đó, có trên 3.000 người đã đến ẩn nấp tại đây. Khoảng 1 giờ đêm 7.2.1968, du kích và các toán an ninh đã vào lục soát nhà thờ, sau đó chúng bắt những người từ 15 đến 50 tuổi đứng lên, không phân biệt thành phần. Có khoảng 500 người thuộc lớp tuổi này. Chúng tuyên bố: “Các anh được đưa đi học tập 3 ngày rồi trở về.” Sau đó chúng dẫn những người này đi về chùa Từ Đàm và bắt làm tờ khai. Thỉnh thoảng chúng đưa một người ra gốc cây bồ đề trước sân chùa và bắn chết rồi chôn ngay trong sân chùa. Về sau, người ta đếm được có 20 xác.
Hai hôm sau, vào lúc trời tối, các toán an ninh gọi mọi người ra sân, lấy dây điện thoại trói ké lại, rồi dùng dây kẻm gai xâu 20 người lại một xâu, và dẫn đi về phía Nam Giao.
Ở bệnh viện, trò tương tự cũng đã diễn ra. Dân quanh vùng, đặc biệt là vùng quanh căn cứ Mỹ, Cộng quân viện lý do chiến tranh sắp xẩy ra trong vùng nên ra lệnh cho dân chúng tập trung vào bệnh viện. Sau ba ngày, họ bảo đàn bà và trẻ con ngồi xuống, còn đàn ông đứng dậy. Sau đó, chúng đưa hai tên nằm vùng đến nhận diện. Hai tên này vừa mới được xổ tù khi Cộng quân chiếm thành phố. Một số người, trẻ có già có, được cấp thẻ và dẫn về nhà thờ chính tòa Phủ Cam và từ đó họ được đưa lên chùa Từ Đàm.
Tất cả những người bị giam ở chùa Từ Đàm đểu được lần lượt dẫn đi về phía Tây Nam và hạ sát tại những nơi khác nhau, kể cả ở Khe Đá Mài, cách Huế khoảng 26 cây số. Theo tạp chí Time ngày 31.10.1969, trong số các nạn nhân bị giết tại đây có 398 người là giáo dân Phủ Cam. Cách giết người của Cộng quân cũng đặc biệt. Cộng quân ra lệnh cho những người bị bắt phải đào hố, nói là để làm hầm trú ẩn tránh bom đạn, hoặc để làm mương dẫn nước cho dân chúng cày cấy. Sau khi đào xong, Cộng quân trói thúc ké tay chân nạn nhân và quăng xuống hố rồi lấp đất lại. Có người cho rằng Cộng quân phải chôn sống như vậy vì sợ bắn sẽ gây tiếng động và để lộ mục tiêu.
Con số nạn nhân
Trong cuốn “Công và Tội”, ông Nguyễn Trân cho biết: “Về phía dân chúng, có 5.800 người chết, trong đó có 2.800 người bị Việt Cộng giết và chôn tập thể: 790 hội viên các Hội đồng tỉnh, thị xã và xã bị gán tội “cường hào ác bá”, 1892 nhân viên hành chánh, 38 cảnh sát, hằng trăm thanh niên tuổi quân dịch, một linh mục Việt (Bửu Đồng), hai linh mục Pháp, một bác sĩ Đức và vợ, và một số người Phi Luật Tân.” Trong “Encyclopedia of the Viet Nam War”, David T. Zabecki ghi nhận rằng số thi hài nạn nhân tìm được trong các mồ chôn tập thể ở Huế là 2.810 người và hàng ngàn người bị mất tích.
Trong cuốn “The Vietcong Massacre at Hue” (Vintage Press, New York, 1976), Bác sĩ Elje Vannema, người có mặt tại Huế trong biến cố Tết Mậu Thân, cho biết theo tài liệu kiểm kê được qua 22 mồ tập thể, số nạn nhân bị Cộng quân giết là 2.326 người, chia ra như sau:
Trường Gia Hội: 203 người; Chùa Theravada [Gia Hội]: 43; Bãi Dâu [Gia Hội]: 26; Cồn Hến [Gia Hội]: 101; Tiểu Chủng Viện: 6; Quận Tả ngạn: 21; Phía đông Huế: 25; Lăng Tự Đức và Đồng Khánh: 203; Cầu An Ninh: 20; Cửa Đông Ba: 7; Trường An Ninh Hạ: 4; Trường Văn Chí: 8; Chợ Thông: 102; Lăng Gia Long: 200; Chùa Từ Quang: 4; Đồng Di: 110; Vinh Thái: 135; Phù Lương: 22; Phú Xuân: 587; Thượng Hòa: 11; Thủy Thanh – Vinh Hưng: 70; Khe Đá Mài: 428.
Trong cuốn “Viet Cong Strategy of Terror” (tr. 23 đến 29) Giáo Sư Douglas Pike cho biết qua vụ Tết Mậu Thân ở Huế, có khoảng 7.600 nạn nhân của Cộng Sản, trong đó 1.946 người bị mất tích.
Tại sao phải thảm sát?
Những sự kiện cụ thể chúng tôi vừa trình bày trên cho thấy:
(1) Việc chiếm Huế làm căn cứ địa cho MTGPMN là một quyết định được Hà Nội nghiên cứu kỹ càng và ra lệnh cho Khu Ủy và Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị Thiên Huế thi hành. Cán bộ thi hành cũng đã được huấn luyện trước. Do đó, không thể có chuyện các cấp chỉ huy địa phương quyết định tàn sát mà không có lệnh từ trung ương.
(2) Đa số các cuộc thảm sát đã diễn ra trong thời gian từ 2 đến 12.2.1968, tức trong thời gian Cộng quân còn chiếm đóng Huế. Các nạn nhân thường được kiểm tra hay xét xử rồi mới giết. Rất nhiều mộ tập thể đã được tìm thấy ngay trong thành phớ Huế, nhất là tại khu Gia Hội. Điều này cho thấy không phải vì bị vướng chân khi rút quân nên Cộng Sản mới tàn sát tâp thể để có thể rút nhanh như một số người đã biện hộ cho Cộng Sản.
(3) Đến tối 24.2.1968 Cộng quân mới ra lệnh rút quân toàn bộ khỏi Huế. Tài liệu của Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị Thiên Huế nói rằng có 23.702 tên quân địch, trong đó có 8.000 Mỹ, đã bị diệt, bắt sống và ra hàng (tr. 153). Như vậy số quân nhân Quân Lực VNCH và Mỹ đã bị tiêu diệt hoặc bắt sống lên đến khoảng 3 sư đoàn, trong khi đó số quân VNCH và Mỹ được dùng để tái chiếm Huế chưa đến 2 sư đoàn! Giả thiết tài liệu của Cộng quân là đúng và số người đã bị họ bắt đi theo đã bị giết tập thể để khỏi bị vướng chân..., vậy những người này đã được chôn ở đâu? Các cuộc tìm kiếm sau Tết Mậu Thân không cho thấy có các quân nhân VNCH và Mỹ được chôn trên đường rút quân của Cộng quân.
Chỉ có một trường hợp bị bắn khi Cộng quân rút lui là trường hợp những thanh niên bị bắt gia nhập quân MTGPMN. Những thanh niên không chịu đi theo đều bị bắn tại chỗ. Tại Gia Hội, người ta khám phá ra xác của 18 thanh niên bị bắn chết vì không chịu đi theo. Có khoảng 600 thanh niên vì sợ bị bắn phải đi theo họ.
Tóm lại, lập luận cho rằng các nạn nhân đã bị tàn sát vì làm vướng chân Cộng quân khi rút lui là hoàn toàn láo phét. Đảng CSVN đã duy trì kỷ cương rất chặt chẽ trong khi hành quân nên không thể có chuyện các cấp chỉ huy địa phương tự ý ra lệnh tàn sát tập thể như một số người đã biện minh cho Hà Nội. Phải có lệnh của trung ương, các cán bộ cấp dưới mới làm như vậy. Nhưng vấn đề được đặt ra là: Tại sao Đảng CSVN đã đưa ra quyết định tàn sát tâp thể như thế?
Có tác giả cho rằng sở dĩ Hà Nội đã đưa ra quyết định tàn sát tập thể vì lý do an ninh. Hà Nội muốn chiếm Huế và giữ Huế lâu dài như là một căn cứ địa của MTGPMN. Do đó, để bảo vệ an ninh trong vùng chiếm đóng, Hà Nội đã ra lệnh thanh toán tất cả những thành phần bị coi là cho thể gây nguy hại cho an ninh như tuyên truyền chống đối, quấy rối, làm nội ứng, hình thành các nhóm võ trang chống lại lực lượng chiếm đóng, v.v...
Ngoài những tiêu chuẩn thanh toán mà Hà Nội đã đưa ra, các nhóm Phật Giáo đấu tranh chống VNCH bỏ đi theo MTGPMN từ năm 1966, khi trở lại đã đi tìm và thanh toán những người trước đây không đồng ý hay chống lại chủ trương của họ, đặc biệt là những người Công Giáo.
Nhưng Hà Nội đã có nhận định sai lầm về quyết tâm của Quân Lực VNCH và sự hưởng ứng của quần chúng Phật tử ở Huế. Quân Lực VNCH và đồng minh đã xử dụng hỏa lực tối đa, bất chấp những sự hư hại cho cố đô, để đánh bật Cộng quân ra khỏi thành phố, còn quần chúng Phật tử chỉ có một số nhỏ theo họ. Do đó, quyết định chiếm Huế làm căn cứ địa đã thất bại.
Bài do tác giả LỮ GIANG gởi. DCVOnline biên tập và minh hoạ
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=4641
6/3/10
Trông gà hoá cuốc
Phạm Trần
Đọc những lời phát biểu về báo chí của một số người lãnh đạo trong nước từ hai tháng đầu năm 2010, những ai còn nặng lòng với đất nước cũng phải thương hại cho những người lỡ nghiệp làm báo mà không được phép viết hay nói những điều đã nghe mắt đã thấy.
Bằng chứng có nhiều vô kể, nhưng hãy lấy chuyện gần nhất là việc hai ông Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh báo động việc 10 quan đầu tỉnh biên giới và vùng thượng nguồn bất chấp luật pháp và quyền lợi tối thượng của tổ quốc đã ngang nhiên cho các công ty của Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc thuê đất dài hạn 50 năm trên diện tích 305,3534 nghìn mẫu đất, trong đó có 264 nghìn mẫu thuộc diện quốc phòng.
Hai ông công khai bài viết chung trên báo điện tử Bauxite Việt Nam từ ngày 22-01-2010, sau khi không thấy Bộ Chính trị trả lời những đề nghị của họ gửi cho Trung ương Đảng từ đầu tháng 01/2010, yêu cầu bồi thường cho các công ty nước ngoài để giữ đất và ra lệnh đình chỉ ngay việc làm nguy hiểm này.
Việc trọng đại như thế mà tất cả trên dưới 6000 cơ quan Báo chí, đài phát thanh, truyền hình trong nước đã lặng thinh, không dám hé răng mở miệng, cho đến khi báo Tuần Việt Nam của Bộ Thông Tin-Truyền Thông, ngày 27-02-2010, có bài phỏng vấn tướng Đồng Sĩ Nguyên nói về việc này.
Sau đó đến lượt báo điện tử ViệtNamNet, cũng của Bộ Thông tin và Truyền Thông và báo Pháp Luật, xuất bản ở Sài Gòn tham gia đưa tin, viết bài điều tra và phỏng vấn một số Đại biểu Quốc Hội và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh về thư tố cáo của ông và tướng Đồng Sĩ Nguyên.
Tuy nhiên các báo “dòng chính” của đảng như Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Sài Gòn Giải Phóng, Đài Tiếng Nói Việt Nam, Thống Tấn Xã Việt Nam và các Đài Truyền hình quốc gia cũng như các báo điện tử của Đảng và Nhà nước đều không dám đưa tin.
Vậy mà vào ngày trong cuộc họp báo đấu năm ngày 7-1-2010, Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng đã khen: “Báo chí đã trưởng thành về mọi mặt, cả về chính trị, nghiệp vụ, nhanh nhạy và vững vàng hơn, đưa thông tin kịp thời, chính xác, nội dung và hình thức ngày càng phong phú hơn, có tác động tích cực tới xã hội”.
Lời nói này không khác gì đem gáo nước lạnh tạt vào mặt Ban Biên tập của các báo Hà Nội Mới, An Ninh Thủ Đô và Thông Tấn Xã Việt Nam trong thời gian họ viết bài, đưa tin về vụ Thánh Giá trên Núi Thờ của Xứ đạo Đồng Chiêm bị lực lượng Công an, Cảnh sát và Dân phòng phá sập vào sáng sớm ngày 6/1/2010. Trong vụ này, Công an, Cảnh sát đã đánh một số Giáo dân bị thương nặng khi họ ngăn cản việc phá Thánh giá. Vậy mà các báo Hà Nội Mới, An Ninh Thủ Đô và cả Thông Tấn Xã Việt Nam đã được chính quyền mớm lời chối biến không có xô xát, không có đánh đập, và rằng những người nói là bị thương là do chính các giáo dân quá khích đã lấy màu đỏ bôi bác lên để chụp hình gửi ra nước ngoài cho các “báo, đài phản động” tuyên truyền chống Nhà nước !
Đến ngày gọi là “Gặp gỡ đầu Xuân sáng 23/2/2010” với báo chí, ông Dũng lại yêu cầu: “Báo chí phải lắng nghe, chắt lọc ý kiến người dân đóng góp cho Đảng. Đồng thời, cần thông tin sắc bén, nhanh nhạy hơn nữa về bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền dân tộc”.
ViệtNamNet trích lời ông Dũng: "Báo chí là diễn đàn của nhân dân. Rất mong báo chí hãy chắt lọc, lắng nghe và phản ánh những ý kiến sáng láng, xác đáng, những ý kiến phù hợp của nhân dân đóng góp cho Đảng. Đừng bỏ sót bất kỳ ý kiến hay, bất kỳ ý kiến xây dựng nào của người dân…"
"…Rất mong báo chí đấu tranh một cách có hiệu quả, phản bác các luận điệu chống phá của các thế lực với đất nước, với Đảng hoặc những thông tin sai trái về chủ quyền lãnh thổ".
Đảng nghe Dân hay nghe Tàu?
Thứ nhất, khi yêu cầu báo chí hãy “lắng nghe và phản ánh những ý kiến sáng láng, xác đáng… Đừng bỏ sót bất kỳ ý kiến hay, bất kỳ ý kiến xây dựng nào của người dân…” thì ông Dũng có nhớ đã có bao nhiêu ngàn nhà trí thức trong và ngoài nước, kể cả Tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi “kiến nghị” và thư yêu cầu ngưng dự án khai thác bauxite trên Tây Nguyên mà ông Dũng và Bộ Chính trị vẫn “mũ ni che tai” để cho Tàu Bắc Kinh vào khai thác?
Các báo của đảng cũng theo lệnh không loan tin về phong trào chống khai thác bauxite, sau khi Bộ Chính trị, vào tháng 4/2009, quyết định cứ khai thác theo như thỏa hiệp đã ký với công ty Chalieco của Tàu Bắc Kinh. Nhưng khi Tập đoàn Công nghiệp than và khoáng sản Việt Nam làm lễ khởi công xây dựng Nhà máy alumin Nhân Cơ tại huyện Đắk RLấp, tỉnh Đắk Nông ngày 28/2/2010 thì báo đảng lại đua nhau loan tin, đăng hình Nguyễn Tấn Dũng hồ hởi khai trương!
Thứ nhì, cũng trong dịp đi thăm chúc Tết và họp giao ban báo chí đầu năm, Nguyễn Tấn Dũng mong muốn các báo “làm tốt hơn chức năng, nhiệm vụ được giao, làm tốt hơn nữa công tác thông tin tuyên truyền với những bài viết, bài bình luận sắc sảo hơn và tính chiến đấu cao hơn; tích cực tham gia đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, chống phá Nhà nước, đấu tranh chống tham nhũng… những thông tin sai trái về chủ quyền lãnh thổ”.
Tuy nhiên, ông Dũng cũng phải nhớ chuyện các ông bỏ tù một số nhà báo của hai tờ Thanh Niên và Tuổi Trẻ vì đã hăng hái tham gia phong trao chống tham nhũng cách nay vài năm. Ông Dũng còn ra lệnh cho Công an, Cảnh sát đàn áp thanh niên và đồng bào tự phát xuống đường ở Sài Gòn và Hà Nội tháng 12/2007 chống Tàu có âm mưu thi hành chính sách bá quyền, chiếm đất và lãnh hải của Việt Nam.
Vậy ai là thủ phạm đã đưa ra các thông tin được gọi là “sai trái về chủ quyền lãnh thổ”? Ngoài ra chính quyền CSVN cũng đã bất lực trước các cuộc tấn công hung bạo của hải quân Tàu nhắm vào các ngư dân Việt Nam đánh cá quanh Hoàng Sa và Trường Sa, nhiều nhất trong năm 2009.
Thậm chí khi đảng Cộng sản Việt Nam tìm mọi cách đàn áp những người yêu nước lên tiếng chỉ trích âm mưu xâm lược của Tàu bằng kinh tế, ngoại giao và quân sự thì Trung Hoa lại dung túng một số tờ báo ở Hồng Kông và báo điện tử ở lục địa lên tiếng khuyến cáo nhà cầm quyền Bắc Kinh phải sẵn đánh Việt Nam càng sớm càng tốt !
Mạng Hoàn Cầu của Tàu, theo một bài viết của chuyên gia về Trung Hoa, ông Dương Danh Dy, dành cho BBC ngày 3/3/2010 thì ngày 7/2/2010 đã có bài lên án Việt Nam muốn “quốc tế hóa Biển Đông”.
Mạng Hoàn Cầu viết: “Biện pháp tốt nhất để hóa giải nguy cơ tại Biển Đông là nhằm thẳng vào kẻ cầm đầu, thực thi chiến thuật “muốn bắt giặc phải bắt vua trước” kiên quyết đánh Việt Nam, bắt vua giặc Việt Nam trước, trấn áp các cường đạo nhỏ khác, rồi giải quyết triệt để nguy cơ Biển Đông”.
Theo Ông Dương Danh Dy thì: “Mạng này phân tích rằng hiện nay, muốn đối phó với Việt Nam muốn từ mặt quân sự đánh bại Việt Nam đòi lại chủ quyền ở Biển Đông "không phải là chưa có đầy đủ điều kiện, không phải là không có hàng không mẫu hạm thì không đánh được, cũng không phải đánh Việt Nam là khống chế không nổi chiến tranh càng không phải là sĩ quan, binh lính chúng ta không thể đánh nhau, mà điều then chốt là phải quả đoán đưa ra lựa chọn”.
"Trong điều kiện hiện nay phải dùng quyết tâm như năm xưa chống Mỹ viện Triều để đối phó với Việt Nam, chỉ cần có lòng anh hùng khí khái giống như chống Mỹ viện Triều, nhất định Trung Quốc sẽ đánh thắng cuộc xung đột cục bộ này".
Báo Tàu viết như chửi vào mặt cả nước Việt Nam, thế mà cái làng báo của Đảng CSVN vẫn cúi đầu lắng nghe được thì thử hỏi chuyện một số quan đầu tỉnh cho Tàu thuê đất, phá rừng để trồng cây công nghệ có nhằm nhò gì mà phải làm ồn lên thế!
Phản dân chủ
Vì vậy, theo Đài Tiếng Nói Việt Nam ngày Thứ Sáu, 26/02/2010, khi trả lời cuộc phỏng vấn của Thông tấn Express của Ấn Độ, Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc Hội đã nói một câu phản ảnh tính “phản dân chủ” của đảng CSVN: “Chúng tôi nói là ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan cần phải có chế độ đa đảng”.
Đài Tiếng nói Việt Nam tường thuật nguyên văn như thế này: “Về câu hỏi liên quan đến chế độ chính trị ở Việt Nam, hãng thông tấn này đặt câu hỏi: "Chủ tịch có nghĩ rằng, đã đến lúc chín muồi để Việt Nam có hệ thống đa đảng hoặc có các đảng khác ngoài Đảng cộng sản Việt Nam để có thể tính tới các quan điểm của nhiều nhóm sắc tộc khác nhau, nhiều dân tộc khác nhau. Ví dụ như Việt Nam có Uỷ ban Dân tộc để giải quyết vấn đề này?”
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng trả lời:
"Chúng tôi quan niệm là kinh tế và hệ thống chính trị bao giờ cũng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Chúng tôi chủ trương phát triển kinh tế đồng thời cũng đổi mới từng bước hệ thống chính trị một cách vững chắc cho phù hợp. Và đã rút ra kinh nghiệm là đổi mới kinh tế phải đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị.
Thực tiễn các bạn thấy là đất nước chúng tôi về chính trị xã hội ổn định, nhân dân được làm chủ. Quốc hội hoạt động ngày càng dân chủ. Các đoàn thể cũng có tiếng nói và đang làm nhiệm vụ phản biện và giám sát xã hội, đất nước vẫn đang phát triển, đang đi lên. Từ thực tế thì thấy là chúng tôi thực hiện một đảng vẫn là hiệu quả nhất.
Hiện nay, tôi được biết là trên thế giới, dư luận cũng rất quan tâm là tại sao Việt Nam chỉ có một Đảng lãnh đạo, một đảng lãnh đạo thì có dân chủ không, tại sao lại không thực hiện chế độ đa đảng. Vấn đề này thì ý kiến tranh luận khác nhau. Nhưng riêng tôi thì tôi nghĩ không phải là nhiều đảng thì nhiều dân chủ hơn, hai đảng có ít dân chủ hơn, mà một đảng thì lại có ít dân chủ nữa.
Mỗi nước có hoàn cảnh lịch sử khác nhau. Điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không. Đó là tiêu chí quan trọng nhất.
Tôi không phản đối và cũng không định kiến với các nước có chế độ đa đảng. Thậm chí có nước có vua, có nước có Thủ tướng, có nước không có Thủ tướng, có nước có Tổng thống lại có cả Thủ tướng. Mỗi nước có một mô hình tổ chức khác nhau và tôi rất tôn trọng.Tôi nghĩ cũng không nhất thiết là kinh tế thị trường thì phải đa đảng. Chúng tôi nói là ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan cần phải có chế độ đa đảng. Ít nhất là cho đến bây giờ".
Nghe ông Trọng nói hào sảng như thế thì tôi muốn hỏi: Nếu thực tế “nhân dân được làm chủ” thì tại sao cái Quốc hội lại chỉ do các đảng viên của đảng CSVN chiếm hết?
Và nếu “Các đoàn thể cũng có tiếng nói và đang làm nhiệm vụ phản biện và giám sát xã hội” thì tại sao cái tổ chức Mặt trận Tổ quốc chỉ được phép đóng bai bù nhìn cho chế độ chứ có ai được “phản biện” hay “giám sát” ai đâu?
Rõ ràng là Nguyễn Phú trọng đã trông Gà hóa Cuốc nên mới ăn nói loạng quạng như vậy.
Phạm Trần
04/03/2010
Đọc những lời phát biểu về báo chí của một số người lãnh đạo trong nước từ hai tháng đầu năm 2010, những ai còn nặng lòng với đất nước cũng phải thương hại cho những người lỡ nghiệp làm báo mà không được phép viết hay nói những điều đã nghe mắt đã thấy.
Bằng chứng có nhiều vô kể, nhưng hãy lấy chuyện gần nhất là việc hai ông Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh báo động việc 10 quan đầu tỉnh biên giới và vùng thượng nguồn bất chấp luật pháp và quyền lợi tối thượng của tổ quốc đã ngang nhiên cho các công ty của Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc thuê đất dài hạn 50 năm trên diện tích 305,3534 nghìn mẫu đất, trong đó có 264 nghìn mẫu thuộc diện quốc phòng.
Hai ông công khai bài viết chung trên báo điện tử Bauxite Việt Nam từ ngày 22-01-2010, sau khi không thấy Bộ Chính trị trả lời những đề nghị của họ gửi cho Trung ương Đảng từ đầu tháng 01/2010, yêu cầu bồi thường cho các công ty nước ngoài để giữ đất và ra lệnh đình chỉ ngay việc làm nguy hiểm này.
Việc trọng đại như thế mà tất cả trên dưới 6000 cơ quan Báo chí, đài phát thanh, truyền hình trong nước đã lặng thinh, không dám hé răng mở miệng, cho đến khi báo Tuần Việt Nam của Bộ Thông Tin-Truyền Thông, ngày 27-02-2010, có bài phỏng vấn tướng Đồng Sĩ Nguyên nói về việc này.
Sau đó đến lượt báo điện tử ViệtNamNet, cũng của Bộ Thông tin và Truyền Thông và báo Pháp Luật, xuất bản ở Sài Gòn tham gia đưa tin, viết bài điều tra và phỏng vấn một số Đại biểu Quốc Hội và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh về thư tố cáo của ông và tướng Đồng Sĩ Nguyên.
Tuy nhiên các báo “dòng chính” của đảng như Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Sài Gòn Giải Phóng, Đài Tiếng Nói Việt Nam, Thống Tấn Xã Việt Nam và các Đài Truyền hình quốc gia cũng như các báo điện tử của Đảng và Nhà nước đều không dám đưa tin.
Vậy mà vào ngày trong cuộc họp báo đấu năm ngày 7-1-2010, Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng đã khen: “Báo chí đã trưởng thành về mọi mặt, cả về chính trị, nghiệp vụ, nhanh nhạy và vững vàng hơn, đưa thông tin kịp thời, chính xác, nội dung và hình thức ngày càng phong phú hơn, có tác động tích cực tới xã hội”.
Lời nói này không khác gì đem gáo nước lạnh tạt vào mặt Ban Biên tập của các báo Hà Nội Mới, An Ninh Thủ Đô và Thông Tấn Xã Việt Nam trong thời gian họ viết bài, đưa tin về vụ Thánh Giá trên Núi Thờ của Xứ đạo Đồng Chiêm bị lực lượng Công an, Cảnh sát và Dân phòng phá sập vào sáng sớm ngày 6/1/2010. Trong vụ này, Công an, Cảnh sát đã đánh một số Giáo dân bị thương nặng khi họ ngăn cản việc phá Thánh giá. Vậy mà các báo Hà Nội Mới, An Ninh Thủ Đô và cả Thông Tấn Xã Việt Nam đã được chính quyền mớm lời chối biến không có xô xát, không có đánh đập, và rằng những người nói là bị thương là do chính các giáo dân quá khích đã lấy màu đỏ bôi bác lên để chụp hình gửi ra nước ngoài cho các “báo, đài phản động” tuyên truyền chống Nhà nước !
Đến ngày gọi là “Gặp gỡ đầu Xuân sáng 23/2/2010” với báo chí, ông Dũng lại yêu cầu: “Báo chí phải lắng nghe, chắt lọc ý kiến người dân đóng góp cho Đảng. Đồng thời, cần thông tin sắc bén, nhanh nhạy hơn nữa về bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền dân tộc”.
ViệtNamNet trích lời ông Dũng: "Báo chí là diễn đàn của nhân dân. Rất mong báo chí hãy chắt lọc, lắng nghe và phản ánh những ý kiến sáng láng, xác đáng, những ý kiến phù hợp của nhân dân đóng góp cho Đảng. Đừng bỏ sót bất kỳ ý kiến hay, bất kỳ ý kiến xây dựng nào của người dân…"
"…Rất mong báo chí đấu tranh một cách có hiệu quả, phản bác các luận điệu chống phá của các thế lực với đất nước, với Đảng hoặc những thông tin sai trái về chủ quyền lãnh thổ".
Đảng nghe Dân hay nghe Tàu?
Thứ nhất, khi yêu cầu báo chí hãy “lắng nghe và phản ánh những ý kiến sáng láng, xác đáng… Đừng bỏ sót bất kỳ ý kiến hay, bất kỳ ý kiến xây dựng nào của người dân…” thì ông Dũng có nhớ đã có bao nhiêu ngàn nhà trí thức trong và ngoài nước, kể cả Tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi “kiến nghị” và thư yêu cầu ngưng dự án khai thác bauxite trên Tây Nguyên mà ông Dũng và Bộ Chính trị vẫn “mũ ni che tai” để cho Tàu Bắc Kinh vào khai thác?
Các báo của đảng cũng theo lệnh không loan tin về phong trào chống khai thác bauxite, sau khi Bộ Chính trị, vào tháng 4/2009, quyết định cứ khai thác theo như thỏa hiệp đã ký với công ty Chalieco của Tàu Bắc Kinh. Nhưng khi Tập đoàn Công nghiệp than và khoáng sản Việt Nam làm lễ khởi công xây dựng Nhà máy alumin Nhân Cơ tại huyện Đắk RLấp, tỉnh Đắk Nông ngày 28/2/2010 thì báo đảng lại đua nhau loan tin, đăng hình Nguyễn Tấn Dũng hồ hởi khai trương!
Thứ nhì, cũng trong dịp đi thăm chúc Tết và họp giao ban báo chí đầu năm, Nguyễn Tấn Dũng mong muốn các báo “làm tốt hơn chức năng, nhiệm vụ được giao, làm tốt hơn nữa công tác thông tin tuyên truyền với những bài viết, bài bình luận sắc sảo hơn và tính chiến đấu cao hơn; tích cực tham gia đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, chống phá Nhà nước, đấu tranh chống tham nhũng… những thông tin sai trái về chủ quyền lãnh thổ”.
Tuy nhiên, ông Dũng cũng phải nhớ chuyện các ông bỏ tù một số nhà báo của hai tờ Thanh Niên và Tuổi Trẻ vì đã hăng hái tham gia phong trao chống tham nhũng cách nay vài năm. Ông Dũng còn ra lệnh cho Công an, Cảnh sát đàn áp thanh niên và đồng bào tự phát xuống đường ở Sài Gòn và Hà Nội tháng 12/2007 chống Tàu có âm mưu thi hành chính sách bá quyền, chiếm đất và lãnh hải của Việt Nam.
Vậy ai là thủ phạm đã đưa ra các thông tin được gọi là “sai trái về chủ quyền lãnh thổ”? Ngoài ra chính quyền CSVN cũng đã bất lực trước các cuộc tấn công hung bạo của hải quân Tàu nhắm vào các ngư dân Việt Nam đánh cá quanh Hoàng Sa và Trường Sa, nhiều nhất trong năm 2009.
Thậm chí khi đảng Cộng sản Việt Nam tìm mọi cách đàn áp những người yêu nước lên tiếng chỉ trích âm mưu xâm lược của Tàu bằng kinh tế, ngoại giao và quân sự thì Trung Hoa lại dung túng một số tờ báo ở Hồng Kông và báo điện tử ở lục địa lên tiếng khuyến cáo nhà cầm quyền Bắc Kinh phải sẵn đánh Việt Nam càng sớm càng tốt !
Mạng Hoàn Cầu của Tàu, theo một bài viết của chuyên gia về Trung Hoa, ông Dương Danh Dy, dành cho BBC ngày 3/3/2010 thì ngày 7/2/2010 đã có bài lên án Việt Nam muốn “quốc tế hóa Biển Đông”.
Mạng Hoàn Cầu viết: “Biện pháp tốt nhất để hóa giải nguy cơ tại Biển Đông là nhằm thẳng vào kẻ cầm đầu, thực thi chiến thuật “muốn bắt giặc phải bắt vua trước” kiên quyết đánh Việt Nam, bắt vua giặc Việt Nam trước, trấn áp các cường đạo nhỏ khác, rồi giải quyết triệt để nguy cơ Biển Đông”.
Theo Ông Dương Danh Dy thì: “Mạng này phân tích rằng hiện nay, muốn đối phó với Việt Nam muốn từ mặt quân sự đánh bại Việt Nam đòi lại chủ quyền ở Biển Đông "không phải là chưa có đầy đủ điều kiện, không phải là không có hàng không mẫu hạm thì không đánh được, cũng không phải đánh Việt Nam là khống chế không nổi chiến tranh càng không phải là sĩ quan, binh lính chúng ta không thể đánh nhau, mà điều then chốt là phải quả đoán đưa ra lựa chọn”.
"Trong điều kiện hiện nay phải dùng quyết tâm như năm xưa chống Mỹ viện Triều để đối phó với Việt Nam, chỉ cần có lòng anh hùng khí khái giống như chống Mỹ viện Triều, nhất định Trung Quốc sẽ đánh thắng cuộc xung đột cục bộ này".
Báo Tàu viết như chửi vào mặt cả nước Việt Nam, thế mà cái làng báo của Đảng CSVN vẫn cúi đầu lắng nghe được thì thử hỏi chuyện một số quan đầu tỉnh cho Tàu thuê đất, phá rừng để trồng cây công nghệ có nhằm nhò gì mà phải làm ồn lên thế!
Phản dân chủ
Vì vậy, theo Đài Tiếng Nói Việt Nam ngày Thứ Sáu, 26/02/2010, khi trả lời cuộc phỏng vấn của Thông tấn Express của Ấn Độ, Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc Hội đã nói một câu phản ảnh tính “phản dân chủ” của đảng CSVN: “Chúng tôi nói là ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan cần phải có chế độ đa đảng”.
Đài Tiếng nói Việt Nam tường thuật nguyên văn như thế này: “Về câu hỏi liên quan đến chế độ chính trị ở Việt Nam, hãng thông tấn này đặt câu hỏi: "Chủ tịch có nghĩ rằng, đã đến lúc chín muồi để Việt Nam có hệ thống đa đảng hoặc có các đảng khác ngoài Đảng cộng sản Việt Nam để có thể tính tới các quan điểm của nhiều nhóm sắc tộc khác nhau, nhiều dân tộc khác nhau. Ví dụ như Việt Nam có Uỷ ban Dân tộc để giải quyết vấn đề này?”
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng trả lời:
"Chúng tôi quan niệm là kinh tế và hệ thống chính trị bao giờ cũng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Chúng tôi chủ trương phát triển kinh tế đồng thời cũng đổi mới từng bước hệ thống chính trị một cách vững chắc cho phù hợp. Và đã rút ra kinh nghiệm là đổi mới kinh tế phải đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị.
Thực tiễn các bạn thấy là đất nước chúng tôi về chính trị xã hội ổn định, nhân dân được làm chủ. Quốc hội hoạt động ngày càng dân chủ. Các đoàn thể cũng có tiếng nói và đang làm nhiệm vụ phản biện và giám sát xã hội, đất nước vẫn đang phát triển, đang đi lên. Từ thực tế thì thấy là chúng tôi thực hiện một đảng vẫn là hiệu quả nhất.
Hiện nay, tôi được biết là trên thế giới, dư luận cũng rất quan tâm là tại sao Việt Nam chỉ có một Đảng lãnh đạo, một đảng lãnh đạo thì có dân chủ không, tại sao lại không thực hiện chế độ đa đảng. Vấn đề này thì ý kiến tranh luận khác nhau. Nhưng riêng tôi thì tôi nghĩ không phải là nhiều đảng thì nhiều dân chủ hơn, hai đảng có ít dân chủ hơn, mà một đảng thì lại có ít dân chủ nữa.
Mỗi nước có hoàn cảnh lịch sử khác nhau. Điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không. Đó là tiêu chí quan trọng nhất.
Tôi không phản đối và cũng không định kiến với các nước có chế độ đa đảng. Thậm chí có nước có vua, có nước có Thủ tướng, có nước không có Thủ tướng, có nước có Tổng thống lại có cả Thủ tướng. Mỗi nước có một mô hình tổ chức khác nhau và tôi rất tôn trọng.Tôi nghĩ cũng không nhất thiết là kinh tế thị trường thì phải đa đảng. Chúng tôi nói là ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan cần phải có chế độ đa đảng. Ít nhất là cho đến bây giờ".
Nghe ông Trọng nói hào sảng như thế thì tôi muốn hỏi: Nếu thực tế “nhân dân được làm chủ” thì tại sao cái Quốc hội lại chỉ do các đảng viên của đảng CSVN chiếm hết?
Và nếu “Các đoàn thể cũng có tiếng nói và đang làm nhiệm vụ phản biện và giám sát xã hội” thì tại sao cái tổ chức Mặt trận Tổ quốc chỉ được phép đóng bai bù nhìn cho chế độ chứ có ai được “phản biện” hay “giám sát” ai đâu?
Rõ ràng là Nguyễn Phú trọng đã trông Gà hóa Cuốc nên mới ăn nói loạng quạng như vậy.
Phạm Trần
04/03/2010
Nền tư pháp biến nạn nhân thành tội phạm
Dư luận trong nước đang xôn xao bàn tán về một vụ án chưa từng thấy: một hiệu trưởng trường trung học lợi dụng quyền lực của mình ép buộc các nữ sinh vị thành niên dưới quyền nhiều lần phục vụ sinh lý, bằng cách dọa các em "đánh tụt điểm" về các môn học và «cho điểm xấu về đạo đức.»
Bà con ta gọi là vụ án "ép dâm ở Hà Giang", vụ án "con heo Sầm Đức Xương", theo tên của viên hiệu trưởng dâm ô này.
Vụ án bị tiết lộ từ đầu năm 2009, gây nên dư luận rộng lớn, toà án nhân dân tỉnh Hà Giang mở phiên toà sơ thẩm ngày 6/11/2009, xử rất qua loa, vội vã, không có luật sư bào chữa, tuyên án Sầm Đức Xương 53 tuổi, 10 năm tù giam về tội "mua dâm" và nữ sinh Nguyễn Thuý Hằng 19 tuổi 6 năm tù giam, nữ sinh Nguyễn Thị Thanh Thuý 18 tuổi 5 năm tù giam về tội "môi giới mãi dâm".
Gia đình 2 em Hằng và Thuý cực kỳ ngạc nhiên và phẫn nộ, các thày cô giáo và bạn học của 2 em hết sức bực bội yêu cầu phải xem xét lại vụ án này; Sầm Đức Xương cũng kêu oan, viện lẽ bị liệt dương nặng từ 4 năm nay.
Từ trong nhà tù, 2 em Hằng và Thúy liên tiếp viết đơn kêu cứu, những lá đơn đầy nước mắt, gửi gia đình, bạn bè, các cấp chính quyền, các báo... tha thiết đòi có luật sư bênh vực các em, bênh vực sự thật, trong đó 2 em tố cáo cơ quan điều tra của công an tỉnh Hà Giang đã bắt các em”ký khống”dưới những trang giấy trắng để họ viết sau nội dung ở bên trên, coi đó là lời khai của bị cáo.
Thế là toà án Hà Giang buộc phải để cho luật sư gặp các bị cáo, chuẩn bị cho phiên xử phúc thẩm vì các bị cáo đều kháng án.
Luật sư Trần Đình Triển thuộc đoàn luật sư Hà Nội được cử lên Hà Giang cãi cho hai em Hằng và Thuý. Ngày 1/2/2010 Toà án tỉnh Hà Giang mở phiên toà phúc thẩm, những tưởng sẽ lại chóng vánh y án sơ thẩm, như mong muốn và tính toán của chính quyền và tỉnh uỷ Hà Giang.
Nhưng thời thế đã thay đổi. Đã đến lúc mong muốn của các quan chức trong đảng, chính quyền và công cụ công an, toà án của họ không còn khống chế được dư luận và lòng dân. Và "khủng hoảng" đã nổ ra giữa phiên tòa.
Theo tin từ trong nước luật sư Trần Đình Triển với công tâm và bản lĩnh của mình đã đóng góp phần quyết định vào cuộc”phá án”ngoạn mục này. Luật sư Triển nêu rõ trước toà: vụ án xảy ra khi 2 em Hằng, Thúy còn vị thành niên (dưới 18 tuổi), nên việc tuyên án không tính đến điều đó là phi pháp.
Quan trọng hơn, việc cơ quan điều tra của công an tỉnh bắt 2 em ký khống những trang giấy trắng cần làm rõ, nếu vậy thì cuộc điều tra đã phạm pháp từ khi mở đầu. Hai em còn tố cáo cơ quan điều tra bắt 2 em ký tuyên bố «tự nguyện từ chối luật sư». Ông đòi phải mở lại cuộc điều tra từ đầu.
Quan trọng hơn nữa, trong nhà tù 2 em Hằng và Thúy đã ghi lại tên, địa chỉ, chức vụ, cả số điện thoại của một số quan chức cao nhất tỉnh, từ chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô đến ông Bích trưởng ban tổ chức Công an tỉnh, ông Tiến, ông Minh, 2 cán bộ công an tỉnh, ông Tấn, em ruột giám đốc công an tỉnh, ông Đinh Xuân Hùng giám đốc Ngân hàng tỉnh, ông Hướng giám đốc hải quan cửa khẩu Thanh Thủy...đều là những kẻ đã ép các em làm tình với họ nhiều lần qua môi giới của Sầm Đức Xương.
Các em nói rõ là một số bạn cùng lớp đã bị ép buộc như 2 em, và các em cực nhục chịu đựng chỉ vì sợ bị đánh tụt điểm, sợ bị đuổi học, sợ bị gia đình mắng, sợ cha mẹ buồn lòng, các em không hề vì tiền. "Thầy Xương dặn họ cho tiền thì nhận, không cho thì thôi, luôn phải vui cười với họ”.
Toà án buộc phải ngừng xử phúc thẩm, huỷ án sơ thẩm, để xem xét lại từ đầu.
Nhưng vẫn với ông quan đầu tỉnh Nguyễn Trường Tô bỉ ổi đến vậy, vẫn với bí thư tỉnh ủy Hoàng Minh Nhất chỉ đạo trực tiếp vụ xử sơ thẩm đầy bê bối, vẫn những bộ xậu công an và toà án mục nát đến tận cùng như thế, cuộc điều tra và xét xử lại sẽ được tiến hành ra sao ?
Khi tất cả các báo trong nước đều im re, chỉ đưa tin xét lại từ đầu vụ án, nhưng không có một lời bình luận, thì vụ án vẫn có nguy cơ bị "khoanh lại" và bị ỉm.
Ở một nước dân chủ có tự do báo chí đầy đủ, lập tức các Ban biên tập sẽ cử lên tại chỗ những cây bút lão luyện nhất chuyên về điều tra, về phá án, những mũi nhọn về viết phóng sự, tin nhanh, phỏng vấn, phóng thẳng đến gia đình, nhà trường, gặp thầy cô giáo, bạn thân của 2 em Hằng và Thuý, đóng góp bằng tài năng, tâm huyết, ngòi bút sắc sảo của mình vào sự nghiệp công bằng xã hội. Hứng khởi, thích thú biết bao nhiêu.
Theo tôi cảm nghĩ, đầu têu vụ án này chính là các quan chức CS đầu tỉnh cùng tay chân thân tín ngành công an, cậy quyền thế, thừa tiền, dửng mỡ, thèm thuồng hưởng lạc những gái tơ, xem chán phim con heo nhập từ Bắc Kinh, Đại Hàn, Hồng Kông, Chicago... nảy ra sáng kiến dùng hiệu trưởng Sầm làm tên ma cô đầu sỏ để dử 15 em học sinh ngây thơ trong trắng làm lũ nô lệ tình dục. [Sầm khai thường huy động nhóm 15 em học sinh từ 13 đến 17 tuổi vào dinh tỉnh uỷ để múa hát, mua vui cho các quan chức cao cấp cùng các nhà doanh nghiệp lớn Ngân hàng, Hải quan, Xuất nhập khẩu có máu mặt trong tỉnh].
Khi bị lộ, họ đưa tên trùm ma cô Sầm Đức Xương ra hy sinh, tuyên án tù 10 năm về tội "mua dâm", còn độc ác nhẫn tâm tuyên án 2 em nạn nhân của chính họ 6 năm và 5 năm tù giam, vu cho tội”môi giới mãi dâm.”
Những tên tội phạm tự tung tự tác, nắm trọn quyền hành chính, điều tra, công an, xử án, đổi trắng thay đen, biến nạn nhân thành tội phạm như trở bàn tay. Mà chính họ là tội phạm chủ mưu. Nhưng nào có phải riêng ở Hà Giang đâu!
Cũng như thế, 16 nhà dân chủ yêu nước thương dân, xót xa vì mất đất, mất đảo, vì ngư dân ta bị tàn sát thì vào tù, còn những kẻ ươn hèn quỳ gối trước kẻ bành trướng thì đóng vai quan toà!
Vụ án Hà Giang được xử công khai, minh bạch, công bằng, đúng luật, đúng người, đúng tội sẽ là một dấu hiệu lành mạnh của đất nước vào Xuân Canh Dần.
Trong và ngoài nước, bà con ta hãy truyền tin, bàn tán, bình luận, góp ý, động viên an ủi 2 em Hằng, Thúy và gia đình, động viên luật sư Trần Đình Triển, lập những nhóm "cô thầy giáo, học sinh, sinh viên, phụ nữ bảo vệ 2 em Hằng, Thúy", đòi trả tự do ngay cho 2 em khi chờ xét xử công minh từ đầu.
Trong thời đại thông tin nhanh nhậy, công luận có sức mạnh khôn lường.
Bà con ta gọi là vụ án "ép dâm ở Hà Giang", vụ án "con heo Sầm Đức Xương", theo tên của viên hiệu trưởng dâm ô này.
Vụ án bị tiết lộ từ đầu năm 2009, gây nên dư luận rộng lớn, toà án nhân dân tỉnh Hà Giang mở phiên toà sơ thẩm ngày 6/11/2009, xử rất qua loa, vội vã, không có luật sư bào chữa, tuyên án Sầm Đức Xương 53 tuổi, 10 năm tù giam về tội "mua dâm" và nữ sinh Nguyễn Thuý Hằng 19 tuổi 6 năm tù giam, nữ sinh Nguyễn Thị Thanh Thuý 18 tuổi 5 năm tù giam về tội "môi giới mãi dâm".
Gia đình 2 em Hằng và Thuý cực kỳ ngạc nhiên và phẫn nộ, các thày cô giáo và bạn học của 2 em hết sức bực bội yêu cầu phải xem xét lại vụ án này; Sầm Đức Xương cũng kêu oan, viện lẽ bị liệt dương nặng từ 4 năm nay.
Từ trong nhà tù, 2 em Hằng và Thúy liên tiếp viết đơn kêu cứu, những lá đơn đầy nước mắt, gửi gia đình, bạn bè, các cấp chính quyền, các báo... tha thiết đòi có luật sư bênh vực các em, bênh vực sự thật, trong đó 2 em tố cáo cơ quan điều tra của công an tỉnh Hà Giang đã bắt các em”ký khống”dưới những trang giấy trắng để họ viết sau nội dung ở bên trên, coi đó là lời khai của bị cáo.
Thế là toà án Hà Giang buộc phải để cho luật sư gặp các bị cáo, chuẩn bị cho phiên xử phúc thẩm vì các bị cáo đều kháng án.
Luật sư Trần Đình Triển thuộc đoàn luật sư Hà Nội được cử lên Hà Giang cãi cho hai em Hằng và Thuý. Ngày 1/2/2010 Toà án tỉnh Hà Giang mở phiên toà phúc thẩm, những tưởng sẽ lại chóng vánh y án sơ thẩm, như mong muốn và tính toán của chính quyền và tỉnh uỷ Hà Giang.
Nhưng thời thế đã thay đổi. Đã đến lúc mong muốn của các quan chức trong đảng, chính quyền và công cụ công an, toà án của họ không còn khống chế được dư luận và lòng dân. Và "khủng hoảng" đã nổ ra giữa phiên tòa.
Theo tin từ trong nước luật sư Trần Đình Triển với công tâm và bản lĩnh của mình đã đóng góp phần quyết định vào cuộc”phá án”ngoạn mục này. Luật sư Triển nêu rõ trước toà: vụ án xảy ra khi 2 em Hằng, Thúy còn vị thành niên (dưới 18 tuổi), nên việc tuyên án không tính đến điều đó là phi pháp.
Quan trọng hơn, việc cơ quan điều tra của công an tỉnh bắt 2 em ký khống những trang giấy trắng cần làm rõ, nếu vậy thì cuộc điều tra đã phạm pháp từ khi mở đầu. Hai em còn tố cáo cơ quan điều tra bắt 2 em ký tuyên bố «tự nguyện từ chối luật sư». Ông đòi phải mở lại cuộc điều tra từ đầu.
Quan trọng hơn nữa, trong nhà tù 2 em Hằng và Thúy đã ghi lại tên, địa chỉ, chức vụ, cả số điện thoại của một số quan chức cao nhất tỉnh, từ chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô đến ông Bích trưởng ban tổ chức Công an tỉnh, ông Tiến, ông Minh, 2 cán bộ công an tỉnh, ông Tấn, em ruột giám đốc công an tỉnh, ông Đinh Xuân Hùng giám đốc Ngân hàng tỉnh, ông Hướng giám đốc hải quan cửa khẩu Thanh Thủy...đều là những kẻ đã ép các em làm tình với họ nhiều lần qua môi giới của Sầm Đức Xương.
Các em nói rõ là một số bạn cùng lớp đã bị ép buộc như 2 em, và các em cực nhục chịu đựng chỉ vì sợ bị đánh tụt điểm, sợ bị đuổi học, sợ bị gia đình mắng, sợ cha mẹ buồn lòng, các em không hề vì tiền. "Thầy Xương dặn họ cho tiền thì nhận, không cho thì thôi, luôn phải vui cười với họ”.
Toà án buộc phải ngừng xử phúc thẩm, huỷ án sơ thẩm, để xem xét lại từ đầu.
Nhưng vẫn với ông quan đầu tỉnh Nguyễn Trường Tô bỉ ổi đến vậy, vẫn với bí thư tỉnh ủy Hoàng Minh Nhất chỉ đạo trực tiếp vụ xử sơ thẩm đầy bê bối, vẫn những bộ xậu công an và toà án mục nát đến tận cùng như thế, cuộc điều tra và xét xử lại sẽ được tiến hành ra sao ?
Khi tất cả các báo trong nước đều im re, chỉ đưa tin xét lại từ đầu vụ án, nhưng không có một lời bình luận, thì vụ án vẫn có nguy cơ bị "khoanh lại" và bị ỉm.
Ở một nước dân chủ có tự do báo chí đầy đủ, lập tức các Ban biên tập sẽ cử lên tại chỗ những cây bút lão luyện nhất chuyên về điều tra, về phá án, những mũi nhọn về viết phóng sự, tin nhanh, phỏng vấn, phóng thẳng đến gia đình, nhà trường, gặp thầy cô giáo, bạn thân của 2 em Hằng và Thuý, đóng góp bằng tài năng, tâm huyết, ngòi bút sắc sảo của mình vào sự nghiệp công bằng xã hội. Hứng khởi, thích thú biết bao nhiêu.
Theo tôi cảm nghĩ, đầu têu vụ án này chính là các quan chức CS đầu tỉnh cùng tay chân thân tín ngành công an, cậy quyền thế, thừa tiền, dửng mỡ, thèm thuồng hưởng lạc những gái tơ, xem chán phim con heo nhập từ Bắc Kinh, Đại Hàn, Hồng Kông, Chicago... nảy ra sáng kiến dùng hiệu trưởng Sầm làm tên ma cô đầu sỏ để dử 15 em học sinh ngây thơ trong trắng làm lũ nô lệ tình dục. [Sầm khai thường huy động nhóm 15 em học sinh từ 13 đến 17 tuổi vào dinh tỉnh uỷ để múa hát, mua vui cho các quan chức cao cấp cùng các nhà doanh nghiệp lớn Ngân hàng, Hải quan, Xuất nhập khẩu có máu mặt trong tỉnh].
Khi bị lộ, họ đưa tên trùm ma cô Sầm Đức Xương ra hy sinh, tuyên án tù 10 năm về tội "mua dâm", còn độc ác nhẫn tâm tuyên án 2 em nạn nhân của chính họ 6 năm và 5 năm tù giam, vu cho tội”môi giới mãi dâm.”
Những tên tội phạm tự tung tự tác, nắm trọn quyền hành chính, điều tra, công an, xử án, đổi trắng thay đen, biến nạn nhân thành tội phạm như trở bàn tay. Mà chính họ là tội phạm chủ mưu. Nhưng nào có phải riêng ở Hà Giang đâu!
Cũng như thế, 16 nhà dân chủ yêu nước thương dân, xót xa vì mất đất, mất đảo, vì ngư dân ta bị tàn sát thì vào tù, còn những kẻ ươn hèn quỳ gối trước kẻ bành trướng thì đóng vai quan toà!
Vụ án Hà Giang được xử công khai, minh bạch, công bằng, đúng luật, đúng người, đúng tội sẽ là một dấu hiệu lành mạnh của đất nước vào Xuân Canh Dần.
Trong và ngoài nước, bà con ta hãy truyền tin, bàn tán, bình luận, góp ý, động viên an ủi 2 em Hằng, Thúy và gia đình, động viên luật sư Trần Đình Triển, lập những nhóm "cô thầy giáo, học sinh, sinh viên, phụ nữ bảo vệ 2 em Hằng, Thúy", đòi trả tự do ngay cho 2 em khi chờ xét xử công minh từ đầu.
Trong thời đại thông tin nhanh nhậy, công luận có sức mạnh khôn lường.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

