24/4/10

Dâng rượu cho vua Hùng

http://tuanvannguyen.blogspot.com/2010/04/dang-ruou-cho-vua-hung.html


Hôm nay đọc bài này thấy ngồ ngộ. Con cháu Vua Hùng xem ra có hiếu quá, mà có hiếu kiểu chẳng giống ai. Anh bạn tôi có lời bình như sau:

"Con cháu thật có hiếu.
Bố Lạc Long chắc mừng hết biết:
Hổ phụ sanh hổ tử. Nhậu tổ sanh nhậu tôn! Được! Được!
Mẹ Âu Cơ thì cằn nhằn:
Trời đất quỷ thần ơi!
Kiểu này thằng chả lại nhậu tới ... 4000 năm hổng hết!"

Trong tình trạng rượu chè đang là vấn nạn xã hội mà con cháu của ngài lại cho ngài uống đến 4000 lít rượu! Làm gương kiểu này thật là làm gương xấu. Nhưng tôi nghĩ chắc chỉ là một chiêu tiếp thị và quảng cáo của công ti làm rượu thôi. Cứ nhìn cái logo rất to tướng thì đủ biết rằng chủ ý chắc chẳng phải là cúng bái vua Hùng đâu, mà chỉ muốn mượn thần thánh để bán vodka thôi.

NVT

==


Ảnh của Vietnamnet


http://www.vietnamnet.vn/xahoi/201004/Cung-tien-Gio-to-Hung-Vuong-chai-ruou-khong-lo-905009/

Cung tiến Giỗ tổ Hùng Vương chai rượu khổng lồ

Lễ giỗ tổ Hùng Vương năm 2010 sẽ có một sự kiện đặc biệt: Một chai rượu cao 5,2m, đường kính 1,17m với dung tích khoảng 4.000 lít sẽ được cung tiến cho Lễ hội. Tính đến thời điểm này, đây là chai rượu lớn nhất thế giới sẽ là điểm nhấn trong dịp đại lễ năm nay.

Chai rượu lớn này là một kỷ lục mới của Việt Nam cũng như của thế giới, do Công ty Cổ phần AVINAA lên ý tưởng, triển khai thực hiện và cung tiến lên Vua Hùng.

Để có thể hoàn thiện chai rượu với dung tích lớn như trên, bắt đầu từ ngày 01/02, Công ty AVINAA đã tiến hành lễ khởi công chế tạo chai và kê đặt chai tại trung tâm vườn hoa khu di tích Đền Hùng.

Sau 72 ngày, chai rượu có một không hai này đã được làm xong phần chế tạo thô, làm vệ sinh, đánh bóng, dán chữ.

Tính đến ngày 17/4, công đoạn cuối cùng là lắp đặt kệ và chai vào vị trí đã được hoàn thiện.

Sáng nay (18/4), Công ty AVINAA sẽ tiến hành thủ tục bơm rượu vào chai, chuẩn bị cho Lễ dâng các Vua Hùng.

Đã có rất nhiều bạn trẻ, khách tham quan, khách du lịch đến khu vực trung tâm vườn hoa khu di tích Đền Hùng từ mọi miền tỏ ra hào hứng và phấn khích khi lần đầu được chiêm ngưỡng một chai rượu “ngoại cỡ” chưa từng thấy như chai rượu AVINAA, khiến không khí lễ hội Đền Hùng năm 2010 trở nên sôi động và đa dạng hơn.

Nói về ý tưởng thực hiện chai rượu đặc biệt này, ông Tô Văn Nhật, Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm TGĐ Công ty AVINAA cho biết: “Nối gót tiền nhân, Lang Liêu dâng bánh chưng bánh giày, An Tiêm dâng dưa hấu, tất cả các sản vật đặc biệt đều dâng lên các Vua Hùng. Để thể hiện lòng thành kính và tưởng nhớ các Vua Hùng có công ngàn năm dựng và giữ nước, Công ty AVINAA dâng cúng một món quà đặc biệt, đó chính là chai rượu này, như các cụ đã nói “Phi tửu bất thành lễ”.

Được biết, rượu trong chai kỷ lục này đã được sản xuất từ nhà máy rượu AVINAA vodka có công nghệ hiện đại nhất Đông Nam Á hiện nay. Điều đặc biệt hơn cả là rượu này đã được ủ 1 năm trước khi đóng chai.

Bên cạnh chai rượu kỷ lục với dung tích 4.000 lít này, Công ty AVINAA còn một chai rượu cỡ nhỏ hơn, cao hơn 1 m, được sử dụng để rước lên Đền Thượng làm lễ (do chai lớn kỷ lục không thể rước lên Đền Thượng).

Sáng nay (18/4), Công ty AVINAA sẽ tiến hành lễ rước chai rượu cao hơn 1m lên Đền Thượng. Riêng chai rượu kỷ lục 4.000 lít sẽ được đặt tại sân lễ hội trưng bày cho khách thập phương chiêm ngưỡng và thưởng thức miễn phí trong những ngày lễ - từ 11h trưa 5/3 đến 10/3 âm lịch.

Hương Quyên

Nhân sự kiện “tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích”, nghĩ về giáo dục văn hóa

http://tuanvannguyen.blogspot.com/2010/04/nhan-su-kien-tien-si-o-ngoc-bich-nghi.html

Bây giờ thì chúng ta đã biết rằng BBCVietnamese đã giới thiệu sai về cô Đỗ Ngọc Bích, tác giả của bài viết gây xôn xao mấy ngày qua. Theo một giáo sư tại Đại học Yale (nơi mà cô nói là giảng viên) thì cô Bích chưa tốt nghiệp tiến sĩ, và chưa bao giờ là giảng viên của Đại học Yale. Như vậy có khả năng là ai đó (có thể từ “nước lạ”) mạo danh cô Bích để viết bài khiêu khích người Việt, hay chính cô Bích muốn chơi nổi bằng một bài phỉ báng lịch sử Việt Nam. Nếu giả thuyết thứ 2 đúng thì có lẽ đây là một vụ Sokal trong truyền thông Việt ngữ và BBCVietnamese còn nợ công chúng một lời xin lỗi. Nhưng suy đi nghĩ lại tôi thấy chẳng có giả thuyết nào có lí hơn là chính cô Bích chấp bút bài viết đó và tự quảng bá mình, và motif thì cũng giông giống như sự kiện cô Lê Kiều Như muốn làm nổi với dâm thư Sợi xích.

(Xin nhắc lại giáo sư vật lí Alan Sokal chơi xỏ giới hậu hiện đại bằng cách viết một bài báo “rất kêu”, dùng toàn những ngôn từ đao to búa lớn và trừu tượng nhưng chẳng có ý nghĩa gì. Bài báo được một tập san hậu hiện đại đánh giá cao và cho công bố. Sau đó, Giáo sư Sokal viết một bài khác cho rằng bài ông viết trên tập san hoàn toàn vô nghĩa, vì chính ông cố ý sáng chế ra những từ ngữ đó một cách vô nghĩa để làm như ta đây là trí thức hậu hiện đại! Một xì căng đan lớn làm bẽ mặt ban biên tập của tập san).

Câu chuyện chung quanh bài viết và nhân thân của cô Đỗ Ngọc Bích làm tôi suy nghĩ về giáo dục. Tôi chẳng quan tâm gì đến cái bằng tiến sĩ của cô (mà cô chưa có) hay chức giảng viên của cô (cũng không có thật), nhưng tôi chỉ quan tâm đến ý kiến của cô liên quan đến những vấn đề hệ trọng về lịch sử, văn hóa và chủ quyền của Việt Nam. Nhiều người đã chỉ ra những sai lầm của cô Bích, nên có lẽ không cần phải lặp lại ở đây. Điều tôi quan tâm là tại sao cô ấy lại có một cái nhìn lệch lạc về sử Việt Nam đến như thế? Có phải nền giáo dục đã nhào nặn ra một con người mang họ Đỗ nhưng thiếu kiến thức trầm trọng về lịch sử và văn hóa nước nhà.

Đọc vài thông tin trên mạng, tôi thấy cô Bích cũng có ăn có học không đến nổi tệ. Trên website của Đại học Hawaii thì thấy nói cô Bích sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, tốt nghiệp cử nhân Anh văn và xã hội học. Trước khi đến Hawaii cô từng dạy tiếng Anh trong Bộ môn Xã hội học và Nghiên cứu quốc tế thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (trong hệ thống Đại học Quốc gia Hà Nội). Cô cũng từng làm phụ tá cho một tổ chức phi chính phủ của Úc ở Hà Nội, phụ tá giám đốc học vụ của Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Như vậy, cô Bích từng có thời gian dài hít thở không khí của đất “ngàn năm văn vật”, và trong thời gian trưởng thành, chắc chắn cô từng đi qua những con đường lịch sử của thủ đô của Việt Nam mà hàng ngàn thế hệ đã bỏ xương máu để gìn giữ. Hình như cô cũng biết vài ba chữ tiếng Anh, nhưng khả năng như thế nào thì chưa rõ. Nói tóm lại, cô Bích hấp thu nền giáo dục – nói theo ngôn ngữ sau 1975 là – ưu việt Xã hội Chủ nghĩa (XHCN).

Chúng ta thử đọc một suy nghĩ quan trọng của cô Bích: “Việt Nam thực ra cũng là một phần trong da thịt của Trung Quốc”. Chưa hết, cô ta lớn tiếng chất vấn “Chúng ta coi Trường Sa và Hoàng sa thuộc về Việt Nam từ khi nào?” Trong thời kì xung đột (hay chiến tranh), những quan điểm như của cô Bích có thể xem là “nội thù”, là “phản quốc”, nhưng ở thời điểm hòa bình này thì có thể xem là “tranh luận”. Thật ra thì chẳng có gì tranh luận cả, vì cô ấy có trình bày chứng cứ khoa học hay luận điểm gì cho logic để mà tranh luận. Toàn bài viết của cô là những ý tưởng chấp vá, rời rạc, với cách hành văn vô kỉ luật, cứ như là học sinh trung học cóp nhặt đây đó để nặn ra cho được một bài “luận văn”. Câu hỏi cô ta lên giọng “Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa có bao giờ tuyên ngôn chủ quyền các đảo đó không, hay chỉ mãi đến năm 1974 mới điều hải quân ra trấn giữ và bảo vệ? Chúng ta đã bao giờ dành thời gian nghiên cứu xác nhận thông tin trước khi đấu tranh đòi chủ quyền chưa nhỉ?” chứng tỏ cô ta chưa làm bài tập đến nơi đến chốn. Đã có người chỉ ra rằng Chính quyền VHCH lên tiếng về chủ quyền HS-TS từ năm 1951 ở một diễn đàn quốc tế tại San Francisco cô Bích à (nguyên văn tuyên bố của đại diện chính phủ VNCH, ông Trần Văn Hữu: "we affirm our right to the Spratly and Paracel Islands, which have always belonged to Vietnam"). Ấy thế mà cô Bích không biết xấu hổ; ngược lại, cô tự hào kí tên “tiến sĩ” trước tên mình! Như tôi nói, nếu là trong thời chiến, chúng ta phải tự hỏi còn bao nhiêu kẻ “nội thù” và “phản quốc” như thế nữa ở Việt Nam?

Những luận điểm sai trái của cô Bích đã được nhiều người khác tận tình dạy bảo rồi, nên tôi không nhắc lại ở đây. Nhưng tôi thắc mắc là chẳng lẽ một nền giáo dục có người tự hào là “ưu việt” mà lại cấy vào đầu của một cô mang họ Đỗ những quan điểm kì lạ (và sai lầm) như thế. Đọc qua những cuốn sách giáo khoa về sử lớp 5 đến lớp 12, chúng ta thấy nội dung về cổ sử (tức 1000 năm trước) chiếm một phần rất khiêm tốn so với sử cách mạng (vốn chỉ vài chục năm). Mà, ngay cả viết về cổ sử, sách giáo khoa cũng viết rất hời hợt, không hào hứng và “oai hùng” như sách sử thời tôi học trước 1975. Có lẽ những cuốn sách như thế đã sản sinh ra một thế hệ dốt sử, kém hiểu biết về văn hóa Việt. Có lẽ cách dạy sử như thế là tác nhân gián tiếp cho một số người Việt sang Trung Quốc múa hát ca ngợi viên tướng Mã Viện của Tàu.

Thế kỉ 21 là thế kỉ của văn hóa. Một khuynh hướng chung hiện nay là các quốc gia trên thế giới đang (hay sắp) qui tụ với nhau thành nhiều nhóm dựa trên văn hóa, mà không dựa trên ý thức hệ (như Chủ nghĩa Cộng sản và Chủ nghĩa Tư bản trong thời gian qua). Trong thế kỉ 21, người ta sẽ hỏi "Anh là ai", thay vì "Anh thuộc phe nào", tức là một sự chuyển biến về nhận dạng từ ý thức hệ sang văn hóa. Nhưng câu hỏi "Chúng ta là ai" tuy đơn giản, câu trả lời thì không đơn giản chút nào, vì trả lời câu đó đòi hỏi đòi hỏi nhiều nghiên cứu về văn hóa, mà nền giáo dục đóng vai trò quan trọng.

Hi vọng rằng sự kiện “tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích” đã gióng một hồi trống báo động về tình trạng xuống cấp trong giáo dục phổ thông, và nhất là lịch sử và văn hóa học. Quan trọng hơn, chúng ta hi vọng sẽ không thấy một quái thai khác xuất hiện trong tương lai.

NVT

Cắt đất đai tổ quốc trả nợ: Cái họa khôn cùng

http://www.tuanvietnam.net/2010-04-15-cat-dat-dai-to-quoc-tra-no-cai-hoa-khon-cung-

Mấy ngày trước, VTV1 đưa tin hai đứa trẻ Hy Lạp đã lấy những đồng tiền tiết kiệm trong lợn nhựa của chúng để đóng góp cho đất nước trả nợ chứ đừng mang một số hòn đảo, đất đai của tổ tiên chúng, gán nợ cho nước ngoài. Rất nhiều người lớn nghe tin đó đã cúi đầu…

Họ cúi đầu kính trọng và xấu hổ. Và như một sự vô tình, hành động của những đứa trẻ đã thổi vào lòng những người lớn trên nhiều quốc gia lòng tự trọng dân tộc và tình yêu tổ quốc.

Nợ là chuyện bình thường của mọi quốc gia. Ngay như nước Mỹ, nước Nhật còn là con nợ lớn của thế giới cơ mà. Vay là chuyện mà có lẽ người nào trong đời cũng phải vay ít nhất một lần và các quốc gia cũng như vậy. Nhưng vay để làm việc gì và trả nợ như thế nào mới là điều đáng nói? Tôi không biết vì lý do nào mà Hy Lạp nợ nước ngoài và vì lý do gì mà Hy Lạp không có cách nào trả nợ nước ngoài.

Nợ nước ngoài có nhiều cách. Nợ vì vay để đầu tư hồi phục nền kinh tế hoặc xây dựng những công trình chiến lược của đất nước. Không trả nợ được có thể vì những người lãnh đạo không biết điều hành đất nước mà cụ thể không biết xử dụng một cách hiệu quả nhất tiền vay. Không trả nợ được có thể vì nạn tham những ăn vào quá lớn những đồng tiền đi vay ấy.

Nhưng nợ đến mức làm cho các thế hệ sau nối nhau còng lưng trả nợ cho những người đi trước quả là họa lớn cho đất nước. Còn nợ đến nỗi phải bán cả một hay nhiều phần đất của tổ quốc đi để trả nợ thì đấy là cái họa khôn cùng cho đất nước.

Việc cắt đất cho nước ngoài không phải chuyện hi hữu. Lịch sử nhiều quốc gia trên thế giới do nhiều nguyên nhân đã bán đất cho nước ngoài. Bán có thời hạn hoặc bán vĩnh viễn. Cắt đất cho nước ngoài cũng có nhiều nguyên nhân. Có nguyên nhân là vì bại trận trong một cuộc chiến tranh, có nguyên nhân cắt đất để có được những lợi ích khác và cũng có nguyên nhân do hèn nhát trước những đe dọa của nước ngoài mà dâng đất. Và với nhiều trường hợp, cho mượn đất với những lý do nào đó đôi khi cũng là một cách dâng đất của tổ quốc cho người ngoài.

Nhưng sớm hay muộn thì những dân tộc đã bị cắt đất bán hoặc dâng đất cho nước ngoài sẽ đều tìm cách đòi lại lãnh thổ của mình cho dù lãnh thổ đã mất chỉ nhỏ bằng một thửa ruộng của một người nông dân. Lịch sử cũng cho chúng ta thấy nhiều vì dụ về chuyện đòi lại đất như thế.

Trước tòa nhà Quốc hội Úc có một ngôi nhà dựng lên gọi là "Đại sứ Thổ dân Úc". Tôi đã trò chuyện với Đại sứ thổ dân trong ngôi nhà này trong chuyến đến Úc năm 1999. Những người thổ dân Úc dựng "tòa đại sứ" này để đòi lại đất của tổ tiên, ông cha họ đã bị những người da trắng cướp cho dù những người thổ dân Úc còn lại không nhiều và họ không có một quân đội nào. Nhưng họ đã chiến đấu cho lẽ phải bằng chính lẽ phải hết đời này đến đời khác buộc chính quyền Úc phải thừa nhận chủ quyền của họ. Cuối cùng, chính quyền Úc đã phải công khai xin lỗi những người thổ dân.

Bây giờ, chính quyền Hy Lạp cắt một số hòn đảo để trả nợ nước ngoài. Có thể sau đó, họ đã xóa được món nợ tiền, nợ vàng nước ngoài thì họ lại mang một món nợ khác. Món nợ này lớn hơn và đau đớn hơn bất kỳ món nợ nào khác. Đó là món nợ với tổ quốc và nhân dân họ.

Chính vì thế mà cả những đứa trẻ như hai đứa trẻ Hy Lạp cũng phải đứng lên bảo vệ lãnh thổ của tổ quốc chúng bằng cách của những đứa trẻ nhưng ý nghĩa của hành động ấy thật sâu sắc, thật lớn lao và thật xúc động.

Qua hành động của hai đứa trẻ Hy Lạp ấy, tôi nghĩ, những người có lương tâm ở tất cả các quốc gia đã từng bán đất hay dâng đất cho nước ngoài cho với bất kỳ lý do nào và cho dù mảnh đất ấy chỉ đủ trồng một khóm hoa hay một gốc tre cũng đều cảm thấy hổ nhục.

Nguyễn Quang Thiều

Đạo văn cạnh tranh và đạo văn quan quyền

http://tuanvannguyen.blogspot.com/2010/04/ao-van-canh-tranh-va-ao-van-quan-quyen.html

Thế là vụ một giảng viên “đạo sách” của đồng nghiệp đã đi đến một kết cục buồn. Theo một bản tin mới nhất thì người giảng viên bị tố cáo đạo sách đó đã tự nguyện xin nghỉ việc. Nhưng có lẽ đây không phải là trường hợp đầu, càng không phải là trường hợp cuối cùng về nạn đạo văn ở nước ta. Có khác chăng là nhiều trường hợp khác dù đã được phát hiện, nhưng thủ phạm vẫn ung dung tại chức. Cần phải phân biệt 2 loại đạo văn, đạo văn cạnh tranh và đạo văn quan quyền, thì có thể giải thích tại sao một số người đạo văn bị tiêu tan sự nghiệp còn một số khác thì ok.


Thật ra, nhìn sang Trung Quốc chúng ta cũng thấy nạn đạo văn cũng tràn lan trong giới học thuật. Cái gì ở VN sao mà giống TQ quá! Giáo sư toán nổi tiếng của Đại học Harvard Yau Shing-tung cho biết một nghiên cứu sinh người Trung Quốc từng học dưới sự hướng dẫn của ông bị phát giác đạo văn của đồng nghiệp thuộc Đại học Harvard, nhưng khi về nước thì được trọng vọng và trở thành viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Trung Quốc. Một giáo sư xã hội học rất nổi tiếng của Đại học Bắc Kinh viết một cuốn sách mà trong đó 100,000 chữ được cóp từ 100,000 chữ trong một cuốn sách của một giáo sư xã hội học bên Mĩ. Một khoa trưởng khoa công nghệ của Đại học Shangdong phạm tội đạo văn, nhưng vẫn được phong chức viện sĩ Viện hàn lâm công nghệ Trung Quốc! Còn nhiều nhiều trường hợp như thế, những trường hợp mà thủ phạm đạo văn chẳng những không bị phạt mà còn thăng tiến trong sự nghiệp khoa bảng.


Trong khi đó, nhiều sinh viên, nghiên cứu sinh, và giáo sư phạm tội đạo văn thì bị phạt rất nặng, có người tiêu tan cả sự nghiệp. Câu hỏi đặt ra là có gì khác biệt giữa trường hợp với kết cục buồn, và những trường hợp nghiêm trọng khác mà thủ phạm không hề chịu hình phạt nào. Để tìm câu trả lời cho câu hỏi này, chúng ta cần phải hiểu thêm về bản chất của đạo văn, và phân biệt hai dạng đạo văn mà tôi sẽ bàn dưới đây.


Đạo văn và hiện tượng “tác giả ma”


Đạo văn được định nghĩa là sử dụng ý tưởng hay câu văn của người khác một cách không thích hợp (tức không ghi rõ nguồn gốc), đặc biệt là việc trình bày những ý tưởng và từ ngữ của người khác trước các diễn đàn khoa học và công cộng như là ý tưởng và từ ngữ của chính mình. Ở đây, “Ý tưởng và từ ngữ của người khác” có nghĩa là: sử dụng công trình hay tác phẩm của người khác, lấy ý tưởng của người khác, sao chép nguyên bản từ ngữ của người khác mà không ghi nguồn, sử dụng cấu trúc và cách lí giải của người khác mà không ghi nhận họ, và lấy những thông tin chuyên ngành mà không đề rõ nguồn gốc.


“Tác giả ma” là một thuật ngữ mới xuất hiện trong nghiên cứu y khoa (nhưng nay đã phổ biến trong các lĩnh vực học thuật khác) dùng để chỉ những người chuyên nghề viết mướn cho các công ti dược. Các tác giả ma phần lớn là những người viết văn chuyên nghiệp, nhưng cũng có thể là những nhà khoa học với trình độ tiến sĩ không còn hành nghề chuyên môn. Sở dĩ gọi là “tác giả ma” vì họ không đứng tên tác giả của các tác phẩm do chính họ tạo ra; thay vào đó, đứng tên tác giả là những nhà khoa bảng với chức danh giáo sư từ các đại học danh tiếng.


Ở Việt Nam, hiện tượng tác giả ma còn hiện hữu trong giới học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh, và giáo sư. Học sinh nhờ người khác làm bài tập; sinh viên hay nghiên cứu sinh mướn người khác viết luận án; hay các giáo sư nhờ (hay lợi dụng) nghiên cứu sinh của mình viết giáo trình và sách, tất cả đều là hiện tượng tác giả ma, tác phẩm ma.


Đối chiếu với định nghĩa đạo văn mà tôi trình bày trên, thì tác giả ma cũng là một hình thức đạo văn. Nói cách khác, những người đứng tên tác giả bài viết hay công trình nghiên cứu [do người khác viết] cũng phạm “tội” đạo văn.


Đạo văn cạnh tranh và đạo văn quan quyền


Đạo văn là một vi phạm rất nặng trong học thuật và khoa bảng. Người phạm tội thường chịu hình phạt nặng nề. Một tiến sĩ phạm tội đạo văn có thể bị tước học vị, và trong thực tế đã có nhiều trường hợp như thế trên thế giới. Ngay cả giáo sư phạm tội đạo văn cũng chịu hình phạt nặng nề, như bị tước chức danh giáo sư, thậm chí bị đuổi việc. Những hình phạt nặng nề dành cho người đạo văn là một biện pháp nhằm giữ gìn sự trong sạch của khoa bảng, và cũng là một cách phát biểu rằng trong học thuật không có nơi nào dành cho người đạo văn.


Năm 2002, Giáo sư David Robinson, hiệu trưởng trường đại học Monash (một trong những đại học hàng đầu của Úc) bị tố cáo đạo văn. Một số đoạn văn (chỉ một số đoạn văn) trong những sách ông xuất bản vào thập niên 1970s và 1980s mà ông trích dẫn từ các công trình trước nhưng ông không ghi nguồn. Để giữ danh dự cho trường và danh dự cho giới khoa bảng Úc, ông quyết định từ chức.


Tháng 3/2010 vừa qua, Giáo sư Li Lian-sheng thuộc Đại học Giao thông (Thượng Hải) bị tố cáo đạo văn để có được công trình nghiên cứu, và được thăng chức giáo sư. Khi sự việc được phơi bày ra ánh sáng, đại học quyết định cho ông nghỉ việc và rút lại chức danh giáo sư.


Năm 2008, bà Julie Bishop là cựu Bộ trưởng bộ Giáo dục của Úc đóng góp một chương trong cuốn sách Liberals and Power. Khi sách in ra, độc giả phát hiện một số đoạn trong chương sách được lấy (mà không ghi nguồn) từ một bài diễn văn của Roger Kerr, một thương gia người Tân Tây Lan. Khi sự việc bị báo chí phanh phui, thì tùy viên và cũng là người viết diễn văn cho bà là Murray Hansen đứng ra nhận lãnh trách nhiệm. Ông Hansen thú nhận là đã đạo văn. Bà Bishop vẫn làm bộ trưởng giáo dục, thậm chí sau này còn thăng chức phó lãnh tụ đảng đối lập. Câu hỏi đặt ra là tại sao ông Hansen viết mà bà Bishop lại đứng tên tác giả. Trong trường hợp này, ông Hansen là một “tác giả ma”, và bà Bishop phạm tội đạo văn.


Các chuyên gia về đạo văn (như Giáo sư Brian Martin hay Gavin Moodie) phân biệt 2 loại đạo văn, mà họ gọi là “competitive plagiarism” (tôi tạm dịch là đạo văn cạnh tranh), và “bureaucratic plagiarism” hay “institutionalized plagiarism” (đạo văn quan quyền). Bạn đọc nào có cao kiến để để dịch 2 cụm từ này hay hơn, xin ơn email cho tôi, tôi cám ơn trước.


Với đạo văn cạnh tranh, đương sự đạo văn có mục tiêu lấy ý tưởng người khác nhằm vào mục tiêu thăng tiến trong sự nghiệp. Những trường hợp sinh viên đạo văn để có một luận án tốt nghiệp là một ví dụ tiêu biểu. Cũng có trường hợp những người đạo văn cạnh tranh cần một công trình học thuật, hoặc một công trình nghiên cứu để làm cơ sở cho việc thăng chức. Tuy nhiên, nói chung những thủ phạm đạo văn cạnh tranh thường là những người không có quyền cao chức trọng, hay nói theo ngôn ngữ dân dã là “thấp cổ bé họng”.


Với đạo văn quan quyền, như tên gọi, là loại đạo văn tồn tại trong hệ thống công quyền, mà đương sự là người đứng tên tác giả cho những gì mình không sáng tạo ra. Những thủ phạm đạo văn quan quyền thường là người có quyền cao chức trọng, như trường hợp của bà bộ trưởng Bishop.


Đạo văn quan quyền hay hiện tượng tác giả ma rất phổ biến trong chính trị và quan chức cao cấp. Đại đa số các chính trị gia, quan chức cao cấp, tổng giám đốc các đại công ti, v.v… đều có những chuyên gia hay cố vấn chuyên viết diễn văn cho họ. Cũng như trường hợp bà Bishop vừa đề cập, các thủ tướng và bộ trưởng Úc đều có tùy viên viết diễn văn cho họ. Ở Việt Nam cũng chẳng là ngoại lệ. Rất nhiều những câu phát biểu trứ danh của cố tổng thống Mĩ như D. D. Eisenhower, J. F. Kennedy, L. J. Johnson, v.v… không phải là ý tưởng của họ mà là của người viết diễn văn cho họ; họ chỉ … lấy công người khác. Tôi đoán rằng hình thức đạo văn quan quyền này rất phổ biến ở Việt Nam.


Một vài câu hỏi không mấy thoải mái cần phải đặt ra là: tại sao không gọi những người có quyền cao chức trọng như tổng thống Eisenhower, Kennedy, Johnson, hay bà Bishop là những người đạo văn? Tại sao xã hội quyết tâm phạt những học sinh, sinh viên, và giáo sư (hay giới học thuật nói chung) đạo văn, mà xã hội lại chấp nhận việc những người có quyền thế đạo văn? Tại sao giới học thuật đạo văn thì bị phạt nặng nề, còn những quan đạo văn thì không hề bị phạt gì cả?


Có lẽ câu trả lời cho những câu hỏi trên nằm ở quyền lực. Những người đạo văn quan quyền thường ở vị trí có đặc quyền, và được sự yểm trợ của hệ thống chính trị, còn những người đạo văn cạnh tranh thường không có quyền thế và cũng không có cơ chế chính trị bảo trợ. Nhưng nếu xã hội dân chủ và bình đẳng, thì hình phạt dành cho người đạo văn cạnh tranh cũng phải áp dụng cả những thủ phạm đạo văn quan quyền.


NVT

CHÍNH ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐÒI BỎ CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN

LÝ ĐẠI NGUYÊN


Lần hội nghị thứ 12 của Ban Chấp Hành Trung Ương đảng Việtcộng khóa X, bế mạc ngày 28/03/2010, đã hoàn tất các dự thảo văn kiện cho Đại Hội XI của đảng Việtcộng, trong đó đảng vẫn kiên định các nguyên tắc xây dựng đảng trên cơ sở chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ chí Minh, được thể hiện ra Cương Lĩnh xây dựng đất nước trong “thời kỳ quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội”. Thì ngày 02/04/10 phóng viên Mạc Lâm của đài RFA phỏng vấn tiến sĩ Đỗ Xuân Thọ, một đảng viên trí thức Việtcộng, về bài viết của ông đã được phổ biến rộng rãi, nhằm phân tích việc: “Nên từ bỏ chủ nghĩa Mác Lênin để thay vào đó là chủ nghĩa Dân Tộc”. Theo TS. Thọ thì: “Nếu đảng không lấy chủ nghĩa dân tộc làm nền tảng tư tưởng thì cái chủ nghĩa Mác-Lênin sẽ bằm nát đảng ra, Với những mũi nhọn tấn công từ phiá ngoài, nó chỉ cần đánh vào cộng sản và tham nhũng là chết rồi, là tan đảng rồi”. “Thực chất công cuộc đổi mới là chúng ta dám phá bỏ những luận điểm cơ bản nhất của chủ nghĩa Mác-Lênin, đó là đấu tranh giai cấp, toàn bộ Mác là muốn giai cấp công nông là người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản, thì cái đó là chúng ta phản bội lại chủ nghĩa Mác-Lênin trong thời đổi mới này, cho nên mới được như ngày nay”.


Ông giải thích thêm: “Thế thì cái công cuộc đổi mới đang tiến hành, tức là chúng ta càng phát triển cái nền kinh tế nói là kinh tế xã hội chủ nghĩa, nhưng mà thực chất là kinh tế tư bản chủ nghĩa, có nghĩa là càng đổi mới thì càng phá bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, thế mà cái chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn được ghi vào điều lệ là nền tảng tư tưởng, vì thế nên là có một cái mâu thuẫn đảng bị chia ra làm ít nhất là có hai phe: Phe thứ nhất bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, phe thứ hai là không quan tâm đến sự thắng thua của chủ nghĩa Mác-Lênin, mà tất cả vì dân giầu, nước mạnh, tất cả vì dân tộc và cái quyền lợi kinh tế nữa chứ”…. “Tôi có thể khẳng định là ngay trong Bộ Chính Trị đã có sự phân rã, nếu chúng ta còn giữ chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng. Chủ nghĩa Mác-Lênin này nó làm cho chúng ta nhầm lẫn giữa ý thức hệ và dân tộc, ý thức hệ dân tộc và ý thức hệ tư tưởng”.


Thực ra chủ nghĩa Mác-Lênin và ngay cả tư tưởng Hồ Chí Minh nữa đối với Việtcộng nó cũng chỉ là cái phao rách nát, dù biết đã hết thời, mà bọn cầm đầu Việtcộng không dám bỏ, vì khi còn dùng cái tên đảng cộng sản để bám lấy chính quyền độc đảng, độc tài, tham nhũng, và phải dựa Trungcộng để yên tâm bóc lột dân thì không dám nghĩ tới chủ nghĩa dân tộc cũng dễ hiểu thôi. Chủ Nghĩa Dân Tộc tối kỵ đối với quan thầy Bắckinh. Vì chỉ có Trungcộng mới được quyền phát huy tinh thần Dân Tộc Đại Hán của Trunghoa, còn các nước đàn em như Việtcộng, mà dùng chủ nghĩa dân tộc làm nền tảng tư tưởng thì lập tức xuất hiện ngay mối thù truyền kiếp “Một Ngàn Năm nô lệ giặc Tầu, và bao nhiêu cuộc khởi nghĩa chống xâm lăng Phương Bắc với những chiến thắng lẫy lừng cuả các anh hùng dân tộc. Thế rồi giải thích làm sao với toàn dân, khi bọn cầm đầu Việtcộng ký dâng đất, hiến biển, nhường đảo, cúng tài nguyên, núi rừng cho Trungcộng khai thác, rồi trơ mắt ra nhìn những ngư dân Việtnam bị Trungcộng sát hại, bắt chuộc khi hành nghề ngay trên phần lãnh hải của Tổ Quốc. Nhất là việc toàn dân, toàn quân, toàn đảng đều nhìn rõ bọn cầm đầu Việtcộng đảng ngoan ngoãn thực hiện kế hoạch xâm lăng êm đềm của Bắckinh, nhằm “Hán Hóa toàn diện Việt Nam”. Chính vì vậy mà Việtcộng không dám bỏ chủ nghĩa Mác-Lê chết tiệt và tư tưởng nô lệ ngoại bang của Hồ Chí Minh.


Chỉ tội nghiệp cho những đảng viên khoa bảng như tiến sĩ Đổ Xuân Thọ, tiến sĩ Lê Đăng Doanh, giáo sư Tương Lai… cố công góp ý kiến, và những đảng viên còn tình tự dân tộc lo cho vận mệnh đất nước, nhưng bọn Trung Ương đảng Việtcộng khóa X, họ vừa mù, vừa điếc, lại vừa câm, họ đang bắt toàn đảng, toàn quân, toàn dân phải mù, câm, điếc như họ. Dù sao, phải nhận một điều, những phát biểu công khai của những người quan tâm tới tình hình đất nước hiện nay, nhất là dám nói huỵch toẹt ra như tiến sĩ Đỗ Xuân Thọ, điều đó chứng tỏ trong hàng ngũ đảng viên đang thực sự có “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.


Khiến cho Lê Văn Bảo phải viết bài bình luận trên tờ Quân Đội Nhân Dân: Làm Thất Bại Chiến Lược “ Diễn Biến Hòa Bình”. Phòng chống “tự diễn biến” từ bên trong và bên trên. Bài bình luận viết: “Thực hiện chiến lược “Diễn Biến Hòa Bình” chống phá cách mạng nước ta, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh nhiều hoạt động thâm độc, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gây chia rẻ, mất đoàn kết từ bên trong nội bộ Đảng và Nhà Nước ta; khi thời cơ đến chúng sử dụng tổng hợp các biện pháp cả vũ trang và phi vũ trang; kết hợp “nội công , ngoại kích”, trong đánh ra , ngoài đánh vào, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của đảng, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, chuyển hóa Việtnam theo con đường tư bản. Đặc biệc trong thời điểm hiện nay, khi đảng đang tiến hành các bước chuẩn bị cho Đại Hội XI thì thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến’ càng được chúng thực hiện ráo riết”.


Sau khi đưa ra bằng chứng về những bài học tan rã của Liênxô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, bài bình luận chuyển vào hiện tình Việtnam: “Trên thực tế, trong nội bộ các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước hiện nay có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của đảng, vào con đường đi lên và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Có một số cán bộ, đảng viên trước đây từng giữ cương vị, trọng trách trong cơ quan đảng, chính quyền nay có những ý kiến lệch lạc, nhìn nhận, phê phán lịch sử thiếu khách quan, toàn diện; đòi đa nguyên, đa đảng theo mô hình dân chủ phương Tây; cổ súy cho những mô hình xã hội xa rời thực tiễn Việtnam v.v… Hiện nay, với kinh nghiệm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” làm sụp đổ các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới, các lực lượng thù địch đang ráo riết thúc đẩy “tự diễn biến” đối với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó có Việtnam…Mảnh đất màu mỡ nhất để chúng thực hiện “tự diễn biến”, “tự chuyễn hóa” là tình trạng tiêu cực, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong bộ máy đảng, nhà nước chưa đẩy lùi, ngăn chặn; kỷ luật, kỷ cương trong đảng, trong cơ quan nhà nước còn nhiều mặt buông lỏng; công tác nghiên cứu lý luận chưa giải đáp có căn cứ khoa học, thuyết phục những vấn đề mà thực tiễn đặt ra; Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ trì…thiếu kiên định, vững vàng, phẩm chất và năng lực hạn chế, thiếu tu dưỡng rèn luyện, chạy theo lợi ích cá nhân…”.


Chỉ cần đọc bài bình luận trên đây, cũng thấy được số phận của đảng Việtcộng và chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa đã hết cứu vãn. Vì đảng không thấy đường đi, đảng viên không tin vào lãnh đạo, nội bộ vô kỷ cương, hủ hóa, tham ô…quân, dân oán ghét, thế giới khinh khi…Những người đấu tranh Dân Chủ ở trong nước, và ở Hải Ngoại chỉ cần đẩy mạnh công cuộc Đòi Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền, đừng để vướng vào những giải pháp nhất thời ở giai đoạn chuyển tiếp này, rồi tự rơi vào vòng chống báng nhau về chuyện “bán lúa non” là Việtnam sớm có Dân Chủ Hóa thôi.


Little Saigon ngày 06/04/2010.


LÝ ĐẠI NGUYÊN

2/4/10

Đà Nẵng Và Những Diễn Biến 35 Năm Trước

TT Thiệu: Kế Hoạch Tối Mật Bảo Vệ Miền Nam
…Kissinger: Sao VNCH không chết phức đi cho rồi…

Khi chúng tôi hỏi thêm nữa về vụ ‘beachhead’ TT Thiệu giải thích về: Một kế hoạch tối mật để bảo vệ Miền Nam

Ông nói là vào lúc bị áp lực ký Hiệp định Paris, ông đã tranh đấu thành công để Mỹ không những cam kết trên giấy tờ mà còn thiết kế một kế hoạch phòng thủ Miền Nam trong trường hợp bị tấn công. Kế hoạch này được bảo mật tối đa. Ông chỉ nói sơ qua là điều kiện Hoa Kỳ đặt ra để thi hành kế hoạch này là khi có tổng tấn công, quân đội VNCH phải giữ được ít nhất là hai tuần để Washington có đủ thời giờ sắp xếp. Trong cuốn hồi ký, Đại tướng Viên cũng viết về kế hoạch này (CVV, trang 81).

Để tìm hiểu cho rõ, ngày 10 tháng 10, 1985 chúng tôi đã phỏng vấn chính người có trách nhiệm trực tiếp thi hành kế hoạch này, đó là Tư lệnh Đệ thất Không lực Hoa Kỳ đóng ở Thái Lan, Tướng John W. Vogt. Tổng hợp lại cuộc phỏng vấn và các nguồn khác thì có thể tóm tắt như sau:

•Kế hoạch này lần đầu tiên được nói tới là do Tiến sĩ Henry Kissinger, khi ông họp với TT Thiệu vào ngày 19 tháng 10, 1972 để thuyết phục ông Thiệu ký Hiệp định Paris;
•Sau đó, nó được nhắc lại trong các văn thư do Tổng thống Nixon gửi Tổng thống Thiệu;
•Khi tiếp Phụ Tá Tổng thống Nguyễn Phú Đức tại Tòa Bạch Ốc ngày 29 tháng 11, 1972, TT Nixon cũng nhắc lại việc này. Trong cuốn ‘The Vietnam Peace Negotiations – Saigon’s Side of the Story,’ tiến sĩ Đức thuật lại: “Rồi Tổng thống Nixon nói với tôi: Hiệp định này chỉ là một miếng giấy. Điều quan trọng là quyết tâm của chúng tôi yểm trợ các ông. Tôi cam kết với quý ông những điều sau đây:

1. Quân viện và kinh viện cho Miền Nam sau Hiệp định;
2. Không lực Hoa Kỳ trấn đóng tại Thái Lan và trên các chiến hạm sẽ tái oanh tạc trong trường hợp Cộng sản vi phạm hiệp định được tình báo của chúng tôi phát hiện ra;
3. Chúng tôi nhất quyết ủng hộ TT Thiệu;
4. Hoa Kỳ đã đi tới thông cảm với Liên Xô và Bắc Kinh là họ sẽ giới hạn viện trợ cho Bắc Việt.

Ông Đức hỏi: “Trên căn bản luật pháp nào Ngài có thể tái oanh tạc?”

Tổng thống Nixon: “Trên căn bản phải tôn trọng DMZ (vùng phi quân sự), tôn trọng ngưng chiến, và sự trung lập của Lào và Kampuchia.” Theo như sự sắp xếp thì Ngũ Giác Đài sẽ theo dõi các đơn vị, căn cứ của quân đội Bắc Việt. Bước đầu của kế hoạch là sẽ yểm trợ quân lực VNCH bằng không lực. Có bốn phần của kế hoạch này:
•Lựa chọn và cập nhật những mục tiêu oanh tạc tại Việt Nam;
•Sắp đặt sẵn sàng một ‘Forward Air Control Team’ (Đội Kiểm Không Tiền Vệ) với những nhân viên nói được tiếng Anh và đã làm việc cho Không lực Hoa Kỳ;
•Một điều kiện đặt cho phía VNCH là khi bị tấn công, quân lực VNCH phải cầm cự được từ 7 tới 15 ngày để Washington có đủ thời giờ phản ứng (nhất là làm việc với Quốc Hội, có thể là trên căn bản những mật ước với TT Thiệu- lời tác giả); và
•Thủ tục để VNCH yêu cầu Hoa Kỳ can thiệp bắt đầu từ Bộ Tổng Tham Mưu VNCH tới TT Thiệu, tới Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, rồi tới Tòa Bạch Ốc.
•Một hệ thống liên lạc nối liền không lực Hoa Kỳ tại căn cứ ở Nakhon Phanom (Thái Lan) với lãnh đạo quân sự Miền Nam. Các tư lệnh quân lực VNCH gồm Tư lệnh Không Quân và Tư lệnh các quân khu có thể trực tiếp liên lạc thẳng với Tướng Vogt.

Tướng Vogt cũng được phép của Bộ Tổng Tham Mưu Liên Quân đi thăm các tướng tư lệnh Vùng của Việt Nam thường xuyên.

Trong cuộc phỏng vấn chính Tướng Vogt đã kể lại là vào mùa hè 1973, mặc dù Đại sứ Martin nói với ông: “Tôi không nghĩ rằng sự hiện diện của một vị tướng 4 sao, người phụ trách chiến dịch không tạc của chiến trường này, có lợi cho việc ổn định tình hình tại đây. Do đó, ông chỉ được trở lại xứ này nếu có lệnh của tôi.” Tướng Vogt vẫn cứ tiếp tục liên lạc, nhưng thay vì vào Miền Nam, ông mời các tướng lãnh sang gặp ông ở Thái Lan. Khi gặp, ông thường trấn an “là Vogt còn ở đây và kế hoạch can thiệp vẫn được điều chỉnh hằng ngày để sẵn sàng đem ra thi hành khi cần đến.” Chỉ cần một điều kiện: ‘khi bị tấn công, phải giữ được ít nhất hai tuần’

Một trong những người hay được mời là tướng Trưởng. Ông Trưởng cũng xác nhận với chúng tôi về việc này, và nói ông bay sang Thái Lan thường xuyên để được cập nhật tình hình, “Tướng Vogt luôn nói với tôi là ‘vì việc dùng không lực Hoa kỳ cần phải có Quốc Hội chấp thuận nên phải cần ít nhất là hai tuần để làm việc với Quốc Hội.’” Có nghĩa là khi có tổng tấn công, quân đội VNCH phải giữ được ít nhất là hai tuần. Sau 1975, khi biết về kế hoạch này tôi mới hiểu tại sao vào cuối năm 1974 – đầu 75, thỉnh thoảng tôi có nghe thấy ông Thiệu nói tới một ‘thời gian hai tuần cần thiết.’

Tại Luân Đôn, ông Thiệu cũng tâm sự: “Lúc tôi ở Mỹ (gặp TT Nixon vào tháng 4, 1973 tại San Clemente, California), họ đã giải thích thêm cho đầy đủ về kế hoạch này.” Trong một chuyến đi Washington, chính bản thân chúng tôi cũng đã ghé thăm căn cứ của Tư Lệnh Thái Bình Dương (CINCPAC) ở Honolulu do Phụ tá Quốc Phòng Eric von Marbod hướng dẫn. Vào xem phòng tình hình, tôi thấy trang bị hệ thống hết sức tối tân, trên tường có nhiều bản đồ Việt Nam thật lớn, với những bóng đèn xanh, đỏ chớp tắt liên tục. Một nhân viên kiểm báo cắt nghĩa sơ sơ cho tôi về các tuyến phòng thủ mà CINCPAC theo dõi, nhưng vì cá nhân tôi chỉ để ý tới vấn đề viện trợ tổng quát nên không hỏi chi tiết về quân sự. Xem như vậy, tôi có thể hiểu được là tại sao khi tôi hỏi TT Thiệu về lý do tử thủ Đà Nẵng thì ông đã trả lời là ngoài việc cần thời gian để sắp xếp lại quân đội, ông còn muốn giữ một ‘base’ ít nhất trong hai tuần theo điều kiện Mỹ đã đặt ra, như vậy là để phòng hờ trường hợp Mỹ giữ lời hứa là sẽ tiếp viện. Nhưng cuối cùng thì việc can thiệp là một hy vọng hão huyền và viện trợ cũng bị cắt hết.

Suy tư còn lại của Tổng thống Thiệu

Trong những cuộc đàm đạo với Tổng Thống Thiệu, riêng về vấn đề bỏ Huế và tử thủ Đà Nẵng, ông vẫn còn ưu tư về một vài điều: Lãnh Sự Mỹ ở Đà Nẵng Albert Francis Ông Thiệu thắc mắc về vai trò của ông này liên hệ tới việc Tướng Trưởng bỏ Đà Nẵng. Tôi biết rất ít về quân sự và luôn ngần ngại hỏi các tướng lãnh về vấn đề này, nhất là Tướng Trưởng vì ông rất ít tâm sự về việc chinh chiến. Nhưng có lần tôi nói chuyện với ông về việc này: “Tôi thấy ông Tổng thống cứ thắc mắc là tại sao cái anh Francis (đúng ra thì ông Thiệu dùng chữ xưng hô khác) anh ta cứ ôm sát ông Trưởng?” Dường như Trung tướng Trưởng hơi giật mình và hỏi lại tôi hai lần: “Tổng thống hỏi vậy hả?” Rồi ông nói sang chuyện khác. Như vậy, cũng có thể là ông Francis cũng đã nói với Tướng Trưởng về thông tin của tình báo Mỹ là tình hình đã tuyệt vọng chung quanh Đà Nẵng, và đã gợi ý với ông là không nên cố thủ. Đây hoàn toàn là suy nghĩ của cá nhân tôi mà thôi vì tôi thấy nó cũng có thể giống như việc Đại sứ Martin đã nói với TT Thiệu về tình hình nguy hiểm và tuyệt vọng chung quanh Sàigòn vào ngày 21 tháng 4, 1975 khi ông gặp ông Thiệu để cố vấn ông nên từ chức. Ông Francis lại là người tín nhiệm của đại sứ Martin.
Phó Đề đốc Thoại cũng có viết là ông có trông thấy ông Francis đứng ở bên trái phía ngoài trailer của tướng Lân, Tư lệnh TQLC. Khi ông bước vào trailer thì thấy tướng Trưởng đang ngồi hút thuốc lá, nét mặt rất suy tư (HVKT, trang 237). Ngoài ra, khi ông Thoại trở về tới Căn cứ Hải Quân thì “Ông Francis cho tôi biết theo tin tức tình báo thì đơn vị Cộng sản đã bố trí vùng Nam Ô và có lẽ sẽ pháo kích nặng vào Căn cứ Hải Quân vào khoảng 4 giờ sáng. Nhìn đồng hồ tôi thấy tôi còn bảy tới tám giờ đồng hồ để chuẩn bị di tản gia đình binh sĩ và nhân viên chuẩn bị hầm trú ẩn tránh pháo. Sau đó ông Francis xin phương tiện cho ông và hai người cùng tháp tùng ông ra tầu Hải Quân đang ở ngoài khơi” (HVKT, trang 239).

Sau này có lần Tướng Trưởng cũng nói với chúng tôi về một người Mỹ khác: “Khoảng đầu tháng 3 (1975) người phó cho ông Polgar (trạm trưởng CIA) có nói với tôi là: ‘Cộng sản sẽ đánh tới tuyến Phan Rang rồi ngừng 10 ngày.’ Tôi hỏi tại sao anh biết trước thì anh ta xoay sang chuyện khác.”
Khi tôi hỏi về ông Francis thì Thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình, Tư lệnh cảnh sát kiêm Giám đốc Trung ương Tình báo cũng nói: “Chính ông Francis có nói với tôi là ông ta đang ở Hồng Kông cùng với bà vợ để nghỉ ngơi nhưng đã được lệnh về ngay Đà Nẵng và gặp Tướng Trưởng.”

Như vậy theo ý kiến riêng của chúng tôi, cũng có thể là ông Francis đã được chỉ thị từ cấp trên là nên cố vấn cho tướng Trưởng bỏ ý định tử thủ Đà nẵng.

Giám mục Phạm Ngọc Chi: Về Đức Cha Phạm Ngọc Chi, Giám mục Đà Nẵng, ông Thiệu cho rằng ngài cũng cố vấn Tướng Trưởng không nên giữ Đà Nẵng. Về lời cố vấn của hai Giám mục Chi và Nguyễn Kim Điền (Huế), ông Thoại cũng ghi: “Không ai có thể biết được quyết định bỏ ngỏ Đà Nẵng của tướng Trưởng có bị ảnh hưởng bởi hai vị lãnh đạo tôn giáo hay không, nhưng có một điều là khi tướng Trưởng nói chuyện với Tổng thống Thiệu vào đêm 28 tháng 3, cho thấy rõ là ông Thiệu bị bất ngờ vì ông vẫn nghĩ là lực lượng ta đủ sức giữ Đà Nẵng và có thể cũng vì bị bất ngờ nên tổng thống không cho tướng Trưởng một chỉ thị dứt khoát… “(HVKT, trang 288).

[Ông Thoại ghi thêm là Tướng Trưởng có xác nhận với ông là "không" ngày 2/11/2006]. Ông Thoại cũng trích dẫn sách của Trung tướng Lâm Quang Thi (Tư lệnh phó Quân đoàn I) là “Đức cha Chi nhờ Tướng Thi chuyển lời lại cho Tướng Trưởng là ĐC Chi xin Tướng Trưởng bỏ ý định phòng thủ thành phố Đà Nẵng vì làm như vậy, thành phố Đà Nẵng sẽ bị tiêu diệt một cách vô
ích và sẽ gây chết chóc cho dân Đà Nẵng cũng như đồng bào tị nạn từ các tỉnh khác về” (HVKT, trang 234).

Nếu không tái phối trí?
Đại tướng Viên nhận xét rằng nếu không có tái phối trí thì Miền Nam đã có nhiều cơ hội hơn, vì “không có kế hoạch đó, có lẽ quân đội chúng ta không tan rã nhanh như vậy.” Thế nhưng, ông cho rằng “đó là cái nhìn về phương diện quân sự trong giai đoạn ngắn hạn.” Về lâu dài hơn, khả năng VNCH có chịu nổi áp lực hay không là còn tùy vào số quân viện, và ông đi tới kết luận: “Một sự thật không thể chối cãi là quân đội VNCH sẽ hết đạn và nhiên liệu vào tháng 6, 1975 nếu không nhận được số quân viện phụ trội. Và một quân đội sẽ không thể nào chiến đấu nếu không có những trang bị cần thiết để chiến đấu” (CVV, trang 134). Như sự việc xảy ra, VNCH không những đã không nhận được quân viện phụ trội mà Quốc hội Hoa Kỳ lại còn tiến hành tới việc cắt hết quân viện. Bởi vậy cuối cùng cũng vẫn là vấn đề hết phương tiện chiến đấu. Và cũng hết cả tiền, một sự việc mà chúng tôi đã ghi trong cuốn KĐMTC là
vào năm 1974 thì Chính phủ Sàigòn cũng đã sắp hết ngân khoản để trả lương cho lính, vì từ tài khóa 1975, Quốc hội Hoa Kỳ đã không cho phép được tiếp tục sử dụng tiền từ Quỹ Đối Giá (Counterpart Fund) để tài trợ cho ngân sách quốc phòng và ngân sách cảnh sát nữa. Quỹ này là khoản tiền đồng Việt Nam phát xuất từ tiền bán đồ nhập cảng và từ viện trợ Mỹ, nó là thu nhập quan trọng nhất của ngân sách quốc phòng. Như vậy thì chắc dần dần rồi VNCH cũng phải giải ngũ! (xem KĐMTC, trang 213-215).

Với bối cảnh ấy và khi màn chót của tấn bi kịch đã bắt đầu hạ, vấn đề tử thủ hay không tử thủ, xét cho cùng thì cũng chỉ còn một ý nghĩa hết sức tương đối. Vì khi đã hết đạn và hết tiền thì không thể nào cầm cự được lâu.

Có thể là cả chính phủ Ford cũng muốn kết thúc cho lẹ để Mỹ khỏi bị liên lụy. Nếu Đà Nẵng cứ kéo dài thì Mỹ sẽ có áp lực phải can thiệp. Có lẽ vì vậy nên khi vừa được tin mất Đà Nẵng thì Ngoại trưởng Kissinger đã thở dài mà than vãn: “Sao chúng (VNCH ) không chết phức đi cho rồi.”
Chúng tôi không phải là nhà quân sự, nhưng khi ghi lại những dòng này cũng nghĩ rằng có thể là Tổng thống Thiệu đã chỉ thị đúng về mặt chiến lược vì ba lý do như đề cập trên đây. Mặt khác, Tướng Trưởng đã hành động theo khía cạnh chiến thuật:

•thứ nhất, cán cân quân sự đã lệch hẳn về phía Bắc Việt;
•thứ hai trung ương không còn quân và phương tiện nào để yểm trợ ông nữa;
•thứ ba, đoàn người di tản từ Huế và Quảng Trị trở vào Đà Nẵng đã trở nên hỗn loạn, tràn ngập thành phố (một thành phố với một nửa triệu dân giờ đây đã lên gần hai triệu); và
•thứ tư, cũng chẳng thấy mặt Tướng Vogt đâu và ông không hy vọng gì Hoa kỳ sẽ tiếp viện như lúc ông lấy lại Quảng Trị.

Do đó chúng tôi cho rằng Tướng Trưởng đã quyết định không tử thủ Đà Nẵng vì có tử thủ cũng
không được lâu mà lại còn phải chịu cái cảnh tàn phá khôn lường.

Điều này thì chính Tổng thống Thiệu cũng đã xác nhận với chúng tôi: “Nếu không có thêm quân viện thì có giữ Đà Nẵng cũng chẳng được bao lâu.” Và sau 1975 thì liên lạc giữa hai người tốt đẹp. Tướng Trưởng có ghé thăm TT Thiệu ở Luân Đôn và TT Thiệu cũng hay nhắc đến Tướng Trưởng. Lúc chúng tôi gặp lại ông Thiệu lần đầu ông còn mua hai cái cà vạt gửi tôi đưa về thăm ông Trưởng (như đã thuật lại trong Chương 1). Sau này trong thư từ ông cũng hay nhắc: “Cho tôi gửi lời thăm T.T.Trưởng và gia đình” (xem thư của Tổng thống Thiệu đề ngày
18/2/1981).

Chúng tôi nghĩ rằng, nếu nhìn theo chiều dài của lịch sử thì có thể là cả hai đều đã có lý do riêng của mình. Và giờ đây, hai vị tư lệnh cao cấp ấy của quân lực VNCH đã gặp nhau ở thế giới bên kia, họ có thể bắt tay nhau cho thật chặt mà không còn phải “mang nặng một niềm đau gậm nhấm tâm can” nữa.

NGUYỄN TIẾN HƯNG

1/4/10

Những căn bệnh đang huỷ hoại xã hội Việt Nam


“…nếu không có một sự thay đổi toàn diện, triệt để về mặt thể chế chính trị thì mọi sự “sửa chữa” kiểu như thay tên Đảng, thay tên nước, thay đổi nhân sự này chính sách kia… cũng chỉ như những cố gắng vá víu tạm bợ, che chỗ này vá chỗ kia trên ngôi nhà đã thực sự mục ruỗng…”

Từ năm 1989 đến 1991, thế giới đã chứng kiến sự sụp đổ hàng loạt của các nước nằm dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô. Hơn 20 năm qua, nếu có dịp đến thăm các quốc gia này, người ta sẽ thấy rằng chính phủ mới và nhân dân tại các nước này đã kịp làm được khá nhiều điều; đời sống kinh tế, xã hội của người dân tốt hơn hẳn so với trước kia, nhưng vẫn còn rất nhiều việc mà chính phủ và nhân dân họ phải nỗ lực thực hiện để xoá đi di sản do những năm dài dưới chế độ cộng sản để lại trên con đường trở thành những quốc gia phát triển, giàu mạnh, dân chủ, tự do. Và tuỳ theo nội lực của từng nước mà quá trình này nhanh hay chậm, nhẹ nhàng hơn hay nặng nề vất vả hơn.

May mắn như nước Đức, nhờ có Tây Đức với một tiềm lực kinh tế hàng đầu của châu Âu, vậy mà trong những năm qua chính phủ Đức đã phải đổ không biết bao nhiêu tiền để vực dậy Đông Đức, xoá đi khoảng cách về mọi mặt giữa hai bờ Đông Tây. Nhưng dù sao, các nước Liên Xô và Đông Âu vẫn có những nội lực nhất định – các nước này trước khi đi theo con đường xã hội chủ nghĩa đã là những quốc gia có nền kinh tế công nghiệp tư bản bước đầu, có nền văn hoá dày dặn, người dân của họ dù sao cũng đã hiểu thế nào là dân chủ, tự do… nên quá trình thay đổi thế chế chính trị cũng đỡ nhọc nhằn vất vả hơn những quốc gia không có được những “hành trang” như vậy. Ví dụ như Việt Nam chẳng hạn. Đôi khi nghĩ đến một ngày nếu vận hạn của đất nước đã qua, Việt Nam may mắn chuyển đổi thể chế chính trị thành một quốc gia dân chủ pháp trị, thì một điều có thể thấy trước đó là cái giá phải trả do di họa của những năm cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam để lại trên đất nước này phải nói là vô cùng nặng nề, và những mất mát, thiệt thòi là vô cùng lớn.

Thứ nhất là ở Việt Nam, thời gian cầm quyền của Đảng Cộng sản cho đến nay đã kéo dài hơn một số quốc gia khác – 65 năm trên miền Bắc và 35 năm trên toàn lãnh thổ, nên cái hại cũng nặng nề hơn. Thứ hai là do nội lực của đất nước và của dân tộc, trước khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo cho đến ngày nay, Việt Nam vẫn chỉ là một nước nông nghiệp nghèo nàn đang phát triển, từ hạ tầng cơ sở vật chất kinh tế, kỹ thuật… đều chưa có gì đáng kể. Cộng với một tầm nhìn ngắn, văn hoá “lùn” của các thế hệ lãnh đạo nối tiếp nhau từ trên xuống dưới, chỉ thấy cái lợi trước mắt mà không thấy cái hại lâu dài, hoặc vừa làm vừa phá, hoặc chỉ lo vơ vét, tham nhũng mà không nghĩ gì đến tương lai của đất nước và dân tộc, nên sau bao nhiêu năm cầm quyền, trên khắp đất nước nhìn đâu cũng thấy dấu vết của sự phá hoại trên mọi lĩnh vực. Bao nhiêu đất dọc theo biên giới phía Bắc, biển, đảo… đã mất, biết bao giờ mới đòi lại được! Rừng bị tàn phá, tài nguyên bị khai thác một cách vô tội vạ, môi trường sống bị ô nhiễm nặng nề, một số sông ngòi bắt đầu khô cạn, bây giờ người ta lại bắt đầu phá nát Tây Nguyên với những dự án khai thác bauxite lợi ít hại nhiều, bộ mặt các thành phố lớn, nhỏ thì hỗn độn, quy hoạch yếu kém, kiến trúc lộn xộn một cách không thể sửa chữa nổi v.v. Chưa nói đến cơ cấu luật pháp hay một nền giáo dục yếu kém cần phải xây dựng lại từ đầu, rất mất thời gian. Chưa kể cả một xã hội bị băng hoại về mặt đạo đức, những giá trị, chuẩn mực bị lệch; con người hoặc bị nhồi sọ bởi lối giáo dục tuyên truyền một chiều phải mất thời gian mới hiểu ra được đâu là sự thật đâu là dối trá, hoặc bị tồi tệ đi do phải sống trong một môi trường xã hội có quá nhiều điều không tử tế v.v. Nhưng điều nguy hiểm nhất đối với số phận của đất nước và dân tộc Việt Nam là: nếu sự thay đổi thể chế chính trị đến chậm thì nguy cơ phụ thuộc, thậm chí mất nước vào tay nước láng giềng phương Bắc là điều mà hiện nay nhiều người đều đã thấy.

Có những di hại có thể thấy rõ vì nó hữu hình và có thể xây dựng lại, có thể hồi phục sau một thời gian vài ba thập niên tuỳ theo. Nhưng có những cái di hại vô hình khó thấy hơn mà hậu quả của nó thì rất nặng nề và sự điều chỉnh, sửa chữa cũng vô cùng khó khăn, mất thời gian. Đó là những di hại về văn hoá, con người, về tinh thần mà những quốc gia đã từng trải qua chế độ do đảng cộng sản lãnh đạo đều phải trả giá.

Môi trường sống bị ô nhiễm, bị huỷ hoại. Môi trường tinh thần cũng vậy. Có những căn bệnh tinh thần mà nếu sống trong một xã hội như xã hội Việt Nam hay Trung Quốc (vốn là một hình mẫu để chính quyền Việt Nam bắt chước theo y hệt nên những căn bệnh cũng giống nhau) lâu ngày con người sẽ bị lây nhiễm ít nhiều mà không hay.

Bệnh vô cảm

Xã hội Việt Nam bây giờ có quá nhiều điều phi lý, trái tai gai mắt, và cũng có quá nhiều những bi kịch, những câu chuyện thương tâm. Mỗi ngày mở những tờ báo ra, bật TV lên, hoặc ngay trong đời sống thường ngày, người ta phải đọc, nhìn, nghe hay chứng kiến tận mắt biết bao nhiêu chuyện như vậy. Tổng Giám đốc X bị bắt vì tham nhũng hàng tỉ đồng. Công ty Y bị phát hiện có dấu hiệu lừa đảo, làm thất thoát hàng trăm tỉ. Một khu nhà hay một cây cầu vừa mới xây đã bị sập, lún vì làm ăn gian dối, bớt xén vật tư. Một bữa tiệc sinh nhật của con cái một “quan lớn” tốn kém hàng trăm triệu đồng trong đó chủ nhân bữa tiệc vung tay tặng các bạn mỗi người một chiếc xe gắn máy hiệu @. Một em bé chết oan vì bị điện giật trên đường do dây điện bị hở, không ai chịu trách nhiệm. Một tai nạn giao thông thảm khốc do đường hẹp, lô cốt chặn, chen lấn nhau hoặc đôi khi chỉ vì do chất lượng đường sá tồi khiến người đi xe ngã xuống và bị xe tải phía sau cán lên. Một người phụ nữ nghèo đi mót cà phê bị chó nhà giàu cắn chết nhưng công an lại không truy cứu tội hình sự người quản lý trang trại đã để mặc chó cắn chết người v.v. Đầu tiên khi đọc hoặc nghe những chuyện như vậy, người ta phẫn nộ, bức xúc, thương cảm. Nhưng rồi hằng ngày cứ phải đọc mãi, chứng kiến mãi với mức độ phi lý, bất công ngày càng lớn hơn, người ta thành quen đi, không còn ngạc nhiên trước bất cứ chuyện gì nữa. Người ta quen dần với những điều không tử tế, với cái xấu, cái ác… và trở nên vô cảm dần dần mà không hay.

Tai hại của điều này là đến lượt mình, mỗi người khi phải làm một điều không tử tế hoặc không lương thiện sẽ tự bảo rằng chung quanh mình ai cũng làm như vậy, ai cũng đang sống như vậy, có sao đâu!

Cái xấu, cái ác lên ngôi

Chưa cần phải từ nguồn báo chí truyền thông của “thế lực thù địch” nào, chỉ cần theo dõi báo chí trong nước, do nhà nước kiểm soát nội dung và cho phép phát hành, cũng có thể thấy ở Việt Nam hiện nay, cái xấu, cái ác đang lộng hành ra sao. Có nhiều người sẽ bảo: xã hội nào mà chả có cái xấu, cái ác! Ở Mỹ chẳng hạn, cũng có những cảnh bạo lực, giết người, thậm chí sát nhân hàng loạt… đó thôi. Nhưng vấn đề ở đây là cái xấu, cái ác, sự thiếu lương thiện đang tràn lan ở mọi cấp độ từ những hành vi nhỏ nhặt hằng ngày như chen lấn giành đường nhau, dúi tiền cho cảnh sát giao thông để được cho qua khi bị bắt lỗi và cảnh sát cũng thản nhiên nhận tiền như là chuyện bình thường phải vậy, hoặc sẵn sàng cãi vã, chửi bới nhau thậm chí đánh nhau chỉ vì những chuyện xích mích không đáng… cho đến những hành vi ở mức độ lớn hơn. Nhiều khi rùng mình vì mức độ trơ tráo vô đạo đức trong những hành vi tội lỗi, như khi một ông hiệu trưởng không những dụ dỗ, ép dâm hàng loạt học sinh tuổi vị thành niên mà còn buộc các em phải lên giường với hàng loạt quan chức để có lợi cho mình; hay mức độ dã man một cách thản nhiên như khi một con người có thể để mặc cho đàn chó cắn xé đồng loạt đến chết mà không cứu; hay những cô cậu học sinh còn ở tuổi cấp hai có thể thản nhiên đánh bạn, thản nhiên quay video clip tung lên mạng và những học sinh khác thì ngồi xem mà không phản ứng gì. Khi một xã hội mà những điều không tử tế, cái xấu, cái ác đã trở thành chuyện bình thường trong khi điều tử tế, cái đẹp, cái thiện dần trở thành hiếm hoi, bất bình thường thì đó là điều thực sự phải báo động đỏ từ lâu rồi.

Sự bạc nhược, cầu an

Khi phải sống chung quá lâu với những điều bất công phi lý, với các xấu cái ác đang tràn lan, và biết rằng có kêu thì cũng chẳng thay đổi được gì, số đông người Việt dường như đã chọn cho mình một “phương châm” sống an toàn, đó là mặc kệ, mọi chuyện đã có nhà nước lo, họ chỉ lo kiếm sống, lo cho bản thân và gia đình. Và điều đó tạo ra một căn bệnh khác cũng phổ biến không kém: sự bạc nhược, cầu an. Đối với đám đông này, đừng nói với họ về sự thối nát của chế độ, về gánh nặng nợ nần đang đổ lên đầu các thề hệ sau do việc vay nợ nước ngoài, việc mất đất mất biển và cả nguy cơ mất nước trong tương lai, việc các nước khác người dân được có những quyền gì cũng như nhu cầu tự do dân chủ trong nhân dân… Họ sẽ lảng tránh, sợ hãi, không tin, và tiếc thay con số này vẫn còn khá lớn. Chưa kể những kẻ mà quyền lợi gắn chặt với chế độ này và vẫn cố sống cố chết bênh vực cho chế độ này là không tính đến. Đó là lý do vì sao một đảng cầm quyền có quá nhiều sai lầm và tội lớn đối với đất nước, với nhân dân trong suốt bao nhiêu năm qua như Đảng Cộng sản Việt Nam lại vẫn tiếp tục tồn tại.

Sự giả dối

Trong lịch sử giành chính quyền và giữ chính quyền của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sử dụng rất nhiều “chiêu thức”, trong đó có sự dối trá, mỵ dân. Có thể nói sự dối trá, nói một đằng làm một nẻo là “chính sách” xuyên suốt trong đối nội cũng như đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam từ bao lâu nay. Và từ bao nhiêu nay người dân Việt Nam đã phải sống trong một môi trường giả dối, từ khi còn đi học trẻ em Việt Nam đã phải học tin vào những điều giả dối cho đến khi trưởng thành nhìn xung quanh xã hội toàn những điều giả dối – bằng giả, hàng giả, chất lượng công trình và cả chất lượng tác phẩm văn hoá văn nghệ nhiều thứ cũng là giả… Và cũng như các căn bệnh đã kể trên, đến một lúc nào đó sự giả dối cũng trở thành căn bệnh phổ biến trong xã hội – người ta chạy theo thành tích, chạy theo những giá trị ảo, giá trị giả bên ngoài và đánh giá nhau cũng bằng những cái bên ngoài đó như căn nhà, chiếc xe, áo quần, mảnh bằng phó tiến sĩ, tiến sĩ “mua”… mà không xét đến giá trị thật bên trong của một con người.

Hoài nghi và mất lòng tin

Và khi phải ăn uống hít thở hằng ngày với một bầu không khí giả dối như vậy thì lẽ đương nhiên con người trở nên mất lòng tin, hoài nghi vào tất cả mọi thứ. Từ một nguyên nhân sâu xa nhất là sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống lý luận chính trị Mácxít-Lêninnít, lý thuyết về chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa cộng sản… mà bao nhiêu năm nay Đảng và nhà nước Việt Nam vẫn ra sức nhồi nhét vào đầu người dân, trong lúc chưa tìm ra được một hệ thống lý luận khác để thay thế (thật ra thì đã có sẵn những hệ thống lý luận của các nước Dân Chủ pháp quyền khác để mà học hỏi nhưng vấn đề là nhà nước Việt Nam không muốn học!), cùng với sự xuống cấp, tha hoá về mọi mặt trong đời sống đạo đức xã hội, khiến con người mất lòng tin và căn bệnh hoài nghi này cũng phổ biến không kém. Điều tai hại hơn là người ta không tin cả vào những điều tốt, sự tử tế.

Xã hội Việt Nam hiện nay là một môi trường mà cái ác cái thiện lẫn lộn, môi trường văn hoá nghệ thuật cũng vậy – cái đẹp cái xấu lẫn lộn, thật giả lẫn lộn, dễ làm cho con người, nhất là giới trẻ, bị nhiễu về mặt nhận thức, thẩm mỹ cho đến phương hướng, mục đích sống… không biết phân biệt, thẩm định hay dở, đúng sai. Xã hội cứ thế mà nhiễu loạn cả lên.

Và tất cả những căn bệnh đó như những tế bào ung thư đang tàn phá cả xã hội Việt Nam mà nếu không có một sự thay đổi toàn diện, triệt để về mặt thể chế chính trị thì mọi sự “sửa chữa” kiểu như thay tên Đảng, thay tên nước, thay đổi nhân sự này chính sách kia… cũng chỉ như những cố gắng vá víu tạm bợ, che chỗ này vá chỗ kia trên ngôi nhà đã thực sự mục ruỗng từ bên trong mà thôi.

Nguồn: Talawas, 28/03/2010
Song Chi
Vô Thượng Sư Thanh Hải lấy chồng.

Đặng Thị Trinh tự xưng mình là Thanh Hải vô thượng sư.

Để bản tin đuợc ấn tuơng hơn, ht đã sưu tầm những hình ảnh :tuơi mát" cuả bà, đã lột xác từ một nguời đàn bà VN thành một nguời đàn bà Âu tây cho bản tin thêm hấp dẫn. ht đã dung cả môt buổi chiều đi qua rât nhiều trang mạng để sưu tầm những kiểu áo này. Sau này, tât cả những quần aó cuả bà đều do một tay bà vẽ kiểu, chỉ có một mà không có hai. Mỗi lần bà gặp đệ tử bà đều xuất hiện trong một bộ đồ mới, may bằng những chât liệu thuợng thặng hạng nhât đínk kèm theo những viên châu báu vô giá do tiển thâu đuợc từ những tín đồ cuả bà trên khắp nơi cuả thế giới. Lạ lùng thay các tin đồ mới sau khi gia nhập đã đuợc bà tâm ấn là biến thành một nguời bỏ tất cả liên hệ với gia đình bố mẹ, vợ con sẵn sàng hy sinh đi theo hầu hạ bà, và dĩ nhiên lợi tức nguời đó tìm ra là dâng hiến hết cho bà. Từ đó cuộc đời cuả họ dâng hiến thành nô lệ cho bà vô điều kiện.
Cuộc đời tình ái cuả Vô Thuọng sư càng thăng hoa hơn thời gian khoảng 10 năm về truớc, bà đuọc Công Chuá Lào quốc mời sang chơi, và ở đó bà đã gặp nguời tính mới, và tình yêu đã nảy sinh. Kêt quả cuộc tình kín đáo này đã cho bà một bé trai, va nguời yêu mới cuả bà dĩ nhiên đã là một đệ tử thuần phục và ngoan ngoãn đuợc hầu hạ bà đêm ngày không rời buớc. Nhũng lúc bà tắm đều bằng sữa tuơi. Chỉ có những nam đệ tử tâm huyết đã đuợc tâm ấn là đuọc phục vụ cho bà mà thôi. Và dĩ nhiên sữa tuơi cuả bà tắm rồi đuợc những đệ tử cuồng tín thụ huởng một cách vô cùng hân hạnh và trân trọng.



Ht biêt rõ gia đình cuả chị Diễm Châu ở miền Nam Houston, thật nhiều năm về truớc chị nồi tiếng vói quán Diẽm Châu, đặc biệt chuyên về bánh khọt, bánh bèo. Chi chỉ có mấy cô con gái và 1 con trai duy nhất, câu này đang học bác sĩ. Ấy thế mà chỉ 1 chuyến đi chơi cùng bạn, tham gia một buồi thuyêt giảng cuả Thuợng sư mà không hiều sao sau đó cậu đã bỏ nhà ra đi hầu hạ và biến thành đệ tử trung thành cho Vô Thuợng sư, bỏ học bác sĩ, cho dù mẹ cuả cậu và các em gái năn nỉ khóc lóc cũng không lay chuyên đuợc câu. Vì thế coi như chị mât luôn đứa con, mà thời gian truớc đây vô cùng hiều thảo. Bây giờ ht đã hiểu tai sao mà ai cũng nghe lời bà răm rắp. Nhiều gia đình khác ỏ Houston cũng lâm vào cảnh chia tay như vậy. Bà đã dung phép thuật cuả đạo Silk mà làm ra những cảnh nhà tan cuả nát như vậy.
Vô thuợng sư ngày xưa
Vô thuợng sư ngày nay
Nhiều vị đã có dịp đi nghe cô Thanh Hải giảng đạo dưới hình thức là một tu sĩ Phật Giáo, nhưng với nội dung, nếu vị nào hiểu được một phần giáo lý của đạo Phật, đều cho rằng luận điệu của cô Thanh Hải là phá hoại Phật Giáo. Vấn đề cô Thanh Hải giảng đạo tạo ra sự bất bình sâu rộng trong Giáo Hội Phật Gíao Trung Hoa Dân Quốc và toàn thể Phật Giáo đồ xứ này; lại đang lan rộng ra trong hang lãnh đạo và toàn thể Phật tử Việt Nam hải ngoại.
Thanh Hài Vô Thuơng sư
Với sự việc trên, tôi đã hiểu rõ từ lâu, vì tại Đài Loan đã có nhiều tờ báo Phật Gíao phê bình về luận điệu phá hoại ấy. Nhưng tại Đài Loan số người Việt Nam theo tôi được biết thyì đếm không hết mười đầu ngón tay, mà cô Thanh Hải là người Việt Nam nên tôi không đành làm công việc đổ dầu vào lửa, mặc dù trong giới Phật Giáo Đài Loan nhiều lần yêu cầu tôi lên tiếng, vì họ biết tôi cũng là người Việt Nam. Nhưng có nhiều người cho cô Thanh Hải là đệ tử của tôi nên đã có nhiều lời trách tôi tại sao tôi cho cô Thanh Hải làm việc như vậy. Do đó mới có lá thư này.
Thanh Hải Vô Thuơng sư



Theo tôi được biết, cô Thanh Hải sanh tại tỉnh Qủang Ngãi, miền Trung Việt Nam, học tới năm Đệ Nhị, năm 19 tuổi rời khỏi Việt Nam ra nước ngoài, có quốc tịch Anh, tại Tây Đức có chồng làm Bác Sĩ đã từng quy y với Thấy Thích Như D9iển với pháp danh là Thị Nguyện, sau đó sang Ấn Độ học với mấy vị Lạt Ma Tây Tạng, rồi theo học với một người Ấn Độ theo đạo Sikh tên là Jampa Ghesbe Ngawang Dargey và học với một người Ấn Độ khác tên là Thakar Singh, được truyên cho “năm câu chú”, “phương pháp ấn tâm” và “huyễn pháp Thanh Sắc Quang Ảnh”.
Thanh Hải vô thuợng sư New year 2008



Cô Thanh Hải đã xuất gia từ Ấn Độ. Năm 1983 đến Đài Loan thọ giới Tỳ Kheo Ni, tự xưng là người Việt Nam, nên Giáo Hội Phật Giáo Đài Loan gọi điện thoại đến tôi nhờ tôi cho Thanh Hải tá túc cho đến khi tham gia tọ giới. Tôi liền bằng lòng. Vì cô Thanh Hải không muốn dung pháp danh Thị Nguyện, nen yêu cầu tôi cho pháp hiệu nên tôi đã cho pháp hiệu là Thanh Hải. Sau đó, tôi biết Thanh Hải tu theo ngoại đạo, tôi khuyên nên bỏ và cố gắng học Phật, nhưng THanh Hải không nghe, rồi sau đó ra đi. Từ khi Thanh Hải bắt đầu truyền đạo thì không đến tôi nữa, vì Thanh Hải biết là tôi không hài long về việc Thanh Hải dùng hình thức người xuất gia của Phật Giáo mà truyền bá tư tưởng ngoại đạo.



Alu,... cục cưng của em đóa hủh? Tối nay anh mún đi vũ trường nào để em đặt chổ V.I.P trước?
Cô Thanh Hải khi bắt đầu truyền đạo, vì muốn đạt đến mục đích bất chánh, đánh lừa thính giả có cảm tình với Phật Giáo hay những tín đồ đạo Phật mà không rõ giáo lý của đạo Phật nên đưa ra đề tài là “Phương Pháp Quán Âm” và tự xưng là Hiện Tại Phật. Cô Thanh Hải lại dung chiêu bài “tức khắc khai ngộ, một đời giải thoát” để dụ người vào lưới ngoại đạo.
Môt trong những đam mê cuả bà là tự vẽ kiiểu quần áo thời trang cho chính bà



Cô Thanh Hải nói dối rằng giảng dạy phương pháp Quán Âm, nên mọi người đều nghĩ rằng phương pháp tu hành của D9ức Quán Thế Âm Bồ Tát, mà sự thật dạy quán “Thanh Sắc Quang Ảnh”, không dính dấp gì với Đức Quán Thế Âm Bồ Tát cả, lại tự xưng là Hiện Tại Phật. Căn cứ nơi kinh Phật, đây là một tội đạ vọng ngữ rất nặng, chỉ có kẻ hành ma đạo mới dám nói như vậy mà thôi. Nếu ai có chỉ trích thì Thanh Hải nói với tín đồ là người ta đố kỵ. Thanh Hải phải trả lời sao về những lời chỉ trích của toàn thế giới trí thức Phật giáo Đài Loan đều cho rằng Thanh Hải đã phá hoại Phật Giáo vì Thanh Hải đã dung hình thức là một tu sĩ của Phật Giáo mà giảng nội dung đều là của đạo Sikh? Đôi khi Thanh Hải có đề cập đến kinh Phật, nhưng giảng giải sai lầm và phê bình Phật Giáo là thế này là thế nọ. Thật sự Thanh Hải chưa từng có thời gian nào để học Phật. Thanh Hải khi đề cập đến kinh Phật với mục đích chỉ để huyễn học long người rằng Thanh Hải là người đã từng nghiên cứu kinh Phật mà thôi. Thanh Hải dung phương pháp ấn tâm chỉ là sự phái âm binh để khống chế người theo đạo. Đây là phương pháp dung chú thuật của ngoại đạo thường thấy nhiều nơi. Phương pháp này chỉ có thể h uyễn hoặc những kẻ hiếu kỳ mê muội mà thôi. Những người chánh tín đạo Phật không ai dung và tin phương pháp đó.



Ngài còn rực rỡ hơn nữ hoàng cuả lòng ai đó
Nếu chúng ta quy y với Phật thì đời đời kiếp kiếp gặp Phật pháp tu hành cho đến ngày thành Phật. Nếi ai quy y với Thanh Hải thì đời đời kiếp kiếp quanh quẩn trong rừng ngoại đạo, vĩnh viễn trong sáu nẻo luân hồi, muôn kiếp cũng khó gặp được chánh pháp của Phật, nói gì đến chuyện giải thoát, giác ngộ. Thanh Hải với chiêu bài khai ngộ giải thoát chỉ là một thủ đoạn đánh lừa quần chúng mà thôi.



Do đó người Phật tử chân chính chẳng những không tin theo Thanh Hải, mà còn có bổn phận phải giảng giải để mọi người cùng biết Thanh Hải không phải là một vị chân chánh Tỳ Kheo Ni của Phật Giáo. Những lời Thanh Hải giảng giải không phải là những lời Phật dạy.



Thanh Hải còn làm một điều trái luật của Phật nữa là Thanh Hải là một vị Tỳ Kheo Ni mà dám độ cho hang nam chúng xuất gia thọ Tỳ Kheo giới làm đệ tử của mình.



Tiên sống



Nếu Thanh Hải mặc sắc phục ngoại đạo truyền giáo pháp ngoại đạo thì trong giới Phật Giáo không ai chỉ trích Thanh Hải cả.



Sau đây một lần nữa chứng tỏ hung hồn rằng Thanh Hải cố ý dung tư cách của một Tỳ Kheo Ni Phật Giáo truyền đạo, rồi thêm vào đó là chú thuật của ngoại đạo để phái âm binh khống chế người nghe, toàn là thủ đoạn mới hấp dẫn người nghe. Nếu từ khi bắt đầu Thanh Hải dung hình thức là một ngoại đạo truyền đạo Sikh thì sẽ có mấy người muốn đi nghe và tin theo?



Câu chuyện là thế này: Năm ngoái thầy của Thanh Hải (Thakar Singh) đến Đài Loan giảng đạo, vì ông ta nghe tin Thanh Hải giảng đạo tại Đài Loan rất có nhiều người nghe theo. Ông ta cho thuê hội trường nhiều nơi và nhiều ngày, lại đăng trên nhiều tờ báo lớn vào những cột báo phải tốn nhiều tiền lien tiếp cho nhiều ngày, hội trường thì có thể dung nạp hang bao nhiêu ngàn người. Nhưng mỗi lần ông ta giảng chỉ vỏn vẹn có ba bốn chục người đến nghe mà thôi. TRong số thính giả này tuyệt đại đa số là hiếu kỳ, vì ông ta tuyên bố rằng ông ta là thầy bổn sư của Thanh Hải, nên mấy người đó nghe xem như thế nào thôi. Trong số thính giả đó có ai quy y theo ông ta. Rất oái oăm, suốt thời gian ông ta đến ở và đến ngày ra đi, Thanh Hải không dám kiến diện ông ta một lần. Điều này khiến cho ông ta rất tức giận ngay trong buổi giảng, trách Thanh Hải đã lạnh nhạt quá đáng. Ông ta nói tại sao Thanh Hải mỗi khi qua Ấn Độ đều đến ở với ông lâu ngày thầy trò nồng hậu, mà sao khi ông ta từ Ấn Độ xa xôi lại không tiếp đón? Ông ta lại trách Thanh Hải giảng đề tài bậy bạ. Ông ta nào có dạy “phương pháp Quán Ẫm”.



Sự thật, ông ta nào có biết Thanh Hải rất khổ tâm khi nghe tin ông ta sắp đến và ở lại suốt cả một thời gian dài. Thanh Hải làm sao dám tiếp. Vì nếu Thanh Hải tiếp xúc với ông ta thì ăn làm sao nói làm sao với hang đệ tử của Thanh Hải. Vì đệ tử Thanh Hải những tưởng từ lâu nay thầy mình là một vị tu sĩ Phật Giáo Phật Giáo chân chánh mới tin và theo Thanh Hải. Bây giờ đùng một cái, thầy bổn sư của Thanh Hải vốn là một người theo đạo Sikh (tín đồ của đạo Sikh đã giết bà Thủ tướng Ấn Độ) và từ lâu nay tu theo phương pháp của thầy dạy chỉ là phương pháp của đạo Sikh mà thôi. Lại ông ta trách Thanh Hải giảng giải với đề tài “phương pháp Quán Âm” không giống như ông ta đã dạy Thanh Hải. Ông ta không biết rằng Thanh Hải chỉ lợi dụng đề tài ấy mới có thể mê hoặc lôi kéo người nghe, kỳ thật nội dung đều y theo ông ta đã dạy không sai đâu đừng lo. Ngoài những điều ông ta dạy ra, Thanh Hải nào có biết phương pháp Quán Âm thật sự là gì?



Tạm viết ra mấy hang trên để mọi người cùng hiểu cô Thanh Hải truyền đạo là như vậy đó, mà có người mê muội cho Thanh Hải là một nữ Thánh, cho Thanh Hải là một Phật tại thế.











Thư gửi ngài bộ trưởng giáo dục

by Trương Thái Du
.Kính thưa ngài bộ trưởng,



Chúng tôi thật sự bàng hoàng khi xem clip một học sinh nữ và chúng bạn hành hạ kẻ đồng trang lứa của mình, tại đây hoặc tại đây.



Không từ nào diễn tả được sự dã man, vô học và vô văn hóa của kẻ thủ ác. Nhưng tại sao cái ác lộng hành thanh thiên bạch nhật, giữa trung tâm thủ đô ngàn năm văn hiến của nước Việt Nam, tại vườn hoa phía sau tượng đài vua Lý Thái Tổ bên hồ Gươm?



Trong clip, có ít nhất sáu nam nữ tuổi học trò làm khán giả, chứng kiến kẻ ác hành hạ nạn nhân. Ít nhất hai kẻ còn tham gia đánh hôi, một người nam ngồi trên ghế đá đưa mắt láo liên cảnh giới. Có tiếng nói đề xuất gí mặt nạn nhân vào ống xả xe máy (chắc đang còn nóng chảy mỡ). Không một ai đứng ra can ngăn kẻ thủ ác.



Cô nữ sinh ngoài một câu khóc than rất nhỏ lúc đầu, chỉ còn lại sự im lặng và cố gắng lấy tay che mặt. Cô không hề kêu gào, phản kháng, hoặc ít ra là van xin, bỏ chạy.



Như vậy clip ghi hình đã đưa người xem đến tận hai thái cực của hành xử: Dã man hết mức và Ươn hèn đến độ không thể chấp nhận.



Thưa ngài bộ trưởng, việc làm rõ kẻ thủ ác và nạn nhân trong clip ở trên là chuyện nhỏ và không khó thực hiện. Song, câu hỏi vì sao nền giáo dục Việt Nam đã tạo ra một thế hệ học trò quái dị và quái đản như thế này, thiết nghĩ không nên coi thường. Đây không phải là clip ghi hình đầu tiên cho thấy sự phá sản của môn học Giáo dục công dân dưới mái trường của một xã hội có định hướng Xã hội chủ nghĩa.



Cái day dứt của một người phụ huynh trong tôi là, các thầy cô giáo đã không trang bị được cho học sinh của mình bản năng tối thiểu sẵn có của một con thú, đó là gặp hiểm nguy không thể đương đầu thì phải bỏ chạy hoặc hô hoán, gào thét phản ứng bằng tất cả sức lực mà mình có. Hay là nói cách khác, đau lòng hơn, chính nền giáo dục của gia đình và xã hội Việt Nam đương đại đã tiêu diệt bản năng phản kháng nguyên sơ nhất của con người sinh học.



Tôi rùng mình khi nghĩ rằng tương lai của đất nước này nằm trong tay của lớp người đang ngồi trên ghế nhà trường hôm nay.

Đổ thừa xã hội. Đổ rác Việt Nam

Đổ thừa xã hội. Đổ rác Việt Nam

I.
Ở Hà Nội, Tết vừa qua người ta xả rác vô tội vạ, ở Việt Nam có phong tục đi lễ các đình, chùa vào tháng giêng, chỗ nào người cũng xả rác… Đó là phát biểu của một cư dân Hà Nội trong phóng sự “Nạn đổ rác lén trên đường phố Hà Nội”[1].
Nhưng đây không phải là một nạn duy nhất. Xã hội ta còn vô số nạn. Công khai, không cần lén lút.
Chúng ta có những kẻ say rượu, phóng thích sự thoả mãn đến cuồng loạn[2]. Phóng thích ở đây là đứng chỗ cấm không được đái để làm chuyện đái không được cấm. Cũng chẳng cần bảng cấm, chẳng cần say sưa, người phụ nữ ngoại hình xinh đẹp ngồi phơi mông phóng thích ngay giữa vườn hoa đẹp[3]. Ở đâu cũng có sự phóng thích không đúng chỗ, nhưng chỉ có Việt Nam ta mới phóng thích được một tấm ảnh cực kỳ ấn tượng như thế.
Chúng ta có những kẻ phóng thích sự thỏa mãn trên vỉa hè. Không phải là những vòi nước nhân tạo, chẳng là rác phế thải, rác được ruồi đậu kiến bu, mà là rác rưởi cuồng loạn đổ xuống đầu một cô gái bị nắm tóc đánh đập dã man, được phổ biến tràn lan trên YouTube[4]. Blogger Trương Thái Du gọi đó là sự dã man, vô học và vô văn hóa của kẻ thủ ác[5]. Sự cuồng loạn độc ác này dưới bậc một thứ rác rưởi khác. Đó là loại rác xác chết tuổi chưa quá 20 ngồi trên ghế đá lạnh lùng như đá. Nhìn. Nếu chúng còn sống thì ít ra, dù vì sợ hãi liên lụy hay tôn thờ chủ nghĩa mackeno, chúng đã đứng lên đi chỗ khác.
Chúng ta có những rác rưởi cắt ngang hàng trong xã hội được mang tên xếp hàng cả nước, vỉa hè là xa lộ, đèn đỏ là đèn xanh, thời thượng là quán Chưởi Hà Nội, đm không ăn thì xéo đi, khách hàng nườm nượp kéo vào để nghe chưởi. Ăn mới sướng. Chúng ta có rác PMU18, rác dầu Dung Quất, rác công an vòi tiền doanh nghiệp, rác nhà giáo thâm niên 30 năm, đáng tuổi cha chú, ai đời làm chuyện đó [6]cùng VIP chủ tịch xứ giang hồ mua dâm nữ sinh[7].
Chúng ta có con đường rác cộng sản. Nồng, tanh. Hoa sữa. Gợi nỗi đau chuyện bị chèn ép. Chúng cướp dưỡng khí, dường cô lập tôi giữa rừng người. Trong những bài thơ và những bài hát. Ngợi ca hoa sữa. Khiến thời gian nực cười. Vẻ lãng mạn tồi tàn. Mùi hoa nhắc nhớ mùa thu đương trị. Đã quen với việc hiện diện của chúng. Người ta có thể dễ chấp nhận. Trên mảnh đất này. Một kiểu chánh trị đậm mùi.[8]
Và vì thế
Chúng ta có rác

Màu đỏ
Như loài cỏ
Ngỡ là chuyện nhỏ
Nên không ai dọn bỏ
Chúng tôi luôn hốt hoảng nhưng biết làm thế nào!?
Đành bỏ ngỏ..!!! [9]
Nên chi rác trở thành bãi, bãi thành đồi, đồi thành núi.
Rác bùn bauxite nhuộm đỏ quê hương.
Rác giao kèo đốt rừng thế hệ.
Rác hiệp định cắt đứt giang sơn.
Rác 79, 88 cùm đời tuổi trẻ.
Rác số 4 tám mươi triệu dân đen làm trâu ngựa.
II.
Và…
Thế là chúng ta đổ thừa. Tất cả đều do bàn tay rác rưởi của đảng dinh quan(g) và dĩ đại. Chính xác. Còn ai trồng khoai đất này. Vì đảng 10 năm trồng cây nên 50 chục năm Tàu khựa trồng rừng. Vì đảng 100 năm trồng người nên ả xinh đẹp ngồi tênh hênh giữa phố tưới hoa, nên tuổi trẻ mang dòng máu man rợ và trái tim vô cảm. Nên xe leo vỉa hè. Bao tiền vào túi công an. Nữ sinh vào tay hiệu trưởng. Biển Đông mặn xì dầu và đỏ máu ngư dân. Ải Nam Quan sặc mùi giò cháo quảy. TV tưng bừng phim dài đại hán. Siêu sao nước mắm mang họ Triệu, Châu, Chấn, Lâm, Nhật, Thiên, Đan. Bác Mao chui vào phòng nhân dân ba ngày tết mừng đảng trước mừng xuân sau. Bởi do đảng 21 năm trị vì một nửa chữ S phía trên dòng sông Bến Hải, 35 năm cai trị toàn bộ cái đòn gánh nên đất nước mới cong quằn, dân Việt đóng lại vở tuồng truyền thuyết Lạc Âu – 3 triệu đứa con lao đầu ra biển, mấy chục triệu ở lại với rừng hoang.
Thế chúng ta chụp ngay cái hình dơ dáy, vớ ngay cái youtube khốn nạn, vác ngay cái bài báo rác rưởi… viết thêm lời bình dài ba bốn trang hoành tráng nhưng tóm gọn chỉ cần một câu: tất cả đều do cái đảng chết tiệt này mà ra. Và chúng ta tiếp tục phất ngọn cờ chính nghĩa: phải tố cáo tội ác của đám độc quyền cai trị này. Chúng ta đã và đang làm chuyện cần làm. Im lặng là đồng lõa với tội ác. Không vạch trần, không nhắc nhở cho nhau, lâu ngày ở riết gần đống rác sẽ quen mùi. Vậy mà đã mấy chục năm – cái chuyện cần thiết đó.
Và…
Thế là đảng đổ thừa. Tất cả đều do tàn dư của cuộc chiến đã sau 35 mùa lá rụng. Tất cả là vì diễn tiến hòa bình của thằng đế-quốc-không-có-nó-thì-nghèo-mạt-rệp. Tất cả cũng bởi bè lũ phản động, gián điệp, khủng bố, tay sai – ngày xưa là đám tàn dư ngụy quyền chạy ra nước ngoài, ngày nay là đám vô ơn được bác và đảng nuôi nấng từ cái nôi màu đỏ. Còn đảng ta? Sai trái? Có sai trái nhưng chỉ là hiện tượng. TW đúng nhưng già khụ nên trên bảo dưới không nghe. Cũng yêu nước thương nòi nhưng phu nhân già, công nương trẻ yêu hột xoàn 5 cara, quý tử mê chiếc Phantom và thân già Trường Sơn đã lỡ nghiện những con số không ngoằn nghèo trong chương mục Thụy Sĩ.
Thế là đảng ta đem bác ra sơn phết lại thành tư tưởng Hồ Chí Minh làm bùa thiêng điều khiển âm binh, đem 16 chữ vàng ra rao giảng nghĩa bầy tôi, đem điều bảy tám chín ra còng đầu thiên hạ. Đa nguyên: tù. Dân chủ: tù. Tân hiến pháp: tù. Phóng sự tham nhũng: tù. Can du-đãng-đệ-tử-công-an đánh chồng: tù. Biểu tình chống Tàu khựa ngoài đường: tù. Chui vào nhà toạ kháng tại gia: cũng tù. Yêu nước không yêu đảng: tù luôn. Đứng đái ngoài đường, nắm tóc đạp đầu phụ nữ, mua dâm nữ sinh, công an vòi tiền, tổng bí thư, tổng giám đốc, tổng trên tổng dưới lượm phong bì trên bàn dưới ghế: vờ. Đã nói, hơn ba năm nay đồng chí thủ tướng từ bi bác ái chưa kỷ luật một ai.[10]
Trên mảnh đất gần 90 triệu người, chủ đất nước có, đầy tớ nhân dân có, cùng nhau xả rác và đổ thừa. Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam xem chừng đổi thành Đổ thừa Xã hội Đổ rác Việt Nam chắc hẳn hợp tình hợp cảnh hơn.
III.
Nhất định rằng đảng cầm quyền phải chịu trách nhiệm trước những vấn nạn của đất nước. Chính họ cướp lấy quyền độc tôn lãnh đạo, độc quyền bám chặt mái chèo con thuyền dân tộc. Nhất định rằng từ các anh – những người tháng tám, các anh đâu rồi thấm mệt rồi chăng[11] cho đến những cựu, nguyên, cố đồng chí lúc nắm quyền hung hăng, về vườn lên tiếng sửa sai cho đẹp lòng lịch sử cũng phải cúi đầu nhận lỗi trước tổ tiên. Nhưng 90 triệu công dân Việt Nam cũng phải chịu trách nhiệm với lịch sử, với danh dự của dân tộc, và với thế hệ mai sau về những núi rác này. Khi du khách nước ngoài chụp bức ảnh người phụ nữ Việt Nam làm chuyện vệ sinh giữa phố thị; khi hành khách, nhân viên phi trường Thái Lan thấy chúng ta cắt hàng; khi người tiếp viên Singapore nghe chúng ta oang oang trên máy bay như giữa chợ trời; khi gã dắt mối Nam Vang rao hàng với những tên Mỹ trắng – gái đây gái đây người Việt xinh đẹp; khi những lão già người Đài kháo nhau muốn lấy vợ và có luôn người ở thì xách một cô gái Việt về nhà; khi những tên chủ Khựa bảo nhau muốn có nô lệ rẻ tiền thì gọi đám môi giới Việt Nam; khi những tên Tây ba lô muốn thỏa mãn thú tính bằng những đứa bé cả gái lẫn trai 9, 10 tuổi thì rủ nhau đến làng Việt Nam Svay Pak… thì chẳng ai lôi đảng cầm quyền ra để mà quy tội đó là nguồn gốc của những điều xấu xa hay tủi nhục. Họ chỉ nhìn thấy trước mắt: những con người Việt Nam.
Nhất định rằng vận mạng của hơn 80 triệu dân không thể tiếp tục bị định đoạt bằng một nhúm người trong căn phòng đóng cửa. Nhất định rằng độc tài phải ra đi và ngọn cờ dân chủ phải được giương cao. Mấy mươi năm qua, phong trào dân chủ dưới chế độ toàn trị đã trải qua muôn ngàn thử thách để sống còn và từng bước vươn lên. Có những người đã nằm xuống. Có nhiều người đã đánh đổi tự do bằng ngục tù để làm những viên gạch lót đường. Nhưng đích đến dân chủ giống như đỉnh núi cao, chỉ một số người có đủ nhiệt huyết, can đảm để dấn thân từng bước leo lên. Còn lại đa phần vẫn đứng bên lề, buông xuôi, hay đồng tình trong yên lặng hoặc góp đôi lời cổ vũ. Đối với nhiều người, sự bưng bít thông tin và miếng cơm manh áo hàng ngày đã là lớp sương mù, mây xám che kín mặt trời dân chủ. Họ không biết, nên không cần, nên chẳng quan tâm. Các lý do đó cộng thêm nhiều lý do khác mà ngày hôm nay chúng ta có những anh hùng, anh thư, những nhà dân chủ đấu tranh kiên cường; nhưng những người con yêu của tổ quốc này không có đám đông quần chúng.
Thế nên câu hỏi đặt ra: ngọn cờ dân chủ có phải là ngọn cờ duy nhất?
Dân chủ là đích đến rốt ráo nhất để mọi người dân Việt có thể phát huy vai trò quyết định vận mạng chung của đất nước. Sớm hay muộn, ngày đó phải tới vì đấy là quy luật tất yếu của lịch sử. Nhưng vào giai đoạn đổi đời đó, dân chủ có thể sống còn và bền vững trong bối cảnh một xã hội đã bị phá sản đủ mọi mặt? Nếu vẫn còn nguyên thói quen “xả rác”, tâm lý thờ ơ, vẫn sống mackeno, và “chuyện chính trị tớ không quan tâm” thì: lấy gì để tin chắc rằng chính phủ mới sẽ giải quyết được hỗn loạn xã hội của buổi giao thời? lấy gì để đảm bảo những lãnh đạo dân chủ này tiếp tục giữ lòng trong sáng và không tự tung tự tác khi quyền lực đã ở trong tay và người dân lại tiếp tục phó thác, bỏ mặc? lấy gì để đảm bảo nền chính trị không trở lại lối mòn độc tài, dù cánh cửa đa nguyên vừa được hé mở?
Có được một môi trường dân chủ đa nguyên mới chỉ là điều kiện cần. Có một cộng đồng dân tộc ý thức trách nhiệm công dân và tham gia vào sinh hoạt dân chủ mới là điều kiện đủ. Không thể chờ đến khi có dân chủ đa nguyên mới bắt đầu những nỗ lực cầm máu tổ quốc đang mỗi ngày mỗi chảy. Khó mà xây dựng lại đất nước khi mà dân phong và dân khí đã quá kiệt quệ. Cùng lúc, phong trào dân chủ khó để vươn vai Phù Đổng nếu không có quần chúng tham gia và nếu thành công thì cũng không bảo đảm được sự thăng hoa của dân tộc với tình trạng đất nước mỗi ngày một tồi tệ thêm.
Vì thế bên cạnh ngọn cờ dân chủ làm tiên phong, đất nước chúng ta cần thêm những ngọn cờ song song cùng xung trận. Ngọn cờ dân sinh. Ngọn cờ xã hội. Ngọn cờ giáo dục. Ngọn cờ dân trí. Ngọn cờ văn hóa. Ngọn cờ môi sinh… Những ngọn cờ này sẽ mở ra cơ hội cho nhiều người đóng góp trong khả năng cá nhân, hoàn cảnh thực tế, quan niệm sống và mức độ dấn thân khác nhau của mỗi người. Đạt được đích đến dân chủ là một tiến trình đấu tranh chính trị, nhưng muốn có đông đảo quần chúng tham gia cần khởi đầu bởi những đòi hỏi phi chính trị. Sẽ dễ dàng hơn trong việc vận động người dân tham gia đấu tranh cho những khát vọng thực tế, sát sườn với khó khăn trong đời sống của họ. Một người mẹ sẵn sàng lao vào lửa cứu con. Một người cha sẵn sàng đối diện tù tội để đấu tranh nếu cả gia đình con cái nheo nhóc bị đuổi ra khỏi nhà. Nhưng cũng người cha người mẹ đó lại không sẵn sàng bước qua ranh giới giữa cam phận và vùng lên cho giấc mơ dân chủ xa vời, đôi khi xa lạ đối với họ.
Khởi đầu của những ngọn cờ này là từng bước xây dựng lại tinh thần nhận lãnh trách nhiệm và có trách nhiệm góp phần giải quyết những vấn nạn xã hội. Không trông mong vào đảng và nhà nước. Không chờ đợi thiện chí của những kẻ cầm quyền. Bắt đầu bằng sự vận động nhau lên tiếng nói. Tiếp nối là những nhóm người có cùng mục tiêu nhắm tới cho một lãnh vực nhỏ. Chưa cần chính thức lập hội. Chỉ cần có nhau. Đây cũng là những hạt mầm cần thiết để xây dựng nền tảng của một xã hội công dân.
Những ngọn cờ này cũng sẽ góp phần xây dựng sức mạnh cho phong trào dân chủ. Những người dân quê Hà Tĩnh ngày hôm nay cùng nhau kết đoàn, ôn hòa đòi hỏi cán bộ xã phải xây dựng những chòi nghỉ mát, sau khi đã bắt dân làng đóng tiền từ cả năm trước, sẽ quen dần để sẵn sàng tham gia vào những đòi hỏi cao hơn trong tương lai. Có người sẽ trở thành một lãnh đạo tài giỏi, giàu kinh nghiệm đấu tranh thực tế, và quan trọng hơn cả, có quần chúng bên cạnh cho phong trào dân chủ.
Chúng ta đang có ngọn cờ tranh đấu cho biển Đông, ngọn cờ môi sinh Bauxite, ngọn cờ bảo vệ rừng đầu nguồn. Nhiều tầng lớp, thành phần xã hội đang gia tăng nhập cuộc. Những thành quả đã bắt đầu thấy được. Chế độ đã có những nhượng bộ vì áp suất của phong trào. Trên mỗi ngọn cờ đều không thấy thêu chữ Dân chủ và in hình Tự do. Nhưng có ai nói rằng nó đã không góp phần gia tăng sức mạnh quần chúng, không tiếp hơi và góp phần đẩy mạnh tiến trình dân chủ hóa Việt Nam?
Cuộc cách mạng của người Việt Nam ngày hôm nay không còn đơn thuần là một cuộc cách mạng dân chủ. Điều đó đang được chứng minh bằng thực tế. Nó cũng không nên là một cuộc cách mạng hai giai đoạn – giải quyết độc tài rồi mới xây dựng lại từ đầu. Chúng ta cần một cuộc cách mạng phục hưng, toàn dân và toàn diện.
IV.
Sau khi ra tù, Ls Lê Thị Công Nhân đã khóc và nói, “Người Việt Nam mình có 90 triệu người, 87 ở trong nước và khoảng 3 triệu ở nước ngoài. Tôi chỉ là một phần trong 90 triệu người đó mà thôi. Tôi không bao giờ hoang tưởng hay kiêu ngạo về bản thân mình và tôi nghĩ là với những gì mà tôi đã làm thì có lẽ hơn cả những gì mà cá nhân tôi trong tỉ lệ dân số có thể làm được. Đó là quá sức của tôi rồi. Nhưng chắc chắn là tôi sẽ không từ bỏ…”
Chúng ta khâm phục và yêu mến Lê Thị Công Nhân. Tinh thần dấn thân, trái tim dũng cảm và lòng thủy chung với lý tưởng của chị là một tấm gương sáng ngời.
Chúng ta không hoang tưởng sẽ có nghìn người sẽ giống như Lê Thị Công Nhân. Nhưng chúng ta có thể nuôi hy vọng rằng mỗi con người Việt Nam quan tâm đến vận mạng của đất nước sẽ bắt đầu cúi xuống nhặt những cọng rác đang vương vãi chung quanh.

Đất nước tôi cần
triệu người tầm thường
nhập cuộc phi thường
hơn là một minh quân,
triệu khán-giả-quan-toà[12]

[1] Nạn đổ rác lén trên đường phố Hà Nội, http://www.rfa.org/vietnamese/in_dep...010200557.html
[2] Ở nơi có giấc mơ chèm nhẹp, thơ Trần Tiến Dũng, http://www1.voanews.com/vietnamese/b...-87261592.html
[4] Youtube – Quai nu danh ban da man, http://www.youtube.com/watch?v=_AeIU...layer_embedded
[6] Hiệu trưởng mua dâm nữ sinh: ‘Tôi bị bất lực’, http://vnexpress.net/GL/Phap-luat/2010/01/3BA18429/
[7] Chủ tịch tỉnh Hà Giang mua dâm nữ sinh do hiệu trưởng môi giới, http://clbnhabaotudo.multiply.com/journal/item/908/908
[8] Hoa sữa – thơ Bùi Chát
[9] Bài thơ một vần – thơ Bùi Chát
[10] Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: “Hơn 3 năm nay, tôi chưa kỷ luật ai”, http://www.tuoitre.com.vn/tianyon/In...ticleID=348716
[11] Bài thơ tháng tám – thơ Bùi Minh Quốc, http://www.thica.net/2008/12/06/bai-th%C6%A1-thang-tam/[12] Bình thường đất nước tôi – thơ VĐH, http://vudongha.wordpress.com/2009/0...E1%BB%9Bc-toi/