30/6/10

Học tiến sĩ ở Việt Nam

Bài dưới đây tôi sưu tầm từ một website có tên ngồ ngộ là “Thanh niên xa mẹ”. Tác giả mô tả quá trình “làm” tiến sĩ ở VN. Xin nói trước, bài viết có nhiều đoạn rất gay gắt, bạn đọc nào không chịu nổi thì … ráng chịu nhé.

Tôi không hiểu nổi tại sao người ta (ai đó?) lại ra những qui định rất máy móc và phản khoa học như thế này. Chẳng hạn như tại sao tên đề cương nghiên cứu không được thay đổi, tại sao những cái nhỏ nhặt như tên đề cương phải có động từ, hay tại sao nghiên cứu sinh phải chi tiền túi ra để chăm sóc buổi lễ “phản biện” mà ai cũng biết là chẳng có phản biện, v.v… Đọc qua những qui định ở trong nước thì bất cứ ai đang học tiến sĩ ở nước ngoài ắt hẳn thấy mình may mắn biết bao.

Tuy qui định máy móc như thế, nhưng đầu ra thì ... khó nói quá. Người viết bài này đã đọc qua nhiều luận án TS ở trong nước (chỉ trong ngành y thôi) thì thấy chưa xứng tầm với một luận án tiến sĩ theo chuẩn mực ở ngoài này. Chẳng hạn như mỗi thí sinh chỉ làm một nghiên cứu, mà nghiên cứu cũng rất sơ sài, rất đơn giản và không có gì mang tính "original". Đó là chưa nói đến vấn đề y đức. Hầu hết đều không có công bố quốc tế. Còn phần tổng quan tài liệu thì cũng rất thiếu thốn, không đầy đủ, nó chứng tỏ ứng viên thiếu thông tin. Phần phân tích thì ôi thôi mỗi người một phách chẳng đâu vào đâu. Phần trình bày kết quả cũng chỉ dừng lại ở mức độ mô tả là chính vì các phân tích mang tính suy luận đều có vấn đề về phương pháp. Muốn sửa những khiếm khuyết này không khó, vì chỉ cần tham khảo cách làm của các đại học trên thế giới là sẽ có một qui định tốt cho VN. Nhưng vấn đề là của hệ thống: muốn sửa thì phải sửa từ hệ thống, và phải bắt đầu từ những người đề ra những qui định này.

NVT

===

http://tathy.com/thanglong/showpost.php?p=638774&postcount=125

Làm tiến sĩ ở Việt Nam như thế nào?

Số tiền 80tr kia là chi phí chứ không phải là để trả cho giáo viên hướng dẫn (mặc dù đúng là giáo viên hướng dẫn chỉ được thù lao 2tr/năm).

Việc làm TS ở Vn cực kỳ nhiêu khê, phản khoa học, và phản động (theo nghĩa chổng mông vào tất cả các quy chuẩn tiên tiến của thế giới). Làm TS ở VN cực kỳ dễ mà cũng cực kỳ khó. Cực kỳ dễ là cực kỳ dễ về mặt chuyên môn khoa học, cực kỳ khó là về các thủ tục hành chính rườm rà và vô lý đến độ gây ức chế cho cả thầy và trò. Người làm NCS trong nước mà làm nghiêm túc có 2-3 bài quốc tế (tức là định lượng tương đương với một PhD ở đại học tiên tiến của thế giới) thì bản thân mình thấy rất rất đáng kính phục (mình cho là cực giỏi), vì ngoài những cái ức chế trên còn phải đủ mọi khó khăn về cơ sở vật chất (sách, báo không có, không có tiền dự hội nghị quốc tế), cuộc sống (vừa phải làm vừa phải lo kiếm tiền để sống và trả chi phí cho việc làm PhD của mình), và quan trọng nhất là quỹ thời gian thường rất eo hẹp (chắc chỉ độ bằng 1/4-1/5 các bạn xa mẹ), may mà gặp thầy ngon (rất hiếm) thì còn có cái thực chất không thì đa phần kết thúc là "tiến sỹ tắm giặt".

Ở VN người ta tự đặt ra các chuẩn, các quy định hành chính để lấy sự rườm rà, phức tạp của nó thay cho các quy chuẩn về khoa học và chuyên môn. Hãy lấy quá trình làm TS ở VN để thấy điều này (và qua đó sẽ lý giải cái 80tr kia).

Đầu vào:

- NCS phải đảm bảo điều kiện tối thiểu gồm có: Thi chuyên ngành, thi ngoại ngữ -> Tiền (tiền đóng phí và tiền tiêu cực phí cho nhiều anh nhất là ngoại ngữ).

- NCS phải có ít nhất 1-2 bài báo chuyên ngành đã đăng về lĩnh vực nghiên cứu của mình. Cái này hết sức thừa thãi và hình thức vì NCS thi vào làm PhD là học làm nghiên cứu khoa học chứ không phải đã là giỏi, Standford cũng không đòi hỏi tiêu chuẩn cứng như vậy. Vậy là nhiều NCS phải lo cho đủ tiêu chuẩn cứng này, thôi thì các loài bài báo trên các tạp chí củ chuối ra đời cho đủ điều kiện và thường là kèm với phí (phí cho các báo này để đăng cho nhanh cho kịp kỳ thi NCS)

- Sau khi phải đạt các tiêu chuẩn cứng trên rồi (thường là đỗ vì nói vậy chứ chỉ tiêu của bộ cho số TS hàng năm nhiều trường không có đủ học viên thi vào đâu, chắc tại chỉ tiêu 20ngàn nên mưa chỉ tiêu hàng năm về các trường), học viên phải bảo vệ research proposal. Cái này thì cũng bình thường đối với các đại học tiên tiến trên thế giới NCS nào cũng phải submit research proposal lúc đầu vào cả. Nhưng cái đặc trưng rất VN của RP của NCS trong nước là:

- Có tên chết cứng, nghĩa là lúc mới thi tên thế nào thì 3-4 năm sau bảo vệ tên luận văn cũng phải thế ấy. Việc thay đổi cực kỳ khó khăn và rườm rà về mặt hành chính. Do đó thường ở VN thầy và trò phải đối phó bằng cách đặt tên luận văn cực kỳ "mênh mông biển rộng" (Ví dụ: "Mạng Neural Mờ", "Tâm Lý Tắm Giặt Tập Thể" ....).

- Yêu cầu NCS phải đưa cả dự kiến nội dung luận văn (chi tiết đến từng đề mục trong từng chương). Một quy định ngu xuẩn và phi lý như vậy mà biết bao người đã góp ý mà bộ GD vẫn cứ trơ lấc (có lẽ là vì toàn những người mặt dầy và não trang như anh Phúc phát biểu "bằng giả" ở phía trên).

Làm luận văn và bảo vệ

Quá trình làm luận văn của NCS thì vô cùng gian nan vất vả, vừa phải lo chuyện gia đình, cơ quan, xã hội (khóc, cười, văn nghệ quần chúng, họp, học chính trị etc) vừa phải lo về kinh tế (để nuôi bản thân, gia đình, vừa để đóng cho những khoản này, khoản nọ trong quá trình làm NCS). Cơ sở vật chất thì thiếu thốn, sách báo không có, kinh phí cho nghiên cứu khoa học không có, NCS phải tự bỏ tiền túi ra hết . Những nghiên cứu nào phải làm thí nghiệm tốn kém thì tiền tấn (đối với mức sống ở VN). Không chỉ thế ở VN thiếu thầy giỏi làm khoa học thực sự nghiêm túc ở tầm quốc tế, môi trường làm nghiên cứu khoa học, học thuật nghiêm túc gần như trống vắng (không seminar, không nhóm nghiên cứu, không hội nghị, hội thảo etc). Thậm chí NCS có khi cả năm mới chỉ gặp thầy 1 hướng dẫn 1 lần, vào nơi đào tạo còn bị lạc etc là những "chuyện thường ngày ở huyện".

Sau khi hoàn thành xong luận văn, NCS bước vào một ma trận bảo vệ làm tốn kém rất nhiều thời gian và tiền bạc. Để bảo vệ NCS phải trình luận văn (với nhiều tiêu chuẩn hay hay như luận văn phải có ít nhất 120 tài liệu tham khảo etc, số bài báo - phải in ra và có chứng nhận của các đồng tác giả), in ấn rất nhiều bản (tự bỏ tiền túi ra nhé). NCS phải bảo vệ hai lần trước hai hội đồng. Đầu tiên NCS phải bảo vệ tại hội đồng cơ sở, trình bày luận văn sau đó các thành viên đánh giá và góp ý sửa đổi. Nghe thì hợp lý, nhưng có chứng kiến các hội đồng kiểu này mới thấy hài, thậm chí ngay giữa hội đồng bảo vệ TS nọ, vị chủ tịch hội đồng còn hồn nhiên phát biểu là vị ấy chẳng biết tý quái gì về lĩnh vực nghiên cứu của NCS. Việc chọn hội đồng đa phần là theo cạ và bằng cấp, phẩm hàm (mà rất nhiều là rởm) thuần túy. Cũng nên nói, tiền bồi dưỡng các thành viên hội đồng, chủ tịch hội đồng, thư ký hội đồng (hai ông này mức cao hơn thành viên), thậm chí cả người ngồi nghe (thường là 100K/người; đâm ra bản thân mình thích đi ngồi dự nghe mấy cái này lắm), tiền thuê địa điểm (dù vẫn là phòng ốc của cơ sở đào tạo), tiền hoa, tiền hoa quả, trà thuốc, etc đều tự NCS phải bỏ tiền túi ra trả. Có những quy định bán chính thức của bộ về các mức tiền bồi dưỡng này chứ không phải là tiêu cực nhé (xin không đưa con số ra đây vì nó chỉ là quy định về số tối thiểu, NCS nào mà chỉ có bám vào đưa số tối thiểu thì kẹo quá, còn hơn thì nó rất ... vô cùng).

Sau khi bảo vệ xong hội đồng cơ sở thì thí sinh phải đợi ít nhất 6 tháng (thường là 1 năm) để hoàn thiện luận văn và chờ bảo vệ hội đồng quốc gia. Luận văn được phản biện kín (trên hình thức thì là thế), NCS còn phải tự bỏ tiền ra đăng tin trên đài báo có tầm vực quốc gia về việc bảo vệ (ngày, giờ, địa điểm) của mình, phải in 20 bản tóm tắt luận văn phát đi khắp nơi trong nước đến các chuyên gia và phải có ít nhất 12 phản hồi (đây là thứ rất hình thức và rắm rối, nhận xét luận văn 200 trang chỉ qua việc đọc tóm tắt 20 trang). Ngày bảo vệ đến lại các thủ tục, tiền nong như buổi bảo vệ hội đồng cơ sở (quên còn cả mục mời các thầy hội đồng liên hoan sau buổi bảo vệ cũng phải bỏ tiền túi ra nhé). Trong khi bảo vệ cũng nhiều tình huống cười ra nước mắt, những chuyện như GS Cao Xuân Hạo từng kể (cho một ông bảo vệ luận văn TS Ngữ văn 3 điểm vì như lời GS là:"Đọc luận văn anh này tôi khẳng định anh này chưa học hết lớp 3", nhưng đến hội đồng quốc gia thì người ta loại những ủy viên có nhận xét bất lợi và cài cắm cạ vào để TS trên có được 7 điểm và đạt TS). Và rồi mưa nhận xét đánh giá xuất sắc, xuất sắc, hoặc chí ít cũng là đạt. Thường thì phần bất ngờ nhất của buổi bảo vệ hội đồng cấp nhà nước chỉ là phần sau bảo vệ (ăn gì ở nhà hàng nào), chứ còn đa phần các hội đồng này mang tính hình thức sau khi thầy và trò đã lo chu đáo mọi chuyện (nếu để xảy ra tranh luận nảy lửa bất đồng sâu sắc tại buổi bảo vệ thì NCS nên trách thầy hướng dẫn không lo cho chu đáo, trách mình kẹo). Và tất nhiên hoa, lời chúc, ... chẳng mấy chốc số 20ngàn TS của anh Nhân đặt ra trở thành một con số khiêm tốn đến thảm hại.

Tổng kết thiệt hại thì thế này: Nếu NCS không được nhà nước trả tiền cho (nếu được thì nhà nước chỉ trả mức tối thiểu còn phụ trội NCS từ bỏ tiền túi) thì số tiền phải bỏ từ túi ra sẽ phụ thuộc vào từng ngành nhưng không thể dưới 50tr (ngành nào phải tốn kém chuyện làm thí nghiệm etc thì còn cao hơn), đó là không kể "tiêu cực phí", chỉ làm đúng các quy định vô cùng cứng nhắc và cũng vô cùng mềm dẻo của bộ. Nếu có tiêu cực phí thì con số này là ... vô cùng, không xác định chính xác được.

Nguyên nhân? Để lúc khác có thời gian, nhưng một trong những nguyên nhân chính là ta đa phải hứng chịu hậu quả của một thế hệ các "trí thức hữu nghị XHCN Liên Xô và Đông Âu", những người đang có quyền (hay tự cho là có quyền) ra các quy định và quyết định về đào tạo và nghiên cứu khoa học ở VN.

28/6/10

Cả ngàn hecta rừng lọt ngoài báo cáo

 Bùi Liêm – Đức Bình
Đăng bởi bvnpost3 on 23/06/2010

http://images.vietnamnet.vn/dataimages/200606/original/images1009719_a2.jpg
TT – Chiều 18-6, trao đổi với Tuổi trẻ về thông tin tỉnh Bình Phước cho thuê gần 1.000ha đất rừng không có trong báo cáo của Bộ NN&PTNT, ông Nguyễn Ngọc Bình – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) – cho biết cơ quan này không hề nhận được báo cáo nào của Bình Phước về việc cho một doanh nghiệp nước ngoài thuê rừng.Tuy nhiên, ông Bình cũng thừa nhận trong quá trình rà soát, qua kênh thông tin của ngành thì Tổng cục Lâm nghiệp cũng biết Bình Phước có thực hiện liên doanh liên kết với một doanh nghiệp nước ngoài để trồng thử nghiệm mấy trăm hecta giống xoan chịu hạn.
Theo ông Bình, Bộ NN&PTNT cũng như ngành nông nghiệp ở địa phương không hề quản lý, cấp phép cho các doanh nghiệp nước ngoài thuê rừng mà việc này do địa phương quyết định.
Trong khi đó, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát cho biết theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, hiện Bộ Kế hoạch – Đầu tư (chủ trì) phối hợp cùng Bộ Tài nguyên – Môi trường, Bộ NN&PTNT rà soát việc cho thuê đất rừng ở các địa phương trên toàn quốc. Dự kiến trong tuần tới, việc rà soát mới cho kết quả.
Nguồn tin từ Sở NN&PTNT tỉnh Bình Phước cho hay tỉnh này đã cho Công ty Vina Phygen (Đài Loan) thuê 966ha đất lâm nghiệp để trồng rừng. Toàn bộ diện tích 966ha đất thuê thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Đồng Nai, tiểu khu 199, 2005 (xã Đồng Nai, huyện Bù Đăng). Mục đích trồng cây xoan lấy gỗ, dầu, làm nguyên liệu sản xuất thuốc bảo vệ thực vật.
Ngay sau khi giao đất, công ty đã tiến hành trồng phủ kín diện tích đất thuê, đến nay đã ba năm tuổi. Theo một lãnh đạo Sở NN&PTNT tỉnh Bình Phước, việc chọn Công ty Vina Phygen để giao đất do đơn vị này đủ năng lực, xoan là loại cây mới phù hợp với phát triển quy hoạch rừng của tỉnh.
BL – ĐB
Nguồn: http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/Khoa-hoc-moi-truong/385135/Ca-ngan-hecta-rung-lot-ngoai-bao-cao.html

1/6/10

Bí ẩn "thành phố ngầm" NewYork:

Kỳ 1: Vương quốc của 'người chuột“

Steve Duncan
tka23 post
,
Steve Duncan dẫn chúng tôi khám phá "vương quốc bí ẩn" nằm dưới những con phố ở Manhattan. Anh tự đặt cho mình biệt hiệu là "nhà sử học du kích".
Lạ hơn lên mặt trăng
"Khốn nạn rồi" - Steve buột miệng khi chúng tôi bị một xe tuần tra chặn lại. Hai viên cảnh sát nhìn chúng tôi chằm chằm đầy ngờ vực. Tôi và Steve nhìn lại ngây ngô, như thể việc đang đêm hôm mưa gió có hai người cầm đèn pin, đeo balô mang theo xẻng và dây thừng làm một cuộc du ngoạn trong công viên
 
Riverside ở New York là một việc bình thường nhất thế gian.

"Nhà sử học du kích" Steve Duncan
Du ngoạn ư? Thế thì nói hơi giảm đi. Hai chúng tôi bò lổm ngổm qua các bụi cây, chui qua một rừng dương xỉ, cho tới khi đụng phải một hàng rào.
Tôi và Steve trèo qua hàng rào ấy, rồi chui xuống đường ray ngầm phía dưới. "Nhanh lên! Không họ phát  giác  bây giờ!“ - Steve giục.
Nhưng thực ra, hai viên cảnh sát không đi theo chúng tôi nữa. Hai thằng chạy khom lưng trong đường hầm rồi đến nấp sau một tấm tôn chờ đoàn tàu đang đến.
Steve không tìm kiếm sự phiêu lưu ở những nơi xa xôi, mà ở ngay trong thế giới bí ẩn dưới lòng thành phố của anh. Anh bảo, chúng ta đang sống trong một thế giới nhàm chán, mọi đất nước đều đã được khám phá, các ngọn núi đều đã bị chinh phục, các đại dương đều đã bị vượt qua.
"Phải còn gì đó cho chúng ta chứ?“ - anh nói rồi chỉ tay về phía lối đi bí mật dẫn vào "vương quốc ngầm" dưới lòng New York hoa lệ. "Chúng ta có thể đi dạo qua một nửa Manhattan bằng đường hầm này“ - anh khoe.
Đó là một thế giới mà cư dân phía trên không hay biết gì về nó. Còn lạ lẫm hơn một chuyến đi trên mặt trăng.
"Kho báu" dưới lòng đất
 
New York nằm trên một lớp phún thạch 500 triệu năm tuổi. Từ thế kỉ 17, lớp đá này đã bị khoan xuyên, đục thủng, đào bới. Nhưng đa số người New York không hề biết gì về điều đó, về thế giới dưới chân họ. Nhiều đoạn trong tổng số hơn 1.000 km đường hầm có thể đi lại được đã bị bỏ quên từ nhiều thế kỷ nay.

Từ hơn một năm nay, người vô gia cư này đã sống trong một đoạn đường tàu điện ngầm dưới lòng phố 39 phía Tây Manhattan
Họ cũng không hề biết đến sự tồn tại của 750.000 hố ngầm, mà lượng dây điện xếp trong đó nếu nối lại có thể kéo dài đến... mặt trời.
Hệ thống ngầm phân nhánh chằng chịt và đan  nhau dưới lòng New York chính là chốn khám phá bất tận của "nhà nghiên cứu lòng đất" Steve Duncan. 
   Chúng tôi trèo xuống một cái cống ngầm tối thăm thẳm, như bao cái khác. Một nơi khuấy động nỗi sợ. Ở đây, không bắt được tín hiệu di động, do đó trở thành nơi cánh gà của các loại "sân khấu tội ác": Các tên giết người hàng loạt và đám thần kinh biến thái trốn ở đâu, nếu không phải nơi này? Sẽ chẳng ai nghe thấy tiếng hét của chúng tôi cả. Ngoài kia, tiếng còi xe cảnh sát văng vẳng len lỏi qua các khe thoát nước.
Chúng tôi bước qua những chiếc giầy lẻ, những miếng da lộn, chăn, ví rỗng. Mùi nước tiểu khăm khẳm khắp nơi.
Rồi dưới ánh đèn pin, các tác phẩm graffiti đầy nghệ thuật hiện ra. Những người vẽ tranh đã chui xuống đường hầm này và trang trí cho những bức tường, mặc dù họ biết rằng các tác phẩm này có lẽ sẽ chẳng có lấy một khán giả.
Từ trong những chiếc tàu điện ngầm đang chạy với tốc độ cao,  sẽ không ai nhìn thấy những bức tường đầy màu sắc, nhưng nằm trong bóng tối này. Chúng giống như là kho báu trong các hầm mộ kim tự tháp.
Sống trong hầm hàng năm trời
Đột nhiên, ngay giữa đường hầm, chúng tôi bắt gặp... một người đi xe đạp. Một người da đen, khoảng 40 tuổi, với đôi mắt sưng mọng, một trong những "người chuột" huyền thoại. Anh ta tỏ ra sợ hãi, y như chúng tôi.
"Chúng mày muốn gì ở đây?“ - anh ta gào lên hung tợn.
"Chúng tôi khám phá đường hầm“ - chúng tôi đáp, và thêm: "Chúng tôi không phải cớm đâu, đừng sợ“.

Bẫy chuột đặt trên đệm ngủ 
Tôi mời anh một điếu thuốc. "Tôi tên là Chuck“ - anh ta nói ngắn gọn. Chuck run rẩy. Sự run rẩy thường thấy của dân nghiện cocain. Chuck làm nghề thu lượm vỏ lon lấy tiền. Số vỏ anh ta có trong bao tải tính ra khoảng 3 đôla, đủ cho một liều crack. Không có đủ tiền thuê nhà, thế nên từ bốn năm nay, hai vợ chồng Chuck sống trong đường hầm.
Chuck chỉ cho tôi căn nhà của anh. Trong một khoang thụt vào của đường hầm, anh dùng bìa carton quây lại thành một cái hang nhỏ. Mấy cái chăn bụi bặm, kem Nivea, dầu gội đầu, nến, một cái túi giữ lạnh với một ít đồ ăn. Đó là tài sản của anh.

Trên đệm đặt một cái bẫy chuột.
"Cậu mà không chú ý là chúng ăn thịt cậu ngay“ - Chuck giải thích.
"Thỏ đường hầm“ là tên anh gọi lũ chuột cống ở đây. Và có những con có lẽ to bằng con chó.
"Thuộc địa" dưới lòng đất của dân vô gia cư
  Đoạn hầm mà Chuck ở đã có hơn 20 năm không được sử dụng. Tới năm 1991, khi Công ty tàu điện tư nhân Amtrak tiếp tục khai thác đoạn hầm trở lại, họ khám phá 150 người vô gia cư “định cư” dưới lòng thành phố, xây lều, cắt trộm dây điện và đường ống nước. Một thành phố trong bóng tối vĩnh cửu dưới lòng những đại lộ rực rỡ ánh đèn. Năm ấy, các công nhân xây dựng đã dùng máy ủi dẹp hết tất cả.
Nhưng rồi, những “người chuột” lại quay trở lại chốn cũ, tuy có dè dặt hơn trước. Họ lẩn trốn sâu hơn trong "thành phố ngầm". Dấu vết của họ biến mất như ánh sáng nơi đây. Chỉ có Steve thỉnh thoảng mới gặp lại họ, trong những khúc ruột thành phố.
Không ai biết được chính xác có bao nhiêu người đang sống dưới lòng New York.
Số liệu thống kê duy nhất tôi có trong tay cũng đủ gây ngạc nhiên:
từ năm 1990, có tất cả 350 người chết trong đường ngầm, không tính số người tự tử. Họ bị giết, chết vì sốc thuốc hay bị tàu điện ngầm chẹt phải. Một số bị chuột ăn thịt.
Tuần trước, Chuck phát giác một xác chết trên cây ở nơi đường hầm thông với mặt đất. Một người treo cổ, vẫn đeo kính râm. Chuck chạy tới báo cảnh sát. Họ không tin anh. Ngày hôm sau anh lại tới báo lần nữa. Họ vẫn đuổi anh về. Rồi một hôm nào đó, có mấy viên cảnh sát đến và dọn xác chết đi. Một xác chết như thế ở lối ra vào làm Chuck rất khó chịu. 
click vào đây xem hình tài liệu
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Kỳ 2: Những bí mật của "thành phố ngầm"

Chúng tôi chạy đến đoạn cua, kể từ đây tàu điện không hoạt động nữa. Đột nhiên là bóng tối thăm thẳm. Steve đã có lần kể cho tôi nghe rằng kẻ sát nhân hàng loạt David Berkowitz từng lang thang trong con kênh dẫn nước Croton, sau khi hắn cướp đi mạng sống của 6 con người.
Phòng thí nghiệm hạt nhân


Thành phố ngầm với cư dân của nó chỉ là một trong vô vàn những phát hiện của Steve trong những năm tháng khám phá lòng đất New York.
Steve từng học khoa lịch sử tại Đại học Columbia. Trong một bài giảng, anh được nghe kể về “Dự án Manhattan”. Đó là tên ngụy trang cho một kế hoạch của người Mỹ trong chiến tranh thế giới thứ hai. Dưới sự chỉ huy của Robert Oppenheimer, họ nghiên cứu phát triển bom hạt nhân trong lòng đất. Nhà vật lý hạt nhân người Ý Enrico Frmi đã cho chế tạo một máy gia tốc phân tử trong căn hầm của trường đại học. Chính xác là ngay dưới giảng đường mà Steve ngồi.
Steve bắt đầu nghiên cứu lòng New York từ đó. Về sau, anh khám phá ra các bí mật lịch sử, như là một phần căn hầm trước đây vốn thuộc về một trại tâm thần. Đại học Columbia sau này được xây dựng trên nền đất phía trên ấy. Một đêm, Steve đã lên lại mặt đất qua con đường đó.
Trong hầm trường đại học anh thường xuyên gặp phải những cánh cửa bị cài khóa. Hỏi làm cách nào anh mở được thì chàng trai tóc vàng 28 tuổi im lặng. Có điều, chắc chắn là anh ta đã vượt qua chúng và phát hiện ra một mạng lưới đường ngầm với các phòng bí mật. Trông như thể là các nhà khoa học đã vội vã bỏ lại phòng thí nghiệm và để lại rất nhiều thứ. Khắp nơi sót lại máy móc và tài liệu: các tập giấy phủ bụi, những chai oxi màu đỏ, những thùng màu vàng với kí hiệu “Nasa” và những máy móc kì lạ đều in dòng chữ “Extranuclear Lab” (Phòng thí nghiệm ngoài hạt nhân).
Biểu tượng lịch sử hoen gỉ
Và rồi sau đó, anh lần đầu nhìn thấy cỗ máy gia tốc phân tử, một hộp thép khổng lồ, gỉ sét, trông bề ngoài giống như phi thuyền của người ngoài trái đất hạ cánh xuống. Nhà sử học trẻ tuổi đã khám phá cỗ máy mà có lẽ người ta đã dùng để sản xuất quả bom nguyên tử đầu tiên của nước Mỹ.
Máy gia tốc phân tử dưới hầm trường Đại học Columbia
Để rồi sau đó, họ đã chế tạo thành công hai quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima và Nagasaki của nước Nhật. Một vật chứng lịch sử bí mật, đầy quan trọng, và bị lãng quên trong hoen gỉ. Một khám phá làm Steve ngạt thở.
Steve quả thực là một nhà “sử học du kích” như biệt hiệu anh đặt cho mình. Anh biến mất mỗi đêm trong những nơi bí mật khác nhau ở thành phố ngầm.
Anh đã từng đi qua con kênh ngầm 40 cây số dẫn nước từ Manhattan tới khu Bronx ở phía đông bắc New York. Ngày xưa, hệ thống này cung cấp nước cho cả thành phố.
Ngày nay con kênh là nơi sinh sống của bầy dơi đông hàng trăm con. Steve chèo xuồng cao su đưa tôi qua con sông ngầm đen ngòm xuyên qua lòng Manhattan. Trên đường đi, anh tìm thấy 4 bến tàu điện ngầm bỏ hoang. Anh leo lên đoạn ngầm ở đại lộ Atlantic, nơi khởi hành của một trong những chiếc tàu điện ngầm đầu tiên trên thế giới.
Anh bò đến đường ray số 61 của Grand Central Stadion, ga tàu điện trung tâm của New York. Chưa có một chuyến tàu công cộng nào dừng ở ga này. Chỉ duy nhất một chuyến cá nhân. Hành khách: Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt. Trong thế chiến thứ hai, ông đã đi từ đây vào một thang máy bí mật lên thẳng khách sạn “Waldorf Astoria”. Khoang thang máy vẫn còn đó. Steve từng trèo qua đó lên trên và ra ngoài qua cổng khách sạn.
Cá sấu trong kênh ngầm
Còn nhiều truyền thuyết khác nhưng Steve chưa chứng minh được. Ví dụ như chuyện có cá sấu sống trong những con kênh ngầm. Con bò sát khổng lồ cuối cùng của New York, dài 3 mét, được kéo ra khỏi một bể hứng nước mưa vào năm 1935 và bị đánh chết. Ông trưởng phòng môi trường New York thậm chí vẫn tin là còn cá sấu sống dưới lòng đất. Dù sao thì Steve vẫn luôn cẩn trọng.
Đoạn đường ray này chỉ dành cho một chuyến tàu duy nhất
Trong căn phòng anh ở Brooklyn treo một danh sách dài liệt kê những việc anh phải làm trước khi chết. Nó được lập cách ra đây 2 năm, khi bác sĩ thông báo anh bị bệnh ung thư xương và chỉ còn sống được vài tháng.
Kể từ đó Steve học được cách sống mỗi ngày, như thể ngày mai sẽ là ngày cuối cùng của đời mình. Và anh đã chiến thắng căn bệnh vốn vô phương cứu chữa.
Đó chính là một phần quan trọng trong triết lý sống của anh: người ta không chỉ có thể tìm kiếm cái mới ở khắp mọi nơi, mà còn có thể tận dụng từng ngày sống một để làm điều đó.
Bước nhầm là chết
Trong những đêm sau, chúng tôi lại tiếp tục hành trình ở những đoạn khác của thành phố.
Tôi theo Steve thử một lần liều mạng thâm nhập vào hệ thống đường ray còn hoạt động: đi qua một đoạn đường tàu tới một ga bỏ hoang. Chúng tôi chờ cho đến khuya, khi mà các tuyến đường đã bắt đầu vắng tàu qua lại. Ở bên cạnh hai đường ray thông thường là một đường ray thứ 3 với dòng điện 700 volt. Dẫm nhầm lên đó, chúng tôi sẽ mất mạng.
Nguy hiểm chết người cho những tay thám hiểm thế giới ngầm - những đoàn tàu đột ngột xuất hiện trong bóng tối
Hy vọng là vào giờ này không ai ngó tới các camera canh gác. “Nếu họ mà bắt được, thì chúng mình đi tù đấy” - Steve nói. Kể từ sau ngày 11/9/2001, tất cả những gì đe dọa tới an ninh cộng đồng đều bị ngăn chặn và trừng phạt bằng các biện pháp chống khủng bố thô thiển. Một lần, Steve đã bị 150 cảnh sát vây bắt và cuối cùng là còng tay giải về đồn. Anh bị ngồi tù một ngày, cho tới khi luật sư tới giải thoát.
Một chiếc tàu đột nhiên xuất hiện từ trong bóng tối. Tiếng rung trầm ở thanh ray báo cho chúng tôi điều đó. Rồi ngay sau đó, là hai ánh đèn pha tiến về phía chúng tôi với vận tốc nhanh chóng mặt. Cảm tưởng, có lẽ người lái còn chưa kịp động vào phanh thì chúng tôi đã nát bét dưới gầm tàu rồi.
Hai thằng nhảy vội vào một cái hốc gần đó và ép chặt thân mình vào tường. Wrummmms! Chiếc tàu vụt qua như một cái bạt tai đau đớn.
Chúng tôi chạy đến đoạn cua, kể từ đây tàu điện không hoạt động nữa. Đột nhiên là bóng tối thăm thẳm. Steve đã có lần kể cho tôi nghe, rằng kẻ sát nhân hàng loạt David Berkowitz từng lang thang trong con kênh dẫn nước Croton, sau khi hắn cướp đi mạng sống của 6 con người.
“Não của tôi có gì đó không ổn”
Một hình nhân xuất hiện trong bóng tròn chiếc đèn pin của tôi. Tôi và Steve nhìn thấy hai con mắt đàn ông sợ hãi. Ông ta muốn bỏ trốn, nhưng chúng tôi đã kịp trấn tĩnh. Đó là Gray. Trên tấm băng nhựa của bệnh viện mà ông ta vẫn còn đeo ở tay thì lại ghi là “Gregory”.
Gray ở đây đã được hơn một năm. “Tôi chẳng muốn dây dưa với cảnh sát và những thứ bực mình ở trên kia” - người đàn ông ngớ ngẩn lẩm bẩm. “Tôi thấy ốm lắm, não của tôi có gì đó không ổn. Thế nên tôi phải vào bệnh viện”. Nhưng người ta muốn phẫu thuật. Ông sợ quá nên bỏ trốn xuống dưới này.
Những người như Gray là những kẻ lạc lõng trong thành phố. Ông muốn ở dưới lòng đất. Nhất thiết. Ông gãi gãi vết sẹo trên đầu và nói: “Thực là khó để tìm một nơi yên tĩnh trên thế giới này”.


  • X.T (theo Focus/Playboy)

Những Bí Ẩn Về Nguyễn Tấn Dũng

Đăng bởi tinletrai on 05/30/2010
 
Sau ngày 30/04/1975 tôi được phân công nhiệm vụ kiểm soát việc tiêu hủy những thứ mà lúc ấy được người ta gọi là “văn hoá phẩm đồi trụy”. Sài Gòn những ngày ấy còn hỗn loạn, bề bộn, lòng người thì hoang mang, bất ổn. Song trong mắt bọn chúng tôi – những kẻ chiến thắng vừa từ rừng núi tiến vào – Sài Gòn đúng thật là “hòn ngọc viễn đông”. Nhà cửa thành phố hiện đại, hàng hoá nhiều vô kể, đặc biệt là sách báo, tranh ảnh, băng đĩa và những thứ sản phẩm bị coi là “tàn dư của chế độ cũ”.
Lúc ấy chúng tôi được ủy ban quân quản bố trí ở tại một ngôi biệt thự bỏ hoang ở khu Phú Thọ. Mặc dù là bỏ không nhưng thật ra đây là một biệt thự mới tinh chưa có người đến ở, chủ nhà có lẽ là một người giàu có, xây dựng mới xong thì bộ đội giải phóng vào nên có thể đã đi di tản hoặc không dám đến nhận nhà. Ngôi nhà có tới 13 phòng, mỗi phòng đều có trang bị đồ dùng đầy đủ và rất sang trọng. Một số những chiến sỹ trẻ lúc ấy thích đọc truyện tranh, truyện tuổi hoa niên thì mang về đầy phòng đủ các loại sách truyện từ Tây Du ký, Tam Quốc chí, đến cả Đát Kỷ – Trụ Vương, rồi chuyện kiếm hiệp không biết cơ man nào. Đối với những người sống ở miền Bắc nghèo khó và những người bao năm hoạt động ở trong rừng núi thiếu thốn thì đúng quả là bị choáng ngợp với các loại sách báo Sài Gòn ngày ấy.
Trong công việc hàng ngày tôi cũng thỉnh thoảng lần giở xem xét một số những cuốn sách cũ, một số tiểu thuyết lịch sử để hiểu thêm về chế độ Việt Nam Cộng Hoà, đặc biệt nhiều nhất là sách viết về nền đệ nhất cộng hoà như cuốn “Bên giòng lịch sử” của linh mục Cao Văn Luận, hay “Những ngày chưa quên” … Lúc ấy việc đọc sách chẳng qua cũng chỉ để cho dễ buồn ngủ vào mỗi buổi tối chứ thật ra cũng chẳng có ý nghĩa gì. Chúng tôi đều cho rằng đó là những sách báo nhảm nhí, viết không đúng sự thật. Một cuốn sách hình như có tựa đề là “Những bóng ma trong hồng trường” viết về những câu chuyện thâm cung bí sử trong Quảng trường đỏ thời Xô Viết, nói về chuyện dâm ô, loạn luân của các lãnh đạo Xô Viết, lúc bấy giờ đọc những chuyện ấy chỉ xem như những chuyện tiếu lâm, những hư cấu không có thật, chứ tuyệt nhiên không thể tin được.
Thế rồi thời gian thấm thoát trôi qua với bao nhiêu biến chuyển, đổi thay của xã hội. Sài Gòn ngày ấy bây giờ chỉ còn trong ký ức của mỗi con người mà đã gắn bó, đã trải qua vào những giai đoạn lịch sử ấy. Tôi cũng đã luân chuyển qua nhiều vị trí, công việc khác nhau. Trong quá trình công tác tôi có may mắn được làm việc một khoảng thời gian ngắn với cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Khoảng thời gian này không dài nhưng lại là khoảng thời gian rất quý báu đối với tôi bởi vì đã học được nhiều điều và hiểu được nhiều điều từ cơ quan quyền lực cao nhất, từ người đứng đầu bộ máy lãnh đạo Việt nam. Trong đó có những câu chuyện mà qua hàng chục năm giữ kín, “đào sâu chôn chặt”, suy xét, kiểm nghiệm đến ngày hôm nay mới dám nói ra, bởi vì nó có liên quan đến những con người và hoàn cảnh lịch sử của đất nước ta trước đây, ngày hôm nay, và có thể nó sẽ ảnh hưởng đến tương lai dân tộc ngày mai.
Trước khi giữ chức vụ Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt nam cụ Nguyễn Văn Linh đã từng hoạt động và làm việc tại miền Nam gần 50 năm (cụ vào Sài Gòn hoạt động từ 1939), và đã từng đảm nhiệm hầu hết các chức vụ lãnh đạo cao nhất tại miền Nam trước và sau chiến tranh. Vì thế dù sinh trưởng trên quê hương Hưng Yên miền Bắc nhưng cụ đã thực sự như một người con của Nam bộ. Đến khi lên giữ chức Tổng bí thư cụ Nguyễn Văn Linh vẫn rất thường xuyên làm việc tại Sài Gòn, cụ sinh hoạt rất giản dị, khiêm tốn và kín đáo. Cụ ở trong khu vực riêng của Ban quản trị tài chính Trung ương, gọi là T78, khu vực này là một đoạn đường Trần Quốc Toản được đơn vị cảnh vệ ngăn lại hai đầu phố tiếp giáp với đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và đường Trần Quốc Thảo, thành một khu vực riêng biệt, có lối ra thông với đường Lý Chính Thắng (sau này mở thêm khách sạn Dạ Lý Hương). Có những hôm cụ vẫn xuống ăn cơm chung với cánh cán bộ chúng tôi ở nhà ăn tập thể cũng nằm trong khu vực này, cụ ăn uống đơn giản và không đồng ý có thêm bất cứ chế độ đặc biệt gì phục vụ.
Hồi ấy phương tiện đưa đón cụ chỉ là loại xe Vonga đen của Nga sản xuất, mỗi lần xe của cụ đi thì trước đó lại có mấy cậu cảnh vệ mặc thường phục ngồi sẵn trên mấy chiếc xe Honda 67 “xoáy nòng” bí mật chạy trước chạy sau để xem xét, bảo vệ, chứ không phải dùng xe Police “còi hụ” hay xe “bồ câu trắng” bảo vệ như các cán bộ lãnh đạo sau này. Thế mà có lần tôi còn nghe cụ nhắc anh lái xe “chạy chậm chậm một tí không mấy cậu bảo vệ phải đuổi theo lại đụng vào dân thì khổ”, cụ biết và quan tâm đến tất cả những chuyện nhỏ như thế.
Tôi còn nhớ, vào khoảng năm 1988 có lần phải xuống làm việc với đặc khu ủy Vũng tàu (lúc ấy Vũng tàu vẫn còn là đặc khu Vũng tàu-Côn đảo), làm việc xong vào cuối buổi chiều cụ lại muốn đi tắm biển một chút cho khoan khoái. Thế là đám cán bộ địa phương và lực lượng bảo vệ lại phải cuống quýt lo bố trí địa điểm kín đáo, an toàn. Đến khi cụ xuống tắm lại phải bố trí hàng chục cán bộ bảo vệ cùng tắm quanh khu vực, thậm chí có người không kịp chuẩn bị đồ tắm đã phải mặc cả đồ lót đi tắm và mặc luôn đồ ướt đi về. Sau khi biết chuyện ấy cụ mới tự trách : biết các cậu phải lo lắng kỹ lưỡng như vậy thì tôi tắm luôn trong phòng cho xong.
Những ai đã sống trong thời điểm đó thì chắc đều không thể quên được chuyên mục “Những việc cần làm ngay” của cụ viết ký với bút danh N.V.L. Ngay từ khi những sự việc được báo chí đăng tải cụ đã trực tiếp đôn đốc hoặc phân công cho những cán bộ trực tiếp phụ trách theo dõi và phải hàng ngày báo cáo kết quả công việc cho cụ biết. Đúng theo tinh thần “Nói Và Làm”.
Tiếc rằng lãnh đạo đất nước ta từ đó đến nay đã không xuất hiện thêm một ông “Nói Và Làm” nào nữa . Tôi vẫn thường nghĩ rằng nếu các lãnh đạo sau này và các lãnh đạo chính quyền cấp dưới có được quan điểm làm việc, đạo đức và cách sống như cụ thì chắc rằng người dân Việt nam sẽ có được cuộc sống no đủ và công bằng hơn rất nhiều.
Vào khoảng thời gian trước khi về nghỉ, có lẽ nhận thấy sức mình không thể làm thay đổi được cả một bộ máy, một cơ chế cồng kềnh và bảo thủ, cũng lại do hiểu được tính bè phái và sự lộng quyền của những kẻ lãnh đạo cơ hội trong Đảng, cụ càng trở nên trầm tư hơn. Nếu ai có điều kiện lui tới gặp cụ tại nhà riêng thời gian này sẽ nhận thấy sự thất vọng và u uất thể hiện rõ trên khuôn mặt và thái độ của cụ. Ngoài quan hệ công việc tôi lại có quan hệ rất thân tình với cô Bình (Nguyễn Thị Bình) con gái cụ, tôi quen Bình từ lúc còn đang học ở Liên Xô, Bình cũng rất quý tôi, coi tôi như người anh . Có lẽ cũng vì thế mà mỗi lần tôi đến nhà cụ chơi hay có công việc gì đều thấy tự nhiên như người nhà.
Sau này khi cụ Nguyễn Văn Linh thôi giữ chức Tổng bí thư Đảng, tôi không còn được làm việc với cụ nữa, nhưng thỉnh thoảng có dịp ra vào công tác tôi vẫn ghé thăm cụ, hoặc là ghé thăm Bình, vài tháng một lần. Mỗi lần gặp cụ lại hỏi thăm tình hình công việc, tình hình tổ chức nội bộ, tình hình các địa phương. Cụ tỏ thái độ than phiền với những người kế nhiệm và đặc biệt kêu ca về khâu tổ chức cán bộ và quy hoạch lãnh đạo cao cấp.
Vài năm sau đó nữa, lúc này sức khỏe của cụ tỏ ra đã yếu hơn trước rất nhiều, cụ ít đi lại hơn. Một buổi tối tôi đến thăm cụ, thấy cụ có vẻ không được khỏe, tôi không dám nói chuyện nhiều, sau khi hỏi thăm cụ vài câu tôi định đứng dậy ra về, nhưng cụ bỗng khoát tay ra hiệu bảo tôi hãy ở lại chơi và sau đó lại kéo tôi vào buồng trong. Tôi hiểu là cụ muốn trao đổi một chuyện gì đó, chắc là quan trọng hơn.
Vừa ngồi xuống là cụ hỏi ngay : mấy hôm nay cậu có theo dõi vụ Tổng công ty Tracodi mà báo chí vừa đưa tin không ?
Tôi đáp : Dạ, có biết chứ ạ ! Nhưng cũng chưa rõ lắm đúng sai thế nào ?
Cụ lại quay sang hỏi : Thế cậu có biết cái tay Tổng Giám đốc Phan Thanh Nam là người như thế nào không ?
Tôi chợt hiểu ra có điều gì đó quanh vấn đề này, thời gian trước đó đã có dư luận xôn xao quanh chuyện Phan Thanh Nam là con rơi của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, cánh cán bộ văn phòng chúng tôi đều có nghe nhưng vẫn không biết thực hư thế nào, nên cũng chỉ coi như một tin đồn nhảm.
Bỗng cụ ghé sát gần tôi và nói : Những chuyện này mà tao không nói cho các cậu thì sau này sẽ chẳng có ai được biết đến nữa.
Thế là bỗng nhiên tôi trở thành một nhân chứng để ghi nhận những sự kiện ghê ghớm thế này, những sự kiện đã gắn liền với lịch sử Cách mạng Việt nam nhưng không bao giờ được chép trong sử sách và nó là một bộ mặt thật hoàn toàn khác với những gì mà nhân dân được biết về lãnh đạo Việt nam, nhất là về lãnh tụ tối cao nhất : Hồ Chí Minh, con người mà bản thân tôi cũng từng ngưỡng mộ và tôn kính từ khi còn rất bé.
Theo cụ Nguyễn Văn Linh kể thì Bộ chính trị lúc bấy giờ, (tất nhiên đứng đầu là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ chỉ đạo, điều này thì sau này không ai là không biết), biết rằng cụ Hồ gặp những thiếu thốn và khó khăn về tình cảm cá nhân, như chuyện muốn nối lại mối tình duyên với người vợ cũ ở Trung quốc nhưng đã bị phản đối (đây là một câu chuyện có thật đã được phía Trung quốc công bố từ những thập niên 80, 90 của thế kỷ trước. Về việc này tôi lại nhớ về sự kiện bài báo “Bác Hồ có vợ ?” được đăng trên báo Tuổi Trẻ của tác giả Kiến Phước – Trưởng đại diện báo Nhân dân tại TP. Hồ Chí Minh, chính vì bài báo này mà sau đó Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ là Nguyễn Kim Hạnh, cũng chính là vợ ông Kiến Phước, bị mất chức. Sau này có lần đến chơi với hai vợ chồng Kiến Phước – Kim Hạnh ở trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, cũng gần khu T78, nhắc lại chuyện này họ lại buồn và phản ứng ghê lắm). Do vậy sau đó Bộ chính trị có bí mật sắp xếp nhiều người phụ nữ khác để chăm sóc và phục vụ cụ Hồ về mặt sinh hoạt tính dục. Đặc biệt, từ thuở còn thanh niên cụ Hồ đã có một mối tình đầu rất đẹp với một người con gái miền Nam (sự thật này đã được nhà văn Sơn Tùng sưu tầm và công bố trong bài viết “đi tìm Út Huệ”), do vậy cụ Hồ có một ấn tượng và thiện cảm đặc biệt với những người phụ nữ Nam bộ. Biết thế nên Bộ chính trị đã chỉ đạo cho Trung ương cục miền Nam, mà lúc này Nguyễn Văn Linh là Bí thư Trung ương cục, phải kín đáo tìm kiếm trong số những cán bộ, du kích miền Nam một vài cô gái còn trẻ, đẹp để đưa ra miền Bắc phục vụ cụ Hồ và các vị trong Bộ chính trị. Thời điểm đó thì Võ Văn Kiệt đang là ủy viên Trung ương cục được cụ Nguyễn Văn Linh tin tưởng tuyệt đối và giao cho trực tiếp phụ trách nhiệm vụ đặc biệt này. Trong số vài cô gái tuyển lựa được lúc đó đang chuẩn bị bố trí bí mật đưa ra miền Bắc, có một cô còn trẻ và rất sắc sảo họ Phan. Giữa lúc đó thì tình hình chiến sự đang diễn ra khá ác liệt nên không thể đưa các cô đi ngay được và rồi không hiểu thế nào mà ông Kiệt lại quan hệ dan díu với chính cô gái họ Phan kia. Đến lúc sự việc vỡ lở thì cô gái đã có thai được mấy tháng rồi. Thế là cô ta phải ở lại và cái bào thai đó chính là vị tổng Giám đốc Tracodi : Phan Thanh Nam sau này.
Nghe đến đây tôi cảm thấy vô cùng sửng sốt và bỗng thấy rùng mình hết cả người. Rõ ràng người đang kể ra những sự việc đó là một người đã từng giữ trọng trách cao nhất trong Đảng cộng sản Việt nam, một người trong số vài ba người được biết rõ nhất, chính xác nhất về câu chuyện này, một người trong số vài ba người hiếm hoi biết được những chuyện thâm cung bí sử nhất trong Trung ương Đảng cộng sản, một người mà cái tuổi đã vượt quá ngưỡng “cổ lai hy” rồi . Như vậy không thể là nói thiếu chính xác hoặc vô căn cứ được, càng không thể là nói xấu tổ chức Đảng và lãnh tụ được. Như vậy những chuyện tày trời kia là có thật ư ?
Tôi đang bần thần như người ngủ mê và còn chưa biết phải nói thế nào, cụ Linh lại nói tiếp : … cũng không phải chỉ riêng có Sáu Dân đâu (bí danh của Võ Văn Kiệt), mấy ông tướng nhà ta cũng đầy con rơi ra đấy, còn thằng Ba Dũng là con Nguyễn Chí Thanh, rồi thằng Trần Nam là con Trần Văn Trà hiện đang làm bên Học viện lục quân ấy.
Thế là cụ lại kể cho tôi biết thêm những sự thật khác.
Theo cụ Nguyễn Văn Linh thì trong thời gian tướng Nguyễn Chí Thanh làm Bí thư liên khu ủy khu IV khoảng từ năm 1948 đến 1950 đã có quan hệ với một cán bộ phong trào ở đây và sinh ra Nguyễn Tấn Dũng, và cụ còn cho biết là sau Nguyễn Tấn Dũng vẫn còn một người em trai nữa cũng là con của tướng Thanh.
Còn tướng Trần Văn Trà thì có quan hệ với một người phụ nữ quê ở miền Bắc (hình như là họ Hoàng, điều này tôi không còn nhớ rõ) rồi sinh ra Trần Nam, cũng là một sỹ quan quân đội đang công tác tại Học viện lục quân Đà lạt.
Về Trần Nam thì hồi đó tôi không hề được biết một thông tin liên quan nào, chưa hề nghe đến danh tính. Rất gần đây tình cờ đọc báo về vụ công ty Rusalka của siêu lừa Nguyễn Đức Chi rồi hỏi thăm cán bộ ở dưới mới được biết Trần Nam chính là giám đốc công ty Lâm Viên thuộc Học viện lục quân – Bộ quốc phòng, có liên quan đến vụ án này.
Sau buổi tối hôm ở nhà cụ Nguyễn Văn Linh ra về tôi bàng hoàng và băn khoăn nhiều lắm. Như vậy những thứ được gọi là tư cách, đạo đức, mẫu mực của các lãnh đạo cao cấp của Đảng ta thật ra chỉ là những thông tin tuyên truyền thôi ư ? Và những kẻ bày ra những trò này chắc cũng không ngoài mục đích nhằm thao túng cụ Hồ và thao túng cả Bộ chính trị ? Vậy thì đã có biết bao cô gái trẻ đã bị đánh mất tuổi thanh xuân và sự trinh trắng ở đó, và để đảm bảo tuyệt đối bí mật những thông tin này, dứt khoát phải có nhiều người đã bị thủ tiêu hoặc làm cho mất trí nhớ hoàn toàn. Như vậy những câu chuyện đồn thổi về những bóng ma trong quảng truờng Ba đình phải chăng cũng là có thật ? Thật bi thảm và khủng khiếp quá !
Bắt đầu từ câu chuyện đó nên sau này tôi đã cố tìm hiểu thêm những thông tin khác liên quan đến Ba Dũng.
Khoảng năm 2000, trong cuộc trò chuyện với một thiếu tướng Quân đội đã nghỉ hưu có quan hệ khá thân thiết với tôi, ông này có thời gian đã công tác tại liên khu IV và V, ông ta cũng lại khẳng định với tôi rằng Nguyễn Tấn Dũng chính là con của Nguyễn Chí Thanh. Hiện nay vị tướng này vẫn còn sống và là ủy viên của Hội cựu chiến binh Việt nam, để tránh gây phiền phức cho ông nên tôi không dám nêu danh tính cụ thể lên ở đây
Tôi đã tìm xem trong số những tài liệu lưu ở văn phòng có liên quan đến Nguyễn Tấn Dũng nhưng không thấy lộ ra chi tiết nào nói về chuyện này. Thế nhưng nhìn vào lý lịch và quá trình công tác của Ba Dũng rõ ràng có những điều bí ẩn sau đó. Ông ta chỉ là một cán bộ tầm trung bình, không có chuyên môn nghiệp vụ (thật ra được đào tạo làm y tá quân đội), trình độ văn hoá thấp, chưa được đào tạo cơ bản chính quy, không có thành tích đặc biệt, không có năng khiếu gì xuất chúng, thế nhưng lại có quá trình thăng tiến nhanh vượt bậc ( ?).
Sau này, trong những lần làm việc với Nguyễn Tấn Dũng tôi lại càng thấy rõ những điều đó hơn và càng thất vọng rất nhiều. Quả là ông ta là một người năng lực rất kém. Về hình thức bề ngoài, từ trước đến nay ít có lãnh đạo Việt nam nào có được dáng dấp và khuôn mặt sáng láng như Ba Dũng, cái hình thức đó rất dễ làm cho những ai không biết tưởng rằng đó là một người rất thông minh, nhanh nhẹn. Thật ra tương phản với hình thức sáng láng đó là một não trạng rất tối tăm, dốt nát. Hồi mới về Trung ương có những lần nghe ông phát biểu mà mọi người đều không hiểu ông định diễn đạt điều gì, rất lủng củng, tối nghĩa, lại lúng túng, cụt lủn. Nhiều lần tham dự những cuộc họp do Ba Dũng chủ trì, tôi thấy ông ta không dám phát biểu gì, chỉ ngồi nghe các cơ quan cấp dưới phát biểu sau đó ông ta cũng chẳng dám có ý kiến kết luận gì cả. Phải trải qua năm, sáu năm “thực tập” ở cái ghế Phó thủ tướng thì ông ta mới tỏ ra là tự tin, biết chủ trì những cuộc họp lớn của cơ quan Đảng, Chính phủ, nhưng vẫn chỉ là cái kiểu nói lúng túng, nước đôi, nói hùa theo các ý kiến khác chứ không thấy tự tư duy được điều mới mẻ cả. Mặc dù có cả một cơ quan tham mưu giúp việc rất đồ sộ “mớm” cho từng văn bản, từng câu chữ nhưng mỗi lần phải “nói vo” anh ta đều phát biểu rất khó khăn, không có đầu đuôi gì cả. Suốt cả quá trình dài là người đứng đầu Chính phủ và phụ trách tất cả những mảng quan trọng nhất nhưng ông ta chưa làm được một việc gì đáng kể. Đặc biệt, Ba Dũng rất dốt ngoại ngữ, trong cuộc họp mà phát biểu những từ gì tiếng Anh thì toàn nói sai hoặc nói lung tung cho qua. Một con người năng lực yếu kém như vậy mà lại lên đến chức Phó thủ tướng, và nay là Thủ tướng Chính phủ thì quả là không hiểu nổi ? Quả là có một bí ẩn khủng khiếp !
Một dịp may khác ngẫu nhiên đến để tôi được kiểm chứng thêm lời nói của cụ Nguyễn Văn Linh. Đó là khoảng năm 2001, trong một lần tiếp xúc với lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh tại ủy ban thành phố có một vị khách đến làm việc theo lịch đã hẹn, và tôi được giới thiệu người khách đó là Tư Thắng (Nguyễn Tiến Thắng), em ruột Ba Dũng. Người này nhìn bề ngoài giống hệt Ba Dũng, từ chiều cao, dáng người đến nét mặt, mái tóc và kể cả giọng nói, thậm chí kể cả cử chỉ, dáng điệu (Ba Dũng hay có thói quen hất cằm và khuôn mặt ra phía trước). Tư Thắng giống Ba Dũng đến mức chỉ nghe giới thiệu là có thể tin ngay rồi, chỉ khác một chút là nước da đen hơn Ba Dũng một chút và khuôn mặt có vài vết rỗ. Riêng về cách ăn mặc thì ngược hẳn với ông anh, phóng khoáng tự do, thể hiện là người không làm việc trong cơ quan chính quyền. Có lẽ đã nghe tên tôi từ trước, Tư Thắng chủ động tự giới thiệu trước và đưa danh thiếp có số điện thoại cho tôi (tôi vẫn còn giữ danh thiếp ấy và số điện thoại di động là 090845846, lúc ấy ĐTDĐ chỉ có 9 con số, hiện nay đều đã thêm số 3 nên sẽ là 0903845846), sau đó Tư Thắng còn mời tôi lúc nào rảnh rỗi thì đến chỗ anh ta chơi.
Vì muốn tìm hiểu kỹ sự thật, có một buổi chiều sau giờ làm việc tôi đã lững thững đi bộ đến chỗ Tư Thắng. Theo địa chỉ Tư Thắng cho tôi biết thì đó là một căn nhà mặt tiền đường 3/2, gần ngã tư Cao Thắng (phía bên Nhà hát Hoà Bình), đó là một ngôi nhà lớn, vị trí rất đẹp, nhưng sau này tìm hiểu ra tôi mới được biết Tư Thắng có rất nhiều đất đai và biệt thự ở khắp các tỉnh Nam bộ, ngôi nhà này cũng chỉ là chỗ đi lại mà thỉnh thoảng ở Sài Gòn Tư Thắng mới ghé qua. Chính vì Tư Thắng muốn nhờ tôi giới thiệu thêm với một số lãnh đạo để giúp cho các công việc làm ăn của anh ta, tôi mới được biết là có rất nhiều công ty nằm dưới tay anh ta, đa phần là công ty TNHH. Các công ty này đều chỉ dựa vào thế lực và các mối quan hệ của Ba Dũng để tham gia vào rất nhiều lãnh vực khác nhau như : tài chính, ngân hàng, bất động sản, thương mại, xây dựng, tham gia các dự án nhà nước … Điều làm tôi quan tâm nhất là anh ta có quan hệ với rất nhiều người Đài Loan, đặc biệt trong mạng lưới các chân rết của Tư Thắng có một ngân hàng Đài loan hoạt động chui tại Việt nam là First China Bank (một đàn em tin cậy của ông ta được giao phụ trách việc này cũng tên là Dũng có số ĐTDĐ là 0913950661). Như vậy có thể hiểu được đây chính là những “sân sau” của Ba Dũng, và để tránh đụng chạm với các thế lực khác cạnh tranh, anh em ông Ba Dũng đã nhằm vào địa bàn hoạt động chủ yếu ở miền Trung và Nam bộ, sau đó việc rửa tiền và chuyển ngân lậu được thực hiện qua ngả Đài loan. Liệu có thế lực nào khác và bàn tay của cơ quan tình báo Đài loan nhúng vào những chuyện này không ? Chưa ai biết được chuyện đó !
Như vậy, đường đi và vị thế của ông tân thủ tướng Việt nam quả là có một quá trình đầy bí ẩn, đầy những bàn tay sắp đặt, chắc chắn đứng đằng sau ông ít nhất còn có hai người em là Nguyễn Tiến Thắng và Nguyễn Chí Vịnh (tổng cục trưởng Tổng cục tình báo quân đội, con trai chính thức được thừa nhận của tướng Nguyễn Chí Thanh) để lo thu xếp mọi việc từ tài chính đến an ninh chính trị.
Lại cũng dễ hiểu khi con đường quan lộ của Nguyễn Tấn Dũng rộng mở song hành với sự thao túng và lộng quyền của Tổng cục hai trong tay Nguyễn Chí Vịnh (sự lộng quyền này, trong mấy năm gần đây có rất nhiều cán bộ cao cấp và cán bộ lão thành đã phản ánh đến các cơ quan Đảng). Nó là hai mệnh đề luôn bổ sung và giải nghĩa cho nhau. Từ mệnh đề đó có thể giải đáp được rất nhiều những câu hỏi khác. Sự liên quan và ràng buộc này nếu nhìn trên góc độ thực tế chắc chắn đã và sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu đến tương lai của đất nước. Bởi vì sự bè phái và những âm mưu thâu tóm quyền lực là những nguyên nhân lớn nhất gây nên đổ vỡ tan rã trong Đảng, đây là điều mà Hồ Chí mInh đã cảnh báo từ rất sớm. Trong thực tế chế độ ta chỉ chấp nhận một Đảng duy nhất lãnh đạo, những chia rẽ và yếu kém trong Đảng dứt khoát có nguy hại đến sự phát triển của đất nước, đến đời sống nhân dân. Nhất là trong tình hình hiện nay hai căn bệnh lớn nhất tồn tại trong Đảng đang bị xã hội lên án rất gay gắt và là nguy cơ thật sự , đó là tham nhũng và tranh giành quyền lực.
Nếu những căn bệnh này còn tồn tại, không được giải quyết triệt để, sự tan rã chế độ sẽ là tất yếu. Rồi tập đoàn Dũng – Thắng – Vịnh sẽ đưa đất nước ta đến bờ vực thẳm nào ?
Những sự việc cụ Nguyễn Văn Linh đã kể lại cho tôi chắc chắn cũng phải còn ít nhất là một vài người khác được biết, thế nhưng cho đến nay vẫn chưa có ai dám công khai nêu lên. Trước thực trạng đầy bất ổn của tình hình chính trị đất nước cùng với tấm lòng cảm mến và kính trọng cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, tôi nhận thấy chính mình phải có trách nhiệm nói ra những điều này, tôi xin hoàn toàn đảm bảo về tính trung thực và chính xác của sự việc này. Tôi cũng mong rằng sau khi sự thật này được đưa ra ánh sáng thì sẽ có thêm nhiều bằng chứng khác của các vị lão thành Cách mạng, của những ai có may mắn được biết đến những sự việc trên sẽ bổ sung đầy đủ hơn để bạch hoá hoàn toàn những bí ẩn này.
Thứ nữa, tôi muốn thông báo đến giới trẻ, những người chủ tương lai của đất nước được biết rằng : có rất nhiều những sự thật mà các bạn không có cơ hội được biết đến, mà lẽ ra trong xã hội hiện đại truyền thông đa phương tiện ngày nay các bạn cần phải biết tất cả những sự thật, những điều trắng đen rõ ràng để tự xây dựng cho mình những tư duy sống, những quan điểm tự nhiên chứ không phải những ý thức hệ bị cưỡng bức, những tư tưởng bị chỉ đạo.
Cuối cùng, tôi muốn gửi thông tin này đến tất cả mọi người dân với mong muốn rằng nhân dân chúng ta đều càng ngày càng được cởi mở hơn trong tiếp nhận thông tin, tiếp nhận sự thật. Những sự thật lịch sử cần phải được tôn trọng và dần dần cần được giải mã trước công chúng. Những sự việc gây ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước cần phải được minh bạch và công khai. Từ đó mỗi người dân cần có thái độ và đóng góp trách nhiệm của mình một cách rõ ràng trước những điều hệ trọng của đất nước. Nhân dân cần phải thay đổi thói quen chấp nhận để đời sống chính trị bị lệ thuộc bởi một cá nhân nào, một đảng phái nào, hay một thể chế nào, một chính phủ nào, mỗi người phải có quyền và nghĩa vụ tự quyết định cho riêng mình trong một xã hội văn minh, dân chủ.
 
Hà Nội ngày 09/10/2006
 
Hoàng Dũng, Cán Bộ VPTƯ

21/5/10

Vì sao giáo dục đụng đâu… dở đó?

Văn Như Cương
“Thật hết sức sửng sốt… Chuyện “ngăn sông cấm chợ” một thời đã làm khó khăn cho việc lưu thông hàng hóa thì nay lại xuất hiện trong giáo dục – ngăn thầy ở nơi này không được dạy học sinh giỏi nơi kia, cấm trò giỏi ở miền núi không được học thầy miền xuôi. Nghĩa là nghiêm cấm việc “tầm sư học đạo” …
“Người viết bài này xin có vài ý kiến, vừa là nhận xét, vừa là đề nghị.
1) Việc đổi mới giáo dục nên bắt đầu bằng việc đổi mới mới tư duy, và cách quản lý giáo dục, trước hết ở cấp Bộ.
2) Muốn vậy phải cải tổ bộ máy hành chính và chuyên môn ngay trong cơ quan đầu não của Bộ GD và ĐT. Cần giảm bớt những người không có năng lực, chỉ ngồi ở bàn máy tính, không sâu sát thực tế, cần tăng cường những người có nghiệp vụ tinh thông, có tinh thần trách nhiệm, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
3) Không nên thay đổi xoành xoạch các chủ trương dầu là nhỏ, tránh tình trạng vừa thực hiện mới một lần rồi bỏ, thậm chí chưa thực hiện lần nào…”
GS Văn Như Cương
Người ta có quyền đặt câu hỏi: Các chủ trương do chính cán bộ quản lý các cấp Bộ xây dựng, và được người có thẩm quyền cao nhất Bộ GD và ĐT, ký duyệt ban hành. Vậy, tại sao các chủ trương này đụng đâu… dở đó?
Từ chuyện nhỏ cấm “tầm sư học đạo”…
Tôi xin bắt đầu từ câu chuyện nhỏ sau đây.
Ngày 29/12/2009 tôi đọc trên Vietnamnet bản tin “Không được mời thầy nơi khác về ‘luyện’ học sinh giỏi”. Tôi tò mò đọc tiếp thì mới hay là Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa hướng dẫn tổ chức kỳ chọn học sinh giỏi quốc gia năm 2010, theo đó Bộ “đặc biệt lưu ý các địa phương trong kỳ thi năm nay  không được mời các thầy, cô giáo ở nơi khác về tập huấn cho đội tuyển học sinh giỏi của mình dưới bất kỳ hình thức nào“.
Tôi lấy làm lạ và cố tìm hiểu đầu đuôi câu chuyện. Thì ra lệnh “cấm mời thầy nơi khác…” không phải là mới. Nó đã được ban hành từ năm 2007, nhưng có lẽ các địa phương không tuân theo nên năm nay Bộ phải nhắc lại.
Thật hết sức sửng sốt… Chuyện “ngăn sông cấm chợ” một thời đã làm khó khăn cho việc lưu thông hàng hóa thì nay lại xuất hiện trong giáo dục – ngăn thầy ở nơi này không được dạy học sinh giỏi nơi kia, cấm trò giỏi ở miền núi không được học thầy miền xuôi. Nghĩa là nghiêm cấm việc “tầm sư học đạo” …
clip_image001[1]
Có lẽ không cần bình luận gì thêm ngoài một câu ngắn gọn: Đó là một mệnh lệnh hết sức điên khùng và dốt nát…
May thay, ngày 27/02/2010 lại cũng trên Vietnamnet có tin lệnh cấm nói trên được bãi bỏ. Mặc dầu vậy, dư âm của sự kiện đó, cùng nhiều sự kiện tương tự, đã làm cho tôi suy nghĩ về một số khía cạnh khác nhau.
Thứ nhất, ai là người đã đưa ra “ý tưởng” cần phải ra một cái lệnh cấm như thế? Cố nhiên đó phải là một (hoặc một nhóm) quan chức của Bộ GD và ĐT, và chắc chắn đó là người có tư duy hết sức lệch lạc và cổ lỗ đến mức “bệnh hoạn”, mặc dầu anh ta bét ra cũng phải có cái bằng Cử nhân. Nếu tôi là người có quyền ở Bộ, tôi sẽ không ngần ngại cho anh ta thôi việc ngay lập tức.
Thứ hai, cái ý tưởng quái đản ấy đã được thảo luận, trao đổi và đi đến thống nhất trong một tập thể như thế nào? Chắc chắn rằng đa số trong tập thể đó đã tán thành hoặc thậm chí hoan nghênh nhiệt liệt cái “sáng kiến”  ấy. Thế thì hóa ra những người đó hoặc là vô trách nhiệm, hoặc là tư duy cũng cùng loại như “nhà sáng kiến” đó mà thôi.
Thứ ba, ai là người đã ký và cho công bố cái lệnh cấm?  Phải chăng vì người có thẩm quyền đọc và ký lệnh đó, chỉ đọc qua loa và vì đang nghĩ về chuyện khác nên ký xoẹt một cái là xong? Hay cũng là người rất tâm đắc về cái lệnh mới này. Hay phải chăng, vì lâu rồi trong việc thi học sinh giỏi chưa thấy gì đổi mới, nên ông ta sốt sắng ký và ra lệnh công bố ngay?… Trong bất kỳ trường hợp nào, ông ta cũng là nhà quản lý giáo dục… tồi.
…đến chuyện lớn về… tư duy giáo dục và quản lý GD
Tôi đã bắt đầu từ một câu chuyện nhỏ… Tuy nhiên, điều mà tôi rất lo lắng là số lượng các “câu chuyện nhỏ” như vậy lại không nhỏ tí nào. Thử liệt kê những chuyện gần đây.
+ Cấm các trường ĐH tư thục mở các ngành đào tạo: Sư phạm, Luật, Báo chí.
Đó là một điều khoản trong dự thảo, công bố ngày 23/2/2010, về điều kiện mở ngành đào tạo ở các trường ĐH, CĐ. Quy định này ngay lập tức gặp phải sự phản ứng dữ dội của dư luận. Ban đầu các nhà quản lý ở Bộ giải thích, nói cấm là không đúng, quy chế chỉ nói “không được mở” mà thôi, mà thực tế là chưa có trường nào xin mở (?). Sau thấy không ổn lắm, Bộ lại nói rằng đã công bố nhầm, thay vì công bố bản chính thì lại công bố bản nháp (!).
+ Dự thảo “Quy chế quản lý công dân Việt Nam đang học ở nước ngoài”.
Đây chỉ mới là dự thảo, tung ra để lắng nghe góp ý, nhưng đã gặp phải sự phê phán cực kỳ gay gắt. Phân tích dự thảo, nhiều người đi đến nhận định rằng đội ngũ các nhà soạn thảo dự án đó có trình độ  rất yếu kém, không am hiểu nghề nghiệp, không nắm chắc các văn bản luật pháp, không có kiến thức thực tế, không am hiểu tình hình… Nếu quả đúng như vậy thì thật đáng buồn, và là cái họa lâu dài cho việc quản lý giáo dục.
+ Môn Ngoại ngữ không phải là môn thi bắt buộc.
Từ trước đến nay thi tốt nghiệp THPT có 6 môn, trong đó có 3 môn cố định (tức là năm nào cũng thi): Toán, Văn, Ngoại ngữ. Ba môn còn lại thì thay đổi theo từng năm, tức không bắt buộc năm nào cũng thi.
“Đùng” một cái, đầu năm nay, khi công bố các điểm mới về thi tốt nghiệp, Bộ đã đặt môn Ngoại ngữ ra ngoài các môn cố định. Như vậy môn cố định chỉ còn Toán và Văn, môn Ngoại ngữ thì có thể thi cũng có thể không, tùy theo từng năm.
Dư luận lại một phen sửng sốt vì sự đổi mới này đi ngược với chủ trương tăng cường học ngoại ngữ của học sinh, sinh viên. Thậm chí Bộ đang nghiên cứu dự án học ngoại ngữ ở bậc phổ thông từ lớp 3 đến lớp 12.
May thay, lại “đoàng” một cái, Bộ lại tuyên bố các môn thi vẫn theo quy định cũ trước đây. Thế là cái mới này xóa bỏ không thương tiếc cái mới ngay trước đó, để trở thành cái như…cũ!
Trở lại như cũ là đúng là hợp lý. Chỉ có điều không hiểu tại sao Bộ lại “sáng đúng, chiều sai, sáng mai lại đúng” nhanh như chong chóng vậy?
+ Phần tự chọn trong các đề thi.
Năm ngoái, theo quy định thì trừ môn ngoại ngữ, các đề thi của các môn còn lại gồm hai phần: Phần bắt buộc và phần tự chọn. Phần tự chọn gồm hai đề, một đề theo chương trình chuẩn, một đề theo chương trình nâng cao.  Học sinh học theo chương trình nào thì phải “chọn” đúng đề của chương trình đó. Cái cấu trúc lôi thôi phức tạp ấy đã bị nhiều nhà giáo lên tiếng phản đối.
Người ta đặt ra các câu hỏi: – Tại sao phải có tự chọn trong kỳ thi tốt nghiệp phổ thông? -Tại sao môn Ngoại ngữ lại không có phần tự chọn? – Làm thế nào phát hiện ra thí sinh chọn không đúng phần tự chọn?
Nhưng, như thường lệ, Bộ cứ làm, và ngay trong kỳ thi năm ngoái, luật “chọn đúng”  đã bị bãi bỏ ngay trong khi chấm thi, nghĩa là ai muốn chọn đề nào thì làm đề đó, miễn là không làm cả hai.
Sang năm nay, Bộ vẫn giữ nguyên cấu trúc tự chọn, chỉ thay đổi ở chỗ, cho học sinh tự chọn phần tự chọn theo đúng nghĩa của “tự chọn”! Tôi thật tình không thể hiểu nổi tại sao các quan chức ở Bộ cứ làm rắc rối thêm vấn đề, làm cho sự việc đang đơn giản lại trở thành rất phức tạp như vậy? Hay đó mới là… đổi mới?clip_image002
+ Giảm từ 9.000 xuống còn 600.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm ngoái Bộ tung ra một lực lượng hùng hậu chưa từng thấy của thanh tra ủy quyền – 9000 người, gồm các giảng viên ĐH, CĐ. Ý định của Bộ muốn quyết tâm làm một kỳ thi nghiêm túc nhất, để trên cơ sở đó năm 2010 sẽ thực hiện dự án mà người ta quen gọi là thi “2 trong 1″ (nhập làm một hai kỳ thi tốt nghiệp và thi tuyển vào ĐH, CĐ).
Những giáo viên có kinh nghiệm cho rằng việc tăng cường thanh tra ủy quyền như vậy không phải là biện pháp hiệu quả để chống tiêu cực trong thi cử. Nếu hội đồng coi thi không nghiêm thì bao nhiêu thanh tra cũng chẳng thấm vào đâu!
Rồi không biết vì lý do gì, năm nay Bộ “sửa chữa sai lầm” bằng cách giảm mạnh số thanh tra ủy quyền đi 15 lần, chỉ còn 600 vị mà thôi. Tuy nhiên ông Phó Chánh Thanh tra của Bộ lại giải thích một cách khéo léo rằng: “Qua 3 năm thực hiện cuộc vận động “2 không”, công tác thi cử đã đi vào ổn định nên lực lượng thanh tra ủy quyền của Bộ cắm chốt tại các hội đồng coi thi không còn thực sự cần thiết nữa và gây lãng phí”.
Người nghe dễ dàng đưa ra hai câu hỏi khó trả lời: – Liệu việc giảm mạnh số thanh tra ủy quyền có làm cho việc thi cử trở nên tiêu cực như trước hay không? – Nếu quả thật việc thi cử đã ổn định, nền nếp, tại sao năm 2010 Bộ vẫn tổ chức hai kỳ thi như cũ mà không thực hiện “2 trong 1″ như đã báo trước?
Vì sao, vì sao và… vì sao?
Quả thật, nếu cứ làm công tác liệt kê các chủ trương, e quá dài dòng.
Nhưng người ta có quyền đặt câu hỏi: Các chủ trương do chính cán bộ quản lý các cấp Bộ xây dựng, và được người có thẩm quyền cao nhất Bộ GD và ĐT, ký duyệt ban hành. Vậy, tại sao các chủ trương này đụng đâu… dở đó?
Người viết bài này xin có vài ý kiến, vừa là nhận xét, vừa là đề nghị.
1) Việc đổi mới giáo dục nên bắt đầu bằng việc đổi mới mới tư duy, và cách quản lý giáo dục, trước hết ở cấp Bộ.
2) Muốn vậy phải cải tổ bộ máy hành chính và chuyên môn ngay trong cơ quan đầu não của Bộ GD và ĐT. Cần giảm bớt những người không có năng lực, chỉ ngồi ở bàn máy tính, không sâu sát thực tế, cần tăng cường những người có nghiệp vụ tinh thông, có tinh thần trách nhiệm, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
3) Không nên thay đổi xoành xoạch các chủ trương dầu là nhỏ, tránh tình trạng vừa thực hiện mới một lần rồi bỏ, thậm chí chưa thực hiện lần nào.
4) Đã hứa thì phải làm cho bằng được, bởi vậy đừng hứa trước những điều không dễ thực hiện. Chẳng hạn hứa rằng đến năm 2010 giáo viên có thể sống bằng lương, trong lúc đó lại bỏ việc phụ cấp chấm bài quá tiêu chuẩn…
5) Cần lắng nghe và hiểu rõ các ý kiến phản biện. Chẳng hạn vấn đề thi “2 trong 1″, vấn đề chọn nhà giáo được học sinh yêu quý, vấn đề lương giáo viên…

Tin tặc ở Việt nam: Không khảo mà xưng

Nhật Hiên, thông tín viên RFA
Trong tuần qua, dư luận trên các diễn đàn “lề trái” và cộng đồng bloggers được dịp nóng lên trước thông tin Trung tướng công an Vũ Hải Triều, Tổng cục phó Tổng cục an ninh, đã tự hào khoe thành tích: “Trong mấy tháng qua, bộ phận kỹ thuật của “ta” đã phá sập 300 báo mạng và blog cá nhân xấu”.

Ông Trương Tấn Sang – Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư phát biểu chỉ đạo "Hội nghị toàn quốc triển khai nhiệm vụ của các cơ quan báo chí năm 2010” ngày 5.5.2010. Photo courtesy of baodongnai.com.vn
Tướng công an thừa nhận
Lời tuyên bố này của ông Vũ Hải Triều được đưa ra trong bài nói chuyện tại “Hội nghị toàn quốc triển khai nhiệm vụ của các cơ quan báo chí năm 2010” ngày 5.5.2010, mà theo tường thuật của báo chí trong nước, là một hội nghị báo chí rất hoành tráng, dưới sự chủ trì của Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin Truyền thông và Hội Nhà báo Việt Nam, trước sự tham gia và chứng kiến của hàng trăm nhà báo, Tổng biên tập, Phó tổng biên tập, đại diện cho “178 báo và 528 tạp chí, 67 đài phát thanh – truyền hình, 21 báo điện tử, 160 trang điện tử của các cơ quan báo in và hàng ngàn trang tin điện tử, trên 17.000 nhà báo được cấp thẻ”.
Mặc dù có hàng trăm nhà báo tham gia, không một tờ báo nào đưa tin về việc này, nhưng một trong số họ đã gửi một bức thư ra hải ngoại. Bức thư được đăng trên trang diễn đàn và ngay lập tức nhiều trang mạng khác đã đăng lại. Trong thư, sau khi nhắc lại nguyên văn câu nói trên của ông Vũ Hải Triều, tác giả N.S.P viết: “Như vậy là các anh Huệ Chi, Phạm Toàn, Huy Đức khỏi thắc mắc, mất công đi tìm bọn “du côn mạng” nào đã cướp hộp thư điện tử (Huệ Chi, Huy Đức) và phá sập các mạng Bauxite, blog Osin, Dòng Chúa Cứu Thế, X-cafe, Dân luận, Talawas… cũng chẳng phải chứng minh rằng các cuộc đánh phá đều xuất phát từ những “thuê bao” của Viettel (Công ty viễn thông của Quân đội) nữa nhé.
“Trong mấy tháng qua, bộ phận kỹ thuật của “ta” đã phá sập 300 báo mạng và blog cá nhân xấu”.
Ô. Vũ Hải Triều
Lời khoe khoang thành tích của ông Triều thực ra cũng là một lời thú nhận chua cay: thay đổi một loạt Tổng biên tập, huýt còi cấm báo chí nhà nước ra khỏi “lề phải” không đủ, bắt một loạt nhà báo mạng tự do, không đủ, dựng tường lửa để ngăn chặn người trong nước truy nạp những nguồn tin “trái tai” Ban tuyên giáo và Bộ 4T không đủ, bây giờ người ra phải dùng đến phương pháp “cướp ngày” trên mạng. Có điều ông Triều quên rằng ông đã thú nhận mình vi phạm pháp luật quốc tế trước mấy trăm chứng nhân”.
Cáo buộc của Google
Điều này khiến mọi người nhớ lại sự kiện trong tháng 3 vừa qua, khi hai tập đoàn truyền thông hàng đầu trên thế giới là Google và McAfee lên tiếng cáo buộc Chính phủ Việt Nam có liên hệ với “tin tặc chính trị”. Bộ an ninh mạng của tập đoàn Google cho hay đã phát hiện ra chiến dịch tấn công các trang web nhạy cảm chính trị bằng tiếng Việt, nhất là các trang chứa thông tin phản đối dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên của chính quyền.
Còn hãng McAfee thì cho biết, trong quá trình điều tra, nghiên cứu cùng với Google, họ đã phát hiện ra cách thức tấn công của tin tặc cũng như địa chỉ IP của các máy chủ nằm tại Việt Nam và họ cho rằng tin tặc có thể có mục đích chính trị và có thể có liên hệ với Chính phủ CHXNCN Việt Nam.
Trước những cáo buộc được đưa ra từ những tập đoàn truyền thông lớn và đầy uy tín như Google và McAfee, người Việt trong và ngoài nước còn nhớ rõ phải mấy ngày sau, nhà nước Việt Nam mới lên tiếng thông qua phát biểu của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga với các nhà báo: “Đây là những ý kiến không có cơ sở” đồng thời cho biết: “Luật pháp Việt Nam có những quy định cụ thể về chống virus máy tính, phần mềm gây hại và bảo đảm an toàn, bí mật thông tin.” Chỉ có vậy.
- Việt Nam hiện có 24 triệu người sử dụng Internet.
- 41 triệu 700 ngàn người sử dụng điện thoại.
- Số người sử dụng điện thoại di động là 37 triệu 700 ngàn
Bức xúc trước sự việc, tác giả Trình Phụng Nguyên đã viết bài “Cáo buộc của Google và McAfee về vụ “Hack” trên mạng là vấn đề quốc thể” đăng trên trang bauxite Việt Nam, trong đó tác giả cho rằng lời tố cáo này “không còn gói gọn trong một cá nhân, một tổ chức hay một Chính phủ nữa, mà nó liên quan đến QUỐC THỂ của một dân tộc, dân tộc Việt Nam”, do vậy sự phủ nhận một cách đơn giản của nhà nước Việt Nam chỉ chứng tỏ “một đối đáp xuề xòa và hoàn toàn thiếu trách nhiệm”.
Và tác giả “khẩn thiết đề nghị và yêu cầu Chính phủ Việt Nam” phải “Lập thủ tục pháp lý kiện tụng đến cùng”. Mục đích:
1. Lấy lại danh dự cho dân tộc Việt Nam ở đây đang bị lăng mạ.
2. Xác định và trả lời với công luận trong và ngoài nước cũng như trước Quốc tế về hành vi này là không phải từ phía Chính phủ Việt Nam.
VIETNAM-LIFESTYLE-INTERNET-WI-FI
Lướt web bằng laptop trong tiệm cà phê wifi ở TPHCM đã trở nên thông dụng từ năm 2004. AFP PHOTO/HOANG DINH NAM
Lời đề nghị và yêu cầu này chẳng hề nhận được sự phản hồi nào từ phía Nhà nước Việt Nam. Thực tế, như tác giả Hoàng Linh Vương trong bài “Thế giới chán ghét, dân tình phẩy tay” đăng trên trang talawas đã viết: “Khi vụ khủng bố trên mạng bùng nổ, chỉ cần một chút suy luận, thêm một chút xíu kinh nghiệm, mọi người (trong đó có tôi) đều có thể luận ra rằng NCQVN (Nhà Cầm Quyền Việt Nam) chủ mưu. Tuy nhiên đây đã chỉ là sự phỏng đoán thiếu tang chứng.
Đến ngày 30.03.2010, hai Công ty Google và McAfee (USA) chính thức hóa vụ việc, cáo buộc NCQVN đứng sau những hành vi này, nhằm mục đích chính trị. Hiển nhiên là vi phạm Công ước Quốc tế”.
Trước sự nghiêm trọng của vấn đề, Nhà nước Việt Nam như đã thấy, chỉ còn mỗi một nước là đánh bài “lờ”.
Các trang mạng “lề trái” vẫn tiếp tục bị đánh phá dữ dội như Danchimviet, Talawas, Bauxite, X-Cafe, Thongluan, Danluan, Dòng chúa Cứu thế v.v. và hàng loạt trang blog cá nhân cũng bị đánh sập. Thậm chí dư luận còn đặt câu hỏi về sự “rút lui êm ả” gần đây của trang anhbasam.com, một trang web độc lập chỉ chuyên điểm tin, bài trên các báo, phải chăng cũng là từ một sức ép nào đó?
Bằng chứng của một sự phá hoại rất rõ ràng, như tác giả Nguyễn Văn Huy đã nêu lên trong bài “Tin tặc: một dịch bệnh cần phải loại trừ” đăng trên trang thông luận: “Có trang bị mất hẳn tên miền (domain name), có trang bị xóa hết nội dung và thay vào đó bằng những bài ca ngợi Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản, có trang chỉ còn hình thức nhưng nội dung là báo Nhân dân điện tử của Đảng Cộng sản, có trang bị khóa hẳn cổng vào khiến chủ nhà đích thực không mở ra được.
Điều làm nhiều người ngạc nhiên là ngay sau đó một loạt bài viết được phổ biến rộng rãi trên mạng lên án và chụp mũ là cộng sản những trang nhà đối lập với chế độ độc tài cộng sản trong nước, có bài còn chụp những trang nhà đã bị sửa đổi nội dung của phe đối lập để bôi nhọ uy tín những người chủ trương.
Càng ngạc nhiên hơn là có rất nhiều góp ý ở phần cuối bài, lên án những trang nhà bị đánh phá. Rõ ràng đang có một chiến dịch qui mô đánh phá những tiếng nói đối lập với chính quyền cộng sản”.
Khi vụ khủng bố trên mạng bùng nổ, chỉ cần một chút suy luận, thêm một chút xíu kinh nghiệm, mọi người đều có thể luận ra rằng Nhà cầm quyền Việt Nam chủ mưu.
Tác giả Hoàng Linh Vương
Tác giả Nguyễn Văn Huy cũng chỉ ra ai đứng đằng sau những vụ đánh phá này, đó là Tổng Công ty viễn thông quân đội Viettel, đặt dưới quyền quản trị của Tổng cục 2, tức Tổng cục Tình báo quốc phòng.
Trong khi đó, nhờ nắm vững kỹ thuật tin học, các trang mạng “lề trái” hầu hết đã phục hồi sau khi bị đánh phá, không những thế, còn khám phá và vạch mặt chỉ tên tin tặc là ai. Trang web Dòng chúa cứu thế đã công khai đưa IP của những hackers đã hits gần 500.000 lần vào địa chỉ www.dcctvn.net chỉ nội trong buổi chiểu ngày 26.4.2010. Trang Thông luận cũng có thư gửi tin tặc công khai những dữ liệu thông tin của những kẻ đánh phá. Cả hai trang web này đều cảnh báo tin tặc rằng họ chỉ gửi thư thân tình lần này, còn lần sau họ sẽ hành động mạnh mẽ hơn.
“Điếc không sợ súng”
Dù đã có những cảnh báo như vậy, có vẻ như phản ứng nhẹ nhàng của các trang mạng “lề trái” không đủ làm cho những kẻ tội phạm phải chùn tay, trong khi các nạn nhân lại có cả một lợi thế từ sự lên tiếng của hai tập đoàn truyền thông Google và McAfee. Nói như tác giả Hoàng Linh Vương: “Việc cáo buộc này sẽ không vô lý dừng ở đây nếu các tổ chức hoạt động cho dân chủ và nhân quyền, các tổ chức truyền thông “lề trái” biết khai thác tình huống, tác động đưa vụ việc ra được trước công luận quốc tế, tạo tình huống để hai Công ty Google và McAfee phải công khai hồ sơ.
Thêm một hướng nữa là chính những trang web từng bị đánh sập như Bauxite Việt Nam, talawas, X-cafe, Dân Luận… và một số blog bị thiệt hại khác có thể đồng thuận lập bản án làm đơn kiện trước quốc tế, đòi thủ phạm bồi thường mà tang chứng đang nằm sẵn trên bàn giấy của Google và McAfee. Thực chất việc bồi thường ở đây có thể chỉ là phụ, nhưng công khai được bộ mặt thật của NCQVN trước dư luận quốc tế mới là quan trọng”.
Nay thì với sự việc “không ai khảo mà tự xưng” của Trung tướng công an Vũ Hải Triều, các trang web và blog từng bị đánh lại có thêm một bằng chứng bằng vàng nữa.
Phản ứng trước lời tuyên bố của ông Vũ Hải Triều, tác giả Nguyễn Nhân Dân viết trong bài “Thì ra công an là tin tặc” đăng trên trang Tiền vệ: “Thế là công an Việt Nam đã vô tình vả vào mồm Bộ Ngoại giao Việt Nam một phát đẹp mắt.
EN0652C-LIFESTYLE-VIETNAM-INTERNET-BLOGS

Biểu đồ tỉ lệ sử dụng Internet ở Vietnam. AFP photo
Thế mới biết cái văn hóa đạo đức của những người cầm quyền của nước CHXHCN Việt Nam. Khi cần chối tội, thì họ chối phăng, chối biến, cho rằng mọi lời cáo buộc có bằng chứng khoa học đều chỉ “là những ý kiến không có cơ sở.” Đến khi cần khoe thành tích, thì họ lại khoe tuốt luốt tất cả những âm mưu và hành động của họ mà họ vừa gân cổ chối biến.
Cái dạng văn hóa đạo đức này có lẽ chỉ có đám xã hội đen mới có thể hiểu được. Mà đúng là xã hội đen, vì công an tự hào chính mình là tin tặc!”
Luật sư Cù Huy Hà Vũ thì gửi một bức thư ngỏ đến ông Vũ Hải Triều nói lên sự phẫn nộ của mình trước sự việc: “Thực tình khi mới đọc tin này, tôi vô cùng kinh tởm ông vì chỉ có loại dã man mới có hành vi phản văn minh đến như thế và hơn thế nữa, tôi coi ông là loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng vì đã ngang nhiên hủy diệt Quyền Tự do Ngôn luận, Quyền Tự do Báo chí, Quyền được Thông tin của công dân được quy định tại Điều 69 Hiến pháp Việt Nam, thậm chí là tội phạm quốc tế nếu máy chủ của báo mạng và blog cá nhân nằm ở nước ngoài.”
Tác giả yêu cầu: “ông cho tôi biết thông tin đã đăng trên Bauxite Việt Nam và các báo mạng nói trên là đúng hay sai sự thật” .
Và: “Sau một tuần kể từ hôm nay mà tôi không nhận được thư trả lời của ông, điều này đồng nghĩa với việc ông công nhận thông tin “Trung tướng Vũ Hải Triều, Phó Tổng Cục trưởng Tổng Cục An ninh – Bộ Công an tuyên bố đã chỉ đạo bộ phận kỹ thuật phá sập 300 báo mạng và blog cá nhân xấu là đúng sự thật!”
Giống như lá thư của tác giả Trình Phụng Nguyên gửi cho Chính phủ về cáo buộc của Google trước đây đã đặt nhà cầm quyền Việt Nam vào “thế kẹt”, lá thư gửi ông Tổng cục phó Tổng cục an ninh của luật sư Cù Huy Hà Vũ chắc chắn cũng làm cho ông Trung tướng này “khó bề ăn nói”, và chỉ có nước đánh bài “lờ” như nhà cầm quyền Việt Nam đã ứng xử trong vụ Google vậy.
Tin tặc là một sản phẩm bệnh hoạn được các chế độ độc tài dùng để trói tay, bịt mắt, cấm dân chúng bước vào xa lộ thông tin. Phải mạnh dạn tố cáo trước dư luận thế giới những hành vi để hèn của một chế độ không xứng đáng.
Tác giả Nguyễn Văn Huy
Vấn đề là Nhà nước Việt Nam từ xưa đến nay vẫn quen ứng xử theo kiểu luật rừng, coi thường mọi công ước, luật pháp quốc tế, và họ sẽ còn tiếp tục như vậy khi chưa bị trừng phạt. Trong cuộc chiến này, các trang báo đối lập với Nhà nước Việt Nam, đại diện cho những tiếng nói yêu tự do, dân chủ của đông đảo người dân Việt Nam hoàn toàn có lẽ phải, có lợi thế, và được sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới.
Bởi vì, như nhà báo Ngô Nhân Dụng trong bài “Nguyễn Huệ Chi, McAfee và Google” đã khẳng định: “Loài người đã tiến đến thế kỷ này, mọi người đều công nhận quyền được trao đổi thông tin, quyền được biết sự thật là một quyền thiêng liêng của mỗi con người. Ðó cũng là một động lực cần thiết giúp xã hội phát triển về kinh tế và văn hóa. Ngăn chặn quyền tự do đó, phá phách không cho người dân được thi hành những quyền đó, là phản tiến bộ, là chống lại cả loài người”.
Tác giả Nguyễn Văn Huy cũng viết: “tin tặc là một loại dịch bệnh cần phải loại trừ ra khỏi mọi sinh hoạt bình thường của loài người. Đây là một sản phẩm bệnh hoạn được các chế độ độc tài dùng để trói tay, bịt mắt, cấm dân chúng bước vào xa lộ thông tin. Phải mạnh dạn tố cáo trước dư luận thế giới những hành vi để hèn của một chế độ không xứng đáng”.
Phải chăng chỉ khi bị đưa ra trước công luận quốc tế, bị thế giới tẩy chay, thì lúc đó những kẻ phạm tội mới biết sợ?
NH
Nguồn: RFA, 19-05-2010

Những dự án kỳ vĩ: Tầm nhìn quá xa làm ta lóa mắt

clip_image002
Trần Huy Ánh
"Ngân sách hiện nay không còn tích lũy. Những năm trước còn dự trữ một ít nhưng vài ba năm nay phải đi vay cho đầu tư xây dựng cơ bản. Làm điện hạt nhân, xây đường cao tốc đều phải vay, quy hoạch Hà Nội cũng đi vay" – Chủ nhiệm UB Tài chính Ngân sách Phùng Quốc Hiển băn khoăn.
Chuyện ở xa
Có một bạn trẻ Việt kiều tại Nauy biết chúng tôi sắp "qua bển" đã ngỏ ý nhờ mua giúp bộ bát đĩa sứ. Chẳng nề hà, trong mỗi va li quần áo thêm chục cái bát đĩa nhỏ to, kể ra thì cũng hơi nặng. Sang tới nơi, mới biết ở đó đồ sứ bán bày la liệt ở các siêu thị. Hóa ra nhận làm cửu vạn hơn vạn cây số là để giúp bạn tiết kiệm vài trăm USD.
Nauy là quốc gia có GDP cao nhất nhì thế giới (gần 50.000 USD/người). Chỉ tính riêng quỹ  Dầu mỏ đã gần 200 tỷ USD (gấp 2 lần tổng GDP của VN) – Cả nước họ trưng cầu dân ý và thống nhất coi đó là tiền để dành cho tương lai, không được đưa vào tiêu dùng trong nước. Cuộc sống cả xã hội  rất đầy đủ nhưng của cải phân phối chi li. Cảnh ông chủ công ty vừa ăn trưa vừa ngồi họp, nhân viên làm việc tất bật, trẻ con nhặt cả bao tải vỏ chai nhựa để đưa vào máy ép nhận lại 1 curon/1 chai là bình thường. Cảm động nhất là có thanh niên mù ngày nào cũng gặp cần mẫn kéo Arcoordeon trên cầu và hôm nào cũng thấy bà cụ già chống nạng khó nhọc leo đến tận nơi tự tay bỏ giỏ vài đồng. Anh bạn Việt kiều lương khá cao, quy ra tiền Việt  gần trăm triệu đồng nhưng nhà cửa, đồ đạc, ô tô mua trả góp. Mới lấy vợ, con nhỏ, các khoản thuế… chi tiêu chặt chẽ từng xu.

Chuyện ở gần
Tháng 4/2008, nghe tin bà con Tây Hà Nội bán đất xây nhà, mua xe ầm ầm cũng thấy lo lo vì  thu nhập bình quân dẫu không nghèo, so với Nauy ta mới chỉ bằng 2%. Tháng 5/2010 lại rộ lên đợt mua bán đất rầm rĩ. Có nơi đền bù dự án đô thị cho 300 hộ nông dân lên tới 800 tỷ VNĐ… Không rõ là con số thống kê giàu nghèo liệu có đáng tin.

Dân giàu nước giàu thì còn gì vui hơn, nhưng nếu chưa giàu thì chuyện lập Quy hoạch giao thông cần cân nhắc nên dùng loại hình giao thông nào cho phù hợp. Ảnh minh họa: buckup
Trong bối cảnh thu Ngân sách TP khoảng 4 tỷ USD (72.000 tỷ VND) Quy hoạch Hà Nội đang được soạn thảo với dự kiến chỉ riêng khung kỹ thuật  hạ tầng trong 20 năm tới cần 30 tỷ USD, nếu đầu tư đô thị còn lớn hơn nhiều lần. Hàng ngày nghe tin lễ hội nơi nơi, xe hơi hàng khủng mới nhập, có người đã tậu máy bay riêng, hoa hậu toàn cầu tụ họp, đô thị hàng triệu mét sàn khởi công với khung cảnh hoa nở cây xanh thảm cỏ. Ở vùng quê người dân có tiền tỷ xây nhà mua một lúc mấy xe máy… Vậy thì dân ta giàu hay nghèo, nước ta đã giàu có chưa?
Dân giàu nước giàu thì còn gì vui hơn, nhưng nếu chưa giàu thì chuyện lập Quy hoạch giao thông cần cân nhắc nên dùng loại hình giao thông nào cho phù hợp và con đường nào nên làm trước để hỗ trợ sản xuất thay vì để trơn bánh ô tô chạy đến các căn hộ chia lô xây trên đất ruộng.
Ví dụ như mạng đường từ trung tâm TP Hà Nội  ra phía Tây để nối các đô thị có 1/5 dân số,  không cần nhiều trục giao thông lớn, chỉ đường Láng Hòa Lạc là đủ: Tổ chức tuyến xe buýt nhanh (RBT) thay vì làm đường sắt trên cao hay metro: vừa tốn tiền đầu tư và giá vé sẽ rất cao – không hợp với đa số người sử dụng giao thông công cộng còn nghèo.
Loại bỏ toàn bộ các trục đường Bắc Nam. Tây Thăng Long hay Đỗ Xá Quan Sơn: các con đường này xuyên qua Hành lang Xanh để nối các đô thị kinh doanh BĐS, tạo nguy cơ phá nát Hành lang Xanh. Chỉ cần nâng cấp đường sẵn có trên mái đê sông Đáy, sông Tích: vừa củng cố thủy lợi vừa an toàn do nền cao tránh được trũng ngập. Các đường vượt qua Hành lang Xanh cần đưa lên cao để đảm bảo thoát nước và triệt thoát đô thị bám đường  tự phát. Tăng cường vận tải thủy và đường sắt thường vận tải hàng hóa, chở khách rẻ tiền sẽ giảm 50-70% chi phí đầu tư giao thông ở phía Tây TP.
Giao thông nội đô với 8 tuyến chỉ cần ưu tiên 2 tuyến chính với đường sắt trên cao hay xe buýt nhanh -RBT,  nối Trung tâm TP với sân bay Nội Bài và đường sắt trên cao  Yên Viên – Ngọc Hồi (tuyến 1). Các tuyến Metro chỉ nên đầu tư sau khi cân đối được nguồn tài chính từ khai thác các trung tâm thương mại ngầm, bãi đỗ xe ngầm với các ga ngầm. Mặt khác cần kết hợp  thoát nước hay các trục đường cáp, tuynel kỹ thuật. Kết hợp đường trên cao với không gian phía dưới làm gara hay các dịch vụ sẽ huy động vốn xã hội. Khả năng giảm 50-70%  chi phí đầu tư giao thông nội đô TP.
Thông một con lộ mở cơ hội cho 6 tỉnh thành:
Các cụ xưa đã nói "lộ thông thì tài thông". Để tăng tính cạnh tranh thì phải hạ giá thành, chi phí vận chuyển phải thấp. Vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu thấp nhất tất yếu là đường biển. Biểu đồ dưới đây cho thấy 2 cảng biển quan trọng và Cảng Hải Phòng chiếm tỷ trọng vận chuyển không kém cảng Sài Gòn là bao nhiêu. Cảng Hải Phòng ngày càng có vị trí quan trọng khi Thủ tướng cho phép nghiên cứu dự án sân bay quốc tế: tương lai phát triển kinh tế Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Hải Dương và Hải Phòng gắn bó chặt chẽ với cảng Hải Phòng.
Thế kỷ XIX , đi từ Hà Nội xuống Hải Phòng  bằng đường thuỷ đi hết 7-8 ngày , đầu thế kỷ XX đường sắt đi hết 1 ngày sau đó giảm dần còn 4 giờ, đầu thế kỷ XXI đường bộ hết 2-2,5 giờ, đường sắt vẫn vậy và ngày càng tụt hậu. Mỗi ngày có hàng trăm ô tô chở container rầm rập trên đường trong khi lèo tèo vài chuyến tầu hỏa vắng khách. Nhiều diễn đàn tranh luận nên mở rộng đường sắt từ 1m lên 1,45m và tốt nhất là những toa tàu sang trọng lao trên đường cao tốc như những viên đạn với giá hàng tỷ USD.
Vốn ngành đường sắt đã hào phóng chi hàng triệu USD cho mỗi đầu tàu Diesel cực mạnh từ lâu rồi, nay chỉ cần vài trăm triệu USD nâng cấp hơn 100 km đường sắt, làm mới hệ thống tín hiệu, lập hành lang bảo vệ tuyến. Quan trọng nhất là ga chuyển đổi 2 đầu từ đường sắt sang đường bộ để chuyển container đến kho bãi các chủ hàng nhỏ lẻ. Thế là hàng trăm khu công nghiệp, nhà máy, khu đô thị bám đường QL 5,3,18… hạ thấp giá thành vận chuyển hàng hóa, tài lộc sẽ thi nhau tới, ngành đường sắt đường bộ cũng theo đà mà khấm khá theo. Các ông chủ sản xuất cứ bám theo hành lang này đảm bảo hàng trăm năm vượng thế làm ăn. Điều đó góp phần giảm áp lực giao thông trung tâm và Tây Hà Nội khoảng 60-80%.
Tuyến đường sắt Bắc – Nam dài 1.570 km, tốc độ 300 km/h. Tổng mức đầu tư 55 tỷ USD, bình quân là 35,6 triệu USD /km.Giai đoạn 2020 đưa vào vào khai thác đoạn từ Hà Nội – Vinh và đoạn Nha Trang – TPHCM. Giai đoạn đến 2030 xây dựng đưa vào khai thác đoạn Vinh – Đà Nẵng và hoàn thành toàn tuyến vào năm 2035. Đây thực sự thể hiện tầm nhìn rất xa của các nhà chiến lược giao thông. Chỉ e là tầm nhìn quá xa nên bỏ quên  những lợi ích vặt vãnh ngay trước mắt, nên nhân đây giới thiệu vài so sánh tham khảo. Nhất là các tổ chức tài chính quốc tế khuyến cáo: tỷ trọng đầu tư an toàn cho hạ tầng GT/GDP vào khoảng 7% là an toàn (Trung Quốc và Thái Lan 7-8%). Việt Nam  năm 2000-2006 đầu tư hạ tầng GT là 8,4-10,7% . Nếu có các dự án lớn, tỷ trọng sẽ tăng vọt.
THA
* Tài liệu tham khảo trên internet do Hanoidata ST&BT