6/7/10

Viết cho con trai vừa có bằng lái xe

Nhân dịp Father’s Day, Mặc Lâm xin gửi đến quý vị một bài viết thật cảm động trang trải những suy tư của một người cha đối với con trai mình.

father-and-son-in-japan-220.jpg
Cha và Con vào ngày lễ đầu năm tại Nhật. AFP PHOTO
Bài viết ngắn nhưng chứa đựng rất nhiều điều mà hiện nay những ai có tấm lòng với quê nhà đều không khỏi bâng khuâng trước nhiều vấn đề đã trở thành vấn nạn.
Bài viết xuất hiện năm 2009 trên trang blog của Dr. Nikonian và nhanh chóng được nhiều người biết và chia sẻ cho nhau trong cộng đồng mạng. Mời quý vị thưởng thức sau đây qua các giọng đọc của Việt Long, Nam Nguyên, và Trân Văn....

Dù quê người tốt đẹp hơn

Vậy là chỉ sau một giấc ngủ dài trên máy bay, con đến Mỹ, đặt chân xuống sân bay Chicago tráng lệ. Chỉ sau một đêm, con giã từ bạn bè, góc phố thân quen, mái trường cũ…, để làm quen với một thế giới khác.
Đó là một ân sủng, khi thoát khỏi văn mẫu, đề thi sai, chạy trường chạy lớp, con bước vào một hệ thống giáo dục khác, nơi mà cơ hội đồng đều cho mọi người.
Dr. Nikonian
Cái thế giới mới mẻ của Hiệp Chng quốc Hoa Kỳ, quả kỳ lạ phải không con? Nơi mà sự ân cần, thân thiện của chú hải quan nơi phi trường, chị da đen ở Sở An sinh Xã hội, và mọi nhân viên công quyền khác làm cho cha con ta lạ lẫm. Nơi mà con vào công viên chơi bóng rổ, không phải trả tiền như trăm ngàn đứa trẻ Hoa Kỳ khác. Đó là một ân sủng, khi thoát khỏi văn mẫu, đề thi sai, chạy trường chạy lớp, con bước vào một hệ thống giáo dục khác, nơi mà cơ hội đồng đều cho mọi người. Không có biệt lệ cho bất cứ con ông cháu cha nào cả.
Đó là lý do vì sao ta trào nước mắt, khi thấy các con trai ta, sung sướng, hồn nhiên chơi bóng rổ dưới bóng lá cờ sao vạch của một đất nước khác, không phải quê hương.
Giấc mơ Mỹ, quả là vĩ đại, không phải vì sự to lớn của nó, mà vì nó là của riêng con, riêng cho từng người. Và nó sẽ là sự thực, nếu con muốn, không phải là những lời phét lác huênh hoang của một thiên đường dối trá.
Chúc mừng con, con trai ta ạ!
marathon-in-chicago-250.jpg
Chạy maraton ở thành phố Chicago. Photo courtesy of Wikipedia.
Chỉ sáu tháng sau, ta thầm cám ơn trời đất, ông bà khi gặp lại con. Con chững chạc, cao lớn, tự tin như bao thanh niên khác trên đất Mỹ. Con không còn từ chỗ mỗi ngày trở về nhà nhớp nhúa, hôi hám, kiệt sức với khói xe, bụi đường, nước cống ngập đen xì. Con đậu bằng lái xe hơi ở Mỹ, kết quả của một cuộc thi cử công bằng và nghiêm túc. Con có quyền tự hào khi được ngồi sau tay lái, ung dung chen vào đoàn xe xuôi ngược ngày đêm trên hệ thống xa lộ vĩ đại nơi đây. Con đã được một quyền cơ bản, quyền lái xe, một cách danh chính ngôn thuận, mà không phải chạy chọt, dấm dúi như bao người khác ở quê nhà. Ở Mỹ, có bằng lái xe là một sự kiện lớn trong đời đó con!
Chúc mừng con, con trai ta ạ!
Các con ta, mỗi ngày cắp sách đến trường, về nhà không kiệt sức, không cùn mằn trong sự học nơi đây. Quyền đi học trong phẩm giá và niềm vui, quyền được hưởng thụ một nền giáo dục chính trực, công bằng, các con đã có! Đó là điều duy nhất, mà ta châm chước cho cái xã hội vừa kỳ quái nhất, vừa tốt đẹp nhất theo kiểu Hoa kỳ.
Chúc mừng con, con trai ta ạ!
Ta biết là ta may mắn khi có những đứa con trai như vậy!
Chỉ có một điều: con không muốn về Việt nam nữa!

Dù quê hương vẫn còn nhiều bất công và phi lý

dihoc-250
Con đường đến trường của học sinh làng Long Jôn, xã Đăk Ang. Photo courtesy of tuoitre.vn
Ta hơi chựng lại, nhưng ngẫm nghĩ một hồi, ta chẳng ngạc nhiên. Chỉ mới 6 tháng, ký ức đen của con về trường lớp, kẹt xe, khói bụi, tai nạn…vẫn chưa kịp phai nhạt. Con ghê sợ những điều ấy, cũng như ta, như triệu người Sài gòn khốn khổ khác. Con vẫn chưa quên sự phẫn nộ về một hệ thống giáo dục đầy bất công và tiêu cực. Con vẫn chưa quên những phi vụ tham nhũng bẩn thỉu đầy trên các báo ở nhà. Và bao nhiêu điều tội nghiệp đáng buồn khác, ai mà quên được?
Nhưng mà con ơi, dù nhếch nhác thảm hại đến vậy, đó vẫn là quê hương con. Nơi đó, có một Sài Gòn, mà cha con ta đã từng rong ruổi. Nơi con cất tiếng chào đời, nơi con lẫm chm những bước đầu tiên. Nơi con nói những tiếng Việt đầu tiên “từ thuở nằm nôi”. Kể cả những điều nhỏ nhặt nhất, từ quán phở ám khói cha con ta hay ngồi, từ hiệu video con ghé, từ quán café nhìn ra sông lộng gió cha con ta ngồi tán gẫu. Tất cả những điều tưởng như vô nghĩa với cuộc sống hào nhoáng nơi đây, nhưng là ký ức, đó là quê hương máu thịt con ạ!
Con vẫn chưa quên sự phẫn nộ về một hệ thống giáo dục đầy bất công và tiêu cực. Con vẫn chưa quên những phi vụ tham nhũng bẩn thỉu đầy trên các báo ở nhà.
Dr. Nikonian
Con đã bị nhồi vào đầu những kiến thức sử học nhàm chám, khô khan, đầy máu và căm thù. Con đã học niềm vinh quang dối trá từ nồi da xáo thịt, từ huynh đệ tương tàn. Con đã đọc sách thấy vì nhân danh lý tưởng, niềm tin, người ta đấu tố cha mẹ anh em. Sự hung bạo, được ngụy tín dưới vỏ niềm tin. Sự mù quáng, được đậy điệm bằng lòng kiên định trung thành…
Con không thể yêu quê cha đất tổ từ những điều giả trá ấy.

Vẫn là quê hương con

Hãy về đây! Ta sẽ đem con đến Yên Tử, kể cho con nghe chuyện đánh Nguyên Mông, dưới bóng tùng già 700 năm tuổi, phủ bóng lên mộ Trúc Lâm tam tổ. Ta sẽ chỉ cho con bãi cọc của Hưng Đạo Đại vương nơi bến Bạch Đằng, nơi gã lính viễn chinh xâm lược khi nhớ đến phải run sợ đến bạc đầu. Ta sẽ dẫn con đến ngôi từ đường đơn sơ mộc mạc của bà Bùi Thị Xuân, cùng cúi lạy anh linh nữ tướng. Ta sẽ dẫn con đến đèo Ngang lúc “bóng xế tà”, nơi có “cỏ cây chen lá, đá chen hoa”, cho con hiểu sự thanh cao của một tâm hồn Việt. Bên ngọn sóng bạc đầu Chương Dương, ta sẽ chỉ cho con những dấu chân xưa của Yết Kiêu, Dã Tượng, và của muôn vạn dân binh áo vải khác đã ngã xuống cho “đất nước vững thiên thu”.
Trẻ lang thang. Photo courtesy dongha.gov.vn
Trẻ lang thang. Photo courtesy dongha.gov.vn
Nhớ lại đi con, con trai nhỏ của ta! Con đã đặt chân đến Vạn Lý Trường Thành, ghê sợ cái nghĩa trang ngập xương máu lớn nhất hành tinh. Con đã thấy một Bắc Kinh hào nhoáng nhưng xấu xí với khói, bụi, ô nhiễm, khạc nhổ, oang oang nơi công cộng. Con đã thấy cảnh bắt người bán hàng rong như súc vật ngay chân Tử Cấm Thành. Con cũng đã thương hại gã Trung Hoa khốn khổ, lắp bắp một thứ tiếng Anh giả cầy khi bị quát tháo nơi sân bay quốc tế. Đất nước chúng ta, vẫn trường tồn dưới ách một gã khổng lồ, nhơ bẩn và man rợ như vậy đó con. Vì sao hôm nay ta không để tóc đuôi sam, con không ê a Hán tự, chúng ta không nhồm nhoàm những món ăn man rợ như óc khỉ, chân gà sống nướng? Vì sao chúng ta không bị đồng hóa theo lũ thái thú ô hợp kia, nếu không phải vì khí thiêng sông núi, anh linh tiên tổ đang chảy trong con?
Quê hương con đó!
Nhiều lắm con, nhiều chỗ để chỉ cho con thấy, dân tộc mình đã oai hùng, kiêu dũng, thanh sạch và khổ đau đến mức nào để có con sinh thành hôm nay.
Hoặc nếu thì giờ eo hẹp, con hãy về một miền quê cát trắng, nơi ông bà, tổ tiên con yên nghỉ dưới bóng phi lao vi vút. Họ đã sống, đổ mồ hôi trên mảnh đất này, như một người nông dân, lành và lương thiện như đất. Họ về với đất, trong vinh dự âm thầm, không như những ngụy-danh-nhân với lăng tẩm đền đài đồ sộ.
Sài Gòn nay, như một cô gái đẹp bị lũ du côn rạch mặt, nham nhở đến tội nghiệp. Hỗn độn, xấu xí, bẩn thỉu, và hỗn hào biết mấy so với Hòn Ngọc Viễn Đông nền nã năm xưa.
Dr. Nikonian
Quê hương con đó!
Sài Gòn mà con ca thán, đâu phải thế! Sài Gòn ngày xưa đẹp, thanh bình với “con đường Duy Tân cây dài bóng mát”, với “Trưng Vương khung cửa mùa thu”. Sài Gòn mà con ngưỡng mộ qua những ca khúc vượt thời gian, qua những người Sài Gòn xưa mà con hết lòng khâm phục. Sài Gòn nay, như một cô gái đẹp bị lũ du côn rạch mặt, nham nhở đến tội nghiệp. Hỗn độn, xấu xí, bẩn thỉu, và hỗn hào biết mấy so với Hòn Ngọc Viễn Đông nền nã năm xưa.
Quê hương con đó!
Một ngày kia, con sẽ hiểu: đó là một phần máu thịt trong con. Con sẽ quay về với nó, như con cáo nhớ hang, con chim nhớ tổ. Con sẽ có cảm giác về nhà – coming home- như ta mỗi lần quay lại từ một thế giới đầy ánh sáng, đặt chân xuống Tân Sơn Nhất. Cái cảm giác tìm về tổ đó, nó là bản năng, nó dẫn dắt người Do Thái quay về với mảnh đất Sion cằn cỗi, nó là niềm đau đáu của 2 triệu đồng bào con nơi đất khách. Không giải thích được bản năng tìm về cội nguồn đâu, con ạ! Mà cội nguồn con, đâu chỉ là Sài Gòn hỗn độn hôm nay. Cội nguồn con đã bắt đầu, khi Lang Liêu mở tấm bánh chưng xanh mộc mạc tạ ơn trời đất. Gốc rễ con, đã phôi thai với mẹ Âu Cơ khi đem con lên rừng xuống biển.

piciking-garbage-250.jpg
Nhặt đồ ăn thừa từ một nhà hàng ở Hà Nội hôm 26/04/2010. Photo by Tyler Chapman/RFA.
Về đây con! Về “mặc áo the, đi guốc mộc”, về mà “nghe chuyện tình bằng lời ca dao” , về để nhìn “bóng tre êm ru” lẫn “con diều vật vờ”, để thấy “trong đêm sao mờ lòng ta bâng khuâng theo gió vi vu”…Con đã lớn lên cùng ta, với những ca khúc này mà!
Ngày con về, chắc tóc ta đã trắng như bạt ngàn lau lách. Nhưng có hề chi, nếu máu ta vẫn chảy trong con lòng thương nhớ cội nguồn không bao giờ có tuổi.
Nhớ về, nghe con!
Quý vị vừa thưởng thức bài viết có tựa đề “Viết cho con trai vừa có bằng lái xe” của tác giả Dr. Nikonian. Hy vọng bài viết đã mang đến cho quý vị những cảm xúc mới trong ngày Father’s Day, và cũng mong rằng những tâm tình mà người cha trong bức thư gửi đến cho con trai của ông sẽ là những thông điệp cho người trẻ hôm nay để họ yêu quê hương mình hơn mặc dù nơi đó vẫn còn nhiều mảng tối...

30/6/10

‘Nhiều cán bộ trung ương có tài sản lớn’

Tiền
Nhiều cán bộ trung ương và đại biểu Quốc hội 
ở Việt Nam ''có tài sản rất lớn''.
Tổng thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền cho báo trong nước hay một số trung ương ủy viên và đại biểu Quốc hội có tài sản lớn trong tay.
Ông Truyền nói chuyện với một nhóm phóng viên tại cuộc gặp bên hành lang Quốc hội.
Trao đổi ngắn chủ yếu tập trung vào trường hợp ông Đặng Hạnh Thu, người vừa bị thôi chức Tổng Cục trưởng Tổng cục Thuế vì sở hữu 26 lô đất “vàng” ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Nội dung của cuộc phỏng vấn nhanh sau đó được đăng trên báo Tuổi Trẻ.
Về tài sản của cán bộ, ông Truyền được trích lời nói như sau:
“…ngay trong Trung ương hoặc ngay trong Quốc hội này, cũng có nhiều người đã trình bày có tài sản rất lớn, rất nhiều, chẳng ai có đối xử gì, có ý kiến gì, đúng không?”
Ngày 4/6 ông Đặng Hạnh Thu thôi giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế. Ông được đưa về Bộ Tài chính để chờ phân công công tác mới.
Tháng Tư năm nay, trong cuộc họp thường lệ, Ủy ban kiểm tra (UBKT) Trung ương đã thảo luận về trường hợp “có nhiều nhà đất” của “đồng chí tổng cục trưởng một tổng cục thuộc Bộ Tài chính”. Nhiều người cho rằng đây là ông Đặng Hạnh Thu.
Tin nói đến gia đình ông Thu sở hữu một khu đất lớn, địa thế đẹp, rộng 2.155 thước vuông, chia thành 26 lô. Tọa lạc trên đường Đồng Khởi, tp Biên Hòa, khu này được phê duyệt làm nhà ở. Tuy nhiên một quán nhậu đã mướn 23 lô đất của ông Thu làm địa chỉ kinh doanh.
Giá một lô hiện giờ khoảng 2,5 tỷ đồng, theo báo Người Lao Động. Trước đây ông Đặng Hạnh Thu mua 26 lô chỉ mất có 4 tỷ đồng.
Trước câu hỏi có bao nhiêu cán bộ có nhiều tài sản như ông Đặng Hạnh Thu, ông Trần Văn Truyền trả lời, “có nhiều”.
“Nói chung thì có nhiều nhưng tôi không được phép nói lúc này vì muốn công khai tài sản của cán bộ phải theo quy định chứ không thể hỏi và trả lời như thế này được.”
Quyết định thôi chức Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế của ông Đặng Hạnh Thu đã được mọi người biết đến từ tháng Tư, qua kết luận của UBKT Trung ương.
“UBKT Trung ương kết luận: đồng chí là một cán bộ giữ chức vụ trong một ngành có trọng trách nhưng chưa thực sự giữ gìn, đã làm ảnh hưởng đến uy tín bản thân. UBKT Trung ương đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét về mặt tổ chức.”
Tuy nhiên ông Truyền không cho rằng ông Thu bị mất chức vì sở hữu nhiều đất, rồi buôn bán cho thuê gây dư luận không tốt.
“Tôi cũng có nghe thông tin này nhưng đó là theo yêu cầu bố trí công tác của các cơ quan chức năng đã bàn, còn theo tôi hiểu thì nó không phải do lỗi từ chuyện đất đai này.”
Dù ngay phần đầu của cuộc phỏng vấn ông Truyền có nhắc tới đất là lý do ông Thu gặp khó khăn trong đường quan lộ: "...việc này không có vấn đề gì gọi là sai trái nghiêm trọng. Thế nhưng có việc anh là cán bộ mà mua quá nhiều đất."

Hội thảo về các thể chế độc đoán ở châu Á

Quang cảnh hội thảo
Cuộc hội thảo diễn ra từ 29/06-01/07

Một hội thảo về các thể chế độc đoán (authoritarian) ở Đông Á đang diễn ra tại Hong Kong, nhấn mạnh các trường hợp Việt Nam Trung Quốc và Bắc Hàn.
Hội thảo này do Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Trường đại học Thành phố Hong Kong (City University of Hong Kong) chủ trì trong hai ngày rưỡi từ 29/06-01/07.
Thể chế độc đoán, theo định nghĩa của những người tổ chức hội thảo, là các thể chế chính trị mà trong đó cạnh tranh chính trị cũng như biểu thị và ngôn luận chính trị bị hạn chế hoặc ngăn cấm.
Tại khu vực Đông Á, Việt Nam, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên là các trường hợp tiêu biểu cho thể chế chính trị dạng này.
Hong Kong và Macau, vì mới trở về với Trung Quốc, được coi như các thể chế "độc đoán tự do" đặc biệt.
Người đứng đầu ban tổ chức hội thảo, Tiến sỹ Jonathan London, chủ nhiệm chương trình Việt Nam học tại Trường đại học Thành phố Hong Kong, cho hay mục đích chính của hội thảo là để hiểu rõ hơn về thể chế chính trị của Việt Nam, Trung Quốc và Bắc Hàn trong quan hệ so sánh với nhau.
"Chúng tôi đã từng có hội thảo về cơ chế Nhà nước Việt Nam, rồi về quan hệ giữa Việt Nam và các nước trong khu vực. Lần này, các nghiên cứu kỹ hơn về thể chế và liên hệ giữa chính thể theo hướng độc đoán với phát triển kinh tế và phát triển xã hội sẽ cho chúng ta cái nhìn sâu hơn, thực chất hơn về những gì đang diễn ra ở trong nước."
Ông London, người từng sống nhiều năm tại Việt Nam và nói tiếng Việt lưu loát, nói ông đã mời một số học giả trong nước tham gia hội nghị, nhưng không có ai chấp thuận, có lẽ là vì e ngại cái tên của hội thảo.

Tuy nhiên, ông khẳng định việc tổ chức hội thảo không có tính chính trị, mà thuần túy phục vụ cho công tác nghiên cứu và lý luận.
Hội thảo quy tụ hàng chục diễn giả là các chuyên gia về Đông Nam Á và chính trị học, trong có các chuyên gia hàng đầu về Việt Nam như Carlyle Thayer, Ngô Vĩnh Long, Vũ Quang Việt...
Tới hội nghị lần này, Giáo sư Carl Thayer mang hai bản tham luận mà ông đã chuẩn bị công phu về 'Bộ máy Cai trị Độc đoán ở Việt Nam' và 'Quan hệ giữa Việt Nam, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên trong 5 năm tới'.
Giáo sư Ngô Vĩnh Long từ Đại học Maine, Hoa Kỳ, có nghiên cứu về 'Tăng trưởng Kinh tế và Chủ nghĩa Độc đoán ở Việt Nam'. Chuyên gia Vũ Quang Việt thì phân tích về việc lạm dụng quyền lực trong nhà nước độc đảng với nền kinh tế thị trường.
Các học giả còn xem xét nhiều khía cạnh khác của thể chế chính trị độc đảng, độc đoán ở Việt Nam như kiểm soát hoạt động của các tổ chức dân sự, phi chính phủ, hệ thống trách nhiệm trong nhà nước Việt Nam và lịch sử hình thành hệ thống độc đảng ở Việt Nam.
Đây là lần thứ tư có một hội thảo quốc tế về chủ đề thể chế độc đoán ở Việt Nam và các nước Đông Á.

Cuộc di tản hàng trăm trẻ mồ côi ở Sài Gòn năm 1975

Ngày 12 tháng Tư năm 1975 của ba mươi lăm năm trước, chiếc phi cơ của không lực Hoa Kỳ hạ cánh an toàn xuống đất Mỹ với hai trăm mười chín trẻ từ cô nhi viện An Lạc của thành phố Sài Gòn.

Photo courtesy of Angel Scribe
Bà Betty Tisdale và những đứa trẻ mồ côi gốc Việt Nam, ảnh chụp trước đây.

Những người mẹ

Người đứng ra bảo bọc và vận động cho cuộc di tản của hai trăm mười chín cô nhi đến nước Mỹ là một phụ nữ Hoa Kỳ, bà Betty Tisdale, vào khi Sài Gòn đang trải qua những giờ phút hoảng loạn đen tối.
Mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi kỳ này xin kể lại  câu chuyện bà Betty Tisdale và cuộc di tản tràn ngập nước mắt khỏi Sài Gòn, bởi để bốc được hai trăm mười chín em thì Betty phải đành đoạn bỏ lại một trăm tám mưới mốt em khác trên mười tuổi mà chính phủ miền Nam lúc ấy không cho phép bà mang đi. 
Thực sự lúc ấy tôi không biết phải xoay sở thế nào để đưa hết bốn trăm cô nhi của An Lạc đi. Tôi chỉ biết tôi không thể để các em ở lại trong cảnh hỗn loạn.
Bà Betty Tisdale
Và nếu không có  bóng dáng một phụ nữ nhân hậu, bà Vũ Thị Ngãi, người mẹ của bốn trăm cô nhi ở viện mồ côi An Lạc, chắc chắn Betty Tisdale không thể nào biết đến nơi này để rồi, như một định mệnh, trở thành người mẹ thứ hai ở đây trong bao năm, trước khi chạy đôn chạy đáo tìm mọi cách di tản các em ra khỏi Sài Gòn những giờ hấp hối. 
Có điều gì nối kết những mãnh đời trong cô nhi viện An Lạc mà khởi đầu là tấm lòng rộng mở của bà Vũ Thị Ngãi. Từ những ngày tản cư trên đất Bắc, bà Vũ Thị Ngãi thường nhặt nhạnh các trẻ lạc cha lạc mẹ hoặc cha mẹ chết hết để mang về nuôi nấng. Năm 1954, trên chuyến tàu USS Montague đưa người di cư vào Nam, bà Vũ Thị Ngãi mang theo được sáu mươi em mồ côi đi cùng. Trên tàu, một bác sĩ quân y Hoa Kỳ, ông Tom Dooley, đã hết lòng chăm sóc những đứa con đói rách ốm yếu của bà Ngãi.
Xúc động trước cuộc di cư vĩ đại của hơn một triệu người trốn chạy cộng sản miền Bắc, bác sĩ quân y Tom Dooley viết tác phẩm Deliver Us Fron Evil, Xin Cứu Chúng Tôi Ra Khỏi Sự Dữ, trong đó có hình những đứa bé lem luốc rách rưới đứng quanh  bà mẹ Vũ Thị Ngãi . Đó cũng là những cô nhi đầu tiên của cô nhi viện An Lạc tại Sài Gòn sau này, vẫn với sự giúp đỡ cùng  công sức và tiền bạc quyên góp của bác sĩ Tom Dooley.
Tình cờ quyển sách Xin Cứu Chúng Tôi Ra  Khỏi Sự Dữ rơi vào tay Betty Tisdale, thôi thúc bà tìm gặp bác sĩ Dooley.  Kết quả là năm 1961 Betty quyết định đến Sài Gòn, đến với cô nhi viện An Lạc, đến với người bà hằng ngưỡng mộ là bà Vũ Thị Ngãi.
Những ngày tháng làm việc và sinh hoạt với cô nhi viện An Lạc đã tạo  cơ hội cho Betty gặp bác sĩ quân y Patrick Tisdale. Cùng lý tưởng yêu thương và phục vụ tha nhân, họ yêu nhau, lập gia đình và chung sống đến lúc này.





Chờ di tản ở Sài Gòn ngày 30-4-1975. VIETNAM OUT AFP 
PHOTO/VNA/FILES
Chờ di tản ở Sài Gòn ngày 30-4-1975. VIETNAM OUT AFP PHOTO/VNA/FILES

Quyết định táo bạo

Bây giờ mời quí vị trở lại chuyến di tản của hai trăm mười chín em  mồ côi sang Mỹ  ba  mươi lăm năm trước với lời thuật  của bà Betty Tisdale, năm nay đã 87 tuổi: 
Tháng Tư năm 1975 tình hình mỗi ngày một tệ hơn, mọi việc diễn ra quá nhanh, chừng như chiến tranh sắp kết thúc và Sài Gòn sẽ mất. Khi hay tin tổng thống Gerald Ford cho phép máy bay vận tải bốc cô nhi ra khỏi Sài Gòn thì tôi biết tình hình cấp bách lắm rồi.
Thế là tôi quyết định phải di tản qua Mỹ hết mấy trăm em trong cô nhi viện An Lạc. 
Từ Hoa Kỳ, Betty Tisdale gọi diện về  cho  bà Vũ Thị Ngãi, giám đốc cô nhi viện An Lạc, báo cho biết bà sẽ về Việt nam trong vài ngày nữa để đưa hết mọi người sang Mỹ:
Ông đại sứ cho tôi biết ông có thể giúp về vận chuyển, thế nhưng việc tôi muốn đưa các cô nhi ra khỏi Sài Gòn thì phải có sự  chấp thuận của chính phủ Việt Nam.
Bà Betty Tisdale
Tuy nói chắc với bà Ngãi như vậy nhưng thực sự lúc ấy tôi không biết phải xoay sở thế nào để đưa hết bốn trăm cô nhi của An Lạc đi. Tôi chỉ biết tôi không thể để các em ở lại trong cảnh hỗn loạn lúc ấy.
Cầm trong tay chiếc vé đi Việt Nam, những câu hỏi quay cuồng trong đầu Betty, làm sao đưa  các em sang đây, nếu qua được rồi  các em sẽ ở đâu, làm thế nào tìm người bảo lãnh cho hơn hai trăm trẻ trong một thời gian ngắn.
Thế là  tôi bắt đầu gọi Washington  để rồi được biết  chính phủ Mỹ đòi hỏi hoặc trẻ đã có sẵn người bảo trợ tức cha mẹ nuôi, hoặc đang trong tiến trình lập thủ tục làm con nuôi thì mới được sang Mỹ.
Tôi gọi ngay cho Cơ Quan Di Trú thì họ bảo có bảy tổ chức thiện nguyện được công nhận mà nếu muốn tôi nên  liên lạc để tiến hành thủ tục với một trong bảy nhóm  đó.
Bấy lâu đi  Việt Nam rồi quyên góp tiền bạc để lo cho cô nhi viện An Lạc trong tư cách cá nhân, Betty Tisdale  không rành rẻ các thủ tục xin và nhận con nuôi. Cố điện thoại đến Tressler Lutheran Agency, một tổ chức từ thiện ở Pensylvania, Betty được tổ chức này hứa giúp.
Nhưng còn nơi tạm trú cho các em những ngày đầu tới Mỹ nữa. Betty Tisdale gọi đến trại tạm cư Fort Benning ở Georgia. Nơi này húa giúp đỡ bà trong những ngày tới.
Về tới Việt Nam, chuyện đầu tiên là tôi đến ngay tòa đại sứ Mỹ. Ông đại sứ giới thiệu tôi với một người chuyên trách máy bay vận chuyển của quân đội.
Ông đại sứ cho tôi biết ông có thể giúp về vận chuyển, muốn bao nhiêu máy bay quân sự cũng có, thế nhưng việc tôi muốn đưa các cô nhi ra khỏi Sài Gòn thì phải có sự  chấp thuận của chính phủ Việt Nam.

Những đứa trẻ họ Vũ


Sài Gòn ngày 30-4-1975. VIETNAM OUT AFP PHOTO/VNA/FILES
Sài Gòn ngày 30-4-1975. VIETNAM OUT AFP PHOTO/VNA/FILES
Tiếp xúc với thứ trưởng Bộ Xã Hội Việt Nam lúc bấy giờ, bác sĩ Phan Quang Đán, Betty được yêu cầu xuất trình danh sách và giấy khai sanh của các em. Mà lấy đâu ra khai sinh cho ngần ấy trẻ vô thừa nhận bây giờ, bởi chúng bị vất bỏ ngay khi vừa lọt lòng mẹ, Betty than thầm.
Với quyết tâm là bằng  mọi giá  phải vượt qua trở ngại, chúng tôi tìm cách tạo  giấy khai sinh cho từng em, đặt cho mỗi em một tên , những bốn trăm tên ...tất cả con trai con gái  đều mang họ Vũ. Tại  sao ư, tại vì mẹ của chúng là bà Vũ Thị Ngãi, người đã sáng lập và làm giám đốc cô nhi viện An Lạc.
Mọi chuyện tưởng êm xuôi nhưng tới ngày lên đường thì chính phủ Việt Nam cho biết không thuận để những em trên mười tuổi ra đi. Thế là thay vì cả bốn trăm thì chỉ còn  hai trăm mười chín trẻ sơ sinh và trẻ dưới mười tuổi. Một trăm tám mươi  mốt em ở lại với bà Vũ Thị Ngãi. Cuộc chia tay diễn ra trong thảng thốt và nước mắt.  
Hình ảnh bà Ngãi và những em ở lại không bao giờ phai mờ trong tâm khảm Betty Tisdale. Bằng mọi giá người mẹ của những trẻ mồ côi An Lạc phải đến Mỹ, Betty tự hứa với lòng mình, nếu không bà Vũ Thị Ngãi sẽ bị chế độ mới trừng phạt vì bà là một người di cư năm 1954 với 60 trẻ từ Bắc vào Nam, rồi lại để cho hơn hai trăm trẻ ra đi trong cảnh loạn lạc của Sài Gòn tháng Tư  1975.
Ngày 12 tháng Tư 1975,  chiếc phi cơ quân sự  chở 219 em qua Mỹ phải đáp khẩn cấp xuống phi trường Los Angeles vì một số em bị đuối sức không thể bay tiếp đến Fort Benning, nơi mà trung tâm từ thiện Tressler Lutheran có nhiệm vụ tìm kiếm những gia đình muốn nhận các em làm con nuôi.
Bằng  mọi giá  phải vượt qua trở ngại, chúng tôi tìm cách tạo  giấy khai sinh cho từng em, đặt cho mỗi em một tên , những bốn trăm tên ...tất cả con trai con gái  đều mang họ Vũ.
Bà Betty Tisdale
Cũng nhờ vào sự vận động tích cực của Betty Tisdale với đại sứ Martin khi ấy còn ở Việt Nam, ngày 28 tháng Tư 1975 bà Vũ Thị Ngãi được đưa tới đảo Guam. Sau đó bà  được Betty Tisdale đón từ Guam về Columbus, Georgia . Betty và chồng,  ông Patrick Tisdale, nhận bà Ngãi làm mẹ nuôi của họ.
Rất tiếc bà Vũ Thị Ngãi chỉ sống với chúng tôi được ba năm rồi qua đời vì bệnh lúc 73 tuổi.
Ba mươi lăm năm sau, 30 tháng tư 1975 đến 30 tháng Tư  2010, hai trăm mười  chín trẻ mồ côi mang họ Vũ của cô nhi viện An Lạc Sải Gòn giờ đã lớn, đã thành thân, sống rải rác trên các tiều bang ở Hoa Kỳ. Năm người trong số họ được ông bà Tisdale nhận làm con.
Vào ngày thứ Sáu 30 tháng Tư này, tòa soạn báo Người Việt, nhật báo Việt ngữ lớn nhất miền Nam California, sẽ tổ chức  buổi đón tiếp và tri ân bà Betty Tisdale. Đây là lần đầu tiên sau ba mươi lăm năm cộng đồng người Việt mới có dịp tiếp xúc với ân nhân của các trẻ mồ côi của cô nhi viện An Lạc xưa.
Đây cũng là cơ hội cho một  số anh chị em An Lạc, nay đã trưởng thành, tìm về với nhau kể từ lần chia xa  mỗi người mỗi ngã ba mươi lăm năm về trước.
Chân thành cảm ơn phóng viên Hà Giang của báo Người Việt đã giúp Thanh Trúc thực hiện một câu chuyện với kết thúc rất có hậu này. 
Mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi chấm dứt ở đây. Xin hẹn lại quí vị vào thứ Năm tuần tới.

Hình ảnh trốn chạy CS ngày 30-04-75

http://www.flickr.com/photos/1347648...97665628/show/

cám ơn những phóng viên chiến trường ngoại quốc đã ghi lại những hình ảnh tang thương này trong lịch sử Việt Nam



Tất cả ngày giờ, địa điểm đều được tường thuật chi tiết trong đây
http://www.flickr.com/photos/1347648...7621997665628/


hãy xem để cảm nhận

35 năm sau, những chiến binh cả 2 miền Nam-Bắc


AFP PHOTO/Aude GENET
Phát triển kinh tế nhưng vẫn còn khoảng cách giàu nghèo.

2010-04-25
Những chiến binh thuộc hai Miền Nam-Bắc, những người đã từng là đối thủ, kẻ thù của nhau trong suốt cuộc chiến, 35 năm sau họ nói gì?
Biến cố 34-4-1975 được xem là “một sự đổi đời” khiến hàng triệu người phải vượt thoát tìm tự do, trong cái chết gần kề, ngoài biển cả mênh mông. Hàng triệu người khác bị cầm tù, bị xua đuổi khỏi thành thị, bị bần cùng hóa, bị tước đoạt quyền sống.
Đáp lời mời của Ban Việt Ngữ, hai cựu sĩ quan Không Quân và Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, một cựu sĩ quan Quân Đội Nhân Dân và một cựu đảng viên Cộng Sản từng được cử du học Đông Âu, trình bày những suy nghĩ của mình đối với hiện tình đất nước, sau khi đã dứt tiếng súng từ 35 năm qua; hòa bình được vãn hồi, kinh tế đang phát triển, xã hội ổn định, tuy nhiên người dân Việt cho rằng vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại, được chính những chiến binh của hai miền Nam-Bắc nêu lên với RFA.
Fact box
- Việt Nam - Dân số: 85.789.573,
- Chính trị:theo chế độ xã hội chủ nghĩa, một đảng duy nhất là Đảng CSVN,
- lợi tức bình quân 1,060 US dollars.

Tự do, dân chủ, độc lập?

Một quân nhân Không Quân miền Nam có gần 25 năm thâm niên công vụ, cựu tù nhân cải tạo với 7 năm tù, từ California, ông Nguyễn Thanh Liêm phân tích về tình hình đất nước:
Về mặt chủ quyền: Giáp ranh biên giới Ải Nam Quan, Thác Bản Dốc và các hải đảo Hoàng Sa, Trường Sa đều bị Trung Quốc cướp mất. Trên Internet tố cáo Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận hối lộ trên trăm triệu đô la cho Trung Quốc khai thác Bô Xít tại Cao Nguyên.
Về mặt xã hội: Việt Nam đàn áp một cách khốc liệt các nhà tranh đấu cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền, luôn cả các nhà tu hành đòi tự do tôn giáo, bắt cầm tù và tra tấn trong các nhà giam. Chưa có một chính phủ nào, luôn cả thời thực dân đế quốc đô hộ, cũng chưa bằng thời nay do cộng sản cai trị; không có luật pháp, chỉ có luật rừng do họ dựng nên để đè đầu người dân Việt Nam.
Cộng sản Việt Nam cho xuất khẩu lao động đem dân đi làm nô lệ cho quốc tế, hạ nhân phẩm người phụ nữ Việt Nam, buôn bán phụ nữ làm vợ cho người Đài Loan, Đại Hàn, và có nhiều người phải làm vợ cho cả gia đình cha con và anh em. Trẻ em 8, 10 tuổi thì đưa sang Campuchia cho vào các động mãi dâm làm gái với khách thập phương.
Về giai cấp: Số đông dân chúng quá nghèo, thành phần giai cấp lãnh đạo thì quá giàu, một bữa tiệc gần cả trăm ngàn đô la, một chai rượu ngoại cả ngàn đô, nhà cao cửa rộng, như nhà của cựu Tổng Bí Thư Lê khả Phiêu đã phô bày trên Internet.
Một lọat các nhà đấu tranh cho dân chủ bị đưa ra xét xử gần đâyMột lọat các nhà đấu tranh cho dân chủ bị đưa ra xét xử gần đây

Lời nói của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm” là một câu nói bất hủ muôn đời! Cộng Sản miền Bắc xâm lăng miền Nam, không xem dân miền Nam là tình ruột thịt anh em mà đối đãi như kẻ thù cần tiêu diệt. Đảng cộng sản phải giải tán, để cho nhân dân Việt Nam tự do bầu lấy một chính quyền do Dân, phục vụ Dân và lập quyền Dân.”

Thất vọng

Kế đó, một cựu sĩ quan Quân Đội Nhân Dân, nhiều năm chiến đấu ngoài mặt trận từng chứng kiến bao đồng đội gục ngã, hy sinh máu xương để thực hiện chiêu bài “Giải Phóng Miền Nam” do Hà Nội chủ trương, ông Vũ Cao Quận nói lên niềm tâm sự của mình, được gói gọn qua hai chữ “thất vọng”:
“Tôi lúc này như ngọn nến mong manh trước gió, tắt lúc nào chưa biết, những lời nói của tôi là điều tôi nói thật. Cuộc chiến đấu giải phóng Miền Nam đối với tôi, khi sắp sửa ra đi với các cụ rồi, tôi chỉ đau lòng là cuộc chiến đấu đó là “nồi da xáo thịt”, hai anh em xông vào bắn giết lẫn nhau.
Một bên là người Mỹ cho kẹo cao su với khẩu AR 15, một bên là Tàu với Liên Xô cho một gói lương khô với khẩu AK 47, cứ thế mà hai thằng anh em ruột, cùng máu đỏ, da vàng, cùng bà mẹ Âu Cơ sinh ra, xông vào chém giết lẫn nhau.
Chúng tôi chẳng giải phóng Miền Nam làm gì, và Miền Nam cũng chẳng cần chúng tôi giải phóng.
Ông Vũ Cao Quận
Chúng tôi chẳng giải phóng Miền Nam làm gì, và Miền Nam cũng chẳng cần chúng tôi giải phóng. Cái chuyện đó đã qua lâu lắm rồi mà tôi thì già yếu quá, chỉ trả lời tóm tắt thế thôi.
Tôi chỉ thấy nỗi đau là cái giá hy sinh của đồng đội tôi, và kể cả các ông nữa, tôi không biết gọi như thế nào, là những người đồng đội, hai bên cùng vì Tổ quốc của mình mà bắn giết lẫn nhau. Đến bây giờ chỉ có điều là tôi thất vọng quá, có thế thôi, tôi sắp ra đi rồi, tôi không cần gì nữa, còn tôi thất vọng vì nó rồi, đồng đội của tôi chiến đấu chết nhiều quá.
Những lời hô hào của họ thì đều đẹp đẽ cả, chẳng gây cho tôi một cái hy vọng gì cả, một chút hy vọng nào cả, tôi không chờ được nữa. Thế là công lao của tôi là công cóc rồi, không chờ được cái ngày ấy nữa đâu. Nhân dân ta thì vẫn khổ quá, không hy vọng gì cả.”

Đâu rồi lợi thế 35 năm?

Với cái nhìn của một nhà phân tích thời sự, bình luận chính trị, một cựu sĩ quan Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, ông Đại Dương đưa ra nhận xét của ông về chính sách của Hà Nội, trong hơn 3 thập niên qua, cùng các hậu quả được thể hiện rõ, hôm nay:
Bản đồ hình lưỡi bò do Trung Quốc công bố xác định chủ quyền trên 
biển Đông. Photo courtesy of nguoiviettynan.net











Bản đồ hình lưỡi bò do Trung Quốc công bố xác định chủ quyền trên biển Đông. Photo courtesy of nguoiviettynan.net
“Tập đoàn lãnh đạo đảng cộng sản đưa đất nước vào tình cảnh mà không một người Việt Nam yêu nước nào cảm thấy hài lòng, hãnh diện vì áp dụng chính sách bất dung và chọn lầm đồng minh.
Hòa bình đến, nhưng, hy vọng về đất nước thanh bình, hết hận thù để cùng chung sức phát triển đã bị chính sách bất dung làm triệt tiêu có hệ thống các yếu tố góp phần ổn định xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển.
Sách vở như chiếc túi khôn của loài người vốn tích lũy vô số kinh nghiệm bị đảng cộng sản Việt Nam đốt sạch nhằm cắt đứt sự liên hệ giữa thế hệ trẻ với sinh lực dân tộc. Chính sách bất dung dấy lên làn sóng vượt biên, thuyền nhân từ Bắc chí Nam đã vét cạn chất xám cần thiết cho công cuộc xây dựng đất nước phú cường.
Do đó, tập đoàn lãnh đạo Hà Nội phải dựa vào đồng minh để tồn tại đã khắc sâu những vết hằn đau đớn lên cơ thể Việt Nam. Việt Nam chọn Liên Xô làm đồng minh nên cho Mạc Tư Khoa toàn quyền sử dụng hải cảng Cam Ranh từ năm 1979 đến 2004.
Áp dụng chính sách hợp-tác-hóa đã dẫn dân tộc đến bờ vực nạn đói năm 1985. Việt Nam xua quân vào Xứ Chùa Tháp năm 1979 đã kích thích Bắc Kinh mở cuộc chiến tranh biên giới khốc liệt vào năm 1979.
Liên Xô tan rã, Hà Nội lại muối mặt cầu cạnh Bắc Kinh nên phải làm quà bằng các Hiệp định về biên giới và Vịnh Bắc Bộ. Từ đó, Việt Nam có một mô hình kinh tế tư bản man dại thời đại Karl Marx, cộng với kiểu kinh tế thân hữu đã bị thế giới ruồng bỏ.
Vì áp dụng mô hình lạc hậu nên đến năm 2009, lợi tức bình quân chỉ có 1,000 USD. Từ 1963 đến 1995, Nam Hàn đã nâng lợi tức bình quân từ 100 lên tới 10,000 USD.
Việt Nam đang từng phút, từng giờ đứng trước mối đe dọa mọi mặt của người đồng minh “môi hở răng lạnh”. Chỉ có dân tộc Việt Nam đồng lòng mới giải tỏa được chứ không thể trông chờ vào nhà nước ù lì và bất lực.”

Thực chất của chế độ cộng sản

Một cựu đảng viên cộng sản, du học tại Ba Lan rồi trở về nước phục vụ, nay sinh sống tại thủ đô Vác Sa Va, tiếp tục đấu tranh cho quyền lợi giới lao động Việt Nam ở hải ngoại, ông Trần Ngọc Thành giải thích vì sao ông rời bỏ hàng ngũ đảng cộng sản Việt Nam:
“Ra đi du học tại Ba Lan tôi mới bắt đầu hiểu thực chất của chế độ cộng sản là gì, tôi có rất nhiều anh chị em trực tiếp tham gia vào quân đội, có những người đã hy sinh, có những người hiện nay là thương binh. Sau này, ngày càng tìm hiểu thì tôi thấy đó là một cuộc nồi da xáo thịt của người Việt Nam đánh nhau.
Người hưởng lợi chính là đảng cộng sản Việt Nam. Năm 1945 thì họ cướp chính quyền tại Miền Bắc, khi đất nước chia thành hai miền sau hiệp định Geneve, họ lại bắt đầu phát động cuộc chiến tranh gọi là giải phóng Miền Nam, thực chất là họ muốn thu quyền lực về một mối, tôi rất thất vọng về chính quyền hiện nay.
Những căn nhà sang trọng nhiều từngNhững căn nhà sang trọng nhiều từng lầu chung quanh nhà bác Phiêu đều là của các lãnh tụ cao cấp tướng tá

Thật ra ý đồ của Hà Nội là thâu tóm tất cả chính quyền về tay người cộng sản, nhưng phải nhìn vào thực tế của đất nước, nhìn vào hạnh phúc của nhân dân mà phấn đấu. Thật ra từ năm 1975 đến nay, những người cầm quyền chỉ chăm chú vào quyền lợi của đảng cộng sản cũng như bản thân người cầm quyền, còn người dân vẫn là nô lệ trên đất nước mình.
Cái nô lệ ở đây không chỉ nói riêng về kinh tế mà trên các mặt, người dân có quyền nói, biểu hiện chính kiến, cách nhìn của mình, nhưng dưới chế độ cộng sản họ bị nô dịch tất cả các mặt.
Về kinh tế thì chính quyền cho cái gì thì dân được cái nấy, như việc hợp tác hóa, rồi sau này các chính sách khác về kinh tế là ngăn sông cấm chợ, cấm buôn bán, cải tạo công thương nghiệp, chỉ để phục vụ một nhóm nhỏ trong chính quyền.
Thật ra thì tôi không trả thẻ đảng mà tôi vất thẻ đảng, vì những người làm chủ đất nước hiện nay, thực sự chỉ là tôi tớ cho một số đảng viên cao cấp.
Ông Trần Ngọc Thành
Thật ra thì tôi không trả thẻ đảng mà tôi vất thẻ đảng, vì những người làm chủ đất nước hiện nay, thực sự chỉ là tôi tớ cho một số đảng viên cao cấp. Phần lớn người lao động hiện nay xuất thân từ nông thôn hay thành thị, từ trước tới nay bị phân biệt đối xử, về cả kinh tế lẫn mặt chính trị.
Sự sụp đổ của chế độ cộng sản, thay đổi chính trị tại Đông Âu là điều cần phải thay đổi để làm cho đất nước đi lên. Tôi thấy rằng, mục tiêu của chúng ta hiện nay là làm sao cho đại bộ phận người Việt Nam được no ấm.”
Qua những góp ý của các cựu chiến binh của hai miền Nam Bắc thì 35 năm sau khi chiến tranh kết thúc Việt Nam vẫn chưa thực hiện được chủ trương “độc lập, tự do, hạnh phúc” được ghi trên quốc huy của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và cũng là mục tiêu do đảng cộng sản đề ra, từ khi lên nắm chánh quyền hồi năm 1945.
35 năm sau khi hòa bình được vãn hồi, mặc dù được Hà Nội đã được kết nạp vào WTO, là thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, là chủ tịch luân phiên của ASEAN, nhưng công luận vẫn cho là Việt Nam thiếu tự do, dân chủ, không có tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, không có nhân quyền và nằm trong danh sách những quốc gia có thu nhập thấp kém trên thế giới và trong khu vực Châu Á.

Chiến tranh Việt Nam kết thúc sau bắt tay giữa hai siêu cường?


Photo courtesy Nixonfoundation.org
Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon và Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tại Bắc Kinh vào năm 1972.

2010-04-29
Chiến tranh Việt Nam đã lùi vào quá khứ 35 năm, thế nhưng trong những năm qua, rất nhiều người Việt và cả người Mỹ vẫn còn nhiều thắc mắc liên quan tới cuộc chiến này.
Để cùng nhau ôn lại lịch sử liên quan tới cuộc chiến, nhất là chuyến đi của Tổng thống Nixon đến Trung Quốc cách nay gần 40 năm, nơi đó hai bên Mỹ - Trung đã ra Thông cáo Thượng Hải và rồi Hiệp định Paris được ký kết, dẫn đến việc Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam  và tiếp theo là sự sụp đổ của Sài Gòn 35 năm trước.

Quan điểm thay đổi

Như chúng ta đã biết, thuyết domino về Chủ nghĩa Cộng sản có từ thời Tổng thống Eisenhower. Thuyết này cho rằng khi phong trào cộng sản ở Trung Quốc thành công, nếu Hoa kỳ không can thiệp để phe cộng sản ở Bắc Việt chiếm miền Nam Việt Nam, sẽ làm cho các nước Đông Dương khác rơi vào tay cộng sản, đe dọa các nước còn lại trong khu vực như: Malaysia, Philippines, Nhật Bản, Úc...
Nếu Trung Quốc không phải là nước cộng sản, chúng ta đã không có chiến tranh ở Triều Tiên. Nếu Trung Quốc không phải là nước cộng sản, chúng ta không có cuộc chiến ở Đông Dương.
Tổng thống Nixon
Ông Richard Nixon là người ủng hộ thuyết domino và là một trong những nhân vật nổi tiếng chống cộng. Đó là một trong những lý do ông được chọn làm ứng cử viên phó Tổng thống, đứng trong liên danh với ông Eisenhower, ứng cử viên Tổng thống, và liên danh này đã đắc cử.
Trong thập niên 50s, khi còn là Phó Tổng thống, ông Nixon đã từng lên tiếng phản đối Trung Quốc mạnh mẽ, vì nước này là cộng sản. Ông đã nói: “Chúng ta có thể thấy Trung Quốc là nguyên nhân cơ bản của tất cả mọi rắc rối của chúng ta ở châu Á. Nếu Trung Quốc không phải là nước cộng sản, chúng ta đã không có chiến tranh ở Triều Tiên. Nếu Trung Quốc không phải là nước cộng sản, chúng ta không có cuộc chiến ở Đông Dương”.
Thế nhưng, năm 1969, khi trở thành Tổng thống, ông Nixon đã thay đổi chính sách về cộng sản. Có lẽ do sức ép của người dân Mỹ muốn kết thúc chiến tranh Việt Nam, cũng như nhận thức của Hoa Kỳ về giá trị chiến lược trong việc cải thiện mối quan hệ với Trung Quốc, đã làm cho cho Tổng thống Nixon thay đổi. Trong một thông điệp gửi đến người dân Mỹ liên quan tới chiến tranh Việt Nam, ngày 7 tháng 4 năm 1971, Tổng thống Nixon đã nói:
Vấn đề rất đơn giản đó là như thế này: chúng ta sẽ rời khỏi Việt Nam theo cách mà - bởi những hành động của chính chúng ta - cố ý chuyển giao đất nước cho những người Cộng sản? Hay là chúng ta sẽ rời khỏi theo cách, cho người miền Nam Việt Nam một cơ hội hợp lý để tồn tại như là những người tự do? Kế hoạch của tôi sẽ chấm dứt sự tham gia của người Mỹ theo cách sẽ cung cấp cho miền Nam cơ hội đó. Và một kế hoạch khác sẽ kết thúc nó một cách vội vàng và trao chiến thắng cho những người Cộng sản”.
Và chuyến thăm lịch sử của Tổng thống Nixon năm 1972, đã giúp Hoa Kỳ chấm dứt sự tham gia trong chiến tranh Việt Nam, theo một trong hai cách mà Tổng thống Nixon đã đưa ra, cũng có thể không phải là cách mà Tổng thống Nixon, Hoa Kỳ và nhiều người Việt mong đợi. Thế nhưng chuyến đi này của Tổng thống Nixon đã đã làm thay đổi cán cân quyền lực toàn cầu cũng như lập ra một trật tự thế giới mới.





Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon và Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai
 tại Bắc Kinh hôm 25-2-1972. Photo courtesy National Archives & 
Records Administration.
Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon và Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tại Bắc Kinh hôm 25-2-1972. Photo courtesy National Archives & Records Administration. 

Trung - Mỹ bắt tay?

Cũng xin nhắc lại rằng, do có những mâu thuẫn với Liên Xô, một nước XHCN anh em của Trung Quốc, và nhất là sau lần đụng độ quân sự ở biên giới giữa hai nước hồi tháng 8 năm 1969, dẫn đến việc Liên Xô đưa ra các kế hoạch chi tiết cho một cuộc tấn công hạt nhân vào Trung Quốc, nên Mao Trạch Đông lo ngại và muốn tìm một sự hòa giải với Hoa Kỳ để Trung Quốc rảnh tay mà đối phó với Liên Xô.
Phía Hoa Kỳ cũng muốn cải thiện quan hệ với Trung Quốc, giúp kết thúc chiến tranh Việt Nam, cuộc chiến đã gây chia rẽ nước Mỹ, nên tháng 7 năm 1971, ông Nixon đã phái ông Henry Kissinger, Cố vấn An ninh Quốc gia, bí mật đến Trung Quốc để sắp xếp cho chuyến viếng thăm của Tổng thống Nixon đến nước này. Và rồi cả thế giới đã bị sốc khi biết rằng Tổng thống Hoa Kỳ có ý định đến thăm Trung Quốc vào năm sau, 1972.
Là chúng ta sẽ rời khỏi theo cách, cho người miền Nam Việt Nam một cơ hội hợp lý để tồn tại như là những người tự do?
Tổng thống Nixon
Mặc dù Trung Quốc rất muốn thiết lập quan hệ với Hoa Kỳ với lý do đã nêu trên, thế nhưng Trung Quốc cũng muốn ông Nixon phải bày tỏ trong tuyên bố của mình rằng, Tổng thống Hoa Kỳ “rất thèm” được đến thăm Trung Quốc, và rằng Trung Quốc rất “độ lượng” khi để ông Nixon đến thăm. Trong một lần trả lời phỏng vấn, ông Nixon nói:
Tuyên bố bây giờ tôi phải đọc, đang được ban hành ở Bắc Kinh cũng như ở Hoa Kỳ rằng: Được biết Tổng thống Nixon đã bày tỏ mong muốn đến thăm nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Thủ tướng Chu Ân Lai, thay mặt Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, mở lời mời Tổng thống Nixon đến thăm Trung Quốc vào một ngày thích hợp trước tháng 5 năm 1972. Tổng thống Nixon đã nhận lời với niềm hân hạnh”.

Thông cáo Thượng Hải


Tổng thống Richard Nixon thăm quân đội Mỹ tại Việt Nam năm 1970. 
AFP PHOTO.
Tổng thống Richard Nixon thăm quân đội Mỹ tại Việt Nam năm 1970. AFP PHOTO.

Trước chuyến đi của Tổng thống Nixon là chuyến đi của ông Kissinger đến Trung Quốc vào mùa hè năm 1971, tại đó ông Kissinger cũng đã cùng với ông Chu Ân Lai, Thủ tướng Trung Quốc, đưa ra bản thảo về Thông cáo Thượng Hải. Hai bên đã nhận ra rằng Hoa Kỳ và Trung Quốc có nhiều điểm không thể thỏa hiệp, cho nên Chu Ân Lai đề nghị lập một bản thông cáo không chính thức và hai bên chấp nhận những điểm bất đồng, mỗi bên nêu rõ quan điểm của mình trong các phần riêng biệt khi cần thiết.
Và sau đó, tuần lễ cuối cùng của tháng 2 năm 1972, một chuyến viếng thăm lịch sử kéo dài một tuần của Tổng thống Nixon ở Trung Quốc. Vào ngày cuối cùng của chuyến viếng thăm này, ngày 28 tháng 2, tại Thượng Hải, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã ban hành một thông cáo chung, còn gọi là Thông cáo Thượng Hải.
Những điểm chính trong thông cáo Thượng Hải là, hai nước cam kết đi đến bình thường hóa, sẽ cùng nhau hợp tác trao đổi trên nhiều lĩnh vực, Hoa Kỳ công nhận Đài Loan là một bộ phận của Trung Quốc và hai bên cam kết giải quyết vấn đề Đông Dương trong đó có chiến tranh Việt Nam.
Trong thông cáo cũng có một đoạn “ám chỉ” Liên Xô khi tuyên bố rằng, hai quốc gia Hoa Kỳ và Trung Quốc “không nước nào được phép tìm kiếm quyền bá chủ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương và mỗi nước chống lại các nỗ lực của bất kỳ nước nào hoặc nhóm các nước khác nhằm thiết lập quyền bá chủ”.
Một trong những điểm chính đã nêu trong Thông cáo Thượng Hải là quan điểm của hai nước về sự có mặt của quân đội Hoa Kỳ ở Đông Dương, trong đó có Việt Nam. Thông cáo nêu rõ, phía Trung Quốc ủng hộ hoàn toàn “Đề nghị 7 điểm” của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, do bà Nguyễn Thị Bình đưa ra trong lần đàm phán ngày 1 tháng 7 năm 1971.
Trong “Đề nghị 7 điểm” này, bà Bình kêu gọi Mỹ đưa ra thời hạn rút toàn bộ lực lượng Hoa Kỳ khỏi miền Nam và xóa bỏ chính phủ Việt Nam Cộng hòa của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Và rồi, như mọi người đều biết, Hiệp định Paris đã được ký gần một năm sau đó. Chiến tranh Việt Nam cũng đã kết thúc cách nay 35 năm, như là một thỏa thuận giữa các nước lớn với nhau.

 

Theo dòng thời sự:


Việt Nam đã quên cuộc đấu tranh cho tự do?

Photo courtesy National Archives & Records Administration.
Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon và Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tại Bắc Kinh hôm 25-2-1972.

2010-06-28
TS K. R. Bolton 10-06-2010 Xung đột về ý thức hệ và đặc biệt là sự bất đồng giữa cánh tả với cánh hữu nói chung phục vụ cho việc: (1) Che giấu các sự kiện và đặc biệt là nguyên nhân các vấn đề bởi vì các giáo điều cố thủ, (2) Làm cho kẻ thù trong nhóm và các cá nhân, những người có nhiều điểm chung hơn là tìm thấy sự bất đồng.
Trường hợp Việt Nam, và đặc biệt là cuộc nội chiến giữa hai miền Nam – Bắc, sự bất đồng giữa hai phe dĩ nhiên là đang xảy ra. Cánh tả ở phương Tây, và đặc biệt là tại Mỹ, đứng ở vị trí chống lại bất cứ chính sách nào mà Hoa Kỳ theo đuổi, trong khi cánh hữu kiên định ở vị trí là “bất cứ điều gì đất nước tôi làm, tôi đều ủng hộ”.
Những ngày này, trong cuộc chiến chống lại “trục ma quỷ”, cánh hữu, ý tôi muốn nói là trong bối cảnh “những người bảo thủ nguyên thủy” của Mỹ, khác với những người có nguồn gốc theo chủ nghĩa Tờ rốt kít, “những người bảo thủ mới”, trở lại vị trí truyền thống “nước Mỹ là trước hết” đã không còn được ưa chuộng trong chính sách của Mỹ kể từ thời điểm ít nhất là thời Tổng thống Woodrow Wilson.

Cuộc đấu tranh cho tự do Việt Nam

Trường hợp Việt Nam, đã đấu tranh được vài ngàn năm và có dấu hiệu cho thấy cuối cùng họ đầu hàng vì một quyền lực nước ngoài gặm nhấm chủ quyền hơn bất kỳ cường quốc quân sự đế quốc thông thường nào.
Tham vọng đế quốc Trung Quốc đối với Việt Nam ngược trở lại năm 208 TCN, khi một tướng Trung Quốc là Triệu Đà, tự xưng hoàng đế trên nhiều phần lãnh thổ của Việt Nam. Năm 111 TCN, Việt Nam đã sát nhập vào nhà Hán và trở thành quận Giao Chỉ. Sau nhiều thế kỷ kháng cự, độc lập đã đạt được ở một mức độ nào đó, nhưng Việt Nam vẫn tiếp tục phải cống nạp cho Trung Quốc.
Người Mông Cổ đã bị đẩy lùi thành công trong thế kỷ 12 và người Việt là giống dân duy nhất làm được điều đó, đủ để chứng minh sự kiên cường của họ. Trung Quốc chiếm đóng Việt Nam năm 1407, nhưng sau hai thập kỷ chiến đấu, đã được giải phóng hoàn toàn trong năm 1428. Trung Quốc lại tấn công vào năm 1788 nhưng cũng đã bị đẩy lui.
Pháp không bao giờ có thể mong đợi việc quay lại thuộc địa Đông Nam Á có hiệu lực, và khu vực này chắc chắn trở thành mối quan tâm về địa chính trị của Hoa Kỳ như là cường quốc Thái Bình Dương đang lên
Sử gia Peter Grosse

Năm 1909, Trung Quốc cố đòi quần đảo Hoàng Sa, bắt đầu một loạt các hành động hung hăng kéo dài cho đến nay. Năm 1956, hải quân Trung Quốc chiếm một phần quần đảo Hoàng Sa và xâm lấn thêm vào năm 1974. Năm 1984, Trung Quốc thành lập khu hành chính Hải Nam, kiểm soát hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1988, tàu Trung Quốc và Việt Nam đã đụng độ ở đá Gạc Ma và Cô Lin (Johnson Reef). Năm 1992, đã có những cuộc xâm nhập sâu hơn vào Trường Sa.
Trung Quốc đã tham gia hợp đồng với Công ty Năng lượng Crestone Hoa Kỳ năm 1994, thăm dò dầu khí quanh Trường Sa. Năm 2000, Việt Nam đã nhượng bộ cho Trung Quốc vùng biển ngoài Vịnh Bắc Bộ. Trong năm 2004, có hơn 1.000 lần Trung Quốc xâm phạm vùng biển Việt Nam, với 80 ngư dân Việt Nam bị giam giữ trong tháng 12.

bando1b-305.jpg

Bản đồ do Hội địa lý Hoa Kỳ phát hành phần khoanh vòng màu đen là Hoàng Sa được chú thích là của Trung Quốc. Photo courtesy of nationalgeographic.com

Trung Quốc đã khoan dầu ở vùng biển Việt Nam trong năm 2005, và trong năm đó hải quân Trung Quốc bắn vào ngư dân Việt Nam ở vùng biển Việt Nam thuộc Vịnh Bắc Bộ. Năm 2007, Trung Quốc bắn vào ngư dân Việt Nam ngoài khơi Hoàng Sa. Hải quân Trung Quốc tiến hành tập trận trong khu vực.
Chính phủ Trung Quốc phê duyệt kế hoạch xây dựng Tam Sa, một thành phố lớn để sáp nhập ba quần đảo, bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm dưới sự kiểm soát của Trung Quốc [1].
Năm 1979, Việt Nam trở thành nạn nhân của sự đối đầu Trung – Xô, khi Trung Quốc xâm lược như “một hành động của việc bác bỏ Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh, và Tương trợ Trung – Xô, tới kỳ gia hạn”[2].
Khoản 6 của Hiệp ước nói rằng, nếu hai bên không ký thông báo ý định chấm dứt hiệp ước trong năm cuối cùng, liên minh sẽ tự động gia hạn thêm 5 năm nữa [3].
Cái được gọi là Hiệp ước Hữu nghị Trung – Xô không được thiết kế để bảo đảm vị trí siêu cường cho Trung Quốc là do Liên Xô, như ý định của Mao, hoặc không phải là một liên minh hữu nghị giữa hai nước cộng sản được cho là anh em nhưng để duy trì vị trí của sự chinh phục và làm nhục công khai. Trung Quốc xem Hiệp ước này giữ cho Nga "quyền bá chủ". Nó đến từ những ngày khi Stalin áp đặt các điều kiện lên chính quyền Mao, rằng ông không bao giờ được xem là đồng chí [4].
Do đó, Trung Quốc xâm lược Việt Nam năm 1979 với ý định khiêu khích trực tiếp Liên Xô, nước đã ký hiệp ước phòng thủ với Việt Nam năm 1978, chính hiệp ước này nhắm vào Trung Quốc. Liên minh Việt – Xô này đã làm cho Việt Nam “dính chặt vào” “mục đích kềm chế Trung Quốc” của Liên Xô [5].
Rạn nứt giữa Trung Quốc và Việt Nam càng trở nên rõ hơn khi hàng ngàn người gốc Hoa chạy trốn khỏi Việt Nam trong năm 1978. Tranh chấp lãnh thổ trên quần đảo Trường Sa và Việt Nam xâm lược Campuchia, đã gia tăng căng thẳng trong quan hệ Việt – Trung.
Ông Bruce Elleman nói rằng Trung Quốc không đối mặt với thất bại ở Việt Nam do việc rút quân nhanh, bởi vì cuộc xâm lược này nhằm mục đích thách thức Liên Xô, nước đã ký hiệp ước phòng thủ với Việt Nam, cho thấy Nga xuất hiện như cái gọi là “con gấu giấy”; do đó bác bỏ hiệp ước gọi là Nga – Trung, hiệp ước chẳng là gì cả, chỉ là một sự cản trở và đã tới lúc gia hạn đúng vào thời điểm cuộc tấn công.
Trung Quốc thông báo ý định xâm lược Việt Nam vào ngày 15 tháng 2 năm 1979, là ngày đầu tiên mà họ có thể chấm dứt Hiệp ước Trung – Xô năm 1950 một cách hợp pháp, và họ đã tấn công Việt Nam ba ngày sau đó. Khi Moscow không can thiệp, Bắc Kinh công khai tuyên bố rằng Liên Xô đã thất hứa trong việc hỗ trợ Việt Nam. Sự thất bại của Liên Xô trong việc giúp đỡ Việt Nam làm cho, ngày 3 tháng 4 năm 1979, Trung Quốc tuyên bố rằng họ có ý định chấm dứt Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và tương trợ Trung – Xô năm 1950.
... Chỉ sau ba tuần giao tranh, Trung Quốc rút lui và tranh chấp biên giới Việt – Trung vẫn chưa được giải quyết. Với đa số những người ngoài, hành động quân sự của Trung Quốc như thế được xem là thất bại. Nhưng nếu mục tiêu thực sự đằng sau cuộc tấn công của Trung Quốc là để lộ ra sự bảo đảm hỗ trợ quân sự cho Việt Nam của Liên Xô là dối trá, thì việc Liên Xô từ chối can thiệp một cách hiệu quả đã chấm dứt hiệp ước phòng thủ Việt – Xô.
Như vậy, rõ ràng là Bắc Kinh đã đạt được một chiến thắng chiến lược bằng cách phá vỡ sự bao vây của Liên Xô và loại bỏ mối đe dọa của Moscow về một cuộc chiến trên hai mặt trận [6].
Trung Quốc đe dọa gây chiến với Nga nếu Nga viện trợ cho Việt Nam. Trong khi đó, Trung Quốc phát triển liên minh với Hoa Kỳ, [điều này] đã đe dọa Liên Xô trên hai mặt trận. 
Nhằm ngăn chặn sự can thiệp của Liên Xô thay cho Việt Nam, ngày hôm sau Đặng Tiểu Bình đã cảnh cáo Moscow rằng, Trung Quốc đã chuẩn bị một cuộc chiến toàn diện chống Liên Xô. Để chuẩn bị cho cuộc xung đột này, Trung Quốc đặt tất cả quân đội dọc theo biên giới Trung – Xô, báo động một cuộc chiến khẩn cấp, thiết lập lệnh quân sự mới ở Tân Cương, và thậm chí sơ tán khoảng 300.000 thường dân khỏi biên giới Trung – Xô [7].
Trung Quốc đã chứng kiến sự thiếu ý chí ở Nga, cộng thêm sự thất bại của Bộ Chính trị hành động chống lại Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan [8].

Chủ nghĩa thực dân Pháp và Chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ


Taquangbuukyhiepdinhgeneve.jpg-250.jpg

Tạ Quang Bửu, trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đang ký Hiệp định Genève. Photo courtesy of wikipedia 

Sau hàng loạt hành động xâm lược quân sự của Pháp giữa 1859 và 1885, Việt Nam trở thành Đông Dương của Pháp. Bắt đầu sự sụp đổ Đông Dương của Pháp, và thực ra của các cường quốc đế quốc châu Âu nói chung, đã được thiết lập trong sự chuyển động của thế chiến thứ II. Năm 1941, Nhật xâm chiếm Việt Nam. Cuộc chiến tranh chống Nhật đã cho Hồ Chí Minh cơ hội giành lấy Hà Nội. Từ 1946-1954 lực lượng của Pháp và ông Hồ đã tham gia với nhau, miền Bắc và miền Nam Việt Nam đã được thành lập theo Hiệp định Geneva năm 1954, với Pháp đã bị loại ra.
Thật là ngây thơ khi tin rằng Hoa Kỳ theo đuổi thái độ thân thiện với các đồng minh Thế chiến thứ II liên quan đến tương lai của các đế quốc châu Âu sau chiến tranh. Hoa Kỳ chỉ cam kết tiêu diệt các đế quốc châu Âu như Liên Xô [cam kết], khi cả hai tìm cách lấp vào khoảng trống. Đó là điều hiển nhiên từ Hội đồng Đối ngoại (CFR) Hoa Kỳ, ý kiến của sử gia Peter Grosse cho rằng các đầu sỏ chính trị sánh với Liên Xô như những người đỡ đầu chống chủ nghĩa thực dân. Ông Grosse viết:
Đông Dương được xem như là một vấn đề thực dân Pháp; sự đồng thuận về các nghiên cứu thời chiến, đó là Pháp không bao giờ có thể mong đợi việc quay lại thuộc địa Đông Nam Á có hiệu lực, và khu vực này chắc chắn trở thành mối quan tâm về địa chính trị của Hoa Kỳ như là cường quốc Thái Bình Dương đang lên [9].
Ông Grosse nói rằng lãnh tụ cộng sản/ những người nổi dậy theo chủ nghĩa dân tộc chống lại sự cai trị của Pháp ở Đông Dương, ông Hồ Chí Minh đã gặp các thành viên của “Inquiry” [10] trong tư cách là cố vấn Tổng thống Wilson tại Hội nghị Hòa Bình Paris (*) sau Thế chiến thứ I. Ông Grosse viết:
Sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc năm 1953, Hội đồng [Đối ngoại] trở lại thẩm tra nghiêm túc về Đông Dương, nơi mà chế độ thực dân Pháp xung đột với các lực lượng du kích cuộc cách mạng của một người tự mô tả là theo chủ nghĩa Mác, tên là Hồ Chí Minh, người mà các thành viên của Inquiry đã gặp lần đầu với tư cách là một trong những nguyên cáo dân tộc mà ít người biết đến tại Hội nghị Paris hơn ba thập kỷ trước đó [11].
Tháng 11 năm 1953 một nhóm nghiên cứu của Hội đồng Đối ngoại [Hoa Kỳ] cho ra báo cáo đầu tiên về Đông Dương, nói rằng cuộc nổi loạn của Việt Minh không đại diện cho mối đe dọa cộng sản. Bản báo cáo nói về cuộc nổi dậy chống Pháp ở Đông Dương như sau:
Chiến tranh “lớn hơn bất cứ điều gì” mà các nhà tư tưởng chính sách cho là như thế.... Thật là sai lầm khi xem lực lượng Việt Minh của ông Hồ chỉ đơn giản là bảo vệ sự chuyển tiếp của chủ nghĩa cộng sản trên thế giới, không có gì trong thiết kế của Moscow có thể giải thích quy mô và bạo lực của phiến quân Việt Nam. Chủ nghĩa Mác “ít liên quan tới cuộc cách mạng hiện nay”, thay vào đó là chủ nghĩa dân tộc bị dồn nén, rõ ràng và đơn giản. Với Pháp mất uy tín do quá khứ thuộc địa của mình, cơ hội đã mở ra cho Hoa Kỳ lèo lái những người đi theo ông Hồ ra khỏi điều không liên quan đến chủ nghĩa Mác [12].
Mặc dù ông Grosse không đề nghị bất cứ điều gì về vấn đề này, nhưng có khuynh hướng giả thuyết rằng ông Hồ đã được phát hiện từ năm 1919, trong số những nhà cách mạng thuộc địa khác ở Hội nghị Hòa Bình Paris và được giữ ở đó để dành cho tương lai, theo chiến lược tầm xa biện chứng của các đầu sỏ chính trị [13].
Chiến lược tầm xa biện chứng đó có thể không bao gồm bất cứ điều gì ngoại trừ việc cho phép ông Hồ có được quyền lực trên toàn cõi Việt Nam trong quá trình theo đuổi nhiều thập kỷ về những gì mà nhiều chuyên gia quân sự và bảo thủ thời đó gọi là một cuộc “chiến không giành chiến thắng” tại Việt Nam [14].
Trong khi những người Mỹ bảo thủ như thế xem “cuộc chiến không giành chiến thắng” tại Việt Nam là kết quả sự lật đổ cộng sản của Hoa Kỳ do mục đích phá hoại quân sự, tinh thần và kinh tế của Mỹ. Lập luận của tôi là chính sách “không giành chiến thắng” đã theo đuổi, cho phép những người cộng sản (những người theo chủ nghĩa dân tộc) đưa Việt Nam thành lập một nhà nước thống nhất, một cuộc chiến “không giành chiến thắng” kéo dài như thế làm kiệt quệ đất nước mới [thành lập] để Việt Nam có nghĩa vụ tìm kiếm uy tín và phát triển kinh tế thông qua [các tổ chức] tài chính quốc tế.
Do đó, Việt Nam, giống như hầu hết các chính phủ phi thuộc địa khác: đi từ tình trạng thuộc địa châu Âu tới chủ nghĩa thực dân mới về tài chính quốc tế và các tổng công ty xuyên quốc gia. Nếu thuyết biện chứng này nghe quá cường điệu hay giống như là một "âm mưu", có lẽ là do châu Âu đã mệt mỏi sau cuộc chiến, ảnh hưởng bởi sự giúp đỡ trong Kế hoạch Marshall (**) của Hoa Kỳ, đó là lý do "viện trợ" đã bị khối Xô Viết từ chối; Liên Xô nhìn vấn đề này như là châu Âu bị tư bản toàn cầu có căn cứ ở Hoa Kỳ chinh phục.
Dù các động cơ là gì, kết quả là loại Pháp khỏi Đông Dương, và bất chấp lý luận của Việt Minh về cuộc cách mạng, những gì [xảy ra] trong những năm gần đây dường như không lay chuyển Việt Nam gia nhập nền kinh tế thế giới.

Đường đi đến toàn cầu hóa và kinh tế thị trường


IMG_1403-250.jpg

Chủ tịch Ngân hàng xuất nhập khẩu Hoa Kỳ Fred P. Hochberg gặp gỡ Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, hôm 14-06-2010. Photo courtesy of US Ex-Im Bank

Điều nói trên chỉ là phỏng đoán? Sự việc thật ra là: (1) Việt Nam đã từng là nước chủ yếu nông nghiệp, các cơ sở nông nghiệp bị cuộc chiến tranh kéo dài tàn phá, và (2) Việt Nam đang bị cạn kiệt, đã tìm kiếm trợ giúp trong kinh tế thị trường và tài chính nợ.
Việt Nam không phải là quốc gia đầu tiên rơi vào chiến tranh với lý do chính là áp đặt "nền kinh tế thị trường". Một trong những đòi hỏi quan trọng về hòa bình chống lại Serbia của lực lượng NATO là một “nền kinh tế thị trường” được ban hành thay cho quy hoạch nhà nước, đặc biệt ở khu vực Kosvo giàu khoáng sản. Và dĩ nhiên “các cuộc cách mạng màu” tàn phá khối Xô Viết cũ và những nơi khác trong việc lật đổ chế độ, thực hiện các chính sách hỗ trợ “một xã hội mở” - tức là mở cửa khai thác bằng đồng vốn quốc tế.
Do đó, tại Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam hồi tháng 12 năm 1986, các nhà cải cách do ông Nguyễn Văn Linh dẫn đầu đã làm một việc táo bạo và lao vào cải cách thị trường tự do, được gọi là Đổi Mới, thiết lập cái gọi là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [15]. Trong khi điều này có thể được xem như “Chính sách kinh tế mới” của Lenin ở Liên Xô trong thập niên 1920, Liên Xô dễ dàng lao vào chế độ thực dân tài phiệt do Trotsky nắm quyền chứ không phải là Stalin và dĩ nhiên là cuối cùng Liên Xô đã thua.
Có lẽ cách dễ nhất để đánh giá mức độ của một chính phủ lệ thuộc vào đồng vốn quốc tế là xem các báo cáo của các tổ chức như Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Ngân hàng Thế giới nói về Việt Nam như sau:
... Trong thời gian này, quan hệ giữa Ngân hàng Thế giới với Việt Nam cũng đã hoàn thiện và phát triển đáng kể. Chiến lược Đối tác của đất nước hỗ trợ năm tài khóa 2007-2011, hỗ trợ Kế hoạch Phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ năm 2006-2010, trong đó đưa ra quá trình chuyển đổi, hướng tới nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu là nước có thu nhập trung bình vào năm 2010 [16].
Thật là sai lầm khi xem lực lượng Việt Minh của ông Hồ chỉ đơn giản là bảo vệ sự chuyển tiếp của chủ nghĩa cộng sản trên thế giới, không có gì trong thiết kế của Moscow có thể giải thích quy mô và bạo lực của phiến quân Việt Nam.
Trích báo cáo đầu tiên về Đông Dương

“Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [tại Việt Nam] được cho là hình thức kinh tế được ưa chuộng nhất. Ngân hàng Thế giới nói rằng:
Việt Nam ngày càng hội nhập với nền kinh tế thế giới và đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới .... Tăng trưởng gần đây là do tầm quan trọng ngày càng tăng của khu vực kinh tế tư nhân. Vai trò của khu vực kinh tế nhà nước trong hoạt động sản xuất đã giảm rõ rệt: từ 52% trong năm 1995 đến dưới 35% trong năm 2006 ...
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng gần gấp đôi, lên 20,3 tỷ đô la, trong khi tổng số vốn ở thị trường chứng khoán đạt 43% GDP vào cuối năm 2007, so với 1,5% hai năm trước đó. Mức nợ công là 42% GDP là vừa phải và được coi là bền vững.
Mức nợ này tương tự như các nước ASEAN. Phân tích về nợ bền vững (DSA) gần đây nhất của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) phù hợp với đầu tư và triển vọng tăng trưởng của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội (SEDP). Ước tính nợ công và công nợ do chính phủ bảo lãnh tăng từ 44% GDP trong năm 2007 lên khoảng 51% vào năm 2016 và giảm nhẹ sau đó. Việc gia tăng này mặc dù nghiêm trọng, nhưng vẫn được xem nằm trong giới hạn có thể quản lý, đặc biệt là hơn phân nửa số nợ nằm trong điều kiện vay ưu đãi cao [17].
Trong khi cái nhìn tổng quan của Ngân hàng Thế giới về Việt Nam là tích cực như tư nhân hóa nền kinh tế và gia tăng nợ công đến hơn ½ GDP, nhưng đó là một ví dụ rất chi tiết về một nhà nước xã hội chủ nghĩa đã nhanh chóng hội nhập vào hệ thống kinh tế thế giới như thế nào, sau khi bị tàn phá do “cuộc chiến không giành chiến thắng” trong nhiều thập kỷ.
Ghi chú:
 [1] K R Bolton, “Russia and China: an Approaching Conflict?,” The Journal of Social, Political, and Economic Studies, Washington, Summer 2009, Vol. 34, No. 2, 164-165.
[2] Ibid., 162.
[3] Ibid.
[4] K R Bolton, “Sino-Soviet-US Relations and the 1969 Nuclear Threat,” Foreign Policy Journal, May 17, 2010. K R Bolton, op.cit., 2009, 156-158.
[5] Robert A Scalapino., “The Political Influence of the USSR in Asia,” in Donald S. Zagoria, ed., Soviet Policy in East Asia (New Haven, Yale University Press, 1982), 71.
[6] Bruce Elleman, “Sino-Soviet Relations and the February 1979 Sino-Vietnamese Conflict,” 20 April 1996
Vietnam Center, Texas Tech University, http://www.vietnam.ttu.edu/vietnamcenter/
[7] Elleman, ibid.
[8] Elleman, ibid.
[9] Peter Grosse, “The First Transformation,” Continuing The Inquiry: The Council on Foreign Relations from 1921 to 1996, (New York: Council on Foreign Relations, 2006). The entire book can be read online at: Council on Foreign Relations: http://www.cfr.org/about/history/cfr/index.html
[10] “The Inquiry” was the predecessor of the Council on Foreign Relations, which Grosse refers to as the USA’s “foreign policy establishment.” (sic).
[11] Peter Grosse, op.cit.
[12] Ibid.
[13] K R Bolton, “Socialism, Revolution, and Capitalist Dialectics,” Foreign Policy Journal, May 4, 2010.
[14] For example: Maj. Arch E Roberts, Victory Denied: Why Your Son Faces Death in ‘No-Win Wars’” (Colorado: Committee to Restore the Constitution, 1972).
[15] Geoffrey Murray,  (1997) Vietnam: Dawn of a New Market (New York: St. Martin’s Press, 1979), 24-25.
[16] The World Bank: “Vietnam: Country Brief”, http://web.worldbank.org/WBSITE/EXTERNAL/COUNTRIES/EASTASIAPACIFICEXT/VIETNAMEXTN/0,,contentMDK:20212080~menuPK:387573~pagePK:1497618~piPK:217854~theSitePK:387565,00.html (Accessed 28 February 2010).
[17] Ibid.
(*) Hội nghị Hòa bình Paris 1946 từ ngày 29 tháng 6 đến ngày 15 tháng 10 năm 1946.
(**) Marshall Plan: là kế hoạch quan trọng của Hoa Kỳ nhằm tái thiết và thiết lập một nền tảng vững chắc cho các quốc gia Tây Âu, đẩy lui chủ nghĩa cộng sản sau Đệ nhị Thế chiến.
Nguồn: http://www.foreignpolicyjournal.com/2010/06/10/has-vietnam-lost-the-struggle-for-freedom/