6/12/10

Wikileaks VG Nguyễn Văn Linh- Đỗ Mười thời hạn 30 năm (1990-2020) sát nhập vào Tàu

Wikileaks – Kế hoạch cho Việt nam được hưởng quy chế Khu tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc kinh

01/12/2010
Biểu tượng Wikileaks
Kami
-
Tin liên quan: Hội Nghị Sát Nhập Việt Nam vào China : Tỉnh hay Khu Tự Trị ? (Ninh Cơ ghi lại. Trích tài liệu chép lại từ băng ghi âm cuộc họp mật giữa đại diện Tổng Cục Tình Báo Hoa Nam và Tổng Cục 2 Việt Nam để lưu trữ, được bảo quản theo chế độ tuyệt mật).
*
Và cái gì chờ đợi cũng đã đến, khi tổ chức Wikileaks công bố một tài liệu “tuyệt mật” động trời liên quan đến Việt nam. Đó là biên bản họp kín giữa ông Nguyễn Văn Linh Tổng BT Đảng CSVN, ông Đỗ Mười Chủ tịch HĐBT đại diện cho phía Việt nam và ông Giang Trạch Dân Tổng BT và ông Lý Bằng Thủ tướng Chính phủ đại diện cho phía Trung quốc trong hai ngày 3-4/9/1990 tại Thành đô.
Trong tài liệu tuyệt mật liên quan tới Việt nam này của mình, Wikileaks khẳng định thông tin dưới đây nằm trong số 3.100 các bức điện đánh đi từ Hà nội và Thành phố Hồ Chí Minh của cơ quan ngoại giao Hoa kỳ tại Việt nam gửi chính phủ Hoa kỳ, tài liệu này có đoạn ghi rõ “… Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng thành công CNCS, Đảng CSVN và nhà nước Việt nam đề nghị phía Trung quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt nam xin làm hết mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công xây đắp trong quá khứ và Việt nam bảy tỏ mong muốn đồng ý sẵn sàng chấp nhận và đề nghị phía Trung quốc để Việt nam được hưởng quy chế Khu tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc kinh như Trung quốc đã từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng tây…. Phía Trung quốc đã đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, cho thời hạn phía Việt nam trong thời hạn 30 năm (1990-2020)để Đảng CSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung quốc”.
Những ngày này, những tin tin thời sự quốc tế thuộc hàng đầu trên các kênh truyền hình ngoại quốc nổi tiếng như BBC, CNN.. chắc chắn sẽ là tin về sự căng thẳng của hai miền Nam – Bắc Triều tiên đang đứng trên bờ vực của một cuộc chiến tranh trên bán đảo Triều tiên chắc chắn là vấn đề số một và vấn đề thứ hai là những thông tin mà tổ chức Wikileaks dọa sẽ công bố công khai những tin tức tuyệt mật của ngành ngoại giao Hoa kỳ.
Được biết những thông tin mà Wikileaks dọa công khai bao gồm 251.287 tài liệu mà Wikileaks có được là tin trao đổi giữa 250 đại sứ quán và lãnh sự quán Hoa Kỳ tại hơn 90 nước trên thế giới với Washington. Cũng theo thông báo của tổ chức Wikileaks cho biết hiện nay họ có trong tay những thông tin liên quan đến Việt nam, đó là những tài liệu từ các cuộc trao đổi giữa các nhà ngoại giao Hoa Kỳ ở Việt Nam và chính phủ Mỹ, với hơn 2.300 bức điện tín gửi đi từ Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội và gần 800 từ Lãnh sự quán ở thành phố Hồ Chí Minh. Theo họ, trong số hơn 3100 điện tín này có cả những loại thuộc diện “tuyệt mật”.
Cho tới nay Wikileaks mới công bố nội dung của hơn 200 bức điện tín trong số hơn 251.287 bức mà họ có và trong số các thông tin ít ỏi được công bố nhỏ giọt ngày hôm nay (30/11)có hai tin liên quan đến Trung quốc và Bắc Triều tiên rất có giá trị. Đó là tin các quan chức Trung quốc tuyên bố ủng hộ thống nhất hai miền Bắc và Nam Triều tiên vào thời gian sau hai năm lãnh tụ Kim Jong Il qua đời, và chính quyền mới của nước Triều tiên thống nhất sẽ do chính quyền Soul quản lý. Và tin thứ hai là phát biểu của một quan chức cao cấp Trung quốc nói với Thứ trưởng Ngoại giao Nam Triều tiên, khi cho biết rằng thế hệ lãnh đạo trẻ Trung quốc hiện nay không hài lòng và coi chính thể ở Bắc Triều tiên của gia đình họ Kim là đưa trẻ hư không biết nghe lời.
Hai tin rò rỉ kiểu này khác hẳn với sự hiểu biết và phán đoán của mọi người về thái độ của Trung quốc với Bắc Triều tiên, đó là ai cũng nghĩ rằng bằng mọi giá không bao giờ Trung quốc bỏ rơi nước láng giềng cộng sản đàn em này. Có lẽ những tin bí mật của Wikileak tiết lộ rất có giá trị như họ thông báo trước, vì thế sẽ còn có nhiều tin động trời trong số 3.100 bức điện từ các cuộc trao đổi giữa các nhà ngoại giao Hoa Kỳ ở Việt Nam và chính phủ Mỹ, được gửi đi từ Đại sứ quán Hoa kỳ ở Hà nội và Lãnh sự quán tại TP Hồ Chí minh.
Những ngày gần đây, không chỉ có các chính khách Hoa kỳ, mà hầu hết các chính khách trên thế giới đang ở tâm trạng hồi hộp, căng thẳng đến nghẹt thở khi chờ đón sự công bố của tổ chức Wikileaks trong đó có các chính khách hàng đầu của Việt nam cũng hết sức lo lắng khi những điều “tuyệt mật” sẽ bị Wikileaks dọa sẽ công bố.
Đoạn tin đầu nói trên về Biên bản họp kín tháng 9/1990 tại Thành Đô giữa lãnh đạo cao cấp Việt nam và Trung quốc, cũng chỉ là một tin mang tính chất giả thiết của tác giả mà nó có nhiều khả năng khi bị bạch hóa có thể xảy ra mà thôi, chứ đó không phải tin chính thức của Wikileaks.
Điều quan trọng ở đây là, những chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo đối với đảng CSVN nếu như tin này là tin chính thức do Wikileaks công bố trong một ngày gần đây. Chúng ta có quyền phỏng đoán và chuẩn bị tinh thần cho mọi người và cá nhân mình trước sự thật không mấy tốt đẹp, mà nó liên quan tới sự tồn tại của đảng CSVN trong vai trò lãnh đạo xã hội và nhà nước. Vì nếu khi ta đối chiếu với các tin tức liên quan đến việc phía Việt nam đã cho Trung quốc thuê nhiều chục ngàn hecta rừng đầu nguồn biên giới, lá cờ Trung quốc có 6 ngôi sao (thay vì cờ Trung quốc chỉ có 5 ngôi sao)xuất hiện tại một nhà hàng Trung quốc tại Vũng tàu, hay Dự án boxit Tây nguyên và gần đây nhất là tin Trung quốc tiến hành thu hồi hàng loạt cột mốc biên giới với Việt nam có từ thời Hiệp định Pháp-Thanh (1887) … Trong đàm phán biên giới, họ ép ta làm ta mất một nửa thác Bản Giốc, dân ta cũng không được đặt chân đến Ải Nam quan nữa, tất cả ta mất hàng trăm km2 đất. Họ xóa hiệp định phân định ranh giới vịnh Bắc Bộ giữa hai Chính phủ Pháp – Thanh (do lịch sử để lại) đòi chia lại, ăn hơn của ta một phần hải phận thì giả thiết trên là hoàn toàn có cơ sở xảy ra.
Những cái đó có phải là những bước tiến hành âm thầm trong kế hoạch 30 năm để đưa Việt nam trở thành một Khu tự trị của nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa hay không? Trong cuộc sống thì cái gì cũng có thể xảy ra, vì sẽ có những điều sự thật lại nằm trong những điều mà ta tưởng rằng không thể có hay không thể xảy ra. Vấn đề nêu trên là một ví dụ nhỏ, có thể lắm chứ.
Xin vui lòng chờ tổ chức Wikileaks họ sẽ chính thức công bố trong một thời gian gần đây cho mọi người toàn thế giới rõ.
Ngày 01/12/2010


Hội Nghị Sát Nhập VN Vào China : Tỉnh Hay Khu Tự Trị ?
Ninh Cơ Ghi Lại, C/N 2009/12
Lời ghi chú của WebMa : Chúng tôi đã được tài liệu nầy từ hơn nửa năm rối, nhưng chưa tiếp sức phổ biến, vì có nghi ngờ về tính cách xác thực của nó.
Nhưng nay chúng tôi quyết định góp phần phổ biến vì tình hình VN đã biến chuyển hoàn toàn đúng theo những gì đã được ghi trong tài liệu nầy.
http://www.nationalistvietnameseforum.com/Nationalist%20Vietnamese%20Forum/Audio/061509.wma
Hội Nghị Sát Nhập Việt Nam vào China : Tỉnh hay Khu Tự Trị ? (Ninh Cơ ghi lại. Trích tài liệu chép lại từ băng ghi âm cuộc họp mật giữa đại diện Tổng Cục Tình Báo Hoa Nam và Tổng Cục 2 Việt Nam để lưu trữ, được bảo quản theo chế độ tuyệt mật).

Thưa các đồng chí.
Trong mấy ngày qua, ta đã cùng nhau thảo luận nhiều vấn đề, đạt được đồng thuận về căn bản, tuy không khỏi có sự tranh biện về tiểu tiết. Khép lại, ta có thể hài lòng khẳng định hội nghị đã thắng lợi và thắng lợi lớn. Xin các đồng chí hoan hỉ cạn chén.
Trong lời phát biểu kết thúc hội nghị, Lương Tư Lệnh nhấn mạnh : « Những gì được đưa ra bàn ở hội nghị chung quy chỉ là những điều đã được đề cập nhiều lần từ nhiều năm trong những cuộc gặp gỡ các cấp tham mưu và cả cao cấp ». Với tư cách Chính Uỷ được đề cử ra chủ trì hội nghị tôi xin tóm tắt vài điều cần thiết.
Trước hết, hội nghị nhất trí cao về quan điểm không có và không hề có chuyện China thôn tính Việt Nam. China không có nhu cầu thôn tính nước nào. Các nước lân bang đều nghèo. Họ cần đến China hơn là China cần đến họ. Những cái họ có đều ở dạng tiềm năng dưới đất hoặc ngoài biển. Không có China giúp đỡ thì chẳng khai thác được. Trong giai đoạn phải dồn toàn lực cho phát triển kinh tế, mà Ðặng Tiểu Bình lãnh tụ đã vạch ra, mọi sự đèo bồng đều vô nghĩa. Chúng kiềm hãm bước tiến vĩ đại của China vĩ đại. Thế mà ở Việt Nam lại có những luồng dư luận như thế đấy. Nào là China bá quyền, nào là China bành trướng. Thối lắm, thưa các đồng chí, không ngửi được.
Bọn dân chủ ở Việt Nam đã hô hoán rầm rĩ rằng cuộc vạch lại biên cương giữa China và Việt Nam là tranh chấp biên giới. Trong khi đàm phán, tất nhiên có những điều hai bên phải nhân nhượng nhau. Có chỗ lồi ra, có chỗ lõm vào, ở bên này hay bên kia. Nhưng, đó là kết quả của những thương thảo sòng phẳng, thuận mua vừa bán. Các đồng chí Việt Nam thấy chúng tôi nói thế, lại chỉ thanh minh mới chán. Như, Lê Thứ Trưởng (tức là ông Lê Công Phụng) trả lời phỏng vấn : « Thác Bản Giốc ta cứ tưởng là của ta, bạn cũng không bảo là của bạn.
Ðo ra mới biết là của ta chỉ có một phần ba. Vì tình hữu nghị với ta, bạn cho ta hưởng một nửa ». Nói thế là tốt. Nhưng vẫn cứ là thanh minh. Việc gì mà phải là thanh minh cơ chứ ; Với bọn phản động chuyên gây rối à ; Cứ thẳng tay trấn áp, bịt cái miệng chó của chúng lại. Cứ lừng chừng, thiếu kiên quyết. Cứ hữu khuynh nhân nhượng. Nhân nhượng là chết đấy. Phải quét cho bằng sạch, không thương xót bọn dân chủ. Không cho chúng được đàng chân lên đàng đầu. Vùi chúng xuống đất đen, không cho chúng ngóc đầu dậy. Nhưng, cái đó sẽ không còn là vấn đề trong tương lai.
Việc tiêu diệt bọn dân chủ dòi bọ sẽ không còn là việc của riêng các đồng chí Việt Nam. Nó sẽ là nhiệm vụ chung của tất cả chúng ta. Thưa các đồng chí. Hội nghị đã thành công là nhờ nó gạt được ra những chuyện lặt vặt vô bổ, đang là đề tài thời sự, để tập trung vào đại sự : bàn về chuyện hợp nhất hai quốc gia trong tương lai. Tương lai có thể chưa tới ngay, nhưng lại có thể rất gần. Vì thế, ta phải có viễn kiến và phải có sự chuẩn bị. Hợp kết China Việt Nam có thể là một mốc lịch sử vĩ đại trên đường phát triển của tổ quốc. Với tư cách tham mưu cho cấp cao hai bên, trong hội nghị này chúng ta bàn thẳng vào những phương án phát thảo những bước tiến hành cụ thể, những công việc cụ thể trong công tác chuẩn bị. Nào, xin cạn chén một lần nữa, mừng thắng lợi của hội nghị lịch sử này.
Trong tình thế hiện nay, Việt Nam không còn lựa chọn nào khác, không còn con đường nào khác hơn là trở về với tổ quốc China vĩ đại. Ði với Mỹ chăng ? Thì các đồng chí chạy đi đâu ? Trở về với tổ quốc thì các đồng chí mới tiếp tục tồn tại như những ông chủ duy nhất trước hiểm hoạ của bọn dòi bọ đang tích cực phản công nhằm tống cổ các đồng chí ra khỏi chỗ ngồi của mình. Hãy tưởng tượng một ngày nào đó, các đồng chí không được ngồi ở bàn giấy trong công thự, mà phải đi lang thang ngoài đường kiếm việc làm. Thật khủng khiếp. Vì thế, chúng ta phải chiến đấu hết mình cho sự tồn tại của chúng ta, cho con cháu chúng ta, tương lai của chúng ta, của con cháu chúng ta. Quyết không để lọt vào tay kẻ khác. Lũ dân chủ dòi bọ ấy có cả ở China.
Tôi thừa nhận điều đó. Nhưng chúng tôi thẳng thắn trấn áp chúng thắng lợi. Nhưng ở Việt Nam tình trạng có khác. Chúng hung hăn hơn, lì lợm hơn, là do các đồng chí thiếu kiên quyết. Nếu ở China có một Thiên An Môn, thì tại sao Việt Nam không có một cái tương tự ; Tôi xin bảo đảm với các đồng chí rằng, China sẽ tận tình chi viện cho các đồng chí, một khi có sự biến đe doạ quyền lợi của đồng chí, để bảo vệ các đồng chí. China không thiếu xe tăng dĩ chí trong vài Thiên An Môn ... Các đồng chí cứ hỏi Nông đồng chí (tức ông Nông Ðức Mạnh) xem Hồ đồng chí (tức là Hồ Cẩm Ðào) đã hứa hẹn gì trong cuộc gặp gỡ cấp cao vừa rồi. Nhưng đó là trong tình huống hiện nay. Trong tương lai thì hai nước đã là một, thì sẽ không phải như vậy.
Việc Việt Nam trở về với tổ quốc China vĩ đại là việc trước sau sẽ phải đến. Không sớm thì muộn. Mà sớm thì hơn muộn. Trong lịch sử, Việt Nam từng là quận huyện của China, là một nhánh của cây đại thụ China. China và Việt Nam là một. Ðó là chân lý đời đời. Ðó cũng là lời của Hồ đồng chí (tức là ông HCM) trong lễ tuyên thệ gia nhập đảng cộng sản China. Hồ đồng chí tôn kính còn dạy : « China, Việt Nam như môi với răng. Môi hở thì răng lạnh ». Có nghĩa là hai nước là hai bộ phận trong cùng một cơ thể. Nông đồng chí (tức là đồng chí Nông Ðức Mạnh) từng tự hào nhận mình là người Choang (Zhuang) trong cuộc gặp gỡ các đại biểu trong Quốc Vụ Viện. Mà dân tộc Choang là gì ; Là một bộ phận của đại gia đình các dân tộc China.
Trong thời đại hiện nay thì thế giới được tái phân chia sau đệ nhị thế chiến, thì Hoa Kỳ đã mất sự độc tôn trong sự trỗi dậy bất ngờ của tổ quốc chúng ta, thì sự sát nhập trở lại của Việt Nam và toàn bán đảo Ðông Dương tiếp theo là điều tất yếu. Thế nhưng chúng ta đều đã thấy, đã biết những biểu hiện lừng chừng, giao động lúc này lúc khác, trong ban lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam muốn người dựa lưng vào China, người dựa hơn con hổ giấy Hoa Kỳ. Bây giờ đã khác. Sự lựa chọn chỉ còn có một. Và ở đây, các đồng chí Việt Nam tỏ ra có lựa chọn đúng. Ngày nay, China vĩ đại phải dành lại vị trí đã có của mình. Có Việt Nam nhập vào, China đã vĩ đại lại càng thêm vĩ đại.
Thế giới hôm nay chỉ còn lại hai siêu cường. Ðó là China và Hoa Kỳ. Con hổ giấy Hoa Kỳ. Những việc mà bây giờ chúng ta phải làm. Tôi xin nhấn mạnh lại lần nữa. Không phải bây giờ mới làm, nhưng làm chưa đúng, làm chưa đủ, thì nay cần phải đẩy mạnh hơn nữa. Phải triển khai rộng hơn nữa là đè bẹp và tiêu diệt luận điệu tinh thần dân tộc vẫn còn tồn tại dai dẳng trong bọn kiên trì lập trường độc lập dân tộc. Ðặc biệt trong đám trí thức và vài phần tử công thần chủ nghĩa trong tướng lĩnh. Cần phải tiêu diệt cả về tinh thần, cả về vật chất.
Trong tướng lĩnh, phần nhiều là người của ta, do ta đào tạo, cất nhắc. Công này là nguyên chủ tịch Lê (tức là Lê Ðức Anh) người rất biết nhìn xa trông rộng. Tuy nhiên, lẫn vào đấy cũng vẫn có vài phần tử lừng chừng, giao động, chủ yếu do kém hiểu biết. Các đồng chí cần đả thông, bồi dưỡng thêm cho họ về lập trường, quan điểm và trường đảng các cấp. Mấy anh già sắp chết hay nói ngang thì phải đe nẹt cho chúng biết rằng, một khi đã bị coi là chống đảng thì chúng sẽ bị tước hết mọi tiêu chuẩn cao đang được hưởng, tất chúng sẽ im mồm. Ðám trí thức lèo tèo mới là đáng ngại.
Tuy chẳng có trong tay cái gì, nhưng chúng có khả năng kích động tinh thần nhân dân để cản trở sự hợp nhất. Nhưng không lo. Mao chủ tịch đã dạy : « Trí thức khởi xướng được, nhưng không làm được. Chúng chỉ lép bép lỗ miệng. Thấy súng lên đạn là chúng rùng rùng bỏ chạy ». Ðáng ngại là ở chỗ ấy, chỗ khởi xướng. Nhưng không đáng sợ cũng ở chỗ ấy. Ở chỗ bản tính trí thức, hãy lên đạn, hãy hô bắn thật to, đâu sẽ vào đấy. Lực lượng chủ yếu của chúng ta trong việc trấn áp bọn dân tộc chủ nghĩa là hai cánh quân. Về vật chất là công an, về tinh thần là truyền thông.
Công an sẽ được cung cấp mọi trang bị hiện đại nhất để đè bẹp mọi mưu toan đối kháng. Nhưng phải chú ý đến điểm này : Không được lạm dụng các phương tiện hiện đại. Chiếu cố những biện pháp truyền thống ít gây ồn ào, tránh những phản ứng quốc tế bất lợi. Truyền thông phải xừ dụng mọi phương tiện sẵn có. Tăng cường viết và nói hằng ngày hằng giờ, biện luận cho dân thấy cái lợi của việc sát nhập. Họ sẽ được hưởng mọi phúc lợi của người dân China hơn hẳn phúc lợi đang có. Họ sẽ không còn chuyện lủng củng vướng mắc về biên giới. Ngư dân được tha hồ đánh cá trên Biển Ðông này cũng là của họ mà không còn phải lo lắng : vì xâm phạm lãnh hải, bị hải quân China trừng phạt. Người dân khi xuất ngoại sẽ được cầm hộ chiếu của một nước lớn mà thế giới phải kiêng nể.
Tuy nhiên, tôi đặc biệt lưu ý các đồng chí là phải tiến hành kín đáo, để mọi việc chuẩn bị diễn ra như bình thường, không nhận thấy được. Trong khi chưa được hợp nhất, trung ương chính phủ, cũng như các tỉnh chính phủ, tuyệt đối không lộ ý đồ. Thỉnh thoảng cũng phải cho phát ngôn nhân trung ương chính phủ nói dăm ba câu phản đối về chủ quyền Tây Sa và Nam Sa. Và cho phép các báo đăng vài bài chiếu lệ về biên giới và hải đảo với mọi « sự cố » xảy ra trên biển như vừa rồi. Cứ tiếp tục ám chỉ một nước ngoài nào đó, hoặc một tàu lạ nào đó, không rõ quốc tịch là được. Ðừng quên xem thường các nhà báo. Họ là công bộc trung thành của ta. Thiếu họ không được. Hiện nay đang nổi lên sự phản đối China khai thác Bauxite ở miền Trung, ồn ào lắm, có vẻ hung hăng lắm. Nhưng là bề ngoài thôi. Chứ bề ở trong, bọn phản đối cũng thừa biết mọi sự đã an bày. Tiền đã trao thì cháo phải được múc. Bộ Chính Trị quyết không bỏ kế hoạch này.
Nhất là đồng chí Nông Ðức Mạnh. Là chuyện sinh tử của đồng chí Nông Ðức Mạnh nên đồng chí ấy rất cương quyết. Trong chuyện Bauxite, tôi thấy bên cạnh cái xấu lại có cái tốt đấy. Các đồng chí ạ ! Phải công bằng mà lập luận, một khi Việt Nam đã nhập vào China thì vùng Tây Nguyên của Việt Nam là của chung nước ta. Chưa chừng, trên sẽ thay đổi kế hoạch. Ta không khai thác ở đấy nữa, mà chuyển sang khai thác, thực hiện ở Châu Phi. Bauxite của ta, ta để đấy dùng sau. Cũng như ta đâu có vội khai thác cả tỷ tấn Bauxite ở Quảng Tây. Nói để các đồng chí phấn khởi. Về thực chất, qua con đường ngoại thương, đầu tư, ta nắm Châu Phi trong nhiều năm nay rồi. Ta đã mua hết các chính quyền ở đấy. Cái đó gọi là quyền lực mềm. China đến sau Phương Tây và Hoa Kỳ, vậy mà chỉ trong vòng 1 thập niên, ta đã quét sạch chúng khỏi đấy.
Ta còn chuyển dân mình sang Châu Phi, làm thành những vùng đất China trên lục địa đen kia nữa. Người China bây giờ có quyền nói : « Mặt trời không bao giờ lặn trên đất đai của tổ quốc ». Phải trấn an các cán bộ các cấp, từ trung ương cho đến địa phương để họ thấy rằng sau hợp nhất, mọi vị trí quyền lợi, bổng lộc của họ không bị suy suyển. Các đơn vị hành chính sẽ được giữ nguyên trong một thời gian dài trước khi áp dụng mô hình hành chánh chung của toàn quốc. Việc này rất quan trọng. Xin các đồng chí chớ coi thường. Lãnh đạo từ trung ương cho đến địa phương có thông thì dân mới thông. Nhân dân đã được giáo dục chu đáo trong nhiều năm, tinh thần tuyệt đối phục tùng lãnh đạo. Nhưng nếu họ thấy cấp trên của họ giao động, tư tưởng bất thông thì chính họ cũng sẽ giao động theo, trở thành mồi ngon cho những tư tưởng dân tộc chủ nghĩa. Thưa các đồng chí.
Còn lại việc cuối cùng là mô hình quản trị Việt Nam trong tổ quốc thống nhất. Tỉnh hay khu tự trị ? Chuyện này xin các đồng chí về nghĩ thêm, bàn thêm. Tỉnh thì cũng như Quảng Ðông, Quảng Tây. Về diện tích hơn kém không nhiều. Khu tự trị kiểu như khu tự trị Choang trong tỉnh Quảng Tây thì lại quá nhỏ về vai vế. Nông đồng chí vốn rất e ngại sự chống đối trong nội bộ. Mà làm khu tự trị với ý nghĩa lớn hơn thì lại vướng chuyện Tây Tạng. Bọn chó Ðạt Lai Lạt Ma cũng đang xin tự trị đấy, mà trung ương không thuận. Còn mấy đồng chí Việt Nam nêu ý kiến, hay là tổ chức China thành liên bang, Việt Nam sẽ là một nước hay một bang trong liên bang ấy. Ý kiến này không mới.
Nó đã từng được nêu lên. Nhưng các đồng chí thử nghĩ xem. Nếu như thế thì thống nhất làm sao được với bọn Tây Tạng, bọn Nội Mông, bọn Mãn Châu, bọn Hồi Bột. Chính chúng nó đang muốn cái đó để xưng độc lập, hoặc tự trị trong liên bang. Trên nguyên tắc thì đúng, là cái gì cũng được. Danh chính thì ngôn thuận. Nhưng nội dung bất biến. Vùng nào cũng chỉ là một bộ phận lãnh thổ của China. Có điều những danh hiệu độc lập, tự trị là cái rễ bị lồng vào đấy cái tinh thần dân tộc, mầm mống cho sự phận liệt. Không được. Quyết không được.
Thưa các đồng chí. Vấn đề hình thức nhưng lại có tầm quan trọng. Xin các đồng chí phát huy tự do tư tưởng ... (hết phần trích và dịch đoạn băng ghi âm).

Thối! Thối không thể chịu được! (Tô Hải)

"… cả thế giới biết thêm tại sao một ông tiến sĩ đã từng giảng dạy tại đại học Columbia, đại học Hawai và cả đại học sư phạm Bắc Kinh nữa mà lại biến thành một kẻ tội phạm?…”


Thối! Thối không thể chịu được !
Tô Hải


Để đi vào vấn đề, tớ xin kể một câu chuyện xảy ra cách đây gần 70 năm, một câu chuyện "thối" không thể tưởng tượng được, một câu chuyện thối um cả tỉnh Thái Bình, nơi mà bố mẹ tớ làm việc. Chỉ cách nhà tớ mấy căn, có một ông "nghị Bắc Kỳ" tên Hào. Nghe đồn ông này có đến 2,3 vợ, nhưng một bà đã qua đời để lại 2 công tử đang du chơi tận Hà Thành, bà hai phải cai quản cả nhà cửa dinh thự, lăng tẩm và hàng chục người làm ở quê.

Ông nghị năm ấy đã ngoài 60 tuổi, sống một mình trên thành phố với bà ba để… tiện "việc quan" và nằm bên cạnh bàn đèn thuốc phiện sai khiến hai mẹ con bà ba. Khổ nhất là anh Ninh, con riêng của bà ba, người mà ông đã chuộc từ một nhà cô đầu nào đó về, để chuyên hầu tiêm thuốc phiện cho ông. Bà này có một người con riêng từ ông chồng trước bị mộ phu đi Tân Thế Giới rồi mất tích. Anh này ở trong nhà ông Nghị còn khổ hơn là một con ở, vất vả hơn một thằng nhỏ sai vặt trong nhà, vì ngoài hai mẹ con anh ra, ông nghị tuy giàu có nứt đố đổ vách (có ở quê nghe đâu cả 1000 mẫu ruộng thẳng cánh cò bay) nhưng cũng không thuê ai thêm để giúp việc nhà cả. Mẹ con anh Ninh cáng đáng tất cả từ việc bếp núc, lau chùi, dọn dẹp... từ việc lớn đến việc nhỏ.

Tuy nhiên, anh vẫn được đi học đến "cua suýp" (lớp 7 bây giờ). Anh học rất giỏi. Năm nào cũng được "giải thưởng danh dự". Cho đến một hôm, bỗng dưng có một công văn đóng dấu của phủ thống sứ Bắc kỳ báo tin: Anh đã được chọn làm một trong những người được nhận học bổng đặc biệt của thống sứ Yves Châtel tuyển chọn cùng 2 người nữa đi theo học một lớp đặc biệt (?) bồi dưỡng về hành chính bên Pháp. Thế là ông nghị Hào đã chẳng vui vẻ gì, ông vội từ giã cái bàn đèn lên thẳng dinh công sứ trình bày: "Thằng này nó hư lắm, ở nhà nó lười học, nó chẳng chịu nghe lời, cứng đầu, cứng cổ...vv.." Tóm lại, ông không muốn cái vinh dự đó lại rơi vào tay một kẻ mà ông rất ghét vì hai đứa con của bà cả thì đứa nào học hành cũng đều bết bát. Chuyện này, công sứ Vavasseur nghe xong bỗng bật cười: "Ông hãy lên Hà Nội trình bày với quan thống sứ Bắc kỳ xem quan có nói là ông Nghị gì mà ngu như thế không?". Chuyện này cái thời năm 42, 43 cả thành phố Thái Bình ai cũng biết và sau đó thì lan ra khắp nơi và báo chí đều đưa tin. Có một bài chế giễu ông nghị Bắc Kỳ này mà tớ bỗng dưng nhớ lại: "Thối ơi là thối!"…

Thế là, anh Ninh đã từ đó, giã từ cái đất "Thái lọ" mà ra đi. Nghe nói sau này, anh có theo học ở trường St Cyr làm tới quan hai, quan ba gì đó của Pháp. Còn bây giờ ra sao? Còn sống hay chết? Thì tớ cũng không hề nghĩ tới nữa…
Bà Lưu Hà và ông Lưu Hiểu Ba

Câu chuyện này sở dĩ lại được tái hiện trong trí nhớ tớ vì mấy hôm nay báo chí khắp nơi trên thế giới đều đưa tin về tiến sĩ Lưu Hiểu Ba, "tội phạm" đang thi hành án 11 năm tù tại Trung Quốc được tặng giải Nobel Hoà Bình 2010. Cũng nhân dịp này cả thế giới biết thêm tại sao một ông tiến sĩ đã từng giảng dạy tại đại học Columbia, đại học Hawai và cả đại học sư phạm Bắc Kinh nữa mà lại biến thành một kẻ tội phạm?

Thì ra, Lưu Hiểu Ba, sinh ngày 28/12/1955, tốt nghiệp tiến sĩ ngay tại đại học Bắc Kinh về triết học chứ chẳng phải do được đào tạo bởi bọn "thù địch" nào cả. Đang lúc được mời giảng dạy tại đại học Columbia thì xảy ra vụ "Thiên An Môn ô nhục", ông bỏ luôn mọi vinh quang, tiền bạc, địa vị xã hội ở nước Mỹ, quay về tổ quốc cùng góp sức với hàng trăm ngàn giáo sư và sinh viên của các trường đại học, phản đối nhà nước đã dùng quân đội, xe tăng nghiền nát cuộc biểu tình của sinh viên tại Thiên An môn. Lập tức ông bị bắt nóng và bị ngồi tù 3 năm về tội: "Gây mất trật tự công cộng!".

Sau khi được mãn hạn tù, ông tiếp tục đứng đầu và chấp bút "Hiến chương 08" (có lẽ noi gương "Hiến chương 77" của Vaclav Havel bên Tiệp Khắc?). Lấy được chữ kí 700 nhà trí thức, chính trị gia, khoa học gia...(sau khi ông Ba bị bắt, con số đã ký lên tới hơn 3000 người) thì cảnh sát ập vào nhà, bắt quả tang bản hiến chương còn nóng nguyên các chữ ký. Thế là ra toà lần này, ông mang cái tội "âm mưu lật đổ chính phủ" và nhận bản án 11 năm tù. Từ nhiều năm nay, đối với thế giới, ông là một người "tù nhân chính trị" điển hình nhất vì đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền, đa nguyên, đa đảng bằng phương pháp bất bạo động, chỉ bằng lời lẽ chữ nghĩa chứ chưa có hành động diễn thuyết biểu tình như thời Luther King, Mandela... Chính việc bỏ tù ông mà ông được cả thế giới biết đến và coi ông như những anh hùng Tự Do của nhân loại chẳng khác gì những gương mặt mà lịch sử nhân loại sẽ mãi mãi lưu danh như Mandela, Desman Tutu, Vacklav Havel... Nhiều tổ chức chính phủ và nhiều nhà đứng đầu các nhà nước trên thế giới đã lên tiếng yêu cầu thả tự do cho tiến sĩ Lưu Hiểu Ba vì lý do: Không thể nào có tội khi trình bày công khai những ý tưởng về tự do, về dân chủ của mình. Nhưng tất cả đều bị chính phủ Trung Quốc coi như... không nghe, không thấy, không biết… !

Cho đến ngày 8/10/2010, khi Hội đồng giải thưởng Nobel của Na-uy công bố: Lưu Hiểu Ba đã đạt giải Nobel về hoà bình. Một giải Nobel đầu tiên có tên người Trung Quốc…

Thế là, mọi cơ quan ngôn luận, phương tiện truyền thông của Trung Quốc đã được lệnh tuyệt đối không đưa tin này (Reuters). Đi xa hơn nữa, chính phủ Trung Quốc còn cực lực phản đối chính phủ Na-uy, Bộ ngoại giao Trung Quốc mời đại sứ Na-uy đến để chính thức yêu cầu "không nên làm ảnh hưởng đến quan hệ, nhất là buôn bán giữa hai chính phủ!". Họ quên rằng chỉ có ở các nước có Đảng cộng sản lãnh đạo thì mọi tổ chức mới nằm dưới quyền của Đảng và chính phủ. Một cá nhân, một tổ chức có thể và có quyền ra tuyên bố hoặc tiến hành làm mọi sự mà Hiến Pháp, Luật pháp nước họ và luật lệ quốc tế cho phép, kể cả yêu cầu chính phủ...giải tán! Cái Hội đồng chấm giải Nobel kia chỉ là một tổ chức gồm các nhà khoa học, chính trị gia hàng đầu của Na-uy. Họ họp bàn, cân nhắc và ra tuyên bố tặng ai giải thưởng gì là quyền của họ, chẳng chính phủ nào dám dại dột động tới cái quyền này! Các nhà ngoại giao Trung Quốc quen dùng "thế mạnh" của mình để làm áp lực lên các nước đàn em, lần này không thể làm gì một nước nhỏ xíu với chỉ có 5 triệu dân đâu!
Công an Trung Quốc bao vây
ngăn cản phóng viên nước ngoài
tiếp cận với thân nhân ông Lưu.

Nhớ lại thời còn mồ ma Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Xô, tác giả của "Bác sĩ Dzivago" (B.Pastenak) đã bị chính quyền ép buộc phải từ chối giải này nếu không muốn bị... vào tù (!) và tác giả đã phải...tuân lệnh!. Qua vài đời Tổng bí thư, đến thời Cholokov, tác giả của "Sông Đông êm đềm" được tặng giải thì.. mọi cơ quan truyền thông đều được lệnh hua-ra hết lời và để Cholokov tự do đi nhận giải. Đến thời Soljenitsine thì…cho đi nhưng… cấm không được… trở về! Trái lại, khi Liên Xô sụp đổ và Gorbachev được giải Nobel thì… không hua-ra cũng như không phản đối... là "âm mưu, thủ đoạn" gì xất! "Âm mưu chính trị hoá giải Nobel" từ đó không còn được ai nhắc tới… Kể cả khi các ông cựu Tổng Thống Jimmy Carter và gần đây nhất là Tổng Thống Obama, khi nhận được giải thưởng Nobel về Hoà Bình, trừ bọn Bin Laden, không ít nhà đứng đầu các nước đều có lời chúc mừng nhiệt liệt! Còn ở Miến Điện, khi nhà tranh đấu cho dân quyền, Aung San Suu Kyi cho đến nay vẫn không thể nhận giải thưởng vì chính quyền quân phiệt đang quản thúc bà tại gia hàng chục năm trời. Độc đáo hơn là ở Việt Nam, khi giải "Nobel về hoà bình" được trao cho ông Lê Đức Thọ và ông Kissinger thì ông Lê Đức Thọ "xin cảm ơn" và không nhận? Ngay từ ngày đó, bọn tớ cũng hơi ngạc nhiên: Chẳng lẽ ông Thọ lại không chịu nhận là chiến sĩ hoà bình? Chẳng lẽ ông Thọ sợ "ăn phải bả của bọn tư bản thối nát?". Hay ông Thọ đang nung nấu con đường tiếp tục chiến tranh "giải phóng miền Nam" nên nhận giải Nobel về Hoà Bình, e sẽ khó ăn, khó nói? Tuy nhiên, không thấy có báo chí trong nước đả kích gì đến cái giải thưởng Nobel hoà bình này là một "âm mưu chính trị ", một hành động "bôi nhọ", "xuyên tạc", "có ý đồ xấu" gì cả mà chỉ… đồng loạt… im lặng! Quả nhiên, sau khi người Mỹ rút hết quân theo đúng hiệp định Paris năm 1973 thì… miền Bắc huy động toàn nhân, vật lực, "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", làm nốt cái phần "đánh cho ngụy nhào". Rõ ràng "thủ đoạn chính trị" nếu có, thì không hề xuất phát từ những người quyết định trao giải Nobel cho ai, như những cái đầu của các nhà chánh choẹ tự mình doạ mình cả!

Trở lại với giải thưởng Nobel hoà bình 2010 cho tiến sĩ Lưu Hiểu Ba, mặc dầu đã có lời của hai ông tổng thống Obama và Sarkozy, bà thủ tướng Úc Julia Julliard… và nhiều cá nhân, tổ chức lên tiếng đề nghị "trả tự do ngay cho ông Ba để ông đi nhận giải thưởng", nhưng tất cả những trái tim và cái đầu to lớn trong sáng biết mấy đối với các nhà cầm quyền Trung Quốc đều chỉ là những điều bỏ ngoài tai. Tớ bỗng nhớ tới cái chuyện ông nghị Hào phản đối quyết định của thống sứ tuyển chọn con riêng của vợ hai mình được học bổng du học Pháp. Và tớ chẳng biết nói gì hơn là Thối! Cực thối! Thối không chịu nổi!

Dư luận trong nước về vụ Lưu Hiểu Ba

Kể từ khi có tí "đổi mới", mỗi năm khi giải thưởng Nobel được công bố thì báo đài, "công cụ tuyên truyền của Đảng ta" đều giành một chỗ xứng đáng, không trang nhất thì cũng trang cuối cho những sự kiện này. Năm nay cũng vậy, dần dần các giải thưởng về y khoa, hoá học, vật lý.... đều được các báo lớn nhất của đảng giành cho việc tóm tắt tiểu sử, công trình phát minh khoa học, thành tích,.... và không thể thiếu được là một tấm ảnh (ít nhất là 6x9) cho nhân vật trúng giải . Năm nay cũng vậy, nhưng... đến lượt Lưu Hiểu Ba thì bỗng dưng cái mục đưa tin này bị thu gọn lại hoặc giấu nhẹm đi, cụt lủn..chẳng biết ông Ba là làm cái gì? địa vị xã hội đương thời ra sao? Còn sống hay chết? thay về thành tích, tiểu sử thì lại chạy những cái tít "nói leo", "viết theo" những gì các nhà lãnh đạo nước bạn "bốn tốt" đang nói và làm. Nội dung đưa tin cốt để người đọc đừng suy diễn, liên hệ tới những trường hợp đang phải ngồi tù ở xứ ta vì những cái "tội" giống hệt như Lưu Hiểu Ba ở bên Tàu. Nào là "Một giải Nobel hoà bình gây tranh cãi", nào là "Giải Nobel hoà bình lại gây xôn xao". Nào là "thông cáo của uỷ ban Nobel hoà bình cho biết "họ" trao giải cho Lưu Hiểu Ba". Chưa có tiến sĩ, giáo sư Mác-Lê-nin nào dám viết viết toạc ra rằng : "Hoà bình Hoà biếc cái con mẹ gì! Hoà bình của các anh không phải là hoà bình của chúng tôi! Chính nhờ có nhà tù mà nước tôi mới có Hoà Bình!", như thời ông Hà Xuân Trường lên án cái giải thưởng Nobel Văn Học được trao cho tác giả "Quần đảo ngục tù" cả!

Không một tờ báo nào, một đài truyền hình nào dám đưa tin cụ thể như về các Nobel về vật lý, Nobel về y học... Lệnh của ai hay từ đâu nhỉ?

Đúng lúc tớ đang nằm gõ bài này thì nhà báo Lê Phú Khải đến chơi. Câu chuyện đầu tiên trao đổi giữa 2 người cũng chính là chuyện Lưu Hiểu Ba. Anh thở dài và kết luận: Một nhà tiến sĩ đang ở Mĩ bỗng đâm đầu về nước để trình bày công khai những nguyện vọng dân chủ và nhân quyền cũng như kêu gọi mọi người kí tên vào hiến chương 08 mà lại trở thành một tên "tội phạm muốn lật đổ chính phủ" thì quả là một chế độ totalitaire fascisant....(toàn trị phát xít hoá). Tôi cười và kể lại câu chuyện ông nghị Hào cho anh nghe. Và cuối cùng, Lê Phú Khải buông ra hàng chục tính từ và trạng từ nào có thể nghĩ tới trong đầu anh: "Đểu!", "Mất dạy!" "Ngu!" "Trẻ con!"... và cuối cùng là chữ... "Thối!"

Và "Thối! Thối không thể chịu được!" là cái đầu đề tớ dùng cho cái entry hôm nay đấy!
Tô Hải
Nguồn: ToHai’s Blog
11-11-2010

Hoài nghi về tính hiệu quả của đường sắt cao tốc

Nguyên Hải – Thanh Vân (TH)

(VEF) – Vừa qua nhiều trang mạng Trung Quốc đăng bức ảnh "Đường sắt cao tốc Thượng Hải – Hàng Châu: một toa xe chở một hành khách". Câu chuyện này đã khiến nhiều người suy nghĩ về hiệu quả kinh tế của những dự án hao tốn biết bao tiền của này. Mời bạn đọc nêu ý kiến.
LTS: Tờ TBKTSG tuần này có bài trăn trở, Bộ Công Thương đang phải vật lộn tìm lời giải cho bài toán huy động 6 tỷ USD/năm, để giải quyết vấn đề thiếu điện đang ngày một trầm trọng. Trong khi đó, Bộ GTVT lại đang nghiên cứu đề xuất lại dự án đường sắt cao tốc Bắc – Nam, đoạn Hà Nội – Vinh và TP.HCM – Nha Trang, với tổng kinh phí có thể đến 22 tỷ USD.
Trước đó, hôm 21/5, khi trả lời phỏng vấn báo VnEconomy về hiệu quả kinh tế xã hội của dự án đường sắt cao tốc, Bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng từng nói: "Với công nghệ hiện đại này thì sẽ tiết kiệm được thời gian đi lại, góp phần cơ bản giải quyết ùn tắc giao thông. Bây giờ chúng ta đi với 30 giờ thì với đường sắt cao tốc chúng ta chỉ cần hơn 5 giờ.
Đường sắt cao tốc cũng kết nối được với vận tải đường sắt nội đô cũng như hàng không và đường biể,n tạo nên bức tranh về vận tải đa phương thức phục vụ phát triển kinh tế đất nước, văn hóa giữa các vùng miền và đảm bảo an ninh quốc phòng".
Thực sự hiệu quả của dự án đường sắt cao tốc đến đâu và có đẻ ra nền giao thông hiện đại như mong muốn hay không, điều này không ai có thể nói trước, nhưng từ thế giới thì đã có không ít kinh nghiệm thực tế, VEF mời bạn đọc tham khảo một số sự kiện và ý kiến trao đổi gần đây.
Mời bạn đọc tranh luận thêm về vấn đề này. Mọi ý kiến trao đổi xin gửi về địa chỉ: vef@vietnamnet.vn hoặc tham gia tranh luận trực tiếp ở cuối bài.
Một toa một khách
Thời báo Chứng khoán (Trung Quốc) số ra ngày 5/11 cho biết, vừa qua nhiều trang mạng nước này đăng bức ảnh "Đường sắt cao tốc Thượng Hải – Hàng Châu: một toa xe chở một hành khách". Cục Quản lý đường sắt Thượng Hải đã lên tiếng về bức ảnh này, thừa nhận đúng là có tình trạng "1 toa xe, 1 hành khách" nói trên, nhưng thanh minh bức ảnh đó không thể hiện tỷ lệ khách đi tầu cao tốc Thượng Hải – Hàng Châu.
clip_image001
Tuy nhiên, đã có nhiều tin tức nói tỷ lệ khách đi tàu cao tốc rất thấp. Một bài báo cho biết, có chuyến tàu cả ngày chỉ bán được hơn 100 vé, nghĩa là tỷ lệ khách đi tàu chưa đến 10%.
Mặc dù Cục Quản lý đường sắt Thượng Hải nói bức ảnh kể trên không đại diện cho tình hình chung toàn tuyến đường sắt cao tốc Thượng Hải – Hàng Châu, nhưng họ không thể phủ nhận việc giá vé tàu cao tốc hiện nay quá cao, không hợp túi tiền người dân.
Chiều dài tuyến đường sắt cao tốc Thượng Hải – Hàng Châu là 160 km, vé tàu cao tốc là 131 RMB (Nhân dân tệ, hiện nay 1 RMB tương đương 0,147 USD). Tuyến đường sắt cũ dài 201 km, vé tàu nhanh trên tuyến này giá 54 RMB, nhưng thời gian hành trình lâu hơn.
Đi tàu cao tốc mất có 38 phút, so với tàu thường tuy tiết kiệm được thời gian khoảng 1 giờ đồng hồ nhưng giá vé cao hơn gấp đôi, cho nên rất ít người đi tàu cao tốc.
Thành phố Thượng Hải hiện có hơn 19 triệu dân; GDP bình quân đầu người năm 2007 bằng 66.367 RMB, tương đương 9.716 USD. Thành phố Hàng Châu có 8,1 triệu dân, GDP bình quân đầu người năm 2009 bằng 63.471 RMB, tương đương 9.292 USD. Mức thu nhập cao như vậy mà người dân vẫn không chịu đi tàu cao tốc.
Một cây làm chẳng nên non
Trong bài góp ý cho đại hội Đảng đăng trên báo SGTT số ra ngày 24/9, TS Nguyễn Sĩ Phương từ CHLB Đức cho rằng, giao thông hiện đại được đánh giá bằng tốc độ chung của cả mạng lưới giao thông, phụ thuộc vào tỷ trọng và tốc độ thực tế tính cho cả thời gian ùn tắc của mọi loại phương tiện tham gia, chứ không phải bởi tốc độ lý thuyết riêng một loại phương tiện nào.
Vì vậy đường sắt cao tốc chỉ thực sự là phương tiện lý tưởng, khi cả mạng giao thông sẵn có tự bảo đảm được thông suốt không phụ thuộc vào nó. Nói cách khác, nền giao thông hiện đại là tiền đề cho đường sắt cao tốc, chỉ mỗi bản thân đường sắt cao tốc không thể đẻ ra nền giao thông hiện đại.
TS. Phương dẫn giải một số vụ việc gần đây cho thấy nếu chỉ có đường sắt cao tốc không thôi thì chưa đủ. Vào thời điểm nắng nóng vừa qua ở Đức, một đoàn tàu cao tốc từ Berlin đi Köln đã buộc phải dừng lại tại ga trung chuyển Bielefeld.
Lý do đơn giản nhưng có thể chết người hàng loạt: tàu mất điều hoà nhiệt độ, đang chạy không thể mở cửa lên xuống, nhiệt độ trong tàu vọt tới 50oC.
Cùng thời gian trên, có hai chuyến khác cũng gặp sự số tương tự, phải dừng tại ga chính Hannover, với cả ngàn hành khách ùn lại. Để giải quyết hậu quả ùn tắc tại hai ga trên, chưa nói hệ thống cứu hộ phải bảo đảm được an toàn tính mạng hành khách, nếu không người đứng đầu tập đoàn sẽ bị luật pháp chế tài, tập đoàn kinh doanh đường sắt DB đã phải điều khẩn cấp các chuyến tàu thường bổ sung, huy động lực lượng ôtô buýt tăng cường chở khách miễn phí tới địa điểm khách cần đến, kịp thời.
Có thể hình dung quy mô giải phóng ùn tắc, bình quân mỗi ôtô buýt có 40 chỗ ngồi, nếu chỉ dùng mỗi nó để giải toả số lượng ít nhất 1.000 hành khách trên, sẽ thấy DB phải cần tới 25 chiếc cùng lúc. Nếu không, trước hết chính họ phải chịu tổn thất trực tiếp mất tới 50% giá vé hoàn lại cho khách nếu trễ trên 1 tiếng theo luật định, chưa nói xa hơn, mất thương hiệu.
Không sẵn có một mạng lưới giao thông hiện đại chằng chịt các phương tiện đường sắt, ôtô buýt như vậy, hậu quả về tai nạn mà xác suất luôn xảy ra, không thể ở mức giới hạn trên.
Đến giữa tháng 8, một tai nạn khác bất ngờ xảy ra với đoàn tàu cao tốc ICE tại đoạn đường Pfảlerwalt. Một chiếc ôtô tải chở rác container tới đoạn đường này, né về phía đường sắt để tránh một chiếc xe ôtô chạy ngược chiều, đúng lúc đoàn tàu ICE chở 320 hành khách cũng tới nơi. Khi né tránh, chiếc xe chở rác sa bánh xuống lề đường bị lún, lật ngửa ké lên đường tàu (không phải đường sắt cao tốc, đoạn nào cũng có rào chắn kỹ thuật vốn cực kỳ tốn kém).
Lái xe tải bị trọng thương phải gọi máy bay chở đi cấp cứu, 14 người trên tàu bị thương nhẹ, trong đó có hai nhân viên tàu. 320 hành khách thoát chết, nhờ một cơ may trời định, tại nơi xảy ra tai nạn là đường cua, tàu phải giảm tốc độ xuống 90km/h thay vì 320km/h như nơi đường thẳng, nếu không hậu quả thảm khốc chẳng kém gì tai nạn hàng không.
Thoát hậu quả thảm khốc, nhưng toàn tuyến đường bị ngừng giao thông cả ngày trời. Để đưa được đầu máy và toa tàu trật bánh trở lại, người ta phải sử dụng tới hai cần cẩu chuyên dụng, hì hục nửa ngày trời mới xong.
clip_image002
Gánh nặng nợ nần
Theo TBKTSG, việc đề xuất các chương trình, dự án phát triển lớn là chức trách của các bộ. Nhưng khi đưa ra xem xét ở cấp Chính phủ, nó phải được cân nhắc một cách toàn diện. Mọi quyết định đều phải dựa trên mục tiêu giải quyết những nhu cầu cấp bách và cơ bản của toàn bộ nền kinh tế. Bằng không, sẽ là lãng phí và để lại hậu quả khôn lường.
Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang tồn tại nhiều bất cập nghiêm trọng. Đó là tình trạng thiếu điện triền miên; cơ sở hạ tầng giao thông quá yếu kém, ảnh hưởng tiêu cực đến chi phí sản xuất kinh doanh; hạ tầng đô thị quá tải, làm cho tình trạng ách tắc giao thông, ngập lụt ngày một trầm trọng; môi trường sống bị tàn phá nặng nề, để lại những hậu quả vô cùng lớn về kinh tế và xã hội.
Đáng ngại nhất là những bất ổn vĩ mô, thể hiện qua lạm phát cao, nhập siêu lớn đang đe dọa trực tiếp tới sự phát triển ổn định của cả nền kinh tế và đời sống của mọi người dân.
Chính vì vậy, mọi chương trình đầu tư phát triển, đặc biệt là những dự án lớn như đường sắt cao tốc, đồ án quy hoạch phát triển thủ đô Hà Nội, khai thác và chế biến bauxite… chỉ có thể quyết định thực hiện khi và chỉ khi nó giúp ích cho việc giải quyết những vấn đề cấp bách kể trên của nền kinh tế. Tất cả chương trình đầu tư chưa thực sự cần thiết, hiệu quả kém hoặc thậm chí là có nguy cơ làm gia tăng lạm phát, nhập siêu, đe dọa tới sự ổn định của nền kinh tế, thì dứt khoát phải loại bỏ.
Ngân sách của Chính phủ hiện đang trong tình cảnh giật gấu vá vai, thiếu trước hụt sau. Trong hoàn cảnh đó, chúng ta phải biết sử dụng nguồn vốn eo hẹp một cách khôn ngoan, đầu tư vào những nơi có hiệu quả nhất. Nếu cứ bay bổng với ý muốn xây dựng những công trình "để đời" cho thế hệ mai sau, muốn có những dự án với công nghệ hiện đại nhất của thế giới, mà không tính đến hiệu quả, thì hậu quả sẽ khôn lường.
Tới lúc ấy, cái mà thế hệ mai sau được thừa hưởng không chỉ có những công trình vĩ đại, mà còn cả gánh nặng nợ nần. Quan trọng hơn, nền kinh tế có thể rơi vào bất ổn vì những công trình "để đời" nhưng kém hiệu quả, với những món nợ khổng lồ do nó tạo ra.
N. H. – T. V.
Nguồn: VEF

27/11/10

Thêm một lần nói về doanh nghiệp nhà nước

“…Nhiều doanh nghiệp nhà nước đang là bầu sữa tong teo của nhân dân bị vắt ra đau đớn để nuôi béo một bọn người vừa bất tài, vừa vô trách nhiệm, vừa phi nhân bản…”

Thêm một lần nói về doanh nghiệp nhà nước
Nguyễn Thanh Giang

Báo Lao Động số ra ngày 06/11/2009 có bài “Trên 45% các tập đoàn (TĐ), tổng công ty (TCTy) hoạt động hiệu quả thấp”. Bài báo nói về thực trạng của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) lớn như sau:

Về hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, theo báo cáo có tới 45,05% các TĐ, TCTy hoạt động hiệu quả thấp (tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu dưới 10%). Chính điều này làm ảnh hưởng đến hiệu quả chung của khu vực kinh tế nhà nước.

So sánh với các loại hình doanh nghiệp khác như doanh nghiệp ngoài nhà nước, các doanh nghiệp có vốn FDI thì hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của nhà nước tại TĐ, TCTy còn thấp, chưa tương xứng với quy mô, nguồn lực tài chính của Nhà nước, vị trí và vai trò trong nền kinh tế.

Không ít đơn vị, nhất là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu nhờ vào vốn vay ngân hàng và vốn chiếm dụng, cơ cấu tài chính không hợp lý dễ phát sinh rủi ro về cân đối dòng tiền, nợ phải trả cao gấp nhiều làn so với vốn chủ sở hữu.

Cụ thể năm 2006 có 38 TĐ, TCty hệ số an toàn vốn vượt ngưỡng 3 lần, chiếm 40% số TĐ, TCty. Năm 2007 có 31 TĐ, TCty chiếm 32% số TĐ, TCty; năm 2008 có 31 TĐ, TCty chiếm 32% số TĐ, TCty có hệ số an toàn vốn vượt ngưỡng 3 lần.

Tính đến 31/12/2008, một số đơn vị có tỉ lệ tổng nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu rất cao (trên 10 lần) là: TCTy Xây dựng CTGT 1 (21,6 lần); Tổng Cty lắp máy Việt Nam (17,4 lần) ; TCTy Xây dựng CTGT 4 (14 lần), TCty Thành An (13,9 lần); TCty Xây dựng Công nghiệp Việt Nam (12,9 lần); TCty cổ phần Xuất Nhập Khẩu và Xây dựng Việt Nam (12,2 lần); TCTy Xây dựng Công trình Giao thông 8 (12 lần); TCty Thủy tinh và Gốm xây dựng (11,3 lần), TĐ Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam Vinashin (10,9 lần)…

Theo báo cáo của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, tính đến 31/12/2008, tổng nợ tổ chức tín dụng của bảy Tập Đoàn (gồm các tập đoàn: Dầu khí, Than - Khoáng sản, Cao su, Dệt may, Công nghiệp Tàu thủy, Điện lực, Bưu chính viễn thông, không tính tập đoàn Bảo Việt) là 128 nghìn 786 tỉ đồng, tăng 20,54% so với cuối năm 2007 và chiếm gần 10% so với tổng nợ tín dụng đối với nền kinh tế tại cùng thời điểm.

Một số đơn vị có nợ lớn là Tập Đoàn Điện Lực Việt Nam nợ 66 nghìn 764 tỉ đồng, chiếm 51,84% tổng nợ tín dụng của 7 tập đoàn, Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam nợ 21 nghìn 477 tỉ đồng, chiếm 16,67%; Tập Đoàn Vinashin nợ 19 nghìn 885 tỉ đồng, chiếm 15,44%.

Báo cáo cho biết, đây chủ yếu là nợ chung và dài hạn, phục vụ cho các dự án đầu tư mang tính chiều sâu và các kế hoạch phát triển. Cụ thể, nợ ngắn hạn chiếm 15%, nợ trung và dài hạn chiếm 85% tổng nợ của các TĐ, TCty.

Rời bỏ nhiệm vụ chính để đi chôm chỉa, kiếm chác
Cũng theo báo cáo giám sát thì đa số các TĐ, TCty có số nợ phải thu lớn, tính đến 31/12/2008, số nợ phải thu đã tăng 6,3% so với cùng kì năm 2007, tổng số nợ phải thu của các TĐ, TCty là 185 nghìn 826 tỉ đồng, chiếm 38,28% vốn chủ sở hữu và 14,96 % tổng tài sản của các TĐ, TCty.

Về chất lượng nợ, tổng nợ quá hạn của 7 tập đoàn đến 31/12/2008 là 4 nghìn 168 tỉ đồng, chiếm 3,24% tổng dư nợ của các tập đoàn tại các tổ chức tín dụng. Trong đó nợ có khả năng mất vốn chiếm 15% tổng số nợ quá hạn.

Tập Đoàn Vinashin có số nợ quá hạn là 3 nghìn 812 tỉ dồng, chiếm 19,17% dư nợ của Tập Đoàn và chiếm 91,4% tổng số nợ quá hạn của cả bảy Tập Đoàn. Nợ quá hạn của 9 nhóm TCty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng là 1 nghìn 208 tỉ đồng, chiếm 10,5% tổng số nợ tại tổ chức tín dụng
”.

Hiệu quả sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực chính của doanh nghiệp đã thấp, hiệu suất đầu tư sang các lĩnh vưc khác còn thấp hơn:


47 Tập Đoàn và Tổng Công ty tham gia đầu tư vào lĩnh vực tài chính, chứng khoán, ngân hàng… với tổng số vốn đầu tư rất lớn, cuối năm 2006 là 6 nghìn 434 tỉ đồng, cuối năm 2007 là 16 nghìn 190 tỉ đồng và cuối năm 2008 là 21 nghìn 164 tỉ đồng.

Tuy nhiên theo nhận định thì hiệu suất đầu tư (lợi nhuận trên vốn đầu tư) tính chung là rất thấp, thấp hơn so với đầu tư vào ngành kinh doanh chính cuả các đơn vị này. Năm 2008 thị trường chứng khoàn suy giảm mạnh. Hầu hết các TĐ, TCty đều bị thua lỗ hoặc không phát sinh lợi nhuận. Tính đến hết tháng 12/2008, tổng mức đầu tư của EVN vào lĩnh vực chứng khoán là 214 tỉ đồng; các TĐ góp vốn vào quỹ đầu tư của TĐ Dầu khí Việt Nam là 368,9 tỉ đồng, TĐ Cao su là 27 tỉ đồng; TĐ Công nghiệp Tàu thủy 144 tỉ đồng đều không phát sinh lợi nhuận.

Cũng theo kết quả giám sát thì nhiều TĐ chạy đua đầu tư ra ngoài ngành, vào chứng khoán, trong khi đang thiếu nguồn lực tài chính để đầu tư vào dự án phát triển các dự án quan trọng của nhà nước. Điển hình là EVN, năm 2008, đơn vị này đầu tư vào lĩnh vực tài chính khoảng 2 nghìn 146 tỉ đồng, trong khi từ nay đến 2015 để đảm bảo kế hoạch đầu tư xây dưng nguồn điện đơn vị còn thiếu 382 nghìn 931 tỉ đồng
”.

Rời bỏ nhiệm vụ chính (thường gọi là nhiệm vụ chính trị) để đi chôm chỉa, kiếm chác nhưng kết quả mang lại chỉ là nợ ngày càng chồng chất, càng đầm đìa:


Báo cáo giám sát cũng cho thấy nhiều TCty làm ăn thua lỗ, tính đến cuối năm 2008 vẫn còn 23 đơn vị có lỗ lũy kế với tổng số tiền là 2 nghìn 797 tỉ đồng. Cụ thể, năm 2008, TCty Lắp máy lỗ phát sinh 68,75 tỉ đồng, TCty xây dựng Công trình Giao thông 4 lỗ phát sinh 52,52 tỉ đồng, Tập đoàn Dệt may lỗ phát sinh 27,98 tỉ đồng…

Đáng chú ý, TCty Xây dựng Đường thủy có tới 7/8 đơn vị thành viên hạch toán độc lập chưa cổ phần hóa bị lỗ làm mất toàn bộ vốn chủ sở hữu của TCty ( việc mất phần vốn của nhà nước ở các đơn vị thành viên làm cho phần vốn chủ sở hữu của toàn TCty bị âm trong 3 năm liên tiếp, năm 2006 âm 257.756 triệu đồng, năm 2007 âm 444.010 triệu đồng, năm 2008 âm 464.434 triệu đồng)
”.

Thực trạng tồi tệ, nguy khốn đến như vậy nhưng vì phải tỏ ra đi đúng “lề đường bên phải”, bài báo lại không dám không ca ngợi các “đại gia của nhà nước”:


Theo báo cáo giám sát thì tổng nguồn vốn của 90 TĐ, TCty đến 31-12-2008 là 1 triệu 241 ngàn tỉ đồng. Với quy mô về vốn, tài sản, vai trò quan trọng trong hệ thống kinh tế nhà nước, hoạt động của TĐ , TCty Nhà nước luôn song hành cùng tiến trình phát triển kinh tế của đất nước. Chỉ tính riêng trong năm 2008, khối doanh nghiệp nhà nước, mà chủ đạo là các TĐ, TCty đã đóng góp 40% giá trị GDP, tạo ra 39% giá trị sản xuất công nghiệp, trên 50% kim ngạch xuất khẩu.

Theo đánh giá chung thì nhiều TĐ, TCty đóng vai trò là công cụ quan trọng của nhà nước trong việc điều tiết thị trường, ổn định giá cả, đi đầu trong việc thực hiện các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về giải quyết công ăn, việc làm, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội… Quy mô vốn chủ sở hữu của hầu hết các TĐ, TCty được bảo toàn và không ngừng tăng trong những năm qua
”.

Đoạn ca ngợi này viết không đúng sự thực.


Theo đại biểu Quốc hội, giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Đăng Vang, các “đại gia” không hề “
đi đầu trong việc thực hiện các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về giải quyết công ăn việc làm”. Thực tế, toàn bộ số lao động trong 95 tập đoàn kinh tế nhà nước chỉ có 1,119 triệu trong số 54,8 triệu lao động toàn xã hội. Chỉ sử dụng được 2% lao động thì làm sao có thể xem là góp phần đáng kể, chứ nói chi đến đi đầu trong việc giải quyết công ăn việc làm cho xã hội. Chỉ với 2% số lao động ấy thì làm sao đóng góp được 40% giá trị GDP.

Chắc chắn không thể đạt 40%. Con số thực có lẽ chỉ khoảng 18,9 %!


Thế mà, Báo cáo chính trị tại Đại hội VIII của ĐCSVN trước đây đã từng vạch chỉ tiêu đóng góp 60 % vào GDP cho khối doanh nghiệp nhà nước. Thuở ấy, trong bài góp ý cho Đại hội này có tiêu đề “Thế nào là định hướng đúng” (*) đề ngày 01/05/1996 tôi đã viết:


Vậy mà, sao vẫn phải "Tập trung nguồn lực để phát triển kinh tế nhà nước" và gán ghép cho nó cái chỉ tiêu chiếm tỉ trọng 60% GDP? Liệu có thể làm thế nào trong dăm năm tới đạt chỉ tiêu đó không? Hay là, nó chỉ đạt tỉ trọng đó khi GDP phải teo lại ? Liệu có ai thích cái cơ chế đó chỉ vì muốn lợi dụng nó để biến một số phần tử trong "giai cấp mình" thành những tên tư bản đỏ - những tên tư bản được đề bạt, được chỉ định, được bao cấp, được bảo vệ bằng chuyên chính vô sản? Chính những tên này không chỉ bóc lột dã man hơn mà còn đục ruỗng nền kinh tế tàn tệ hơn bất cứ loại tư sản nào!”.

Quả vậy, cho đến nay, đã qua ba kỳ Đại hội, sau 14 năm, không những chỉ tiêu 60% không thể nào đạt được mà muối mặt man khai cũng chỉ dám công bố con số 40% hoàn toàn sai sự thật như trên!…


Nói các Tập Đoàn và Tổng Công ty nhà nước đã đóng góp trên 50% kim ngạch xuất khẩu là không đúng. Chính báo cáo của Chính phủ cho biết năm 2006 doanh nghiệp nước ngoài tạo được kim ngạch xuất khẩu đến 62,8% trong khi toàn bộ các doanh nghiệp Việt Nam, kể cả tư doanh, kể cả các “đại gia” lẫn các doanh nghiệp nhỏ chỉ đóng góp được 37,2%! Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp nước ngoài vẫn đạt 60,3 %, trong khi Doanh Nghiệp Nhà Nước chỉ được 39,7%. Năm 2008 có tiến bộ hơn nhưng toàn bộ khối DNNN cũng chỉ có kim ngạch xuất khẩu khoảng 45% chứ lấy đâu ra trên 50%!


Những bài báo, những báo cáo như đang nói đến (kể cả báo cáo trước cơ quan quyền lực tối cao) chứng tỏ: để bảo vệ cho được quan điểm, đường lối của Đảng, người ta không ngần ngại sử dụng những thủ đoạn man trá để lừa dối nhân dân, lừa dối xã hội.


Trong bài viết “Thế nào là định hướng đúng” (*) tôi cũng đã từng tố giác:


Tại các doanh nghiệp nhà nước, người ta đem tài sản quốc gia và của cải nhân ra bán đi hoặc cho vay lòng vòng, thậm chí vay của nước ngoài để chia chác, làm giàu cá nhân hoặc tiêu sài phung phí. Nhiều doanh nghiệp nhà nước đang là bầu sữa tong teo của nhân dân bị vắt ra đau đớn để nuôi béo một bọn người vừa bất tài, vừa vô trách nhiệm, vừa phi nhân bản

Đến bài viết “Về vấn đề vai trò của doanh nghiệp nhà nước” (**) đề ngày 20/04/2000 tôi lại hơn một lần rền rỉ thống thiết:


Cách đây dăm năm, trong một bản góp ý vào Báo cáo Chính trị của Đại hội VIII, tôi không nén nổi lòng mình, cũng đã từng thẳng thắn cảnh báo: “Nhiều doanh nghiệp nhà nước đang là bầu sữa tong teo của nhân dân bị vắt ra đau đớn để nuôi béo một bọn người vừa bất tài, vừa vô trách nhiệm, vừa phi nhân bản”. Lẽ ra tôi phải viết “hầu hết DNNN”, nhưng lúc đó lòng dũng cảm của tôi chỉ dừng ở mức dám dùng một tính từ chỉ số lượng hoàn toàn bất định: “nhiều”. Bây giờ thì bên cạnh câu ấy, tôi còn muốn minh hoạ thêm bằng một biếm hoạ chua xót mà ở giữa là một cái bồ sứt cạp thủng đáy; phía trên là mồ hôi, nước mắt, xương máu nhân dân đang được mạnh tay đổ vào; phía dưới, ngoác ra hàng loạt cái mồm khốn nạn chen nhau nhồm nhoàm nhai nuốt.

Cũng như chủ trương ưu tiên phát triển công nghiệp nặng trước đây, chủ trương ưu tiên củng cố, xây dựng các doanh nghiệp nhà nước hiện nay đang tạo ra nhiều nghịch lý, nhiều phản giá trị cả trong kinh tế lẫn xã hội.

Thật vậy, DNNN không chỉ là những cái bồ thủng đáy để người ta rót của cải, tiền bạc của nhân dân, của nhà nước vào những cái mồm tham nhũng đủ mọi cấp, đủ mọi loại, mà còn là những cái bồ sứt cạp để người ta đổ tung toé một cách vô tội vạ những khoản “tiền chùa” to lớn, tạo nên tình trạng lãng phí rất đau lòng
”.

Từ đấy tôi đã nêu kiến nghị:


Không thể giao phương án cải cách doanh nghiệp bao gồm việc sắp xếp lại hay cổ phần hoá cho các cấp chủ quản xây dựng và chỉ đạo thực hiện. Như thế khác nào trông chờ họ tự đẽo, tự cưa cái ghế của họ, tự gạt đi cái “mâm cỗ chùa” họ đang hưởng. Cần thiết lập một cơ quan độc lập đủ mạnh để thực hiện một chương trình cải cách DNNN. Cơ quan này phải có quyền lực thực sự, đồng thời phải chịu mọi trách nhiệm trước Nhà nước.

Cần xác định lại thế nào là vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước? Đâu phải đóng được vai trò chủ đạo thì phải và chỉ cần chiếm tỉ trọng lớn trong sản xuất và lưu thông đồng thời chi phối cưỡng bức các thành phần kinh tế khác thông qua việc tăng cường quyền lực tài chính và chính trị.

Muốn đóng vai trò chủ đạo, muốn chỉ đạo được, muốn chi phối được về thực chất thì không thể vận dụng mệnh lệnh hành chính mà phải thông qua sự thuyết phục bởi tính hiệu quả. Hiệu quả của các hoạt động sản xuất và kinh doanh của các thành phần kinh tế nhà nước phải đủ sức cạnh tranh và cạnh tranh thắng cuộc đối với các thành phần kinh tế khác, thì khi đó mới chi phối được nền kinh tế quốc gia và mới xứng đáng vai trò chủ đạo.

DNNN không chỉ là những cái bồ thủng đáy
để rót của cải, tiền bạc của nhân dân, của nhà nước
vào những cái mồm tham nhũng
Song song với việc xử lý tích cực đối với các DNNN cần khẩn trương hơn trong việc tạo lập môi trường sản xuất – kinh doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế kể cả DNNN cần khẩn trương hơn trong việc tạo lập môi trường sản xuất – kinh doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả DNNN phải chuyển sang hoạt động theo một luật doanh nghiệp thống nhất. Từ đó tạo một sân chơi phẳng, một trường đua phân minh để chiến thắng thực sự thuộc về tài trí chứ không phải chỉ dành cho các cậu ấm, cô chiêu được nuôi dưỡng bằng bầu sữa bao cấp của nhà nước
”.

Những nhận xét, đánh giá khách quan, khoa học như vậy, những kiến nghị tâm huyết thực sự vì dân, vì nước như vậy đã được thành khẩn dâng lên từ hơn chục năm qua. Nếu tinh thần ấy được hiện thực hoá thì nền kinh tế nước nhà đâu phải gánh những món nợ è vai hiện tại và những nguy khốn tương lai nhỡn tiền! Tiếc rằng tấm lòng ấy, những ý kiến ấy không những không được tiếp nhận nghiêm túc mà người viết còn bị truy chụp đủ tội: gián điệp, phản động, chống Chủ Nghĩa Xã Hội, chống Nhà nước, cơ hội, vân vân; bị lục soát nhà cửa và công an bắt đi tra vấn hơn một chục lần, bị bỏ tù, bị hàng chục bài báo của Đảng bôi bẩn, lăng nhục!...


Cho dẫu như vậy, trước tình hình quá nguy cấp: vì phải gồng gánh DNNN mà, theo Ngân hàng Thế giới (World Bank), năm 2009 nợ nước ngoài của Việt Nam đã lên tới 26,8 tỷ USD (gần bằng 1/3 GDP). Đây là hiểm hoạ lớn sẽ đổ lên đầu con cháu chúng ta sau này, mà tội lỗi từ chúng ta. Cho nên, đến Đại hội XI sắp tới của Đảng Cộng Sản Việt Nam tôi vẫn không thể không thêm một lần khẩn khoản kiến nghị : Hãy đừng vì can tâm nô lệ mãi cái ý thức hệ “ Định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa” mà cứ cố xác lập vai trò chủ đạo DNNN một cách duy ý chí hoàn toàn vô lý để làm khổ dân, hại nước. Một nền kinh tế thị trường lành mạnh, hiện đại (chứ không phải nền kinh tế thị trường hoang dã như ở Việt Nam hiện nay), một chính phủ giỏi giang đủ sức quản lý chỉ đạo ngang tầm các nước tiên tiến sẽ bảo đảm kinh tế phát triển tốt, đưa đất nước đến giàu mạnh.

Nguyễn Thanh Giang
15/11/2010

(*) Trong cuốn “Khát vọng ngàn đời” xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1997
(**) Trong cuốn “Suy tư và Ước vọng” xuất bản tai Pháp, Hoa Kỳ, Canada

Dẫn hổ về thịt dê nhà

“… Một chính thể không còn lý do chính đáng để tồn tại thì chỉ có thể duy trì bằng bạo lực, chỉ có thể sử dụng bọn tội phạm, bọn sát nhân, bọn cặn bã xã hội, tóm lại, bọn chó giữ nhà …”
Đối với thế giới, uy tín của chính quyền cộng sản Việt Nam đã mất từ lâu, mất một phần khi xảy ra cuộc chiếm đóng Cambodia, mất toàn phần khi làn sóng thuyền nhân tràn lên các đại dương và xác chết của họ trôi khắp bãi bờ các quốc gia khác.

Với dân chúng trong nước, giờ đây họ thôi là nhà cầm quyền vĩ đại. Bởi sự thoát đồng đã xảy ra từ rất lâu, họ thôi là thượng đế và dân chúng thôi là những con nộm bị điều khiển bằng thứ tôn giáo do kẻ cầm quyền sáng tác. Dân chúng đã nhìn rõ bản mặt của họ: những con vật đi bằng hai chân, những con vật tham tàn, những con vật đang run sợ vì sự tham tàn của chúng không còn được bóng tối che đậy.

Nhà cầm quyền Hà Nội lúc này chỉ còn tin vào nòng súng. Nhưng bất kì kẻ cầm súng nào cũng có lúc chết vì chính thứ vũ khí mà họ sử dụng. Bởi vì, chẳng có thứ vũ khí nào tự động nhả đạn. Vũ khí nào cũng cần bàn tay của con người, dù là bàn tay bấm nút chiến tranh hạt nhân hay bàn tay cầm dao găm, súng lục. Khi con người đã nhìn rõ sự thật, khi họ không còn bị huyễn hoặc bởi các trò mị dân, khi họ hiểu họ là ai và họ có thể làm chủ số phận của họ bằng cách nào, lúc ấy, các nòng súng sẽ đổi hướng.

Tiếng nhạc ầm ĩ trong ngày hội “Ngàn năm Thăng Long” hẳn đã át đi tiếng nức nở của trên năm mươi gia đình nạn nhân chết vì bão lụt ở miền Trung. Các quan chức Hà Nội không bỏ ra một nửa giây để tưởng niệm những kẻ xấu số. Họ quên. Cũng như họ đã từng quên những người dân đánh cá tỉnh Thanh bị giặc Tầu giết ngoài khơi, như họ quên các chiến sĩ đã bỏ mình trên biên giới vào cuộc chiến tranh năm 1979...

Họ quên và họ quên. Vậy họ nhớ điều gì?

Khi con gái họ có nhu cầu mua một chiếc váy cưới xấp xỉ 200.000 Euros tại đại lộ Champs Elysées thì họ phải nghĩ cách làm đầy thêm các ngân khoản ở ngân hàng ngoại quốc. Khi nhân tình của họ cần chiếc xe hơi sang trọng như xe của cô Hồ Thu Hồng thì họ phải nghĩ cách để kiếm cho bằng được chiếc xe ấy, để nàng khỏi tủi thân vì kém chị kém em. Khi ngôi lầu của họ chỉ đáng giá hai triệu đô la mà của kẻ khác giá gấp đôi thì họ phải tìm cách đuổi kịp và vượt hắn. Đó là mối quan tâm cốt lõi của giai cấp tư sản đỏ Việt Nam giờ đây, cái guồng quay cũ kĩ của đám mới giầu.

Ai đó từng nói câu này: “
Trong giai đoạn tích luỹ tư bản, giai cấp tư sản có thể giết chết cha đẻ của họ để có tiền”.

Giai cấp tư sản đỏ Việt Nam cũng có chung một trạng thái tâm lý đó: khát tiền, làm mọi thứ để có tiền, bất kể phương tiện nào, dù đó là tội ác. Nhưng tư sản đỏ Việt Nam không cần giết bố, bởi họ có một đối tượng khác dễ giết hơn nhiều: dân đen. Họ không cần đốn ngã kẻ sinh thành bởi có thể hút máu dân đen một cách thoả thuê, vừa thoả mãn cơn khát tiền lại vừa yên ổn lương tâm vì không mắc tội giết cha.

Lấy ví dụ về tập đoàn Vinashin. Mua một vỏ tầu cũ nát, đáy nứt, không thể vận hành, lấy sơn quét lên rồi rút hàng triệu đô la trong công quỹ. Hàng triệu đô la ấy quan lớn bỏ túi, còn con tầu “bãi rác” sơn bóng loáng kia được đặt trên đất liền để làm “hiện vật bảo tàng”.

Nghe tưởng như chuyện đùa. Nghe như tiếu lâm. Thứ tiếu lâm cười ra nước mắt. Chỉ có ở Việt Nam, nơi kẻ cầm quyền coi dân là lũ trâu bò, mới dám làm điều ngang ngược đó. Chỉ có ở xứ Việt Nam, khi tất cả các cuộc kí kết, thương thuyết của chính phủ đều diễn ra trong bóng đêm và dân chúng không được quyền biết đến mới có thể xảy ra hiện tượng này.

Lấy ví dụ thứ hai: các vụ buôn người. Dưới chế độ độc đảng, độc tài, ai có thể làm được điều này nếu không là chính các thành viên trong chế độ ấy. Tại sao lại buôn người? Vì buôn người thu lời nhanh nhất, mà vốn đầu tư coi như zero nếu có quyền hành. Cho nên, buôn người là nghề mới của đảng cộng sản Việt Nam, đảng thừa thãi quyền hành vì không có đối trọng.

Đã là lái buôn, ắt phải tham. Lòng tham mà không bị điều tiết bởi các điều luật thì nó sẽ phát triển vô cùng tận. Do đó, món hàng hoá có tên gọi là “dân đen” của các quan chức Việt Nam sẽ được khai thác tối đa để làm đầy túi các bậc trị vì dân. Khi đã coi dân chúng là hàng hoá, ắt người cộng sản phải tìm mọi cách để đám dân đen trở thành vật vô tri, tức là các công cụ, thứ công cụ này có chức năng sản xuất nhưng phải câm và phải điếc. Khi mà các công cụ dân đen không chịu nổi đàn áp, buộc mở mồm thì lập tức họ có cách để bắt nó phải câm. Vũ khí đó có tên gọi “chuyên chính”, bộ máy đàn áp trứ danh lâu nay.

Hãy đọc báo Công An Nhân Dân đưa tin về vụ xử ba thanh niên sáng lập công đoàn Tự do ngày 27 tháng 10 năm nay:

Được Trần Ngọc Thành, kẻ cầm đầu Uỷ Ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam đưa Hùng, Hạnh sang Malaysia đào tạo, huấn luyện, rồi từ ngày 28/1 đến ngày 9/2/10, Trần Ngọc Thành đã chỉ đạo Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương thực hiện các vụ kích động biểu tình, rải truyền đơn ở Trà Vinh, Đồng Nai, Tp HCM, nội dung kêu gọi người dân chống lại Đảng, Nhà nước, kêu gọi đấu tranh để đòi dân chủ; lợi dụng các vấn đề còn thiếu sót trong chế độ lao động, tiền lương của công nhân ở một số khu công nghiệp để tổ chức tuyên truyền, kích động công nhân đình công, biểu tình, phá hoại máy móc, nhà xưởng, tài sản của doanh nghiệp...

Thứ nhất, tác giả bài báo này quên rằng “Kích động công nhân đình công, biểu tình, phá hoại máy móc, nhà xưởng, tài sản của doanh nghiệp” là đích xác các hành động của người cộng sản Việt Nam những năm trước cách mạng. Các hành động này cũng đã từng xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, khi giai cấp lao động không chịu nổi sự áp bức và bóc lột của đám chủ nhân. Các phản ứng tiêu cực này chỉ xảy ra khi sự thoả thuận giữa người làm công với kẻ trả công bị vi phạm và cuộc sống của người lao động bị đe doạ.

Phải chăng tác giả bài báo này cho rằng chỉ riêng đảng cộng sản vĩ đại của ông ta là được quyền sử dụng chiêu thức ấy còn những người khác thì bị cấm vì họ không được là người mà chỉ là thứ phẩm của người, tức “dưới người”, nói cách khác: “người vượn Néanderthal”?

Thứ hai, câu “lợi dụng các vấn đề thiếu sót trong chế độ lao động, tiền lương của công nhân...” chỉ là lối mỹ từ hoá sự vật. Nói một cách xác thực và dân giã, hiện nay các quan lớn cộng sản Việt Nam đang thực thi chính sách “bòn nơi khố quạnh, đãi nơi quần hồng”.

Tại sao lại “bòn nơi khố quạnh”? Vì ngu, vì tham, vì trước ngoại nhân thì dốt nát và khiếp nhược nên các quan lớn chỉ có lối kiếm tiền dễ nhất là bóc lột đồng bào mình, những người không có phương tiện để tự bảo vệ, những kẻ bị hà hiếp, bị tê liệt cùng một lần vì đói nghèo và sợ hãi.

Tại sao lại “đãi nơi quần hồng”? Vì người cộng sản lúc này thôi còn là cộng sản, họ đã trở thành đám tư sản dù vẫn giữ vẻ mặt ngô nghê và bộ điệu lố bịch của kẻ cách đây chưa lâu còn lo le sợi dây giong lợn giống hoặc lúc lắc cái ống bơ đựng xu lẻ ăn mày. Khi đã đổi vai thì họ phải bám vào cái giai cấp tương lai của họ, giai cấp mới này chính là đám quần hồng, thế nên họ phải đãi đám quần hồng để còn kiếm chác phần đường mật trong đũng cái quần hồng ấy.

Sự thật đơn giản, nếu người ta nhìn thẳng vào nó.

Đám cầm quyền hôm nay đã rơi từ đỉnh cao của sự “kiêu ngạo cộng sản” xuống vũng bùn của “các con lợn truỵ lạc phương Tây” mà trước đây họ thường sa sả chửi rủa, họ đang sống xả láng trong cảnh phồn vinh mà trước đây họ mỏi mồm lên án. Nói tóm lại, họ đang là thứ “khỉ khoác quần áo”, thứ “nhặt cái đuôi của bọn tiểu tư sản cắm vào lỗ mồm” như ông tổ hói đầu Lenin của họ từng cảnh báo trước đây.

Trong cuộc sống tối tăm, nhục nhằn của người nô lệ, các anh hùng đánh đuổi ngoại xâm chính là các bậc thánh sống, được tôn trọng, thần phục, ngưỡng mộ, và có toàn quyền trở thành các nhà sáng lập triều đình.

Nhìn lại lịch sử, ta dễ dàng chiêm nghiệm điều đó. Phải chăng triều Lý, triều Trần, triều Lê, triều Tây Sơn Nguyễn Huệ đều được khởi dựng sau các chiến thắng lẫy lừng chống kẻ xâm lăng? Ngoại trừ Đinh Bộ Lĩnh là viên tướng phất cờ khởi nghĩa dẹp loạn sứ quân, thống nhất đất nước, nói một cách dễ hiểu là viên tướng duy nhất xây dựng triều đình khi chiến thắng các cuộc nội chiến phân quyền, còn lại, những gương mặt sáng chói trong lịch sử đất Việt đều là những anh hùng chống Tầu và chống Nguyên – Mông. Các triều vua này từng tuyên bố “Sông núi nước Nam vua Nam ở”.

Và cuộc sống mái của họ là giành mục đích người Việt Nam là người Việt Nam, dẫu áo vải quần thâm nhưng đàn ông nhất quyết không cạo trọc, tết sam như gã A.Q, đàn bà không bó chân như các mợ Tầu.

Tuân theo logic ấy, triều cộng sản được hình thành là nhờ nó có công trong cuộc cách mạng chống giặc Tây. Và người ta còn khoan dung cho nó là vì tính đến cái công ấy, cái công “dành độc lập dân tộc”, cái khả năng nối tiếp truyền thống của các Vua nước Nam nhất thiết phải ở đất nước Nam, coi sự tồn tại của non sông quý hơn tròng mắt của chính họ.

Cái tinh thần bất khuất ấy, còn hay chăng?

Còn hay chăng, tinh thần dân tộc của những người đã đổ máu để cắm ngọn cờ hồng lên thành Hà Nội sáu mươi lăm năm trước, những cảm tử quân đã ôm bom ba càng vào mùa đông năm 1946 với lời thề “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”?

Nếu những anh hùng vô danh ấy có linh hồn, hẳn các linh hồn ấy giờ đây đang nức nở.

Nếu những hiển linh của các vua xưa có thể cất lời, thì lời đầu tiên họ nói sẽ là “Lũ người này đã phản bội lại dân tộc, bọn sâu bọ này đã bôi nhọ mặt chúng ta!”

Ngày Hội Ngàn năm Thăng Long diễn ra vào đúng ngày 1 tháng 10, thằng mù cũng biết đó chính là ngày Quốc khánh Trung Quốc. Tại sao lại là con số này? Tại sao có sự lựa chọn này? Vô ý chăng? Nhầm nhỡ chăng? Mất trí nhớ chăng?

Cứ coi như Bộ trưởng Bộ Văn Hoá dốt nát thì trên đầu ông ta còn mười một người trong bộ chính trị. Không lẽ cả mười một người này mắc chứng mất trí nhớ? Không lẽ cả mười một người này mắc bệnh thiểu năng?

Nếu để cho mười một kẻ thiểu năng đứng trên đầu trên cổ mình thì dân Việt xứng đáng là các bệnh nhân của trại tâm thần, một trại tâm thần khổng lồ chưa từng thấy mà trong đó các con bệnh bị tiêm thuốc ngủ liều cao liên miên nên đờ đẫn, không còn khả năng nhận thức sự vật xung quanh. Nếu không, họ đã bị bán đứng cho Tầu, và tương lai của họ, một tương lai không tránh được sẽ là bản sao lại sầu thảm của những người dân Tây Tạng hoặc Tân Cương một khi họ bó tay trước lũ bán nước.

Ngàn năm Thăng Long

Chọn ngày Quốc Khánh Trung Quốc để mở hội Ngàn năm Thăng Long là một biểu tượng hai mặt.

1. Với triều đình Bắc Kinh chính phủ Hà Nội đã làm bản tuyên bố: Thành Thăng Long cũng chỉ là một bộ phận trong lịch sử mẫu quốc, nó phải được treo đèn kết hoa cùng một lần với đèn hoa của thủ phủ đại triều. Một khi thủ đô của một quốc gia đã định vị như vậy, có nghĩa quốc gia ấy tự xác nhận danh tính chư hầu một cách công khai. Sự kiện này là bản giao kèo bộc lộ lòng trung thành vô hạn và vô điều kiện của đám hàng thần Hà Nội.

2. Với dân chúng, đây cũng là lời tuyên bố thẳng thừng: Chúng tao bất chấp lịch sử, chúng tao có toàn quyền định đoạt vận mệnh đất nước. Kẻ nào chống lại, kẻ đó sẽ bị tiêu diệt.

Chọn ngày quốc khánh Trung Hoa để mở hội Ngàn năm Thăng Long là bằng chứng hiển nhiên để mảnh vải rách cuối cùng che thân chế độ cộng sản rơi xuống. Họ đã trở thành kẻ bán nước, công khai hoá hành vi bán nước của mình.
Mảnh vải rách cuối cùng
che thân chế độ cộng sản rơi xuống
Nếu như năm 1945, cha anh họ là các anh hùng giải phóng dân tộc thì giờ đây, trái lại, họ là những tên phản tặc, sỉ nhục của tổ tiên, chẳng những cắt đất, cắt biển dâng cho giặc mà còn đương nhiên ném bùn lên lịch sử. Người Việt Nam ta có câu “hổ phụ sinh cẩu tử”. Mà bọn người này, không những là những con “cẩu tử” mà còn là “cẩu ghẻ”, “cẩu sida”.

Những người cầm quyền Hà Nội thừa thông minh để hiểu rằng họ là những con cẩu ghẻ. Rằng trong dòng máu của bất cứ người Việt nào cũng lưu cữu một thành tố có tên gọi “chống ngoại xâm”, mà thứ ngoại xâm thống trị lâu dài nhất, tàn độc nhất, để lại các kinh nghiệm đau thương sâu đậm nhất trong kí ức là “giặc phương Bắc”.

Cuộc thực dân hoá của Pháp 100 năm chỉ là cơn bão chóng qua so với thời kì bắc thuộc của giặc Tầu. Họ biết rằng bất cứ kẻ nào phản lại truyền thống đấu tranh dân tộc, kẻ đó mất chỗ đứng trong lòng dân chúng. Ngày hôm trước còn được tung hô hoàng đế, hôm sau đã biến thành “Thằng chó săn, thằng phản tặc, phường bán nước”.

Đó là trường hợp vua Lê Chiêu Thống đã phải chịu do hành vi bán nước của ông ta. Còn câu ca “Nguyễn Ánh cõng rắn về cắn gà nhà” mãi mãi là bài học lịch sử tố cáo tội ác của kẻ đặt lợi ích dòng họ trên quyền lợi dân tộc. Giờ đây, nhà cầm quyền Hà Nội biết rằng họ đã bị đẩy sang bên kia đường biên, họ rơi vào cùng một bè lũ với Lê Chiêu Thống và Nguyễn Ánh. Để đặt tên cho họ một cách rõ ràng và chính xác, tôi xin nhại lại câu “cõng rắn về cắn gà nhà” của các cụ xưa mà rằng nhà cầm quyền Hà Nội giờ đây là bọn “dẫn hổ về thịt dê nhà”

Dẫn hổ về thịt dê nhà

Tại sao lại là hổ và dê?

Hổ, vì vương triều phương Bắc bây giờ mạnh hơn thực dân Pháp năm xưa nhiều lần, để so sánh một cách chính xác thì phải dùng hình ảnh con hổ chứ không thể là con rắn.

Dê, vì nhìn lại bản đồ, bạn đọc sẽ thấy rằng toàn bộ bán đảo Đông Dương có thể ví như một con dê mà Tây nguyên chính là phần sống lưng con dê đó. Một khi con hổ Trung Hoa cắm được móng vuốt lên chính giữa lưng con dê này, coi như số mạng con dê đã nằm trong hai hàm răng của nó.

Đế quốc Trung Hoa sẽ trải rộng khắp châu Á. Việt, Miên, Lào sẽ trở thành các tỉnh thành khác nhau của Trung Hoa, “công đầu” này thuộc về ai nếu không là nhà cầm quyền Hà Nội, kẻ dựng lên công trình bauxite Tây nguyên?

Bauxite ư? Trò lừa đảo!

Thiếu gì các quặng bauxite rải rác khắp miền Bắc Việt Nam, tại sao không là Lào Cai, Yên Bái hay Cao Bằng mà lại là Tây Nguyên? Vả chăng, khai thác bauxite để làm gì? Kiếm tiền chăng? Dối trá! Biết bao bài báo đã phân tích chán chê lợi hại về khai thác bauxite, kể cả các tài liệu trên thế giới cũng công bố rộng rãi tác hại của nó, mà vụ gần đây nhất là Vùng bùn đỏ Hungaria. Còn có thể nói thêm được điều gì khi mà sự bán nước hiển nhiên đã bầy ra trước mặt dân chúng, giữa thanh thiên bạch nhật?

Nhà cầm quyền Hà Nội hoàn toàn có ý thức về hành vi bán nước của họ, bởi con tính của họ là trở thành một thứ “Thái thú Tô Định hiện đại”, được hưởng đủ phần xôi thịt của Bắc triều.

Còn Việt Nam biến thành một tỉnh nào đó của Trung Quốc, mang tên Quảng Việt, Quảng Nam, Quảng Lạc... họ không cần quan tâm. Họ biết rõ rằng hành động của họ là đi ngược lại lợi ích của nhân dân, biết rằng không người Việt nào cam tâm làm nô lệ cho Tầu, rằng kinh nghiệm đau đớn của tổ tiên luôn luôn sống trong ý thức lẫn vô thức dân tộc, thế nên họ chủ trương đàn áp dân chúng, họ chủ trương dùng bàn tay sắt để bóp nghẹt cổ những ai muốn nói lời phản kháng. Không phải ngẫu nhiên mà năm 2009, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Văn Hưởng tức Trần đã công khai dọa nạt những người trí thức Việt Nam vào dịp viện IDS của tiến sĩ Nguyễn Quang A tuyên bố giải tán.

Ông nghị Trần nói rằng: “Ở Việt Nam đảng độc quyền lãnh đạo nên không thể có phản biện. Phản biện tức là phản động. Các anh muốn phản biện hả? Nhà tù đang còn nhiều chỗ lắm. Nhưng chúng tôi cũng không cần đến nhà tù, chúng tôi có các phương tiện hữu hiệu hơn. Tai nạn xe cộ bây giờ tổ chức rất dễ dàng. Còn một biện pháp rẻ hơn và nhàn nhã hơn: đầu độc. Các anh uống cà phê rồi khi về đến nhà thì cứng đơ ra mà chết. Những bài bản này thế giới sử dụng đã lâu, chúng tôi cũng không thua kém họ...

Những lời lẽ này nói lên điều gì nếu chẳng phải sự công khai triệt để của tính tội phạm và tư cách chó? Một chính thể không còn lý do chính đáng để tồn tại thì chỉ có thể duy trì bằng bạo lực, chỉ có thể sử dụng bọn tội phạm, bọn sát nhân, bọn cặn bã xã hội, tóm lại, bọn chó giữ nhà. Không còn lý tưởng, không còn đạo đức, ngập chìm trong tham lam, truỵ lạc, con người trượt từ chữ NGƯỜI sang chữ CON.

Vào những năm 1989, 1990, tôi có vinh hạnh làm quen và gặp gỡ ông Lê Giản, người công an đầu tiên của Việt Nam, người lãnh đạo bộ máy cảnh sát từ những năm đầu cách mạng. Ông Lê Giản đích thực là “Người công an nhân dân, từ nhân dân mà ra, do dân và vì dân”.

Tôi hiểu vì sao cuộc kháng chiến thành công. Kháng chiến thành công vì có những người như ông Lê Giản.

Nhưng ông Lê Giản đã chết và “Người công an nhân dân” cũng đã chết theo. Cái chết này xảy ra từ từ với thời gian, một cái chết âm thầm, nhưng không phải là vô hình vô ảnh.

Tôi chứng minh:

Cách đây ngót ba thập kỉ, khi những lượt hoa quả đầu tiên từ phương bắc tràn vào nước ta, các phòng phân tích thuộc Bộ Nội Vụ đã báo cáo lên Bộ Chính Trị rằng các thứ hoa quả này đều tẩm formaldéhyde (thuốc ướp xác chết) vô cùng độc hại cho người tiêu dùng vì nó phá huỷ mô liên kết của các tế bào và là tác nhân gây ra bệnh ung thư.

Bộ Chính Trị ra lệnh cấm phổ biến sự thực trên vì “sợ mất lòng nước bạn”. Các sĩ quan công an chỉ có thể ngăn cấm chính vợ con họ và rỉ tai những người thân cận nhất (anh em ruột, cha mẹ vợ chẳng hạn), đối với người ngoài, họ tuyệt đối tuân thủ mệnh lệnh cấp trên. Tuyệt đối im lặng. Tuyệt đối thản nhiên nhìn đồng bào mình ăn thứ đồ ăn nhiễm độc, biết chắc chắn rằng ngày một ngày hai họ sẽ ung thư và sẽ chết vì bệnh đó.

Tính kỉ luật của đám sĩ quan này mới cao thượng làm sao(!) Và cao thượng làm sao, những kẻ ngồi quanh bàn họp Bộ Chính Trị, những bậc lương đống của triều đình, chịu trách nhiệm chăn dắt dân đen, đàng hoàng ra lệnh cấm rò rỉ sự thật vào tai dân chúng, bỏ mặc mấy chục triệu người bị đầu độc và chết dần chết mòn!

Đối với tôi, con đường bán mình cho giặc của chế độ Hà Nội đã khởi sự từ ngày ấy. Và ngày ấy cũng là cái mốc đánh dấu sự chuyển biến chất lượng này: từ người công an nhân dân, công an đã trở thành kẻ quay lưng lại với nhân dân.

Ba thập kỉ đã qua, những kẻ quay lưng lại với nhân dân đã trượt không ngừng trên con dốc, để trở thành kẻ thù của nhân dân.

Bây giờ, gương mặt nào là gương mặt đích thực của công an? Người hùng bảo vệ dân hay đám chó giữ nhà cắn cổ dân để bảo vệ ông chủ của nó?

Hãy xem lại các hình ảnh đưa lên internet năm 2008 về vụ nông dân bị cướp đất biểu tình ở Sài Gòn. Những người dân cầy gầy gò xơ xác, đa phần là người già và phụ nữ, từ các tỉnh Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Long An, Bình Thuận đổ đến trước văn phòng Quốc Hội 2 với các khẩu hiệu “Trả đất cho dân”, “Chống cửa quyền, tham nhũng”. Những người dân ấy đã bị đám công an và dân phòng béo múp vì bia rượu, mặt hằm hằm sát khí đối xử ra sao? Mấy thế kỉ đã qua nhưng hình ảnh bọn người này vẫn là bản sao chính xác bọn nha lại mà Nguyễn Du đã mô tả trong Truyện Kiều: “Đầy nhà một lũ ruồi xanh” và “Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi”.

Gần đây nhất, hãy nhìn hình ảnh anh Nguyễn Ngọc Quang, một giáo dân ở Định Quán, tỉnh Đồng Nai vì tham gia đấu tranh cho dân chủ mà bị công an Đà Lạt ba lần tổ chức tai nạn xe cộ để kẹp suýt chết.

Tôi tự hỏi, có lúc nào những người công an này tự vấn lương tâm? Tại sao họ không dùng sức lực, dùng khả năng hung bạo mà họ sẵn có để giết những tên giặc Tàu, lũ dã nhân tàn sát những người dân đánh cá Thanh Hoá?

Nếu là những người mà nghề nghiệp đặt trên bạo lực, bản năng hiếu chiến mạnh mẽ, tại sao họ không dùng khả năng đó để tiêu diệt ngoại xâm mà lại đi đàn áp những sinh viên yêu nước biểu tình đòi Trường Sa, Hoàng Sa trước sứ quán Tầu? Tại sao? Vì họ thiếu trí khôn hay vì họ là những kẻ mù loà, óc não bị khô cứng trong một cuộc sống mà ngoài việc tuân theo mệnh lệnh cấp trên không còn khả năng nghĩ đến điều gì khác?

Vì chưa từng là công an, nên tôi dành những câu hỏi ấy cho họ trả lời. Tôi chỉ nêu lên nhận xét thứ hai, nhận xét khi tôi nhìn tấm ảnh đoàn biểu tình đòi mạng người xảy ra tại thị xã Bắc Giang ngày 25 tháng 7 năm nay.

Nhiều người biết rằng, ngày 23 tháng 7, hai công an huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang đã đánh chết anh Nguyễn Văn Khương, 21 tuổi, quê quán tại huyện Việt Yên vì tội danh không đội mũ bảo hiểm. Ngày 25 tháng 7, gia đình anh Khương đã chở xác chàng trai này lên thị xã Bắc Giang đòi đền mạng. Dân chúng xông lên ủng hộ gia đình nạn nhân, con số lên đến hàng ngàn người, làm thành một cuộc biểu tình rầm rộ chưa từng có trong lịch sử tỉnh Bắc Giang, mà theo bài phỏng vấn, các cụ già đã nói rằng còn đông hơn ngày theo Việt Minh cướp chính quyền năm Ất Dậu.

Trong sự kiện này, tôi chú ý đến một chi tiết: công an đưa xe cứu hoả mang vòi rồng đến trấn áp dân chúng, nhưng trước khí thế căm hờn của đám đông, công an bỏ chạy, hàng chục người dân trèo lên xe đứng. Hiện tượng đó chứng tỏ không phải lúc nào công an cũng tê liệt vì mù loà, luôn hành động như đám robot hoặc lũ chó berger. Trong lúc nguy khốn, họ đã tính toán và đã chọn con đường bỏ chạy để thoát thân.

Có lẽ, con tính của họ cũng đơn giản thôi. Không phải công an nào cũng phú quý vinh hoa như ông nghị Nguyễn Văn Hưởng. Đa phần những người lính quèn chỉ đủ sức nuôi một vợ thôi mà để nuôi cô vợ này với hai, ba đứa con kèm theo cuộc sống của họ cũng không phải là “thiên đường nơi hạ giới”. Nếu máu đổ ra mà chỉ để bảo đảm cuộc sống ấy thì đó là một cuộc đổi chác ngu xuẩn. Thêm nữa, lớp lính bây giờ tương đối trẻ, họ biết chữ nên không hoàn toàn bị bưng bít thông tin, họ hiểu được số phận của đám công an ra sao khi các cuộc cách mạng dân chủ xảy ra ở Nga, ở Tiệp, ở Hung, ở Đức, và ở Ukraina mới rồi.

Thêm nữa, dù hổ thẹn hay cố tình bưng bít lương tâm, nơi thầm kín nhất của con tim, họ cũng hiểu rằng chết vì một lý tưởng cao cả thì đó là cái chết xứng đáng không làm hổ thẹn cho con cháu, chết chỉ vì miếng cơm thì đó là cái chết của con chó gác sân mà khi dân chúng nổi lên, họ sẽ lấy bắp cầy phang vỡ sọ hoặc dùng câu liêm cắt cổ.

Khi lòng dũng cảm và tinh thần hào hiệp không còn nữa, cái còn lại là sự tính toán vị kỉ của mỗi con người. Sự vị kỉ này cũng có mặt tốt của nó, nó là rào cản để chủ nghĩa cuồng tín không thể đặt chân vào mảnh sân của mỗi căn nhà.

Một người công an, nếu chưa mất toàn bộ sự sáng suốt, ắt phải biết tính toán họ được bao nhiêu và mất bao nhiêu, liệu số lương bổng họ được có trang trải nổi phần tiêu phí cho đám tang của họ và nuôi nổi cô vợ với lũ con còn lại, hay sự hy sinh của họ chỉ để làm nặng thêm túi tiền các quan lớn, khiến các quan thêm rửng mỡ để đi hiếp trẻ con (như ông chủ tịch kiêm phó bí thư tỉnh Hà Giang tên Nguyễn Trường Tô và các ông khác chưa bị lộ mặt), hay máu họ đổ xuống chỉ để đổi lấy các hộp kem đắt tiền nhằm bổ dưỡng làn da mịn màng cho các mỹ nhân của quan lớn (như đám mèo cái đang vờn quanh rốn ông nghị Nguyễn Văn Hưởng)? Vân vân và vân vân...

Sự tính toán luôn có lợi cho con người. Bởi thánh nhân thường hiếm mà kẻ trục lợi thường nhiều nên không thể đòi hỏi tất cả mọi người đều xả thân vì đất nước. Tuy nhiên, nếu không là thánh nhân thì họ cũng là dân Việt. Là dân Việt, họ phải hiểu rằng truyền thống chống Tầu là dòng máu sôi sục liên tục chảy trong tim dân tộc này. Bất cứ kẻ bán nước nào, sớm hay muộn, trước hay sau cũng sẽ nằm trước mũi súng của nhân dân.

Dân Việt!

Ai là dân Việt?

Phải chăng đó là tộc người duy nhất trong hàng trăm tộc Việt (Bách Việt) xưa kia sống ở phía nam sông Dương Tử còn giữ lại được bản sắc mà chưa bị đồng hoá như chín mươi chín tộc Việt kia?

Phải chăng vì sự cứng đầu này mà đất Việt luôn luôn là con mồi trong tâm thức Bắc triều?

Ngoài các lý do về nhu cầu bờ biển với các hải cảng, nhu cầu khoáng sản, còn một nhu cầu thầm kín nữa mà quan lại phương Bắc không nói ra, đó là nhu cầu đồng hoá nốt cái phần còn lại của Bách Việt.

Niềm kiêu hãnh Đại quốc là ở đó. Mối bực mình của Đại quốc cũng là ở đó. Một khi họ đã thâu tóm, đã chiếm lĩnh, đã áp đặt nền văn hoá và chữ Hán lên chín mươi chín tộc Việt kia, lẽ nào còn cái tộc cuối cùng họ phải chịu thua? Ở thế thượng phong mà mấy ngàn năm nay chưa nuốt trọn hòn xôi Việt Nam, mảnh đất cỏn con, dường như là một “vết thương lòng, một sự tự ái” mà vua chúa Trung Hoa không chịu được.

Cách đây vài năm, ai đó từng nói với tôi rằng “Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch là địch thủ, nhưng về chính sách đối với Việt Nam thì bọn họ sẽ ngồi cùng một bàn”.

Đó là một nhận định sáng suốt.

Năm trước, ông Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Trung Quốc tiến hành cuộc điều tra dư luận xem bao nhiêu phần trăm dân chúng ủng hộ xâm chiếm Việt Nam. Theo công bố của ông ta thì con số này lên đến trên 90%. Cứ cho rằng Trung Quốc là một nước cộng sản nên dân chúng còn sợ hãi, họ phải tuân theo thượng cấp nên có thể trừ đi 20 phần trăm, phần còn lại vẫn là trên 70 phần trăm. Và điều này là sự thật không ai có thể chối bỏ.

Năm nay đã là năm 2010, thế kỉ 21, Trung Quốc không còn sống dưới vương triều họ Mao, không còn phải đổi xác người thân cho nhau để chén thịt. Kinh tế phát triển, các phương tiện kĩ thuật phát triển, trình độ văn hoá được nâng cấp, sách báo lan tràn trong các đô thị, không thể cho rằng dân Trung Quốc hoàn toàn bị dắt mũi bởi họ ngu dốt, bởi thiếu thông tin, bởi sợ hãi nhà cầm quyền, ngược lại, họ đang dương dương tự đắc vì là dân của cường quốc số 2 trên thế giới. Vậy thì, cái “hòn xôi Việt Nam chưa nuốt được” kia không chỉ làm ngáng họng đám cầm quyền mà cũng còn làm ngứa ngáy cổ họng vô số dân đen phương Bắc, một mặc cảm có mẫu số chung.

Vì lý do nào mà bộ trưởng bộ quốc phòng Trung Quốc làm cuộc điều tra này? Đó là một trò chơi ngẫu nhiên hay là sự thăm dò có chủ định?

Vì lý do nào mà trên các site internet Trung Quốc tung ra hàng loạt bài chửi bởi, nhục mạ “lũ chó Việt Nam, phải đánh bọn chúng. Lũ chó Việt Nam, lần này chúng ta sẽ thanh toán lịch sử”, và công bố một cách chi tiết chương trình thôn tính Việt Nam trong ba mươi mốt ngày, phần còn lại của bán đảo được quy định là một tuần, tóm lại là chương trình con hổ Trung Quốc nuốt trọn con dê Đông Dương?

Liệu nhà cầm quyền phương Bắc có thể ngang ngược làm những điều ấy chăng nếu như chính quyền Hà Nội còn là một chính quyền độc lập mà không tự nguyện biến mình thành đám gia nô cho vương triều Đại Hán?

Tôi dành những câu hỏi ấy cho bạn đọc trả lời.

Tôi chỉ xin nhắc họ rằng, chúng ta là tộc người cuối cùng sống sót mà không bị đồng hoá thành người Hán. Tổ tiên chúng ta đã đấu tranh không mệt mỏi để chống lại sự áp đặt của Bắc triều, bởi họ đã nhìn thấy sự đánh mất bản diện, sự lụi tàn của 99 tộc Việt kia.

Để tồn tại và được là chính mình, tổ tiên ta vừa chống chọi vừa lùi xuống phương Nam. Lịch sử của dân tộc Việt tóm gọn trong câu này: “Nam tiến”!

Nam tiến, nam tiến và nam tiến!

Cuộc Nam tiến thứ nhất khởi sự dưới triều Lê, từ năm 1428 đến năm 1527. Kể từ đây, cuộc khai khẩn và chinh phạt tiếp tục không ngưng nghỉ. Từ Thăng Long các đoàn quân xưa vượt qua đèo Ngang, sau lưng họ là những đoàn nông dân và thợ thủ công vào phá rừng, bạt núi, kiến tạo ruộng đồng và lập làng xây ấp. Rồi tiến đến châu Ô, châu Rí. Rồi, từ đèo Ngang vượt qua đèo Hải Vân là chặng đường thứ hai. Cứ thế mà hành trình này tiếp tục cho đến mũi Cà Mau.
Nam tiến, đó là sự nghiệp dựng nước của tổ tiên ta.

Bây giờ, chúng ta không còn cơ hội để tiếp tục sự nghiệp của họ. Chúng ta không thể Nam tiến. Trước mặt chúng ta đã là biển. Chúng ta tiến đi đâu?

Người Việt chỉ còn cách tồn tại cuối cùng là giữ lấy đất đai, đất đai ấy là xương máu của cha ông ngàn đời tích tụ lại, đất đai ấy là nơi cắt rốn chôn nhau nhưng cũng là thành luỹ mà họ có thể nương tựa vào để duy trì cuộc sống cho mình và cho các thế hệ mai sau.

Để giữ được non sông, để có thể là người Việt mà không trở thành đám thiểu số khiếp nhược của một vương quốc khác, chúng ta không thể tiếp tục dung dưỡng một chính quyền bán nước, một chính quyền đã ngang nhiên cắt đất, cắt biển cống cho phương Bắc, đã nhục nhã biến ngọn cờ Thăng Long ngàn năm thành một mảnh vải vụn xén ra từ cái váy hồng Bắc Kinh. Chúng ta không thể bảo vệ được Tổ quốc nếu tiếp tục nuôi giữa lòng dân tộc mình một con rắn độc, cũng như Vua An Dương Vương xưa đánh mất non sông vì trót đẻ ra và trót yêu thương đứa con gái phản tặc có tên là Mỵ Châu. Với tất cả các hành vi nhục nhã mà họ đã làm, chế độ Hà Nội giờ đây đã chính thức trở thành một thứ Mỵ Châu.

Tuy nhiên, Mỵ Châu xưa là một người đàn bà xinh đẹp nhưng ngu dốt, kẻ luỵ tình nông nổi nên tội bán nước của cô ta còn được người đời khoan dung. Tại đền thờ Cổ Loa có hai tượng đá, tượng đá ngoài sân là biểu tượng Mỵ Châu nằm gục mặt xuống đất mà bất cứ ai đi qua cũng phải đạp một cái lên lưng và nhổ một bãi nước bọt để trừng phạt “con Mỵ Châu bán nước”. Còn tượng đá trong đền, tựa như một người đàn bà cụt cổ phủ vải đỏ thì lại được hương khói do lòng đồng cảm với “Mỵ Châu khờ dại và lụy tình”.

Dân Việt vốn không cuồng tín, họ phân biệt rõ ràng mọi sự, bên kia chữ lý còn đọng chữ tình.

Nhưng nàng Mỵ Châu ngây thơ, khờ dại đã chết từ mấy ngàn năm trước, còn chính quyền Mỵ Châu bây giờ không một chút khờ dại mà cũng chẳng luỵ tình ai, nó chỉ luỵ cái túi tiền của chính nó. Mọi tính toán của nó chỉ nhằm tu tạo, xây đắp quyền lợi bản thân, cũng như con thú chỉ có một đam mê duy nhất là liếm cho mượt bộ lông của chính nó mà thôi.

Mỵ Châu ngày nay là một con đĩ già trơ trẽn, trần truồng nằm dạng háng sẵn cho phương Bắc.

Người dân Việt phải chém cụt đầu con đĩ ấy, trước khi nó kịp trao hết nỏ thần vào tay giặc nếu chúng ta không muốn lặp lại số phận bi thảm của An Dương Vương.

Dân tộc Việt không thể làm được điều ấy, nếu quân đội không đứng lên cùng với họ.

Quân đội, những người lính của nhân dân, các anh còn ngủ đến bao giờ?
Dương Thu Hương