22/12/10

Sư chính trị : Phong trào Phật tử tranh đấu trong cuộc chiến Việt Nam (I)

Mark Moyar – Trần Hải dịch
DCVOnline: Cùng lúc với loạt bài điểm sách “Chiến thắng bỏ lỡ”, Minh Võ, DCVOnline, bắt đầu từ ngày 19/08/2007, Đàn Chim Việt xin giới thiệu với bạn đọc bài “Sư chính trị: Phong trào Phật tử tranh đấu trong cuộc chiến Việt Nam” do Trần Hải dịch từ “Political Monks: The Militant Buddhist Movement During the Vietnam War.” Modern Asian Studies, 38:4 (2004), tr.749-784, của Mark Moyar, tác giả cuốn “Chiến thắng bỏ lỡ” – Triumph Forsaken – The Vietnam War 1954-1965 (Cambridge University Press 2006). Bản dịch tiếng Việt © 2007 talawas.
Tóm lược: Từ tháng Mười Một năm 1963 đến tháng Bảy năm 1965, phong trào Phật tử xuống đường tranh đấu là nguyên nhân chính yếu gây bất ổn chính trị tại Nam Việt Nam. Trong khi các Phật tử xuống đường phát biểu rằng họ đại diện cho đông đảo quần chúng Phật tử và chỉ tranh đấu cho tự do tôn giáo, thực chất họ chỉ gồm một thiểu số nhỏ, không mang tính đại diện, đang tìm cách gây ảnh hưởng về chính trị. Khai thác triệt để những âm mưu đen tối và bạo loạn quần chúng để khuynh đảo chính quyền, những Phật tử cực đoan đã tiến hành một hình thức sinh hoạt chính trị trái với truyền thống Phật giáo Việt Nam. Có bằng chứng cho thấy một số Phật tử trong phong trào này làm việc cho cộng sản Việt Nam.

Giai đoạn từ cuối năm 1963 đến tháng Bảy năm 1965 đã được chú ý nhiều hơn bất cứ khoảng thời gian nào trong cuộc chiến tranh Việt Nam, phần lớn là vì trong giai đoạn này Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon B. Johnson đã quyết định tham chiến trên bộ. Hầu như mọi sử gia của giai đoạn này đều xem sự yếu kém của chính quyền Nam Việt Nam là nguyên nhân trọng yếu dẫn đến sự can thiệp của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, ít có sử gia nào phân tích các lý do của sự yếu kém này. Những người có đề cập đến vấn đề này thường cho nguyên nhân sự yếu kém của chính quyền nói chung chỉ là do năng lực kém cỏi và thiếu tinh thần của tầng lớp lãnh đạo.(1) Một số nhân vật cầm quyền thì đúng là những người lãnh đạo tồi, nhưng cũng có những người có tư chất lãnh đạo tốt. Sự thất bại của những cá nhân có năng lực có nhiều phần do tác động của một ngoại lực: những Phật tử tranh đấu. (2)
Trường phái mạnh nhất của các sử gia về Việt Nam, được gọi là trường phái chính thống, thường viết về những Phật tử này như những nhà tu hành không phải là cộng sản mà chỉ đấu tranh nhằm cải thiện tình trạng độc tôn và đàn áp tôn giáo.(3) Trên thực tế, những lãnh đạo phong trào Phật tử tranh đấu cố tình khuynh đảo mọi chính quyền từ 1963 về sau vì những lý do không liên quan gì đến tự do tôn giáo. Tuyệt đại đa số những cáo buộc về đàn áp tôn giáo mà họ dùng để biện minh cho hoạt động của họ đều là giả dối. Hơn nữa, ít nhất cũng có một vài vị lãnh tụ phong trào này đã tự nguyện cộng tác với cộng sản. Ở một mức độ nào đó, phong trào Phật giáo tranh đấu đã tiến hành các hoạt động bí mật, và rất có hiệu quả. Hiếm khi mà một phong trào đối lập có thể gây rối cho nhiều chính quyền một cách có hiệu quả với nguồn lực ít ỏi như thế.
Phần lớn thông tin hiện có về phong trào Phật tử tranh đấu và chính trường Nam Việt Nam đều từ các nguồn ở phương Tây. Kể từ khi Hoa Kỳ bắt đầu dính líu đến Việt Nam năm 1950 cho đến khi kết thúc năm 1975, một số lớn nhân viên chính phủ Hoa Kỳ và phóng viên đã đặt nhiệm sở tại Nam Việt Nam. Đồng minh của Hoa Kỳ từ Châu Âu, nhất là Anh Quốc, cũng đã có nhân viên ngoại giao và phóng viên ở Nam Việt Nam.
Bài báo này chủ yếu dưạ trên các nguồn thông tin từ Hoa Kỳ và Anh Quốc, là hai nguồn phong phú nhất hiện có. Các tài liệu có liên quan của Nam Việt Nam, còn gọi là Việt Nam Cộng hoà, hiện đang ở trong tay Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Những tài liệu này và những tài liệu tương ứng của Bắc Việt vẫn chưa được công bố cho giới nghiên cứu ngoại quốc. Trong khi Việt Nam đã xuất bản một số tài liệu lịch sử hữu ích từ khi chiến tranh chấm dứt, các tài liệu đó lại không chứa đựng thông tin quan trọng nào liên quan đến những biến động Phật giáo giữa thập niên 1960. Khi những tài liệu đó được cộng bố, sẽ có các thông tin xác đáng về một số vấn đề, nhất là sự can thiệp của Bắc Việt trong phong trào Phật tử tranh đấu. Dẫu vậy, các nguồn thông tin phương Tây, cũng trình bày nhiều khía cạnh của phong trào Phật tử tranh đấu một cách đầy đủ, và cũng khách quan hơn nhiều so với các tài liệu nguồn Việt Nam có thể có.
Các thương nhân và tu sĩ Ấn Độ truyền Phật giáo vào Việt Nam trong thế kỷ đầu của Công nguyên. Tôn giáo này đã nhanh chóng thu nhận được rất đông tín đồ, và nhiều người, dù không xuất gia, cũng theo các nghi lễ và nguyên lý Phật giáo. Nhưng Phật giáo và văn hoá Ấn đã không bao giờ thống trị Việt Nam như ở Cam bốt, Thái, và Miến điện. Nguồn ảnh hưởng chính lúc nào cũng là người Trung Hoa, kẻ đã kiểm soát Việt Nam khi Phật giáo xuất hiện và tiếp tục thống trị cho đến thế kỷ thứ mười. Người Trung Hoa đã gieo rắc sâu xa lý thuyết của Khổng Tử ở Việt Nam và Khổng giáo đã đóng một vai trò ưu việt trong lịch sử lâu dài của Việt Nam, cho đến cả thế kỷ hai mươi. Cho dù Phật giáo có ảnh hưởng lớn lao đến đời sống tinh thần của vua chúa và dân dã trong nhiều thời kỳ, các nguyên tắc Khổng giáo vẫn thống trị các mối quan hệ gia đình và chính trị, ngay cả giữa những Phật tử với nhau.(4)
Nam Việt Nam trong thế kỷ hai mươi thường bị gọi nhầm là một đất nước Phật giáo. Trong một đất nước với 15 trrệu dân, có khoảng 3 đến 4 triệu Phật tử và trong số này chỉ khoảng một nửa thực sự hành đạo. Khoảng 4 triệu người cho Khổng giáo là tín ngưỡng cơ bản. Trong những người theo Khổng giáo, một số có liên hệ lỏng lẻo với bên Phật giáo nhưng họ không hề xác định mình là Phật tử theo tổ chức của giáo hội Phật giáo. Trong giao đoạn có xung đột tôn giáo từ 1963 đến 1966, những người đó thường không ủng hộ phong trào Phật tử xuống đường. Một triệu rưỡi công dân Việt Nam theo Công giáo, và khoảng hai triệu rưỡi hay ba triệu theo đạo Cao Đài và Hoà Hảo. Số còn lại thờ linh vật hoặc theo đạo Lão, Tin lành, Ấn Độ giáo, hay Hồi giáo, v.v…(5)
Trong khi có hiện tượng gần như sự phục hưng của Phật giáo trong những năm trước giai đoạn biến động 1963-1966, Phật giáo Việt Nam vẫn còn tương đối yếu. Quần chúng Phật tử Việt nam không hề có biểu hiện cuồng nhiệt tôn giáo như giới Phật tử ở các nước Châu Á khác. Trước cuộc bạo động Phật giáo năm 1963, giới sư sãi Việt nam hiếm khi chủ động tham gia chính sự quốc gia. Họ và Phật tử dùng tôn giáo của mình để giải quyết những vấn đề tâm linh nội tại, không quan tâm đến việc trần thế của chính quyền. Phật giáo Việt Nam cũng phân chia ra thành nhiều hệ phái mà không có phái nào có cơ cấu tổ chức mạnh và chặt chẽ. Ba miền cuả Việt Nam – Bắc kỳ, Trung kỳ, và Nam kỳ - mỗi miền đều có những nhóm Phật tử cục bộ. Miền Nam Việt Nam bao gồm Nam kỳ và phần nam Trung kỳ, cũng có một số lớn dân di cư đã bỏ Bắc kỳ và phần phía bắc Trung kỳ vào năm 1954. Phật giáo Việt Nam còn bị phân chia theo phái Tiểu Thừa (Theravada – Nam Tông) và Đại Thừa (Mahayana – Bắc Tông).(6)
Xung khắc giữa Phật giáo và chính quyền Sài Gòn khởi đầu vào ngày 8 tháng Năm năm 1963, khi 9 thường dân bị chết một cách đầy bí ẩn trong một buổi biểu tình của Phật tử ở Huế. Dưới sự lãnh đạo của sư Thích Trí Quang, một mhóm Phật tử tổ chức biểu tình và nói với báo chí ngoại quốc là chính quyền Diệm đàn áp Phật giáo. Nhóm này sau đó được biết đến với danh xưng “Phật tử tranh đấu”. Diệm từ chối không chịu nhân nhượng và thực thi những cải cách theo yêu cầu của nhóm Phật tử đấu tranh và phía Mỹ. Kết quả là Người Mỹ đã quay lưng lại với Diệm. Vào tháng 10 năm 1963, Toà Đại sứ Mỹ chấp thuận một âm mưu đảo chánh do mấy tướng lãnh cao cấp Việt Nam dự mưu, và vào ngày 1 tháng 11, các tướng này lật đổ Diệm và hạ sát ông ta.
Một Hội đồng tướng lãnh, do Đại tướng Dương Văn Minh lãnh đạo, nắm quyền sau cuộc đảo chánh. Mong tìm sự ủng hộ từ những nhóm chính trị rắc rối nhất, chế độ mới nhanh chóng thả ngay tất cả các sinh viên và Phật tử chống đối bị Diệm cầm tù trước đó. Theo lời cố vấn của Toà Đại sứ Mỹ, các tướng lãnh hứa sẽ thực thi những cải cách chính trị Tây phương mà người đã Mỹ thúc đẩy từ lâu, kể cả tự do báo chí và tự do phát biểu chính kiến. Tuy nhiên, mặc dầu đã trả tự do cho những Phật tử tranh đấu và thực thi cải cách, vấn đề Phật tử đã không được hoá giải. Trong tháng đầu tiên của chế độ mới, ba Phật tử đã tự tuẫn để phản đối chính quyền.(7) Đó chính là chiến thuật mà các Phật tử đã dùng để chống Diệm. Chỉ trong bốn tháng sau khi Diệm bị lật đổ, số Phật tử tự tuẫn vì lý do chính trị còn nhiều hơn là trong suốt những năm Diệm làm Tổng thống.
Tướng Minh đã lộ diện là người lãnh đạo quốc gia bất tài. Các tướng khác không ai bù đắp cho sự yếu kém của ông ta được và thay vào đó dành nhiều thời gian cãi cọ nhau và bắt bớ những người đã ủng hộ Diệm trước đây.(8) Hậu quả của tình trạng chính quyền trì trệ đã tạo cơ hội cho Việt cộng tăng cường và khai thác tối đa vị thế quân sự của mình.
Tình trạng bất lực của “chính quyền Hội đồng” này chẳng bao lâu đã làm cả người Mỹ lẫn người Việt hết chịu nổi. Vào cuối tháng Một, tướng Nguyễn Khánh cho người Mỹ biết một số tướng lãnh thân Pháp sắp đảo chánh, và họ dự định sau đó sẽ biến Nam Việt Nam trở thành một nước trung lập. Một nước Việt Nam Cộng hoà trung lập sẽ “đặt dấu chấm dứt cho” quan hệ đồng minh với Mỹ và sẽ đi đến thoả hiệp với Bắc Việt. Sự trung thực của tướng Khánh không bao giờ được thẩm định vì không có chứng cớ. Tướng Khánh cũng phát hoảng vì sự kém cỏi của Tướng Minh và Hội đồng tướng lãnh của ông ta, đồng thời Tướng Khánh cũng cho là mình có thể làm tốt hơn tướng Minh. Hơn nữa, Khánh cũng bực bội về chuyện Hội đồng quân nhân đảo chính do Minh cầm đầu đã giết Diệm vì Khánh có cảm tình với Diệm và vì các tướng lãnh đã hứa sẽ không hại Diệm.(9) Vào ngày 30 tháng Một, được Mỹ hậu thuẫn, Khánh giành chính quyền bằng một cuộc đảo chính không đổ máu. Khánh giam giữ Minh cùng các cộng sự thân cận nhất của ông ta và tự phong mình làm thủ tướng.
Về phương diện lãnh đạo quốc gia, Khánh đã tỏ ra có năng lực hơn các vị tiền nhiệm. Tuy nhiên, Khánh lại tiếp tục chính sách thuyên chuyển xoay vòng các tỉnh và quận trưởng, vốn đã làm suy yếu các chính quyền tiền nhiệm.(10) Khánh đưa vào một số người trước đây ủng hộ Diệm và bị mất chức vào tháng 11 năm 1963. Tái xuất hiện trên chính trường vào thời điểm này là những Phật tử tranh đấu, vào khoảng đầu năm 1964 đã kết hợp thành một tổ chức với tên gọi là “Viện Hoá đạo” do Trí Quang và Tâm Châu đứng đầu. Trí Quang và các sư tranh đấu khác tố cáo một cách vô căn cứ rằng Khánh - vốn là một Phật tử - và chính quyền hầu hết là Phật tử của ông, đang trở lại chính sách bách hại Phật tử của Diệm. Vì thiếu kinh nghiệm và dễ bị đe doạ, Khánh sụp đổ trước áp lực này. Ông ngừng bổ nhiệm những viên chức thân Diệm, sa thải một số đang tại chức, và cầm tù thêm một số người thân Diệm khác. (11)
Việc Khánh nhượng bộ những đòi hỏi này đã không giúp ông ta thoát khỏi sự chỉ trích của các Phật tử tranh đấu.(12) Trong khi một số sư lãnh đạo trong Viện Hoá đạo và một số Phật tử có uy tín chấp thuận tướng Khánh thì Trí Quang lại tố cáo Khánh là không cho Phật tử được tự do tôn giáo và cho phép viên chức chính quyền tự do cầm tù Phật tử.(13) Hệt như đã xảy ra trong vụ xung đột giữa Diệm với giới Phật tử, Tướng Khánh càng nhượng bộ, Trí Quang càng đòi hỏi nhiều hơn. Không như Diệm, Khánh tiếp tục thoả mãn các yêu sách không ngừng nghỉ. Một cách giải thích về thái độ của Khánh là vì ông ta tin rằng nếu chống đối lại các Phật tử thì sẽ làm người Mỹ xa lánh, như đã xảy ra với Diệm. Phần khác là do sự ngây thơ và non kém về chính trị của chính bản thân Khánh. Để thoả mãn Trí Quang, Khánh buộc quân đội phải cách chức tất cả các linh mục tuyên uý Công giáo.(14) Áp lực từ Trí Quang cũng buộc Khánh phải kết án chung thân khổ sai Đặng Sỹ, một sỹ quan Công giáo có liên quan đến sự cố chết người bí ẩn trong cuộc biểu tình ngày 8 tháng Năm năm 1963.(15)
Không như các Phật tử khác, Trí Quang đòi tử hình em trai của Diệm là Ngô Đình Cẩn, người đang bị chính quyền của Khánh xét xử vì bị tố giác một số tội. Đưa ra lập luận, sau này sẽ trở thành nền tảng cho hầu như tất cả mọi sự chỉ trích chính quyền, Trí Quang cảnh báo rằng Cẩn phải bị xử tử để chống lại một âm mưu đen tối của người Công giáo, các dư Đảng Cần lao, và những kẻ đã ủng hộ Diệm, nhằm lập lại một chính quyền kiểu Diệm. (16)
Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, Henry Cabot Lodge đã thỉnh cầu các lãnh đạo Nam Việt Nam tha mạng cho Cẩn bằng cách nhắc nhở rằng chính quyền đã không đưa ra được chứng cớ rõ ràng nào về tội của Cẩn.(17) Thủ Tướng Khánh, dẫu vậy, vẫn quyết định làm hài lòng các Phật tử tranh đấu hơn là người Mỹ, và Khánh đã cho xử tử Cẩn ngày 9 tháng Năm. Nếu không vì quá sợ sự chống đối của Phật tử thì Khánh hẳn đã không chọn hướng làm vừa lòng Phật tử tranh đấu hơn là người Mỹ, cho dù như thế có thể dễ làm mất lòng người Mỹ và cả Khánh lẫn quốc gia của ông ta không thể trụ được nếu không có sử ủng hộ của người Mỹ.(18)
Đại sứ Lodge đã ủng hộ Trí Quang mạnh mẽ trong năm 1963. Thực ra ngay từ đầu nhiệm kỳ, Lodge đã đề nghị đưa Trí Quang vào thành phần chính phủ nhằm mở rộng nền tảng đại diện của chính phủ. Nhưng đến đầu năm 1964, Lodge đã mất hết thiện cảm với Trí Quang và phong trào tranh đấu. Lodge nhận xét trong mùa xuân năm này, “Tôi cho rằng Phật giáo có thể là một mối nguy hiểm cho chính quyền. Cụ thể, tôi nghĩ rằng Trí Quang, lãnh tụ Phật giáo, là kẻ có tiềm năng gây rối. Đã lật đổ được một chính quyền, ông ta có thể muốn làm lại như thế đối với Khánh.” Nhận xét về những lời công kích của Trí Quang đối với Khánh, Lodge lưu ý rằng Trí Quang “đã cho tôi biết là ông ấy không coi Khánh là một ‘Phật tử tốt’ – hẳn có nghĩa là, một Phật tử không theo sự chỉ giáo của Trí Quang.” Một dịp khác, Lodge nói rằng Trí Quang “đầy tham vọng, chống Thiên chúa giáo, đầy hận thù, và chống Khánh ra mặt,” và rằng, “có sự xâm nhập của cộng sản vào tổ chức Phật tử.” Cũng giống như Lodge, nhiều thành viên của ngoại giao đoàn và báo giới trước đây đã ủng hộ Trí Quang và các Phật tử tranh đấu khác trong năm 1963, đến năm 1964 bỗng trở nên nghi ngờ họ.(19)
Từ đầu, nhiều quan sát viên Việt Nam đã tố cáo Trí Quang là một điệp viên cộng sản. Nói chung, các chứng cớ cũng cho thấy quan điểm này là đúng, cho dù không có bằng chứng tuyệt đối. Sinh ra ở miền Bắc, Trí Quang đã phục vụ cộng sản Việt Nam trong cuộc chiến Pháp-Việt. Anh của Trí Quang là một quan chức trong chính quyền Bắc Việt, một sự thật được chính Trí Quang xác nhận. Khi những cuộc phản đối nổ ra ở Nam Việt Nam, có thông tin cho thấy người anh trai này đã cầm đầu các chương trình hoạt động bí mật của Bắc Việt ở Miền Nam.(20) Trong tháng Sáu năm 1963, Trí Quang thúc đẩy các Phật tử tìm kiếm hậu thuẫn từ phía Việt cộng để chống lại chính quyền của Diệm.(21) Những phương pháp vận động chính trị của Trí Quang gần giống với những phương pháp của cộng sản và tiến bộ hơn hẳn phương pháp của những Phật tử khác. Khi cộng sản chiếm Miền Nam năm 1975, Trí Quang được bố trí một công việc ở Huế và ông ta không có một phát ngôn chống đối nào đối với chế độ, trong khi họ cầm tù rất nhiều sư đã có thành tích tranh đấu.(22)
Trí Quang liên tục tuyên bố ủng hộ cuộc chiến chống cộng sản, cho dù vẫn chỉ trích chính quyền.(23) Hành động của ông, tuy vậy, không phù hợp với lời nói. Hành động của Trí Quang đã gây tác hại lớn cho mọi chính quyền Nam Việt Nam từ năm 1963 đến 1966, và những hành động đó đã có thể huỷ diệt chính quyền nếu rốt cục các lãnh đạo quân đội không quyết định chặn đứng Trí Quang. Nếu Trí Quang không phải là một người cộng sản trung kiên, thì chắc hẳn ông có ảo tưởng ngông cuồng là tự mình có thể ngăn chặn cộng sản sau khi chính quyền Sài Gòn đã sụp đổ.
Vào ngày 5 tháng Tám năm 1964, Mỹ ném bom tàu bè và các căn cứ hải quân Bắc Việt để trả đũa cái gọi là “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” được nêu là có hai vụ tấn công tàu chiến Mỹ trong Vịnh. Tổng thống Lyndon Johnson vận dụng sự kiện này để được Quốc Hội chấp thuận cho phép dùng mọi biện pháp cần thiết ở Đông Nam Á. Tướng Khánh cũng tin rằng thời điểm căng thẳng quốc tế này là một cơ hội tốt cho ông gia tăng quyền lực. Do đó, ông tuyên bố “tình trạng khẩn cấp” vào ngày 7 tháng Tám. Khánh ban bố nghị định cho phép cảnh sát cấm biểu tình, lục soát nhà cửa bất cứ lúc nào, và bắt giam “những thành phần được xem là nguy hiểm cho an ninh quốc gia.” Chính quyền ban hành lệnh kiểm duyệt và ngăn cản “việc lưu hành những ấn bản, tài liệu, và truyền đơn được xem là nguy hại đến trật tự công cộng.”(24) Khánh cũng soạn thảo một hiến pháp mới, với mục đích gia tăng quyền lực của mình và lấy hết thẩm quyền còn lại của Tướng Minh.(25)
Thay vì củng cố quyền lực của Khánh, những biện pháp đó làm bùng nổ một cơn khủng hoảng chính trị tồi tệ. Tại những cuộc biểu tình lớn trong các đô thị, các Phật tử tranh đấu và nhóm sinh viên – phần nhiều bị ảnh hưởng nặng nề từ phía Phật tử tranh đấu – đòi Khánh chấm dứt tình trạng khẩn cấp và huỷ bỏ hiến pháp mới.(26)
Nhóm Phật tử tuyên bố là có một âm mưu của phe Diệm, liên quan đến các cựu đảng viên Cần lao, Công giáo, và Đảng Đại Việt do các Tướng Khiêm và Thiệu lãnh đạo. Những người tranh đấu đã cáo buộc là phe Diệm đã đàn áp Phật tử. Phóng đại ảnh hưởng của Công giáo trong chính quyền của Khánh, Trí Quang nói với các viên chức Mỹ tại toà đại sứ rằng, “Phật tử không thể chấp nhận chính quyền bởi người Công giáo.” Trừ khi ảnh hưởng của những người Công giáo bị loại bỏ,” Trí Quang cảnh cáo, Phật tử “sẽ rút lui khỏi cuộc chiến, để chỉ người Công giáo với sự ủng hộ của Mỹ chống lại Cộng sản.”(27) Những cáo buộc mới về đàn áp tôn giáo này cũng vô căn cứ như những cáo buộc trước. Maxwell Taylor, người vừa thay thế Lodge làm đại sứ Mỹ, nhận xét rằng cái gọi là âm mưu Cần lao-Công giáo-Đại Việt chỉ là “một bóng ma” bởi vì không có bằng chứng gì về việc chính quyền tìm cách ngược đãi Phật tử.(28)
Những đám đông Phật tử phá huỷ nhà cửa và nhà thờ Công giáo. Quân đội và cảnh sát không can thiệp để chận đứng bạo lực, ngay cả khi có nổi loạn xảy ra trước mắt họ.(29) Bài học về chế độ Diệm hẳn đã làm cho các quan chức chính quyền tin rằng đàn áp biểu tình, nhất là các cuộc do sư lãnh đạo, sẽ làm người Mỹ xa lánh. Ở Đà Nẵng, ba ngày xung đột giữa Phật tử và người Công giáo đã làm 12 người chết. Trong khi các Phật tử trước đây cố gắng tránh đối kháng với người Mỹ, thì nay họ trút một phần cuồng nộ lên đầu người Mỹ; 2000 người biểu tình ném đá một trại lính Mỹ trong khi hò hét khẩu hiệu chống Mỹ.(30) Phong trào Phật tử tranh đấu đã ngày càng rời xa đặc tính tâm linh của Phật giáo Việt Nam.
Như bao lần trước, Trí Quang và các lãnh tụ Phật giáo khác nói riêng với người Mỹ rằng họ chống cộng. Dẫu vậy họ từ chối không tuyên bố công khai lập trường này. Trí Quang tuyên bố rằng chưa tới lúc cần phải công khai lập trường chống cộng của mình, rằng ông ta chọn thái độ im lặng để khỏi bị cáo buộc là làm việc cho chính quyền và người Mỹ.(31) Khi mà những hoạt động của Trí Quang đã làm suy yếu trầm trọng chính nghĩa chống cộng, thật khó tin được rằng Trí Quang thực sự xem một lời tuyên bố công khai là không cần thiết. Những Phật tử khác phát biểu rằng họ không tố cộng vì họ không quan tâm đến chính trị, chỉ quan tâm đến tự do tôn giáo. Tuy vậy cùng lúc họ chỉ chỉ trích Khánh, chính quyền Sài Gòn, quân đội Nam Việt Nam, và người Mỹ, không ai trong số đó đụng chạm đến tự do tôn giáo.(32) Đến thời điểm đó, hầu hết các quan sát viên vô tư đã kết luận rằng các điệp viên cộng sản đã đóng vai quan trọng trong phong trào Phật tử tranh đấu. Xâm nhập phong trào là chuyện rất dễ. Bất cứ ai cũng có thể trở thành một nhà sư bằng cách cạo trọc đầu và khoác chiếc áo màu vàng nghệ. Trước tháng 11 năm 1963, cảnh sát Nam Việt Nam đã có thể kiểm soát được hoạt động của cộng sản trong các đô thị, nhưng những vụ thanh trừng các lãnh đạo cảnh sát sau thời Diệm đã làm què quặt cơ quan cảnh sát. Cộng sản Việt Nam đã thực hiện nhiều vụ nổi loạn bí mật trước đó và không có lý do gì họ lại không tìm cách gài người vào trong một tổ chức có ảnh hưởng rộng lớn mà dễ xâm nhập như thế.(33) Một số lớn Phật tử bị bắt vì hành vi bạo loạn lại không có thẻ căn cước quốc gia, một dấu hiệu khá rõ về mối liên quan với Việt cộng. Một số Phật tử tranh đấu đã di chuyển theo phương pháp quân sự với hiệu lệnh bằng trống và còi, và đã lập nên những công sự phòng thủ chống lại lực lượng chính quyền.(34) Giới Phật tử thuần tuý chắc hẳn đã không thể tự mình vạch ra những chiến thuật như thế.
Càng ngày càng có nhiều người đi đến kết luận rằng chính Trí Quang là một người cộng sản. Trong năm 1964, những vị lãnh đạo Phật giáo khác – kể cả những cựu đệ tử nổi tiếng của ông ta – bắt đầu tố cáo Trí Quang cộng tác với Việt cộng.(35) Trí Quang tuyên bố rằng mình không có liên quan gì đến các Hội đồng Nhân dân Cách mạng mới được thành lập ở miền Trung để tiến hành các hoạt động chống chính quyền và đưa ra những mục tiêu rất giống với Cộng sản.(36) Nhưng một người thân cận của Trí Quang là bác sĩ Lê Khắc Quyến đã cầm đầu Hội đồng Nhân Dân Cách Mạng tại thành phố Huế - một vị trí chiến lược. Việc Trí Quang thường cáo buộc các viên chức chính quyền có năng lực và không có quá khứ ngược đãi Phật giáo đã làm dầy thêm nguyên nhân dẫn đến mối nghi ngờ về động cơ của Trí Quang.(37)
Một số viện chức cao cấp Mỹ vào thời điểm đó cũng tin Trí Quang là cộng sản. Tuy vậy, CIA (Cơ Quan Tình Báo Trung Ương Mỹ) vẫn chưa thực sự tin như vậy. Qua những vụ nổi loạn, cơ quan này đã thực hiện một phân tích đặc biệt về khả năng Trí Quang cộng tác với cộng sản. Kết quả là cho dù có nhiều báo cáo cho rằng Trí Quang là một người cộng sản, “vẫn còn thiếu thông tin tình báo chắc chắn để khẳng định điều mà nhiều người Việt tin, rằng Trí Quang thật sự là cộng sản.” Với nguyên nhân thiếu chứng cớ chắc chắn và những thẩm định chủ quan, phân tích đó kết luận rằng Trí Quang không phải là một điệp viên của cộng sản Việt Nam. Báo cáo đó cho rằng những hoạt động chống đối chính quyền xuất phát từ tham vọng, tinh thần bài ngoại, và ước muốn biến Nam Việt Nam thành một đất nước theo giáo quyền Phật giáo.(38) Thủ tướng Khánh lại chứng tỏ mình dễ bị lung lạc bởi những kẻ mỵ dân và đám biểu tình. Trong một cuộc biểu tình phản đối, khi hàng ngàn người hô vang khẩu hiệu, “Đả đảo độc tài quân phiệt,” Khánh cũng tham gia hô hào lớn tiếng như ai. Ông ta gắng sức làm vừa lòng những những kẻ tố cáo ông hơn là tìm cách bào chữa cho mình hay dùng sức mạnh để tái lập trật tự. Qua đó, ông ta hứa sẽ liên tục thoả mãn các yêu sách mới nhất.(39) Ở Việt Nam, sự hoà hoãn và chiều chuộng đối phương như thế là một sự mất mặt lớn và làm mất lòng tin của các viên chức chính quyền và công chúng. Theo truyền thống Khổng giáo, người Việt coi trọng sự cai trị của một nhân vật hùng mạnh không dung thứ những kẻ đối lập.
Nhận thấy tình hình trở nên tuyệt vọng, Khánh tìm cách gặp các lãnh tụ Phật giáo tranh đấu vào đêm 24 tháng Tám. Khánh yêu cầu Trí Quang, Tâm Châu, và Thiện Minh ra Vũng Tàu để thảo luận. Khi các vị sư này từ chối thì Khánh tức tốc về Sài Gòn để gặp họ, điều này hiển nhiên khẳng định nhận định của phía Phật tử là họ có thể lợi dụng được Khánh. Ba vị sư đưa cho Khánh một văn bản các yêu sách. Theo danh sách này thì Khánh phải huỷ bỏ hiến chương mới, Hội đồng Quân Nhân Cách Mạng sẽ bầu cử tống thống rồi Hội đồng giải tán để tách quân đội ra khỏi chính sự. Các sư cũng đòi hỏi phải sa thải tất cả những đảng viên Cần lao đang phục vụ trong chính quyền của Khánh. Ngoài ra, Khánh phải công khai tuyên bố là đang đáp ứng các yêu cầu của Phật giáo. Nếu Khánh từ chối không thực thi những điều này thì lãnh đạo Phật tử sẽ tổ chức một chiến dịch phản đối rộng khắp bằng phương pháp bất bạo động.
Ngay sau khi gặp các vị sư, Khánh hỏi ý kiến Đại sứ Mỹ Taylor. Taylor nói với Khánh, “Tôi nghĩ đó sẽ là một sai lầm khi nhượng bộ áp lực của một nhóm thiểu số về một vấn đề trọng đại, nhất là khi họ đưa một tối hậu thư và yêu cầu thực thi trong thời hạn ngắn ngủi như thế. Làm như vậy sẽ chỉ khiến họ đưa thêm yêu sách mới mà thôi”(40) Taylor đã nhận định được sự nguy hiểm này khi quan sát những tháng cuối cùng của chế độ Diệm và khi Khánh cầm quyền. Khánh đã can dự vào những biến cố lúc đó nhưng không rút tỉa được bài học nào. Vị thủ tướng Miền Nam Việt Nam đã chứng tỏ sẵn sàng chấp nhận những đòi hỏi của Phật giáo trên cơ sở là để tránh bất hoà giữa Phật giáo và Công giáo trong quần chúng và quân đội. Khánh nghĩ là không thể thắng trong cuộc chiến với cộng sản nếu không có sự ủng hộ của Phật giáo.(41)
Chỉ vài giờ sau buổi họp, Khánh ra thông cáo trong đó có lời hứa sửa hiến pháp, giảm bớt kiểm soát báo chí, cho phép biểu tình nơi công cộng, và sửa sai những vụ quá tay trong quá khứ với những toà án lưu động đặc biệt. Tuy nhiên, như Taylor đã tiên đoán, những nhượng bộ này chỉ dẫn đến những yêu sách khác, và những cuộc biểu tình phản đối của Phật tử và sinh viên. Khánh lại đưa ra một kế hoạch mới rồi tìm cách thông qua trong một phiên họp rút gọn của Hội đồng Quân nhân Cách mạng. Theo kế hoạch này, hiến chương mới bị bãi bỏ, Hội đồng Quân nhân Cách mạng bầu ra quốc truởng rồi Hội đồng tự giải tán.(42) Như thế Khánh đã chấp nhận tất cả những đòi hỏi mới nhất của phía Phật giáo và còn nhân nhượng nhiều hơn thế. Sự đầu hàng này của Khánh vẫn chưa đủ để được giới Phật giáo tranh đấu công khai ủng hộ. Chỉ sau khi Khánh đã đưa cho Trí Quang 300,000 US đô la tiền mặt thì Trí Quang và Tâm Châu mới ký một lá thư bày tỏ ủng hộ mà Khánh sau đó cho công bố để chứng tỏ mình được sự hậu thuẫn của Phật giáo.(43) Dẫu vậy, bức thư này lại cũng có những đòi hỏi khác. Để duy trì được sự ủng hộ của các sư, Khánh phải mạnh tay với Cần lao và phải bầu ra quốc hội mới trong vòng một năm.(44)
Những quan sát viên tinh ý nhận ra rằng những nhượng bộ quá đáng của Khánh đối với Phật giáo có nghĩa rằng quyền lực hầu như đã được trao từ phía những người muốn có một sự bình ổn bề ngoài nhờ phong cách quân sự qua tay các nhà sư Phật giáo với chủ ý phục vụ lợi ích riêng của mình mà cũng có thể cho cả cộng sản. Khi thực thi những nhượng bộ này Khánh đã phải chấm dứt nhiều biện pháp chống phản loạn có hiệu quả.
Nhiều tướng lãnh Nam Việt Nam trở nên hết sức quan ngại về tình hình đất nước. Các tướng có mặt trong buổi họp của Hội đồng Quân nhân Cách mạng, đã chấp thuận kế hoạch của Khánh một cách miễn cưỡng và có sự cân nhắc vì Khánh được Mỹ hậu thuẫn mạnh mẽ. Một vài tướng vắng mặt tại cuộc họp đã trở nên giận dữ khi biết sự tình, đã công khai chỉ trích Khánh về các biện pháp làm suy yếu chính quyền. Nổi bật trong số các tướng chống lại chính sách của Khánh đối với Phật giáo là Tướng Khiêm và Tướng Thiệu. Sau đó họ tìm hậu thuẫn để thay đổi Khánh bằng tướng Dương Văn Minh, và họ cũng nhận được sự hợp tác của những vị trước đây đã theo Khánh.(45) Cả đám đến gặp đại sứ Taylor và yêu cầu được phép hạ bệ Khánh. Tuy nhiên, Taylor trả lời rằng không nên có thêm đảo chính nữa bởi làm thế chính quyền lại càng suy yếu thêm. Lời cảnh cáo này đủ để ngăn việc lật đổ Khánh.(46) Sau mấy ngày tranh cãi, các tướng thoả thuận thành lập tam đầu chế gồm Khánh. Minh, Khiêm để nắm quyền trong hai tháng cho đến khi một chính quyền mới được thành lập.
(Còn tiếp)

Phụ chú

(1) Xem Fredrik Logevall, Choosing War: The Lost Chance for Peace and the Escalation of War in Vietnam (Berkeley: University of California Press, 1999); Brian VanDeMark, Into the Quagmire: Lyndon Johnson and the Escalation of the VietnamWar (New York: Oxford University Press, 1991); Robert Buzzanco, Masters of War: Military Dissent and Politics in the Vietnam Era (Cambridge: Cambridge University Press, 1996); George McT. Kahin, Intervention: How America Became Involved in Vietnam (New York: Alfred A. Knopf, 1986); Gabriel Kolko, Anatomy of a War: Vietnam, the United States, and the Modern Historical Experience (New York: Pantheon Books, 1985); Jeffrey Record, The Wrong War: Why We Lost in Vietnam (Annapolis: Naval Institute Press, 1998).
(2) Thật đáng ngạc nhiên là người ta ít đề cập đến những hoạt động chính trị của các Phật tử tranh đấu vào những năm 1964 và 1965. Chỉ có rất ít hoặc thậm chí không có dòng nào đề cập đến họ trong Buzzanco, Masters of War; Kolko, Anatomy of a War; Lloyd C. Gardner, Pay Any Price: Lyndon Johnson and the Wars for Vietnam (Chicago: Ivan R. Dee, 1995); George C. Herring, America’s Longest War: The United States and Vietnam, 1950–1975, 3rd ed. (New York: McGraw-Hill, 1996); Robert Mann, A Grand Delusion: America’s Descent into Vietnam (New York: Basic Books, 2001); H. R. McMaster, Dereliction of Duty: Lyndon Johnson, Robert McNamara, the Joint Chiefs of Staff, and the Lies That Led to Vietnam (New York: HarperCollins, 1997); Marilyn B. Young, The Vietnam Wars, 1945–1990 (New York: HarperCollins, 1991); Robert D. Schulzinger, A Time for War: The United States and Vietnam, 1941–1975 (New York: Oxford University Press, 1997). Cuốn sách có những đề cập đáng kể về đề tài này là Arthur J. Dommen, The Indochina Experience of the French and the Americans: Nationalism and Communism in Cambodia, Laos and Vietnam (Bloomington: Indiana University Press), 2001. Kahin cũng phân tích phong trào Phật tử khá kỹ trong cuốn Intervention, nhưng ông bỏ sót một khối lượng thông tin lớn (mà nếu đưa vào sẽ) phản ánh bất lợi về Phật tử.
(3) William Duiker, The Communist Road to Power in Vietnam, 2nd ed. (Boulder, Colo.: Westview Press, 1996); Robert J. Topmiller, The Lotus Unleashed: The Buddhist Peace Movement in South Vietnam, 1964–1966 (Lexington, KY: University Press of Kentucky, 2002); David Kaiser, American Tragedy: Kennedy, Johnson, and the Origins of the Vietnam War (Cambridge: Harvard University Press, 2000); A. J. Langguth, Our Vietnam: The War, 1954–1975 (New York: Simon & Schuster, 2000); Kahin, Intervention; Schulzinger, A Time for War; Young, Vietnam Wars.
(4) Để biết lịch sử Phật giáo Việt Nam trước thế kỷ 20, xem Keith W. Taylor, The Birth of Vietnam (Berkeley: University of California Press, 1983); Oscar M. Chapuis, A History of Vietnam: From Hong Bang to Tu Duc (Westport, Conn.: Praeger, 1995); Joseph Buttinger, Vietnam: A Dragon Embattled (New York: Praeger, 1967); Ralph Smith, Viet-Nam and the West (Ithaca: Cornell University Press, 1968).
(5) Ellen J. Hammer, A Death in November: America in Vietnam, 1963 (New York: E. P. Dutton, 1987), 139; Richard Critchfield, Long Charade: Political Subversion in the Vietnam War (New York: Harcourt, Brace, and World, 1968), 70; Piero Gheddo, The Cross and the Bo-Tree: Catholics and Buddhists in Vietnam (New York: Sheed and Ward, 1970), 187; Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare (New York: Harper & Row, 1965), 47; CIA, Office of Current Intelligence, “The Buddhists in South Vietnam,” 28 June 1963,
John F. Kennedy Library, NSF, Box 197; CIA, “Tri Quang and the Buddhist–Catholic Discord in South Vietnam,” 19 September 1964, Lyndon B. Johnson Library [hereafter LBJL], NSF, VNCF, box 9.
(6) Smith, Viet-Nam and the West; Taylor, The Birth of Vietnam; Hammer, A Death in November.
(7) “South Viet Nam,” Time, 13 December 1963, 32.
(8) Peer de Silva, Sub Rosa: The CIA and the Uses of Intelligence (New York: New York Times Book Co., 1978), 216.
(9) Saigon to State, 4 November 1963, Foreign Relations of the United States [hereafter FRUS], 1961–1963, vol. 4, 289; Robert Shaplen, Lost Revolution: The U.S. in Vietnam, 1946–1966 (New York: Harper and Row, 1966), 230.
(10) Shaplen, Lost Revolution, 243–4; CIA, “Appraisal of Nguyen Khanh,” 20 March 1964, LBJL, NSF, VNCF, box 3; memcon, 12 May 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 3, doc. 151; Dennis J. Duncanson, Government and Revolution in Vietnam (London: Oxford University Press, 1968), 356–7; Saigon to State, 10 August 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 306.
(11) CIA, “The Situation in South Vietnam,” 28 February 1964, Declassified Document Reference System [hereafter DDRS], 1975, fiche 247D; Saigon to State, 22 April 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 123; Ulysses S.G. Sharp and William C. Westmoreland, Report on the War in Vietnam (Washington, DC: Government Printing Office, 1969), 92–3.
(12)Tâm Châu phần nào ít quá khích hơn Trí Quang. Ông ủng hộ một chính phủ không thân Cộng sản mà cũng không thân Mỹ. Các phương tiện thông tin của Mặt trận Dân tộc Giải Phóng công kích ông thường xuyên hơn Trí Quang rất nhiều. Pike, Viet Cong: The Organization and Techniques of the National Liberation Front of South Vietnam (Cambridge: M.I.T. Press, 1966), 204.
(13) New York Times, 10 May 1964.
(14) Memcon, 12 May 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 151.
(15) Saigon to State, 14 May 1964, LBJL, NSF, VNCF, box 4; Higgins, Our Vietnam Nightmare, 98.
(16) Saigon to State, 24 April 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 125; Saigon to State, 25 April 1964, LBJL, NSF, VNCF, box 3.
(17) Saigon to State, 27 February 1964, LBJL, NSF, VNCF, box 2.
(18) Saigon to State, 9 May 1964, LBJL, NSF, VNCF, box 4.
(19) odge to Bundy, 25 October 1963, FRUS, 1961–1963, vol. 4, 436; Memcon, 11 May 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 147; Memcon, 12 May 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 151; Newsweek, 7 September 1964; Time, 4 and 11 December 1964.
(21) CIA, “An Analysis of Thich Tri Quang’s Possible Communist Affiliations, Personality and Goals,” 28 August 1964, DDRS, 1976, fiche 22E. Critchfield, Long Charade, 62–81; Higgins, Our Vietnam Nightmare, 29; Jean Lacouture, Vietnam: Between Two Truces (New York: Random House, 1966), 222.
(21) Saigon to State, 1 June 1963, FRUS, 1961–1963, vol. 3, doc. 142.
(22) Washington Post, 2 November 1983.
(23) Có báo cáo là ông thậm chí đã nhận từ CIA một khoản tiền nhỏ cho việc cung cấp thông tin, điều này dẫn đến những phỏng đoán ông làm cho Mỹ. Langguth, Our Vietnam, 292. Nhưng nhiều khả năng là Trí Quang làm như vậy để duy trì uy tín của mình với người Mỹ.
(24) Saigon to State, 7 August 1964, LBJL, NSF, VNCF, box 7; Time, 14 August 1964; Shaplen, Lost Revolution, 270.
(25) William H. Sullivan, Obbligato, 1939–1979: Notes on a Foreign Service Career (New York: Norton, 1984), 207–8; Saigon to State, 15 August 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 317.
(26) New Yorker, 19 September 1964; Saigon to FO, 24 August 1964, Public Record Office [hereafter PRO], FO 371/175472; Saigon to State, 22 August 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 321; New York Times, 22 August 1964.
(27) Saigon to State, 23 August 1964, LBJL, NSF, VNCF, box 7.
(28) Saigon to State, 22 August 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 321; Saigon to State, 23 August 1964, LBJL, NSF, VNCF, box 7; Saigon to State, 27 August 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 330; CIA, “The Situation in South Vietnam,” 27 August 1964, LBJL, NSF, VNCF, box 7; New Yorker, 19 September 1964; New York Times, 10 September 1964; Lacouture, Vietnam, 211.
(29) New York Times, 31 August 1964.
(30) State to Saigon, 24 August 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 323; Saigon to FO, 25 August 1964, PRO, FO371/175472; Lacouture, Vietnam, 207–8; New York Times, 24, 27 August 1964.
(31) Saigon to State, 26 August 1964, LBJL, NSF, VNCF, box 7.
(32) Saigon to State, 23 August 1964, LBJL, NSF, VNCF, box 7; State to Saigon, 24 August 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 323; SNIE 53-2-64, 1 October 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 368; Saigon to State, 24 September 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 360.
(33) CIA, “Deterioration in South Vietnam,” 28 September 1964, LBJL, NSF, VNCF, box 9.
(34) Saigon to State, FO, 24 August 1964, PRO, FO371/175472; Saigon to State, 25 August 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 325; CIA, “Situation in Vietnam,” 27 August 1964, LBJL, NSF, VNCF, box 7; CIA, “Situation in South Vietnam,” 1 September 1964, DDRS, 1979, fiche 20C; SNIE 53–64, 8 September 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 341; Saigon to State, 24 September 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 360; SNIE 53-2-64, 1 October 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 368; New Yorker, 19 September 1964; New York Times, 29 August 1964; Time, 4 September 1964.
(35) CIA, “An Analysis of Thich Tri Quang’s Possible Communist Affiliations, Personality and Goals,” 28 August 1964, DDRS, 1976, fiche 22E; Topmiller, The Lotus Unleashed, 8.
36) Duncanson, Government and Revolution in Vietnam, 355–6; CIA, “Tri Quang and the Buddhist–Catholic Discord in South Vietnam,” 19 September 1964, LBJL, NSF, VNCF, box 9; Saigon to State, 24 September 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 360; CIA, “Deterioration in South Vietnam,” 28 September 1964, LBJL, NSF, VNCF, box 9; SNIE 53-2-64, 1 October 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 368; New Yorker, 19 September 1964; Saigon to State, 28 September 1964, LBJL, NSF, VNCF, box 8; Shaplen, Lost Revolution, 279.
(37) See Higgins, Our Vietnam Nightmare, 285–6.
(38) CIA, “An Analysis of Thich Tri Quang’s Possible Communist Affiliations, Personality and Goals,” 28 August 1964, DDRS, 1976, fiche 22E. See also CIA, “The Situation in South Vietnam,” 27 August 1964, LBJL, NSF, VNCF, box 7; CIA, “Tri Quang and the Buddhist–Catholic Discord in South Vietnam,” 19 September 1964, LBJL, NSF, VNCF, box 9.
(39) Shaplen, Lost Revolution, 272, 274; State to Saigon, 24 August 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 323; Lacouture, Vietnam, 135; New York Times, 24 August 1964; Saigon to State, 3 February 1965, LBJL, NSF, VNCF, box 13.
(40) Saigon to State, 25 August 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 324.
(41) Saigon to State, 25 August 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 325; Saigon to State, 27 August 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 330; CIA, “Details of the 26 and 27 August 1964 Meetings of the Military Revolutionary Council,” 1 September 1964, DDRS, 1977, fiche 278A.
(42) Saigon to State, 25 August 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 325; The Pentagon Papers: The Defense Department, History of Decision making on Vietnam, Senator Gravel edition (Boston: Beacon Press, 1971–1972), vol. 3, doc. 86.
(43) New Yorker, 19 September 1964.
(44) Saigon to State, 26 August 1964, LBJL, NSF, VNCF, box 7.
(45) Saigon to State, 26 August 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 328; Saigon to State, 27 August 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 330; Saigon to State, 2 September 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 336.
(46) Saigon to State, 26 August 1964, National Archives II [hereafter NA II], RG 59, Central Files, 1964–1966, box 2946; Saigon to State, 26 August 1964, FRUS, 1964–1968, vol. 1, doc. 328.

Thẩm phán bị đánh ngay ở tòa án vì “tòm tem” với vợ “đương sự”

MỸ THO 9-1 (TH) - Một ông thẩm phán đã bị “đương sự” đánh ngay tại tòa án để trừng phạt cái tội ông này đã dám có “quan hệ không lành mạnh” với vợ của một “đương sự”, tức người đi kiện hoặc bị kiện trong một vụ án mà ông là người có trách nhiệm phân xử.
Theo tin của báo Pháp Luật ở Sài Gòn hôm Thứ Năm, Thẩm Phán Nguyễn Thanh Triều đã bị ông Nguyễn Thanh Phong “xông đến đánh tới tấp vào mặt” sáng ngày 8 Tháng Giêng 2009 vừa qua khi “đang làm việc với hai đương sự tại tòa”.
Nguyễn Thanh Triều là thẩm phán của tòa án huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang, còn ông Nguyễn Thanh Phong là cư dân xã Bình Phục Nhứt cũng của huyện này.
Trong một vụ việc trước đây, Thẩm Phán Nguyễn Thanh Triều đã được sắp đặt xét xử một vụ án tranh tụng về đất đai giữa vợ chồng ông Nguyễn Thanh Phong (vợ là Cao Vũ Tường Linh) với một cặp vợ chồng khác.
Trong thời gian vụ việc phân xử tiến hành, Thẩm Phán Triều đã có quan hệ bất chính với bà vợ ông Phong và đã bị ông này bắt gặp quả tang. Ông Phong đi tố cáo với công an.
Theo bản tin của Thông Tấn Xã Việt Nam ông Triều đã thừa nhận sự quan hệ bất chính với bà Tường Linh với các cơ quan chức năng.
Hành vi trái đạo đức, trái qui tắc ứng xử, trái luật của một thẩm phán như vậy, đúng ra phải bị cách chức, đuổi ra khỏi ngành tư pháp và có thể bị truy tố, nhưng tin của Thông Tấn Xã Việt Nam nói Trần Ngọc Quan, chánh án hệ thống tòa án tỉnh Tiền Giang, trong phiên họp ngày 5 Tháng Giêng 2009 đã chỉ họp hội đồng kỷ luật và “quyết định hình thức kỷ luật khiển trách đối với Thẩm Phán Nguyễn Thanh Triều”.
Tức giận vì ông Triều chỉ bị cảnh cáo mà không bị một hình thức trừng phạt nào nặng hơn, ông Phong đã đến tòa án huyện Chợ Gạo đánh ông Triều cho hả.
Cách trừng phạt theo kiểu phủ bênh phủ huyện bênh huyện trong guồng máy nhà nước và đảng CSVN nói chung và ngành tư pháp CSVN nói riêng là chuyện rất bình thường.
Hồi Tháng Ba năm ngoái, nữ Chánh Án Nguyễn Lê Lan của tỉnh Bình Phước đi đánh ghen khi chồng (một quan chức cao cấp của tỉnh) ngồi uống rượu tại một quán karaoke đã đánh lỗ đầu và gây nhiều thương tật trên thân thể của một nữ tiếp viên. Bà Lan không những không bị truy tố về tội hành hung gây thương tật cho người khác, mà chỉ bị thuyên chuyển làm phó giám đốc Sở Tư Pháp của tỉnh này.
Rất nhiều chánh án, thẩm phán, phó chánh thẩm của nhiều tỉnh tại Việt Nam đã ăn hối lộ, bị bắt gặp quả tang, hoặc có bằng cớ với hình ảnh và lời vòi vĩnh chung chi. Nhưng không thấy có ai bị đưa ra tòa truy tố hình sự.
Tổ chức tham vấn đầu tư quốc tế PERC tại Hongkong phổ biến bản nghiên cứu hồi Tháng Chín 2008 xếp hệ thống tư pháp tại Việt Nam vào hàng áp chót tại Á Châu vì đủ mọi thứ khuyết tật.
Luật lệ tròng tréo không minh bạch, thẩm phán thì vừa thiếu vừa thiếu khả năng và đòi chung chi. Các bản án chính trị thì đều do Bộ Chính Trị định trước ở Hà Nội, thẩm phán chỉ ngồi xét xử chiếu lệ. Theo tổ chức PERC, nhiều quốc gia khác ở Á Châu tuy chính trị có chen lấn và hệ thống tư pháp nhưng cũng không đến nỗi quá lộ liễu và tồi tệ như ở Việt Nam.

Nằm Xuống Vì Đất Nước?

Trần Khải
Tình báo Nga có một chữ để gọi các nữ gián điệp tuyệt sắc gài vào Hoa Kỳ và thế giới Tây Phương: chim én. Mỹ nhân kế là chuyện tưởng như chỉ còn trong thời Chiến Tranh Lạnh, nhưng gần đây mới lộ ra thêm nhiều mạng lưới gián điệp hải ngoạị của Nga (và hãy tin là có các kiểu tương tự của Trung Quốc, Việt Nam) hoạt động y hệt như trong các truyện Z-28 và phim James Bond 007.
Đơn giản vì các phản ứng văn hóa dị biệt nhau: trong khi các sở tình báo Mỹ kêu gọi phụ nữ Mỹ lên đường phục vụ bằng lời mời gọi “hãy đứng lên vì đất nước,” thì các sở tình báo Nga kêu gọi phụ nữ Nga chiến đấu cho chính phủ Nga bằng lời mời gọi “hãy nằm xuống vì đất nước.”
Bởi vì, các lãnh tụ Nga (và các lãnh tụ cộng sản khác) tin rằng người Mỹ và Châu Âu lúc nào cũng bị ám ảnh bởi sex. Chỉ có những người đã sống ở Mỹ-Âu nhiều thập niên mới thấy không phảỉ thế, nhưng đúng là có nhiều trường hợp các nhà ngoại giao quốc tế đã sụp bẫy vì các nữ gián điệp Nga, TQ.
Báo Vancouver Sun hôm 11-12-2010 kể rằng, các nữ điệp viên Nga còn có tên gọi là “chim én.” Đó là trường hợp cô Katia Zatuliveter, 25 tuổi, người Nga, được gàì vào làm việc ở Hạ Viện Anh Quốc. Báo này mô tả rằng cô đẹp, thông minh, ưa mặc váy ngắn, đã mau chóng lọt vào mắt dân biểu Anh Mike Hancock thuộc Đảng Dân Chủ Cấp Tiến, người đưa cô vào làm phụ tá.
Tuy nhiên, Sở phản gián MI-5 tin rằng cô gặp DB Hancock không tình cờ tí nào, mà là đã được Sở Tình Báo Hải Ngoại Nga (SVR) sắp xếp.
Baó này ghi lời Nevena Marjanovic, 26 tuổi, nguyên là bạn cùng trong văn phòng của DB Hancock, nói, “Cô Zatuliveter cực kỳ quyến rũ, và cô đang dùng nhan sắc để chiêu dụ, cứ mặc váy ngắn hoài thôi.”
Ngôn ngữ báo chí Tây Phương còn gọi cô bằng kiểu truyền thống là “nồi mật,” hay là “bẫy mật.” Tất nhiên, các cô phải là mật ngọt trần gian mới được SVR tuyển mộ và tung ra hải ngoại.
Hãy hình dung thế này: Sở Tình Báo Mỹ CIA mời gọi một nữ gián điệp Mỹ hãy dùng nhan sắc gạ gẫm Lê Công Phụng, hay Hồ Cẩm Đào... Chưa chắc CIA đã dám ra chỉ thị trực tiếp như thế, bởi vì các cô người Mỹ có thể kiện CIA ra tòa, và níu áo các dân biểu Mỹ nói rằng nữ quyền của các cô bị CIA lạm dụng và xâm phạm.... thế là rách việc, vừa hỏng kế hoạch gài bẫy, vừa có thể phải bồi thường danh dự các cô nhiều triệu đô la.
Bởi vậy mới có câu ở Mỹ là, mời các cô đứng dậy vì đất nước. Hoàn toàn trái nghịch với Nga...
Trường hợp cô Zatuliveter mới lộ mấy tuần qua ở London, trong lúc người ta chưa quên chuyện cô gián điệp tuyệt sắc Anna Chapman, 28 tuổi, bị Mỹ bắt trong đường dây gián điệp Nga ở New York.
Báo Vancouver Sun kể lại lời của Sir Christopher Meyer, cựu đaị sứ Anh tại Washington DC, nói trên chương trình truyền hình Today tuần qua, “Có nhiều lẫn, các bẫy mật ngọt trải nằm ra trước tôi. Nhưng tôi đã cưỡng lại sự cám dỗ của các gián điệp Xô Viết, khi họ kềm chế sự giận dữ khi thấy tôi cưỡng lại cả những gợi dục hiến thân từ cả nữ gián điệp cho tới cả bẫy đồng tính của các nam gián điệp. Bẫy mật lúc nào cũng có trong thời Xô viết. Đó là một quốc gia rất truyền thống, kể cả hệ thống tình báo của họ, cho nên tôi không ngạc nhiên khi thấy có chuyện nữ gián điệp Nga ở Hạ Viện Anh.”
Giles Whittell, tác giả cuốn “Bridge of Spies” (Chiếc Cầu Gián Điệp), tác phẩm mới về những thời hoàng kim của người di dân bất hợp pháp Nga, nói rằng có nhiều dân Nga không giấy tờ tại Mỹ, và “trong đó có một gián điệp mà tôi được thông báo rằng cô này đã quyến rũ tất cả các thám tử FBI được cử ra để dò bắt cô.”
Năm 1955, John Vassall, một nhân viên đồng tính làm việc trong tòa đại sứ Anh ở Moscow, bị quyến rũ vào một tiệc rượu. Say quá đã, anh sau đó được cho xem mấy tấm hình do Sở KGB (thời Xô Viết) chụp, Sở này đã đưa ra các nam điệp viên ra chiêu dụ anh. Trong khi họ gọi các cô là “chim én,” thì các chàng đẹp trai này được gọi là “chim quạ.” Thế là, trong 8 năm kế tiếp, Vassall bị bắt chẹt để do thám cho Liên Xô.
Cùng lúc đó, Sở Tình Báo Stasi của Đông Đức cũng tung ra các chàng đẹp trai -- gọi là “Romeo spies” (điệp viên tình nhân Romeo) -- để quyến rũ các cô thư ký làm việc trong các cơ quan chính phủ Tây Đức. Có hơn 40 phụ nữ sau đó bị truy tố ra tòa về tội đưa tàì liệu mật cho tình nhân, mà không nhận ra các chàng là gián điệp Đông Đức.
Hồi tháng 7-2009, một nhà ngoaị giao Anh, James Hudson, bị bí mật quay phim bởi Sở FSB (hậu thân của KGB), đang vui chơi trong một phòng khách sạn với 2 cô gái điếm Nga. Thế là Hudson từ chức.
Và trong một phaí đoàn thương mại tới Trung Quốc năm ngoái, một phụ tá cao cấp của Gordon Brown vào một quán nhạc khách sạn ở Thượng Hải và nằm một đêm với một thiếu nữ Trung Quốc tuyệt sắc. Sáng hôm sau, anh báo cáo rằng máy BlackBerry (điện thoại tinh khôn đặc biệt) cuả chính phủ cấp cho anh sử dụng đã mất trộm.
Trang web Sở MI-5 nói rằng, “Anh Quốc là mục tiêu gián điệp ưu tiên cao, và nhiều nước đang ra sức tìm các thông tin và vật liệu từ Anh để thăng tiến các chương trình quân sự, kỹ thuật, chính trị và kinh tế của họ. Chúng tôi ước tính có ít nhất 20 sở gián điệp nước ngoàì đang hoạt động nhắm vào quyền lợi Anh Quốc. Ở mức độ lớn nhất là người Nga và TQ. Số lượng điệp viên Nga tại London không hể giảm kể từ thời Xô Viết.”
Trước đây, nhiều năm trước,chúng ta nghe tin có cô Trương Mỹ Vân của Sở Tình Báo Trung Quốc đã chinh phục Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu và có một con với ông già họ Lê này. Không rõ tin này có chính xác hay không. Nhưng điều chắc chắn rằng, các nữ gián điệp TQ không chỉ ở Bắc Kinh hay Thượng Hải, mà cũng còn đang bay lượn ở Hà Nội, Sài Gòn...
Cũng hệt như các cô Anna Chapman bay lượn ở New York, và cô Katia Zatuliveter bay lượn ở London.
Hãy lắng nghe chỉ thị từ Bắc Kinh nhắn các cô, rằng “hãy nằm xuống” vì đất nước Đạị Hán vĩ đại... Thế là, Việt Nam rồi sẽ mất rừng, mất biển, và gánh trên vai quả bom nổ chậm bùn đỏ bô-xit...
Không phảỉ sao? Có thời nào mà đất nước VN mất nhiều tới như thế?

Tai họa từ sở hữu ruộng đất không giống ai

Vấn đề sở hữu ruộng đất là vấn đề gay go nan giải từ hơn nửa thế kỷ nay ở Việt Nam
Hình: REUTERS
Vấn đề sở hữu ruộng đất là vấn đề gay go nan giải từ hơn nửa thế kỷ nay ở Việt Nam

Chia sẻ

Tin liên hệ

Ðường dẫn liên hệ

Vấn đề sở hữu ruộng đất là vấn đề gay go nan giải từ hơn nửa thế kỷ nay trên đất nước ta, hiện trở thành chuyện thời sự rất bức bách.

Cải cách ruộng đất, sai lầm rồi sửa sai, rồi hợp tác hóa nông nghiệp, thủ tiêu quyền sở hữu ruộng đất, công bố ruộng đất khắp nơi là thuộc «quyền sở hữu của tòan dân» - nghĩa là thực tế không một ai có ruộng đất riêng cả. Luật Đất đai công bố năm 2003, bổ sung, sửa đổi bao lần, năm nay đã đặt trong chương trình làm luật của Quốc hội, nhằm sửa đổi lớn một lần nữa. Thế rồi lại hụt. Vì sao vậy? Vì sao 2 đạo luật hệ trọng bậc nhất là Luật Đất đai và Luật Báo chí lại bị rớt trong chương trình? Vì Bộ Chính trị nát óc, vò đầu, không tìm ra lối ra, vì các chuyên viên trợ lý xoay xở không xong, đành chơi con bài trì hoãn. Hoãn đến bao giờ? Không ai biết! Kẹt cứng chỉ vì «sở hữu toàn dân» là mơ hồ, không giống ai.

Đành xoay quanh các luật lẻ tẻ, về thuế, về thuốc men, về chăm sóc sức khỏe, về giao thông, hàng hóa, về người cao tuổi, để mọi người yên trí, Quốc hội vẫn cần mẫn làm luật.

Luật Báo chí rất gay go, ở thời đại truyền thông bén nhạy, quyền được thông tin tự do, đầy đủ là quyền của mọi công dân thế giới, ngăn chặn thông tin tư do minh bạch là một tội lỗi, bỏ tù người công dân nói lên sự thật là chuyện cộng đồng quốc tế không thể chấp nhận. Nhưng chế độ độc quyền đảng trị mâu thuẫn với tự do báo chí như nước với lửa. Bế tắc là tất nhiên.

Còn về ruộng đất. Bộ Chính trị cũng bế tắc nốt, vì yêu cầu trả lại cho nông dân quyền tư hữu ruộng đất đang trở nên rộng khắp, quyết liệt. Ăn nói làm sao khi các trí thức uyên bác nhất, các chuyên gia thượng thặng, không phải nhà nông, không sống về ruộng đất, lại lên tiếng yêu cầu đảng và nhà nước hãy cấp bách trả lại quyền tư hữu ruộng đất cho nhà nông, coi như điều kiện không thể thiếu để phát triển nông nghiệp, hiện đại hóa nông thôn, đưa nông dân vào con đường làm ăn chiều sâu kiểu nông trại quy mô lớn bền vững.

Từ hơn 2 năm trước, một nữ sinh viên ngành luật, chưa đến tuổi 20, đã để tâm nghiên cứu kỹ vấn đề ruộng đất ở nước ta, từ thời xa xưa đến thời hiện đại, từ thời phong kiến qua thời Pháp thuộc đến thời kỳ gọi là XHCN, và chỉ ra rằng đã đến lúc phải từ bỏ ngay quan điểm “ruộng đất là thuộc quyền sở hữu của toàn dân» mà em cho là “phản động » nghĩa là tai hại cho đất nước, vì nó không giống ai, nó kỳ quặc, không giống nước nào khác cả (Bài: Tôi tìm hiểu Luật Đất Đai của em Đỗ Thúy Hường, hiện có trên mạng, vào Luật Đất Đai). Thuộc “quyền sở hữu của toàn dân” là thế nào? là cả 84 triệu con người đều có quyền sở hữu tất cả các thửa ruộng, miếng đất trên lãnh thổ Việt Nam hay sao? Và khi cần mua hay bán thì trên văn tự, giấy tờ, phải có sự đồng ý, thỏa thuận, chữ ký của cả 84 triệu con người hay sao?

Em Đỗ Thúy Hường chỉ ra dã tâm của lãnh đạo đảng CS, vì tự nhận là đảng cầm quyền, nên đảng cũng tự nhận “toàn dân” là ta đây, là đảng làm đại diện, “toàn dân» là chính quyền nhân dân (thật ra là chính quyền độc đảng) chứ còn ai vào đó nữa. Thế là nghiễm nhiên những người không hề bỏ ra chút mồ hôi, xương máu nào để khai phá,vun trồng, bảo vệ ruộng đất bỗng nhiên - chỉ bằng một câu do họ ép phải ghi vào Hiến pháp - được làm chủ, tha hồ xử lý toàn bộ đất đai của đất nước, ngang nhiên tước đoạt quyền sở hữu hợp pháp từ bao đời trước của những người chủ chân chính. Lạnh lùng, ngang ngược! Thà rằng nói toạc ra là tất cả ruộng đất đều là đất công hết!

Em Đỗ Thúy Hường chỉ ra những thuật ngữ từ kỳ lạ xuất hiện trong Luật Đất đai sửa đổi hiện đang được áp dụng, đó là các cụm từ “thu hồi” và “đền bù”. Sao lại «thu hồi»? Ruộng đất vốn của tôi, tôi đang lao động trên cánh đồng của tôi, nay bỗng nhiên có người đến chiếm và nói rằng bị « thu hồi». Móc túí lấy tiền của người ta bỏ vào túi mình, rồi nói là có quyền «thu hồi», thế có lạ không! Anh kêu ca thắc mắc thì đây, tôi thí cho anh ít tiền “đền bù”, tiền đền bù do tôi quyết định, anh không nhận kệ anh. Tiền gọi là “đền bù» thường chỉ bằng 1/2, 1/3, có khi 1/4, cũng có khi chỉ 1/6, hay 1/10 của giá trị thị trường, nhất là ở những nơi có vị trí chiến lược then chốt, đất quý như vàng. Hoặc đền bù bằng một mảnh đất khác, ở xa, xấu hơn, giá trị kém nhiều.

Đó, đảng CS thực hiện liên minh công nông như thế đó. Đảng tự nhận là giai cấp công nhân, coi giai cấp nông dân là đồng minh chiến lược lâu dài như vậy đó! Đảng đền ơn đáp nghĩa cho nông dân từng hy sinh người và của lớn nhất cho chiến tranh như vậy đó ! Để như có phép lạ, hàng loạt cán bộ đảng trong đảng ủy xã, trong huyện ủy, quận ủy, tỉnh ủy trong nháy mắt trở thành địa chủ, đại địa chủ, phú nông, làm chủ đất mới, nhà mới,cho phát canh thu tô, được nhân dân tặng cho danh hiệu “đảng ăn đất”, “cướp đất”, “cò đất», “sâu đất”, “mafia đất».

Đáng chú ý trong đợt góp ý kiến với các văn kiện Đại Hội XI vừa qua, nhiều trí thức, nhà nghiên cứu như tiến sỹ Nguyễn Quang A, hay như nguyên Thứ trưởng Tài nguyên – Môi trường Đặng Hùng Võ đều yêu cầu nhà nước, đảng phải trả lại dứt khoát, sòng phẳng quyền tư hữu ruộng đất cho từng hộ nông dân, cho những nhà nông chân chính.

Tại sao đảng và chính quyền đã trả lại quyền sở hữu tư nhân cho nhà kinh doanh thương nghiệp, cho nhà công nghiệp, thủ công nghiệp, cho các nhà kinh doanh dịch vụ, mà lại chỉ cấm không cho nông dân quyền tư hữu ruộng đất vốn có từ xa xưa, được tôn trọng suốt trong thời phong kiến, cả trong thời Pháp thuộc? Không có câu trả lời.

Nông dân vẫn chiếm số đông áp đảo trong dân số nước ta. Hãy quan sát nông thôn Thái Lan, Nhật Bản, hay Ấn Độ, người nông dân làm chủ triệt để ruộng đất của mình, chăm sóc từng thửa ruộng, từng luống rau, từng mảnh ao của mình như chăm nom đứa con cưng, tích lũy nhanh, tậu máy móc to lớn, hiện đại, chung sức lập trang trại ngày càng lớn, kinh doanh tổng hợp trồng trọt, chăn nuôi, thủ công nghiệp, buôn bán, làm cho nông thôn phồn vinh, giáo dục, y tế, văn hóa nông thôn khởi sắc. Chìa khóa của thành đạt là quyền sở hữu tư nhân được triệt để tôn trọng. Ở các nước ấy, không ai biết đến các biện pháp “thu hồi” và “đền bù” lạ hoắc!

Lại xin nhắc đến "Mười lời cảnh báo" của nhà quân sư Đặng Tiểu Bình cho đảng CS Trung Quốc hơn 12 năm trước. Trong đó, lời cảnh báo rất nghiêm khắc là “bỏ quên liên minh công nông, coi nhẹ nông thôn và nông nghiệp, sẽ là nguy cơ lâu dài tệ hại nhất, là thất bại hiển nhiên của sự nghiệp cải cách».

Đã có nhiều trí thức, nhà văn, nhà báo nước ta báo động về đại nạn ly nông, ly hương ở nước ta, nông thôn biến thành bãi rác đầy ô nhiễm của thành thị, của các vùng công nghiệp, nước sạch ngày càng hiếm, nạn cường hào mới lan tràn, các thủ tục khôi phục nhanh, an ninh càng nguy khốn, cờ bạc, hút xách, buôn người, đĩ điếm, trộm cắp lan tràn không gì ngăn nổi.
Một nguyên nhân gốc rễ là người nông dân bị tước quyền tư hữu vốn có từ ngàn xưa, mất tình nghĩa với ruộng đất, coi ruộng đất là con nuôi, con ghẻ không phải là con ruột, con đẻ, mất hứng thú kinh doanh, mất động lực thúc đẩy.

Vì ai nên nỗi? Vì đâu nên nỗi? Mời cả bộ chính trị, mời các đại biểu Đại hội XI tìm đọc bài viết của sinh viên Đỗ Thúy Hường “Tôi tìm hiểu về Luật Đất Đai», từng được nhiều lần đăng trên các mạng internet, sẽ vỡ lẽ ra nhiều điều bổ ích. Một sinh viên biết nghiên cứu sâu, lập luận chặt, so sánh ta với quanh ta, kết luận chắc nịch, thật đáng quý.

Biết bao góp ý tâm huyết, thiết tha về nông thôn, nông nghiệp, nông dân vẫn sẽ bị bỏ ngoài tai của các vị tai to mặt lớn. Việc gì sẽ xảy ra khi triệu triệu nông dân bị o ép, cùng ngàn vạn dân oan bị mất đất kéo nhau ồ ạt xuống đường hô lớn: “Trả con tôi đây!”, “Trả quyền tư hữu ruộng đất đầy đủ cho nông dân!”. Họ không đòi một điều gì hơn là được sống bình thường, được làm ăn như nông dân Thái Lan, Nhật Bản hay Ấn Độ…

Vén màn các bí mật đằng sau VietNamNet (T.H.K – D.H.P)

“…Là một cơ quan truyền thông, VietNamNet nên có những phản ứng trung thực và dũng cảm ngay bây giờ (dù muộn nhưng vẫn còn kịp)…”

Vén màn các bí mật đằng sau VietNamNet
T.H.K – D.H.P


LTS: Chuyện dài “tin tặc” tấn công báo mạng hiện đang là một thời sự của mọi giới liên quan. Cho đến nay, trận chiến giữa “tin tặc” phần nhiều chỉ là giữa những người, những tập thể khác ý kiến, khác lập trường với nhau.

Gần đây đã thấy có dấu hiệu trận chiến này đang len lách vào nội bộ một tổ chức, một nhóm người. Sự vụ
VietNamNet bùng ra trong bối cảnh tranh chấp nội bộ giữa những người cùng tổ chức là một nét đáng chú ý, nhất là trong bối cảnh những người gọi nhau là “đồng chí” đang tranh giành đấu đá với nhau trước đại hội đảng XI.

Thông Luận gửi đến bạn đọc một góc nhìn về sự kiện VietNamNet bị xâm hại. Đây là một khoé nhìn trong số hơn một góc nhìn khác nhau. Muốn nhìn nhận cho rõ nội vụ này chắc hẳn còn cần nhiều góc nhìn khác. Ở trong hẳn sẽ còn lắm điều hay. Mời bạn đọc duyệt lãm và có thể tự rút ra những kết luận.
Thông Luận

Phần I: Cái sẩy nẩy cái ung

1. Ai đã đánh sập VNN, “người lạ” hay “người quen”?

Tổng Biên Tập Nguyễn Anh Tuấn khẳng định: “Không có tranh chấp nội bộ”, rất tiếc là phát biểu này chỉ đúng được 1%. Sự thật trần trụi là VNN bị đánh sập hai lần đều do tranh chấp “một mất một còn” của phe kháng chiến là Phòng Kỹ thuật Điều hành-VNN do Nguyễn Đoàn Trọng Hiếu (tự Hiếu-SYS, 01234566689) lãnh đạo và phe xâm lược vốn là một “người quen” là Trung tâm Giải pháp và Phần mềm vSolutions-VASC do Nguyễn Xuân Trường (tự Trường-hói, 0903250112) làm thủ lĩnh.

Ai cũng biết trước đây cả VNN và vSolutions (VOS) đều thuộc VASC do Nguyễn Anh Tuấn (Tuấn-tổng) làm Giám đốc. Sau khi VNN bị về Bộ 4T, đã xảy ra nhiều tấn bi hài kịch ảnh hưởng đến số phận hàng trăm con người mà kết quả là Tuấn-tổng ra đi mang theo VNN, còn VASC thì ở lại VNPT với sự lãnh đạo của “ngôi sao mới nổi” Nguyễn Văn Hải (Hải-đôla) mà chúng tôi sẽ “leaks” trong hồi sau.

Mục tiêu tranh giành của phe Trường-hói và phe Hiếu-SYS là quyền được cung cấp phần mềm cho VNN (hệ thống CMS) đang mang lại doanh số trực tiếp hàng chục tỷ đồng mỗi năm và uy tín thương hiệu lớn (phần mềm đang được tòa soạn báo điện tử lớn nhất Việt Nam sử dụng) có thể dẫn đến nhiều hợp đồng trị giá nhiều chục tỷ đồng khác. Nhờ uy tín này, phe Trường-hói đã ký được hợp đồng với hàng loạt khách hàng khác. Nhưng thời gian gần đây, Tuấn-tổng chỉ đạo Hiếu-SYS khởi động dự án phần mềm CMS của riêng VNN (gọi là V-CMS), và dự án này do nhân vật “đốt đền” Dương Hải Phong làm “leader”. Dự án này đã hoàn thành và VNN chuẩn bị đưa vào khai thác thì xảy ra hàng loạt vụ việc kỳ bí như VNN bị đánh sập hai lần trong vòng một tháng, và có đơn tố cáo VNN vi phạm bản quyền hàng chục triệu USD.

2. Ai đánh VNN lần thứ nhất?

CMS của VNN đã làm xong, làm thế nào để hất cẳng vSolutions? Câu trả lời là một “nhóm bí ẩn” đã tấn công VNN ngay từ bên trong vào ngày 07/11/2010, đợt tấn công này làm thịt hơn nửa số máy chủ của VNN, tiễn toàn bộ dữ liệu nội bộ của VNN lên đường và làm VNN bất ngờ chao đảo. Nguyên nhân được xác định là do phần mềm CMS của vSolutions không an toàn và do VNN sử dụng phần mềm chùa của Oracle nên không được vá lỗi dẫn đến thủng tứ tung từ bên trong. Tuấn-tổng đã “tự bóp trym” để có lý do chính đáng ra quyết định ngưng sử dụng CMS của vSolutions.

Nhưng Trường-hói đâu dễ chơi thế!!! Đạo một thước, thì ma phải một thước rưỡi.

CMS của VNN đã làm xong, làm thế nào để hất cẳng vSolutions?

3. Ai đánh VNN lần thứ hai?

3h sáng ngày 22/11/2010 đợt tấn công trả đũa khủng khiếp đã giáng xuống đầu VNN. Toàn bộ máy chủ và dữ liệu bị xoá sạch sẽ, không thể khôi phục! Sau 10 năm hoạt động, VNN gần như chính thức trở về zero dữ liệu. Trên www.vietnamnet.vn chỉ còn vẻn vẹn tin bài của hơn 1 tháng hoạt động và VNN từ chao đảo chính thức lâm vào khủng hoảng tứ bề. Toàn bộ hoạt động của VNN bị đình trệ, khách hàng khiếu kiện, nghi kỵ, nội bộ tan nát, bạn đọc nản lòng và… bị tố cáo vi phạm bản quyền!

Thiên hạ không hiểu,
chỉ Tuấn-tổng – Trường-hói – Hiếu-SYS
hiểu rõ: Nội chiến đã bắt đầu!
Thiên hạ không hiểu, chỉ Tuấn-tổng – Trường-hói – Hiếu-SYS hiểu rõ: Nội chiến đã bắt đầu! Lần này đến lượt Trường-hói dùng hai chiêu: Một đường “tự bóp trym” ăn vạ (tự tấn công vào máy chủ phục vụ cho khách hàng như: Báo Khánh Hoà, báo Hải Phòng, báo Đà Nẵng…) và cả website vSolutions. Đường khác, tấn công đánh sập hệ thống, xóa sạch dữ liệu VNN và nhanh tay sao lưu trước toàn bộ dữ liệu của VNN làm con tin để dễ bề đổi chác. Với con tin này, Trường-hói nghĩ, Tuấn-tổng buộc phải ngậm ngùi gác lại dự án hàng tỷ đồng V-CMS do Dương Hải Phong chủ trì và cam chịu quay vào vòng cương toả của vSolutions.

Trong một tình huống bất ngờ, Tuấn-tổng đã cao mưu dùng kế khổ nhục là sa thải Hiếu-SYS và sẽ tạm dùng vSolutions trong 6 tháng để cứu “con tin” dữ liệu, sau đó phế bỏ vSolutions để thênh thang kiếm bạc trên con đường mới!?

Bị đẩy ra đường, phe thân Hiếu-SYS phải làm gì đây trong hoàn cảnh này?

4. Ai gửi đơn khiếu kiện VNN?

Ngược thời gian và tìm hiểu một chút về lịch sử sử dụng “phần mềm lậu” của VNN thì sẽ hiểu hơn về mức độ nguy hiểm của lá đơn tố cáo này. Sự thật là VNN đã sử dụng phần mềm lậu hơn 10 năm qua và vẫn phải đang tiếp tục sử dụng phần mềm lậu. Bị thiệt hại nặng nhất có lẽ là Oracle. Phần mềm CMC của vSolutions sử dụng Oracle khắp nơi: Oracle Webcache, Oracle Application Server, Oracle Database,... Không phải tự nhiên mà lão Larry Ellison có tiền mua du thuyền 200 triệu USD, phần mềm của lão cực tốt và cực đắt. Oracle tính bản quyền dựa trên số lượng CPU có trên server chạy phần mềm, trung bình khoảng 50,000 USD cho một CPU/1 năm. Mà VNN thì thôi rồi… có trên 30 con chủ Sun, con bé thì 4 CPU, con to thì 16 CPU. Tính trung bình 8CPU/máy chủ thôi thì VNN đã sử dụng khoảng 240 CPU/năm. Tính sơ sơ, 240 CPU x 50,000 USD = 12 triệu USD/năm. Hic… không đủ can đảm tính tiếp! Ấy là chưa nói đến phần mềm Microsoft Windows, Microsoft Office, Microsoft Visual Studio .NET, Microsoft SQL Server 2008, Lạc Việt Từ Điển… mà VNN đã dùng chùa vô tội vạ.

Sau vụ việc, Tuấn-tổng chắc phải vất vả xử lý để bịt miệng Oracle, Microsoft…? Giờ mà có đoàn kiểm tra liên ngành vào VNN sẽ thấy một điều kỳ lạ là toàn bộ máy tính của toà soạn đều vừa cài lại sau ngày 22/11/2010 và đều dùng phiên bản Windows dùng thử 3 tháng hết hạn một lần!

Windows còn che được như thế, nhưng Oracle thì làm sao che được đây?

Biết rõ tử huyệt này nên các tuyên bố của VNN trên báo chí đều rất rụt rè: “đã tiến hành mua phần mềm có bản quyền về cơ sở dữ liệu” (Chỉ có phần mềm cơ sở dữ liệu thôi sao? Mua cách đây mấy năm rồi?), “cũng có trao đổi thỏa thuận với các hãng cung cấp phần mềm máy chủ về cung cấp dịch vụ bản quyền” (Mới trao đổi sau khi bị tố cáo!). Riêng Tuấn-tổng thì tuyệt nhiên “quên hẳn” chuyện bản quyền! Đây là điều Tuấn-tổng lo ngay ngáy và tìm cách dìm bằng được.

Điều đáng buồn là, không có vụ bắt vi phạm bản quyền nào của những doanh nghiệp Việt Nam đang còn khó khăn mà Tuấn-tổng không chỉ đạo VNN đánh cho tơi tả để thể hiện vai trò lá cờ đầu của VNN trong chống nạn vi phạm bản quyền?!

Quay lại động cơ vụ đơn tố cáo vi phạm bản quyền. Mục tiêu của đơn này là ngăn chặn việc quay lại của vSolutions. Do CMS của vSolutions cũng dùng Oracle như VNN!!! Mà đang bị tố cáo vi phạm bản quyền thì làm sao dám dùng! Chắc hiện giờ vSolutions đang rất nỗ lực thương lượng mua bản quyền Oracle vì VNN đang ở thế kẹt không thể mở miệng với Oracle. Lão Larry Ellison phen này vớ bở!

Tóm lại tất cả những gì VNN và Tổng Biên Tập Nguyễn Anh Tuấn tuyên bố đến giờ đều không đúng sự thật. Là một cơ quan truyền thông, VNN nên có những phản ứng trung thực và dũng cảm ngay bây giờ (dù muộn nhưng vẫn còn kịp). Chúng tôi sẽ chờ đợi những hành động cầu thị từ phía Tổng Biên Tập Nguyễn Anh Tuấn trước khi công bố những thông tin tiếp theo.
T.H.K – D.H.P

Lá thư thứ 4 của Tướng Nguyễn Nam Khánh

Hà nội, ngày 15/1/2005


Kính gửi:

- Hội nghị ban chấp hành Trung ương lần thứ XI.

- Uỷ ban kiểm tra Trung ương

- Đồng kính gửi đồng chí Phan Diễn, Uỷ viên Bộ Chính trị, thường trực Ban Bí thư.



Trong điều lệ Đảng, thông qua Đại hội 9 của Đảng ta, ở chương Đảng viên, về nhiệm vụ và quyền lợi của đảng viên đã quy định:



“Đảng viên có nhiệm vụ: Chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, cục bộ, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, các biểu hiện tiêu cực khác…

“Đảng viên có quyền:

- Được thông tin và thảo luận các vấn đề Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, biểu quyết công việc của Đảng…

- Phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức Đảng và đảng viên ở mọi cấp trong phạm vi tổ chức, báo cáo, kiến nghị với cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời.



Như trong ba bức thư trước đây tôi đã gửi Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban kiểm tra TW và một số cơ quan chức năng, nêu rõ: Nếu Bộ Chính trị không gửi lên Trung ương các bức thư ấy thì tôi sẽ trực tiếp kính gửi đến các đồng chí Uỷ viên Trung ương , các đồng chí lão thành cách mạng, và các tướng lĩnh trong Quân đội.



Khi phổ biến Nghị quyết Hội nghị Đảng uỷ quân sự Trung ương ngày 24/8/2004 đã có sự xúc phạm đến danh dự của tôi, tôi cũng đã yêu cầu: Nếu phổ biến báo cáo của Bộ Quốc phòng trong Hội nghị Đảng uỷ Quân sự Trung ương mở rộng được (Hội nghị Đảng uỷ Quân sự Trung ương mở rộng ngày 24/8/2004 thông qua) đến đâu thì cũng phổ biến thư của tôi kính gửi Ban chấp hành Trung ương đến đó.



Nhưng đến nay, tôi được biết Bộ Chính trị không gửi thư của tôi đến Ban Chấp hành Trung ương. Vì vậy, tôi phải kính gửi đến các đồng chí Uỷ viên Trung ương khoá 9, các đồng chí Uỷ viên Trung ương khoá 6, những người đã dự Hội nghị TW lần thứ 11, 12, 13 khoá 6 là các Hội nghị Trung ương có nêu và thảo luận vụ Năm Châu - Sáu Sứ; kính gửi đến các đồng chí Uỷ viên Trung ương khoá 7, khoá 8, đặc biệt là khoá 8, là các đồng chí có biết về vụ T4, và các sự việc trước thềm Đại hội 9; kính gửi đến các lão thành cách mạng, nguyên uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Bộ Chính trị hiện đang sống, các tướng lính Quân đội và các Bí thư, Thường vụ Đảng uỷ các đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng.



Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (khoá 9) sắp họp.



Tôi xin có mấy đề nghị:



1, Ban Chấp hành Trung ương, cơ quan cao nhất của Đảng giữa hai kỳ Đại hội, dành thì giờ thảo luận triệt để, chu đáo toàn bộ vấn đề T4 (bao gồm cả vấn đề tài chính, các đơn thư khiếu nại, tố cáo Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh xung quanh vụ T4)



2, Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã công khai tôn vinh đồng chí Võ Nguyên Giáp là người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội, nguyên Tổng tư lệnh Quân đội, thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, đội quân chủ lực đầu tiên của ta. Đồng chí Nông Đức Mạnh cũng lên tặng hoa chúc mừng đồng chí Võ Nguyên Giáp. Vậy thì Ban Chấp hành Trung ương cũng cần có nghị quyết kết luận rõ ràng và nghị quyết trừng trị bọn vu khống chính trị đối với đồng chí Võ Nguyên Giáp là Tư Văn, Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh (Tư Văn nay đã chết) trong vụ Sáu Sứ (1991).



Nếu không, dư luận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân cho rằng lãnh đạo của ta hai mặt.



3, Báo cáo của Bộ Quốc phòng trước hội nghị Đảng uỷ Quân sự Trung ương mở rộng và được Hội nghị Trung ương mở rộng thông qua ngày 24/8/2004 là một tài liệu tuyệt mật, đã bị lộ ra ngoài. Đó là một sự vi phạm nguyên tắc rất nghiêm trọng, 60 năm qua Quân Đội ta chưa từng có.



Yêu cầu Ban Chấp hành Trung ương xem xét kỷ luật:

- Đồng chí Bí thư Đảng uỷ quân sự Trung ương, người đứng đầu Đảng uỷ Quân sự Trung ương.

- Đồng chí Phó Bí thư Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phạm Văn Trà.

- Đồng chí Lê Văn Dũng, Chủ nhiệm tổng cục chính trị, người chỉ đạo phổ biến nghị quyết Đảng uỷ Quân sự Trung ương mở rộng ngày 24/8/2004.

- Đồng chí Nguyễn Chí Vịnh, người soạn thảo báo cáo của Bộ Quốc phòng, chỉ đạo in ấn, phát hành và lưu trữ tài liệu đó.



4, Kiểm tra các vấn đề của đồng chí Lê Đức Anh mà cán bộ, đảng viên đã nêu từ 1985-1986.



5, Đồng chí Nguyễn Chí Vịnh là người đang có nhiều thư từ tố cáo. Nhiều tướng lĩnh Quân đội và lão thành cách mạng rất ngạc nhiên và bất bình về việc Bộ Chính trị quyết định đề bạt Nguyễn Chí Vịnh. Dư luận cho rằng đây là một thách thức, một hành động bao che trắng trợn.



Yêu cầu Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét lại quyết định ấy.



Năm mới, xin trân trọng kính chúc các đồng chí Trung ương và gia đình sức khoẻ, nhiều hạnh phúc, hoàn thành nhiệm vụ Đảng giao.



Xin chúc Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (Khoá 9) hoàn thành nhiệm vụ.



Trân trọng

(ký tên)

Nguyễn Nam Khánh

Lá thư thứ 3 của Tướng Nguyễn Nam Khánh

Ngày 15 tháng 11 năm 2004




Kính gửi:

Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Bộ Chính trị, Ban bí thư

Đồng chí Bí thư Đảng uỷ quân sự Trung ương

Uỷ ban kiểm tra Khóa 9

Chủ nhiệm Uỷ ban kiểm tra Khóa 7 và Khóa 8

Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương



Thưa các đồng chí,



Sở dĩ tôi phải viết thư này, gửi đến các đồng chí, yêu cầu, chất vấn, kiến nghị với các đồng chí, không phải chỉ vì khi truyền đạt tới các đầu mối trong toàn quân, những người thay mặt Đảng ủy quân sự Trung ương đã có một việc làm vô nguyên tắc, xúc phạm đến danh dự của tôi. Điều quan trọng hơn nhiều là vì trách nhiệm của một đảng viên mong muốn Đảng ta luôn luôn vững mạnh trong sạch, tôi thấy trong bản báo cáo của Bộ Quốc phòng trước Hội nghị Đảng ủy quân sự Trung ương mở rộng thông qua, đã có những nhận định không đúng, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, mượn danh nghĩa "bảo vệ Đảng, Quân đội, chế độ XHCN" để xuyên tạc, vu khống trắng trợn, hòng dọn đường cho bước tiếp theo là lừa dối Đảng, quần chúng để hãm hại, thanh trừng nội bộ, chia rẽ Đảng, phá hoại sức mạnh tinh thần, trí tuệ, dân chủ, đoàn kết của toàn dân, toàn Đảng, của các đồng chí lão thành cách mạng, cựu chiến binh, trí thức nhân sĩ yêu nước và các thế hệ trẻ.





Ngày 24-8-2004, Đảng ủy quân sự Trung ương đã họp mở rộng. Trong cuộc họp này, đã nghe bản báo cáo về "Âm mưu, ý đồ của Mỹ và các thế lực thù địch chống phá Việt Nam - Đông Dương từ nay đến Đại hội 10" (do Tổng cục 2 Bộ Quốc phòng chuẩn bị).



Trong bản báo cáo đó đã nhấn mạnh "hiện nay trong Đảng có tình hình chống phá Quân đội và tập trung mũi nhọn, trước hết là trực tiếp chống phá Tổng cục 2 ngày càng quyết liệt hơn, bôi nhọ Tổng cục 2, gây mâu thuẫn trong Tổng cục 2, "đánh sập" Tổng cục 2 , làm cho Đảng "ù tai", "mờ mắt".



Khi truyền đạt bản báo cáo này, đồng chí Phạm Văn Trà nhấn mạnh thêm: Tổng cục 2 là người bảo vệ quân đội trung thành nhất, đánh Tổng cục 2 là đánh quân đội, đánh vào chế độ. Kinh nghiệm như ở Liên Xô, chỉ một nhóm người nhưng họ đã làm tan rã chế độ Xô Viết vì bước 1 họ đánh trước vào KGB (cơ quan tình báo LX) để dọn đường rồi sau đó đánh sập chế độ Xô Viết ...



Báo cáo của Bộ quốc phòng tại Hội nghị Đảng ủy quân sự trung ương mở rộng có nêu tên tôi (Nam Khánh). Và khi trình bày miệng, người trình bày nói rằng ông Nam Khánh gây rối, ông Nam Khánh cơ hội chính trị. ở một vài tỉnh, truyền đạt ý kiến của Đảng ủy quân sự trung ương rằng ông Nam Khánh có liên hệ với các phần tử chống đối ở nước ngoài. Đặc biệt là cuộc họp cán bộ từ Thượng tá, Đại tá trở lên ở cơ quan Tổng cục Chính trị, đồng chí Bùi Văn Huấn (út Lê), Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đã nói với cán bộ cao cấp của Tổng cục Chính trị là phải xem xét tư cách đảng viên của ông Nam Khánh, "Với những hành động như vậy, ông Nam Khánh có xứng đáng với cấp hàm và chính sách được Nhà nước và Quân đội trao tặng hay không ?"



Bản báo cáo của Bộ Quốc phòng được Hội nghị Đảng ủy quân sự Trung ương mở rộng thông qua lại nói rằng "hoạt động chống phá của chúng mang tính chất tổ chức chặt chẽ, phối hợp nhịp nhàng, bước đi rõ ràng (đẩy uy tín của một số lão thành cách mạng lên cao, sau đó sử dụng chính họ để "đánh vào nội bộ Quân đội".



Bản báo cáo đã nêu ra: hiện nay chúng điều chỉnh phương thức "kích động cựu chiến binh, lão thành cách mạng, tăng cường viết bài để lôi kéo các lực lượng cựu chiến binh, lão thành cách mạng... Xây dựng cho được "ngọn cờ" ngay trong nội bộ Đảng và Nhà nước là những người có nhiều công lao, có uy tín cao, có quan điểm dân chủ, đồng thời phải xây dựng "phong trào dân chủ ở cơ sở"...



Khi tóm tắt, bản báo cáo nhấn mạnh: Để chuẩn bị tốt cho Đại hội 10 chúng ta phải giữ vững ổn định nội bộ, đặc biệt là trong quá trình Đại hội phải giữ nguyên tắc tập trung dân chủ, đặc biệt là tuyệt đối không để các thế lực bên ngoài (địch, cấp tiến, xét lại, bất mãn, những người không am hiểu tình hình ...) chi phối hoặc ngầm tác động.



Thưa các đồng chí,



Một: Hiện nay nội dung Báo cáo chính trị và các báo cáo khác tại Đại hội 10 chưa chuẩn bị xong và Ban Chấp hành Trung ương chưa thông qua lần thứ nhất. Ban chấp hành Trung ương cũng chưa có chỉ thị chung về Đại hội 10.



Tại sao Đảng ủy Quân sự TW và Bộ Quốc phòng lại đưa ra một bản báo cáo về âm mưu của Mỹ và các thế lực thù địch chống phá Đại hội 10, có thể nói rất giật gân như vậy ? Thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch, qua tất cả các kỳ Đại hội, kể từ khi Bác Hồ sáng lập Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa, triệu tập hội nghị hợp nhất năm 1930, từ Đại hội 1 cho đến nay đều không ngừng chống phá Đảng ta và nhân dân ta rất quyết liệt.



Nhưng đề cập đến một vấn đề hệ trọng bao gồm cả Quốc phòng và an ninh, liên quan đến một sự kiện trọng đại 5 năm mới có một lần, liên quan đến toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và bạn bè xa gần, liên quan đến hệ thống cơ quan Công an và các ngành là việc của Ban Chấp hành TW, phải thông qua Ban Chấp hành TW mới được phép phổ biến và phải phổ biến chung cho cả hệ thống chính trị.



Ở Quân khu khi phổ biến Báo cáo của Bộ Quốc phòng chỉ triệu tập Chỉ huy trưởng, các Cục, các Sư đoàn ... và Chủ tịch Hội cựu chiến binh các tỉnh, làm rất vội vã và không báo cáo với toàn thể Đảng ủy Quân Khu. Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự Tỉnh và Chủ tịch Hội cựu chiến binh Tỉnh, như tôi biết, khi về địa phương một số nơi không báo cáo cho Bí thư tỉnh uỷ đang kiêm nhiệm Bí thư Ban cán sự quân sự tỉnh.



Hai: Ban Chấp hành TW, Bộ Chính trị có nhận định hiện nay là Mỹ và các thế lực thù địch đánh phá Quân đội, tập trung mũi nhọn, đánh phá trực tiếp vào Tổng cục 2, đánh sập Tổng cục 2 không ?



Ban Chấp hành TW, Bộ Chính trị có nhận định: "bài học Liên Xô cho thấy rằng, với một nhóm nhỏ của các phần tử cấp tiến phản động và xét lại trong Đảng cộng sản Liên Xô, rất nhỏ, có thể đếm chỉ vài chục người, nhưng mà chúng đã xóa được Liên Xô ... vì ở Liên Xô chúng tập trung bước 1 đánh vào KGB hay không ?



Ba: Bản báo cáo của Bộ Quốc phòng đã nhắc tới mấy lần các lão thành cách mạng và cựu chiến binh là những đối tượng mà các thế lực thù địch lôi cuốn. Nước ta có mấy triệu cựu chiến binh, có mấy vạn lão thành cách mạng. Họ là những người đã chiến đấu và hi sinh cả một cuộc đời từ tuổi thanh xuân vì sự nghiệp cách mạng, giải phóng hoàn toàn Tổ Quốc. Hội nghị các điển hình tiên tiến các người cao tuổi chứng tỏ rằng: cho đến nay dù tuổi già sức yếu nhưng những lão thành cách mạng và người cao tuổi đều trung thành với lý tưởng cách mạng của Đảng và nhân dân. Cựu chiến binh là lực lượng chính trị - xã hội, một đoàn thể mạnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Bản báo cáo của Bộ quốc phòng nêu trên đã cố tình xuyên tạc, vu khống những lực lượng cách mạng và yêu nước rộng lớn và đáng kính trọng ấy.



Bốn: Bản báo cáo của Bộ Quốc phòng trình bày trước Hội nghị Đảng ủy Quân sự TW mở rộng đã nêu: Hoạt động chống phá của chúng mang tính chất tổ chức chặt chẽ, phối hợp nhịp nhàng, bước đi rõ ràng (đẩy uy tín của một số lão thành cách mạng lên cao, sau đó sử dụng chính họ để đánh vào nội bộ Đảng, nội bộ Quân đội.



Như vậy bản báo cáo của Bộ Quốc phòng ám chỉ ai ? Đồng chí Võ Nguyên Giáp, đồng chí Võ Văn Kiệt, đồng chí Chu Huy Mân hay đồng chí Nguyễn Thanh Bình, đồng chí Nguyễn Đức Tâm, đồng chí Đồng Sĩ Nguyên, đồng chí Mai Chí, đồng chí Lê Phước Thọ, đồng chí Mười Hương, đồng chí Hoàng Tùng, đồng chí Nguyễn Văn Trân, đồng chí Nguyễn Quyết, đồng chí Đỗ Mười, đồng chí Hai Xô, đồng chí Bùi Thiện Ngộ, đồng chí Võ Trần Chí, đồng chí Nguyễn Đôn, đồng chí Lê Ngọc Hiền, đồng chí Đàm Ngụy, đồng chí Võ Chí Công, đồng chí Lê Khả Phiêu, đồng chí Hoàng Minh Thảo, đồng chí Đồng Văn Cống, đồng chí Hoàng Cầm, đồng chí Nguyễn Trọng Xuyên, đồng chí Phùng Thế Tài hay là ai ? Bản báo cáo nói rằng: các thế lực thù địch đẩy uy tín của các lão thành cách mạng lên cao, rồi sử dụng chính họ "đánh" vào nội bộ Đảng, nội bộ Quân đội. Nghĩa là thế nào ?



Chiến thắng Điện Biên Phủ là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta. Vừa qua kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, theo chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư phải nêu cao tầm vóc vĩ đại của chiến thắng Điện Biên Phủ trong đó có vai trò của đồng chí Võ Nguyên Giáp, chỉ huy trưởng chiến dịch Điện Biên Phủ và chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954. Đảng, Nhà nước, báo chí của ta đề cao chứ thế lực thù địch nào đề cao ? Xuất bản các tập sách về các lão thành cách mạng và tướng lĩnh quân đội là do chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và sự thực hiện của các cơ quan xuất bản của chúng ta dưới sự quản lý của Bộ Thông tin Văn hóa nước CHXHCNVN chứ do các thế lực thù địch nào làm ? Bản báo cáo của Bộ quốc phòng muốn nói các thế lực thù địch đứng đằng sau và xúi dục các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản này hay sao ?



Bản báo cáo lại nêu: "Sau đó, sử dụng chính họ để "đánh" vào nội bộ Đảng, nội bộ Quân đội". Chứng cứ nào để Bộ Quốc phòng nói rằng: sau đó, các thế lực thù địch sử dụng chính họ để "đánh" vào nội bộ Đảng, nội bộ Quân đội ?



"Thế lực thù địch đề cao rồi sử dụng" các đồng chí Võ Văn Kiệt, Võ Nguyên Giáp, Chu Huy Mân, Hai Xô, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Đức Tâm, Mai Chí Thọ, Lê Phước Thọ, Đồng Sĩ Nguyên, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Quyết, Hoàng Tùng, Trần Quyết, Trần Văn Quang, Nguyễn Đôn, Đồng Văn Cống, Đàm Ngụy, Đỗ Quang Thắng, Lê Khả Phiêu, Võ Trần Chí, Hoàng Minh Thảo, Phùng Thế Tài, Nguyễn Trọng Xuyên, Lê Ngọc Hiền, Đặng Vũ Hiệp, Phạm Thanh Ngân, Kxo Ní, Y Blốc ... đánh vào nội bộ Đảng, nội bộ Quân đội hay sao ?



Những sự góp ý kiến của lão thành cách mạng, của cựu chiến binh về tình hình Quân đội, là xuất phát từ tâm huyết, động cơ chân thành xây dựng Đảng, xây dựng chế độ XHCN, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội, góp sức làm cho nhân dân được sống hạnh phúc, yên bình.



Bản báo cáo của Bộ Quốc phòng đã nói một cách vu vơ mà thực chất là đã vu khống, xuyên tạc, bôi nhọ lão thành cách mạng, cựu chiến binh đã bị địch lợi dụng.



Bản báo cáo của Bộ Quốc phòng lại nêu một thủ đoạn của thế lực thù địch trong nước là "lợi dụng kích động một số lão thành cách mạng gửi cho các cơ quan chức năng của Đảng và Nhà nước".



Cán bộ lão thành cách mạng dễ dàng để cho địch lợi dụng, kích động như vậy hay sao ? Hễ có thư góp ý chân thành với Đảng là do các thế lực thù địch lợi dụng, kích động hay sao ?



Bản báo cáo của Bộ quốc phòng lại nêu: "giữ vững ổn định nội bộ, không để các thế lực thù địch lợi dụng, kích động gây chia rẽ nội bộ, đặc biệt là trong quá trình Đại hội 10, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, đặc biệt là không để các thế lực bên ngoài (địch, cấp tiến, xét lại, bất mãn, những người không am hiểu tình hình ...) chi phối hoặc ngầm tác động.



Chúng ta phải kiên quyết và dứt khoát chống lại âm mưu phá hoại Tổ quốc, Đảng, chế độ, quân đội của các thế lực thù địch. Chúng ta phải củng cố và tăng cường đoàn kết trong toàn Đảng trên cơ sở nhất trí sâu sắc đường lối quan điểm cách mạng của Đảng, phát huy những ưu điểm có được và kiên quyết khắc phục các khuyết điểm (và cả sai lầm nếu có) đang tồn tại, phải thật sự tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết TW6 (lần 2) Khóa 8, phải thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách, phải đảm bảo mỗi kỳ Đại hội Đảng là một sinh hoạt chính trị rộng lớn và có chiều sâu trong lòng dân, lòng người, lòng đảng viên ở tất cả các cấp, phải nghiêm túc tự phê bình và phê bình, giải quyết sòng phẳng các vấn đề tồn đọng trong Đảng, phải thật sự lắng nghe ý kiến các lão thành cách mạng, cán bộ, đảng viên, đông đảo các nhà khoa học trí thức, văn nghệ sĩ, nhà báo, nhân sĩ và các tầng lớp nhân dân, làm cho qua mỗi kỳ Đại hội, Đảng cùng với dân tộc lại trưởng thành và vững mạnh thêm 1 bước. Đại hội 10 kế thừa truyền thống tốt đẹp của các Đại hội Đảng trước đây sẽ là một Đại hội yêu nước và cách mạng, đoàn kết, trí tuệ, dân chủ, đổi mới, Đại hội của dân, do dân, vì dân, Đại hội của toàn Đảng vì sự nghiệp của Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội.



Nhưng bản báo cáo của Bộ Quốc phòng trong lúc cũng nói đến nguyên tắc tập trung dân chủ, không để cho các thế lực thù địch kích động chia rẽ nội bộ, thì lại nói đến một cách mơ hồ rằng: đặc biệt là tuyệt đối không để cho các thế lực thù địch bên ngoài (địch, cấp tiến, xét lại, bất mãn, những người không am hiểu tình hình ...) chi phối hoặc ngầm tác động ... Như vậy Bản báo cáo của Bộ Quốc phòng đã gộp cả địch, cấp tiến, xét lại, bất mãn, những người không am hiểu tình hình ... vào một cục, đó là các thế lực bên ngoài có đúng không ?



Ban Chấp hành TW và Bộ Chính trị có nhận định như vậy không ? có gộp tất cả địch, cấp tiến, xét lại, bất mãn những người không am hiểu tình hình ... vào một cục không ? Những người không am hiểu tình hình ... (chấm chấm; chấm chấm có nghĩa là còn có nhiều loại khác nữa) là những ai ? Muốn ám chỉ ai ? Tại sao lại gộp những người không am hiểu tình hình vào với địch, cấp tiến, xét lại làm một ? Tại sao những kẻ viết báo cáo là Tổng cục 2 được Bộ Quốc phòng thông qua lại cho rằng những người không am hiểu tình hình vào với địch, cấp tiến, xét lại làm một ? Tại sao những kẻ viết báo cáo là Tổng cục 2 được Bộ quốc phòng thông qua lại cho rằng những người không am hiểu tình hình sẽ chi phối hoặc tác động ngầm ?



Đảng ta chủ trương tự phê bình và phê bình nghiêm túc với động cơ trong sáng xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Bọn phát xít, đế quốc, các thế lực thù địch thì nói rằng: "kẻ nào chỉ trích ta thì kẻ đó là phản động". Chúng ta phải phân biệt rạch ròi hai quan điểm ấy.



Dân chủ không phải là chung chung. Có dân chủ tư sản, dân chủ kiểu Mỹ phục vụ lợi ích một nhóm tư bản độc quyền và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nhà nước CHXHCN của chúng ta đi theo tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh. Mọi quyền hành thuộc về dân, mọi lực lượng đều từ nhân dân, mọi việc làm đều phải phục vụ lợi ích nhân dân. Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra ... Nhân dân giám sát chính quyền các cấp. Toàn Đảng giám sát Trung ương. Ban Chấp hành TW giám sát Bộ Chính trị. Phải xây dựng phong trào dân chủ ở cơ sở thật tốt. Chúng ta kiên quyết thực hành dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Dân chủ là một tư tưởng chiến lược mà Đại hội Đảng lần thứ 9 đã thông qua. Không được phép đả kích vào phong trào dân chủ ở cơ sở, phong trào xây dựng quy chế dân chủ ở cơ sở.



Tóm lại, trong Bản báo cáo của Bộ Quốc phòng trước Hội nghị Đảng ủy quân sự mở rộng và được Hội nghị Đảng ủy Quân sự mở rộng thông qua, phổ biến cho cán bộ cấp cao toàn quân và các Hội cựu chiến binh là một tài liệu chứa đựng nhiều sai trái với đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước. Trong khi Bản báo cáo nêu ra âm mưu của Mỹ và các thế lực thù địch chống phá Đông Dương - Việt Nam từ nay đến Đại hội 10, thì lại có dụng ý vu khống, xuyên tạc và ám chỉ sâu độc 1 vấn đề khác, một số người khác mà tập trung vào lão thành cách mạng, cựu chiến binh, các đồng chí có cống hiến, có uy tín cao trong nhân dân, trong quân đội, trong Đảng.



Thưa các đồng chí,



Tôi thấy cần thiết nói thêm về việc Bản báo cáo của Bộ Quốc phòng nêu ra vấn đề "chống Tổng cục 2"



Bản báo cáo của Bộ Quốc phòng đã nói đến 7 lần cụm từ "chống Tổng cục 2" khi nêu việc "chống phá, tập trung mũi nhọn, đánh sập Tổng cục 2".



Thủ đoạn này không phải là mới mẻ. Thời kỳ có nhiều ý kiến trong Trung ương và trong cán bộ cao cấp về các sai lầm nghiêm trọng của những người lãnh đạo hiện nay của Tổng cục 2, thì Nguyễn Chí Vịnh, Tổng cục trưởng Tổng cục 2 đã có báo cáo lên lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước ta là đang có tình hình "chống Tổng cục 2". Lúc ấy, trước và sau đó, cũng từ Tổng cục 2 đưa ra tin Bộ Công an đánh Tổng cục 2, người này người kia đánh Tổng cục 2, chia rẽ Tổng cục 2, "đánh sập" Tổng cục 2.



Trước hết, cần nói rằng: các đồng chí lão thành cách mạng và tướng lĩnh Quân đội qua mấy thời kỳ kháng chiến đều đánh giá đúng sự đóng góp và truyền thống của Cục 2 (trước đây) và Tổng cục 2 sau này. Phát hiện, tố giác các sai lầm mắc phải là tố giác sai lầm của một số người lãnh đạo giai đoạn gần đây của Tổng cục 2 (Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh, Cù Xuân Tề, Hùng, viện trưởng Viện 70 ...)



Vin vào truyền thống trước đây và đồng nhất những sai lầm của 1 số người lãnh đạo Tổng cục 2 giai đoạn hiện nay với toàn thể cán bộ, nhân viên Tổng cục 2 là một thủ đoạn xấu, có dụng ý che dấu sai lầm của 1 số người lãnh đạo giai đoạn hiện nay của Tổng cục 2.



Đồng chí Phạm Văn Trà và một số đồng chí khác nói rằng: "đánh Tổng cục 2" là đánh Quân đội, đánh vào chế độ, có nghĩa là đồng nhất sai lầm của 1 số lãnh đạo hiện nay của Tổng cục 2 với Quân đội, với chế độ XHCN, là có dụng ý xấu, là một thủ đoạn bao che tội lỗi, sai lầm của một số lãnh đạo Tổng cục 2, Tổng cục 2 là Tổng cục 2.Toàn thể Quân đội, Đảng và chế độ XHCN là toàn thể Quân đội, Đảng, chế độ XHCN. Đó là hai chủ thể không được phép nhầm lẫn. Vạch sai lầm của Trần Mai Hạnh không phải đánh đài TNVN. Vạch sai lầm của Bùi Quốc Huy không phải đánh Bộ Công an. Vạch sai lầm của con trai đồng chí Mai Văn Dâu không phải là đánh Bộ Thương mại.



Nhập cục lại để vu khống và bao che tội phạm là một thủ đoạn bất lương.



Vạch ra sai lầm của một số người lãnh đạo giai đoạn hiện nay của Tổng cục 2, thậm chí yêu cầu khai trừ ra khỏi Đảng, tước quân tịch, truy tố trước tòa án quân sự Vũ Chính, Nguyễn Chí Vinh, không đồng ý mức kỷ luật cảnh cáo Vũ Chính và để lọt tội Nguyễn Chí Vinh, là để đảm bảo củng cố và phát huy truyền thống từ trước của Cục 2, chứ không phải là bôi nhọ Tổng cục 2.



Trước kia, do yêu cầu của chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, công tác tình báo chiến lược cần tập trung vào một đầu mối. Tình hình ngày nay đã khác. Các đồng chí lão thành cách mạng, tướng lĩnh quân đội đề nghị phải củng cố cơ quan an ninh chiến lược quốc gia thật mạnh, còn Tổng cục 2 thì đưa về Bộ Tổng Tham mưu để làm công tác tình báo quốc phòng là một đề nghị đúng đắn, xuất phát từ thực tiễn tình hình sau chiến tranh.



Đề nghị Tổng cục 2 không được "nắm tình hình nội bộ Đảng", không được trùm lên cả Bộ Công an ... hoàn toàn không phải như lời vu khống là nhằm "đánh sập Tổng cục 2" làm cho Đảng "ù tai", "mờ mắt". Không được phép lấy những luận điệu xuyên tạc từ cửa miệng các thế lực thù địch để vu khống lão thành cách mạng và tướng lĩnh quân đội chúng ta.



Còn làm cho Đảng "mờ mắt", "ù tai" thì trong vụ Xiêm Riệp ai làm ? Dựng lên, ghép lại, vo tròn những việc làm nơi này một ít, nơi kia một ít, từ 1 người cung cấp lại bày chuyện là do từ nhiều nguồn, nhân danh "bảo vệ tình hữu nghị giữa hai dân tộc" để phá hoại tình hữu nghị đó, ai làm ? Chính là Tư Văn, Vũ Chính, Mạc Lâm ... của Cục 12.



Vụ Sáu Sứ là một vụ án được dàn dựng, tổ chức công phu do Cục 2 chỉ đạo mà trực tiếp là Tư Văn, Vũ Chính và 1 số người dưới quyền, vừa tổ chức Sáu Sứ đi ghi âm 16 cuốn băng, vừa làm báo cáo lên Bộ Chính trị, tạo dựng lên tài liệu giả, chứng cứ giả, gọt tỉa, thêm bớt, đánh lừa dư luận xã hội, đánh lừa Bộ Chính trị, những người lãnh đạo cao nhất để hãm hại đồng chí, thanh trừng nội bộ mà thực chất là vu khống đồng chí Võ Nguyên Giáp. Ai làm cho Đảng "ù tai", "mờ mắt" ? Chính là Vũ Chính và số người cùng phe cánh Tư Văn (chết rồi) đã làm cho Đảng "ù tai", "mờ mắt".



Vụ "khủng bố đồng chí Võ Thị Thắng", vu khống đồng chí Nguyễn Văn Thắng, vu khống lý lịch đồng chí Võ Viết Thanh, vu khống đồng chí Tư Sang, Tư Rốp, Nguyễn Khánh Toàn, Võ Nguyên Giáp, Bùi Thiện Ngộ, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, Lê Khả Phiêu, tôi (Nam Khánh), Thượng tướng Nguyễn Chơn, Trung tướng Nguyễn Huy Chương, Phạm Gia Khiêm, Vũ Quốc Hùng v.v... làm việc hoặc liên quan đến CIA, ai đưa ra ? "Cảnh báo Mai Chí Thọ" đảo chính ai đưa ra ? Không thể chỉ có Vinh, Chấp, Nguyên, Đặng Diệu Hà (công ty xuất nhập văn hóa phẩm Thành phố Hồ Chí Minh) mà phải có người trực tiếp chỉ đạo đứng đằng sau, đó là Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh.



Vụ vu khống đồng chí Nguyễn Thị Xuân Mỹ, Vũ Quốc Hùng nhận tiền hối lộ, ai cung cấp tài liệu ?



Rồi vụ bịa đặt ra 1 cơ sở đặc tình giả là T4 để vu khống, chia rẽ nội bộ trong thời gian dài, ai làm ra ? Những người trực tiếp thừa hành vụ T4 có Đỗ Ngọc Chấp là Cục Phó Cục 11, có Nguyễn Thái Nguyên là Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, nếu không có chỉ đạo của Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh sao dám tùy tiện làm ?



Việc cài cắm hàng ngàn người vào nội bộ, cơ quan Đảng, Nhà nước, kinh tế văn hóa ... ai làm ? Một số lãnh đạo Tổng cục 2 giai đoạn hiện nay đã làm cho Đảng "ù tai", "mờ mắt", nhằm hãm hại cán bộ, thanh trừng, chia rẽ, phá hoại Đảng và hệ thống chính trị nước ta. Chính những người lãnh đạo hiện nay của Tổng cục 2 đã hạ thấp uy tín của Tổng cục 2 vốn có truyền thống tốt trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Chính những người lãnh đạo trong giai đoạn hiện nay của Tổng cục 2 (Vũ Chính, Nguyễn Chí Vinh) đã tạo ra những sai lầm để cho kẻ địch lợi dụng phá hoại Đảng, Tổ quốc, chế độ ta và chia rẽ Tổng cục 2.



Thủ đoạn hiện nay mà Bản báo cáo của Bộ Quốc phòng đã sử dụng cũng là một thủ đoạn cũ. Họ định ghép các lão thành cách mạng, cựu chiến binh, những người có uy tín cao ... vào một cục, vào một phía địch



Họ muốn đẩy tất cả những ý kiến chân thành của lão thành cách mạng, tướng lĩnh quân đội và cán bộ, nhân dân có tâm huyết với Đảng, Tổ quốc và chế độ là do địch xúi dục, kích động. Họ đã cố tình gây ra sự lẫn lộn thù, bạn, mà sự lẫn lộn ấy từ các vụ H122, cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức trước đây và vụ Xiêm Riệp, vụ Sáu Sứ, vụ T4 và các vụ trước thềm Đại hội 9 đã dẫn đến sai lầm, gây hậu quả lâu dài và nghiêm trọng.



Sai lầm của những người lãnh đạo giai đoạn hiện nay của Tổng cục 2 là sai lầm chính trị nghiêm trọng có hệ thống. Tôi yêu cầu phải báo cáo hết các vấn đề của các người lãnh đạo Cục 12, Cục 2 và Tổng cục 2 trong giai đoạn từ vụ Xiêm Riệp, Sáu Sứ đến nay để Ban Chấp hành Trung ương xem xét quyết định. Không một ai, dù chức vụ gì, được phép bao che sai lầm của những người lãnh đạo trong giai đoạn hiện nay của Tổng cục 2. Không được vin cớ "ổn định chính trị" để không tích cực làm rõ sự thật. Kiên quyết trừng trị những kẻ vu khống chính trị, phá hoại n ội bộ Đảng, Nhà nước, Quân đội, chỉ làm cho sự ổn định chính trị thực được củng cố vững chắc, và từng bước đánh bại âm mưu của các thế lực thù địch.



Thưa các đồng chí,



Tôi thấy cũng cần nói đôi điều về các lời đồng chí Phạm Văn Trà, đồng chí Huấn, một đôi đồng chí khác đã nói về tôi (Nam Khánh).



Đồng chí Phan Diễn, đồng chí Truyền, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban kiểm tra TW đã gặp tôi và tôi khẳng định: Tôi hành động đúng Điều lệ Đảng (chương đảng viên), hành động đúng nguyên tắc là gửi thư lên Ban Chấp hành TW, Bộ Chính trị, Uỷ ban kiểm tra TW; cơ quan chức năng theo tổ chức. Động cơ, việc làm của tôi là để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, là lành mạnh và tâm huyết. Tôi không gửi cho địch. Không có gì diễn ra ở nước ta mà địch không lợi dụng. Không được viện cớ địch lợi dụng để bỏ qua việc xét nghiêm túc các lời tố giác chân thành và đúng đắn của tôi. Tài liệu lọt ra ngoài, là do trách nhiệm của các người nhận.



Tôi xin thẳng thắn và chân thành với các đồng chí: cấp bậc Thượng tướng do Bộ Chính trị quyết định và Chủ tịch nước ký, tư cách đảng viên của tôi là do chi bộ, Đảng ủy Phường nghiên cứu đề đạt lên đến cấp có thẩm quyền chuẩn y, đồng chí Phạm Văn Trà và đồng chí Huấn lấy tư cách gì, được ai ủy nhiệm, căn cứ theo quyết định nào của Trung ương mà dám nói lên những điều đó ?



Như tôi đã trao đổi với đồng chí Truyền, Phó Chủ nhiệm UB kiểm tra TW, các đồng chí muốn thi hành kỷ luật tôi thì phải:



Mời hết đồng chí Võ Nguyên Giáp, đồng chí Chu Huy Mân và các đồng chí đã có ý kiến đóng góp về vụ án chính trị nghiêm trọng T4 v.v... lên Ban Chấp hành TW và Ban chấp hành TW ra một quyết định: cán bộ, đảng viên (bao gồm cả Uỷ viên Trung ương Đảng, Uỷ viên Bộ Chính trị) từ khóa 9 (tháng 4 năm 2001) không được phép gửi thư, kiến nghị, yêu cầu chất vấn lên TW, Bộ Chính trị.



Ban Chấp hành TW Khóa 9 công bố xóa bỏ điều 3 chương Đảng viên trong Điều lệ do Đại hội Đảng lần thứ 9 thông qua.



Và tôi đề nghị thêm một điều nữa: Trung ương chỉ thị cho Bộ Văn hóa và Thông tin, Ban Tư tưởng Văn hóa xóa bỏ hết các khẩu hiệu hiện đang viết đầy ngoài đường phố: "toàn dân tham gia tố giác tội phạm ...".



Suốt đời tôi, từ khi tham gia cách mạng, vào Quân đội cho đến nay là góp phần chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng Quân đội và Chủ nghĩa xã hội ...



Không được phép ghép tôi (Nam Khánh) với Bùi Tín, Nguyễn Gia Kiểng ... và bọn thực dân Pháp, đế quốc Mỹ. Kẻ nào cố tình nói tôi là "phần tử cấp tiến", liên hệ với bọn phản động bên ngoài vv... là phạm pháp. Tôi có quyền yêu cầu pháp luật CHXHCNVN trừng trị theo Luật hình sự.



Tôi yêu cầu:



Các đồng chí Bộ Quốc phòng, Đảng ủy quân sự TW, Tư lệnh và Bí thư Đảng ủy Quân khu, Bí thư (hoặc Phó bí thư) các Đảng ủy Quân binh chủng, các Tổng cục, Bộ Tổng Tham mưu, Học viện, Viện quân y, đã phổ biến những điều về tôi thì đồng thời phải gửi bức thư này đến tập thể những người đã được nghe phổ biến.



Đề nghị lưu ý rằng: cơ chế nhận xét đảng viên có quy định: cấp ủy, thủ trưởng nhận xét về đồng chí nào thì cần có sự có mặt của đồng chí ấy.



Đề nghị Bộ Chính trị sao thư gửi Ban Chấp hành TW ngày 17/6/2004 và bức thư này của tôi cùng với Bản báo cáo của Bộ Quốc phòng trước Hội nghị Đảng ủy Quân sự Trung ương mở rộng ngày 24/8/2004 đúng theo bản gốc đã báo cáo trước Hội nghị Đảng ủy Quân sự Trung ương đến Ban Chấp hành Trung ương Đảng.



Trước mỗi kỳ họp Quốc hội, đại biểu Quốc hội tiếp xúc với cử tri, lắng nghe ý kiến của cử tri rồi tổng hợp báo cáo với toàn thể Quốc hội. Trong Đảng cần làm như vậy. Trước mỗi kỳ họp TW, Uỷ viên TW phải tiếp xúc với đảng viên, lắng nghe ý kiến, tổng hợp các vấn đề mà đảng viên kiến nghị, yêu cầu, chất vấn lên Ban Chấp hành TW.



Có ý kiến khác nhau trong cán bộ, đảng viên thì cứ phản ảnh hết, để TW nghe. Ví dụ trong các vấn đề tôi nêu ra, đồng chí Lê Đức Anh, đồng chí Đỗ Mười, 1 số đồng chí khác có ý kiến gì ngược lại thì cứ nêu. Nêu cụ thể cả tên người, sự việc, không nêu chung chung như là một số đông, một số ít, có người, có ý kiến vv... Trong Đảng phải sòng phẳng và bình đẳng về chính trị.



Là Bí thư Quân ủy TW, đồng chí Nông Đức Mạnh phải chịu trách nhiệm về sự thông qua tại Hội nghị Quân ủy TW mở rộng đối với Bản báo cáo của Bộ Quốc phòng ngày 24/8/2004.Yêu cầu đồng chí Nông Đức Mạnh, theo đúng điều 3, chương đảng viên trả lời cho tôi biết các ý kiến chất vấn, yêu cầu, kiến nghị của tôi.



Tập thể Bộ Chính trị và Ban Chấp hành TW phải nghe và thông qua Nghị quyết của Hội nghị Đảng ủy quân sự TW mở rộng ngày 24/8/2004 về Báo cáo của Bộ Quốc phòng. Nếu đúng thì các đồng chí có quyền công bố là đúng và chịu trách nhiệm về quyết định ấy trước toàn Đảng. Nếu sai điểm nào thì phải sửa điểm ấy và phải phổ biến lại cho cán bộ cao cấp trong toàn quân và các Hội CCB. Nếu thấy cần phải chờ một Nghị quyết chung của Ban Chấp hành TW về Đại hội 10 thì mới xác định các vấn đề chung về "âm mưu của Mỹ và các thế lực thù địch chống phá Đông Dương - Việt Nam và Đại hội 10" thì phải hủy bỏ bản báo cáo của Bộ Quốc phòng hoặc sửa chữa sau khi Trung ương có ý kiến tập thể. Mọi vấn đề phải để Ban Chấp hành TW thảo luận dân chủ, sòng phẳng và quyết định.



Nếu các đồng chí không gửi thư này của tôi đến Ban Chấp hành TW Đảng, đến các đầu mối trong toàn quân, thì theo như Điều lệ Đảng, tôi sẽ trực tiếp gửi (bao gồm một số lão thành cách mạng và tướng lĩnh quân đội). Danh sách lão thành cách mạng, tướng lĩnh quân đội mà tôi gửi bức thư này tôi sẽ gửi lên Bộ Chính trị và Ban Bí thư biết.

Vừa qua có dư luận rằng thư từ kiến nghị, chất vấn gửi lên Bộ Chính trị và Trung ương, đồng chí Phạm Văn Trà đều đưa sang báo cho đồng chí Lê Đức Anh và cho Tổng cục 2 biết. Nếu dư luận đó có thật thì tôi thấy rằng việc làm đó là vô nguyên tắc, tôi yêu cầu phải chấm dứt.



Cũng còn một số điểm tôi chưa trình bày được hết và có một số vấn đề không tiện nói ở đây. Nhưng tôi xin tạm dừng ở đây. Mong các đồng chí đọc và trả lời cho tôi theo đúng Điều lệ Đảng, càng sớm càng tốt, tốt nhất là bằng giấy.



Xin chúc sức khỏe và cảm ơn.



Trân trọng,



Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh

Nguyên Uỷ viên Trung ương Đảng