2/3/11

HỘI THỀ, MỘT TÁC PHẨM THIẾU TÍNH CHÂN THỰC LỊCH SỬ

Hà Văn Thùy
Tiểu thuyết lịch sử là dòng lớn trong văn chương nhân loại. Trải hàng nghìn năm thực tiễn của dòng văn chương này, người ta rút ra tiêu chuẩn vàng để định giá một tiểu thuyết lịch sử, đó là tính chân thực lịch sử. Không phải sách sử nhưng tiểu thuyết lịch sử thể hiện tinh thần, hồn vía của sự kiện cùng nhân vật lịch sử. Chính vì vậy, có những cuốn tiểu thuyết đạt tới sự chân thực lịch sử hơn bất cứ sách sử nào.
Đem chuẩn mực kinh điển này soi vào Hội thề, ta thấy rất rõ tác phẩm này thiếu tính chân thực lịch sử ở ba phương diện.
Thứ nhất: phản ánh không chân thực tinh thần của một thời đại lịch sử.
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và triều Hậu Lê là một trong những thời đại vĩ đại nhất của lịch sử Việt Nam. Sau muời năm bị dồn tới đáy của cuộc xâm lăng tàn độc nhất trong lịch sử, dưới ngọn cờ của những anh hùng áo vải, toàn dân Việt đã vùng lên trong cuộc giải phóng với chiến công vĩ đại và mở đầu một văn nghiệp vĩ đại. Hội thề Thăng Long cùng với Bình Ngô đại cáo là biểu trưng sáng ngời của chủ nghĩa nhân văn Việt Nam. Đấy phải là hồn là vía của bất cứ tiểu thuyết nào viết về thời kỳ này.
Không phản ánh được tinh thần đó, rõ ràng Hội thề đã không đạt tới sự chân thực lịch sử.
Thứ hai: phản ánh không chân thực nhân vật lịch sử.
Để tránh sơ lược, công thức, tác giả có thể mô tả Thôi Tụ, Hoàng Phúc như trong sách. Nhưng trước hết, ông phải mô tả những nhân vật này là biểu trưng của sự cực tàn, cực ác của cuộc xâm lăng do Minh Thành tổ phát động. Không một dòng nói về sự tàn ác của những nhân vật này, trong khi nắn nót tô điểm vẻ hào hoa phong nhã của chúng, là sự xuyên tạc lịch sử.
Cũng có thể viết về Lê Lợi, Lưu Nhân Chú, Lê Ngân, Lê Sát… như trong sách nhưng trước hết phải mô tả những vị này là anh hùng cái thế, những người từ bần cùng vùng lên đấu tranh giải phóng mình và giải phóng đất nuớc. Qua mười năm gian khó, họ bộc lộ tài năng kiệt xuất cùng khí phách anh hùng mà nếu những yếu tố này không có thì cũng không có công cuộc giải phóng. Không nêu được phẩm chất cao thượng của họ mà chỉ mô tả họ là những con người hẹp hòi, tham lam, thô tục là xuyên tạc lịch sử, là vi phạm nguyên lý mỹ học khi viết tiểu thuyết lịch sử.
Thứ ba: không phản ánh trung thực tâm thức của thời đại lịch sử.
Có thể như cách hiểu của tác giả, cái chết của bà phi Ngọc Trần là hậu quả của âm mưu tranh quyền đoạt vị. Nhưng cái mưu toan này được đan xen, cài đặt tinh vi trong tâm thức Việt thế kỷ XV có đời sống tâm linh mạnh. Tục hiến sinh vẫn còn. Vua nhà Trần hơn một lần phải “gả” vợ cho Hà Bá. Chính Lê Lợi tận dụng tâm thức này đã cho người dùng mỡ viết “Nguyễn Trãi vi quân, Lê Lợi vi thần” lên lá cây nhằm quy tụ nhân tâm. Và đến lượt, có thể có người lợi dụng nó thúc ép Lê Lợi hy sinh người vợ yêu của mình. Nhưng trên đại cuộc, sự việc được bọc trong hào quang hy sinh vì nghĩa lớn. Vì vậy, cái ngôi vị chỉ còn là hệ quả thứ yếu! Do không thấy được tâm thức này mà chỉ nhất nhất cho là mưu toan tranh ngôi giành vị, tác giả hạ thấp ý nghĩa mỹ học của sự hy sinh của bà Ngọc Trần và của chính Lê Lợi.
Cái tâm thức kình chống, coi khinh trí thức của nghĩa quân Lam Sơn trong truyện cũng không thực. Ở triều Trần và tiếp đó, Hậu Lê, Nho giáo Việt Nam cực thịnh. Chỉ ít năm sau Hội thề, vua Thái tông đã tổ chức khoa thi và lập bia Tiến sĩ rồi vua Thánh tông xây dựng văn nghiệp huy hoàng chưa từng có. Nền tảng của nho giáo là kẻ sĩ. Vì vậy, thái độ kỳ thị, khinh khi trí thức như mô tả trong Hội thề hoàn toàn là bịa đặt, không chỉ không có trong khởi nghĩa Lam Sơn mà cũng không hề có trong lịch sử Việt. Nhà Mạc, họ Nguyễn, họ Trịnh cầu Trạng Trình, Quang Trung cầu La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp nói lên vai trò kẻ sĩ trong lịch sử Việt.
Áp đặt tâm thức hiện đại cho tiểu thuyết lịch sử là vi phạm nguyên lý mỹ học sơ đẳng của sáng tạo văn chương.
Chính do đạt tới sự chân thực lịch sử, Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh trở thành cuốn tiểu thuyết lịch sử sáng giá nhất của văn chương Việt Nam đương đại.
Điều không thể hiểu là vì sao Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam trao giải cao cho cuốn sách này?
H.V.T.
Sài Gòn, 28 tháng Hai,

Tại sao nhà nước CSVN lại sợ một ông bác sĩ hiền lành 69 tuổi?

Không phải bất cứ ngày nào những sự thật đăng trong mục quan điểm của báo Washington Post cũng được chứng minh chỉ trong vòng vài giờ sau khi tờ báo phát hành, nhưng tác giả Nguyễn Đan Quế đã có sự lưỡng lự vừa lòng đó vào hôm Thứ Bảy.
Trong số báo ra ngày Thứ Bảy trên tờ Washington Post, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, một nhân vật đấu tranh cho dân chủ khá nổi tiếng ở Việt Nam đã viết, “Trong khi toàn thế giới đang chú tâm vào các biến chuyển ở Trung Đông, thì công cuộc đấu tranh dân chủ vẫn tiếp tục bám rễ ở những nơi khác..”
Chắc chắn là đúng như thế vì chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ là công an mật vụ có mặt ở nhà ông. Họ tịch thu máy tính và điện thoại của ông rồi lôi ông đến trụ sở công an quận.
“Họ đang lo sợ ngọn gió dân chủ ở Bắc Phi và Trung Đông,” người anh của Bác sĩ Quế, ông Nguyễn Quốc Quân, hiện đang sống ở Bắc Virginia cho chúng tôi biết.
Sự kiện nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội bắt giữ Bác sĩ Quế – thêm một lần nữa – quả thực là một dấu hiệu cho thấy họ đang ở thế bị động. Bác sĩ Quế, 69 tuổi, đã trải qua 20 năm tù đày, với ba án tù khác nhau kể từ năm 1978. Trước sau như một, ông luôn luôn cổ xúy việc đấu tranh bất bạo động cho nhân quyền. Trong một lá thư ngỏ được công bố mới đây, ông kêu gọi mọi người hãy xuống đường đòi hỏi “tự do sinh họat chính trị đa nguyên đa đảng để người dân chọn người tài đức lãnh đạo quốc gia.”

Hoa Kỳ luôn thiết tha muốn cải thiện quan hệ với Việt Nam, mặc dầu tình trạng vi phạm nhân quyền của nhà nước Việt Nam ngày càng xấu đi. Nhưng như Bác sĩ Quế đã vạch ra, “Và đối với nhà nước cộng sản ở đây, thì sự thật là chế độ Hà Nội cần Hoa Thịnh Đốn nhiều hơn là Hoa Thịnh Đốn cần Hà Nội. Giới lãnh đạo Việt Nam rồi đây sẽ hối tiếc về việc đã để cho một viên chức người Mỹ bị đối xử thậm tệ. Nhưng hiện nay Việt Nam đang phải đề phòng trước một Trung Quốc đang tái quân sự hóa và vấn đề tranh chấp chủ quyền vẫn đang xảy ra trên Biển Đông, đó là chưa đề cập đến nhiều khó khăn trong nước bao gồm một nền kinh tế ì ạch và một hệ thống giáo dục lỗi thời.”
Vào hôm Chủ Nhật vừa qua, dưới áp lực của các tổ chức nhân quyền và người Việt hải ngoại, công an Việt Nam đã phải trả tự do cho Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, như người anh ruột của ông đã cho chúng tôi biết, nhưng họ đòi hỏi ông phải đến trình diện tại trụ sở công an quận vào hôm Thứ Hai, là nơi mà họ muốn ông giải thích từng trang một, trong tổng số 60.000 tài liệu mà họ tìm thấy trong máy tính của ông. Bác sĩ Quế đã cự tuyệt điều này, khẳng định rằng ông luôn luôn thẳng thắn và công khai khi đưa ra quan điểm của mình.
Không hiểu là ông có đồng ý tái diễn lại cái trò khỉ (làm việc với công an) này vào hôm Thứ Ba hoặc để bị bắt trở lại hay không?
Một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho chúng tôi biết vào tối hôm qua rằng, sự sách nhiễu này “Không thể chấp nhận được. Chúng tôi đang và sẽ tiếp tục bày tỏ những quan tâm sâu xa của chúng tôi đến nhà nước Việt Nam.”
Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, dường như đang học một bài học sai lầm từ Trung Đông, nên hiểu rằng hy vọng tốt nhất cho đất nước họ là phải (để cho người dân) có thêm tự do và cải tổ (chính trị). Hoa Kỳ nên chú ý đến những lời (nhắn nhủ) của Bác sĩ Quế đã được đăng tải trước khi ông bị bắt: “Và nếu Hoa Thịnh Đốn đang tìm kiếm ở Việt Nam một đối tác lâu dài cho hòa bình và ổn định khu vực, thì người Mỹ sẽ thành công hơn nếu họ công khai nhìn nhận rằng chỉ có một nước Việt Nam tự do dân chủ mới có thể giúp được họ..”

@TNTDDC

Những Bí Ẩn Về Nguyễn Tấn Dũng


Sau ngày 30/04/1975 tôi được phân công nhiệm vụ kiểm soát việc tiêu hủy những thứ mà lúc ấy được người ta gọi là “văn hoá phẩm đồi trụy”. Sài Gòn những ngày ấy còn hỗn loạn, bề bộn, lòng người thì hoang mang, bất ổn. Song trong mắt bọn chúng tôi - những kẻ chiến thắng vừa từ rừng núi tiến vào - Sài Gòn đúng thật là “hòn ngọc viễn đông”. Nhà cửa thành phố hiện đại, hàng hoá nhiều vô kể, đặc biệt là sách báo, tranh ảnh, băng đĩa và những thứ sản phẩm bị coi là “tàn dư của chế độ cũ”.

Lúc ấy chúng tôi được ủy ban quân quản bố trí ở tại một ngôi biệt thự bỏ hoang ở khu Phú Thọ. Mặc dù là bỏ không nhưng thật ra đây là một biệt thự mới tinh chưa có người đến ở, chủ nhà có lẽ là một người giàu có, xây dựng mới xong thì bộ đội giải phóng vào nên có thể đã đi di tản hoặc không dám đến nhận nhà. Ngôi nhà có tới 13 phòng, mỗi phòng đều có trang bị đồ dùng đầy đủ và rất sang trọng. Một số những chiến sỹ trẻ lúc ấy thích đọc truyện tranh, truyện tuổi hoa niên thì mang về đầy phòng đủ các loại sách truyện từ Tây Du ký, Tam Quốc chí, đến cả Đát Kỷ - Trụ Vương, rồi chuyện kiếm hiệp không biết cơ man nào. Đối với những người sống ở miền Bắc nghèo khó và những người bao năm hoạt động ở trong rừng núi thiếu thốn thì đúng quả là bị choáng ngợp với các loại sách báo Sài Gòn ngày ấy.

Trong công việc hàng ngày tôi cũng thỉnh thoảng lần giở xem xét một số những cuốn sách cũ, một số tiểu thuyết lịch sử để hiểu thêm về chế độ Việt Nam Cộng Hoà, đặc biệt nhiều nhất là sách viết về nền đệ nhất cộng hoà như cuốn “Bên giòng lịch sử” của linh mục Cao Văn Luận, hay “Những ngày chưa quên” ... Lúc ấy việc đọc sách chẳng qua cũng chỉ để cho dễ buồn ngủ vào mỗi buổi tối chứ thật ra cũng chẳng có ý nghĩa gì. Chúng tôi đều cho rằng đó là những sách báo nhảm nhí, viết không đúng sự thật. Một cuốn sách hình như có tựa đề là “Những bóng ma trong hồng trường” viết về những câu chuyện thâm cung bí sử trong Quảng trường đỏ thời Xô Viết, nói về chuyện dâm ô, loạn luân của các lãnh đạo Xô Viết, lúc bấy giờ đọc những chuyện ấy chỉ xem như những chuyện tiếu lâm, những hư cấu không có thật, chứ tuyệt nhiên không thể tin được.

Thế rồi thời gian thấm thoát trôi qua với bao nhiêu biến chuyển, đổi thay của xã hội. Sài Gòn ngày ấy bây giờ chỉ còn trong ký ức của mỗi con người mà đã gắn bó, đã trải qua vào những giai đoạn lịch sử ấy. Tôi cũng đã luân chuyển qua nhiều vị trí, công việc khác nhau. Trong quá trình công tác tôi có may mắn được làm việc một khoảng thời gian ngắn với cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Khoảng thời gian này không dài nhưng lại là khoảng thời gian rất quý báu đối với tôi bởi vì đã học được nhiều điều và hiểu được nhiều điều từ cơ quan quyền lực cao nhất, từ người đứng đầu bộ máy lãnh đạo Việt nam. Trong đó có những câu chuyện mà qua hàng chục năm giữ kín, “đào sâu chôn chặt”, suy xét, kiểm nghiệm đến ngày hôm nay mới dám nói ra, bởi vì nó có liên quan đến những con người và hoàn cảnh lịch sử của đất nước ta trước đây, ngày hôm nay, và có thể nó sẽ ảnh hưởng đến tương lai dân tộc ngày mai.

Trước khi giữ chức vụ Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt nam cụ Nguyễn Văn Linh đã từng hoạt động và làm việc tại miền Nam gần 50 năm (cụ vào Sài Gòn hoạt động từ 1939), và đã từng đảm nhiệm hầu hết các chức vụ lãnh đạo cao nhất tại miền Nam trước và sau chiến tranh. Vì thế dù sinh trưởng trên quê hương Hưng Yên miền Bắc nhưng cụ đã thực sự như một người con của Nam bộ. Đến khi lên giữ chức Tổng bí thư cụ Nguyễn Văn Linh vẫn rất thường xuyên làm việc tại Sài Gòn, cụ sinh hoạt rất giản dị, khiêm tốn và kín đáo. Cụ ở trong khu vực riêng của Ban quản trị tài chính Trung ương, gọi là T78, khu vực này là một đoạn đường Trần Quốc Toản được đơn vị cảnh vệ ngăn lại hai đầu phố tiếp giáp với đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và đường Trần Quốc Thảo, thành một khu vực riêng biệt, có lối ra thông với đường Lý Chính Thắng (sau này mở thêm khách sạn Dạ Lý Hương). Có những hôm cụ vẫn xuống ăn cơm chung với cánh cán bộ chúng tôi ở nhà ăn tập thể cũng nằm trong khu vực này, cụ ăn uống đơn giản và không đồng ý có thêm bất cứ chế độ đặc biệt gì phục vụ.

Hồi ấy phương tiện đưa đón cụ chỉ là loại xe Vonga đen của Nga sản xuất, mỗi lần xe của cụ đi thì trước đó lại có mấy cậu cảnh vệ mặc thường phục ngồi sẵn trên mấy chiếc xe Honda 67 “xoáy nòng” bí mật chạy trước chạy sau để xem xét, bảo vệ, chứ không phải dùng xe Police “còi hụ” hay xe “bồ câu trắng” bảo vệ như các cán bộ lãnh đạo sau này. Thế mà có lần tôi còn nghe cụ nhắc anh lái xe “chạy chậm chậm một tí không mấy cậu bảo vệ phải đuổi theo lại đụng vào dân thì khổ”, cụ biết và quan tâm đến tất cả những chuyện nhỏ như thế.

Tôi còn nhớ, vào khoảng năm 1988 có lần phải xuống làm việc với đặc khu ủy Vũng tàu (lúc ấy Vũng tàu vẫn còn là đặc khu Vũng tàu-Côn đảo), làm việc xong vào cuối buổi chiều cụ lại muốn đi tắm biển một chút cho khoan khoái. Thế là đám cán bộ địa phương và lực lượng bảo vệ lại phải cuống quýt lo bố trí địa điểm kín đáo, an toàn. Đến khi cụ xuống tắm lại phải bố trí hàng chục cán bộ bảo vệ cùng tắm quanh khu vực, thậm chí có người không kịp chuẩn bị đồ tắm đã phải mặc cả đồ lót đi tắm và mặc luôn đồ ướt đi về. Sau khi biết chuyện ấy cụ mới tự trách : biết các cậu phải lo lắng kỹ lưỡng như vậy thì tôi tắm luôn trong phòng cho xong.

Những ai đã sống trong thời điểm đó thì chắc đều không thể quên được chuyên mục “Những việc cần làm ngay” của cụ viết ký với bút danh N.V.L. Ngay từ khi những sự việc được báo chí đăng tải cụ đã trực tiếp đôn đốc hoặc phân công cho những cán bộ trực tiếp phụ trách theo dõi và phải hàng ngày báo cáo kết quả công việc cho cụ biết. Đúng theo tinh thần “Nói Và Làm”.

Tiếc rằng lãnh đạo đất nước ta từ đó đến nay đã không xuất hiện thêm một ông “Nói Và Làm” nào nữa . Tôi vẫn thường nghĩ rằng nếu các lãnh đạo sau này và các lãnh đạo chính quyền cấp dưới có được quan điểm làm việc, đạo đức và cách sống như cụ thì chắc rằng người dân Việt nam sẽ có được cuộc sống no đủ và công bằng hơn rất nhiều.

Vào khoảng thời gian trước khi về nghỉ, có lẽ nhận thấy sức mình không thể làm thay đổi được cả một bộ máy, một cơ chế cồng kềnh và bảo thủ, cũng lại do hiểu được tính bè phái và sự lộng quyền của những kẻ lãnh đạo cơ hội trong Đảng, cụ càng trở nên trầm tư hơn. Nếu ai có điều kiện lui tới gặp cụ tại nhà riêng thời gian này sẽ nhận thấy sự thất vọng và u uất thể hiện rõ trên khuôn mặt và thái độ của cụ. Ngoài quan hệ công việc tôi lại có quan hệ rất thân tình với cô Bình (Nguyễn Thị Bình) con gái cụ, tôi quen Bình từ lúc còn đang học ở Liên Xô, Bình cũng rất quý tôi, coi tôi như người anh . Có lẽ cũng vì thế mà mỗi lần tôi đến nhà cụ chơi hay có công việc gì đều thấy tự nhiên như người nhà.

Sau này khi cụ Nguyễn Văn Linh thôi giữ chức Tổng bí thư Đảng, tôi không còn được làm việc với cụ nữa, nhưng thỉnh thoảng có dịp ra vào công tác tôi vẫn ghé thăm cụ, hoặc là ghé thăm Bình, vài tháng một lần. Mỗi lần gặp cụ lại hỏi thăm tình hình công việc, tình hình tổ chức nội bộ, tình hình các địa phương. Cụ tỏ thái độ than phiền với những người kế nhiệm và đặc biệt kêu ca về khâu tổ chức cán bộ và quy hoạch lãnh đạo cao cấp.

Vài năm sau đó nữa, lúc này sức khỏe của cụ tỏ ra đã yếu hơn trước rất nhiều, cụ ít đi lại hơn. Một buổi tối tôi đến thăm cụ, thấy cụ có vẻ không được khỏe, tôi không dám nói chuyện nhiều, sau khi hỏi thăm cụ vài câu tôi định đứng dậy ra về, nhưng cụ bỗng khoát tay ra hiệu bảo tôi hãy ở lại chơi và sau đó lại kéo tôi vào buồng trong. Tôi hiểu là cụ muốn trao đổi một chuyện gì đó, chắc là quan trọng hơn.

Vừa ngồi xuống là cụ hỏi ngay : mấy hôm nay cậu có theo dõi vụ Tổng công ty Tracodi mà báo chí vừa đưa tin không ?
Tôi đáp : Dạ, có biết chứ ạ ! Nhưng cũng chưa rõ lắm đúng sai thế nào ?
Cụ lại quay sang hỏi : Thế cậu có biết cái tay Tổng Giám đốc Phan Thanh Nam là người như thế nào không ?

Tôi chợt hiểu ra có điều gì đó quanh vấn đề này, thời gian trước đó đã có dư luận xôn xao quanh chuyện Phan Thanh Nam là con rơi của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, cánh cán bộ văn phòng chúng tôi đều có nghe nhưng vẫn không biết thực hư thế nào, nên cũng chỉ coi như một tin đồn nhảm.

Bỗng cụ ghé sát gần tôi và nói : Những chuyện này mà tao không nói cho các cậu thì sau này sẽ chẳng có ai được biết đến nữa.

Thế là bỗng nhiên tôi trở thành một nhân chứng để ghi nhận những sự kiện ghê ghớm thế này, những sự kiện đã gắn liền với lịch sử Cách mạng Việt nam nhưng không bao giờ được chép trong sử sách và nó là một bộ mặt thật hoàn toàn khác với những gì mà nhân dân được biết về lãnh đạo Việt nam, nhất là về lãnh tụ tối cao nhất : Hồ Chí Minh, con người mà bản thân tôi cũng từng ngưỡng mộ và tôn kính từ khi còn rất bé.

Theo cụ Nguyễn Văn Linh kể thì Bộ chính trị lúc bấy giờ, (tất nhiên đứng đầu là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ chỉ đạo, điều này thì sau này không ai là không biết), biết rằng cụ Hồ gặp những thiếu thốn và khó khăn về tình cảm cá nhân, như chuyện muốn nối lại mối tình duyên với người vợ cũ ở Trung quốc nhưng đã bị phản đối (đây là một câu chuyện có thật đã được phía Trung quốc công bố từ những thập niên 80, 90 của thế kỷ trước. Về việc này tôi lại nhớ về sự kiện bài báo “Bác Hồ có vợ ?” được đăng trên báo Tuổi Trẻ của tác giả Kiến Phước - Trưởng đại diện báo Nhân dân tại TP. Hồ Chí Minh, chính vì bài báo này mà sau đó Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ là Nguyễn Kim Hạnh, cũng chính là vợ ông Kiến Phước, bị mất chức. Sau này có lần đến chơi với hai vợ chồng Kiến Phước – Kim Hạnh ở trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, cũng gần khu T78, nhắc lại chuyện này họ lại buồn và phản ứng ghê lắm). Do vậy sau đó Bộ chính trị có bí mật sắp xếp nhiều người phụ nữ khác để chăm sóc và phục vụ cụ Hồ về mặt sinh hoạt tính dục. Đặc biệt, từ thuở còn thanh niên cụ Hồ đã có một mối tình đầu rất đẹp với một người con gái miền Nam (sự thật này đã được nhà văn Sơn Tùng sưu tầm và công bố trong bài viết “đi tìm Út Huệ”), do vậy cụ Hồ có một ấn tượng và thiện cảm đặc biệt với những người phụ nữ Nam bộ. Biết thế nên Bộ chính trị đã chỉ đạo cho Trung ương cục miền Nam, mà lúc này Nguyễn Văn Linh là Bí thư Trung ương cục, phải kín đáo tìm kiếm trong số những cán bộ, du kích miền Nam một vài cô gái còn trẻ, đẹp để đưa ra miền Bắc phục vụ cụ Hồ và các vị trong Bộ chính trị. Thời điểm đó thì Võ Văn Kiệt đang là ủy viên Trung ương cục được cụ Nguyễn Văn Linh tin tưởng tuyệt đối và giao cho trực tiếp phụ trách nhiệm vụ đặc biệt này. Trong số vài cô gái tuyển lựa được lúc đó đang chuẩn bị bố trí bí mật đưa ra miền Bắc, có một cô còn trẻ và rất sắc sảo họ Phan. Giữa lúc đó thì tình hình chiến sự đang diễn ra khá ác liệt nên không thể đưa các cô đi ngay được và rồi không hiểu thế nào mà ông Kiệt lại quan hệ dan díu với chính cô gái họ Phan kia. Đến lúc sự việc vỡ lở thì cô gái đã có thai được mấy tháng rồi. Thế là cô ta phải ở lại và cái bào thai đó chính là vị tổng Giám đốc Tracodi : Phan Thanh Nam sau này.

Nghe đến đây tôi cảm thấy vô cùng sửng sốt và bỗng thấy rùng mình hết cả người. Rõ ràng người đang kể ra những sự việc đó là một người đã từng giữ trọng trách cao nhất trong Đảng cộng sản Việt nam, một người trong số vài ba người được biết rõ nhất, chính xác nhất về câu chuyện này, một người trong số vài ba người hiếm hoi biết được những chuyện thâm cung bí sử nhất trong Trung ương Đảng cộng sản, một người mà cái tuổi đã vượt quá ngưỡng “cổ lai hy” rồi . Như vậy không thể là nói thiếu chính xác hoặc vô căn cứ được, càng không thể là nói xấu tổ chức Đảng và lãnh tụ được. Như vậy những chuyện tày trời kia là có thật ư ?

Tôi đang bần thần như người ngủ mê và còn chưa biết phải nói thế nào, cụ Linh lại nói tiếp : … cũng không phải chỉ riêng có Sáu Dân đâu (bí danh của Võ Văn Kiệt), mấy ông tướng nhà ta cũng đầy con rơi ra đấy, còn thằng Ba Dũng là con Nguyễn Chí Thanh, rồi thằng Trần Nam là con Trần Văn Trà hiện đang làm bên Học viện lục quân ấy.

Thế là cụ lại kể cho tôi biết thêm những sự thật khác.

Theo cụ Nguyễn Văn Linh thì trong thời gian tướng Nguyễn Chí Thanh làm Bí thư liên khu ủy khu IV khoảng từ năm 1948 đến 1950 đã có quan hệ với một cán bộ phong trào ở đây và sinh ra Nguyễn Tấn Dũng, và cụ còn cho biết là sau Nguyễn Tấn Dũng vẫn còn một người em trai nữa cũng là con của tướng Thanh.

Còn tướng Trần Văn Trà thì có quan hệ với một người phụ nữ quê ở miền Bắc (hình như là họ Hoàng, điều này tôi không còn nhớ rõ) rồi sinh ra Trần Nam, cũng là một sỹ quan quân đội đang công tác tại Học viện lục quân Đà lạt.

Về Trần Nam thì hồi đó tôi không hề được biết một thông tin liên quan nào, chưa hề nghe đến danh tính. Rất gần đây tình cờ đọc báo về vụ công ty Rusalka của siêu lừa Nguyễn Đức Chi rồi hỏi thăm cán bộ ở dưới mới được biết Trần Nam chính là giám đốc công ty Lâm Viên thuộc Học viện lục quân - Bộ quốc phòng, có liên quan đến vụ án này.

Sau buổi tối hôm ở nhà cụ Nguyễn Văn Linh ra về tôi bàng hoàng và băn khoăn nhiều lắm. Như vậy những thứ được gọi là tư cách, đạo đức, mẫu mực của các lãnh đạo cao cấp của Đảng ta thật ra chỉ là những thông tin tuyên truyền thôi ư ? Và những kẻ bày ra những trò này chắc cũng không ngoài mục đích nhằm thao túng cụ Hồ và thao túng cả Bộ chính trị ? Vậy thì đã có biết bao cô gái trẻ đã bị đánh mất tuổi thanh xuân và sự trinh trắng ở đó, và để đảm bảo tuyệt đối bí mật những thông tin này, dứt khoát phải có nhiều người đã bị thủ tiêu hoặc làm cho mất trí nhớ hoàn toàn. Như vậy những câu chuyện đồn thổi về những bóng ma trong quảng truờng Ba đình phải chăng cũng là có thật ? Thật bi thảm và khủng khiếp quá !

Bắt đầu từ câu chuyện đó nên sau này tôi đã cố tìm hiểu thêm những thông tin khác liên quan đến Ba Dũng.

Khoảng năm 2000, trong cuộc trò chuyện với một thiếu tướng Quân đội đã nghỉ hưu có quan hệ khá thân thiết với tôi, ông này có thời gian đã công tác tại liên khu IV và V, ông ta cũng lại khẳng định với tôi rằng Nguyễn Tấn Dũng chính là con của Nguyễn Chí Thanh. Hiện nay vị tướng này vẫn còn sống và là ủy viên của Hội cựu chiến binh Việt nam, để tránh gây phiền phức cho ông nên tôi không dám nêu danh tính cụ thể lên ở đây

Tôi đã tìm xem trong số những tài liệu lưu ở văn phòng có liên quan đến Nguyễn Tấn Dũng nhưng không thấy lộ ra chi tiết nào nói về chuyện này. Thế nhưng nhìn vào lý lịch và quá trình công tác của Ba Dũng rõ ràng có những điều bí ẩn sau đó. Ông ta chỉ là một cán bộ tầm trung bình, không có chuyên môn nghiệp vụ (thật ra được đào tạo làm y tá quân đội), trình độ văn hoá thấp, chưa được đào tạo cơ bản chính quy, không có thành tích đặc biệt, không có năng khiếu gì xuất chúng, thế nhưng lại có quá trình thăng tiến nhanh vượt bậc ( ?).

Sau này, trong những lần làm việc với Nguyễn Tấn Dũng tôi lại càng thấy rõ những điều đó hơn và càng thất vọng rất nhiều. Quả là ông ta là một người năng lực rất kém. Về hình thức bề ngoài, từ trước đến nay ít có lãnh đạo Việt nam nào có được dáng dấp và khuôn mặt sáng láng như Ba Dũng, cái hình thức đó rất dễ làm cho những ai không biết tưởng rằng đó là một người rất thông minh, nhanh nhẹn. Thật ra tương phản với hình thức sáng láng đó là một não trạng rất tối tăm, dốt nát. Hồi mới về Trung ương có những lần nghe ông phát biểu mà mọi người đều không hiểu ông định diễn đạt điều gì, rất lủng củng, tối nghĩa, lại lúng túng, cụt lủn. Nhiều lần tham dự những cuộc họp do Ba Dũng chủ trì, tôi thấy ông ta không dám phát biểu gì, chỉ ngồi nghe các cơ quan cấp dưới phát biểu sau đó ông ta cũng chẳng dám có ý kiến kết luận gì cả. Phải trải qua năm, sáu năm “thực tập” ở cái ghế Phó thủ tướng thì ông ta mới tỏ ra là tự tin, biết chủ trì những cuộc họp lớn của cơ quan Đảng, Chính phủ, nhưng vẫn chỉ là cái kiểu nói lúng túng, nước đôi, nói hùa theo các ý kiến khác chứ không thấy tự tư duy được điều mới mẻ cả. Mặc dù có cả một cơ quan tham mưu giúp việc rất đồ sộ “mớm” cho từng văn bản, từng câu chữ nhưng mỗi lần phải “nói vo” anh ta đều phát biểu rất khó khăn, không có đầu đuôi gì cả. Suốt cả quá trình dài là người đứng đầu Chính phủ và phụ trách tất cả những mảng quan trọng nhất nhưng ông ta chưa làm được một việc gì đáng kể. Đặc biệt, Ba Dũng rất dốt ngoại ngữ, trong cuộc họp mà phát biểu những từ gì tiếng Anh thì toàn nói sai hoặc nói lung tung cho qua. Một con người năng lực yếu kém như vậy mà lại lên đến chức Phó thủ tướng, và nay là Thủ tướng Chính phủ thì quả là không hiểu nổi ? Quả là có một bí ẩn khủng khiếp !

Một dịp may khác ngẫu nhiên đến để tôi được kiểm chứng thêm lời nói của cụ Nguyễn Văn Linh. Đó là khoảng năm 2001, trong một lần tiếp xúc với lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh tại ủy ban thành phố có một vị khách đến làm việc theo lịch đã hẹn, và tôi được giới thiệu người khách đó là Tư Thắng (Nguyễn Tiến Thắng), em ruột Ba Dũng. Người này nhìn bề ngoài giống hệt Ba Dũng, từ chiều cao, dáng người đến nét mặt, mái tóc và kể cả giọng nói, thậm chí kể cả cử chỉ, dáng điệu (Ba Dũng hay có thói quen hất cằm và khuôn mặt ra phía trước). Tư Thắng giống Ba Dũng đến mức chỉ nghe giới thiệu là có thể tin ngay rồi, chỉ khác một chút là nước da đen hơn Ba Dũng một chút và khuôn mặt có vài vết rỗ. Riêng về cách ăn mặc thì ngược hẳn với ông anh, phóng khoáng tự do, thể hiện là người không làm việc trong cơ quan chính quyền. Có lẽ đã nghe tên tôi từ trước, Tư Thắng chủ động tự giới thiệu trước và đưa danh thiếp có số điện thoại cho tôi (tôi vẫn còn giữ danh thiếp ấy và số điện thoại di động là 090845846, lúc ấy ĐTDĐ chỉ có 9 con số, hiện nay đều đã thêm số 3 nên sẽ là 0903845846), sau đó Tư Thắng còn mời tôi lúc nào rảnh rỗi thì đến chỗ anh ta chơi.

Vì muốn tìm hiểu kỹ sự thật, có một buổi chiều sau giờ làm việc tôi đã lững thững đi bộ đến chỗ Tư Thắng. Theo địa chỉ Tư Thắng cho tôi biết thì đó là một căn nhà mặt tiền đường 3/2, gần ngã tư Cao Thắng (phía bên Nhà hát Hoà Bình), đó là một ngôi nhà lớn, vị trí rất đẹp, nhưng sau này tìm hiểu ra tôi mới được biết Tư Thắng có rất nhiều đất đai và biệt thự ở khắp các tỉnh Nam bộ, ngôi nhà này cũng chỉ là chỗ đi lại mà thỉnh thoảng ở Sài Gòn Tư Thắng mới ghé qua. Chính vì Tư Thắng muốn nhờ tôi giới thiệu thêm với một số lãnh đạo để giúp cho các công việc làm ăn của anh ta, tôi mới được biết là có rất nhiều công ty nằm dưới tay anh ta, đa phần là công ty TNHH. Các công ty này đều chỉ dựa vào thế lực và các mối quan hệ của Ba Dũng để tham gia vào rất nhiều lãnh vực khác nhau như : tài chính, ngân hàng, bất động sản, thương mại, xây dựng, tham gia các dự án nhà nước ... Điều làm tôi quan tâm nhất là anh ta có quan hệ với rất nhiều người Đài Loan, đặc biệt trong mạng lưới các chân rết của Tư Thắng có một ngân hàng Đài loan hoạt động chui tại Việt nam là First China Bank (một đàn em tin cậy của ông ta được giao phụ trách việc này cũng tên là Dũng có số ĐTDĐ là 0913950661). Như vậy có thể hiểu được đây chính là những “sân sau” của Ba Dũng, và để tránh đụng chạm với các thế lực khác cạnh tranh, anh em ông Ba Dũng đã nhằm vào địa bàn hoạt động chủ yếu ở miền Trung và Nam bộ, sau đó việc rửa tiền và chuyển ngân lậu được thực hiện qua ngả Đài loan. Liệu có thế lực nào khác và bàn tay của cơ quan tình báo Đài loan nhúng vào những chuyện này không ? Chưa ai biết được chuyện đó !

Như vậy, đường đi và vị thế của ông tân thủ tướng Việt nam quả là có một quá trình đầy bí ẩn, đầy những bàn tay sắp đặt, chắc chắn đứng đằng sau ông ít nhất còn có hai người em là Nguyễn Tiến Thắng và Nguyễn Chí Vịnh (tổng cục trưởng Tổng cục tình báo quân đội, con trai chính thức được thừa nhận của tướng Nguyễn Chí Thanh) để lo thu xếp mọi việc từ tài chính đến an ninh chính trị.

Lại cũng dễ hiểu khi con đường quan lộ của Nguyễn Tấn Dũng rộng mở song hành với sự thao túng và lộng quyền của Tổng cục hai trong tay Nguyễn Chí Vịnh (sự lộng quyền này, trong mấy năm gần đây có rất nhiều cán bộ cao cấp và cán bộ lão thành đã phản ánh đến các cơ quan Đảng). Nó là hai mệnh đề luôn bổ sung và giải nghĩa cho nhau. Từ mệnh đề đó có thể giải đáp được rất nhiều những câu hỏi khác. Sự liên quan và ràng buộc này nếu nhìn trên góc độ thực tế chắc chắn đã và sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu đến tương lai của đất nước. Bởi vì sự bè phái và những âm mưu thâu tóm quyền lực là những nguyên nhân lớn nhất gây nên đổ vỡ tan rã trong Đảng, đây là điều mà Hồ Chí mInh đã cảnh báo từ rất sớm. Trong thực tế chế độ ta chỉ chấp nhận một Đảng duy nhất lãnh đạo, những chia rẽ và yếu kém trong Đảng dứt khoát có nguy hại đến sự phát triển của đất nước, đến đời sống nhân dân. Nhất là trong tình hình hiện nay hai căn bệnh lớn nhất tồn tại trong Đảng đang bị xã hội lên án rất gay gắt và là nguy cơ thật sự , đó là tham nhũng và tranh giành quyền lực.

Nếu những căn bệnh này còn tồn tại, không được giải quyết triệt để, sự tan rã chế độ sẽ là tất yếu. Rồi tập đoàn Dũng - Thắng - Vịnh sẽ đưa đất nước ta đến bờ vực thẳm nào ?

Những sự việc cụ Nguyễn Văn Linh đã kể lại cho tôi chắc chắn cũng phải còn ít nhất là một vài người khác được biết, thế nhưng cho đến nay vẫn chưa có ai dám công khai nêu lên. Trước thực trạng đầy bất ổn của tình hình chính trị đất nước cùng với tấm lòng cảm mến và kính trọng cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, tôi nhận thấy chính mình phải có trách nhiệm nói ra những điều này, tôi xin hoàn toàn đảm bảo về tính trung thực và chính xác của sự việc này. Tôi cũng mong rằng sau khi sự thật này được đưa ra ánh sáng thì sẽ có thêm nhiều bằng chứng khác của các vị lão thành Cách mạng, của những ai có may mắn được biết đến những sự việc trên sẽ bổ sung đầy đủ hơn để bạch hoá hoàn toàn những bí ẩn này.

Thứ nữa, tôi muốn thông báo đến giới trẻ, những người chủ tương lai của đất nước được biết rằng : có rất nhiều những sự thật mà các bạn không có cơ hội được biết đến, mà lẽ ra trong xã hội hiện đại truyền thông đa phương tiện ngày nay các bạn cần phải biết tất cả những sự thật, những điều trắng đen rõ ràng để tự xây dựng cho mình những tư duy sống, những quan điểm tự nhiên chứ không phải những ý thức hệ bị cưỡng bức, những tư tưởng bị chỉ đạo.

Cuối cùng, tôi muốn gửi thông tin này đến tất cả mọi người dân với mong muốn rằng nhân dân chúng ta đều càng ngày càng được cởi mở hơn trong tiếp nhận thông tin, tiếp nhận sự thật. Những sự thật lịch sử cần phải được tôn trọng và dần dần cần được giải mã trước công chúng. Những sự việc gây ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước cần phải được minh bạch và công khai. Từ đó mỗi người dân cần có thái độ và đóng góp trách nhiệm của mình một cách rõ ràng trước những điều hệ trọng của đất nước. Nhân dân cần phải thay đổi thói quen chấp nhận để đời sống chính trị bị lệ thuộc bởi một cá nhân nào, một đảng phái nào, hay một thể chế nào, một chính phủ nào, mỗi người phải có quyền và nghĩa vụ tự quyết định cho riêng mình trong một xã hội văn minh, dân chủ.

Hà Nội ngày 09/10/2006
Hoàng Dũng, Cán Bộ VPTƯ

1/3/11

Lòng thành của bà lão hành khất và đảng phí

Ở quê, từ nhỏ tôi được những người lớn kể cho nghe một câu chuyện răn đời, như là có thật, xảy ra ở chính vùng quê đó, về sự trân trọng tầm lòng thành, rằng ngay cả đối với quỉ thần trời Phật, tấm lòng thành quí hơn nhiều so với lễ vật to tát cao sang. Chuyện kể rằng tại một ngôi chùa quê nọ, sau khi hoàn tất việc xây dựng, mọi người góp tiền của để mua đồng, mướn thợ về đức tượng Phật. Mỗi nhà phong kiệm khác nhau cùng góp theo hảo tâm; nhiều phú gia có khoản góp lớn. Một bà lão hành khất đi qua, thấy vậy ném vào nồi đồng sôi một đồng bạc. Khi đổ tượng, đồng bạc đó không tan chảy đi mà nằm ngay trước trái tim Phật. Người ta cho đấy là Phật giữ lấy vì tấm lòng thành thuần khiết của bà lão vô danh.
Tác giả chuyện khuyết danh có thể được nhiều người đóng vai. Nếu đó là sự chia sẻ của tất cả mọi người, lòng thành là giá trị phổ quát và tuyết đối. Nếu vai kể chuyện là những người nghèo, ngụ ý kể chuyện như là một kiểu tự vệ, tư an ủi vế sự đóng góp ít của mình trước các bậc phú gia kia. Thôi thì sao cũng được; truyện kể như một phần ký ức tuổi thơ, trầm trầm trong một vùng quê nghèo sương khói gió mưa thời trẻ lịm vào cả một đời thương hải biến vi tang điền sau này.
Ấy là tôi nghĩ về việc đóng đảng phí hiện nay của đảng viên Đảng CSVN. Theo qui định mới nhất từ tháng 12/2010, mức đảng phí được phân chia làm nhiều cấp loại theo điều kiện thu nhập của người đóng. Theo đó, đảng viên là công chức viên chức đang làm việc, hưởng lương từ ngân sách sẽ đóng 1% từ lương và các khoản phụ cấp; đảng viên hưởng lương bảo hiểm xã hội đóng 0,5% từ lương; đảng viên trong các doanh nghiệp đóng 1% từ tổng thu nhập trước thuế thu nhập; đảng viên nông dân, thất nghiệp… đóng từ 5000 đồng đến 30.000 đồng; đảng viên khó khăn có thể xét miễn giảm.
Như vậy giá trị tuyệt đối của từng mức đảng phí sẽ rất khác nhau; thấp nhất là 0 đồng (do miễn) và cao nhất là vô hạn vì hiện nay có những đảng viên cộng sản là chủ các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá và sắp đến là chủ các doanh nghiệp tư nhân có mức thu nhập hàng tháng rất cao, đến hàng trăm triệu. Đến cuối năm, các đảng viên này lại còn tự thưởng cho mình hàng trăm triệu nữa. Như vậy là trong một đảng cộng sản, theo phạm vi rộng, và ngay trong một doanh nghiệp, có cả mức đóng góp từ 0 đồng cho đến hàng triệu đồng. Đó là chưa nói đến một éo le khác là những đảng viên có thu nhập hàng trăm triệu đồng đó có thể thuê những đảng viên khác làm ôsin giúp việc trong nhà mình.
Tôi không biết những đảng viên có mức đóng đảng phí thấp có yên tâm, giữ vững ý chí chiến đấu và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa của mình với tình cảnh chênh lệch về sự đóng góp đó không, hoặc có giải thích mức đóng đó bằng giá trị lòng thành như trong câu chuyện kể trên không. Chắc là khó, vì như đã có lần một vị lãnh đạo đảng cao nhất đã nói rằng đảng viên mà không biết làm giàu để làm gương là có tội; dĩ nhiên cách làm giàu được gắn vào cái đuôi chính đáng, song mấy chục năm nay chưa ai xác định sự chính đáng đó là gì và vị lãnh đạo đó cũng không biết được một chân lý của lịch sử người rằng mọi sự giàu lên trong một xã hội nghèo đều có bản chất không chính đáng, thậm chí có người còn gọi là ăn cắp.
Riêng tôi thì xin được nói thật là chẳng yên tâm chút nào. Sau gần nửa thế kỷ tính từ ngày cách mạng chuyển hướng sang mục tiêu giai cấp, công hữu hoá mọi tài sản, tước đoạt quyền tư hữu hàng nghìn năm của nhân dân, tốn rất nhiều xương máu, tiền của đất nước, để tìm đường đến một xã hội được giả định là không giai cấp, bình đẳng, hết phân biệt giàu nghèo, ra đường thấy đồng tiền rơi không nhặt làm gì… để đến bây giờ, về lý luận thì vừa đi vừa tìm đường, về thực tế thì ngay mức đảng phí, một nghĩa vụ có tính cộng sản rất cao, cũng khác nhau. Tôi, cho rằng là một đảng viên có mức đóng thấp, thấy rõ rằng, những đồng chí có thu nhập cao của tôi, là những người đang rất có quyền, và có nhiều tiền để có thể cho con cái của họ học tập đến nơi bằng chính đôi chân của những cô chiêu cậu ấm ấy, thậm chí đi học ở các nước tư bản giẫy chết, để rồi khi trở về, họ có toàn quyền và thế để kế cận sự nghiệp cách mạng cha anh họ, đưa đất nước tiến lên cộng sản chủ nghĩa. Tôi tin điều đó từ kết quả của đại hội đảng lần thứ XI vừa qua.
Còn con cái chúng tôi thì chắc không lấy gì vinh dự với tấm lòng thành cỏn con của bố mẹ trong mức đảng phí hàng tháng, và vì hoàn cảnh, chúng cũng chỉ biết tìm một cái chùa, không phải để trải tấm lòng thành truyền thống, mà là để quét lá đa. Một vạn năm nữa – tức là muôn năm, dẫu đất nước có thành chủ nghĩa xã hội, chắc chắn của cải và thành trì quyền lực luỹ kế kia của các đồng chí lãnh đạo của tôi sẽ không bị ai tước bỏ được, và bản thân các vị ấy cũng không sẵn lòng nộp lại cho nhân dân.
Lệ Dân

Từ Cách mạng Khoa học Công nghệ đến Cách mạng Nhân quyền

I. Từ Cách mạng Công nghệ

Tính đến nay, chỉ mới 24 năm kể từ ngày hệ thống điều hành máy vi tính cá nhân Windows của công ty Microsoft chào đời năm 1986, nhưng cuộc cách mạng công nghệ vi tính đã làm thay đổi diện mạo cả thế giới này (1). Trong những năm cuối của thập niên 80 và đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, máy vi tính cá nhân vẫn là những thứ xa xỉ với người dân trong xã hội – kể cả ở các quốc gia phát triển. Vào thời điểm đó, máy vi tính chỉ dùng trong công việc nghiên cứu khoa học, giảng dạy, hay các ngành sản xuất công nghệ cao bởi vì giá thành máy vi tính ở vào thời điểm đó quá cao cũng như phần mềm áp dụng (application software) không có nhiều.
Vào những năm đầu thập niên 80 ở thế kỷ XX, máy vi tính cá nhân rất thô, cồng kềnh, và những cơ phận bên trong như bảng mạch chủ (motherboard), bộ xử lý trung tâm (central processing unit – CPU), bộ nhớ (Random-access memory – RAM), ổ cứng (hard disk drive – HDD) còn rất hạn chế về dung lượng, tốc độ xử lý, và cũng như chất lượng. Năm 1984, công ty IBM sản xuất ra loại máy vi tính cá nhân hiệu AT với bộ xử lý vi mạch do công ty Intel chế tạo là chip “Intel 80286 microprocessor” với tần số chỉ có 6MHz (2). 9 năm sau, vào năm 1993, công ty Intel – một công ty chuyên sản xuất CPU cho máy vi tính cá nhân hàng đầu thế giới đã trình làng với bộ xử lý vi mạch mới mang tên Pentium với tần số lên đến 60MHz – nghĩa là gấp 10 lần của bộ vi mạch xử lý năm 1984 và từ đây đã mở ra một kỷ nguyên mới trong ngành công nghệ vi tính và công nghệ thông tin (3).
paul_and_bill.jpgPaul Allen và Bill Gates – ngày 19 tháng 10 năm 1981
Ngày nay, dung lượng và tốc độ xử lý của những cơ phận chính để lắp ráp máy vi tính cá nhân (gồm cả máy để bàn và máy xách tay) như bộ mạch chủ, bộ vi mạch xử lý, bộ nhớ, và ổ cứng được tính bằng đơn vị GB (tỉ) chứ không phải là kB (ngàn) hay MB (triệu) như vào thời điểm cách đây hai thập kỷ. Chất lượng của máy vi tính cũng được nâng cao do sự cạnh tranh khốc liệt để chiếm lĩnh thị trường giữa các công ty sản xuất máy vi tính hàng đầu thế giới như Dell, HP, Sony… và nhiều công ty khác.
Ngoài ra, giá thành của máy vi tính cũng tương đối dễ chịu với người tiêu dùng trong khoảng thời gian 10-15 năm trở lại đây. Bởi thế, ngày nay chúng ta có thể thấy máy vi tính cá nhân hiện hữu khắp mọi nơi và có thể nói là thứ không thể thiếu trong đời sống con người. Cộng với sự phát triển ở một tốc độ chóng mặt trong ngành chế tạo vi mạch điện tử, ngày nay máy vi tính nhìn nhỏ gọn, đẹp, và đầy đủ các phần mềm áp dụng nên sự hữu ích của máy vi tính đối với đời sống con người tăng lên gấp bội.
Ngoài những thành công mang tính chiến lược của những công ty chế tạo chip hàng đầu thế giới như Intel và AMD trong khoảng thời gian 1990 – 2000 đã đưa ngành công nghiệp sản xuất máy vi tính sang một kỷ nguyên mới. Sự ra đời của internet (mạng) được chào đời năm 1995 để kết nối các máy vi tính với nhau đã làm thay đổi hoàn toàn đời sống thường nhật của con người trên trái đất này. Theo chân của phát minh internet, những công ty như yahoo, google, ebay, và amazon… đã ra đời đã khiến trái đất này trở thành quá nhỏ bé đối với con người – cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Ngày nay, bạn có thể sống ở Mỹ và mua một món hàng ở tận bên Nga mà chỉ tốn chừng vài phút. Với sự hỗ trợ của google, bạn có thể tìm hiểu lịch sử của người Inca ở Nam Mỹ mà không cần phải rời một ngôi làng nhỏ bé nào đó tại Việt Nam. Ngồi ở một quán cà phê – internet ở Hà Nội, bạn có thể đọc những tài liệu viết về những người đã sống cách đây nhiều thế kỷ và ở khắp cả 5 châu chứ không giới hạn ở một nơi nào. Chỉ cần vài phút, bạn có thể phát hiện căn bệnh “tự sướng” của tay phóng viên XYZ thuộc tờ báo nào đó trong nước mà không cần đi Mỹ, hay đi Đức để tìm bằng chứng. Chỉ một cái nhấn của con chuột, bạn có thể gởi thư cho người quen, hay bạn bè sống mãi tận bên Nga mà không phải tốn tiền tem hay thời gian đi ra bưu điện – và tất nhiên là lá thư của bạn sẽ đến tay người nhận trong vòng dăm bảy phút.
Trên đây chỉ là một vài minh chứng sự ảnh hưởng của Khoa học Công nghệ đến đời sống của con người ở thế kỷ XXI này. Vâng. Không có gì là quá đáng nếu nói rằng cuộc cách mạng Khoa học Công nghệ đã làm thay đổi đời sống của chúng ta – không từ một ai và đang sống ở đâu trên trái đất. Nhưng chưa hết, cuộc cách mạng Khoa học Công nghệ tạo ra một cuộc cách mạng khác và cuộc cách mạng mới này cũng làm thay đổi diện mạo cả thế giới này. Đó là cuộc cách mạng Nhân Quyền.

II. Đến Cách mạng Nhân Quyền.

Sau khi chiến tranh Thế giới thứ II kết thúc, cơ quan Liên Hiệp Quốc – United Nations đã ra đời vào năm 1945. Tôn chỉ tối thượng của cơ quan Liên Hợp Quốc là để giúp các quốc gia trên thế giới xích lại gần nhau thông qua những điều luật chung của Quốc tế, để giải quyết những xung đột giữa các quốc gia có thể dẫn đến đe dọa nền An ninh của Thế giới, để giúp phát triển Kinh tế ở những quốc gia còn lạc hậu, để giúp đỡ các vấn đề Xã hội, Nhân quyền, và tạo ra nền Hòa bình chung cho cả Thế giới (4).
Ngày 12 tháng 10 năm 1948, Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đã được Liên Hiệp Quốc được phê chuẩn hòng bảo đảm mọi công dân trên trái đất này có được cuộc sống tốt đẹp hơn – không cần biết người đó sống ở tại đâu, mang quốc tịch nước nào, hay theo tín ngưỡng tôn giáo nào. Có thể nói, Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đã được Liên Hiệp Quốc được phê chuẩn vào ngày 12 tháng 10 năm 1948 là một trong những văn kiện quan trọng nhất của thế kỷ XX vì nó là nền tảng để xây dựng xã hội mà không có sự phân biệt giữa người và người trong xã hội –hay bị xã hội ruồng bỏ bởi giới tính hay tín ngưỡng.
Trong khoảng thời gian chiến tranh thế giới thứ II xảy ra và kết thúc, nhiều quốc gia thuộc địa ở châu Phi, châu Á, và châu Mỹ đứng lên làm cuộc cách mạng giành độc lập. Những cuộc cách mạng giành độc lập của các nước thuộc địa đã hạ huyệt chủ nghĩa thực dân và đem Tự Do và Dân Chủ đến cho người dân ở những quốc gia thuộc địa.
Điều đáng buồn là ở tại một số quốc gia ở trên thế giới, chế độ bù nhìn và chế độ phong kiến được thay thế bởi những chế độ độc tài. Do đó, người dân ở những xứ sở này năm xưa bị áp bức bị bóc lột bởi chủ nghĩa thực dân thì giờ đây lại bị áp bức cũng như bị bóc lột bởi người mà chính họ đã đổ xương máu để gầy dựng nên. Và tất nhiên, năm xưa khi còn chế độ thực dân thì người dân ở những quốc gia này có thể đứng lên đánh đuổi bởi tinh thần Dân tộc cũng như có một lý do chính đáng. Nhưng lúc này thì không. Bởi người cai trị của họ hôm nay chính là “phe ta” chứ không phải là “phe địch”!
Điểm thường thấy ở những chế độ độc tài là thường dùng những chiêu “thắt bao tử, nhà tù, khủng bố, không cho tự do ngôn luận và tự do báo chí, bưng bít, ngu dân, và mị dân”! Một khi “bao tử” đói quá thì con người phải đi bằng hai cái đầu gối của mình. Một khi “nhà tù” luôn rộng mở thì mọi người trong xã hội đều sợ hãi hay làm sờn lòng những người trung nghĩa. Một khi bị “khủng bố” thì tinh thần của con người sẽ xuống thấp bởi sợ hãi. Một khi cấm tiệt “tự do ngôn luận và tự do báo chí” thì người dân sẽ không được chỉ trích, phản đối nhà cầm quyền trước những vấn nạn tham nhũng, hay bị cướp đất cướp tài sản. Tệ hơn, những ai dám phản đối, dám chỉ trích có thể bị nhà quyền bỏ tù mà không cần xét xử. Một khi bị “bưng bít” thì người dân trong xã hội không biết những điều gì đã xảy ra bên ngoài. Một khi bị “mị dân” thì những người dân đen –vốn chiếm số nhiều trong xã hội sẽ dễ tin tưởng vào những điều hoang tưởng, sẽ dễ tin tưởng vào những cái bánh vẽ nơi thiên đường hạ giới. Một khi bị “ngu dân” thì đám dân đen trong xã hội sẽ không đủ trí khôn, không đủ sáng suốt để phân biệt đâu là thực, đâu là hư. Từ đó, chỉ cắm cúi đi theo cái lề đường đã có sẵn.
Từ những điều đã trình bày trên đây, không quá khó khăn để nhận ra những chế độ độc tài luôn bị “dị ứng” với Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đã được Liên Hiệp Quốc được phê chuẩn vào ngày 12 tháng 10 năm 1948. Bởi lẽ, những chế độ độc tài đã chà đạp một cách thô bạo lên Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền để tước đi những quyền được sống thiêng liêng của một con người.
Tính đến nay thì các chế độ độc tài trên thế giới đã tồn tại một thời gian hơn nửa thế kỷ. Điều này đồng nghĩa với nhiều thế hệ của các quốc gia đang bị cai trị bởi bọn độc tài đã bị ngu dân, bị tù đày, bị khủng bố, bị bưng bít. Và tất nhiên một khi nhiều thế hệ bị đọa đày bởi những điều trên thì những quốc gia đó sẽ bị tụt hậu so với những quốc gia láng giềng đi theo con đường Tự Do – Dân Chủ – Pháp Quyền. Người dân tại những quốc gia được cai trị bởi các chế độ độc tài thường rất nghèo bởi sự bóc lột từ cả một hệ thống, một bộ máy cai trị. Bởi thế, người dân tại những quốc gia này phải luôn sống trong lầm than đói khổ. Trong khi đó, những người cai trị thì rất giàu do tham nhũng (6).
Dù là độc tài ở châu Phi, châu Á, hay châu Mỹ, và dù là thể chế độc tài 1 người hay là thể chế độc tài tập thể –nhưng các chế độ độc tài thường có một luận điệu luôn rất giống nhau khi nói đến Nhân quyền. Đó là gọi “Nhân quyền phương Tây” để đánh lận con đen, để ám chỉ Nhân quyền này là sản phẩm của Âu Mỹ chứ không phải là Nhân quyền đã được nêu ra trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc. Như vậy, sẽ không còn tính chính danh khi nói đến Nhân quyền. Tiếp đến là kể lể công lao trong công cuộc đấu tranh giành độc lập trước đây. Kể lể kinh tế đi lên, người dân có cơm ăn áo mặc cũng là những điệp khúc thường thấy ở dưới những chế độ độc tài. Kế đến là điệp khúc “dân trí mỗi nơi mỗi khác” nên chưa thể áp dụng Nhân quyền Âu Mỹ… vân vân và vân vân.
Điều khiến chúng tôi buồn cười là, khi nói đến Nhân quyền thì các chế độ độc tài chối đay đẩy những gì đến từ phương Tây. Nhưng khi có ai nói đến tham nhũng thì các quan lại trong những chế độ độc tài thường hay đáp lại rằng “tham nhũng ở đâu cũng có”! Khi ai đó bàn về hiệu quả “gói kích cầu” thì “ờ ờ, ở chính phủ Mỹ cũng đưa ra gói kích cầu”! Khi nói đến nhân quyền thì các chế độ độc tài thường viện dẫn “mỗi nơi mỗi khác”! Thế nhưng khi nói đến tăng học phí, hay tăng giá vật giá thì các chế độ độc tài thường đưa ra “giá cả thị trường, giá điện, xăng dầu của chúng ta vẫn rẻ hơn Lào đó thôi”! Bộ máy tuyên truyền dưới các chế độ độc tài thì “chúng ta là vô địch từ giáo dục, y tế… vân vân” . Nhưng con cái của các “gộc” thì đều tốt nghiệp đại học, thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài!
Những tưởng các chế độc độc tài có thể tiếp tục ngồi mát ăn bát vàng bởi chính sách “thắt bao tử, nhà tù, khủng bố, không cho tự do ngôn luận và tự do báo chí, bưng bít, ngu dân, và mị dân”! Nhưng quả là ông trời đã không dung cho kẻ ác. Cuộc cách mạng Khoa học Công nghệ đã khiến người dân vượt qua được bức tường bưng bít do các chế độ độc tài dựng lên để ngu dân. Người dân sống dưới các chế độ độc tài hôm nay có thể biết được người dân ở xứ văn minh, dân chủ có cuộc sống tốt đẹp như thế nào. Chỉ với một cái nhấp con chuột, người dân có thể biết được những chuyện xảy ra cách xa họ cả ngàn cây số. Qua trang mạng xã hội facebook, những người thanh niên chưa từng biết mặt, chưa từng gặp gỡ nhưng có thể kết bạn và trao đổi những chuyện đang xảy ra quanh họ. Qua điện thoại di động, người dân có thể liên lạc với nhàu mà không cần ra khỏi nhà. Qua email, người dân có thể gởi cho nhau những lời kêu gọi đồng hành mà không cần tốn một giọt mực hay một tờ giấy trắng. Do đó, các chế độ độc tài thường siết chặt internet cũng là điều thường thấy ở những quốc gia được cai trị bởi các chế độ độc tài.
Ngoài ra, ru ngủ bằng kinh tế cũng là cách các chế độ độc tài thường làm. Trong tuần này, nhà vua của Arab Saudis cố gắng xoa dịu người dân bằng cách chi ra 38 tỉ đô la để lo nhà cửa, công ăn việc làm cho người nghèo (7). Thế nhưng, liệu đây có phải là hành động khôn ngoan, là chính sách đúng đắn?
Xin thưa là không. Bởi lẽ, người làm vua của một nước cũng là một con người và người dân thường cũng là một con người. Dẫu cho các chính quyền độc tài có lo cho người dân đầy đủ nhà cửa, cơm no, áo ấm nhưng không cho phép họ được Tự Do trong suy nghĩ –được Dân Chủ trong lời nói. Bảo họ đi đông thì họ đi đông, bảo họ đi tây thì họ đi tây thì thử hỏi họ có còn là Con Người nữa hay không? Hay chỉ là một đàn chim trong lồng kín – được ăn no, phải hót theo ý chủ, nhưng cả đời sẽ mãi không được sãi cánh để bay bổng trong bầu trời. Vậy thì có gì khác người dân ở những xứ này đang bị cầm tù! Vậy có khác gì người dân đang ở những xứ này là một bầy cừu! Đàn gà công nghiệp đang ở trong trại nuôi gà luôn được ăn no, ngủ ấm nhưng chúng mãi là một lũ gà để người ta làm thịt. Bởi thế, ăn no mặc ấm tuy rất quan trọng đối với nhân loại nhưng sự Tự Do Ngôn Luận và Tự Do Tri Thức cũng quan trọng không kém.
Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đã được mở đầu như sau:
[Xét rằng: Sự công nhận nhân phẩm của tất cả con người trong đại gia đình nhân loại và những quyền bình đẳng không thể tước đoạt của họ là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới.
Xét rằng: Hành vi xem thường và chà đạp nhân quyền đã dẫn đến những hành động man rợ, xúc phạm đến lương tâm nhân loại. Việc tiến đến một thế giới trong đó tất cả mọi người được hưởng sự tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn lo sợ hãi và nghèo khó, phải được tuyên xưng như là ước vọng cao nhất của con người.
Xét rằng: Nhân Quyền cần phải được bảo vệ bằng luật pháp, để con người không bị bắt buộc phải sử dụng đến biện pháp cuối cùng là vùng dậy chống lại độc tài và áp bức.
Xét rằng: Mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia cần được khuyến khích và mở rộng.
Xét rằng: Trong Hiến Chương, các dân tộc của cộng đồng Liên Hiệp Quốc đã lại một lần nữa xác định niềm tin vào những quyền căn bản của con người, vào nhân phẩm và giá trị con người, vào quyền bình đẳng nam nữ và cũng đã quyết định cổ vũ cho các tiến bộ xã hội và cải tiến mức nhân sinh trong bối cảnh ngày càng tự do hơn.
Xét rằng: Các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc, nhằm cổ vũ việc tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản.
Xét rằng: Sự hiểu biết chung về nhân quyền và tự do là điều tối quan trọng để có thể thực hiện đầy đủ sự cam kết trên…]
Do đó, người dân đang sống dưới những chế độ độc tài có quyền đòi hỏi những quyền sống căn bản mà đã được Liên Hiệp Quốc công nhận là một điều hết sức chính đáng. Chỉ trong vòng hai tháng mà hai chế độ độc tài đã cắm rễ 21 năm ở Tunisia và 31 năm ở Ai Cập đã bị người dân hai nước này đưa lên giàn hỏa. Và cuộc Cách mạng Nhân quyền cao cả này đang lan tỏa đến nhiều quốc gia khác. Và tất nhiên, với những chế độ độc tài chưa bị “hỏa táng” bởi tham quyền cố vị như Gadhafi của Libya chắc chắn sẽ không có một kết cục tốt đẹp là điều đương nhiên.

III. Thay cho lời kết

Các cuộc Cách mạng đều luôn đem lại những bài học quý báu cho nhân loại. Do đó, cuộc cách mạng Khoa học Công nghệ và cuộc cách mạng Nhân quyền hiện đang diễn ra cũng không là ngoại lệ. Trước khi Microsoft chào đời, IBM là một công ty danh tiếng không có đối thủ. Mải say mê trên hào quan chiến thắng của mình, IBM vẫn giữ lối tư duy cũ kỹ trong chiến lược phát triển, kinh doanh công nghệ nhu liệu của mình. Ra đời từ năm 1986, chỉ chưa đầy 10, Micrsoft của Bill Gates đã đánh bật người khổng lồ IBM ra khỏi lãnh vực nhu liệu một cách ngoạn mục.
Mải say mê với những con số tăng trưởng GDP mà ông cựu Tổng thống Mubarak của Ai Cập đã chắc mẩm người dân nước mình hài lòng với cuộc sống hiện tại.
ai_cap.jpg Tăng trưởng kinh tế của Ai Cập (9)
Nhưng ông Mubarak đã lầm to. Và từ cái sai lầm tai hại này mà chỉ trong vòng 18 ngày đã khiến trang sử 31 năm cầm quyền độc tài của ông Mubarak trở thành quá khứ. Nhưng có lẽ cũng khó trách ông Mubarak đã mắc phải sai lầm này. Bởi lẽ, ông ta sở hữu một tài sản khổng lồ khoảng chừng từ 40 -70 tỉ đô la. Do đó, ông Mubarak không thể hiểu được, thấy được, cũng như biết được đời sống cơ cực của người dân nghèo Ai Cập là điều dễ hiểu.
Ngoài ra, là người luôn tự cho mình là một tổng thống vĩ đại, do dân, vì dân để ông Mubarak có thể ung dung ngồi trên cái ghế quyền lực của mình thì dĩ nhiên là ông Mubarak luôn nghĩ rằng đời sống của người dân Ai Cập luôn tốt đẹp là điều đương nhiên. Mà có lẽ, không chỉ một mình đồng chí “Mu” đang mắc căn bệnh “cỡi ngựa xem hoa và tự sướng” này. Những đồng chí “Mu” khác ở những xứ sở khác cũng có chung căn bệnh này. Có thế, họ mới không cảm thấy xấu hổ khi nói rằng “người dân không có nhu cầu sung sướng”! Có thế, họ mới không cảm thấy xấu hổ khi rao giảng những điều tốt đẹp trên ở trên Thiên đàng với những người dân cùng khổ đang sống trong địa ngục do họ cai quản.
Bài học ngủ quên trên hào quang chiến thắng của IBM năm nào, và bài học những con số tăng trưởng GDP sơ cứng của Ai Cập hôm nay cho thấy sự quan trọng của Tri thức. Nhất là trong thời đại toàn cầu hóa này. Chỉ có Tri thức mới có thể đưa một quốc gia hưng thịnh. Chỉ có Tri thức mới có thể khiến cho Nhà nước vững mạnh. Ngược lại, chà đạp Nhân quyền hay cai trị đất nước bằng chính sách ngu dân thì sẽ đi vào con đường thất bại là điều không thể tránh khỏi. Mà muốn cai trị bằng Tri thức và tôn trọng Nhân quyền thì phải có một Nhà nước Pháp quyền và một Xã hội Dân chủ – đó là con đường duy nhất.
N.T

RÙA HỒ GƯƠM VÀ MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI

àHỘI

Phạm Đình Trọng
Theo BBCVietnamese
Cả xã hội đồng lòng gọi rùa Hồ Gươm là Cụ không phải chỉ vì rùa Hồ Gươm tuổi cao đáng bậc Cụ. Nếu chỉ nhiều tuổi, người ta có thể gọi rùa già Hồ Gươm là đã thỏa đáng. Đồng lòng gọi Cụ Rùa là cả xã hội đã không coi rùa Hồ Gươm thuộc thế giới động vật nữa mà đã coi rùa Hồ Gươm thuộc thế giới thần linh, là hiện thân của thế giới thần linh. Chính vì thế việc cứu chữa cho Cụ Rùa Hồ Gươm đang bị đau yếu mới trở thành sự kiện lớn của quốc dân, của tâm linh, của lòng người và của cả chính trị nữa.
Chỉ là động vật thì rùa này chết đi sẽ thả rùa khác vào thay. Như ông giám đốc, công chủ tịch, ông bí thư này nghỉ sẽ có ngay ông khác thay, có gì quan trọng đâu! Có khi chưa có cớ gì phải nghỉ, nhiệm kì còn dài, sức khỏe còn dai, công việc đang ngon trớn, nhưng đã có nhiều ông khác lăm le muốn thay rồi! Với thế giới trần tục đó, rùa già Hồ Gươm đang bệnh tật có mệnh hệ gì, cũng chẳng cần thả rùa khác vào thay vì trong hồ đã có sẵn hàng ngàn rùa tai đỏ nhập khẩu từ nước ngoài về sẽ thay thế rùa bản địa già yếu! Học thuyết cách mạng vô sản, chủ nghĩa Mác Lê nin được nhập khẩu từ nước ngoài về đang thống trị đất nước này thì rùa tai đỏ nhập khẩu từ nước ngoài về thống trị Hồ Gươm, đâu có sao! Kẻ bất lương còn mong rùa tai đỏ thống trị Hồ Gươm để Hồ Gươm có nhiều rùa cho họ câu trộm!
Nhưng Cụ Rùa Hồ Gươm đang đau yếu lại là Rùa lịch sử, Rùa truyền thuyết, Rùa thần linh. Vì thế phải cứu chữa cho Cụ như cứu ngôi đền thiêng trong đám cháy! Cũng may là Rùa lịch sử, Rùa truyền thuyết, Rùa thần linh Hồ Gươm lại hiển hiện trong thân xác vật thể rùa sinh vật nhìn thấy được. Nhờ thế chúng ta mới biết Rùa thần linh Hồ Gươm phải sống trong rốn đọng rác rưởi, nhơ nhớp của một môi trường tự nhiên và cả môi trường xã hội đầy ô nhiễm làm cho sức khỏe Rùa thần linh Hồ Gươm giảm sút nghiêm trọng, đe dọa đến tính mạng, cần cứu chữa khẩn cấp!
Các nhà khoa học thống kê cho thấy tầm vóc thể xác của con người Việt Nam đang ngày càng to lớn hơn. Con số trẻ em béo phì đang ngày càng nhiều cũng là một thông số về tầm vóc thể xác đang tăng tiến của người Việt Nam.
Sự đau yếu bệnh hoạn của con người xã hội Việt Nam hôm nay còn trầm trọng hơn cả sự đau yếu bệnh hoạn ở thân xác Cụ Rùa thần linh Hồ Gươm!
Nhưng nhìn vào đời sống xã hội thì thấy rõ nguy cơ của đất nước, của dân tộc trước sự nhỏ bé thảm hại và sự đau yếu bệnh hoạn về con người xã hội của người Việt Nam hôm nay. Sự đau yếu bệnh hoạn của con người xã hội Việt Nam hôm nay còn trầm trọng hơn cả sự đau yếu bệnh hoạn ở thân xác Cụ Rùa thần linh Hồ Gươm!
Bước sang thế kỉ 21 rồi mà xe lửa Việt Nam vẫn ì ạch chạy trên khổ đường một mét của đường sắt thế kỉ 19, vừa lạc hậu tội nghiệp, vừa liên tục gây ra tai nạn làm chết chóc, thương tật cho bao người! Nhưng quan đầu ngành đường sắt, quan đầu bộ giao thông vận tải không màng đến nâng khổ đường sắt lên để tăng tốc độ chạy tàu, tăng an toàn cho dân, tăng hiệu quả cho nền kinh tế! Vì tăng khổ đường sắt chỉ phải nhập về mấy thanh ray, mấy đầu máy thông thường rẻ bèo, chỉ là việc giãn rộng làn đường ray do đội ngũ lao động đơn giản trong nước làm, tiền bạc không nhiều, có phết phảy chia chác cũng chẳng bõ bèn gì! Phải làm đường sắt cao tốc hiện đại, kĩ thuật tiên tiến nhất, phải mua toàn bộ từ thiết bị công nghệ đến chất xám thiết kế tổ chức thi công của nước ngoài với hàng chục tỉ đôla! Đã thành thông lệ kinh doanh, đã mua bán là có hoa hồng, chẳng có gì khuất tất! Tiền hàng càng lớn, hoa hồng càng đậm! Thế là quan giao thông hăm hở làm dự án đường sắt cao tốc, đi thẳng lên hiện đại, bất chấp gánh nợ chồng chất đè gãy lưng nền kinh tế đất nước, bất chấp cả nguy cơ thua lỗ của đường sắt cao tốc cầm chắc trong tay! Quan ở cấp triều đình như thế, làm sao đất nước không nguy khốn, làm sao môi trường xã hội không ô nhiễm!
Chủ trương xây đường sắt cao tốc ở Việt Nam
  gây nhiều tranh cãi



Quan đầu tỉnh được phân vùng quản lí lãnh thổ. Rừng quý, đất hiểm phên giậu quốc gia trong tay, quan không lo chăm sóc giữ gìn và khai thác làm lợi cho dân cho nước mà giao béng cho người nước ngoài thuê với giá rẻ như cho không! Quan hệ kinh tế bao giờ cũng phải hai bên đều có lợi. Đất nước mất rừng! Quốc gia mất phên giậu! Người dân mất nơi làm ăn sinh sống! Thiệt hại dồn hết lên đất nước và nhân dân để cái lợi dồn cả cho quan đầu tỉnh! Quan hàng tỉnh như thế, làm sao đất nước không nguy khốn, làm sao môi trường xã hội không ô nhiễm!
Bà già dẫn cháu vào khu vui chơi giải trí. Người chen chúc đông quá, bà già vướng cháu phải nhờ người đàn ông nhởn nhơ đứng gần đó mua hộ tấm vé vào cửa. Người đàn ông mặt mày béo tốt, quần áo bảnh bao, tưởng là một con người văn hóa hào hoa, lịch sự. Nhưng bất ngờ ông trừng mắt nhìn bà già rồi cánh tay ông vung lên giáng xuống bà già tội nghiệp để bà già phải mở to mắt nhận ra ông quan hàng thứ nhì huyện! Nhận ra để rồi biết thân biết phận, không thể láo, sai khiến quan huyện! Quan hàng huyện mà nhân cách thảm hại như thế, làm sao đất nước không nguy khốn, làm sao môi trường xã hội không ô nhiễm!
Quan là hình mẫu của xã hội. Quan lương thiện, con người xã hội hiển hiện rõ trong mọi ứng xử của quan, con người xã hội của dân cũng theo đó hiển hiện trong xã hội, làm chủ xã hội, xã hội sẽ tốt đẹp, tử tế. Ở quan chỉ thấy con người sinh vật, không thấy con người xã hội thì trong xã hội, con người sinh vật sẽ thắng thế, sẽ làm chủ xã hội!
Hai người đi xe máy chỉ va quệt nhẹ, không hề hấn gì. Nếu có con người xã hội trong sự việc đó, một lời xin lỗi là sự việc kết thúc nhẹ nhàng. Nhưng con người xã hội vắng bóng! Mũi dao nhọn vung lên! Một người chết và một người ngồi tù! Đó là hai con vật hung dữ trong hình hài hai con người! Người sửa xe bên đường mang đinh ra đường rải để bán ruột xe giá cắt cổ cho người đi xe bị đinh cào rách ruột xe! Đó là sự kiếm sống của con người sinh vật không biết đến đạo lí của con người xã hội!
Cụ Rùa thần linh Hồ Gươm bị thương tích đau yếu suy kiệt ở thân xác rùa sinh vật. Nhờ thế con người nhìn thấy mà cứu chữa.
Con người Việt Nam hôm nay đau yếu suy kiệt trầm trọng ở con người xã hội và chỉ những con người xã hội mới nhìn thấy sự đau yếu suy kiệt đó.
Quan có quyền lực thì không nhìn thấy sự đau yếu suy kiệt đó! Những người nhìn thấy sự khốn cùng của con người xã hội Việt Nam hôm nay thì không có vị thế xã hội, không có quyền lực nên đành bó tay!
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, đang sống ở TP. HCM, Việt Nam.

SỞ HỮU TOÀN DÂN QUÁ MÙ MỜ

QUÁ MÙ MỜ

LTS: Tại hội nghị tổng kết thi hành Luật Đất đai 2003 ở Đà Nẵng vào cuối năm 2010, Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên nêu quan điểm cá nhân: “Tốt nhất là cho sở hữu tư nhân đất ở vì thực chất đã sở hữu tư nhân rồi mà ta cứ nói là sở hữu toàn dân, thành ra bao nhiêu chính sách ra không rõ!”.
Ngoài quyền sử dụng ghi trên giấy đỏ, Nhà nước đã trao hầu hết các quyền định đoạt tài sản cho người sử dụng đất như quyền chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, cho thuê, thế chấp, góp vốn. Như vậy, có đến 80% nội dung đã là sở hữu tư nhân rồi.
Cương lĩnh 2011 của Đảng đã không còn xác định “công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu” như Cương lĩnh 1991. Nhiều ý kiến cho rằng như vậy là đã “mở” ra cho việc sửa Hiến pháp và Luật Đất đai theo hướng cho sở hữu tư nhân về đất đai. Với mong muốn góp thêm những thông tin đa chiều về vấn đề lớn này, Pháp Luật TP.HCM khởi đăng loạt bài nêu quan điểm riêng của một số chuyên gia xung quanh chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam.
“Sở hữu toàn dân về đất đai có phải có nghĩa là bất kỳ một m2 đất nào trên lãnh thổ Việt Nam cũng là của chung, của hơn 80 triệu người dân Việt Nam?” – luật gia Vũ Xuân Tiến đặt câu hỏi. Thực tế cho thấy hàng triệu thửa đất trên cả nước về danh nghĩa thuộc sở hữu toàn dân. Song hơn 80 triệu dân trong nước không thể thực hiện được một cách tập thể các quyền của chủ sở hữu, họ không thể cùng định đoạt và cùng hưởng lợi.
Khi thất thoát khó quy trách nhiệm
“Quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu là không chuẩn về mặt khái niệm. Vì không rõ toàn dân là ai, những ai có quyền nhân danh Nhà nước để nắm quyền sở hữu đó. Do vậy, trong thực tế, quyền sở hữu này trở nên mù mờ và rất dễ bị lạm dụng” – chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan chỉ rõ.
Theo đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc, sở hữu về đất đai là vấn đề rất hệ trọng. “Trong khi đó, cụm từ “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” theo tôi là hết sức mơ hồ! Ở Quốc hội khóa XI, khi thảo luận về dự thảo Luật Đất đai năm 2003, tôi đã phát biểu thế này: “Quyền sở hữu toàn dân là một thứ hư quyền, là chẳng phải của ai cả. Trong khi đó, về lý thuyết, người dân chỉ có quyền sử dụng đất. Đó là một thứ quyền rất mỏng manh”” – ông Quốc nói.

Ngoài quyền sử dụng ghi trên giấy đỏ, người dân rất có nhiều quyền định đoạt nhà đất của mình. Trong ảnh: Làm thủ tục nhà đất tại xã Bình Chánh, huyện Bình Chánh. Ảnh: HTD
Ông Đào Trung Chính, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Quản lý Đất đai (Bộ TN&MT), cũng cho rằng quy định đất đai là sở hữu của toàn dân nhưng Nhà nước lại là đại diện chủ sở hữu nên khi xảy ra thất thoát hoặc có vấn đề gì thì việc xác định trách nhiệm không được rạch ròi, thường là quy trách nhiệm tập thể. “Như vậy thì không quy trách nhiệm được cho cá nhân. Trách nhiệm của người đại diện của chủ sở hữu như thế nào? Người này là ai? Phải cụ thể chức danh, vị trí chứ không phải là một ủy ban chung chung. Cuối cùng thì chả ai chịu trách nhiệm cả” – ông Chính nêu bất cập.
Tạo ra những khái niệm “giả vờ”
Theo GS-TSKH Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT, ở nước ta, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai hiện nay đã không còn nguyên nghĩa là chế độ công hữu về đất đai. Tức là về bản chất, sở hữu toàn dân về đất đai không còn nữa. Ngoài quyền sử dụng ghi trên giấy đỏ, Nhà nước đã trao hầu hết các quyền định đoạt tài sản cho người sử dụng đất như quyền chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, cho thuê, thế chấp, góp vốn. “Như vậy, có đến 80% nội dung đã là sở hữu tư nhân rồi. Thực tế, quyền định đoạt của người dân đối với đất đai ở ta hiện nay không khác mấy so với quyền sở hữu tư nhân về đất đai ở các nước tư bản. Nhà nước chỉ còn giữ lại quyền quy hoạch sử dụng đất và quyền cưỡng chế thực hiện quy hoạch sử dụng đất như thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho chuyển mục đích sử dụng đất, gia hạn sử dụng đất” – ông Võ phân tích.
Ông Võ cũng chỉ rõ sự không thống nhất về lý luận và thực tiễn đã tạo nên những khái niệm “giả vờ” như quyền sử dụng đất là tài sản của người sử dụng đất, thị trường quyền sử dụng đất, giá trị quyền sử dụng đất… “Sự không rõ ràng về khái niệm dẫn tới khả năng thực thi sai pháp luật” – ông Võ nói.
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cũng phân tích, khi còn danh nghĩa sở hữu toàn dân thì trên mỗi mảnh đất có hai ông chủ: Một ông chủ Nhà nước có quyền sở hữu về nguyên tắc nhưng rất chung chung. Một ông chủ thực sự là người dân hay tổ chức nhưng chỉ có quyền sử dụng đất, tuy nhiên quyền này trên thực tế lại rộng gần bằng quyền sở hữu.
Trong lòng người dân nghĩ khác
Thực tế cho thấy ở nhiều vùng, người dân định cư lâu đời, họ coi đất đai của gia đình là do tổ tiên, ông cha khai phá và sở hữu hàng trăm năm trước để lại cho họ. “Do vậy, dù có quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân thì trong lòng người nông dân họ cũng không nghĩ như vậy. Mặt khác trên thực tế, ngay cả với danh nghĩa Nhà nước thay mặt toàn dân sở hữu đất đai thì sau khi Nhà nước đã giao đất, cho thuê đất, Nhà nước cũng không còn giữ quyền định đoạt hoàn toàn đối với phần đất đó nữa” – bà Lan nói.
“Về mặt pháp lý, hiện người dân chỉ có quyền sử dụng đất thôi. Chúng ta không nói mua bán đất đai, mà nói rằng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nhưng bản chất là việc mua bán đất đai. Đó là một cách nói tránh, làm cho vấn đề hóa ra phức tạp” – ông Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, thẳng thắn. (Còn tiếp)
HOÀNG VÂN
Những kẽ hở lớn
Việc bố trí nhà ở, đất ở cho cán bộ, công chức có nơi còn tùy tiện. Việc quản lý, sử dụng đất công sở của cơ quan nhà nước, tổ chức còn lỏng lẻo. Cụ thể là cho thuê, cho mượn đất, sử dụng đất không đúng mục đích. Cùng với đó, một số tổ chức chưa xác định giá trị quyền sử dụng đất hoặc xác định với giá trị thấp khi cổ phần hóa doanh nghiệp… Những điều trên đã tạo ra kẽ hở lớn để tham nhũng phát triển.
(Trích báo cáo của Bộ TN&MT tại cuộc đối thoại về phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực đất đai tháng 11-2010)

Chưa hiểu hết vấn đề…
Tới Hiến pháp 1980, ta đưa ra chủ trương quốc hữu hóa đất đai. Tức là, biến đất đai trong cả nước, trước thuộc sở hữu cá nhân, thành sở hữu toàn dân, có nghĩa là của Nhà nước, do Nhà nước thống nhất quản lý.
Khi quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, bấy giờ có lập luận là đất đai dù thuộc quyền sở hữu của ai thì đó cũng là thành quả khai phá của nhân dân cả nước, là thành quả lao động chung của cả xã hội. Vì vậy, quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân là chính đáng nhất. Bản thân tôi cũng là người có lúc có trách nhiệm về vấn đề này, thấy rằng bản thân mình chưa hiểu hết vấn đề.
TS NGUYỄN ĐÌNH LỘC, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp

Sự kiện Bắc Phi

Sự kiện Bắc Phi – Trung Đông và nhu cầu bức thiết Tự Do – Dân Chủ ở Việt Nam

Nhân loại đã bước vào thập niên thứ 2 của thế kỷ XXI trong một làn sóng “ Bão nổi lên rồi – từ Bắc Phi lan qua Trung Đông. Từ Iran vang lên tiếng nói căm thù, diệt trừ độc tài. Từ Bắc Kinh cho tới Sài Gòn và cả Hà Nội. Giờ vùng lên sục sôi muôn triệu người. Cờ Tự Do – Dân Chủ phấp phới bay rợp trời cùng toàn dân nổi dậy quyết phá tan bạo quyền. Cùng vùng lên hỡi các đô thị, làng xóm thân thương, ta quyết xuống đường diệt lũ tham quan, tiếng thét vang dội khắp nơi, bão nổi lên rồi” …
2010: Thế giới được ghi nhận là khá yên bình. Chỉ riêng vùng Đông Bắc Á từ những vụ khiêu khích của CS Bắc Hàn mà Bắc Kinh tính toán, đạo diễn đã suýt “vượt ra khỏi tầm tay”. Cũng vẫn còn nhiều điều “may mắn” cho Trung Cộng. Nếu, chiến sự Nam – Bắc Hàn nổ ra thì Trung Cộng sẽ mất hẳn, mất hết “tên lính tiền đồn trung thành và vùng đất mầu mỡ quan trọng nhất” ở phía Đông Bắc. CS Bình Nhưỡng là trung tâm “đối tác đặc biệt trao đổi, trả giá…“ với Cộng Hoà Nga hiện hữu (vùng đất rộng lớn nhất nước Nga – Xiberia đang liên đới), là vị thế “đầu sóng, ngọn gió” đối diện với Nhật Bản, Đài Loan đồng thời cũng là “con tin“ tin cậy nhất để “làm tiền, ăn vạ với Seoul + Washington. Điều đặc biệt khác là “miếng mồi” Bắc Hàn bằng mọi giá CS Trung Quốc phải giữ gìn “bảo kê” nó bởi mỗi năm chỉ đầu tư gần 3 tỷ mà Trung Cộng thu lời lãi đến hơn 30 tỷ USD. Mối lợi ấy CS Bắc Kinh đâu dễ để “sơ xuất”…?
Vấn đề giải Noel hoà bình cho nhà tranh đấu dân chủ, Lê Hiểu Ba đã làm “điên đầu” cho Bắc Kinh cố “nặn, đẻ” ra giải “Khổng Tử” thật trơ trẽn, lố bịch. Và gây “ sóng gió” cho tổ chức quốc tế nhân quyền, khiến tổng thống Hoa Kỳ, Barak Obama cũng đã phải lên tiếng. Trung Cộng đang “nuôi mộng” bá quyền từ nguồn kinh tài vơ vét, cướp bóc trên máu xương, mồ hôi nước mắt của hơn một tỷ dân lành nên đã có số ngoại tệ dự trữ lên tới 1, vài nghìn tỷ USD hiện đang “hung hăng” đòi biến đồng nhân dân tệ thay thế hay đối trọng với đồng Dollar của Mỹ. Cả thế giới đang chờ xem quyết định ?. Hiện tình đất nước Trung Cộng đang trong hiểm hoạ hạn hán nghiêm trọng nhiều vùng đất bình nguyên nay không còn khả năng canh tác, thủ đô Bắc Kinh với nạn nhân mãn vượt quá tải gấp hàng chục lần ( khả năng cư dân hữu dụng của Bắc Kinh chỉ khoảng 12 triệu người). Các biến động khó lường từ các khu vực tự trị, thực chất đây là những quốc gia, vùng, miền đã có lịch sử riêng biệt khác hẳn với văn hoá dân tộc Hán.
Năm 2010 cũng là thời điểm quyết định chuyển hướng chiến lược của Hoa Kỳ từ Iraq – Afghanitan sang Á Châu – Thái Bình Dương mà Biển Đông của Việt Nam đã là cái “lưỡi bò” của Trung Cộng chiếm giữ từ lâu, nay cũng đang trở thành điểm nóng của toàn vùng Asean.
Năm 2010 đánh dấu 20 năm sụp đổ các chế độ độc tài CS Đông Âu và nước Đức thống nhất cũng đã được nhiều nguyên thủ quốc gia tham dự, phát biểu ngay tại quảng trường “Cổng Thành” chia cắt đất nước thành hai miền Đông – Tây hơn 40 năm . Tại đây, nữ Thủ tướng CHLB Đức, Angela – Merkel đã tuyên bố: “Chủ nghĩa Cộng sản đã biến người dân trở thành gian dối” hay cựu Tổng thống Nga, Wladimir Putin tuyên bố: “Kẻ nào tin những gì CS nói là không có cái đầu, kẻ nào làm theo lời CS là không có trái tim”. Sự kiện quốc hội CHLB Nga vừa quyết định quy kết tội ác diệt chủng, sát nhân của tên tội đồ trùm lãnh đạo CS thế giới, Josef Stalin đã làm nức lòng nhân dân Nga và nhân loại tiến bộ toàn cầu. Ngay vấn đề thi hài Wladimir – Ilich Lenin cũng đã được bàn thảo đưa ra khỏi lăng ở khu quảng trường Đỏ ở Moskow.
Vấn nạn xẩy ra thiên tai nắng hạn, mưa giông, lụt lội , bão tuyết khắp năm châu, bốn biển cùng một nền kinh tế, tài chính đang “sáng, ấm” lại, nạn thất nghiệp ở Âu châu vẫn đang đe dọa ở phía trước, chỉ riêng CHLB Đức đã giảm thiểu xuống còn trên dưới 1 triệu người thất nghiệp (còn lại khoảng 3 triệu/ 84 triệu). Tuy nhiên, Pháp, Bồ Đào Nha và một vài quốc gia khác cũng vẫn đang trong tình trạng báo động.
Cả thế giới như bừng thức qua cuộc cách mạng “Hoa Nhài” đã làm rung chuyển Bắc Phi – Trung Đông vang tới Bắc Kinh, Thượng Hải trong công cuộc nổi dậy của toàn dân xuống đường chống tham nhũng, độc tài toàn cầu đã thành công rực rỡ từ Tunisie chuyển qua Ả rập, Lybia… những kẻ cướp hôm qua đang ngồi trên ngai vàng với hàng trăm tỷ Dollar, nay đang chạy tháo thân, trốn chui, trốn nhủi. Nhưng, lưới trời lồng lộng chúng sẽ khó thoát. Làn gió Tự Do – Dân Chủ đang thổi rất nhanh, mạnh đến các vùng đất hoang hoá đội lốt “Thánh chiến” hay còn mang theo cái đuôi khỉ chưa thành người như “định hướng XHCN”. Và, thời gian không xa nữa sẽ cũng quyét sạch tận gốc rễ bọn bạo quyền cùng những đám âm binh khắp nơi trên địa cầu này. Xu thế và quy luật ấy là không thể đảo ngược.
Khởi đầu 2011, Indonesia là chủ tịch luân phiên Asean. Nhưng, đã phải trực diện đối phó với thế lực hữu hình đang nấp trong bóng đen cố tình “bật tín hiệu” qua vụ bắn xẻ ở biên giới Thailan – Cambodia gây nên xáo trộn khu vực mà lý do không có gì mới so với vụ Nam – Bắc Hàn năm 2010, ai hay kẻ nào nổ súng trước ?
Cuộc chạy đua võ trang toàn khu vực Á châu, Úc châu đã và đang khởi động theo cấp độ mới. Một vài nguồn tin đang bán tín, bán nghi: J 20 phi cơ chiến đấu tàng hình, vũ khí mới của Trung Cộng xuất hiện trên một số các phương tiện truyền thông quốc tế. Trung Cộng ngày càng lấn lướt, gây áp lực mạnh xuống phương Nam và dự phóng mở đường hoả xa cao tốc xuyên Đông Dương vươn tới Singapor trong tương lai gần. Bắc kinh “không tiếc tiền” để mua đứt những khoảng đất đai đang giao thời của các chủ nhân tư nhân khắp các châu lục Á – Âu – Phi – Mỹ la tinh hoặc các hợp đồng dài hạn khai thác mỏ, tài nguyên từ Phi châu – Viễn Đông – Trung Đông … Tin tức nhận được từ vùng Đông và Trung Phi đã xuất hiện hàng trăm ngàn “gia đình” được phối ngẫu giữa đàn ông Trung Quốc với đàn bà bản xứ châu lục đen này ở hàng chục quốc gia xa xôi, hẻo lánh như ( Angola, Congo, Etiopie, Somani, Sudan. Chad…) hàng chục ngàn trẻ lai Chineses đã xuất hiện trên đường phố hay các học đường. Đàn ông Trung Quốc đang sinh sống và làm việc ở đây chủ yếu là các phạm nhân, tội phạm được CS Bắc Kinh tạm tha và được nhà cầm quyền Trung Cộng tuyên truyền, vận động, khuyến khích hay ép buộc phải làm đơn tình nguyện để chuyển tới các vùng đất này sinh sống thì sẽ cho phép giảm hạn hoặc xoá án tù. Nếu kẻ nào trong số những tội phạm này tình nguyện cưới vợ, lập gia sinh sống lâu dài ở đây sẽ được nhà nước Bắc Kinh đặc biệt quan tâm, nâng đỡ.
Úc châu: Những ngày cuối năm 2010 đã đối diện với một đợt “ nạn hồng thuỷ” chưa từng có trong lịch sử xứ này. Tuy không gây chết chóc nhiều nhưng thiệt hại về kinh tế khá lớn vì thời gian mưa lũ kéo dài.
Vấn đề an ninh khu vực, phòng thủ và khối quân sự Nam Đại Tây Dương này có thể sẽ hình thành một liên minh quân sự vô địch thế giới của nhiều thập niên thế kỷ thứ XXI. Trong tương lai có thể vượt lên tầm cao mới và vững vàng hơn nữa trong trục chính chi phối kinh tế, an ninh, quân sự toàn vùng Đông – Nam bán cầu . Tinh thần “gió Đông thổi bạt gió Tây” sẽ được khơi dậy. Nhưng, ý nghĩa nội hàm của nó khác hẳn sự tham vọng của Mao Trạch Đông và đảng CS Trung Quốc …
2011 – Cả thế giới đã có 7 tỷ người mà người Trung Quốc đã chiếm gần 1 tỷ 500 triệu. Nếu CS Bắc kinh vẫn tiếp đi theo con đường bạo quyền, độc đảng thì sẽ không có con đường giải thoát nhân bản và không thể tránh khỏi sự sụp đổ trong một ngày không xa. Lệnh cấm vận mua, bán vũ khí với Trung Cộng đang còn hiệu lực. Tuy nhiên, nếu chiến tranh lớn có xẩy ra trong thế kỷ này, chắc chắn không thể ở nơi nào khác mà là tại Á châu, bởi khu vực này đang còn chứa chấp quá nhiều bất ổn, bất đồng và bất bình khó có thể giải quyết qua thương thuyết, thương lượng. Số lượng chính thể độc tài, tàn bạo không giảm, nhiều hệ thống chính trị đang có cấu trúc, thực thi phi nhân bản, phản khoa học trong đó có những kẻ cầm quyền không sinh hoạt và làm việc vì dân, do dân bầu lên, thậm chí họ núp dưới chiêu bài “ nền văn hoá riêng” để chống lại nhân loại tiến bộ, chống lại quyền CON NGƯỜI.
Quy luật gần như bất hủ là tất cả bọn bạo chúa ( độc tài, cộng sản, quân chủ, cuồng tín, quá khích…) luôn tìm mọi mánh khoé quỷ quyệt nhằm cướp đoạt quyền sống căn bản, quyền làm người chính đáng của mỗi con người mà Tạo Hoá đã ban thưởng để chúng thoả chí phè phỡn, nhảy múa trên mồ hôi, nước mắt, máu xương của đồng loại.
Biến động Việt Nam ?
Chính trị: Đại hội XI của đảng CS VN đã diễn ra khá suông sẻ dưới sự chỉ đạo, bảo kê, theo dõi chặt chẽ của Cs Bắc Kinh. Sự kiện Hoàng Bình Quân, bí thư TW đảng phụ trách đối ngoại “bay vòng” qua Cambodia để hạ cánh xuống Bắc Kinh vừa được đích thân trùm CS thiên triều phương bắc, Hồ Cẩm Đào nhận bản báo cáo, tường trình và giao cho huấn thị mới, tiếp theo sẽ là những chuyến đi “con thoi” của cả Ba Đình cùng Thiên Triều, hành vi đó không thể lọt qua được giới quan sát tinh tường về những biến động toàn diện trong tương lai. Những cuộc họp khẩn cấp để đối phó với tình hình bất ổn, giá, lương. tiền, an ninh, quốc phòng. Những cuộc triệu tập khẩn trong “giao ban” để quán triệt chỉ thị, nghị quyết tối mật cho các cán bộ trung, cao cấp, chuyên viên bộ, ngành, địa phương theo từng thuộc cấp về sự kiện toàn dân những quốc gia Bắc Phi – Trung Đông đang nổi dậy, vùng lên lật đổ các chế độ độc tài, toàn trị khiến cho các ngôi vị độc đảng từ Bắc Kinh đến Hà Nội đang rúng động. Cả Bắc Kinh và Hà Nội đều tiến hành họp khẩn, tuyệt mật “Ban Nội Chính” để theo dõi và “nắm chắc” tình hình diễn biến, lập ra phương án đối phó.
Kinh tế: Chỉ vài tuần lễ gần đây mà nhà cầm quyền CS Hà Nội đã phải phá giá đến 2 lần đồng tiền giấy Việt Nam, Nguyễn Tấn Dũng đang đòi giảm thiểu ngân sách hành chánh 5%, Giấy bạc có thể in và phát hành tờ 1 triệu trong một ngày gần đây, nếu không sẽ phải tiến hành đổi tiền. Đồng tiền mất giá và nhập siêu phi mã như hiện nay khiến chế độ này sẽ không thể đứng vững trong vòng 1 tháng nếu Trung Cộng “sao nhãng” quan tâm. Tuy nhiên, số ngoại tệ, vàng, đá quý lại đang tiềm tàng trong túi tư nhân có giá trị đến hàng trăm tỷ USD, mà nhà nước CS tham nhũng vô độ này hoàn toàn không đủ khả năng, uy tín để huy động vào công việc phục hồi kinh tế, xây dựng đất nước. Hiện trạng điện lực đang bị cắt giảm như chưa từng xẩy ra hàng chục năm qua. Các chủ thầu, chủ doanh nghiệp đầu tư tư nhân luôn phụ thuộc vào cơ chế: XIN – CHO của hệ thống chính trị CS độc quyền, tàn bạo. Nhưng các công ty, xí nghiệp quốc doanh thì tha hồ “vung tay” khuynh đảo các nguồn kinh tài bất kể từ đâu đến và bất chấp lời, lỗ …
„ Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có con người Xã hội chủ nghĩa“. Chỉ cần hiểu rõ „định lý“ này đã biết dã tâm và sự lừa đảo của lũ tư bản đỏ (Vậy thì, muốn đi theo kinh tế thị trường (Tư Bản) ắt phải có con người Tư Bản chủ nghĩa. Sự phản mệnh đề này đã đủ sự kết luận: Ðảng cộng sản Việt Nam trước, sau vẫn là một bọn phản động, phản dân, hại nước khôn lường.
Hiện tại CHXHCN Việt Nam đang nhập siêu của Trung Cộng gần 30 tỷ USD/ năm mà xuất khẩu qua Trung Quốc không đạt 5 tỷ USD và đang là một bãi rác thải công nghiệp của các nền kinh tế, khoa học, kỹ thuật, truyền thông của Trung Quốc hay nhiều quốc gia khác. Do đó, kế hoạch hiện đại hoá – công nghiệp hoá của đảng CSVN là một trò đại bịp. Và, cũng chỉ là một trò hề kệch cỡm trước nhân loại tiến bộ.
Xã hội – Cộng đồng: Vấn đề bất ổn do những hành vi bất nhân, bất công, phi lý cùng sự xuống cấp nghiêm trọng của một nền giáo dục, y tế với những sa đọa trong đạo lý, luân thường, toàn cảnh xã hội đã đánh mất văn hoá Dân Tộc Việt và đang đẩy tư tưởng, lối sống bất cần đời, hành xử man rợ giữa cá nhân, con người với cộng đồng, xã hội lâm vào đường cùng của sự bế tắc. Hiện tại, chỉ cần một vài triệu tù nhân hình sự của Trung Cộng được thả vào Việt Nam hay vài triệu tội phạm khác “được phép“ sinh hoạt tự do trên vùng hải phận hay biên giới giáp gianh 6 tỉnh Việt – Trung thì Cộng Ðồng – Xã hội Việt Nam sẽ luôn gặp bất trắc, bất ổn. Do đó, vấn đề triệt hạ nội xâm phải trở nên cấp thiết nhất.
Thể chế độc tài Cộng Sản Việt Nam phải sụp đổ là tất yếu lịch sử:
Đó là quy luật vận hành lịch sử chung của nhân loại, riêng Việt Nam đã được kiểm chứng qua hàng ngàn năm hưng, suy và xin được minh định từ thí dụ trong khoa học tự nhiên: “Một cây mà gốc không „tin“ lá, lá không „tin“ rễ, rễ không „tin“ thân…Cây đó sẽ chết hay phải chết là tất yếu”. Trong khoa học lịch sử: Các triều đại phong kiến Việt Nam ở vào thời điểm suy vong đều có sự tổng hợp tình hình đang diễn ra như Việt Nam hiện nay: Bọn cầm quyền chỉ tính chuyện bán nước + buôn dân + vơ vét của cải, vàng, tiền + tàn phá thiên nhiên + hãm hại dân lành. Tội ác của bạo quyền CS VN đang vượt qua tội ác của Hitler. Ngoài những sự kiện chủ động gây ra chiến tranh để giết chóc và hãm hại hàng chục triệu con người, chúng còn khủng bố tinh thần, lũng đoạn trí tuệ, bức tử thể xác, tâm linh, giết chết các tài năng của dân tộc, biến cả nước thành nhà tù khổng lồ để cai trị, biến con người thành bất nhân, vô cảm và ngay cả “nguyên thủ” chủ tịch nhà nước CSVN , Nguyễn Minh Triết cũng bị biến thành nhân vật chí phèo của thời đại cùng một bộ phận không nhỏ trong cộng đồng dân tộc thành hoang thú, dã thú và mạt nhược trước ánh sáng Sự Thật.
Tương lai Việt Nam:
Các cuộc nổi dậy lật đổ độc tài sẽ không ngừng lại ở bất cứ vùng đất, khoảng trời nào trên khắp thế gian này bởi “bất công, tàn ác với dân chúng và mâu thuẫn nội bộ không thể giải quyết bằng tình người của bọn bạo quyền tham nhũng chuyên cướp của, giết người, buôn dân, hại nước”
Hiện tình Việt Nam đã và đang từng bước hội đủ những yếu tố cần thiết để ánh sáng Tự Do tràn vào và làn gió Dân Chủ ào tới . Khác với các quốc gia Bắc Phi – Trung Đông, nhân dân Việt Nam phải chịu đựng ách độc tài đảng trị của bạo quyền CSVN hại dân, bán nước đã gần 66 năm. Bộ mặt thật hại dân bán nước của tập đoàn CS Ba Đình đã phơi bày trước ánh sáng công lý và sự thật.
- Hơn 65 năm qua, đất nước vẫn nghèo nàn, lạc hậu không theo kịp đà văn minh của nhân loại.
Nhân dân Việt Nam đang bị đẩy đến tận cùng của bất công, oan khuất đói nghèo, hiện tình không còn gì để mất nữa, dân chúng chắc chắn sẽ không còn sợ hãi và sẵn sàng xuống đường. Tất cả đang hội đủ những điều kiện cần thiết để bùng nổ một cuộc “cách mạng Xanh” trong nay mai. Một cuộc cách mạng của quần chúng đứng lên đòi hỏi quyền lợi chính đáng của mình, giành lại quyền tự do, dân chủ và quyền làm chủ thực sự của đất nước.
Bài học lịch sử của Việt Nam nói riêng và các nước chậm tiến nói chung, tiếng nói của giới trí thức, giới trẻ và lãnh đạo tinh thần các tôn giáo luôn được nhân dân tôn trọng. Chính vì vậy mà hàng ngũ sinh viên, học sinh là dường cột, tương lai của đất nước cần sớm nhận ra công lý, sự thật hãy dũng cảm đứng lên tranh đấu, sát cánh cùng các sĩ phu, nhân sĩ yêu nước như Đại Lão HT Thích Quảng Độ đến Linh mục Nguyễn văn Lý, Mục sư Nguyễn Công Chính, Nguyễn Trung Tôn, cụ Lê Quang Liêm… tất cả sẵn sàng xuống đường cương quyết bất hợp tác với nhà cầm quyền CS Hà Nội kêu gọi đình công, bãi thị, bãi khoá… để biểu dương ý chí, quyết tâm của toàn dân Việt Nam.
Lịch sử Việt Nam đã chứng minh rằng, quân đội là những người con yêu quý của nhân dân sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ Tổ Quốc chống giặc ngoại xâm, luôn luôn đứng về phiá nhân dân, sẵn sàng bảo vệ nhân dân trước bất cứ thế lực độc tài, tàn bạo hay bọn nội, ngoại xâm nào. Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay dù đang bị sự khống chế của các chính trị viên hay quân ủy, nhưng một khi bão táp cách mạng đổi đời xảy ra, chắc chắn những người yêu nước ở đó sẽ đủ sự bình tĩnh, mưu lược, sáng suốt để nhận ra kẻ thù của nhân dân đang ở đâu hay những « người lạ », « kẻ lạ », « tổ chức lạ », « lực lượng an ninh, quân sự lạ » đang xuất hiện ở bất cứ nơi đâu, trọng điểm nào trong đất nước Việt Nam để những nòng súng luôn cảnh giác, kịp thời hướng về bảo vệ chân lý “Trung với Nước, Hiếu với Dân”.
Lực lượng cựu chiến binh Việt Nam đâu còn gì để mất sau bao năm chiến đấu, hy sinh nay, bị bọn độc tài tham nhũng tước đoạt, đánh tráo, lừa đảo tất cả mục đích, lý tưởng cao đẹp của một thời trai trẻ phải đổ biết bao máu xương vô ích. Giờ đây, các anh, chị em cần sáng mắt, sáng lòng nhận biết sự bố thí những đồng tiền xương máu nhận được mỗi tháng không phải là của đảng CS làm ra mà do chúng cướp từ mồ hôi, nước mắt của những người dân lao động chân chính.
Một nhóm cầm quyền độc tài đảng trị không thể được coi là TỔ QUỐC – Bọn QUAN THAM chỉ nhất thời – Và, NHÂN DÂN mới là VẠN ĐẠI.
Cuộc cách mạng vũ bão của truyền thông đã chuyển giao cho thế hệ trẻ cùng giới trí thức một loạt vũ khí mới hiện đại bách chiến, bách thắng, vượt cả không gian, thời gian và có sức công phá hữu hiệu gần như tuyệt đối vào các thành trì cố thủ của bọn độc tài, tham nhũng : Quyết « Không cho chúng nó thoát «
Bài học Tunisie, Ai Cập, Lybia…lực lượng vùng dậy đang tận dụng tối đa ưu thế của internet, emailgroups, những Facebook, Bloger, điện thoại di động để truyền bá tin tức, nhắc nhở anh em trong tất cả các lực lượng vũ trang cần thiết và chọn đúng thời điểm hiệu quả nhất đứng về phiá nhân dân, vận động lớp trẻ tập hợp sẵn sàng trên mạng để chờ thời cơ sẽ đến do những tác động toàn diện của đời sống vật chất, tinh thần như vật giá leo thang, đồng tiền mất giá, kinh tế khủng hoảng, thất nghiệp hay việc làm bất ổn đang lan tràn, hay những người bị công an bắt bớ đánh đập, tạm giam giữ. Dân oan hay anh, chị em công nhân, bà con tiểu thương bị an ninh, mật vụ khủng bố, trấn áp …
Sự kiện Bắc Phi – Trung Đông còn là bài học quý báu cần được rút tỉa kinh nghiệm đấu tranh với độc tài CS suốt gần 36 năm của các tổ chức chính trị, đảng phái, tôn giáo hội đoàn ở cả trong và ngoài nước : Yếu tố bí mật, bất ngờ, đoàn kết, quyết tâm cao, phân tán mục tiêu, phân bổ lực lượng, chọn điểm « tử huyệt », lựa nơi phát hoả, cùng phương châm, sách lược thích ứng, tương hợp hoặc tổng lực phù hợp tối ưu với thực tiễn của mỗi giai đoạn đến toàn. thắng …
Khi hiệu lệnh được phát là tất cả bước vào vị trí chiến đấu trong tư thế tự tin, can trường, chủ động và với niềm tin Tất Thắng cùng phối hợp nhịp nhàng, đồng loạt khắp mọi mặt trận trên cả nước cùng một thời khắc. Vấn đề quan trọng là cần đánh trúng, đánh điểm vào những mục tiêu hiểm yếu nhất, buộc đối phương phải bỏ chạy hay đầu thú, hoặc nhận biết được sai lầm của quá khứ để họ trở về đứng cùng phía với nhân dân, nhằm giành thắng lợi từng bước một hay kết hợp tổng lực, dốc sức thần tốc quyết dứt điểm cho đến thắng lợi hoàn toàn và mục tiêu cuối cùng là : TỰ DO – DÂN CHỦ cho mỗi con người và cho toàn thể nhân dân Việt Nam.
Hệ thống cai trị của đảng cộng sản Việt Nam hiện nay với trên 3 triệu đảng viên. Nhưng, chúng không có sự tin cẩn. Và, ngay cả những tên chóp bu của CS Hà Hội với CS Bắc Kinh chúng chẳng bao giờ tin nhau, bởi CS Việt Nam đã bị Trung Cộng ghim trong tim, óc là bọn « ăn cháo đá bát » từ lâu, nên chúng vẫn phải phối trí những mạng lưới theo dõi lẫn nhau chằng chịt như thiên la, địa võng. Nhân dân cả hai nước Việt – Trung cũng cùng chung cảnh ngộ. Do sự bất tín trên, dưới, trong, ngoài xã hội, cộng đồng, dân tộc luôn bất nhất, khó kiểm soát chặt chẽ và một bộ máy an ninh, tình báo dày đặc với biện pháp khủng bố trấn áp từ bao lâu nay đã tạo ra nghi kỵ, e dè, sợ sệt lẫn nhau. Vợ, chồng cha, con, bạn bè, thân tộc, đồng chí luôn nghi ngờ, tố cáo lẫn nhau. Bà con phố, chợ, xóm, làng sợ sệt lẫn nhau gây nên tâm trí toàn dân luôn bất ổn, bất an, hoang mang, ly tán đến cao độ.
Tuy nhiên, một khi đồng bào đã nhận biết được CÔNG LÝ- SỰ THẬT và ngọn lửa yêu nước được khơi dậy từ những điểm bất công bùng lên, thì sự hiệu triệu từ lương tâm con người được hội tụ sẽ thôi thúc hàng vạn, triệu người đồng loạt xuống đường tạo thành một đợt sóng thần cuốn trôi, chôn vùi tất cả những bất công, những rác rưởi tàn dư của chế độ độc tài CS xuống lòng đất.
TỰ DO – DÂN CHỦ là ước mơ và xu thế tất yếu của thời đại, đồng thời là khát vọng cháy bỏng của dân tộc ta. Và, chỉ có một thể chế Tự Do – Dân Chủ mới đảm bảo cho tương lai Việt Nam trường tồn trong Độc Lập – Ấm No – Hạnh Phúc và Phát Triển toàn diện.
Khẩu hiệu trong đấu tranh : Tự Do cho Việt Nam – Dân Chủ cho Việt Nam – Việt Nam Tự Do muôn năm – Việt Nam Tự Do Dân Chủ muôn năm. Độc tài tham nhũng là TỘI ÁC…
Việt Nam Tự Do – Dân Chủ bất diệt !!!
Kính chúc Quý độc giả trong nước, hải ngoại cùng gia đình mạnh khoẻ, phát đạt trong niềm tin một ngày giải thể chế độ độc tài và tất thắng sẽ không xa.
Trần Tỉnh – Lê
Tháng 02-2011

26/2/11

Lãnh thổ giá rẻ

Lãnh thổ giá rẻ

Cứ hễ viết bất cứ một sự thật trái tai gai mắt xảy ra trong nước thì cứ y như là… do “ Thế lực thù địch”…
Tấm biển kèm kế bên do tôi “chộp” được từ báo trong nước – Mặc dù không biết họ in biển đó có ý gì, để làm gì, nhưng tôi thấy nó thật có ý nghĩa để minh họa và làm tựa cho những bài tôi “ copy” “ sao y bản chính” từ các báo của Việt Cộng để bà con mình đọc chơi.
Hôm thứ Ba, ngày 22.2.2011/ 17:40 báo Lao Động phát hành tại Việt Nam có bài:
Thác nước Detian – Trung Quốc – Thiên đường hạ giới
(LĐO) – Nằm ở thị trấn Thạc Long, huyện Đại Tân, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, thác nước Detian (hay còn gọi là thác Đức Thiên) từng được biết đến là một trong 10 thác nước hùng vĩ nhất thế giới và cũng nằm trong danh sách những cảnh quan thiên nhiên tuyệt vời nhất đất nước Trung Hoa.Thác Detian nằm ngang biên giới hai nước Trung Việt, hình thành ba bậc, rộng hơn 100 mét, độ chênh lệch gần 50 mét, phong cảnh vô cùng tráng lệ. Mỗi mùa xuân – hạ – thu – đông, thác Detian lại có một dáng vẻ riêng.
Mùa xuân, hai bên bờ sông Quy Xuân hoa mộc miên (hoa gạo) nhuộm đỏ dòng thác trắng muốt. Mùa hè, tiếng thác nước ầm ầm, xối xả. Đến mùa thu, từng lớp từng lớp ruộng bậc thang bên thác nước ngả màu vàng ruộm, dòng nước trở nên trong vắt. Bước vào mùa đông thì mực nước ở thác hạ thấp, dòng nước phẳng lặng, yên ả.
( Bài này sau vài tiếng thì BBT báo Lao Động gở xuống nhưng, anhbasàm dẫn vô đây…còn y nguyên bằng chứng: Đây là bộ nhớ cache http://laodong.com.vn/Tin-Tuc/Thac-nuoc-Detian–thien-duong-chon-ha-gioi/33564 của Google. )
Híc..Híc…Thác Detian (Đức Thiên ) sao giống y như thác Bản Giốc của Việt Nam vậy ta ( kèm hình để so sánh nha )
Thác Nước Bản Giốc – Việt Nam
Thác Bản Giốc thuộc địa phận xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Bản Giốc là một thác nước cao hùng vĩ và đẹp nhất của Việt Nam, không chỉ là điểm du lịch hấp dẫn mà còn là nguồn thủy điện lớn trong tương lai. (http://dulichvietnam.asia/vn/?product.item.4934 )
Kết luận: Thác Detian (Đức Thiên ) và Thác Bản Giốc là một! Detian – Ban Gioc Falls
Có bản đồ nữa nè…
Coi thêm ông Thứ trưởng bộ Ngoại Giao Việt Cộng – Vũ Dũng tuyên bố:
“… Biên giới là một lịch sử dài nên qua lại xâm canh, xâm cư rất bình thường. Sau Hiệp định 1999 hai nước đang giải quyết vấn đề này. Chỗ nào thuộc về Trung Quốc thì trả về Trung Quốc, phần nào của Việt Nam thì trả về cho Việt Nam. Tuyệt nhiên không được hiểu là ta bị mất đất”. bài trả lời phỏng vấn của các phóng viên Báo Pháp luật Tp.HCM
Hu ..Hu!!…Lãnh thổ Việt Nam đâu có mất, chỉ bán rẻ thôi, coi hình dời cột mốc đây:
thụyvi
( Hầm Nắng, 23 – 2 – 2011 )
Những tài liệu trên trích từ trang Anh Ba Sàm: + Quảng cáo du lịch của Trung Quốc về địa danh Đức Thiên-Detian Waterfall in Guangxi; + Bài gốc: Paradise on earth: Detian Waterfalls in S China; + Ảnh gốc: Paradise on earth: Detian Waterfalls in S China attract visitors; + Trên Nhân dân Nhật báo: Paradise on earth: Detian Waterfalls in S China attract visitors; + Quảng cáo trên trang CRI từ năm 2005: Detian Waterfall; + Trên Wikipedia tiếng Anh, rõ ràng 2 tên này là của một cái thác: Detian – Ban Gioc Falls.