23/1/11

Nhìn lại Hiệp định Vịnh Bắc Bộ sau 10 năm

Dương Danh Huy
Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông
Viết cho BBCVietnamese.com từ Oxford
-
Sau 27 năm đàm phán, hiệp định Vịnh Bắc Bộ được Việt Nam và Trung Quốc ký kết ngày 25/12/2000. Việt Nam được 53.23% và Trung Quốc được 46.77% diện tích Vịnh.
Hiệp định này đã gây ra nhiều tranh cãi giữa người Việt.
Ở một thái cực là quan điểm cho rằng công ước Pháp-Thanh năm 1887 đã phân định toàn bộ Vịnh Bắc Bộ bằng kinh tuyến 108°3’ (đó cũng là quan điểm ban đầu của Việt Nam trong đàm phán), phân định lại là sai và thiệt hại cho Việt Nam. Ở thái cực kia là quan điểm cho rằng hiệp định Vịnh Bắc Bộ năm 2000 là công bằng.
Công ước Pháp-Thanh 1887
Công ước Pháp-Thanh về phân định biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc năm 1887 viết:
Các đảo phía đông kinh tuyến Paris 105 °43, kinh độ đông, tức là đường bắc-nam đi qua điểm cực đông của đảo Tch’a Kou hay Ouan-chan (Trà Cổ) và làm thành biên giới cũng được cho là của Trung Hoa. Các đảo Go- tho và các đảo khác phía tây kinh tuyến này thuộc về An Nam.
Những người Trung Hoa phạm pháp hoặc bị cáo buộc phạm pháp tìm nơi trú ẩn tại các đảo này, sẽ được, theo quy định củađiều 27 của Hiệp định ngày 25 tháng Tư năm 1886, tìm kiếm, bắt giữ và dẫn độ bởi Chính quyền Pháp.
Công ước không nói rằng kinh tuyến 105°43’ Paris, tức là kinh tuyến 108°3’ Greenwich, là ranh giới phân định biển cho toàn bộ Vịnh Bắc Bộ. Bản đồ đính kèm công ước vẽ ranh giới dọc kinh tuyến 105°43’ Paris từ cực đông đảo Trà Cổ ra biển và ngừng cách đảo khoảng 5 hải lý, tức là chỉ cho một phần rất nhỏ của Vịnh.
Vào năm 1887, Pháp, Việt Nam và Trung Quốc không có tuyên bố hay luật về chủ quyền hay quyền chủ quyền bao gồm toàn bộ Vịnh Bắc Bộ.
Luật ngày 1/3/1888 về lãnh hải của Pháp tuyên bố lãnh hải của Pháp rộng 3 hải lý. Nghị quyết ngày 9/12/1926 của chính phủ Pháp áp dụng luật lãnh hải 3 hải lý này cho thuộc địa của Pháp. Nghị quyết ngày 22/9/1936 của bộ trưởng thuộc địa Pháp tuyên bố vùng đánh cá rộng 11 hải lý cho Đông Dương. Những vùng biển đó cách bờ (bao hàm của đất liền và đảo) dưới 12 hải lý.
Tới năm 1958 thì khái niệm về thềm lục địa xa bờ hơn 12 hải lý mới được pháp điển hóa trong công ước quốc tế. Tới năm 1982 thì khái niệm vùng đặc quyền kinh tế xa bờ hơn 12 hải lý mới được pháp điển hóa trong UNCLOS.
Những điều trên cho thấy, vào năm 1887, trong Vịnh Bắc Bộ, Pháp không cho rằng họ có chủ quyền hay quyền chủ quyền trong vùng biển cách bờ hơn 12 hải lý. Cũng không có chứng cớ là vào thời điểm đó Trung Quốc cho rằng họ có chủ quyền hay quyền chủ quyền trong vùng biển này.
Vì công ước Pháp-Thanh và bản đồ đính kèm không nói rằng công ước đã phân định toàn bộ vùng biển trong Vịnh Bắc Bộ, và vì khó có thể suy diễn rằng người ta phân chia cái người ta không cho rằng họ sở hữu, khó có thể cho rằng công ước này đã phân định toàn bộ vùng biển trong Vịnh Bắc Bộ.
Sẽ hợp lý hơn nếu cho rằng kinh tuyến 108°3’ trong công ước chỉ phân chia đảo và phân chia lãnh hải ven bờ. Như vậy, công ước Pháp-Thanh chưa phân định phần lớn Vịnh Bắc Bộ, và việc phân định là cần thiết.
Đường trung tuyến
Hiệp định Vịnh Bắc Bộ bao gồm 21 điểm phân định, trong đó điểm 1 đến 9 là ranh giới lãnh hải 12 hải lý và điểm 9 đến 21 là ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa xa bờ hơn 12 hải lý.
21 điểm đó có công bằng hay không?
Trong phần lớn vùng biển hữu quan trong Vịnh Bắc Bộ, bờ biển Việt Nam và Trung Quốc đối diện nhau. Vì vậy, theo luật quốc tế thì đường trung tuyến có điều chỉnh là nguyên tắc phân định công bằng nhất.
Thông tin chính thức của Việt Nam là:
● Ranh giới trong Vịnh là một đường trung tuyến có điều chỉnh.
● Đảo Cồn Cỏ được 50% hiệu lực, đảo Bạch Long Vĩ được khoảng 25% hiệu lực.
● Tỷ lệ diện tích Việt Nam, Trung Quốc đạt được, 1.135:1, gần bằng tỷ lệ chiều dài bờ biển Việt Nam, Trung Quốc, 1.1:1, cho nên hiệp định Vịnh Bắc Bộ là công bằng.
Tuy nhiên những thông tin trên không đủ để trả lời cho các câu hỏi về 21 điểm trong hiệp định có công bằng hay không.
Theo luật sư Brice Clagett thì việc vạch ranh giới phải dựa trên cơ sở địa lý, và nguyên tắc tỷ lệ chiều dài bờ biển chỉ là một thước đo phỏng chừng cho sự công bằng. Tác giả bài này cho rằng dù tỷ lệ diện tích bằng tỷ lệ chiều dài bờ biển, vẫn có thể tồn tại những sự bất công mà nguyên tắc tỷ lệ chiều dài bờ biển không phát hiện được. Vì vậy cần phải xét đến các khía cạnh địa lý, quan trọng nhất là đường trung tuyến được vạch giữa những điểm nào và ảnh hưởng của các đảo của Việt Nam và Trung Quốc trong việc vạch và điều chỉnh đường trung tuyến – đó là mấu chốt của sự công bằng.
Hiệp định Vịnh Bắc Bộ
Hiệp định Vịnh Bắc Bộ. Nếu vòng tròn với tâm ở một điểm phân định tiếp xúc lãnh thổ Trung Quốc và phủ trùm lên lãnh thổ Việt Nam thì điểm đó nằm gần lãnh thổ Việt Nam hơn.

So sánh khoảng cách từ mỗi điểm 9-21 đến lãnh thổ Việt Nam và Trung Quốc, tác giả nhận xét:
Điểm 9: gần các đảo Vĩnh Thực và Trần của Việt Nam hơn đất liền Trung Quốc khoảng 4 và 6 hải lý.
Điểm 10: gần các đảo Thanh Lam, Cô Tô và Bạch Long Vĩ của Việt Nam các đảo Vị Châu và Tà Dương của Trung Quốc khoảng 7, 7 và 14 hải lý.
Điểm 11, 12: tương đương đương với đảo Bạch Long Vĩ được “dời vào” đất liền khoảng 75% khoảng cách. Mặc dù như thế phù hợp với quan điểm chính thức là đảo được khoảng 25% hiệu lực, nhưng điều đó lại có nghĩa hơn hai ngàn đảo của Việt Nam trong vùng Vịnh Hạ Long và Vịnh Bái Tử Long đã không được hay chỉ được ít hiệu lực trong việc tính hai điểm này.
Điểm 12: gần vùng cửa Ba Lạt của sông Hồng hơn đảo Hải Nam khoảng 3 hải lý.
Điểm 13: gần vùng cửa Ba Lạt của sông Hồng hơn đảo Hải Nam khoảng 10 hải lý.
Điểm 14: gần vùng cửa Ba Lạt của sông Hồng hơn đảo Hải Nam khoảng 20 hải lý.
Điểm 15, 16: gần bờ biển vùng Ninh Bình hơn đảo Hải Nam khoảng 12 hải lý.
Điểm 17: gần bờ biển phía nam Hà Tĩnh hơn đảo Hải Nam khoảng 27 hải lý.
Điểm 18: gần bờ biển phía nam Hà Tĩnh hơn đảo Hải Nam khoảng 3 hải lý.
Điểm 19, 20, 21: phù hợp với đảo Cồn Cỏ được 50% hiệu lực.
Cho đến nay chưa có thông tin chính thức để trả lời các câu hỏi thí dụ như:
  1. Tại sao điểm 9 nằm gần các đảo của Việt Nam hơn đất liền Trung Quốc?
  2. Tại sao điểm 10 nằm gần các đảo của Việt Nam hơn các đảo của Trung Quốc? Nếu sự thật là tất cả các đảo này đã bị bỏ qua trong việc tính điểm 10 thì như thế có công bằng hay không?
  3. Với quan điểm chính thức là đảo Bạch Long Vĩ được khoảng 25% hiệu lực, có vẻ như là hơn hai hàn ngàn đảo của Việt Nam trong vùng Vịnh Hạ Long và Vịnh Bái Tử Long đã không được hay chỉ được ít hiệu lực trong việc tính hai điểm 11, 12. Sự thật là thế nào và nếu đúng là như thế thì có công bằng hay không?
  4. Tại sao vùng cửa Ba Lạt đã không được tính tới trong việc tính điểm 12.
  5. Tại sao các điểm 13, 14, 15, 16, 17, 18 nằm gần đất liền Việt Nam hơn đảo Hải Nam?
Kết luận
Quan điểm phê phán hiệp định Vịnh Bắc Bộ năm 2000 rằng công ước Pháp Thanh 1887 đã phân định toàn bộ Vịnh Bắc Bộ, có vẻ thiếu cơ sở pháp lý.
Ngược lại, quan điểm cho rằng hiệp định Vịnh Bắc Bộ năm 2000 là công bằng, vẫn chưa thuyết phục.
Những nghi vấn tồn tại có thể, nhưng không nhất thiết, có nghĩa hiệp định Vịnh Bắc Bộ là không công bằng. Điều chắc chắn là chưa có thông tin chính thức để giải thích chúng. Tác giả cũng không có giải thích công bằng cho tổng thể các nghi vấn này.
Hướng về tương lai, câu hỏi quan trọng là nếu Việt Nam và Trung Quốc ký kết hiệp định phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ thì các điểm phân định có sẽ nằm gần lãnh thổ Việt Nam hơn lãnh thổ Trung Quốc hay không? Đó là chưa kể đến sự nan giải của tranh chấp quần đảo và vùng biển Hoàng Sa.
Tác giả xin cảm ơn Lê Trung Tĩnh, Phạm Quang Tuấn và Vũ Hữu San về góp ý và thảo luận hữu ích

Dân cửu vạn có sáu điều thỉnh nguyện với tân Tổng bí thư

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhEqcakGlcApSwC21Q-D3AgnZX8Q7j1ywFs8MkDmLVY3B2Vzr9ZiCVLjJNIRf__22NlOBYGGquFe-M8pofE92faAoDFUALOYNRt8Jkm3YnG5odcE9Kvyqn_yohX1NMv3ynJuyk3AQMNnw/?imgmax=800
Đâu chăng tá

-
Thưa bác tân Tổng bí thư
Trước hết xin tự giới thiệu với bác, em khi nhỏ bố mẹ gọi là Thằng cu Tít, lớn lên được bạn bè phong một cái tên rất là oách, là “Đâu chăng tá”, đi bộ đội, được kết nạp vào Đảng ta, và bây giờ làm nghề cửu vạn kiếm sống suốt ngày chầu việc ở cái “chợ người” Giảng Võ, hết việc thì nghe bọn đồng liêu cửu vạn bàn chuyện nhân tình thế thái, chúng cũng ngứa mồm bàn cả việc thiên đình. Chúng em thì trình độ chính trị chỉ cao hơn bọn vịt giời tí ti, nhưng nghe được cái gì thì xin thưa với bác cái đó. Chúng nó cử em đại diện để viết những điều thỉnh nguyện này gửi bác, là tại vì, trong cái hội cửu vạn ở đây, em được bầu là có học nhất hội: Em đã học hết kỳ 1 của lớp 2. Còn chúng nó thì, đứa mù chữ, đứa mới học hết kỳ 2 của lớp 1.
Thay mặt anh em đồng liêu cửu vạn, chúng em xin gửi đến tân Tổng bí thư 6 điều thỉnh nguyện sau đây.
Điều thỉnh nguyện thứ nhất, chúng em xin chân thành chúc mừng tân Tổng bí thư đã chính thức nhậm chức sau khi được Đại hội XI bỏ phiếu tín nhiệm. Chúng em mừng thật sự là vì chúng em đã chờ đợi mỏi mắt qua hai nhiệm kỳ đại hội, nay mong có tân Tổng bí thư, hy vọng có tân chính sách để dân đen chúng em được nhờ.
Điều thỉnh nguyện thứ hai, đây là lần đầu tiên Đảng ta có Tổng bí thư là Giáo sư Tiến sỹ. Có lẽ hiếm có một đảng cộng sản nào trên thế giới chọn ra được một vị Tổng bí thư có học hàm học vị cao chót vót như vậy. Thú thực chúng em thì mù tịt, chẳng hiểu Giáo sư Tiến sỹ là cái chi chi, chỉ biết ở làng chúng em, bán ruộng bán nhà kiếm tiền gửi con ra Hà Nội học thì may lắm cũng chỉ kiếm được cái bằng Cao đẳng, Cử nhân là cùng. Chúng em hỏi những đưa đi học, từ Cao đẳng, Cử nhân chúng mày đến Giáo sư Tiến sỹ thì mất bao nhiêu thời gian. Chúng nó bảo phải mất một núi tiền loại 500 ngàn đồng. Ơ hay, mới lạ làm sao: Em hỏi chúng nó hết bao nhiêu năm tháng, mà chúng lại không tính năm tính tháng, mà tính bằng núi tiền. Vì thế mà chúng em kính trọng bác. Vậy thì chúng em xin gửi đến bác một lời thỉnh nguyện: Đương nhiên bác là Tổng bí thư thì phải nói như nghị quyết, nhưng nói thật với bác nhá: ông nội em năm nay đã ngoài tám mươi tuổi. Ông nội em bào cái nghị quyết này đọc hao hao giống cái nghị quyết viết từ 50-60 năm trước đây. Thôi, chúng ta có truyền thống “nói dzậy mà không phải dzậy”. Bác cứ theo nghị quyết mà nói, vì bác là đảng viên, nhưng bác lại là Giáo sư, mà lại Giáo sư triết học hay là xây dựng Đảng gì gì đó, thế thì bác chắc là đọc thông viết thạo cái phép “Biện chứng duy vật” của ông tổ cộng sản Các Mác. Vậy thì bác cố gắng làm những việc biện chứng ích quốc lợi dân sát với tình hình hiện nay, đừng mơ hồ lùi về năm sáu mươi năm trước, còn khi nói, thì bác cứ nói như 50-60 năm trước cũng chẳng sao.
Điểm thứ ba muốn thỉnh nguyện với bác, là hai nhiệm kỳ vừa qua người ta làm rất nhiều việc rước họa xâm lăng vào nhà. Phí công chúng em đổ máu trên chiến trường. Bọn thế lực thù địch suốt ngày ra rả rót vào tai nhân dân quần chúng cách mạng của ta. Chúng nó bảo, bác là thuộc phe “thân của lạ” (ý muốn nói bác thích cái nước lạ). Chúng em chỉ mong Giáo sư hãy chứng tỏ mình không hám cái “của lạ”. Cụ thể là, sau khi nhậm chức, Tổng bí thư Giáo sư nên chọn đi thăm một cái nước không lạ lắm để hùng hồn bác lại luận điệu của chúng. Tiếp đó, phải tìm cách khôn khéo để rút cổ ra khỏi cái gông của nước lạ kia. Và nói như ông Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh, là không để ai thương lượng trên lưng dân tộc Việt Nam. Chắc tân Tổng bí thư còn lạ gì nữa, dân tộc chúng ta vốn có tiếng quật cường, việc gì chứ việc luồn cúi người ngoài thì không bao giờ lịch sử tha thứ. Vì vậy, nếu làm được việc thứ ba mà chúng em thỉnh nguyện, chắc chắn sẽ là việc trọng đại trong nhiệm kỳ của bác mà cả nước ghi công, tất nhiên trong đó có chúng em.
Điểm thứ tư muốn thỉnh nguyện với bác, là hết nhiệm kỳ này bác đừng có đưa cái thằng Nguyễn Phú… vớ vẩn nào đó con bác vào Trung ương nhá. Xấu lắm. Vừa có bài báo trên mạng của thế lực thù địch nó nói xấu lãnh đạo của ta, nó bảo ông ta đưa con trai đi lao động ở Đức năm 1982, khi cậu ấm mới 18 xuân xanh, nghĩa là chưa học hết bậc trung học. Từ sáng tới tối phải tần tảo khắp nơi để tích góp từng cái xe đạp Mifa. Đến năm 1988 cậu ta về nước thất nghiệp. Bài báo về cuộc đởi cậu ấm bị ngắt quãng từ 1988 đến 2000. Đoạn này thì cánh cửu vạn chúng em lại biết tường tận: Cậu ấm suốt ngày lê la ở các quán trà vỉa hè trên đường Giảng Võ, Láng Hạ rao bán mấy côn-tê-nơ xe đạp, xe máy, suốt ngày nói năng lảm nhảm say rượu bét nhè. Vô nghề nghiệp, học lăng nhăng đâu đó, rồi cũng có hai cái bằng Cử nhân khoe với cánh cửu vạn chúng em. Thế là được ông bố dìu dắt làm công tác đoàn, rồi chọn được một cái chức ngon lành là Bí thư một tỉnh ngay sau lúc dân chúng hàng huyện vừa mới kéo nhau lên vây trụ sở tỉnh đường vì hình như công an trót… giết nhầm một thanh niên không đội mũ bảo hiểm thì phải. Rồi từ đó cậu ta đã dùng chức vụ này làm bàn đạp để vào Trung ương. Không phải một trường hợp ấy đâu mà nhiều vị trong Bộ Chính trị hiện nay đều đua nhau, có con cháu được bầu vào trung ương đợt này, nhằm làm chỗ thế chân mình khi hết khóa. Họ cứ tưởng thế là đắc sách lắm, nào là được đề cử ở hội trường chứ mình có giới thiệu đâu… Nhưng giới cửu vạn chúng em thì cười ha hả, thấy trước cái xu “thế Triều Tiên hóa” hình như đã không xa với đất nước nữa rồi. Cứ xem các cụ Duẩn, cụ Đồng, cụ Giáp, cụ Trường Chinh và nhiều cụ khác nữa thuộc thế hệ học trò trực tiếp của Bác Hồ, nào có hề có người nào làm cái việc lo lót chỉn chu kiểu ấy – đó mới xứng đáng là nhân cách của lãnh tụ với tầm nhìn xa vì lợi ích đất nước, dân tộc, mà không khoanh vào chút bả vinh hoa phú quý của riêng gia đình con cháu nhà mình chứ. Chỉ mong tân Tổng bí thư sẽ không lặp lại cái việc làm để miệng tiếng người đời như thế.
Điều thỉnh nguyện thứ năm. Xin tân Tổng bí thư hàn gắn vết thương dân tộc, cái vết thương rạn nứt từ ngày Đảng ta làm cuộc cải cách ruộng đất. Không biết trong nhà Tổng bí thư có ai thuộc diện bị mang ra đấu tố, rồi bị liệt vào “ngụy quân ngụy quyền” không. Tôi nghĩ là có, vì những cuộc chiến tranh diễn ra triền miên trên đất nước ta đã gây chia rẽ dân tộc vô cùng lớn, nó len lỏi vào từng gia đình ngõ xóm. Có một bộ phận rất lớn trong dân tộc không thích cộng sản, không hề mê cái lý tưởng xã hội chủ nghĩa mà họ thấy hình như chỉ có đâu trên trời chứ có thực ở cõi trần gian đầy nước mắt này đâu. Nếu Tổng bí thư có được cái nhìn quảng đại, không chấp nhất khư khư vào những tín điều, thì toàn dân tộc sẽ được nhờ, mà cái bọn “thế lực thù địch” kia tức khắc sẽ hòa vào lòng dân tộc. Cái được của dân tộc không phải là gần 4 triệu người Việt và tài sản của họ, mà cái được lớn nhất, là từ đây dân tộc sẽ trở thành một khối đại đoàn kết chống nguy cơ xâm lược nhãn tiền mà bọn “nước lạ” đang đe dọa từng ngày từng giờ trên đất nước ta.
Điều thỉnh nguyện thứ sáu, và cũng là điều thỉnh nguyện cuối cùng, là phải giải tỏa thực trạng lộng quyền của Đảng ta. Đảng ta quyền quá lớn, nhưng chẳng có chế tài nào với Đảng ta khi Đảng ta sai lầm. Giết oan hàng vạn người, kể cả đồng chí của mình, … thế mà chỉ đưa ra được một lời xin lỗi, rồi cứ lặp đi lặp lại lời khen Đảng ta đã biết xin lỗi; Đảng vừa bán đất, vừa thanh tra việc bán đất; Đảng tham nhũng, vừa lãnh đạo chống tham nhũng, thì làm sao mà thanh tra bán đất và chống tham nhũng cho đặng? Dư luận xã hội từ lâu đã bức xúc đòi hỏi phải công bố một đạo luật về Đảng. Đảng kêu gọi toàn dân phải sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Vậy mà chỉ trừ có Đảng là được hoạt động ngoài vòng pháp luật, thậm chí ngồi trên pháp luật. Hèn nào mà dân ta đang dần dần… nguyện một lòng theo Đảng sống ngoài vòng pháp luật, xử với nhau theo luật rừng.
Thưa tân Tổng bí thư. Em vài lời mộc mạc thô thiển. Chữ nghĩa của em khí ít. Có điều gì nghịch nhĩ xin tổng bí thư chỉ bảo.
ĐCT
HT biên tập
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Sớm muộn sẽ có sai lầm khi quyền lực trong tay rất ít người

Chắc chắn không có ai là toàn diện cả và trong điều kiện quyền lực nằm trong tay rất ít người thì sớm hay muộn họ cũng gây ra những sai lầm - Học giả hàng đầu nước Mỹ, GS Stephen Walt chia sẻ.

>>Việt Nam không nhỏ bé và lạc lõng bên cạnh Trung Quốc
>>Mỹ - Trung sẽ không bắt tay chia đôi thế giới
>>Không ngại chuyện Mỹ bị nhóm lợi ích Trung Quốc "lobby"
Trung Quốc không phát triển mãi mãi
Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Vậy theo ông, trong vòng ít nhất là 5 năm tới, sự thay đổi của Trung Quốc như thế nào và sự thay đổi đó có có tác động gì tới chính trường Mỹ?
GS Stephen Walt: Rất khó dự đoán sự phát triển của Trung Quốc, tuy nhiên, chúng ta cũng có thể thấy Trung Quốc đang đối diện với những thách thức nội bộ rất lớn. Vấn đề thứ nhất là dân số Trung Quốc đang ngày càng già đi, dân số quá tuổi lao động đang trở thành giánh nặng cho kinh tế xã hội. Một số chính sách giúp nhiều cho sự phát triển của Trung Quốc trước đây nhưng hiện nay đang tồn tại nhiều bất cập, điều này thể hiện qua việc lạm phát đang ngày càng gia tăng của nước này.
Ông đã đề cập tới sự nổi lên của tầng lớp doanh nhân ở Trung Quốc, nếu như tầng lớp doanh nhân này của Trung Quốc mạnh như doanh nhân Mỹ, họ sẽ tác động trở lại với những chính sách của Trung Quốc. Họ là những người kinh doanh nên không muốn Trung Quốc gây thù oán với những nước xung quanh, như thế sẽ gây ảnh hưởng đến công việc kinh doanh của họ.
Vì thế, tôi tin tưởng vào tương lai phát triển hòa bình của Trung Quốc nếu nhìn vào những vấn đề họ đang gặp phải, việc họ phải hành động một cách khôn ngoan, hòa bình và không tổn hại đến những nước xung quanh hoàn toàn có thể xảy ra.
Ảnh: Lê Anh Dũng
Vấn đề đặt ra là, nếu như lãnh đạo của Trung Quốc luôn luôn khôn ngoan và thông minh, và lãnh đạo của Mỹ cũng vậy, rõ ràng chẳng bao giờ chúng ta phải lo lắng. Nhưng việc đó hoàn toàn là bất khả thi. Sớm hay muôn gì thì Trung Quốc cũng gặp phải nhà lãnh đạo hạn chế hay Mỹ cũng gặp phải một nhà lãnh đạo không sáng suốt lắm, những vấn đề và khó khăn sẽ xảy ra. Tôi không lạc quan lắm, tuy nhiên tôi muốn điều tôi nói là sai.
Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Chính trị Mỹ cho phép hạn chế những lãnh đạo kiểu như ông vừa nói, còn với những nước tập trung quyền lực trong một nhóm nào đó và không có sự kiểm soát, hạn chế quyền lực, sẽ dễ xảy ra hậu quả . Vì vậy, nếu Trung Quốc mở rộng dân chủ nhiều hơn thì thế giới sẽ an bình hơn?
GS Stephen Walt: Dân chủ là một cơ chế tốt, tuy nhiên, nó không phải là cơ chế hoàn hảo và có thể sẽ không giúp chúng ta tìm ra những nhà lãnh đạo như mong muốn. Điều có được là có một lãnh đạo tồi thì nền dân chủ cũng sẽ buộc họ phải nghe và nghi nhận ý kiến quần chúng. Khi họ phạm sai lầm, họ có thể nhanh chóng sữa chữa và nếu họ sai phạm nhiều lần không sửa, người dân có thể bỏ phiếu phế truất họ.
Về câu chuyện của Trung Quốc, theo tôi, trong vòng 20 vừa qua, Trung Quốc đã đưa ra các quyết sách rất khôn ngoan và đúng đắn, tuy nhiên, nhiều quyết sách sẽ khiến họ phải trả giá trong tương lai. Ví dụ như chính sách phát triển kinh tế bằng mọi giá đã ảnh hưởng đến môi trường và thiên nhiên.
Chắc chắn không có ai là toàn diện cả và chắc chắn trong điều kiện quyền lực nằm trong tay rất ít người thì sớm hay muộn họ cũng gây ra những sai lầm. Trung Quốc bây giờ đang vấp phải một số sai lầm. Với lý do đó, các nước cũng không nên nghĩ rằng Trung Quốc sẽ phát triển mãi mãi.
Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Sự phát triển nào cũng không phải là mãi mãi, lên rồi lại xuống, xuống rồi lại lên, Trung Quốc bây giờ đang đi lên nhưng vấn đề là đã đến đỉnh hay chưa. Ông tiên đoán sau bao nhiêu năm nữa Trung Quốc sẽ lên đỉnh và xuống?
GS Stephen Walt: Rất khó dự đoán để đưa ra câu trả lời, vì thực chất nước Mỹ cũng có lúc phát triển không có điểm dừng, cho đến năm 2007, thách thức mới thực sự là nghiêm trọng. Trường hợp của Trung Quốc, có thể khoảng 20 - 30 năm tới họ sẽ phát triển với tốc độ chậm lại bởi những hậu quả của phát triển nhanh vừa qua, còn lúc nào họ đi xuống thì tôi không rõ.
Internet là sức mạnh tiềm ẩn
Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Chuyển qua một chủ đề khác khá thú vị, đó là việc internet đã làm thay đổi loài người, thay đổi cán cân quyền lực quốc tế và lý thuyết về quan hệ quốc tế. Vậy, ông có thể đưa ra một lý thuyết mới về quan hệ quốc tế trong nền thời đại Internet , như giáo sư Joseph Nye  đã từng có lý thuyết "quyền lực mềm" ?
Ảnh: doandanchinhdang.hue.gov.vn

GS Stephen Walt: Quả tình tôi rất muốn mình có thể đưa ra một lý thuyết mới, nổi tiếng như Joseph Nye với lý thuyết "quyền lực mềm" của ông ấy. Tuy nhiên, bây giờ tôi vẫn chưa làm được. Nhưng có rất nhiều để nói về Internet.
Internet đã mang lại những cuộc cách mạng trong chính trị. Nó đã tạo ra sự giao tiếp trực tiếp với tất cả mọi người và những lợi thế cực lớn cho kinh doanh cũng như những hoạt động xã hội khác. Nhưng đồng thời nó cũng gây ra những áp lực với chính quyền, vì họ sẽ khó giữ được những bí mật. Wikileaks là ví dụ cực kỳ điển hình.
Khi một sự kiện diễn ra ở bất cứ nơi nào trên thế giới và một người nào đó có thể ghi hình, ngay lập tức, họ giúp cho cả thế giới chứng kiến được sự việc đó. Đấy chính là điều đặc biệt mà internet mang lại.
Ngay tuần này đã có một ví dụ, đó là sự thay đổi chính trị ở Tuynidi. Việc ông Tổng thống không được bầu và buộc phải rời khởi đất nước đều được cả thế giới biết đến và theo dõi. Những điều nay trong vòng hơn 10 năm trước là điều bất khả thi.
Chính quyền không thể đảo ngược xu thế này. Mặt khác, họ phải ủng hộ vì đây chính là toàn cầu hóa với mức độ thụ hưởng và lan tỏa thông tin ngày càng cao. Nhưng đó là câu chuyện lâu dài, trước mắt, vẫn không thể biết được rằng liệu phát triển của internet có thể ảnh hưởng đến sự thay đổi chính trị như thế nào?
Bởi nếu như người dân tận dụng được lợi thế của internet, chính phủ cũng có thể làm được như vậy. Nếu như họ dùng internet vào mục đích làm sao nhãng quần chúng bằng cách tung ra những chương trình mang tính giải trí nhiều hơn là nhận thức, hay là tìm cách áp đặt suy nghĩ lên quần chúng. Nếu biết cách sử dụng một cách khôn ngoan, họ có thể làm được.
Theo nhận thức của tôi, internet là quyền lực cho người dân, nhưng đó là câu chuyện của tương lai xa, chưa phải ngay lập tức.
TBT Nguyễn Anh Tuấn: Vậy tương lai xa có thể là 5 năm, 10 năm nữa và Việt Nam có thể sử dụng internet để tạo ra sức mạnh mới, thông qua internet để liên kết sâu sắc với thế giới và tạo ra một sức mạnh mới cho mình?
GS Stephen Walt: Internet cũng như những cơ chế khác của toàn cầu hóa đang ngày càng tạo ra những điều kiện có thể giúp cho những nước không cần lớn, không cần có quyền lực vẫn có thể ảnh hưởng đến thế giới. Vấn đề đặt ra là không phải là diện tích, dân số mà đó là tri thức, dân trí và chất lượng của nền giáo dục, môi trường tạo điều kiện cho kinh doanh... Cũng chính từ những khả năng mới đó do internet tạo ra, sức cạnh tranh của một số quốc không chỉ là kinh tế, quân sự mà đó là văn hóa để thu hút không chỉ nước mình mà là cả thế giới nữa, và khi đó họ sẽ trở thành một cường quốc.
Điều này nước Mỹ đã làm được, họ tạo ra những thứ như phim ảnh, những thứ văn hóa phổ biến trên thế giới. Như vậy, tôi nghĩ rằng, nếu nước nào tạo ra được những sản phẩm văn hóa cho đất nước đó, họ là cường quốc. Tôi biết, Việt Nam và Vietnamnet, cũng như nhà báo Nguyễn Anh Tuấn đang có tham vọng tương tự.
Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Cảm ơn ông, và cũng mong ông giúp đỡ cho Mạng doanh nhân - trí thức mới ra đời để phát triển?
GS Stephen Walt: Tôi sẽ cố gắng hết sức.
Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Vâng, thời gian cũng đã dài và câu hỏi cuối cùng tôi muốn dành cho ông đó là: Với tư cách chuyên gia quan hệ quốc tế, theo ông làm thế nào để các quốc gia quan hệ với nhau đem đến lợi ích tốt nhất. Có một mâu thuẫn là kinh tế hiện nay đã phát triển, các nước đang ngày càng đi lên, nền văn minh mới tạo cho con người gần nhau hơn. Tuy nhiên, lòng đố kỵ, hận thù trong lòng người, giữa một số quốc gia, giữa một số dân tộc vẫn chưa thể dứt bỏ . Vậy, có cách nào thưa ông?
GS Stephen Walt: Về điểm này tôi xin phép lạc quan một chút, số lượng các cuộc xung đột trên thế giới hiện nay có thể nói đang ở mức thấp nhất trong lịch sử loài người từ trước tới nay. Rõ ràng chúng ta nhìn thấy rất nhiều các cuộc xung đột nhỏ lẻ ở các nơi trên thế giới nhưng nguy cơ về một cuộc chiến tranh lớn sẽ không xảy ra. Ở châu Âu không có chiến tranh, ở châu Á trong tương lai gần chắc chắn cũng không có chiến tranh.
Tuy nhiên, tôi không hiểu được bản chất của vấn đề này cũng như rất nhiều người cũng đang đặt ra câu hỏi và băn khoăn tại sao tình hình bây giờ lại có vẻ tốt hơn so với các thời điểm khác trong lịch sử loài người. Tôi không có một lý giải chính xác nào nhưng tôi có thể đưa ra một số kiến giải, có thể tình hình hiện nay yên bình là nhờ vai trò tích cực của Mỹ ở châu Âu và châu Á, hoặc sự liên kết sâu rộng của các thị trường cũng như sự phát triển dân chủ ở một số nơi trên thế giới.
Đó là tất cả những gì gọi là tin tốt tôi có thể đem đến cho các bạn. Con tin xấu, lịch sử đã chứng minh, mỗi khi cán cân quyền lực trên thế giới có  sự thay đổi và chênh lệch đáng kể, khi ấy, tình hình sẽ không còn giữ được mức độ ổn định nữa. Vì thế, theo dự đoán của tôi, trong những năm tới đây, việc cố gắng hạn chế hoặc ngăn chặn những cuộc xung đột nhỏ lẻ nổ ra ở các nơi trên thế giới sẽ khó khăn hơn nhiều so với những gì chúng ta đã làm được trong 20-30 năm vừa rồi.
Các nước, các quốc gia sẽ phải gắn kết và hợp tác với nhau nhiều hơn để có thể ngăn chặn nguy cơ xung đột có khả năng bùng nổ ở rất nhiều nơi trên thế giới.
TBT Nguyễn Anh Tuấn: Đây là những ngày đầu tiên của năm 2011, cũng chuẩn bị vào năm mới của Việt Nam, một cái Tết đang tới với người dân Việt Nam. Không khí đầu năm bao giờ cũng rất háo hức, rất phấn khởi với nhiều dự cảm mới. Mọi người hy vọng, kỳ vọng những điều tốt đẹp. Xin mời ông gửi lời chúc mừng với người dân Việt Nam nhân dịp năm mới này.
GS Stephen Walt: Tôi xin được gửi lời chúc một năm mới nhiều điều may mắn đến cho nhân dân Việt Nam. Mặc dù Việt Nam cũng như phần còn lại của thế giới đang đối mặt với không it khó khăn cả về kinh tế và ngoại giao, thế nhưng mỗi nước chúng ta đều có thể chọn cho mình con đường đi để thành công. Tôi tin chắc tương lai của Việt Nam rất tươi sáng, tương lai này nằm trong tay chính Việt Nam, Việt Nam sẽ là người quyết định tương lai tươi sáng của đất nước mình. Mỹ cũng như các nước khác ở châu Á chắc chắn sẽ tiếp tục ủng hộ Việt Nam. Tôi hy vọng quan hệ Mỹ - Việt sẽ ngày càng tốt đẹp hơn trong năm tới và trong tương lai.

Cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng làng báo

“Chào mừng” Đại hội đảng XI:
Cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng làng báo
Trềnh A Sáng
  
 1.  Buổi sáng không bình yên của Phạm Đức Hải

 
“Một chiều, anh Ba Đua tê lê phôn cho anh Đức Hải…”

Đã nhiều ngày trôi qua nhưng ông Phạm Đức Hải vẫn còn nguyên cảm giác sởn gai ốc khi nhớ về buổi sáng hôm ấy. Trong sự nghiệp “bỗng dưng làm tổng biên tập” của mình, ông đã không ít lần đối mặt với tình huống éo le, thậm chí nguy nan, nhưng chưa bao giờ sự thể lại đi tới một tầm mức kinh khiếp đến thế.

Đó là buổi sáng ngày 02/11/2010, buổi sáng mà tờ báo Tuổi Trẻ do ông đứng đầu đã có một nội dung khá chấn động. Trên trang nhất là hình ông nghị Nguyễn Minh Thuyết to đùng cùng dòng tít lớn: “Cần thành lập ủy ban điều tra vụ Vinashin”.

Điều tra Vinashin ở đây là điều tra Thủ tướng, tức là một kiểu luận tội Thủ tướng kiểu như đám dân chủ phương Tây!

 
***

Bối cảnh lúc bấy giờ là cuộc họp Quốc hội đang đến hồi nóng bỏng. Phe Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dường như đang bị dồn đến chân tường. Uy tín của ông cựu y sĩ quân đội lung lay tận gốc.

Sau khi bác dự án đường sắt cao tốc do phe ông Dũng đệ trình, Quốc hội còn xới tung vụ bauxite Tây Nguyên và vụ đổ vỡ của Vinashin. Một trận bùn đỏ đâu đó tận bên Hungary tưởng đã nhấn chìm tiền đồ của “3D đệ nhị”. 

Ở Thành phố Hồ Chí Minh - thủ đô kinh tế, tài chính, thương mại của cả nước – một hiệu ứng “anti-3D” đã xuất hiện rầm rộ, với đỉnh điểm là Đại hội đảng bộ IX của thành phố.

Tại đây, Nguyễn Thanh Nghị - con trai của ông Nguyễn Tấn Dũng, đang làm lãnh đạo tại một trường đại học địa phương – chỉ được 15/400 phiếu bầu thành ủy viên. Đặc cách ra Bộ Chính Trị để đề cử ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, ông Nghị cũng chỉ được 2/15 phiếu của các thành viên chóp bu. Chống lại người con Thanh Nghị tức là một cách nói “không” với ông bố Tấn Dũng.

Báo chí - phần lớn được ông Trương Tấn Sang tiết lộ những thông tin này - dường như đoan chắc rằng Thủ tướng đã đến hồi mạt vận, nên các bài tường thuật họp quốc hội cũng chăm chắm vào những vấn đề “anti-3D”, vốn được coi là những đề tài ăn khách, hay như nhà báo trong cuộc Hồ Thu Hồng – tức blogger Beo – từng nói đó là “đề tài sang”.

Sang mà bà Beo nói có nghĩa là “sang trọng”, là “ăn khách”; nhưng “sang” cũng có nghĩa là “Tư Sang”, tức là những chuyện này do ông Trương Tấn Sang xì ra để “đánh” ông Nguyễn Tấn Dũng trong một cuộc chiến quyền lực đang đến hồi gay cấn, không thể khoan nhượng, ai cũng muốn tung chiêu độc hạ địch thủ ở đất kinh đô.
Dông dài một tí để thấy rằng cái trang bìa của báo Tuổi Trẻ vào sáng 02/11 là chấn động, nhưng cũng có những cơ sở vững chắc để nó xuất hiện, chứ không phải là chuyện “bỗng dưng nổi giận đùng đùng” như báo Thanh Niên trước đây với cái tít dại dột và bốc đồng (tất nhiên là lịch sử): “Hãy trả tự do cho các nhà báo chân chính”.

 
***

Buổi sáng hôm ấy, sau cuộc chạy bộ, một cú tắm nước ấm và một bữa sáng nhẹ nhàng, Phạm Đức Hải cầm tờ báo Tuổi Trẻ còn thơm mùi mực in lên, lòng thấy vui vui.

Trong sự nghiệp chuyển ngoặt từ cán bộ Đoàn, Đảng, tuyên giáo sang nắm đầu một tờ báo, ông chưa bao giờ thấy được một khí thế hừng hực như thế ngay tại tờ báo do ông làm CEO. Thậm chí có lúc, báo của ông làm rất tốt nhiệm vụ của một anh tuyên huấn và công an, chẳng hạn như với bài “Chuyện không bình thường” do một nhân viên an ninh văn hóa chấp bút và đề tên một độc giả rồi chỉ đạo báo Tuổi Trẻ đăng cách đây chưa lâu.

Giờ thì báo Tuổi Trẻ - dưới bàn tay của ông – đang tạo một ấn tượng ngoạn mục. Lòng ông hân hoan khi nghĩ rằng ấn tượng đó, bản lĩnh đó chắc chắn sẽ được đặt kèm tên ông.

Một cụm từ kiểu “ấn tượng Phạm Đức Hải”, “dấu ấn Phạm Đức Hải” không tệ chút nào. Tuổi Trẻ xưa nay luôn được gắn liền với tên tuổi Kim Hạnh và Lê Văn Nuôi. Lê Hoàng hoàn toàn không làm nên cơm cháo gì. Thế nên, một “ấn tượng Phạm Đức Hải” được thốt lên giữa lòng độc giả và đồng nghiệp là một viễn cảnh đầy cảm xúc.

Nhưng giữa cơn hân hoan, lòng ông cũng có chút gợn sóng. Báo Tuổi Trẻ đang đi một nước cờ mà tính chất mạo hiểm của nó thật là khó lường. Phe Ba Dũng đang xụ xuống, nhưng nếu một mai, ông ấy “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” thì sao?

Chính trị thật khó lường. Năm xưa Nguyễn Việt Tiến đã xộ khám, tưởng chết đến nơi, ấy vậy mà một mai lại đĩnh đạc trở về, kéo theo bao án tù của nhà báo và công an đối thủ. Nguyễn Việt Tiến chỉ là con tép mà có thể làm được vậy thì giờ đây, một Ba Dũng vốn đầy thủ đoạn, nắm trong tay lực lượng công an, lật ngược thế cờ có gì là bất ngờ.

Mường tượng đến đây, ông Hải thấy chột dạ. Một cơn ớn lạnh chạy dọc cột sống, lên đến đỉnh đầu. Cảm giác bất an lúc ban sơ mơ hồ, nhưng càng rõ rệt hơn sau mỗi phút qua đi.
 
***

Giữa lúc ông Hải đang chìm trong mớ xúc cảm lẫn lộn, chợt chuông điện thoại reo lên.

Tiếng chuông quen thuộc hằng ngày, trong buổi sáng hôm ấy, là một thách thức thần kinh thực sự. Linh tính mách bảo ông đó là một cuộc điện đàm chẳng lành. Ông vừa muốn mở máy, lại vừa muốn lờ đi, không dám đối diện với thực tại. Sau mấy chục giây lừng khừng, ông dạn dĩ mở máy. Một số điện thoại lạ và một giọng nói lạ! Nhưng những lời phát ra từ đầu bên kia thì chẳng còn nằm trong hệ quy chiếu lạ quen nữa - đó là một thông báo thảm họa, một lời của tử thần.

Đầu bên kia, một người từ Hà Nội gọi vào, với lời lẽ trịch thượng. “Nguyễn Minh Thuyết là nguyên thủ quốc gia hay sao ông tương hình to tổ bố lên mặt báo thế? Báo Đoàn Thành phố muốn chống chính phủ hả?”, người kia tung ngay cú đấm chết chóc.

Ông Hải tái mặt, hai tay run cầm cập, đứng trân trối một hồi. Cũng may lúc đấy ông đang ở nhà, và một mình. Nếu không, cái bộ dạng của ông – một con người có vóc dáng nho nhã và nổi tiếng điềm đạm – sẽ là một “ấn tượng Phạm Đức Hải” – cùng tên gọi nhưng mang ý nghĩa đối nghịch với cái ấn tượng mà ông mơ hồ hình dung ban nãy - trước mắt các thuộc cấp tại Tuổi Trẻ vốn đang từng ngày thách thức khả năng làm báo của ông sẽ thật là thảm hại.

Sau cú điện thoại “trời giáng” ấy, ông Hải hối hả lên Lầu Xanh – tức tòa soạn Tuổi Trẻ ở ngã tư Phú Nhuận.

Trên đường đi, ông tranh thủ gọi điện cho một loạt thuộc cấp: Dương Thành Truyền, Vũ Văn Bình, Tăng Hữu Phong, Xuân Trung, Thạch Hãn, Đình Triều, Huy Thọ… Ông đang ở giữa một cơn khủng hoảng và ông cần đến những thuộc cấp này, để ông bớt cô đơn, và có thêm những ý kiến nhằm giải quyết khủng hoảng.

Trong số họ, Hữu Phong là cán bộ đoàn vốn quen với hoạt động hô khẩu hiệu, xếp hàng, nghiêm, nghỉ, tuýt còi và Huy Thọ chưa vững vàng lắm về mặt bản lĩnh, thì những người khác là có thể trông cậy được. Thành Truyền, vốn là bậc thầy về tuyên truyền đoàn hội, có thể đưa ra những giải pháp tháo gỡ tốt. Văn Bình dù không dính líu tới nội dung nhưng cũng có nhiều kinh nghiệm. Xuân Trung là một chuyên gia về nội dung. Thạch Hãn dù hơi kiệm lời nhưng đôi khi cũng có ý kiến hay. Đình Triều dầy thâm niên.

Giữa lúc cuộc họp khẩn sắp sửa diễn ra, Phạm Đức Hải nhận được lệnh miệng từ Ban Tuyên giáo Thành ủy triệu tập tất cả các chủ bút các tờ báo thuộc TP.HCM quản lý lên họp.

Có nhắm mắt, bịt tai thì ông Hải cũng biết được cuộc họp đó bàn về vấn đề gì. Có nhắm mắt, bịt tai thì ông cũng không né tránh được nó. Thế là ông giao lại quyền điều hành cuộc họp ở Lầu Xanh cho Thành Truyền, còn mình tức tốc trực chỉ Thành ủy.

 
***

Tại cuộc họp Ban Tuyên giáo Thành ủy, tinh thần lúc này không phải là bàn tới bàn lui, là những chỉ đạo định hướng, mà là mệnh lệnh.

Mệnh lệnh được ban ra là phải chấm dứt chỉ trích Thủ tướng, Chính phủ, chấm dứt phê phán Vinashin, bauxite… Tường thuật họp Quốc hội là phải đa chiều, trong đó nhấn mạnh những thành tựu đạt được của đất nước, những thành tích điều hành chính phủ của Thủ tướng, của các bộ trưởng… Sắp tới, khi Thủ tướng và các bộ trưởng đăng đàn trả lời chất vấn, báo chí cũng không được làm đậm những mặt tiêu cực, chưa được để làm hoang mang lòng dân, phải nêu bật các thành tựu để lòng dân phấn chấn hướng tới Đại hội XI…

Ông Hải không ngạc nhiên khi thấy nhiều vị lãnh đạo Thành ủy cũng có mặt chứ không chỉ có các cán bộ tuyên giáo như lâu nay. Đó thực sự là một cuộc họp khẩn để xử lý khủng hoảng. Các đồng nghiệp là chủ bút các tờ báo TP.HCM như Pháp Luật TP.HCM, Người Lao Động, Sài Gòn Tiếp Thị, Thời báo Kinh Tế Sài Gòn… cũng biết được tinh thần của cuộc họp ấy. Đa phần nhìn ông Hải bằng những cặp mắt ái ngại và chia sẻ.

Họp xong, ông Hải vừa chạy ra xe vừa gọi điện về tòa soạn lệnh “ban tác chiến khẩn cấp” tiếp tục ngồi đấy để ông có thể chỉ đạo kịp thời phương hướng hành động.

Và sự chỉ đạo của ông đã được thực hiện với một trang bìa Tuổi Trẻ xoay 180 độ vào hôm sau – tức ngày 03/11.

Đó là trang bìa với hình ảnh hai ông nghị “pro-3D” to chình ình, không kém hình nghị Thuyết vào ngày hôm trước. Chỉ khác ở chỗ, tít lớn và những lời nói của hai ông nghị này đều ngược lại hoàn toàn – theo chiều hướng bác bỏ ý kiến nghị Thuyết.

Với cú ngoặt 180 độ này, Tuổi Trẻ đã chính thức thay đổi chiến tuyến – từ Tư sang Ba – không phải từ nhân dân sang chính phủ như nhiều người lầm tưởng.

Sáng sớm 03/11, trên blog của mình, bà Beo – một nhân vật thuộc đám “pro-3D” – đã la toáng lên rằng “chưa bao giờ Tuổi Trẻ có một trang bìa hay như thế”. Đó là một lời reo mừng chiến thắng của bà Beo, khi Tuổi Trẻ quy phục Thủ tướng.

Ông Phạm Đức Hải thở hắt ra, chưa hoàn toàn nhẹ nhõm nhưng ít ra cũng đã tháo gỡ được phần nào nguy nan.

Sáng hôm ấy, Lê Đức Dục, Hà Thạch Hãn… lên Facebook buông những lời ai điếu, rằng làm báo thật là buồn, rằng cháu ngoan Bác Hồ…

Các thành viên Tuổi Trẻ, đặc biệt là những con người trẻ tuổi trong sáng, lại hát lên khúc tự giễu mình: “… Rằng Tuổi Trẻ nó thật lập trường, lập trường hơn cả công an”… như thuở xưa, khi Tuổi Trẻ đăng bài “Chuyện không bình thường” với giọng lưỡi sặc mùi công an.

Tuy nhiên, có một điều nằm ngoài dự liệu của ông Hải và sự suy xét của bà Beo – cũng như nhiều người khác – đó là một pha “xử lý kỹ thuật” của Tổng thư ký tòa soạn Xuân Trung.

Trong các bài tới, chúng tôi sẽ đề cập tới các vị Quang Thông ở Thanh Niên, Công Huynh ở Tiền Phong, Tâm Chánh ở Sài Gòn Tiếp Thị và nhiều người khác; chúng tôi cũng sẽ nói về ảo tưởng Hồ Thu Hồng, số phận Nguyễn Anh Tuấn, cuộc cờ của Trần Đăng Tuấn, những nhà báo “giả cầy” Đà Nẵng. Và tất nhiên, chúng tôi sẽ phân tích pha “xử lý kỹ thuật” của Xuân Trung.

Loạt bài chào mừng Đại hội Đảng XI còn tiếp tục với Phần 2 là những màn đấu đá thượng đỉnh, những cuộc thương lượng, thỏa hiệp sau cánh gà: Chiến dịch đả Ba Dũng của Tư Sang; Quả đắng và sự vớt vát cú chót của Năm Chi; Nông Đức Mạnh bị rút phép thông công; Bá Thanh mạt vận; đòn thù của Nguyễn Xuân Phúc…
 
 2. Cú đấm trong bóng đêm


Nhắc lại, buổi sáng ngày 03/11, báo Tuổi Trẻ đã quay ngoắt 180 độ so với ngày hôm trước. Trên trang bìa, họ chạy tít lớn: “Đừng vì Vinashin mà làm rắc rối thêm tình hình”. Bên dưới là hình hai đại biểu Quốc hội, cùng size với hình ông nghị Thuyết của ngày hôm trước. Chỉ khác là những thông điệp của hai ông này đối nhau chan chát với đề nghị của ông Thuyết.

Đại biểu Nguyễn Đức Kiên (Phó chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng) khẳng định Vinashin không phá sản. Còn đại biểu – tướng Bế Xuân Trường – Tư lệnh Quân khu 1, Bắc Cạn – thì nói rằng không nên lập ủy ban điều tra vụ Vinashin.

Thủ tướng lật ngược thế cờ ngoạn mục!

Dưới áp lực của những cuộc điện thoại, những lệnh chỉ đạo ngầm và nổi, Tuổi Trẻ buộc phải quay lưng lại với chính mình, đem tới những tràng cười sảng khoái cho đối thủ, những lời than thở của người yêu mến họ và sự chán nản của độc giả.

Trong hoàn cảnh bí bách cuối cùng ấy, thư ký Xuân Trung chỉ có thể với vát được tí chút “chất Tuổi Trẻ”. Đó là việc chú thích rõ ràng chức danh chính quyền và quân đội của hai vị đại biểu “pro-3D”.

Ăn cơm thủ tướng, được thủ tướng hoặc người của thủ tướng bổ nhiệm, thì dù là đại biểu quốc hội – mang tiếng là đại diện cho nhân dân, thì trước hết phải phò thủ tướng. Dạng đại biểu này nhan nhản ở Việt Nam, có lẽ nên gọi là đại biểu nằm vùng, tức là ăn cơm chính quyền, về nằm vùng trong nhân dân để chống lại nhân dân, dù được dân bầu.

Cú ngoặt của Tuổi Trẻ đánh dấu đỉnh điểm của cơn ớn lạnh đang chạy dọc sống lưng làng báo Việt Nam thời kỳ tiền đại hội.

Cơn ớn lạnh này không sôi nổi điên cuồng như thời PMU 18 với các ông Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Việt Chiến phải ra tòa và một loạt nhà báo bị rút phép thông công. Cơn ớn lạnh này âm thầm nhưng dữ dội, như một hồ nước mà bề mặt tĩnh lặng còn bên dưới chấp chứa những đợt sống ngầm quẫy đạp.

Trên thực tế, không có một cuộc bắt bớ rầm rộ với những màn buộc tội trắng trợn như ngày nào, nhưng một cuộc bố ráp – đúng ra phải gọi là khủng bố – đang được tiến hành đối với làng báo chí Việt Nam.

 
***

Buổi tối 13/10, thành phố mang tên Bác ồn ào náo nhiệt và nóng bức như mọi khi. Trước cổng số nhà 82, đường Võ Văn Tần, quận 3, một người đàn ông vừa qua tuổi thanh niên, và đã bắt đầu trở nên đẫy đà do những cuộc ăn nhậu tới bến, dừng xe bước vào. Ông đi vội vã, chỉ nháy mắt đã biến vào phía sau cánh cửa nằm dưới tấm biển “Nhà hàng Nhật Hạ”.

Bên trong, một căn phòng VIP với máy lạnh mở sẵn và hai con người ngồi sẵn đang chờ. Ông đảo mắt liếc qua, mỉm cười và chìa tay chào những con người đã mời ông đến nơi này. Những người kia đon đả, coi ông là thượng khách, hỏi anh ăn gì, dùng gì.

Người đàn ông ấy không ngờ rằng những kẻ vồ vập mình lúc ấy lại đang rắp tâm đặt dấu chấm hết cho sự nghiệp của ông và bữa nhậu hôm nay cũng là lần cuối cùng ông được ngồi phòng VIP. Chỉ vài mươi phút nữa, phòng VIP sẽ được thay thế bởi phòng tạm giam.

Giữa lúc cuộc nhậu đang đến hồi cao trào, với những lời đường mật đi kèm những lời bóng gió, thì một trong hai người kia nhảy thẳng vào vấn đề. Đó là khoản lót tay 220 triệu đồng để đổi lấy sự im lặng của người đàn ông đối với công việc làm ăn của tổ chức mà hai người này đại diện.

“Anh cầm tạm, có gì tụi em sẽ bổ sung sau”, người đề nghị vừa nói vừa chìa cọc tiền ra.

Sau một thoáng ngập ngừng, người đàn ông đưa tay hướng về phía những tờ polymer mang hình Bác Hồ đang tươi cười vẫy gọi.

Nhưng cũng chính lúc ấy, nụ cười Bác Hồ vụt tắt, sự vồn vã vụt tắt, thay vào đó là những khuôn mặt lạnh lùng của các đồng chí công an mặc thường phục như từ dưới đất trồi lên. Trong tích tắc, đôi cánh tay người đàn ông nằm gọn trong chiếc còng số 8. Ông bị bắt về tội tống tiền doanh nghiệp.

Tên ông là Phan Hà Bình – tức nhà báo Hà Phan – phó tổng thư ký tòa soạn báo Tiền Phong, tờ báo của tuổi trẻ, của Đoàn thanh niên Cộng sản Việt Nam.

 
***

Những người ngoài cuộc không hiểu sao một nhà báo có phần kỳ cựu như Hà Phan lại dại dột dẫn thân tới chỗ quán xá để nhận khoản tiền lớn như vầy. Đó là băn khoăn chính đáng và dễ hiểu của những người không hiểu ngóc ngách lắt léo của vấn đề.

Sự thực nó nằm ở chỗ, vụ bắt giữ ở nhà hàng Nhật Hạ là kết quả của một kế hoạch được chuẩn bị từ lâu. Nếu như vụ Hà Phan nhận tiền doanh nghiệp là chuyện “bắt tận tay day tận mặt” thì cũng có một sự thực khác: mẻ lưới này đã được những cán bộ an ninh kỳ cựu – dưới sự điều hành của một nhân vật được mệnh danh là “Beria của Việt Nam” – lên kế hoạch từ trước. Vụ bắt giữ tưởng chừng là “tiểu tiết”, “cò con” này là điểm khởi đầu của một kế hoạch phản công ở cấp cao nhất.

Ít ngày sau khi Hà Phan bị bắt, một số nhà báo khác được mời uống trà. Qua các kênh phi chính thức, công an hé lộ khả năng sẽ công bố các đoạn băng ghi âm lời khai của Hà Phan.

Trên blog của mình, blogger Beo – tức Hồ Thu Hồng – Tổng biên tập báo Thể Thao Tp.HCM nhưng đồng thời cũng là kênh phát ngôn không chính thức của công an Việt Nam – đã rêu rao về sự nhục nhã của những người làm báo. Bà bóng gió rằng một khi băng ghi âm lời khai Hà Phan được tung ra thì hàng loạt nhà báo đức cao vọng trọng sẽ trở thành những tấm gương tồi.

Rốt cuộc thì bằng ghi âm không được công an công bố, nhưng vụ việc lại có một diễn tiến hệ trọng khác.

Ngày 9/11, Cơ quan An ninh Điều tra cơ sở phía Nam của Bộ Công An đã gửi trát mời các vị Đoàn Công Huynh, Tổng biên tập báo Tiền Phong (nơi nhà báo Phan Hà Bình công tác), 2 trưởng ban của báo Tiền Phong là Nguyễn Bá Kiên – Trưởng ban Kinh tế và Phùng Công Sưởng – Trưởng ban Thời sự cùng ông Nguyễn Xuân Minh, Phó tổng biên tập báo Sài Gòn Tiếp Thị lên làm việc – thực ra là lên để điều tra và dằn mặt.

Tại cơ quan an ninh, những con người này được tách riêng ra làm việc với những cán bộ điều tra khác nhau. Các nhà báo bị triệu tập rất bất ngờ và ngồi trước họ là những điều tra viên cao cấp từ Bộ Công An, chứ không chỉ là những người ở cơ quan phía Nam này.

Ban đầu, những bằng chứng chống lại ông Huynh – qua lời khai của Hà Phan – được trưng ra. Đó là những lần bổ nhiệm sai của ông với những khoản tiền mờ ám mà ông nhận.

Thế rồi câu chuyện nhanh chóng chuyển hướng.

 
***

“Ai đã cung cấp cho các anh tài liệu vụ Vinashin?”

Giữa căn phòng thẩm cung đặc biệt với máy lạnh mở hết công suất, nhưng ông Đoàn Công Huynh toát mồ hôi. Sau lần áo sơ mi của ông, những giọt nước mằn mặn rơi thánh thót như giọt mưa thu.

Kể từ sau câu hỏi đó, trong vòng nửa tháng liên tục, ngày nào ông Huynh cùng các nhà báo kia cũng phải lên trụ sở cơ quan an ninh để trả lời những chất vấn xoay quanh vụ Vinashin.

Người tra vấn muốn biết ai đã cung cấp cho báo chí thông tin về sự thua lỗ của tập đoàn này mà suốt thời gian qua người ta đã sử dụng để chống lại Thủ tướng Dũng.

Những câu hỏi tua đi tua lại đó cho thấy người hỏi muốn biết thế lực nào đã chống lưng cho báo chí chống lại Thủ tướng Dũng. Thực tế, những người hỏi đã biết đích thị đó là ai, nhưng họ muốn có thêm những lời khai làm bằng chứng để phục vụ cho trận đấu đỉnh cao ở Bộ Chính Trị.

Đến lúc này thì ông Huynh đã biết rõ rằng vụ Hà Phan chỉ là cái cớ, những lần ông bổ nhiệm, cất nhắc sai hoặc những khoản tiền đen mà ông nhận chỉ là cái cớ triệu tập. Thực sự thì người ta muốn điều tra ông về vụ Vinashin.

Một con người cực kỳ nhanh trí, nhạy cảm như ông Huynh – người từng phụ trách mục giải đáp thắc mắc tuổi mới lớn với bút danh Chánh Văn trên báo Hoa Học Trò ngày nào – không mất nhiều thời gian để ngộ ra sự khủng khiếp của vấn đề. Ông thực sự đã trở thành một con tin trong cuộc đọ sức của những gã khổng lồ đang thao túng chính trường Việt Nam.

Khi đã nhận ra sự nhỏ bé mong manh của mình, ông buông xuôi, tuôn ra tất cả những điều mà người hỏi muốn có. Hạ cấp của ông là các trưởng ban Kiên, Sưởng cũng thế.

Lời khai được ghi âm, tức tốc chuyển ra Hà Nội.

 
***

Khi cuộc thẩm tra đối với các ông Huynh, Minh, Kiên, Sưởng đang được tiến hành thì đồng thời phe Ba Dũng cũng tung ra những thông tin úp mở để răn đe báo chí. Đó chính là lời giải thích cho sự quay đầu của Tuổi Trẻ cũng như các tờ báo khác.

Với những thông tin răn đe được tung ra một cách có chủ ý, tổng biên tập của các tờ báo hàng đầu Việt Nam như Phạm Đức Hải của Tuổi Trẻ, Nguyễn Quang Thông của Thanh Niên, Đặng Tâm Chánh của Sài Gòn Tiếp Thị… co rúm lại, không dám ho he điều gì bất lợi cho thủ tướng, cho dù phe Tư Sang vẫn không ngừng bắn tin cho báo chí kèm theo những lời trấn an quyết liệt.

Tuổi Trẻ của ông Hải từ chống Thủ tướng Dũng ra mặt giờ trở thành một tờ báo ba phải, thậm chí làm cái loa tuyên truyền cho ông Dũng.

Tổng biên tập Quang Thông của Thanh Niên vốn là một cán bộ Đoàn thì giữ đường lối trung dung, tăng cường các bài viết về Đảng, về đoàn thanh niên chứ không dám bàn đến những chuyện tiêu cực ở tầm vĩ mô nữa. Thậm chí Thanh Niên còn nêu cao lập trường, hăng hái tố cáo nhân viên ngoại giao Mỹ hành hung công an, tương tự như vụ scandal Tuổi Trẻ viết bài “Chuyện không bình thường” về ông Đại sứ Mỹ Michael Michalak cách đây chưa lâu.

Ở Tuổi Trẻ người ta không còn thấy chất trẻ như cách đây 3-4 năm trở về trước. Ở Thanh Niên người ta cũng không còn thấy sự dấn thân như ngày nào họ từng thể hiện với các vụ Năm Cam, “Hãy trả tự do cho các nhà báo chân chính”… Việc tường thuật họp Quốc hội từ đoạn Thủ tướng Dũng và nội các lên trả lời chất vấn trở về cuối là một màn đồng ca đơn điệu. Những bài viết tiền Đại hội XI và tường thuật Đại hội cũng là những dàn đồng ca đơn điệu, gồm toàn những lời lẽ sáo rỗng như “phát huy tinh thần”, “vươn lên tầm cao”, “bản lĩnh vững vàng”.

Buổi sáng thức dậy, độc giả Việt Nam cầm lên trên tay những tờ báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Người Lao Động, Hà Nội Mới… đã không tin nổi đó chính là những tờ báo mà họ từng yêu quý.

Nếu như ngày xưa người ta từng nói “Báo Nhân Dân là tờ báo mà không một nhân dân nào đọc” thì ngày nay người ta lại nói “Chỉ cần đọc báo Nhân Dân là đủ” vì mọi tờ báo đều là phiên bản của tờ Nhân Dân. Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Người Lao Động, Hà Nội Mới, Tiền Phong… đều là báo Nhân Dân cả.

Một tờ báo và một tổng biên tập được Tư Sang chống lưng, thường có những bài viết đầy chất gây gổ như VNN và Nguyễn Anh Tuấn cũng đã đầu hàng. VNN ưu tiên trang mục cho các vụ cướp giết hiếp, còn Tuấn “nát” thì đau đầu với mấy trò hacker và những tố cáo nội bộ.

Từ một vụ bắt giữ “nhỏ lẻ” nơi quán nhậu, các đạo diễn bên phía Ba Dũng đã làm nên một cuộc phản công ngoạn mục, bắt báo chí phải ngoan ngoãn vâng lời, chứ không chua ngoa như ngày trước, và qua đó có thêm bằng chứng chống lại Tư Sang trong cuộc đua quyền lực.

Đó cũng chính là lúc mà Ba Dũng từ thế bị dồn tới bờ vực với các vụ tàu cao tốc, Vinashin, bauxite… đã bật dậy, trở thành ông chủ của cuộc chơi.

 
***

Sau những cú đánh của phe Ba Dũng, bức tranh toàn cảnh báo chí ảm đạm hơn bao giờ hết. Trong cảnh tang thương ấy, ai cũng đau buồn.

Chỉ có bà Hồ Thu Hồng là hoan hỉ!

Ba Dũng thắng trong nỗ lực thâu tóm báo chí, và quan trọng hơn đã thắng Tư Sang trong cuộc chiến quyền lực. Phần tiếp theo sẽ là những khả năng đi hay ở của tổng biên tập các tờ báo lớn Việt Nam – đặc biệt là những người đã làm công cụ cho Tư Sang chống Ba Dũng những ngày qua.


Nguồn:

20/1/11

Ngày 19 Tháng 1 Trong Sử Sách

Ngày 19 tháng giêng năm nay hẳn là một ngày đáng ghi nhớ đối với một số người. Đó là ngày chấm dứt đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ XI. Một số người ghi nhớ ngày này có thể vì họ vừa bị đá văng khỏi chiếc ghế quyền lực, phải ngậm ngùi ra đi. Ngược lại, một số khác ghi nhớ, và có lẽ họ sẽ mở tiệc liên hoan suốt năm, vì vừa được đảng “cơ cấu” vào bộ phận quyền lực cao nhất nước, thoả mộng “quyền và tiền” đã từng ao ước suốt cả cuộc đời. Bên cạnh đó và quan trọng hơn, ngày này khai sinh một thành phần nhân sự lãnh đạo đất nước mới với toàn những khuôn mặt cũ, mà nổi bật trong họ là sự ngoan ngoãn đối với Bắc Kinh và hà khắc đối với nhân dân. Chính đặc tính này đã khiến người dân Việt Nam thấy hơn bao giờ hết, hiểm họa mất dần đất nước vào tay Bắc Kinh càng hiển hiện và cận kề hơn. Từ nhận thức đó, đối với người Việt Nam thì một ngày 19 tháng giêng khác mới là ngày đáng ghi nhớ. Đó là ngày giỗ trận Hoàng Sa, kỷ niệm trận hải chiến hào hùng của các chiến sĩ hải quân Việt Nam Cộng Hoà 37 năm trước trong quyết tâm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của cha ông để lại. Dù rằng sau trận chiến không cân xứng đó, toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đã bị Trung Cộng chiếm giữ.
Nhân tưởng niệm ngày Giỗ Trận Hoàng Sa, 19/1/1974, hãy cùng ôn lại về trận chiến lịch sử đó.
Lược thuật những diễn tiến chính của trận Hoàng sa
Ngày 16 /1/1974 Tuần Dương hạm Lý Thường Kiệt HQ16 phát hiện một toán quân Trung Cộng treo cờ Trung Cộng trên đảo Cam Tuyền (còn gọi là đảo Robert). Toán quân này được hai chiến hạm trung Cộng mang số 389 và 396 cùng 2 trục lôi hạm mang dố 402 và 407 yểm trợ.
Ngày hôm sau, 17/1/1974, 30 chiến sĩ hải kích Việt Nam Cộng Hoà đổ bộ đảo Cam Tuyền, gỡ bỏ cờ và phá huỷ những dấu tích nguỵ tạo của Trung Cộng trên đảo. Cùng ngày này, Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ4 đến tăng cường cho HQ 16. Phía Trung Cộng cũng có thêm hai hộ tống hạm mang số 271 và 274 đến tăng cường.
Ngày 18/1/1974, Hộ Tống Hạm Trần Bình Trọng HQ5 nhập vùng, sau đó là Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10. HQ 10 chỉ còn một máy khiển dụng nên vận chuyển rất khó khăn và chậm chạp.
Sáng ngày 19/1/1974, hải kích VNCH trên HQ5 đổ bộ lên đảo Quang Hoà (Ducan), ngay lập tức bị lực lượng Trung Cộng đông hơn nhiều lần trong các công sự phòng thủ kiên cố trên đảo nghênh cản dữ dội, làm cho 3 người bị tử thương và hai người khác bị thương. Vì bất lợi, các chiến sĩ VNCH phải rút lui.
Đến 10 giờ 24 phút HQ16 và HQ10 khai hoả vào tàu Trung Cộng. HQ4 và HQ5 cũng khai hoả liền sau đó. Với tương quan lực lượng phiá VNCH 4 chiến hạm (trong đó HQ10 chỉ khiển dụng cầm chừng), đối diện với ít nhất là 8 tàu Trung Cộng (có tài liệu cho rằng lực lượng tham chiến của Trung Cộng lên đến 12 chiến hạm). Trận chiến chỉ kéo dài khoảng 40 phút.
Kết quả là cả hai bên đều bị thiệt hại nặng. Theo sự chứng kiến tại chỗ thì về phía Trung Cộng, Hộ Tống Hạm mang số 271 bốc khói mù mịt rồi bị chìm, một chiếc khác mang số 396 bị trúng đạn nặng phải ủi bãi để không bị chìm. Hai tàu mang số 274 và 389 cũng bị bắn tê liệt. Khi thấy tàu địch bị trúng đạn ngay trong đợt khai hoả đầu tiên, các chiến sĩ Việt Nam đã không hẹn mà cùng hát vang bản « Việt Nam! Việt Nam! » giữa âm thanh chát chúa của lửa đạn. Dù rằng Trung Cộng không công bố thiệt hại của họ, nhưng các nguồn tin độc lập của tây phương sau đó xác định những sự kiện vừa nêu là chính xác. Có lẽ vì vậy mà dù các chiến hạm VNCH đều bị thương tích nặng nề, phải tút lui, nhưng phía Trung Cộng cũng không đủ sức để truy kích.
Về phía Việt Nam, Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10 bị trúng đạn nặng ngay sau khi khai chiến, khiến máy duy nhất còn lại bị bất khiển dụng luôn. Không vận chuyển được, HQ10 là một đích nhắm dễ dàng cho hoả lực của địch. Thuỷ thủ đoàn được lệnh phải bỏ tàu. Hạm trưởng là Hải Quân Thiếu tá Nguỵ Văn Thà ở lại chết theo tàu. Hạm phó, Hải Quân Đại Uý Nguyễn Thành Trí bị thương nặng và tử thương sau đó. Trong lúc hỗn chiến, HQ16 bị một quả đạn 127 ly của chiến hạm ta bắn lầm vào hầm máy. Tuy quả đạn không nổ, nhưng chiến hạm bị nước vào làm nghiêng 15 độ, phải rút lui về phía tây. Hai chến hạm còn lại, HQ4 và HQ5 cũng bị trúng đạn địch nặng nề. Cùng lúc đó thì các chiến hạm VNCH phát hiện hai chiến hạm săn tàu ngầm (loại Hải Nam) mang số 281 và 282 của Trung Cộng đến tăng viện (tin này sau đó được Trung Cộng xác nhận) cũng như có dấu hiệu các phi tiễn đĩnh Kroma của Trung Cộng xuất hiện, vì vậy các chiến hạm VNCH đều buộc phải triệt thoái. Những cuộc điều tra sau này cho thấy, chiến hạm VNCH ít bị trúng đạn nhất cũng bị trên 800 vết đạn. Các chiến hạm khác đều bị trên 1200 vết đạn.
Về nhân sự, phía VNCH có 58 chiến sĩ hy sinh. Phía Trung Cộng xác nhận họ có 16 người bị tử thương, nhưng người ta tin rằng con số thương vong của Trung Cộng cao hơn nhiều. Một số tài liệu cho biết, toàn bộ bộ chỉ huy mặt trận của Trung Cộng gồm một số đề đốc (cấp tướng hải quân) và nhiều sĩ quan cấp tá bị tử thương.
Ngày hôm sau, 20/1/1974, Trung Cộng cho máy bay từ căn cứ Hải nam đến oanh tạc 3 đảo của quần đảo Hoàng Sa, sau đó cho quân đổ bộ chiếm đảo. Bắt giữ trung đội địa phương quân Việt Nam phòng thủ trên đảo.
Theo dõi trận chiến ở Trung Tâm Hành Quân Hải Quân qua những liên lạc vô tuyến của các chiến hạm ngoài mặt trận người ta nhận thấy một điểm rất bất lợi cho các chiến hạm VNCH là: các khẩu hải pháo lớn 72 ly, 127 ly (3 inch, 5 inch) đều bị hư hỏng hoặc bất khiển dụng rất sớm, có lẽ do ảnh hưởng của việc cắt giảm viện trợ nặng nề nên các cơ phận bảo trì bị thiếu thốn hoặc hư hỏng không được thay thế thích hợp. Vì vậy chỉ còn các hải pháo 40 ly và 20 ly bắn liên thanh khiển dụng một cách giới hạn. Các hải pháo trên tàu lại chỉ xoay chuyển được trong một góc độ nào đó (để không bắn vào đài chỉ huy) nên có nhiều lúc nguyên cả một phần của chiến hạm phơi mình hứng đạn địch mà không còn vũ khí khiển dụng ở phía đó đánh trả.
Bên cạnh đó, những tin tức về lực lượng địch do Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ thông báo cũng tạo ảnh hưởng tâm lý rất lớn. Trước khi xẩy ra trận chiến 3 ngày, Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ gửi cho Bộ Tư Lệnh Hải Quân VNCH một công điện cho biết, có một hạm đội Trung Cộng gồm 41 chiến hạm, trong đó có hai tàu ngầm, đang tiến về Hoàng Sa. Ngoài ra, trong khi đang diễn ra trận chiến, Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ cũng thông báo cho Hải Quân Việt Nam biết ra đa không thám của họ phát hiện các phản lực cơ chiến đấu MIG của Trung Cộng cất cánh từ Hải Nam đang bay ra Hoàng Sa. Phía Việt Nam yêu cầu Đệ Thất Hạm Đội Mỹ giúp đỡ, nhưng yêu cầu này không được đáp ứng. Dường như cả hai công điện vừa kể của hạm đội 7 đều không được thông báo cho lực lượng hành quân ngoài vùng biển Hoàng Sa biết.
Toàn thể quần đảo Hoàng Sa bị Trung Cộng chiếm giữ sau trận Hoàng Sa năm 1974. Để tạo lập căn cứ pháp lý cho việc giành lại chủ quyền sau này, chính phủ Việt Nam Cộng Hoà sau đó đã quyết liệt tranh đấu và tố cáo hành động xâm lược của Trung Cộng trên nhiều diễn đàn quốc tế, trong khi đó thì nhà nước CSVN đã hoàn toàn im lặng về việc này. Thái độ như vậy của nhà nước Cộng Sản Việt Nam hoàn toàn không có gì là khó hiểu nếu người ta biết rằng, trong công hàm đề ngày 14/9/1958, do nguyên thủ tướng Cộng Sản Việt Nam là ông Phạm Văn Đồng ký gửi thủ tướng Chu Ân Lai của Trung Cộng, để trả lời bản công bố của Trung Cộng với nội dung khẳng định Hoàng Sa Trường Sa là của nước này được đưa ra trước đó 10 ngày. Với tư cách là đại diện của nhà nước CSVN, ông Phạm văn Đồng đã hoàn toàn tán thành những khẳng định của Trung Cộng về chủ quyền của nước này trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Không những thế, cơ quan ngôn luận đảng bộ Cộng Sản VN ở thành phố Sài Gòn là tờ Sài Gòn Giải Phóng, trong một số ra vào tháng 5/1976, khi bình luận về bản công hàm ngày 14/9/1958 vừa nêu đã viết như sau: “Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là đồng chí mà còn là người THẦY tin cẩn đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có ngày hôm nay. Vì vậy, chủ quyền Hoàng Sa hay Trường Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi. Khi nào muốn lấy lại thì Trung Quốc sẵn sàng giao trả…”
Một số người bênh vực nhà nước CSVN và ông Phạm văn Đồng, do không biết trọn vẹn vấn đề, cũng như không biết công bố ngày 4/9/1958 của Trung Cộng, nên vẫn thường bào chữa rằng, công hàm ngày 14/8 của ông Phạm văn Đồng chỉ công nhận lời tuyên bố hải phận 12 hải lý của Trung Cộng nên không có gì là sai trái…. Trong một tài liệu biên soạn khá công phu nhan đề «Chủ quyền trên Hai Quần Đảo Hoàng Sa – Trường Sa», do ông Lưu văn Lợi, nguyên là trưởng ban biên giới của nhà nước CSVN từ năm 1978 đến năm 1989 sửa chữa, và được nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia ở Hà Nội phát hành năm 1998, và được trích dẫn một số đoạn liên quan ở phía dưới bài viết này cho thấy, tuy ông Lưu Văn Lợi là một quan chức ngang hàng cấp bộ trưởng trong chính phủ CSVN, nhưng khi hiệu đính tài liệu, ông cũng không chối cãi bằng chứng rành rành về tội bán nước của CSVN qua bức công hàm Phạm văn Đồng.
*****
Ngày 19 tháng giêng năm nay, đảng CSVN vừa chấm dứt đại hội kỳ thứ XI của họ với một thành phần lãnh đạo thần phục Trung Quốc dẫn đầu là Nguyễn Phú Trọng. Với thành phần lãnh đạo này, chắc chắn họ sẽ tiếp tục để nguyên trạng vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa, tức là vẫn thừa nhận 2 quần đảo này thuộc chủ quyền Trung Quốc. Tuy nhiên, tập thể những đảng viên yêu nước, đặc biệt những người đã nhìn đồng đội của mình hy sinh bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải, hẳn sẽ không thể ngồi yên nhìn giới lãnh đạo đảng khiếp nhược, mặc nhiên thừa nhận sự dâng nhượng lãnh thổ lãnh hải cho ngoại bang.
Đã có nhiều người trong lòng đảng CSVN lên tiếng, và bày tỏ sự cảm phục của họ đối với những hy sinh của các chiến sĩ Hải Quân VNCH trong sứ mạng bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của đất nước trong trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19/1/1974. Người ta hy vọng rằng, rồi đây tập thể đảng viên yêu nước trong đảng CSVN sẽ cùng lên tiếng vì đất nước, cùng đòi hỏi lãnh đạo Đảng phải chính thức vô hiệu hóa công hàm Phạm văn Đồng.
Đối với nhân dân Việt Nam, ngày 19 tháng giêng năm 1974 là một ngày khắc sâu trong tâm khảm mọi người. Đó là ngày mà truyền thống kiên cường, bất khuất chống ngoại xâm của tổ tiên Việt Nam một lần nữa đã được các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà thể hiện trong trận hải chiến chống quân xâm lược Trung Cộng. Chắc chắn dân tộc Việt nam sẽ mãi mãi tôn vinh sự hy sinh của các chiến sĩ đã hy sinh trong trận hải chiến này; cũng như lịch sử Việt Nam sẽ ghi khắc tên tuổi mọi con dân Việt đã bỏ mình bảo vệ đất nước chống ngoại xâm.
Lê Vĩnh
Ngày 19/1/2011
*** Phần trích dẫn tài liệu “Chủ quyền trên Hai Quần Đảo Hoàng Sa – Trường Sa » (nguồn http://basam.info/ch%E1%BB%A7-quy%E1%BB%81n-hs-ts/ )
CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO
HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA
(SÁCH THAM KHẢO)
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Hà Nội – 1998
Người dịch: Nguyễn Hồng Thao
Hiệu đính: Lưu Văn Lợi
Lê Minh Nghĩa
(Tham gia đánh máy-đưa lên mạng: các thành viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông: Hoa Phạm, Thảo Uyên, Thanh Tú, Nguyễn Duy Hiếu, Việt Phương, Pikachu, Khôi Nguyễn, Ngọc Thu, Thùy Minh Nguyễn, Lê Hồng Thuận, Lê Trung Bảo, Trần Hoài Vũ, Phan Tuấn Quốc)
Ngày 4-9-1958, Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra một bản tuyên bố xác định bề rộng của lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lý.
Bản tuyên bố nói rõ điều khoản này được áp dụng cho các quần đảo.
Bản tin này được công bố ngày 6-9-1958 trên báo Nhân Dân, cơ quan của Ban chấp hành Trung ương Đảng lao động Việt Nam. Nó không bị tranh cãi.
Ngày 14-9 cùng năm, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam trong một công hàm gửi Thủ tướng Trung Quốc đã khẳng định: “Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ghi nhận và tán thưởng bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tôn trọng quyết định đó”.
- Ngày 9-5-1965, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa khi phản ứng lại quy định của Chính phủ Mỹ về “Khu vực tác chiến”của lực lượng vũ trang Mỹ tại Việt Nam, có thể đã tuyên bố: “Tổng thống Mỹ Giônxơn đã ấn định toàn bộ nước Việt Nam và các vùng kế cận rộng khoảng 100 dặm từ bờ biển Việt Nam trở ra và một bộ phận của vùng biển nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ở quần đảo Tây Sa là khu vực chiến đấu của lực lượng vũ trang Mỹ”(nguồn tin của Trung Quốc).
- Ngày 13-9-1969, Báo Nhân Dân của Việt Nam có lẽ đã đăng tin sau: “Ngày 10-5, một máy bay quân sự Mỹ đã xâm phạm vùng trời Trung Quốc, trên đảo Vĩnh Hưng và đảo Đông thuộc quần đảo Tây Sa tỉnh Quảng Đông Trung Quốc” (nguồn tin của Trung Quốc).
- Ngày 11-7-1971, Tổng thống Philippin cho biết quân đội Trung hoa dân quốc đã chiếm đóng và củng cố đảo Ba Bình (quần đảo Trường Sa) nhưng ông lại không bày tỏ bất cứ yêu sách nào của Philippin về quần đảo này mặc dù quân lính Philippin đã chiếm đóng trên một số đảo nhỏ. Một thông cáo ngày 13-7 cho thấy đang tiếp diễn các cuộc đối thoại giữa Đài Loan và Philippin về vấn đề quần đảo này. Cũng trong ngày đó, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Sài Gòn, Ông Trần Văn Lắm, có mặt ở Manila, nhắc lại yêu sách của Việt Nam và các danh nghĩa làm cơ sở cho yêu sách đó.
Ngày 16-7 cùng năm, Tân Hoa Xã lên án Philippin chiếm đóng một số đảo của quần đảo Trường Sa và khẳng định các yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo này.
- 1973, Trong khi Hội nghị quốc tế Paris đang diễn ra vào tháng 3-1973, Bộ trưởng Bộ Nội vụ của chính quyền Nam Việt Nam, trong ngày 6-9, đã sửa đổi việc sáp nhập hành chính Trường Sa (từ đây thành một bộ phận của tỉnh Phước Tuy) (Nghị định ngày 6-9-1973 sáp nhập các đảo trên quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy – ND)
- Ngày 11-1-1974, Bắc Kinh tuyên bố đó là một việc lấn chiếm lãnh thổ Trung Quốc và khẳng định lại các yêu sách của Trung Quốc về hai quần đảo.
Ngày 15-1, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho quân đội đổ bộ lên các đảo phía Tây Hoàng Sa cụm Nguyệt Thiềm (Crescent) mà từ trước vẫn do Việt Nam chiếm đóng, và trong những ngày tiếp theo họ hỗ trợ hành động trên bằng một cuộc triển khai hải quân mạnh mẽ.
Ngày 18-1, Đại sứ Đài Loan tại Sài Gòn bằng công hàm ngoại giao đã khẳng định lại yêu sách của Trung Hoa Dân quốc.
Ngày 19-1 và 20-1, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa bắn phá các đảo và cho quân đổ bộ lên sau các trận đánh ác liệt chống lại lực lượng Việt Nam.
Quan sát viên của Việt Nam bên cạnh Liên hợp quốc yêu cầu Hội đồng Bảo an xem xét vấn đề này.
Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam công bố lập trường của mình cho rằng trước sự phức tạp của vấn đề, cần phải xem xét nó trên cơ sở những nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hữu nghị và quan hệ láng giềng tốt và giải quyết tranh chấp bằng con đường thương lượng.
Lầu Năm Góc, được chính quyền Nam Việt Nam yêu cầu can thiệp, quyết định đứng ngoài cuộc xung đột.
Qua thông điệp ngoại giao được gửi đến tất cả các nước ký các Hiệp định Paris ngày 2-3-1973, chính quyền Nam Việt Nam nhắc lại sự đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam đã được công nhận. Chính quyền Nam Việt Nam yêu cầu Hội đồng Bảo an họp một phiên đặc biệt.
Ngày 2-7, đoàn đại biểu của Nam Việt Nam ra tuyên bố tại Hội nghị của Liên hợp quốc về Luật biển nhằm khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo.
Chính quyền Sài Gòn quyết định tăng cường phòng thủ các đảo ở quần đảo Trường Sa, điều đó đã làm cho phía Philippin phản đối.
Ngày 5, 6-5-1975 – Hải quân nhân dân Việt Nam giành lại quyền kiểm soát các đảo ở quần đảo Trường Sa từ quân đội Sài Gòn.
………..
b) Các biểu thị ý đồ của Việt Nam
Trong những năm chiến tranh này, nước Việt Nam bị chia cắt đã phát biểu những lời dường như mâu thuẫn nhau.
Chính phủ Nam Việt Nam không bao giờ từ bỏ một ý định rõ ràng và hoàn toàn khẳng định duy trì các quyền chủ quyền của họ đối với hai quần đảo.
Có nhiều nghị định về quản lý các đảo và việc sáp nhập chúng vào tổ chức lãnh thổ Việt Nam. Một nghị định về quần đảo Hoàng Sa được ký ngày 13-7-1961 (thành lập đơn vị hành chính Định Hải), một nghị định khác ngày 21-10-1969 gộp xã đó với xã Hoa Long.
Các đảo Trường Sa được sáp nhập vào tỉnh Phước Tuy ngày 22-10-1956. Nghị định của Bộ trưởng Nội vụ Chính phủ Nam Việt Nam ký ngày 6-9-1973 lại sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.
Song song với việc này, chính quyền Sài Gòn nhiều lần phản đối các hành động của Trung Quốc, Nhật báo Viễn Đông ngày 4-6-1956 nói đến một phản kháng của Tổng trưởng Ngoại giao Việt Nam chống lại một lời tuyên bố ngày 29-5 cùng năm của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc liên quan đến các đảo.
Ngày 20-4-1971, một lời phản kháng khác được nêu ra đối với Malaysia và nhân dịp đó Bộ Ngoại giao Nam Việt Nam khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo.
Cuối cùng, tháng Giêng năm 1974, sau khi các lực lượng vũ trang Trung Quốc chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa, Chính phủ Nam Việt Nam đã đưa lời phản đối lên Liên hợp quốc, công bố sách trắng về cá quần đảo và lên án mạnh mẽ chống lại các hành động bất hợp pháp của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Và chính quyền Sài Gòn đã sử dụng diễn đàn tại khoá họp thứ hai của Hội nghị lần thứ ba của Liên hợp quốc về Luật biển tại Caracas tháng 6-1974 để khẳng định lại các quyền của mình đối với hai quần đảo.
Người ta có thể dừng lại ở đây để nói rằng các yếu tố đó đủ để chứng tỏ việc duy trì một ý định về chủ quyền của Việt Nam. Việc phân chia lãnh thổ ở vĩ tuyến 170 đã đặt hai quần đảo vào lãnh thổ Nam Việt Nam. Như vậy, chính quyền Sài Gòn và chỉ chính quyền này được phát biểu về vấn đề các đảo và họ đã làm việc đó. Họ đã làm việc đó với tư cách là người thừa kế các quyền của nước Việt Nam trong giai đoạn tiền thuộc địa.
Nhưng, vì người Trung Quốc sử dụng thái độ của các Chính phủ Việt Nam khác làm luận cứ nên thái độ đó phải được xem xét cẩn thận.
Trong năm 1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã tỏ rõ lập trường công nhận sự tồn tại tranh chấp, và nhắc lại rằng “chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là những vấn đề thiêng liêng đối với mỗi dân tộc” và kêu gọi đối thoại [208]. Như vậy, hai chính phủ khẳng định mình là đại diện cho Nam Việt Nam (được trao quyền về mặt quản lý lãnh thổ hai quần đảo) đã có chung một thái độ trên điểm này. Báo chí phương Tây trình bày các sự việc một cách khác nhau vì một bài trên báo Le Monde (Thế giới) các ngày 27 và ngày 28-0-1974 viết “ở Paris, đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tại Hội nghị La Cell St-Cloud đã bác bỏ đề nghị của Sài Gòn ra một nghị quyết chung lên án việc Trung Quốc dung vũ lực chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa, vì theo ông loại tranh chấp này phải được giải quyết bằng thương lượng”.
Thật ra sự bất đồng là ở phương pháp hơn là nội dung, Chính phủ Cách mạng lâm thời ở vị thế khó lên án Trung Quốc, vì lúc đó là đồng minh chính trị của họ trong cuộc chiến tranh chống Mỹ.
Còn lại là trường hợp Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Trung Quốc lập luận rằng đã có sự từ bỏ từ phía Việt Nam Dân chủ cộng hoà và họ đưa ra ba sự kiện [209].
Ngày 15-6-1956, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ cộng hoà trong buổi tiếp đại diện lâm thời Sứ quán Trung Quốc ở Việt Nam, có thể đã khẳng định “Theo các tư liệu mà bên Việt Nam có, các đảo Tây Sa và các đảo Nam Sa, căn cứ vào lịch sử, là một phần của lãnh thổ Trung Quốc”. Câu chuyện có được xác nhận không? Đó chỉ là lời nói miệng hay đã có một biên bản?
Các câu hỏi này không có trả lời, thì không thể thấy trong tuyên bố này một tuyên bố lập trường có giá trị pháp lý.
Trung Quốc cũng dựa vào một tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà ngày 9-5-1965 liên quan tới khu vực chiến đấu của lực lượng vũ trang Mỹ.
Bắc Việt Nam có lẽ đã tố cáo rằng khu vực này liên quan đến “một phần hải phận Trung Quốc tiếp giáp với các đảo Tây Sa của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa[210].
Cuối cùng, Trung Quốc nói đến một tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà ngày 14-9-1958. Trước đó, ngày 4-9-1958, Trung Quốc đã công bố việc mở rộng lãnh hải của mình ra 12 hải lý. Trong bản công bố đã nói rõ rằng việc này liên quan đến Trung Quốc lục địa và tất cả các đảo thuộc về Trung Quốc, trong số đó có nêu cụ thể các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Công hàm của ông Phạm Văn Đồng nói như sau: “Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ghi nhận và tán thành lời tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà tôn trọng quyết định đó, và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể”.
Tình thế còn nghiêm trọng thêm do các bài in trên báo Nhân dân năm 1969 và 1970 nói tới vùng trời của Trung Quốc “phía trên các đảo Tây Sa”.
Có hai dữ kiện cần tính đến để đánh giá các sự kiện đó: nội dung chính xác của thái độ của Bắc Việt Nam và vị trí của Bắc Việt Nam trong các bên có liên quan.
Tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng chỉ có một nghĩa hẹp, đúng vậy, là công nhận bề rộng lãnh hải của Trung Quốc. Do vậy, thật không đúng khi lập luận rằng Việt Nam có lẽ đã “khẳng định lại sự công nhận của họ đối với yêu sách của Trung Quốc” đối với các quần đảo [211]. Tuy nhiên sự im lặng của ông trước lời khẳng định chủ quyền Trung Quốc đối với các đảo có thể bị giải thích như một sự đồng ý, và điều đó lại được củng cố thêm do lời tuyên bố liên quan tới các khu vực chiến đấu và các bài đăng trên báo Nhân dân.
 

Công bố ngày 4/9/1958 của trung Quốc.


Công hàm ngày 14/9/1958 của thủ tướng CSVN Phạm văn Đồng.
Báo Nhân Dân ngày 24/9/1958 đang tải công hàm Phạm Văn Đồng.

Báo Nhân Dân ngày 24/9/1958 đang tải công hàm Phạm Văn Đồng

Tuổi trẻ Việt Nam, học lịch sử để làm lịch sử

Tôi còn nhớ rất rõ hình ảnh Sài Gòn những ngày cuối tháng Giêng ba mươi ba năm trước. Sau những trận hải chiến dữ dội chung quanh quần đảo Hoàng Sa để chống lại các lực lượng hải quân Trung Quốc đông hơn và mạnh hơn gấp nhiều lần, chiều 20 tháng 1 năm 1974, các đơn vị hải quân Việt Nam Cộng hoà đã buộc phải triệt thoái khỏi quần đảo Hoàng Sa, nơi tổ tiên chúng ta đã bao đời gìn giữ. Trong vùng biển mẹ thân yêu, từ đó đã nhuộm thêm máu của những người con ruột thịt. Các anh Ngụy Văn Thà, Nguyễn Thành Trí, Vũ Văn Bang, Ngô Chí Thành và nhiều thanh niên Việt Nam khác đã theo dấu chân của bao nhiêu anh hùng dân tộc mà đền nợ nước. Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc.
Sài Gòn ngày tháng đó buồn như một đám ma. Những cụm mai vàng chào đón xuân sang không làm phai đi màu đen tang chế đang phủ trùm lên cả miền Nam. Những cuộc biểu tình rầm rộ từ Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ không làm vơi đi nỗi buồn nhược tiểu trong lòng những người đang ưu tư cho vận nước. Những bản hùng ca xen lẫn với những tiếng kèn truy điệu của các chương trình phát thanh quân đội đã làm người dân rơi nước mắt xót thương cho số phận hẩm hiu của tổ quốc mình. Hạm đội thứ bảy hùng hậu của Mỹ khóa súng an toàn nhìn hải quân Trung Quốc đổ bộ Hoàng Sa, hai phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam từ chối lời kêu gọi của phái đoàn Việt Nam Cộng hoà tố cáo Trung Quốc xâm lăng. Đồng minh dửng dưng, đồng bào ngoảnh mặt. Có nỗi xót xa nào lớn hơn nỗi xót xa của số phận một tiền đồn và có vết thương tâm linh nào sâu hơn, đau hơn vết thương của một người mẹ bị bỏ rơi bởi chính những đứa con yêu quý của mình.
Chiều năm đó ngồi trong thư viện tôi có làm một bài thơ và viết một đoản văn. Tôi không còn nhớ bài thơ nhưng đoản văn tôi còn nhớ rất rõ, và sau này khi làm website xuQuang tôi có ghi lại trong phần tưởng niệm Hoàng Sa: “Mỗi người Việt Nam phải ghi khắc trong tim mình: Hoàng Sa là đảo Việt Nam, là biển Việt Nam, là đất Việt Nam. Ðất nước Việt Nam có khi thịnh khi suy, lịch sử Việt Nam có khi hưng khi phế, thế hệ hôm nay không giữ được Hoàng Sa nhưng không phải vì thế mà Hoàng Sa trở thành đất của Trung cộng bá quyền hay của bất cứ một quốc gia nào khác. Dân tộc Việt Nam, các thế hệ Việt Nam mai sau phải nhớ rằng: Bất cứ khi nào các điều kiện kinh tế, chính trị và quân sự cho phép, một trong những việc đầu tiên là phải lấy lại Hoàng Sa.”
Ba mươi ba năm sau. Cũng những ngày cuối năm, ngồi xem hình ảnh các cuộc biểu tình ở Hà Nội, đọc bản tin được viết vội vàng trên đường phố Sài Gòn, đọc danh sách của những người ký tên, trong đó đa số là tuổi trẻ, để phản đối Trung Quốc vi phạm lãnh thổ Việt Nam trên Internet, tôi vui mừng và cảm động. Trung Quốc không phải vì các cuộc biểu tình của các em mà trao trả lại Hoàng Sa, Trường Sa cho Việt Nam, nhưng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách bá quyền của họ trên biển Đông. Để duy trì mức phát triển kinh tế hiện nay và chạy đua với các cường quốc kinh tế, Trung Quốc đang cần sự ổn định chính trị và kinh tế hơn bất cứ quốc gia nào khác trong vùng.
Nhìn các em tôi lại nhớ đến chính mình. Đường phố Sài Gòn, nơi các em đang đứng hôm nay cũng là nơi tôi đã đứng đọc từng tên của những người đã ở lại trong lòng biển cả. Khẩu hiệu “Hoàng Sa là của Việt Nam” cũng là khẩu hiệu mà sinh viên chúng tôi đã hô ba mươi ba năm trước. Chúng ta có thể còn vài điểm khác nhau nhưng có chung một tổ quốc. Đó là điều hệ trọng. Lòng yêu nước đã thúc giục các em vượt qua bức tường sợ hãi, bất chấp sự ngăn cản của Đảng, của nhà nước, của ban lãnh đạo trường để cùng xuống đường nói tiếng của một người Việt Nam khi tổ quốc lâm nguy. Lịch sử bao giờ cũng mang tính thời đại, và trang sử Việt Nam hôm nay đang được viết bởi các em, những người Việt Nam đang đứng trước toà đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội, trước lãnh sự quán Trung Quốc ở Sài Gòn. Và cũng qua những biến cố lịch sử này, các em sẽ có cơ hội thấy những sự thật đắng cay, những bài học bẽ bàng mà từ trước đến nay đã bị che lấp bởi hệ thống tuyên truyền lừa dối của Đảng. Các em đang học lịch sử và đang làm lịch sử.
Trong các cuộc xung đột về lãnh thổ, bằng chứng và di tích lịch sử thì bên nào cũng có thể có nhưng văn kiện pháp lý được cả hai bên xung đột công nhận thì thường rất hiếm hoi. Tôi nhớ có đọc đâu đó một câu chuyện bên lề các cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và Liên Xô về chủ quyền của các đảo Trân Bảo, Ẩn Long và Hắc Hạt Tử trong khu vực sông Ussuri. Theo câu chuyện này, mỗi lần có một cuộc họp giữa hai nước, phái đoàn Trung Quốc thường chở theo cả một toa xe lửa chứa đầy tài liệu và đồ vật để chứng minh chủ quyền Trung Quốc trên các đảo này. Trung Quốc là một nước đông dân, diện tích rộng, có nền văn minh phát triển rất sớm, có chiều dài lịch sử mấy ngàn năm, do đó, việc tổ tiên họ đã từng đến, từng đi đánh cá, từng đặt chân, từng mô tả trong văn chương thơ phú về các hòn đảo đó thì cũng không có gì là đáng ngạc nhiên. Những tài liệu phía Trung Quốc đưa ra hay vật dụng họ góp nhặt được dù bao nhiêu cũng không thuyết phục được Liên Xô về chủ quyền của Trung Quốc trên lãnh thổ đang bị tranh chấp. Sau hơn 20 năm đánh rồi đàm, một hiệp ước biên giới Nga – Hoa đã được ký kết lần đầu vào tháng 10 năm 1995 và lần nữa vào tháng 10 năm 2004. Theo nội dung hiệp ước, phần thắng nghiêng về phía Trung Quốc nhiều hơn. Trung Quốc được kiểm soát cả hai đảo Trân Bảo, Ẩn Long và một nửa Hắc Hạt Tử. Giả thiết hiệp ước này được ký kết vào năm 1969, với nội dung tương tự, có lẽ nhân dân Trung Quốc đã được nghỉ một tuần lễ để ăn mừng chiến thắng và ngày ký đã trở thành ngày lễ lớn của quốc gia. Nhưng hiệp ước ký kết vào tháng 10 năm 2004 trôi qua gần như trong âm thầm. Cả Trung Quốc và Nga đều biết, ngay từ trong căn bản, lý do chính của xung đột không phải là lãnh thổ mà là sự tranh chấp quyền lực, uy thế của hai nước cộng sản đàn anh trong phong trào cộng sản quốc tế. Về phía Nga, sau khi Liên Xô sụp đổ, họ cần sự ổn định để phục hồi nền kinh tế gần như bị phá sản, và do đó sự xung đột chủ quyền trên các đảo vốn không chứng tỏ một tiềm năng kinh tế nào đã không còn lý do để kéo dài thêm.
Việc xung đột lãnh thổ với Việt Nam thì khác. Để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa và Trường Sa, chính quyền Trung Quốc không cần phải chở một toa xe lửa tài liệu hay bằng chứng nào cả. Những lời tuyên bố của phát ngôn viên chính phủ Trung Quốc dù nói vòng vo từ chuyện đời xưa đến đời nay cho có lệ, cuối cùng cũng chỉ rút trong túi ra một văn kiện khá mới mẻ, rất hợp pháp, dài vỏn vẹn 121 chữ tính cả phần chào hỏi nhưng lại đầy thuyết phục, đó là công hàm của Thủ tướng chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Phạm Văn Đồng. Nội dung chính của công hàm: “Thưa đồng chí Tổng lý. Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.
Khi đọc bản tuyên bố này lần đầu cách đây khá lâu thú thật tôi không tin đó là văn bản thật mà là tài liệu giả mạo do Trung Quốc viết hay chỉ là sản phẩm tuyên truyền của một tổ chức chống cộng nào đó dựng lên để bêu xấu Đảng. Hai tiếng Hoàng Sa và Trường Sa thân thương quen thuộc từ bao đời là một phần của ngôn ngữ Việt Nam như hai quần đảo vẫn được xem là phần da thịt, máu xương bất khả phân ly của thân thể Việt Nam.
Các chính phủ Trung Quốc, Philippines, Malaysia có quyền không công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam hay hoàn toàn của Việt Nam. Nhân dân Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Đài Loan, Brunei cũng có thể cho rằng Trường Sa là đất của họ. Tình cảm đất nước là một tình cảm thiêng liêng nhưng cũng ít nhiều bảo thủ mà dân tộc nào cũng có. Tình cảm đó cũng cần được xem xét và tôn trọng. Các quốc gia tranh chấp phải giới thiệu các bằng chứng lịch sử, các văn kiện pháp lý trong một hội nghị quốc tế đa phương để thương thảo và tìm một giải pháp phù hợp với công pháp quốc tế cũng như quyền lợi của các nước trong vùng tranh chấp. Những hòn đảo không người ở, những triền đá nhọn nhô lên giữa đại dương mênh mông từ mấy ngàn năm, trong thời đại dầu hoả bỗng trở thành quan trọng, việc xung đột vì thế là điều khó tránh, tuy nhiên, sự kiện một ông thủ tướng Việt Nam nhân danh nước Việt Nam để công nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc mà không cần phải đưa ra trước quốc hội để biểu quyết, không cần tranh luận, hội họp, không cần phải bắn nhau một viên đạn nào, quả là một việc không thể nào tin được và đương nhiên cũng không thể nào chấp nhận được.
Văn bản do ông Phạm Văn Đồng ký là một vết nhơ trong lịch sử dân tộc và tên tuổi ông Phạm Văn Đồng cũng sẽ dơ như chữ ký của ông. Tuy nhiên, thật bất công nếu chỉ đổ tội lên một mình ông Phạm Văn Đồng. Trong cương vị Thủ tướng, ông phải là người ký công hàm gởi cho Chu Ân Lai, Thủ tướng Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nhưng ông Phạm Văn Đồng không phải là người tự quyết định mà chỉ thừa hành quyết định chung của Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Vào thời điểm tháng 9 năm 1958, những người sau đây phải chịu trách nhiệm cho việc triều cống hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc, và danh sách của họ được sắp xếp theo thứ tự trong Bộ Chính trị Đại hội lần II năm 1951 cũng như được bổ túc trong những năm sau đó: Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Hoàng Văn Hoan.
Tại sao họ đã làm như thế? Họ bị áp lực của Trung Quốc? Không. Không có một tối hậu thư nào của nhà cầm quyền Trung Quốc buộc Việt Nam phải thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc, nếu không họ sẽ dùng võ lực để tiến chiếm hai quần đảo, vượt biên giới Lạng Sơn hay đổ bộ lên Hải Phòng. Cho dù có tối hậu thư đi nữa thì cũng không phải lần đầu Việt Nam nhận tối hậu thư của quân xâm lược. Trước đây, các vua Lý, vua Trần đã nhận và mới đây Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương đã nhận, và các anh hùng dân tộc đã chọn chiến đấu tới cùng và đã chết trên nắm đất của tổ tiên thay vì dâng thành cho giặc.
Trên thế giới chưa có một cuộc phân định biên giới nào giữa hai quốc gia mà không phải trải qua những hội nghị, những cuộc thảo luận, đo đạc cần thiết về các giới hạn trên biển cả cũng như lằn ranh trên đất liền. Trong các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đất là quan trọng nhất. Câu “tấc đất tấc vàng” không chỉ đúng cho trường hợp một nước đất hẹp người đông như Việt Nam mà đúng cho bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Hãy lấy trường hợp Bắc Hàn làm ví dụ. Nếu theo dõi các hội nghị về biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Hàn chúng ta có thể nghĩ rằng Trung Quốc muốn gì chắc là được nấy, muốn vẽ biên giới đâu thì vẽ. Không. Bắc Hàn tự cô lập khỏi thế giới giới văn minh, trong nhiều năm đã lệ thuộc vào Trung Quốc không những chính trị, ngoại giao mà cả từng chén cơm manh áo, nhưng họ nhất định không nhượng cho Trung Quốc một tấc đất nào qua các hội nghị về đường biên giới dài 1416 kilomét giữa hai nước. Mặc dù cai trị đất nước bằng một lý thuyết ngu dân hoang tưởng, bằng một chính sách độc tài sắt máu bị phần lớn nhân loại rẻ khinh, xa lánh, cha con Kim Nhật Thành ít ra có một điểm đáng khen mà giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không có, đó là quyết tâm giữ đất của tổ tiên họ để lại.
Nhiệt tình cao độ của giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam chắc đã làm không chỉ Mao mà cả Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phải ngạc nhiên hết sức. Tôi tin bộ chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc hẳn đã tốn rất nhiều thời gian, tổ chức nhiều phiên họp tìm hiểu, phân tích, đánh giá nội dung công hàm của ông Phạm Văn Đồng để xem phía Việt Nam có ẩn ý gì trong 121 chữ đó không, chẳng lẽ Việt Nam tự nguyện dâng hai quần đảo một cách dễ dàng như thế. Không, không có ẩn ý, âm mưu nào cả ngoài việc chứng tỏ lòng trung thành tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam với Mao Trạch Đông và Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Cấp lãnh đạo Trung ương Đảng thời đó còn lo ngại đàn anh Trung Quốc không tin vào lòng dạ chí thành của mình nên đã cho đăng toàn bộ nội dung công hàm trên báo Nhân dân ngày 22 tháng 9 năm 1958 để toàn Đảng, toàn dân và toàn thế giới biết hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ nay không còn là của Việt Nam nữa. Không giống như hiệp ước biên giới Việt Trung vào các năm 1999 và năm 2000 được ký kết lén lút đến mức ngay cả những ông bà đại biểu quốc hội khi đưa tay phê chuẩn cũng không biết nội dung hiệp ước nói gì, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, qua công hàm 1958, chẳng những “ghi nhận”, “tán thành” mà còn chỉ thị cho các cấp “triệt để tôn trọng” hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của lục địa Trung Hoa, có đính kèm luôn bản đồ về đường ranh giới lãnh hải, bao gồm cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa.
Tại sao họ đã làm như thế? Họ không rành lịch sử Việt Nam? Chẳng lẽ họ chưa thấm thía câu “Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt” và không cảm thông cho sự chịu đựng vô bờ bến của tổ tiên suốt một ngàn năm qua bốn lần Bắc thuộc, phải xuống biển tìm ngọc trai, lên non tìm sừng tê, ngà voi, bạc vàng châu báu hay sao? Tôi không nghĩ vậy, vì ít nhất trong số 11 ủy viên Bộ Chính trị thời đó cũng có một người đã từng dạy sử. Họ làm thế chỉ vì niềm tin tuyệt đối vào chủ nghĩa cộng sản. Niềm tin mù quáng vào một xã hội đại đồng đã làm giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam nghĩ rằng Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai và những người cộng sản Trung Quốc mà họ đang thần phục là những bậc thánh hiền chứ không phải là giống dân đã hàng ngàn năm đày đoạ tổ tiên Việt Nam. Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm đã thú nhận sự lệ thuộc vào Trung Quốc hay đúng hơn là quan hệ chủ tớ này trong một cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 2 tháng 12 năm 1992 và được Thông tấn xã Việt Nam loan ngày 3 tháng 12 năm 1992: “Tình hữu nghị Việt – Trung đang thắm thiết và hai nước hoàn toàn tin cậy lẫn nhau. Việt Nam xem Trung Quốc là một nguồn hỗ trợ to lớn và giá trị. Trong tinh thần đấy thì do tình thế cấp bách, quan điểm của lãnh đạo ta (tức ủng hộ Trung Quốc công bố chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) là cần thiết vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ tổ quốc.” Cuộc chiến bảo vệ tổ quốc mà ông Nguyễn Mạnh Cầm nhắc trong buổi họp báo nêu trên, tương tự như khi ông Phạm Văn Đồng trả lời báo Far Eastern Economic Review tháng 3, 1979 hay hầu hết các lãnh đạo Đảng khác đã nhiều lần viện dẫn là “cuộc chiến chống Mỹ cứu nước”, thế nhưng, năm 1958, ngoại trừ một số ít nhân viên thuộc Nhóm Cố vấn Quân sự (Military Assistance Advisory Group), làm gì có quân Mỹ để mà chống?
Tại sao họ đã làm như thế? Khi đem hai quần đảo vô cùng quan trọng của đất nước về chiến lược quân sự cũng như về tiềm năng kinh tế dâng hiến cho Trung Quốc để gọi là “ bảo vệ tổ quốc” thì tổ quốc mà các giới lãnh đạo Đảng cần phải bảo vệ là tổ quốc nào? Như giải thích trong hầu hết tài liệu học tập, giáo trình trung, đại học tại Việt Nam, người cộng sản không có tổ quốc theo nghĩa thông thường mà chúng ta thường hiểu. Khái niệm tổ quốc đối với giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ đơn thuần là dải giang sơn từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau mà bao nhiêu thế hệ tiền nhân đã dày công gìn giữ, không phải chỉ gồm 40 triệu người ngày đó hay 80 triệu người ngày nay có cùng huyết thống, cùng một ngôn ngữ, cùng một lịch sử, mà phải là tổ quốc xã hội chủ nghĩa, một đất nước bị thống trị trong bàn tay sắt của Đảng Cộng sản. Mụch đích của Đảng như đã đề ra trong Đại hội Đảng lần thứ II tại Tuyên Quang bao gồm giai đoạn từ 1951 đến 1960: “Giải phóng hoàn toàn miền Bắc, tạo tiền đề vững chắc để tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.” Năm 1958, một nửa nước chưa trở thành chủ nghĩa xã hội và do đó mục đích của Đảng chưa hoàn thành. Để thôn tính miền Nam và hoàn thành mục đích cộng sản hóa cả nước, họ cần súng đạn của Liên Xô và Trung Quốc. Hoàng Sa và Trường Sa là giá mà giới lãnh đạo Đảng phải ứng trước để đổi lấy nhiều vạn trái mìn, mấy trăm ngàn khẩu AK, mấy ngàn chiếc tăng đủ loại để đem về cày xéo lên các thành phố miền Nam, đốt cháy thôn làng miền Nam và tàn sát nhiều triệu dân miền Nam vô tội.
Tuổi trẻ phải làm gì?
Đứng trước sự phân hóa, chia rẻ do hậu quả của mấy trăm năm phong kiến, đế quốc thực dân và cộng sản, chọn lựa duy nhất của thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay là đoàn kết và vượt qua mọi thử thách để đoàn kết thành một khối đúng như khẩu hiệu “Ta là một” mà các em đang phát động trong nước. Lịch sử như một dòng sông. Dòng sông Việt Nam vẫn chảy dù phải băng qua bao nhiêu ghềnh đá cheo leo. Tương tự, các thế hệ Việt Nam lớn lên và vẫn phải tiếp tục nhận lãnh trách nhiệm lịch sử của thế hệ mình. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần một ngọn hải đăng của bất cứ cường quốc nào để rọi sáng đêm tối trời dân tộc, nhưng ngay từ trong lòng họ đã bùng cháy lên ngọn đèn tự chủ được thắp sáng bằng tâm thức Việt Nam. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần chờ đợi một minh quân ra đời hay một lãnh tụ xuất hiện để dẫn dắt họ trên đường cứu nước bởi vì chính họ sẽ là những minh quân của thời đại và con đường dẫn đến điểm hẹn lịch sử được soi sáng bằng trí tuệ Việt Nam. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần vay mượn một chủ nghĩa, một ý thức hệ, một lý thuyết ngoại lai nào làm kim chỉ nam để giải phóng dân tộc, bởi vì chính họ đã được trang bị bằng các đặc tính dân tộc, nhân bản và khai phóng kết tinh và kế thừa từ hơn bốn ngàn năm lịch sử.
Lãnh đạo Đảng đã, đang và chắc sẽ làm tất cả những gì họ có thể làm để ngăn cản các cuộc biểu tình dù ôn hoà và bất bạo động của tuổi trẻ Việt Nam. Tuần trước họ ra chỉ thị cấm biểu tình, tuần này họ chụp mũ các em chống phá trật tự xã hội, tuần sau họ sẽ đem xe chữa lửa đến đàn áp và tuần sau nữa có thể trục xuất khỏi trường, bắt giam, kết án, tù đày. Tuy nhiên, lịch sử đã nhiều lần chứng minh, khi một chế độ chỉ còn trông cậy vào các phương tiện bạo lực trấn áp để tồn tại, chỉ còn biết sử dụng bộ máy công an kềm kệp để duy trì quyền cai trị, ngày tàn của chế độ đó chỉ là vấn đề thời gian. Hành động tuyệt vọng của Nicolae Ceausescu khi ra lệnh công an bắn vào cuộc biểu tình của nhân dân Rumania sáng ngày 17 tháng 12 năm 1989 chỉ để dẫn đến bản án tử hình dành cho vợ chồng ông ta một tuần sau đó. Lãnh tụ cộng sản Slobodan Milosevic một thời là tổng thống Serbia đầy quyền lực nắm trọn quyền sinh sát trong tay, cuối cùng cũng phải chết trong tù. Erich Honecker hung thần Đông Đức, Idi Amin đao thủ phủ của Uganda hay Mobuto bạo chúa của Uganda đều đã gởi tấm thân tàn trên đất khách, để lại tiếng xấu muôn đời. Nếu giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam còn nghĩ đến tương lai của chính họ và còn biết lo cho tương lai của đất nước, họ phải chọn đứng về phía dân tộc.
Con đường duy nhất để đạt đến một tương lai tự do, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng là con đường dân tộc và cũng chỉ có một Việt Nam tự do, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng thì các thế hệ Việt Nam mai sau mới có cơ may giành lại được Hoàng Sa và Trường Sa.
Trần Trung Đạo