18/1/11

Thư kêu gọi ủng hộ và yểm trợ cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ trong nước

http://www.viet.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_43_large/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/protest%20tunisia%2015.1.11_0.jpg
(Bài nhờ đăng)
-
Thư của 3 Cộng đồng Người Việt Quốc gia Hải ngoại và Khối 8406 Hải ngoại kêu gọi Đồng bào Việt Nam Hải ngoại và các Tổ chức Chính trị, các Cơ quan Truyền Thôngủng hộ cuộc đấu tranh cho Tự do Dân chủ trong nước để hưởng ứng lời kêu gọi của Linh mục Nguyễn Văn Lý.
Xin mọi người phổ biến rộng rãi.
Cám ơn.
Nguyễn Chính Kết
Thư kêu gọi ủng hộ và yểm trợ cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ trong nước
(Đáp lời linh mục Nguyễn Văn Lý kêu gọi toàn dân tiến hành giải thể chế độ cộng sản và thiết lập chế độ dân chủ đa nguyên đa đảng cho Việt Nam).
Kính gởi:
  • Đồng bào Việt Nam Hải Ngoại,
  • Các Tổ Chức Chính Trị, Truyền Thông Đại Chúng,
Ngày 1/1/2011, linh mục Nguyễn văn Lý đã chính thức phát lời kêu gọi cộng đồng quốc tế và cộng đồng dân tộc tập trung mọi nỗ lực để giải thể chế độ cộng sản Việt Nam. Phản ứng lại, Thủ tướng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng cho phổ biến Công điện hỏa tốc số 2402/CĐ-TTg ra lệnh cho công an sẵn sàng đàn áp mọi nỗ lực đấu tranh ôn hòa bất bạo động.
Hai nạn nhân đầu tiên của Nguyễn Tấn Dũng lại là Tùy viên chính trị của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ông Christian Marchant và Dân biểu Liên Bang Úc ông Luke Simpkins.
Ngày 5/1/2011, khi ông Christian Marchant đến thăm Linh Mục Lý Nguyễn Văn Lý tại Nhà Chung, Huế, ông đã bị công an cộng sản bạo hành và cưỡng bức rời khỏi khu vực Nhà Chung.
Ngày 7/1/2011, Dân biểu Luke Simpkins và một tùy viên của tòa đại sứ Úc đã bị công an ngăn chặn ngay tại phi trường Phú Bài, Thừa Thiên-Huế. Dân biểu Luke Simpkins đã bị công an cộng sản canh chừng suốt thời gian ông ở Huế, cũng đã không đựơc ghé thăm và tìm hiểu tình hình nhân quyền tại Việt Nam như đã dự định.
Công an tăng cường canh gác Nhà Chung Huế, nơi Linh mục Lý đang bị canh giữ.
Việc làm của Nguyễn Tấn Dũng và công an cộng sản tự nó đã tố cáo trước dư luận thế giới tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam. Mặt khác cũng cho thấy đảng Cộng sản đang sợ hãi trước cao trào đòi hỏi dân chủ cho Việt Nam.
Đứng trước tình hình, chúng tôi đồng kêu gọi tất cả các tổ chức chính trị, truyền thông và đồng bào hải ngoại tập trung vào các công việc cụ thể dưới đây:
Thứ nhất, vận động Quốc Tế Hóa Biển Đông để bảo tồn lãnh thổ và bảo vệ quyền lợi dân tộc;
Thứ hai, vận động Chính phủ Hoa Kỳ chính thức đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia cần đặc biệt quan tâm (CPC) ;
Thứ ba, vận động Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua Dự Luật Chế Tài Nhân Quyền Việt Nam;
Thứ tư, vận động các chính phủ tích cực tạo điều kiện để Việt Nam trở thành một nước dân chủ
Thứ năm, vận động các cơ quan Quốc Tế và chính phủ các nước chặt chẽ giám sát nhà cầm quyền cộng sản trong việc sử dụng các khỏan vay mượn hay viện trợ quốc tế;
Thứ sáu, vận động giới hạn việc chuyển tiền hay thăm viếng Việt Nam; đồng thời tạo điều kiện cho đồng bào Việt Nam hải ngoại, vì hoàn cảnh riêng phải về nước, có cơ hội tham gia đóng góp cho Mùa Hội Lớn Toàn Dân.”
Thứ bảy, củng cố và mở rộng thông tin về Việt Nam, đặc biệt thông tin trên mạng lưới toàn cầu;
Thứ tám, giúp đỡ cả vật chất lẫn tinh thần cho các nhà đấu tranh dân chủ tại Quốc Nội và gia đình của họ;
Và thứ chín, bằng các phương tiện ôn hòa, hợp pháp như mặc áo trắng, viết báo, hội thảo nhóm, tuyệt thực, biểu tình… để truyền đạt nguyện vọng toàn dân Việt Nam đang vùng lên giải thể chế độ cộng sản.
Bằng thế mạnh của lá phiếu công dân các quốc gia dân chủ và với quyết tâm góp công góp sức phục vụ Quốc Nội của cộng đồng hải ngọai chúng ta, đảng Cộng sản sẽ phải lùi bước trả lại quyền tự quyết cho dân tộc để Việt Nam có thể hòa nhập vào Thế giới Tự do.
Làm tại Hải Ngọai, ngày 15 tháng 01 năm 2011
Đồng ký tên
Ông Nguyễn Văn Tánh, Chủ Tịch Cộng đồng Người Việt Quốc gia tại Hoa Kỳ
Bà Lâm Tuyết, Chủ Tịch Liên Hội Người Việt Canada
Ông Nguyễn Thế Phong, Chủ tịch Cộng đồng Người Việt Tự Do Úc Châu
Ông Nguyễn Chính Kết, Thành viên Ban Đại diện Khối 8406 đang hoạt động tại hải ngoại
Và dưới đây là bản văn tiếng Anh:
Appeal for Supporting and Assisting

Đại Hội hay là màn Đại Đồng Ca?

Bùi Tín (VOA)

-
Đại hội XI đảng Cộng sản Việt Nam đã qua 3 ngày thảo luận các văn kiện.
Thế là xong phần xác định Cương lĩnh, Chiến lược, đường lối, chính sách cho 5 đến 10 năm sau. Ngày 15-1 Đại hội bước sang phần nhân sự.
Điều gì nổi lên rõ nhất trong 3 ngày qua ? Đã có 24 bài tham luận được trịnh trọng đọc. Lần lượt là Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, Chủ tịch Tổng Công đoàn, Chủ tịch Hội Nông dân, Chủ tịch Đoàn Thanh niên Cộng sản, Chủ tịch Hội Phụ nữ, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư, Bộ trưởng Văn hóa, Thứ trưởng bộ Ngoại giao. Về quốc phòng và an ninh, có tham luận của Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội Nhân dân, Bộ trưởng Công an…Thêm nữa là tham luận của các đảng bộ Thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Sóc Trăng, Cao Bằng, Đác Lắc … Còn có tham luận của Chánh văn phòng Ủy ban phòng chống tham nhũng, đại diện Viện Khoa học và Công nghệ, đại diện Học viện Chính trị -Hành chính Quốc gia, phó Ban Tuyên giáo Trung ương, đại diện Ủy ban Khoa học xã hội, phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương vả cuối cùng là đại diện Đảng bộ Kinh tế Doanh nghiệp Trung ương, khẳng định mạnh mẽ vai trò then chốt, chủ lực của các tập đoàn quốc doanh.
Hầu hết các tham luận đều mở đầu bằng câu: Chúng tôi nhất trí cao với các văn kiện đã được chuẩn bị rất công phu, đầy đủ.
Hoàn toàn không có không khí trao đổi, thảo luận, tranh luận trong suốt 3 ngày qua. Hoàn toàn càng không có không khí phản biện, cọ xát chính kiến đề đoàn chủ tịch nêu lên những ý kiến đối lập, khác biệt, nhằm hình thành đề tài tranh luận, để các đại biểu suy nghĩ, luận bàn sôi nổi, buộc trí não phải làm việc, và khi cần thì biểu quyết.
Trong 1377 đại biểu, không có một ai nêu lên một ý kiến cá nhân gì dù nhỏ nhất yêu cầu sửa đổi hoặc bổ sung vào các văn kiện dự thảo. Trong 3 ngày thảo luận văn kiện, chì có 24 đại biểu lên diễn đàn, toàn là nhân danh tổ chức, đoàn thể, cơ quan mình phụ trách, không một ai nêu lên ý kiến cá nhân của mình. Tính cách cá nhân hoàn toàn không hiện hữu trong hội trường. Thật kinh khủng, thật đáng sợ, thật dị thường.
Như vậy là hơn 1.300 đại biểu còn lại đến dự đại hội không cần mở mồm nói một câu nào, chỉ cần giơ tay biểu quyết, tán thành mọi thứ. Thật là xuôi chiều, ngoan ngoãn, dễ bảo, vâng lời triệt để. Họ là những robot hoàn hảo.
Đây là một Đại hội mẫu mực của nền dân chủ tập trung, nghĩa là dân chủ bị cắt xén, nền dân chủ stalinít, nền “đảng chủ”, “nền dân chủ của ông Vua tập thể có 15 đầu”, theo cách nói có hình ảnh của nguyên chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An mới đây.
Trong cả 24 bản tham luận, những sự kiện mà nhân dân bình thường hay nhắc đến nhất trong mấy tháng qua đều vắng bóng. Những danh từ như Vinashin, khu lọc dầu Dung Quất, khủng hoảng tranh chấp ở biển Đông, chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, chủ trương khai thác bauxite ở Tây Nguyên, tai họa bùn đỏ, các vụ tham nhũng lớn dây dưa PMU 18, PCI ở Nhật Bản, Securency ở Úc, Nexus Technologies ở Hoa Kỷ, vụ án Hà Giang, vụ bỏ tù những chiến sỹ dân chủ đấu tranh không bạo lực chống bành trướng, như cô Phạm Thanh Nghiên ngồi tọa kháng trong nhà trước biểu ngữ “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam”… đều như là những từ phạm húy, không một đại biểu nào dám nói ra. Cứ như đó toàn là chuyện bịa.
Thế là thế nào ? Đâu là trách nhiệm phục vụ dân, bảo vệ đất nước của đảng cầm quyền? Đâu là những đại biểu ưu tú của đảng, được sàng lọc, lựa chọn kỹ từ cơ sở? Trí tuệ và tâm huyết của họ đâu rồi? Chỉ là con số không ư? Các đại biểu khi về sẻ báo cáo những gì về công việc mình làm tại Đại hội cho đảng bộ và nhân dân ?
Chẳng lẽ Đại hội XI còn kém xa không khí dân chủ của Quốc hội khóa mới rồi, dù cho mới chỉ là bước đầu chập chững của nền dân chủ nghị trường?
Đại hội đảng thời đổi mới mà sao lại cũ, xưa, đến thế. So với Đ5i hội VI, Đại hội XI lùi đến mấy chục bước. Cờ, hoa, pháo hoa cho Tết Tân Mão để “chào mừng kết quả tốt đẹp của Đại hội XI” cho dủ hoành tráng đến đâu cũng không thể xóa bỏ niềm cay đắng chua xót của những người am hiểu thời cuộc, đang theo dõi chặt chẽ diễn biến của đại hội XI.
Họ nhận ra Đại hội XI không hề là một cuộc họp bình thường, lành mạnh, khoa học, có thảo luận, tranh luận để tỉm ra lẽ phải, ra chân lý, mà chỉ là một dàn đồng ca, hợp xướng nhạt nhẽo, vụng về, thô kệch, đã già nua lại ấu trĩ, quay lưng với cuộc sống, với nhân dân, chỉ dẫn đến những tai họa và bất công chồng chất cho nhân dân và đất nước.
Blog Bùi Tín (VOA)

Ðại hội ù lì trâng tráo

Ngô Nhân Dụng
-
Ðại hội thứ 11 của Ðảng Cộng Sản Việt Nam có đặc tính nào nổi bật? Có thể gọi tên, đó là tính chất ù lì và trâng tráo. Ù lì vì 1,377 đại biểu nhất quyết sẽ giữ đảng ngồi tại chỗ trên đầu trên cổ dân Việt Nam, không có gì thay đổi cả mặc dù gần như toàn thể 88 triệu người Việt Nam đang khát khao muốn thay đổi, thay đổi toàn diện và càng nhanh càng tốt.
Trâng tráo, bởi vì muốn ngồi lại để hưởng thụ các “quả thực của cách mạng,” tích lũy của cải làm giầu thì họ phải theo truyền thống “văn hóa mặt dầy” mà nói dối, hô to những khẩu hiệu huênh hoang, phải đánh lừa mình và lừa người một cách thản nhiên, không biết hổ thẹn.
Thể hiện tính chất ù lì là chủ trương giữ vững độc quyền chính trị. Hai ngày trước đại hội, ông Trưởng Ban Tuyên Giáo Tô Huy Rứa đã dọa trước rằng: “Ðảng kiên quyết bác bỏ ‘nhu cầu đa nguyên’ về chính trị tại Việt Nam.” Một người có hy vọng sắp vào Bộ Chính Trị là ông Ðinh Thế Huynh, chủ tịch Hội Nhà Báo Việt Nam đã khẳng định: “Dứt khoát không đa nguyên đa đảng!” Ông Huynh giải thích rằng: “Chúng tôi đã từng thử nghiệm đa nguyên đa đảng thông qua cuộc tổng tuyển cử năm 46, với nhiều đảng tham gia Quốc Hội. Nhưng đến khi thực dân Pháp quay lại xâm lược nước tôi thì chỉ có Ðảng Cộng Sản cùng với nhân dân Việt Nam chiến đấu chống lại và giành thắng lợi trước thực dân Pháp. Và nay, Ðảng Cộng Sản Việt Nam vẫn đang tiếp tục lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.”
Ðây là một lối xuyên tạc lịch sử trắng trợn, mà xưa nay đảng Cộng Sản vẫn trâng tráo thi triển. Năm 1945 chỉ có 5,000 đảng viên cộng sản, còn các đảng phái quốc gia đông hơn nhiều. Hồ Chí Minh đã phải mời các đảng quốc gia hợp tác vào chính phủ, mời cả ông Bảo Ðại làm cố vấn, để có bộ mặt đoàn kết. Hồ còn tuyên bố giải tán đảng Cộng Sản nữa, nhưng ai cũng biết là bịp. Sau đó, Cộng Sản đã thỏa hiệp để có thời gian “hưu chiến” với Pháp, trong thời gian đó họ dùng toàn lực lượng tìm giết các người có khuynh hướng quốc gia, những người không theo đảng Cộng Sản do Stalin và Ðệ Tam Quốc Tế chỉ huy. Trước khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, Cộng Sản Việt Nam đã hạ sát, thủ tiêu bao nhiêu người Việt yêu nước xuất sắc. Hãy nhớ tới Trương Tử Anh, Lý Ðông Á, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Huỳnh Phú Sổ. Một nhà văn yêu nước như Khái Hưng, đã từ giã cháu ở Hà Nội với câu, “Chú về quê đi kháng chiến,” nhưng cũng bị cộng sản thủ tiêu mất xác. Bao nhiêu các lãnh tụ đảng phái quốc gia phải trốn sang Tầu như Nhất Linh, Hoàng Ðạo, Nghiêm Kế Tổ, chỉ vì nếu ở lại trong nước sẽ bị ám sát như các nhân vật trên. Lịch sử sẽ ghi rõ năm 1946 đảng Cộng Sản Việt Nam đã cướp độc quyền chính trị theo đúng bài bản của Stalin. Năm 1953, Cộng Sản Việt Nam lại phát động Cải Cách Ruộng Ðất theo đường lối Mao Trạch Ðông, và một lần nữa, đi tìm giết hết những người bị nghi ngờ, hoặc bị vu cáo, là đảng viên Quốc Dân Ðảng! Vì đã nhắm mắt chạy theo một chủ nghĩa ngoại lai “đấu tranh giai cấp” để thực hiện “vô sản chuyên chính” cho nên đảng Cộng Sản tiêu diệt hết những người yêu nước không cùng ý kiến và có khả năng!
Bây giờ ông Ðinh Thế Huynh lại nói rằng năm 1946 các đảng phái quốc gia biến đi mất để đảng Cộng sản một mình kháng chiến, đó là một lời trâng tráo xuyên tạc lịch sử. Nhưng trong số các nhân vật lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam ít có người trâng tráo bằng ông Nguyễn Tấn Dũng!
Ngày hôm qua tạp chí trên mạng Ðàn Chim Việt đã trình bày cho bà con khắp thế giới một thủ đoạn tô điểm phấn son để tung hô ông Nguyễn Tấn Dũng, người đang ngồi chủ tọa đại hội Ðảng Cộng Sản. Màn kịch này xuất hiện ở Việt Nam với một bài báo ngày 11 tháng 1, 2011, trên tờ Pháp Luật Việt Nam, nhan đề “Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng xuất sắc nhất Châu Á!”
Báo Pháp Luật nói là họ viết tin này “theo báo Firmenpress” và rêu rao rằng đó là do báo chí Châu Âu đánh giá Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng! Nhưng đảng Cộng Sản quen đánh lừa dân Việt Nam lại không biết rằng ngày nay người Việt đã khôn hơn những năm 1946 nhiều rồi. Ông Nguyễn Tôn Hiệt, trên tờ Ðàn Chim Việt, đã đi tìm hiểu và khám phá ra mạng firmenpresse.de ở Ðức là một trang mạng chuyên đăng các bài tự quảng cáo (PR), dưới hình thức “Thông cáo cho báo chí” trong mọi lĩnh vực, từ thương mại, nghệ thuật, công nghệ, cho đến chính trị, do các khách hàng tự viết gửi đến. Ai muốn “lăng xê” món hàng nào, ca sĩ, tài tử nào, cứ việc đưa lên mạng này!
Tìm trên trang firmenpresse.de, ông Nguyễn Tôn Hiệt cuối cùng thấy có tới hai cái “press release” quảng cáo cho Nguyễn Tấn Dũng do một khách hàng tên là “RES-Resources, Ecology, Services GmbH” gửi đăng trong hai ngày 10 và 12 tháng 1, 2011. Công ty này bản thân là một hãng chuyên về các dịch vụ chế biến rác rưởi và vệ sinh môi trường; tạm gọi là một Công ty Rác.
Sau nhiều màn điều tra, Ðàn Chim Việt đã khám phá ra đây là một “vở kịch chuyền bóng” giữa công ty chế biến rác “RES-Resources,” với hai tờ báo của Việt Nam là VnExpress và Pháp Luật. Màn mở đầu là mạng VnExpress, từ ngày đầu năm 2011, viết bài tổng kết thời sự phong ông Dũng là Nhân Vật Năm 2010 của họ. Thế rồi, qua công ty Rác RES-Resources, Cộng sản đã biến tin đó thành một bài quảng cáo trên mạng firmenpresse.de vào ngày 10 tháng 1 năm 2011, trước khi đảng Cộng Sản khai mạc đại hội. Hôm sau, báo Pháp Luật lại dùng bài quảng cáo trên firmenpresse làm thành bản tin mới, tung ông Nguyễn Tấn Dũng lên cao hơn, nói các báo ở Âu Châu coi ông ta là vị thủ tướng “xuất sắc nhất Châu Á!” Một ngày sau, họ lại dựa trên bài của báo Pháp Luật này mà đưa qua RES-Resources cho thêm một bài quảng cáo nữa trên firmenpresse với nội dung “Ngôi sao chính trị mới ở Châu Á: Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng!” Các báo khác trong nước cứ theo firmenpresse mà đăng tin theo đuôi, nói trắng trơn rằng: “Các báo Châu Âu đánh giá Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng xuất sắc nhất Châu Á!”
Sau khi những màn tung bóng trên được xuất hiện làm quà cho đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam trong ngày khai mạc, 1,377 đại biểu thay mặt cho gần 3.7 triệu đảng viên cộng sản không biết đầu đuôi thế nào chắc sẽ “hồ hởi phấn khởi” tin tưởng vào ông Nguyễn Tấn Dũng, như một nhân vật nổi danh quốc tế, không kém gì ông Hồ Chí Minh! Như vậy thì không bầu ông ta làm tổng bí thư sẽ phí uổng một nhân tài quốc tế!
Ít nhất, Nguyễn Tấn Dũng bây giờ còn giỏi hơn ông Hồ Chí Minh ngày xưa. Ông Dũng có thể thuê người dùng mạng lưới ngoại quốc mà dàn cảnh vở kịch “tự đánh bóng mình,” như đánh bóng chuyền. Chứ không như ông Hồ phải tự cặm cụi viết sách ca ngợi mình ký tên Trần Dân Tiên; chứ không phải là một cái tên Nga hay tên Ðức cho có vẻ quốc tế! Có thể nói, ông Dũng đã làm đúng theo chủ đề của Ðại Hội XI là “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng!” Năng lực dối trá, nói láo một cách trâng tráo không hề đỏ mặt, đã được đưa lên ngang tầm thời đại!
Một bằng chứng là trong ngày khai mạc đại hội, các đại biểu được nghe đọc “danh sách 103 đảng từ 69 nước và 14 tổ chức quốc tế” đã “gửi điện chúc mừng Ðại Hội XI của đảng Cộng Sản Việt Nam,” theo bản tin của hãng tin nhà nước. Sau khi biết chuyện về chiến dịch tung hô Nguyễn Tấn Dũng trên đây, người dân Việt Nam sẽ tự hỏi không biết có bao nhiêu điện văn chúc mừng đó ký tên là Trần Dân Tiên? Nhưng mối nghi hoặc đó cũng không ngăn cản được Nguyễn Tấn Dũng “thay mặt Ðoàn Chủ Tịch và toàn thể đại hội phát biểu ý kiến bày tỏ sự trân trọng và cảm ơn nồng nhiệt đối với tình cảm hữu nghị và hợp tác của các chính đảng, tổ chức và bạn bè quốc tế!” Tự nhiên, các “bạn bè quốc tế” như công ty Rác RES-Resources thì lúc nào cũng nồng nhiệt ủng hộ và hợp tác với Nguyễn Tấn Dũng rồi!
Bản tin báo nhà nước còn viết rằng: “Ðại hội coi đây là biểu hiện sinh động của mối quan hệ quốc tế của Ðảng ta; là sự ủng hộ, cổ vũ, động viên to lớn đối với công cuộc đổi mới của nhân dân Việt Nam do đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo.”
Ðiều đáng chú ý trong câu văn quảng cáo trên đây là họ không nói gì tới Chủ nghĩa Xã hội hay là Chủ nghĩa Cộng sản cả. Họ nói đến “sự ủng hộ, cổ vũ, động viên to lớn đối với công cuộc đổi mới…” Tức là họ coi như bỏ quên luôn cái tên của đảng họ! Mà trong thực chất, bây giờ những đại biểu ngồi trong đại hội này có còn ai là “chiến sĩ vô sản” nữa hay không?
Nhưng chúng ta biết trong báo cáo chính trị, ông Nông Ðức Mạnh đã nhắc lại một cách long trọng là đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn “tiếp tục thực hiện chủ trương đảng viên làm kinh tế tư nhân;” và “kết nạp những người là chủ doanh nghiệp tư nhân đủ tiêu chuẩn vào đảng.” Nhìn chung quanh đại hội, trong số 1,377 người ngồi đó có người nào không đang “kinh doanh” hay không? Trước khi đi dự đại hội này, có người nào còn đọc Tuyên ngôn Cộng sản của Karl Marx hay không?
Cuối cùng thì đối với gần 1,400 con người này, mối quan tâm lớn nhất của họ là bảo toàn tài sản của gia đình họ và làm sao cho tiền bạc cứ càng ngày cang phong phú hơn! Anh có một triệu đô la nhìn thấy anh khác có 10 triệu thì sẽ phấn đấu để mình cũng có 10 triệu. Anh có 10 triệu sẽ nhìn tấm gương các đồng chí có 100 triệu, có một tỷ đô la để quyết tâm tiến tới trên con đường đổi mới! Nhưng muốn giữ được tài sản và bành trướng tài sản, thì điều kiện quan trọng nhất là phải bám lấy quyền lực. Mất quyền là mất tất cả.
Ðó là tâm trạng của cả ngàn đại biểu đang ngồi nghe những bài diễn văn trống rỗng trong hội trường. Trong lúc đó, hơn 80 triệu người Việt Nam đang lo làm sao đối phó với lạm phát. Ông Nguyễn Bắc Son, phó trưởng ban Tuyên Giáo nói đến tiêu chuẩn chọn người vào Trung Ương Ðảng sắp tới: “có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức, có năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, có uy tín trong đảng, trong xã hội, có tư duy đổi mới, khả năng tiếp cận, nắm bắt, xử lý vấn đề mới và vấn đề phức tạp nảy sinh; có khả năng đoàn kết, quy tụ, có phong cách làm việc khoa học, dân chủ, sâu sát, nói đi đôi với làm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm…”
Toàn những khẩu hiệu ròn rã ghi trong sách giáo khoa cho trẻ em học, nghe hay kinh khủng. Nhưng ông ta không nói gì đến khả năng kiềm chế lạm phát cả! Cũng không nói gì đến khả năng giảm bớt khiếm hụt thương mại mỗi năm 12 tỷ đô la cả. Cũng không nói đến khả năng làm sao quản lý các doanh nghiệp nhà nuớc cho chúng khỏi ăn mòn của cải do toàn dân tạo ra cả!
Tóm lại, đảng nhất định ù lì, miễn sao tiếp tục hưởng thụ những “thành quả cách mạng” tính bằng đô la! Không biết người Việt Nam cứ tiếp tục coi những màn kịch này sẽ còn chịu đựng được bao lâu?

17/1/11

Sử gia Dương Trung Quốc: "Bất ngờ trước dự án Mở rộng Hà Nội"

2008-05-20



Liên quan đến dự án Mở rộng Hà Nội hiện đang được bàn tại kỳ họp 3 Quốc Hội khoá 12, trong một buổi phát thanh trước chúng tôi giới thiệu bài đầu tiên trong loạt bài ghi nhận ý kiến của các nhà chuyên môn, đại biểu Quốc hội và những người quan tâm.









Đại biểu Quốc hội kiêm sử gia Dương Trung Quốc. Photo courtesy of wikipedia Trong buổi phát thanh hôm nay chúng tôi xin gửi tới quí vị bài thứ hai trong đề tài này. Kỳ này là cuộc trao đổi của Việt Hùng với đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc.

Việt Hùng: Thưa ông Dương Trung Quốc liên quan đến “chiến lược” chủ trương Mở rộng Hà Nội câu hỏi đầu tiên chúng tôi xin được đặt ra là ông có bất ngờ trước dự án Mở rộng Hà Nội hay không?

Ông Dương Trung Quốc: Đúng về cách làm thì tôi bất ngờ, số đông cũng bất ngờ bởi vì những thông tin đầu tiên cũng mới chỉ bắt đầu từ đầu năm nay 2008 khi có Hội nghị Trung ương đảng họp lần thứ 6 (tháng Giêng, năm 2008) mà trong đó có chương trình Mở rộng Hà Nội.

Chúng tôi cũng nghĩ một đề án quan trọng như thế thì phải bảo đảm một tiến trình. Vấn đề tạo sự bất ngờ ở đây chính là diễn ra một cách quá sớm khi mà những thông tin đầu tiên chưa đến với đông đảo dư luận quần chúng, những người có liên quan và đông đảo các đại biểu dân cử như Hội đồng Nhân dân và các đại biểu Quốc hội. Cho nên rốt cuộc đến kỳ họp này chúng tôi mới nhận được những thông tin đầu tiên, những văn bản phải nói là rất sơ sài so với tầm mức quan trọng của đề án và hơn nữa là một vài vị trong chính phủ đã ấn định ngay cả thời điểm sẽ thực hiện vào ngày mùng 1-07 tới đây. Có thể nói tất cả những điểm đó đã gây cho chúng tôi sự bất ngờ và chính sự bất ngờ này cũng đặt ra nhiều câu hỏi liên quan đến đề án này.

Việt Hùng: Theo ông Bộ trưởng Nội vụ “vấn đề Mở rộng Hà Nội không có gì gọi là bí mật hay bất ngờ…” bởi vì đề án này đã có từ năm 2000, nhưng với cá nhân ông đã là đại biểu Quốc hội ít nhất cũng là 2 khóa rồi vậy mà tại sao ông nói là mới có được những “thông tin” mà tạm gọi là thông tin?


Đúng về cách làm thì tôi bất ngờ, số đông cũng bất ngờ bởi vì những thông tin đầu tiên cũng mới chỉ bắt đầu từ đầu năm nay 2008 khi có Hội nghị Trung ương đảng họp lần thứ 6 (tháng Giêng, năm 2008) mà trong đó có chương trình Mở rộng Hà Nội.

Ông Dương Trung Quốc: Đấy là cách nói của ông Bộ trưởng Nội vụ thôi, bởi vì ông ấy nói là có từ năm 2000 tức là 8 năm, trong khi ông Thủ tướng thì nói từ 6 năm nay? Tất cả muốn nói đến định hướng được đặt ra từ Nghị quyết của đảng vào năm 2000 cũng như Pháp lện về Thủ đô của Quốc hội cũng vào năm 2000. Nhưng nếu đọc kỹ hai Văn kiện này thì thấy tầm nhìn và mục tiêu của nó là đến năm 2010 và đặt ra mục tiêu phát triển Hà Nội cho tương xứng với sự phát triển chung của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và tương xứng với một quốc gia ngót 100 triệu dân trong thời gian tới. Thế nhưng trong Văn kiện đó cũng chưa hề nói tới giải pháp Mở rộng Thủ đô.

Theo tôi nghĩ giải pháp Mở rộng Thủ đô được đặt ra khi cảm thấy không còn giải pháp nào để thực hiện mục tiêu ấy bởi vì nội dung được nhiều nhà chuyên môn cũng như giới truyền thông biết đến là Xây dựng vùng Thủ đô nhằm tạo ra không gian thích hợp để không bị ngăn cản bởi biên giới hành chính để tạo ra nguồn lực hỗ trợ cho sự phát triển của Hà Nội. Chứ còn việc Mở rộng Hà Nội theo 5 phương án mà chính phủ trình bày thực ra cho đến kỳ họp này chúng tôi mới được biết tới. Không biết các nhà chuyên môn khác như thế nào thì tôi không biết… nhưng ít nhất các đại biểu Quốc hội đến thời điểm này mới được biết đến.

Nói thực ra lúc đầu chúng tôi cũng chỉ biết đến 2 phương án thôi, còn 3 phương án kia thì nói rằng đã bị các ban nghiên cứu bác bỏ rồi. Tôi thấy cách làm như thế là không bình thường nhất là với một đề án quan trọng như vậy. Chính tôi cũng phát biểu tại diễn đàn Quốc hội ngay hôm đầu tiên là với thông tin như thế, cách làm như thế thì các đại biểu Quốc hội chúng tôi không dám bày tỏ quan điểm của mình bởi vì chưa đủ thông tin và chưa có cơ hội để tranh thủ ý kiến các cử tri của mình trong đó có các cử tri là những nhà chuyên môn.

Bất cập








Theo đề án của Bộ Xây Dựng, thủ đô Hà Nội sẽ được mở rộng về hướng tây, bao gồm một phần tỉnh Hà Tây. Việt Hùng: Với cái nhìn của một nhà Sử học dự án này còn bất cập ở chỗ nào?

Ông Dương Trung Quốc: Cái bất cập lớn mà tôi phát biểu trong những cuộc thảo luận là rất khó nhìn về tương lai, tương lai của 30 năm, 40 năm như trong đề án đặt ra chỉ là những hình ảnh, viễn cảnh được mô tả mà thôi…nhưng nếu nhìn vào quá khứ thì có thể nhận ra tương lai ấy có khả thi hay không? Bởi vì đây không phải là lần đầu tiên Hà Nội đưa ra những quy hoạch lớn cho sự phát triển của mình, kể cả mở rộng hay thu hẹp không gian hành chính của mình.

Nếu mà nhìn quá khứ như thế thì thấy tất cả những thử nghiệm ấy đều dẫn đến sự không thành công chứ tôi không nói là thất bại, ít nhất là không thành công. Cũng như trong quá khứ HàNội đã từng điều chỉnh của nhiều không gian của Vĩnh Phúc, của Sơn Tây hay…thì sau đó lại phải trở lại như cũ!

Trong khi đó thời điểm diễn ra sự mở rộng này cho dù sự mở rộng này có thể là một giải pháp phù hợp với thời điểm hiện nay thì Việt Nam đang đứng trước những khó khăn. Cái khó khăn đầu tiên là năng lực, nguồn lực của đất nước, tình hình đang lạm phát, nhà nước đang tập trung giải quyết hạn chế những đầu tư công mà trong khi đó dự án này không hề đưa ra những giải trình về khả năng và tính khả thi về nguồn lực, tài chính, nhưng quan trọng hơn là nguồn lực về con người. Rõ ràng Hà Nội còn đang bề bộn với không gian hiện tại, bề bộn rất nhiều trong việc xây dựng một chính quyền đô thị, trong xây dựng một đô thị thực sự cũng như văn hóa đô thị thì việc mở rộng này cũng đặt ra một vấn đề rất lớn về quản lý. Khó có khả năng vàtình hình không những không được cải thiện mà có thể lại trở nên tồi tệ hơn, đấy là theo quan điểm của cá nhân tôi.

Việt Hùng: Tại kỳ họp Quốc hội cá nhân ông đã đưa ra một số điểm sai trong dự án chiến lược này, xin ông có thể nói rõ hơn để quí thính giả được tường tận hơn.

Ông Dương Trung Quốc: Đấy là văn bản đầu tiên mà tôi tiếp nhận được. mới đọc lướt qua tôi đã thấy những cái sai hết sức sơ đẳng ấy. Điều tôi đưa ra là chủ yếu nhấn mạnh rằng với một cái đề án liên quan đến thủ đô vẫn được gọi là Nghìn năm Văn Hiến mà thiếu đi bàn tay khối óc của những nhà khoa học xã hội nhân văn thì chắc chắn đó là sai lầm về phương pháp.

Việc đề ra những chi tiết sai lầm tuy là nhỏ nhưng không thể chấp nhận được cho thấy sự đầu tư chưa đúng mức đối với tầm vóc của một đề án quan trọng như thế nhất là đối với Hà Nội.


Việc đề ra những chi tiết sai lầm tuy là nhỏ nhưng không thể chấp nhận được cho thấy sự đầu tư chưa đúng mức đối với tầm vóc của một đề án quan trọng như thế nhất là đối với Hà Nội.

Việt Hùng: Theo chỗ chúng tôi ghi nhận dự án Mở rộng Hà Nội đã được Bộ Chính trị thông qua, Hội nghị Trung ương đảng thông qua hồi tháng Giêng vừa qua, nay vấn đề đang được đặt lại tại diễn đàn Quốc hội. Câu hỏi được đặt ra có thực là Quốc hội muốn đặt lại vấn đề hay đó chỉ là ý kiến của một số đại biểu muốn đặt lại vấn đề.

Ông Dương Trung Quốc: Thực ra đấy cũng là quan ngại đầu tiên mà tôi đã phát biểu trên tờ Văn nghệ Trẻ Hà Nội khi được hỏi liệu khả năng có thông qua hay không thì tôi cũng nghĩ đơn giản là thông qua thôi, bởi vì khi đã có Nghị quyết của đảng rồi thì một tỷ trọng rất cao các đại biểu “dân cử” rất cao là đảng viên nên họ hành xử theo ý thức của một tổ chức chính trị.

Thế nhưng thực tế trên diễn đàn Quốc hội trong mấy ngày hôm nay rất sôi nổi, tôi thấy anh em, các vị đảng viên trong Quốc hội phát biểu cũng rất thẳng thắn. Vả lại ý kiến chung thì mọi người đều chia sẻ với chính phủ về việc mở rộng Hà Nội cũng là một giải pháp có thể phải cần thiết. Chỉ có đặt vấn đề là đến mức độ nào? được điều hành như thế nào? Và cuối cùng là vào thời điểm thích hợp thì đấy là điều mà các vị đại biểu đặt ra, chứ cũng ít ai đặt ra vấn đề là không nên mở rộng. Tôi nghĩ là trong cuộc thảo luận sắp tới, kết thúc thì tôi không thể đoán định trước được, nhưng tôi nghĩ sẽ có những cuộc thảo luận sôi nổi.

Việt Hùng: Theo ông Dương Trung Quốc, đề án Mở rộng Hà Nội đã được đặt lại tại diễn đàn Quốc hội trong kỳ họp này, nhưng vấn đề có thuận theo đề nghị của Ủy ban Pháp luật Quốc hội do ông Trần Quốc Thuận đứnghuận đứng đầu là dời thời điểm lại sau Lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long hay không?

Kết quả bỏ phiếu được tiên liệu như thế nào? Ý kiến của các nhà chuyên môn, hay thậm chí gần đây việc lên tiếng của ông Võ Văn Kiệt về vấn đề này ghi nhận ra sao, đó là những vấn đề được đặt ra trong phần hai cuộc trao đổi với ông Dương Trung Quốc, mời quí vị nhớ đón nghe.

Đại lễ 1.000 năm có thật sự thành công?

2011-01-04
Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long diễn ra tại Hà Nội từ ngày mồng 1 đến ngày 10 tháng 10 năm 2010, được xem là 1 trong 10 sự kiện văn hóa nổi bật và được quan tâm nhất tại Việt Nam trong năm vừa qua.
AFP PHOTO / HOANG DINH Nam
Bản sao của trống đồng Việt Nam cổ, một biểu tượng của văn hóa dân tộc Việt Nam, được trưng bày tại Văn Miếu ở Hà Nội vào ngày 31 tháng 8 năm 2010 dịp Đại lễ 1.000 năm Thăng Long.
Báo chí trong nước cho đó là biểu tượng văn hóa truyền thống, tưng bừng với sự tham gia, hưởng ứng của trên một triệu người dân cả nước cũng như từ hải ngoại tập trung về. Dịp này, hoàng thành Thăng Long cũng được công nhận là di sản văn hóa thế giới. Trên thực tế, đại lễ này có thật sự thành công như nhà nước nhận định và đánh giá hay không? Bên cạnh những thành tựu bề ngoài đó, những hiện tượng tiêu cực, mặt trái của 1.000 năm Thăng Long là gì? Mời quý vị theo dõi ý kiến của một số người Việt trong và ngoài nước về sự kiện lịch sử này.

Chuẩn bị rầm rộ

Đại lễ  cần thiết vì đó là cái mốc lịch sử của thủ đô, nhưng mà làm đến mức nào, chi phí đến đâu, quy mô ra sao, theo tôi cũng có nhiều vấn đề đáng phải suy nghĩ.
Ô. Lê Văn Triết
Những nét đẹp tươi, niềm phấn khởi, tự hào, những hình ảnh đầy màu sắc, lung linh rực sáng, cảnh nhộn nhịp, trang trọng của “dấu mốc lịch sử” ngàn năm có một này đã được cơ quan truyền thông của nhà nước phổ biến bằng mọi phương tiện thông tin, quảng bá nhanh chóng và rộng khắp cả nước và toàn thế giới. Vào những ngày cuối năm 2010, thành phố Hà Nội đã tổ chức các buổi lễ tri ân và tôn vinh những tỗ chức cùng cá nhân góp phần tích cực trên nhiều lãnh vực giúp cho hoạt động kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long được hoàn thành mỹ mãn.
Tuy nhiên, nhiều đại biểu quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân thành phố đều yêu cầu chánh phủ nên có đánh giá, kiểm tra, giám sát, tổng kết chi tiêu, quyết toán tài chánh, báo cáo cụ thể  chi tiết hậu đại lễ, hầu rút kinh nghiệm và hạn chế đến mức tối đa, cho những sự kiện quan trọng tương tự, có tầm vóc quốc gia, trong tương lai. Cũng có nhiều ý kiến cho rằng, vào dịp đại lễ, thành phố thông thoáng, sạch đẹp, ngăn nắp, trật tự, nhưng một khi sự kiện trọng đại này kết thúc thì “mọi việc lại đâu vào đấy”, có nghĩa là đường phố đầy rác, ô nhiễm môi trường nặng nề, giao thông tắc nghẽn, ngập lụt đó đây tái xuất hiện.
Trả lời câu hỏi, 1.000 năm Thăng Long mang ý nghĩa ra sao? Ông Lê Văn Triết, cựu Bộ Trưởng Thương mại Việt Nam giải thích:
“Sự kiện đại lễ 1.000 năm Thăng Long cũng toát lên một nét văn hóa có giá trị nhất định của đất nước Việt Nam, nó cũng để lại trong chừng mực nào đó cái dấu ấn tốt đẹp của người công dân trong nước cùng bạn bè trên thế giới, đối với thủ đô của Việt Nam. Đó là điều đáng mừng, đây cũng là dịp tốt để bạn bè thế giới hiểu rõ Việt Nam hơn.”
Tuy nhiên, ông cũng đặt lại vấn đề là đất nước còn rất nhiều chuyện phải lo để đời sống người dân được nâng cao:
000_Hkg4060352-200.jpg

Công nhân lắp đặt đèn gần Nhà hát lớn ở trung tâm Hà Nội để chuẩn bị cho Đại lễ 1.000 năm Thăng Long diễn ra từ ngày 1 đến ngày 10 tháng 10 năm 2010. AFP PHOTO/ HOANG DINH Nam.
“Đại lễ  cần thiết vì đó là cái mốc lịch sử của thủ đô, nhưng mà làm đến mức nào, chi phí đến đâu, quy mô ra sao, theo tôi cũng có nhiều vấn đề đáng phải suy nghĩ, làm sao cho phù hợp hơn đối với tình hình, nền kinh tế, khả năng, tiền nong, tài chính của trong nước, trong hoàn cảnh mà Việt Nam còn khó khăn, cần tập trung nhân lực, vật lực, tài lực để chăm lo sự phát triển của đất nước, đời sống của người dân, nhất là dân nghèo. Tôi không nói chữ lãng phí, quá lớn, tôi cũng không nói con số đã chi, là bao nhiêu bởi vì tôi không nắm được cụ thể số tiền đã bỏ ra, để chi phí.
Nhưng với cái nhìn của người dân, trong hoàn cảnh cần phải phát triển xã hội mạnh mẽ, cần vươn lên, trong lúc nhân dân ở một số nơi, thành thị, nông thôn vẫn còn nghèo, thì việc chi tiền, nên chi làm sao cho hợp lý, để mình dành được tiền nhiều hơn cho công cuộc phát triển, chứ không phải cho đại lễ. Chi đến đâu thì hợp lý là vấn đề phải cân nhắc, chi đến mức nào, còn để lại bao nhiêu cho công cuộc phát triển, lo giảm đói nghèo, giảm khó khăn cho các tầng lớp nhân dân, đó là vấn đề theo tôi, nên tính toán, cái ưu tiên đó, nó hợp lý hơn.”

Sự khoa trương sai lầm

Kế đó, blogger Mẹ Nấm, là người theo dõi các diễn tiến của đại lễ 1.000 năm Thăng Long và  sau đó phổ biến trên mạng nói lên suy nghĩ của mình:
Về sự kiện  đại lễ 1.000 năm Thăng Long, tôi vạch rõ những sự khoa trương sai lầm, trong đầu tư vào các công trình 1.000 năm Thăng Long, gây nhiều khó khăn lớn cho bà con ở thủ đô.
Ô. Lê Diễn Đức

“Có rất nhiều chuyện để nói, thứ nhất là ngày khai mạc đại lễ là ngày quốc khánh của Trung Quốc, thì vấp phải rất nhiều sự phản đối từ cộng đồng dân cư mạng, nhưng nhà nước vẫn bỏ qua. Ngày bế mạc là ngày quốc khánh của Đài Loan, 10 tháng 10, năm 2010, điều đó không gợi lên được tinh thần dân tộc. Điều thứ hai là số tiền chi tiêu cho đại lễ là sự xa xỉ và phung phí, trong khi vào thời điểm đó xảy ra lũ lụt Miền Trung, đó là chưa đến các công trình chào mừng đại lễ lại kém chất lượng, bộc lộ sự yếu kém ngay sau lễ khai mạc. Có quá nhiều bất cập trong việc tổ chức, kẹt xe, không kiểm soát được giao thông, rác tràn ngập sau đại lễ. Cá nhân em nhận xét đại lễ 1.000 năm Thăng Long là một thất bại, thứ nhất về mặt tinh thần dân tộc, thứ hai về mặt tổ chức vì lễ hội đó không để lại điều gì trong lòng người dân.”
Từ thủ đô Warsaw của Ba Lan, nhà báo Lê Diễn Đức kể lại một số điều mà ông cho là sai và vô lý:
“Trong những bài tôi viết về sự kiện  đại lễ 1.000 năm Thăng Long, tôi vạch rõ những sự khoa trương sai lầm, trong đầu tư vào các công trình 1.000 năm Thăng Long, gây nhiều khó khăn lớn cho bà con ở thủ đô, sau đó lại cho sơn các nhà mặt tiền một cách nham nhở, không giống ai. Có rất nhiều công trình Hà Nội tiến hành trong nhiều năm, nhưng đến lúc nước rút trong năm 2010, mới bộc lộ sự yếu kém về tổ chức vì vội vã. Báo chí hải ngoại cho rằng chi tới 4 tỷ đô la, ngay diễn đàn trong nước, quốc hội đều nói là mỗi công trình có thất thoát, lãng phí, tức là tham nhũng bỏ tiền vào túi riêng, tính ra mỗi công trình đều bị mất từ 15 đến 30 hay 40%.”  
Ngoài vấn đề tham nhũng, ông cũng nhắc đến nổi khổ đau của người dân chịu cảnh thiên tai mà không được đoái hoài:
000_Hkg4052043-305.jpg

Công nhân lắp đèn trang trí chuẩn bị cho Lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long ở trung tâm Hà Nội vào ngày 22 tháng 9 năm 2010. AFP PHOTO / HOANG DINH Nam.
“Mua quan, bán chức là việc rất phổ biến hiện nay ở Hà Nội, điều này đã được báo chí trong nước đề cập đến, nhân dân trong nước cũng không lạ gì cả. Đúng lúc diễn ra khai mạc đại lễ, lũ lụt Miền Trung , tôi theo dõi bài phát biểu của chủ tịch Nguyễn Minh Triết, rất dài nhưng suốt cả bài diễn văn, không có lấy một lời chia sẻ sự đau thương, lúc ấy có mất chục người đã bị chết. Tất cả những điều đau lòng đó nói lên sự bất công, tàn nhẫn, thái độ vô trách nhiệm của cấp lãnh đạo trước cuộc sống của nhân dân.” 
Một người Việt sinh sống lâu năm tại Paris, Pháp, cô Thanh Thảo, sinh hoạt trong ngành truyền thông, nói về ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa trong các sinh hoạt chào mừng 1.000 năm Thăng Long:
“Tuy sống ở nước ngoài, nhưng tôi theo dõi rất kỹ những diễn biến trong nước, đặc biệt là những lời ta thán của toàn dân từ Bắc chí Nam, về đại lễ  1000 năm Thăng Long. Tôi nghe nói số tiền bỏ ra lên tới một phần 10 tổng thu nhập toàn quốc. Chỉ có 10 ngày đại lễ như thế thôi mà họ đã bỏ 8 năm để chuẩn bị, nét nô lệ văn hóa Tàu thì ngày càng xuất hiện rõ, tạo nên sự phẫn nộ trong lòng quần chúng rất nhiều.”
Báo chí trong nước và hải ngoại cũng cho hay, hơn phân nửa trong số những con chim bồ câu, biểu tượng của “hòa bình” được thả vào dịp lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long đã chết, một số lớn được bày trên các bàn tiệc thịnh soạn ở các quán ăn.
Ông Phạm Tài Thu, người huấn luyện cho đàn bồ câu trắng trên 1.000 con cho biết, môt số chim chết vì uống nước bẩn, hay chết vì bệnh, số còn lại bị bắt và bán cho các nhà hàng tại Hà Nội để phục vụ cho khách ưa chuộng món chim bồ câu quay.

Theo dòng thời sự:

Giấc mơ tư pháp độc lập

AFP
Một lính đứng gác trước biểu ngữ có ảnh Ô. Hồ Chí Minh. AFP

2011-01-12
Sự kiện các giới chức cao cấp của Đảng Cộng sản khẳng định Việt Nam dứt khoát không đa nguyên đảng làm tắt đi giấc mơ cải tổ thể chế trong đó có nền tư pháp độc lập. Nam Nguyên trình bày một số ý kiến về vấn đề này:

Chủ nghĩa xã hội là chế độ một đảng cầm quyền

Pháp luật Việt Nam được mô tả là thiếu công khai minh bạch, không hiệu quả. Vấn đề bắt nguồn từ hệ thống tư pháp không độc lập được chỉ đạo can thiệp từ các cấp ủy đảng. Nguyên tắc hiến định tòa án và thẩm phán xét xử độc lập được mô tả là một chuyện phù hoa ở Việt Nam, rất nhiều phiên tòa đã có sẵn bản án gọi là ‘án bỏ túi’.  
Cái gọi là chủ nghĩa xã hội hiện nay còn đang tranh luận đấy là một điều. Điều thứ hai xưng tụng chủ nghĩa ấy là ưu việt thì cũng chưa thể hiện được ở đâu là ưu việt, thí dụ như Liên Xô thì tan rã rồi, còn Trung Quốc thì cũng chỉ nhận mình là chủ nghĩa xã hội kiểu Trung Quốc
LS Trần Lâm
Hơn nửa thế kỷ qua, Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã dứt khoát lựa chọn đi theo con đường tiến tới xã hội chủ nghĩa. Những khẩu hiệu tuyên truyền thích hợp và phát huy trong thời gian chiến tranh, để mơ ước về một đất nước độc lập tự do hạnh phúc, đã càng ngày trở nên bị hoài nghi. Trong cuộc phỏng vấn của chúng tôi LS Trần Lâm, nguyên thẩm phán tòa án nhân tối cao nhận định rằng:
Cái gọi là chủ nghĩa xã hội hiện nay còn đang tranh luận đấy là một điều. Điều thứ hai xưng tụng chủ nghĩa ấy là ưu việt thì cũng chưa thể hiện được ở đâu là ưu việt, thí dụ như Liên Xô thì tan rã rồi, còn Trung Quốc thì cũng chỉ nhận mình là chủ nghĩa xã hội kiểu Trung Quốc, còn kiểu ấy như thế nào thì không thể định nghĩa được. LS Trần Lâm nhấn mạnh:
“Vì thế khái niệm chủ nghĩa xã hội cũng là điều hiện nay chưa được rõ ràng, Việt Nam có người gọi là chế độ một đảng chuyên chính, một đảng cầm quyền hoặc độc tài đảng trị. Trong cái một đảng cầm quyền thì mỗi nước lại có màu sắc riêng, chỗ thì quân đội cầm quyền chỗ thì gia
Ban lãnh đạo Bộ chính trị ĐCSVN

 
đình cầm quyền, nó không giống nhau Triều Tiên khác, Việt Nam khác, Myanmar nó khác hay là một số nước Nam Mỹ.
Vì thế khái niệm chủ nghĩa xã hội cũng là điều hiện nay chưa được rõ ràng, Việt Nam có người gọi là chế độ một đảng chuyên chính, một đảng cầm quyền hoặc độc tài đảng trị. Trong cái một đảng cầm quyền thì mỗi nước lại có màu sắc riêng, chỗ thì quân đội cầm quyền chỗ thì gia đình cầm quyền
LS Trần Lâm
Bây giờ người ta nói nếu có một bộ phận chỉ đạo, không nói đảng cầm quyền nữa, gồm những người có tài có đức thì những cải tổ hợp lý sẽ ra đời. Chớ còn một bộ máy cầm quyền đức tài chưa đầy đủ thì nó cứ lúng túng. Cho nên trước kia người ta nói chủ nghĩa này nọ, bây giờ có thể kết luận rằng một nhóm người cầm đầu, ở một số nước nhóm người cầm đầu ấy có tài họ không bàn soạn chủ nghĩa gì ghê gớm mà cứ điều gì tốt thì họ làm, chính những cái đó tự nhiên đất nước phát triển.”

Tư pháp độc lập trong chế độ độc đảng?

Đáp câu hỏi là trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay có thể cải tổ để có nền tư pháp độc lập công khai minh bạch, mà vẫn giữ nguyên chế độ một đảng toàn trị hay không. LS Trần Lâm nhận định:
 "Về tư pháp độc lập, tư pháp nằm trong hệ thống chính trị, hệ thống chính trị ấy đẻ ra các ngành tư pháp, ngành quân đội… Ở đây quân đội phải bảo vệ Đảng chứ trên thế giới quân đội chỉ bảo vệ tổ quốc. Tư pháp ở ta do Đảng lãnh đạo, nếu muốn thay đổi thì phải thay đổi tận gốc.
Về tư pháp độc lập, tư pháp nằm trong hệ thống chính trị, hệ thống chính trị ấy đẻ ra các ngành tư pháp, ngành quân đội… Ở đây quân đội phải bảo vệ Đảng chứ trên thế giới quân đội chỉ bảo vệ tổ quốc. Tư pháp ở ta do Đảng lãnh đạo, nếu muốn thay đổi thì phải thay đổi tận gốc.
Hiện nay cũng có những người đòi hỏi tận gốc nhưng chưa có kết quả gì. Đòi hỏi tách riêng khỏi hệ thống chuyên chính hệ thống chung thì không thể được. Tuy vậy phải nhìn nhận là nó cũng có sự tiệm tiến, nó cũng có thay đổi hướng theo phương tây dần dần, ví dụ 3 năm 5 năm một lần, nói không thay đổi gì như nước Triều Tiên thì không phải. Nó có thay đổi nhưng chậm chạp.”
Luật sư Trần Đình Triển, Tiến sĩ luật đang sống và làm việc ở Hà Nội cho thấy một nhìn nhận khác, hàm ý dù là chế độ một đảng nhưng Việt Nam đang nỗ lực cải tổ để tiến tới nền tư pháp độc lập một cách tương đối. LS Triển cho rằng, tam quyền phân lập là nguyên lý đã có từ xưa và cũng rất nhiều nước áp dụng, tóm lại là “quyền lực hạn chế quyền lực” nhưng đều phải tập trung vào một mục tiêu dân giàu nước mạnh xã
Biểu ngữ cổ động của Đảng CSVN được treo khắp các thành phố. AFP

Biểu ngữ cổ động của Đảng CSVN được treo khắp các thành phố. AFP
hội công bằng văn minh, tính cách nào thì cũng tập trung vào tiêu chí đó.
Luật sư Trần Đình Triển, đang sống và làm việc ở Hà Nội cho thấy một nhìn nhận khác, hàm ý dù là chế độ một đảng nhưng Việt Nam đang nỗ lực cải tổ để tiến tới nền tư pháp độc lập một cách tương đối. LS Triển cho rằng, tam quyền phân lập là nguyên lý đã có từ xưa và cũng rất nhiều nước áp dụng
Theo ông mỗi quốc gia có lựa chọn áp dụng đường lối của mình. Có quốc gia áp dụng hiệu quả tam quyền phân lập, nơi khác thì chưa hẳn như vậy. Ở Việt Nam trước đây đã đưa ra nguyên lý nhà nước và pháp luật và cũng mong muốn có “quyền lực hạn chế quyền lực” nhưng tập trung một tiêu chí chung là một đất nước độc lập thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và dân giàu nước mạnh. Nếu đường lối đi đúng vào chủ trương như vậy thì đều phát huy hiệu quả cả. LS Triển nhấn mạnh:
“Tôi cho rằng cái chung của Việt Nam cũng như vậy, thí dụ như cải cách hành chính, quốc hội cũng đang tập trung làm thế nào đó thể hiện tính dân chủ trong quốc hội và nêu cao vai trò giám sát của quốc hội đưa lại những đổi mới trong quốc hội. Thậm chí về tư pháp đã có nghị quyết cải cách tư pháp làm thế nào để hệ thống tư pháp đảm bảo tính độc lập tương đối của nó, thanh tra kiểm tra hay xét xử điều tra truy tố đảm bảo đúng qui định pháp luật.”
Tuy vậy LS Trần Đình Triển nhận định, trong quá trình thực hiện Việt Nam gặp nhiều vướng mắc, cái quan trọng nhất là là phải kịp thời sửa chữa, thứ hai cái sai phải nhìn thẳng vào sự thật để sửa, đảm bảo tính nhanh chóng và công bằng. Tuy nhiên ông nhìn nhận trong nhiều trường hợp Việt Nam chưa bảo đảm được nguyên tắc chung như vậy.
LS Trần Vũ Hải ở Hà Nội nói với chúng tôi là cải cách tư pháp để có tư pháp độc lập không thể có được nếu không cải cách thể chế chính trị. Theo ông, cần phân định rõ những thành tố trong thể chế chính trị Việt Nam có quyền năng như thế nào.
LS Trần Vũ Hải ở Hà Nội nói với chúng tôi là cải cách tư pháp để có tư pháp độc lập không thể có được nếu không cải cách thể chế chính trị. Theo ông, cần phân định rõ những thành tố trong thể chế chính trị Việt Nam có quyền năng như thế nào. Có thể công nhận đảng cộng sản Việt Nam là lãnh đạo nhưng mà lãnh đạo đến đâu ở phạm vi nào, can thiệp đến như thế nào phải nói rõ. Cơ quan tư pháp có quyền đến đâu thậm chí có quyền xử lý đến đâu với cơ quan hành pháp và lập pháp cũng phải nói rõ. LS Trần Vũ Hải nhấn mạnh:
“Các chủ thể trong thể chế chính trị phải được làm rõ bằng các đạo luật. Theo tôi đấy là một hướng cải cách, người ta có thể thấy vào đảng thì có quyền lãnh đạo, tòa án cũng vậy ông lãnh đạo thông qua biện pháp gì cần có qui định. Hơn nữa cần có tòa án hiến pháp để xem xét là hành vi can thiệp có đúng luật đúng hiến pháp hay không.”
Theo LS Trần Vũ Hải những điều ông nói chỉ là lý thuyết trong tình hình thực tế của Việt Nam. Những đề xuất như thế là chưa thể giải quyết được trong giai đoạn này.  

Theo dòng thời sự:

2011-01-13
Sáng 12 tháng 1, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chính thức khai mạc, với sự tham dự của các lãnh đạo đảng và nhà nước, cùng với gần 1.400 đại biểu, đại diện cho khoảng 3,6 triệu đảng viên Đảng CSVN.


AFP photo
Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Phú Trọng tại phiên khai mạc Đại hội Đảng lần 11 hôm 12/1/2011
Nhân dịp này, thông tín viên Ngọc Trân tìm hiểu thêm tính hợp pháp về vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN hiện nay.

Dân tin tưởng giao phó?

Phát biểu khai mạc Đại hội Đảng toàn quốc hôm 12 tháng 1 vừa qua, ông Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư BCH Trung ương Đảng, đã tuyên bố lý do như sau:
“Theo quy định của Điều lệ Đảng, hôm nay chúng ta tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI để thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; quyết định Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội 2011-2020; kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, bàn phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội 5 năm 2011-2015; kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X; bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng và bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI.
Ai có ý kiến gì khác bị cho là ‘thành phần xấu’, ‘lực lượng thù địch’, và sẵn sàng chuẩn bị vào hai cái còng – tức luật 88 – đưa vào tù.
Blogger Tô Hải
Đây là những nhiệm vụ rất trọng đại và cũng hết sức vẻ vang mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã tin tưởng giao phó cho Đại hội. Tôi tin tưởng rằng, với tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng và dân tộc, Đại hội chúng ta sẽ hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ được giao, xứng đáng với sự tin cậy của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta”.
Mặc dù ông Trương Tấn Sang nói rằng, những trọng trách của đất nước mà Đảng CSVN đang gánh vác là do người dân tin tưởng giao phó, thế nhưng trên thực tế người dân Việt Nam chưa bao giờ được hỏi ý kiến xem họ có giao cho đảng những trọng trách này hay không. 
Blogger Tô Hải, một người đã gần trọn cuộc đời theo đảng, cho biết như sau:“Cái gì mấy ông đó nói mà chả hợp với lòng dân? Mấy ổng nói đảng lãnh đạo toàn diện theo Điều 4 Hiến pháp là do yêu cầu của nhân dân, thế mà họ có yêu cầu đâu để nhân dân được nói?
Ai có ý kiến gì khác bị cho là ‘thành phần xấu’, ‘lực lượng thù địch’, và sẵn sàng chuẩn bị vào hai cái còng – tức luật 88 – đưa vào tù. Cho nên họ không cần gì hết, họ nói là lãnh đạo theo yêu cầu toàn dân họ lãnh đạo toàn dân, trong khi toàn dân nào ai biết cái gì đâu. Còn nếu họ hỏi tôi thì tôi sẽ trả lời là ‘KHÔNG’, nhưng họ có hỏi tôi đâu. Tôi 85 tuổi rồi nên họ chẳng bắt tôi làm gì, nhưng mấy anh còn trẻ mà nói thẳng là không đồng ý đảng lãnh đạo thì vào tù. Thế thôi, ở cái nước này người ta có cần gì đâu”.

Đảng không hề lắng nghe dân


Lãnh đạo Đảng CSVN luôn cho rằng, những việc đảng làm đều thể theo nguyện vọng của nhân dân, thế nhưng đa số người dân Việt Nam không hề có một chút quyền hành nào tham gia vào công việc của đảng. Đôi khi người dân còn bị lợi dụng để hợp thức hóa tính chính danh của đảng, qua việc kêu gọi góp các dự thảo văn kiện đại hội đảng, mỗi năm năm một lần, bởi vì hầu hết các ý kiến đóng góp của mọi tầng lớp nhân dân, đều không được đảng lắng nghe.
Hơn ba tháng trước, trong một buổi hội thảo “Góp ý dự thảo văn kiện Đại hội Đảng”, GS Đào Xuân Sâm, nguyên trưởng khoa quản lý kinh tế Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, hiện là chuyên gia tư vấn Ban nghiên cứu Thủ tướng, đã phát biểu về việc góp ý các dự thảo văn kiện Đại hội Đảng như sau:
“Chúng ta nói đây là nói với nhau thôi chứ biết rằng những người biên tập, làm văn kiện không nghe đâu, mà có nghe cũng không sửa được đâu. Biết cái đó cũng rất là đau, mà cũng phải nói. Cái thứ hai là, phải nói với nhau vậy, tâm sự với nhau vậy, chúng ta còn mất quyền nói to hơn nữa, nói với quốc dân. Không được lên tiếng với quốc dân.
Cấm! Tức là Ban Bí thư cấm, Ban Tuyên huấn cũng ra thông tin cấm. Thế thì ghê gớm quá. Thôi nhưng mà biết vậy, cho nên có khi là chúng ta phải nói với nhau và như tôi nghĩ đó là chúng ta phải nói để người sau, lớp sau trẻ hơn chúng ta, gửi gắm lại cho đời sau”.
Bắt đầu từ Đại Hội X, tôi quyết định không gởi văn thư đóng góp ý kiến nữa...Lý do đơn giản là tôi nhiều lần gởi thư góp ý kiến ... nhưng không lần nào tôi có được hồi âm.
GS Nguyễn Đăng Hưng
GS Nguyễn Đăng Hưng, một người đã nhiều lần được đảng mời gọi góp ý, viết trên blog của ông như sau: “Bắt đầu từ Đại Hội X, tôi quyết định không gởi văn thư đóng góp ý kiến nữa, tuy tôi đã từng được trực tiếp nhắc nhở từ một vài nhân vật quen thân có mặt trong Mặt Trận Tổ Quốc TP Hồ Chí Minh hay Hà Nội, Đà Nẵng…
Lý do đơn giản là tôi nhiều lần trong dịp Đại hội Đảng trước đây, từ Bỉ gởi thư góp ý kiến thông qua Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, khi thì cấp Trung Ương Hà Nội khi thì tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng không lần nào tôi có được hồi âm! Một tín hiệu nhỏ cho hay ‘đã nhận được thư góp ý’ của cơ quan chức năng cũng không có, chứ đừng nói đến việc ý kiến tâm huyết của mình đã đi đến đâu, đã được xem xét ra sao. Mỗi lần tôi có cảm giác là ý kiến của mình bị rơi vào không gian trống không, vô tận”.

Ai giao cho đảng cầm quyền ?

Trong khi Đảng CSVN luôn cho rằng, vai trò lãnh đạo của đảng hiện nay là hợp pháp, thế nhưng trên thực tế, người dân Việt Nam chưa bao giờ có được cái quyền đi bầu những người lãnh đạo mình.


Cũng tại hội thảo góp ý văn kiện đại hội đảng, ông Vũ Quốc Tuấn, nguyên trợ lý cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, đã đặt vấn đề về vai trò lãnh đạo của đảng. Ông Vũ Quốc Tuấn phát biểu: “Một là xác định cho rõ hơn nữa vai trò lãnh đạo của đảng. Và chúng ta nói rằng đảng cầm quyền. Đảng cầm quyền là thế nào? Cầm quyền của ai? Ai giao cho anh cầm cái quyền đó mà anh cầm quyền”? 
Ai đã giao cho đảng CSVN cái quyền mà họ đang cầm? Qua các trang hồi ký của các chứng nhân lịch sử để lại như “Một cơn gió bụi” của sử gia Trần Trọng Kim, “Hồi ký Phạm Duy” của nhạc sĩ Phạm Duy, “Hồi ký của một thằng hèn” của nhạc sĩ Tô Hải, cũng như hồi ký của nhiều nhân chứng lịch sử khác, đã cho thấy, tháng 8 năm 1945, đảng CSVN cướp chính quyền từ chính phủ Trần Trọng Kim. Kể từ đó, đảng đã giành quyền lãnh đạo đất nước, giành quyền lãnh đạo người dân một cách bất hợp pháp, bởi không do đại đa số người dân Việt Nam bầu lên.
GS Trần Phương đã cho biết như sau: “Cuối cùng là Đảng làm hết, mà Đảng không chịu trách nhiệm. Ông quyết đủ mọi thứ nhưng ông có chịu trách nhiệm trước dân đâu, mà dân có bầu ông ra đâu nhỉ”?
Mới đây, khi bị đặt vấn đề về chia sẻ quyền lực thông qua đa đảng, lãnh đạo Đảng CSVN đã tự khẳng định rằng, Việt Nam không có nhu cầu đa nguyên, đa đảng.
Ông Hà Văn Thịnh, giảng viên trường ĐH Huế đã nói:“Tôi nghĩ rằng điều đó không đúng, bởi vì nếu muốn khẳng định rằng đó là tâm nguyện của nhân dân Việt Nam thì phải trưng cầu dân ý thì mới biết được. Nếu không thì tôi không biết, mà đảng cũng không biết, và chẳng ai biết rằng nhân dân thích gì cả. Vậy  nếu muốn nói một cách sòng phẳng, khoa học và thực tế, thì phải trưng cầu dân ý”.
Cuối cùng là Đảng làm hết, mà Đảng không chịu trách nhiệm. Ông quyết đủ mọi thứ nhưng ông có chịu trách nhiệm trước dân đâu, mà dân có bầu ông ra đâu nhỉ ?
GS Trần Phương
Đảng CSVN luôn khẳng định, đảng là đại diện hợp pháp cho quyền lợi của dân, nhưng trên thực tế, rất nhiều chủ trương, chính sách của đảng không thể hiện ý nguyện của người dân.
Một trong những chủ trương đi ngược lại ý nguyện của đa số người dân Việt Nam là dự án khai thác boxit ở Tây Nguyên. Trong khi ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Việt Nam nói rằng, đây là “chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước”, thế nhưng, dự án này đã bị mọi tầng lớp nhân dân phản đối, thông qua các tranh luận, kiến nghị, góp ý liên tục từ khi dự án này ra đời cho đến nay.
Vậy thì, Đảng CSVN vẫn tiếp tục giành lấy quyền lãnh đạo đất nước, liệu đây có phải là ý nguyện của người dân hay không? Đảng vẫn chưa muốn từ bỏ quyền lãnh đạo, có phải để phục vụ nhân dân? Có lẽ đa số người dân Việt Nam đều có câu trả lời chính xác.

Theo dòng thời sự:

15/1/11

Mao Trạch Đông - ngàn năm công tội

“…tôi sẵn sàng kể với thế hệ sau lịch sử chân thực mình đã trải qua, mong họ đừng cuồng nhiệt như tôi hồi trẻ…”


Mao Trạch Đông - ngàn năm công tội
Tân Tử Lăng


1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11


Phạm Đỉnh: Ba năm trước đây, bạn đọc Thông Luận đã hứng thú theo dõi loạt bài do nhà báo lão thành Bùi Tín lược dịch từ nguyên bản tiếng Anh Những điều chưa biết về Mao (Mao - An Unknown Story) do Jung Chang và Jon Halliday hợp soạn (nhà xuất bản Globalflair).

Hôm nay, chúng tôi chuyển tiếp một tài liệu khác được phổ biến trong nước trong thời gian gần đây: tài liệu được Thông Tấn Xã Việt Nam dịch và phổ biến dưới dạng “tài liệu tham khảo đặc biệt” cuối năm 2009. Sách có nhiều chương, nhưng những người dịch có chọn lọc, có chương dịch trọn, có chương chỉ tóm lược qua ít dòng. Tập tài liệu này chứa nhiều thông tin mà bạn đọc thế hệ những năm 1970 đã từng biết rồi, thông qua một loạt những tài liệu do nhà xuất bản Sự Thật in ra trong khuôn khổ chiến tranh tâm lí của nhà nước Việt Nam chống lại chủ nghĩa bá quyền nước lớn Trung Quốc lúc bấy giờ. Nay tập tài liệu này cũng nhắc lại những hành vi tàn độc sắt máu của Mao trong cuộc tranh giành quyền lực với các đối thủ chính trị của mình.

Tuy nhiên, ra đời đầu thế kỉ XXI, tập sách của Tân Tử Lăng cũng còn ghi lại nhiều điều khác: ngoài chuyện phản ảnh tâm tư cố hữu của người Tàu là chủ nghĩa bá quyền nước lớn, tập sách còn phê phán thứ chủ nghĩa xã hội Maoist.

Một đặc sắc khác của tập tài liệu này là: nó vẽ lại khá hoàn chỉnh bản hoạ đồ tâm tư của Mao, một lãnh tụ, một hoàng đế thời nay của Trung Quốc; từ tâm lí tham quyền lực lại thêm tính đa nghi, Mao đã không từ thủ đoạn nào để trừ khử những người thân tín, những bạn đồng chí đã có công hãn mã tạo nên cơ đồ cho ông.

Đối với thế hệ trẻ 8X và 9X, những tiết lộ trong tập “tài liệu tham khảo đặc biệt” này rất đáng quý, vì nó xuất phát từ chính nguồn tin lề phải chứ chẳng do “thế lực thù địch” nào cả. Do vậy, tập tài liệu này cũng gợi được nhiều ý cho một cuộc khởi động tư duy mà thế hệ trẻ Việt Nam đang cần.
.

Cùng bạn đọc

Cuốn Mao Trạch Đông ngàn năm công tội do nhà xuất bản Thư Tác Phường ấn hành, ra mắt tại Hồng Công tháng 7-2007 và tới bạn tháng 6-2008, là một trong những cuốn sách đang được dư luận Trung Quốc hết sức quan tâm, với những luồng ý kiến nhận xét trái ngược nhau, từ hoan nghênh đến bất đồng, thậm chí phản đối gay gắt.

Tác gia Tân Tử Lăng nguyên là cán bộ nghiên cứu và giảng dạy tại Học viện quân sự cấp cao, Đại học Quân chính, Đại học Quốc phòng Trung Quốc. Ông nhập ngũ năm 1950, từng tham gia các phong trào chính trị do Mao phát động, về hưu năm 1994 với quân hàm Đại tá.

Đầu năm 2008, khi đề cập đến bối cảnh ra đời cuốn sách trên, Tân Tử Lăng nêu rõ: Công cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc đã thu được những thành tựu lớn lao, đồng thời cũng nảy sinh nhiều vấn đề nghiêm trọng, đáng chú ý là việc không thể ngăn cản có hiệu quả nạn tham nhũng, việc phân phối của cải không công bằng dẫn đến xã hội bị phân hóa, khiến dân chúng rất bất mãn, nhiều người thậm chí công khai tỏ ra luyến tiếc thời đại Mao. Các thế lực cực tả ở Trung Quốc hiện nay muốn lợi dụng tâm trạng bất mãn này để phát động cuộc “Đại cách mạng văn hóa lần thứ hai”, gây cản trở cho việc thực thi các chính sách hiện hành. Nhân ngày giỗ Mao Trạch Đông 13-9-2005, nhiều cuộc mít tinh đã được tổ chức tại 18 thành phố lớn trong đó có Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân… với mục đích phê phán ban lãnh đạo hiện nay đã phản bội chuyên chính vô sản, phục hồi chủ nghĩa tư bản. Những người tham gia các cuộc mít tinh đã công khai hô các khẩu hiệu thời Đại cách mạng văn hoá, kêu gọi dấy lên bão táp cách mạng.

Tình hình trên khiến tác giả thấy cần phải làm cho mọi người thấy rõ thực trạng đời sống chính trị, xã hội và kinh tế của Trung Quốc dưới thời Mao, để từ đó có thể đánh giá một cách công bằng những công lao cũng như sai lầm của Mao đối với đất nước Trung Hoa, nhằm loại bỏ sự chống đối của phái cực tả đối với tiến trình cải cách mở cửa. Tuy nhiên, trong khi cố gắng làm điều đó, tác giả lại làm nổi lên một vấn đề quan trọng khác là: quan điểm của Trung Quốc về “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc" thực chất là gì? Và đâu là lối thoát chỗ Trung Quốc hiện nay?

Nhiều trong số những vấn đề được nêu ra trong cuốn sách như đánh giá về công lao và sai lầm của Mao, cuộc Đại cách mạng văn hoá, cái gọi là chủ nghĩa xã hội không tưởng dựa trên bạo lực của Mao, chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc, hay việc chuyển từ chủ nghĩa xã hội không tưởng sang chủ nghĩa xã hội dân chủ… hoàn toàn là những quan điểm riêng của tác giả.

Đây là cuốn sách có tính chất tham khảo về nhiều vấn đề liên quan đến lịch sử và vấn đề lý luận của nước Trung Hoa đương đại, nhằm giúp bạn đọc có được những cái nhìn nhiều chiều về những vấn đề đang được nhiều người quan tâm này.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Mục lục


Lời nói đầu
Chương 1. Muốn trở thành lãnh tụ phong trào cộng sản quốc tế
Chương 2. Sai lầm của Mao Trạch Đông về lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội
Chương 3. Giang Thanh bước đầu tỏ ra lợi hại
Chương 4. Vận dụng thuật cầm quyền của vua chúa
Chương 5. Thiết lập thể chế chính trị chuyên chế một đảng
Chương 6. Ba cuộc họp, một cuốn sách làm bùng lên cao trào hợp tác hoá nông nghiệp
Chương 7. Các nhà tư bản gióng trống, khua chiêng đi lên chù nghĩa cộng sản
Chương 8. Đường lối Đại hội 8 sát thực tế
Chương 9. Địa ngục văn chương lớn nhất trong lịch sử loài người
Chương 10. Hai đảng lớn Trung-Xô từ bạn thành thù
Chương 11. Chu Ân Lai bị tước quyền lãnh đạo kinh tế
Chương 12. Mao: Chúng ta phải thực hiện một số lý tưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng
Chương 13. Phải kết họp giữa Các Mác và Tần Thủy Hoàng
Chương 14. Đủ hiểu biết để cự tuyệt nhưng lời khuyên răn, đủ lời lẽ để tô vẽ cho những sai lầm
Chương 15. Ở chốn vô thanh nghe sấm động
Chương 16. Bành Đức Hoài vì dân lên tiếng
Chương 17. Lâm Bưu giúp Mao lộng hành
Chương 18. Địa ngục trần gian
Chương 19. Con gái ba đời bần nông giương biểu ngũ “Đả đảo Mao Trạch Đông” tại Trung Nam Hải
Chương 20. Cuộc đọ sức tại đại hội 7.000 người
Chương 21. Mao Lưu đoạn tuyệt
Chương 22. Bộ tư lệnh thứ hai trong đảng
Chương 23. La Thụy Khanh chơi với hổ, bị hổ vồ
Chương 24. Giương ngọn cờ chống đảo chính để làm đảo chính
Chương 25. Lợi dụng học sinh lật đổ chủ tịch nước
Chương 26. Nhân dân run rẩy trong cuộc khủng bố đỏ
Chương 27. Mao Trạch Đông chơi trò chính trị lưu manh
Chương 28. Nhân vật số 4 đại bại dưới chân Giang Thanh
Chương 29. Tổ cách mạng văn hoá thay thế Bộ chính trị, tổ làm việc Quân ủy thay thế Quân ủy trung ương
Chương 30. Kết cục bi thảm của Lưu Thiếu Kỳ
Chương 31. Lâm Bưu đắc ý, lăm le kế tục
Chương 32. Mao - Lâm quyết đấu ở Lư Sơn
Chương 33. Tướng quân bách chiến thân danh liệt
Chương 34. Nixon mang đến cho Mao chiếc ô bảo hộ hạt nhân
Chương 35. Mời Đặng Tiểu Bình làm quân sư
Chương 36. Chu Ân Lai - trở ngại mà Giang Thanh không thể vưọt qua
Chương 37. Chu Ân Lai mà người căm ghét, hãm hại: mãi mãi sống trong lòng trăm họ! Lũ bốn tên mà người tin cậy, bảo vệ: nhân dân rủa bay chết sớm đi!
Chương 38. Mao để Giang Thanh cầm “cờ lớn”
Chương 39. Mao chết, Giang tù
Lời kết

Lời nói đầu


Nhà cách mạng vĩ đại - người xây dựng thất bại

Cuốn sách này tiếp theo cuốn Mao Trạch Đông toàn truyện (Nhà xuất bản Lợi Văn, Hồng Công. Bản in đầu tiên năm 1993), bổ sung sử liệu về Đại tiến vọt và Đại cách mạng văn hoá, tăng thêm phần bình luận, nhằm ủng hộ việc Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào cam kết sẽ đánh giá lại Mao Trạch Đông trong nhiệm kỳ của ông.

Cuộc đời Mao Trạch Đông dựng nước có công, xây dựng mắc sai lầm, Đại cách mạng văn hoá có tội. Đó là lời Trần Vân, bậc nguyên lão chỉ nói chân lý, không nói thể diện, rất được kính trọng trong Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đánh giá Mao sai lầm lớn hơn công lao đó có cơ sở quần chúng. Năm 1994, Ban Tuyên truyền Trung ương ĐCSTQ, Phòng Nghiên cứu chính trị Trung ương, Phòng Nghiên cứu chính sách Viện Khoa học Xã hội và Uỷ ban Giáo dục quốc gia đã phối hợp tiến hành một cuộc thăm dò dư luận về hai vấn đề. Một là Mao Trạch Đông công lao lớn hơn sai lầm, hay ngược lại? Hai là cơn sốt Mao Trạch Đông có bình thường không? Kết quả là:

a- Cán bộ cấp cao: 37% cho rằng sai lầm lớn hơn công lao. 30% cho rằng công lao lớn hơn sai lầm. 33% không trả lời.

b- Trí thức cấp cao: 67% cho rằng sai lầm lớn hơn công lao, 8% cho rằng công lao lớn hơn sai lầm, 25% không trả lời.

c- Nhà báo và những người làm công tác lý luận: 48% cho rằng sai lầm lớn hơn công lao 18% cho rằng công lao lớn hơn sai lầm, 34% không trả lời.

d- Giáo chức và học sinh: 40% cho rằng sai lầm lớn hơn công lao, 34% cho rằng công lao lớn hơn sai lầm, 26% không trả lời.

Khái niệm chung là sai lầm lớn hơn công lao

Về vấn đề cơn sốt Mao Trạch Đông, 63% đến 72% cho rằng không bình thường.

Những người không trả lời trên thực tế cho rằng sai lầm lớn hơn công lao, nhưng họ sợ công khai bày tỏ sẽ gặp rủi ro. Nếu gộp những người không trả lời vào số người cho rằng Mao Trạch Đông sai lầm lớn hơn công lao, thì số người này chiếm 70% cán bộ cấp cao, 92% tri thức cấp cao, 82% nhà báo và những người làm công tác lý luận, 66% giáo chức và học sinh, bình quân số người cho rằng Mao Trạch Đông sai lầm nhiều hơn công lao là 77,5%. Khái niệm chung là 3 phần công lao, 7 phần sai lầm.

Mao Trạch Đông là nhà cách mạng vĩ đại và người xây dựng thất bại. Trách nhiệm lịch sử của chúng ta là khẳng định và phát triển công lao của Mao thành lập nhà nước cộng hoà dân chủ mới, phủ định và uốn nắn sai lầm của ông khiến đất nước lạc lối vào chủ nghĩa xã hội không tưởng.

Trong thời kỳ cách mạng dân chủ mới, ĐCSTQ đứng đầu là Mao Trạch Đông đã lãnh đạo nhân dân cả nước lật đổ ách thống trị của đế quốc, phong kiến và tư bản quan liêu, sáng lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa vĩ đại. Là nhân vật lịch sử đã làm cho nhân dân Trung Quốc từng chịu đủ mọi sự áp bức và hà hiếp được ngẩng cao đầu, dửng thằng người trước toàn thế giới, Mao Trạch Đông sẽ được nhân dân Trung Quốc tưởng nhớ đời này qua đời khác. Cuộc cách mạng dân chủ mới thắng lợi và nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời là đỉnh cao huy hoàng trong sự nghiệp cách mạng của Mao, cũng là đỉnh cao sáng chói của tư tưởng Mao Trạch Đông. Sự nghiệp trên được ghi lại trong 3 cuốn "Mao Trạch Đông toàn truyện", chúng tôi không nhắc đến nữa. Cuốn sách này điểm lại quá trình phát triển của Mao Trạch Đông từ chủ nghĩa xã hội không tưởng tới chủ nghĩa xã hội phong kiến.

Chủ nghĩa xã hội phong kiến đương nhiên cũng là chủ nghĩa xã hội không tưởng nhưng lạc hậu và phản động hơn, nó trương chiêu bài chủ nghĩa xã hội để thực hiện nền độc tài chuyên chế và thể chế cha truyền con nối, gia đình trị. Dựa vào sử liệu đã nắm được, chúng tôi sẽ vạch trần nhưng không chút thổi phồng những sai lầm và tội ác của chủ nghĩa xã hội bạo lực Mao Trạch Đông, chú trọng phân tích nguồn gốc lịch sử và lý luận dẫn đến những sai lầm lớn đó. Đây là việc rất cần thiết để chúng ta cải cách-mở cửa sâu rộng hơn, phân rõ cái đúng, cái sai trong lịch sử và trên lý luận, loại trừ sự quấy rối "tả " khuynh.

Trong báo cáo chính trị miệng (không văn bản) tại Đại hội 7 ĐCSTQ ngày 24-4-1945, Mao Trạch Đông nói:

“Chúng ta khẳng định phát triển rộng rãi chủ nghĩa tư bản như vậy chỉ có lợi, không có gì hại cả. Trong thời gian khá dài, một số người trong đảng ta không hiểu rõ vấn đề này, tồn tại tư tưởng phái dân tuý. Tư tưởng này sẽ tồn tại lâu dài trong một đảng mà đa số đảng viên xuất thân nông dân. “Chủ nghĩa dân tuý” muốn phát triển trực tiếp từ kinh tế phong kiến lên kinh tế xã hội chủ nghĩa, không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”.

Đáng tiếc là sau khi nắm chính quyền, Mao Trạch Đông đã làm ngược lại ý kiến đúng đắn trên: theo con đường dân tuý.

Ngày 15-6-1953, Mao Trạch Đông chủ trì định ra đường lối chung của ĐCSTQ trong thời kỳ quá độ. Ông đã từ bỏ lý luận kiến quốc dân chủ mới, xoá bỏ cương lĩnh kiến quốc dân chủ mới được các tầng lớp nhân dân ủng hộ rộng rãi - “Cương lĩnh chung” có vai trò hiến pháp lâm thời, vội vã xoá bỏ chế độ tư hữu, tiến hành “cải tạo xã hội chủ nghĩa” đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa, khiến chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất trở thành cơ sở kinh tế duy nhất của nhà nước và xã hội. Một bước ngoặt sang trái (tả), Trung Quốc đi theo con đường chủ nghĩa xã hội không tưởng dựa vào bạo lực. Tiếp đó Mao phát động phong trào Đại tiến vọt và Công xã hoá, tiến hành cuộc thực nghiệm chủ nghĩa xã hội không tưởng lớn chưa từng thấy và cũng gây ra tấn thảm kịch lớn chưa từng thấy trong lịch sử loài người: 37,55 triệu người chết đói.

Nghiên cứu những sai lầm cuối đời Mao Trạch Đông phải nắm lấy sự kiện lịch sử lớn này. Đây là chìa khoá để khám phá những bí ẩn về Mao.

Mọi hành động chính trị của Mao những năm cuối đời đều nhằm che đậy những sai lầm không tiền khoáng hậu này, trốn tránh trách nhiệm của bản thân. Cái gọi là “chống xét lại, phòng ngừa xét lại”, “ngăn chặn diễn biến hoà bình” và “ngăn chặn phục hồi chủ nghĩa tư bản” nhằm thần thánh hoá chủ nghĩa xã hội không tưởng làm bao người chết đói; cái gọi là “tiếp tục cách mạng dưới nền chuyên chính vô sản “chống phái đương quyền đi con đường tư bản chủ nghĩa trong Đảng” và “lôi ra nhân vật kiểu Khrusev” là muốn chủ động xuất kích, đánh đổ các nhà lãnh đạo theo đuổi chính sách kinh tế thực tế, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, cứu nhân dân khỏi nước sôi lửa bỏng. Vì vậy, Mao ngang ngược phát động “Đại cách mạng văn hoá” quyết một trận sống mái. Không có sai lầm của ba năm Đại tiến vọt thì không có Đại cách mạng văn hoá. Mao chơi con bài người kế tục, bức hại Lưu Thiếu Kỳ đến chết) đưa Lâm Bưu lên rồi lại ép Lâm Bưu phải bỏ di, sử dụng Đặng Tiểu Bình rồi lại đánh đổ Đặng Tiểu Bình, chọn một Hoa Quốc Phong “kém cói nhất”, mật chiếu của Mao cho Hoa là “Đồng chí làm việc tôi yên tâm, có vấn đề gì hỏi Giang Thanh”. Mục đích cuối cùng của Mau là muốn đưa Giang Thanh lên cầm quyền. Mao khoác chiếc áo lý luận hiện đại nhất, cách mạng nhất, làm cái việc Hoàng đế khai quốc Triều Minh từng làm hơn 600 năm trước: để Giang Thanh lên cầm quyền thuận lợi, thông qua Đại cách mạng văn hoá, Mao hầu như đã trị hết các công thần danh tướng. Mười năm tai hoạ, các nhân vật trên vũ đài chính trị lớp này đến lớp khác như chạy tiếp sức trên một vòng cung lớn nhằm chuyển chiếc gậy “Đại vương” đến tay Giang Thanh, để Giang kịp thời kế vị lúc Mao nhắm mắt xuôi tay. Âm mưu gia đình trị của Mao bị phơi trần đã làm nát vụn những phỏng đoán của các nhà trí thức lương thiện về động cơ cao thượng của cuộc Đại cách mạng văn hoá do Mao phát động. Nếu không có sai lầm của ba năm Đại tiến vọt, chưa chắc Mao đã phải dùng đến hạ sách này. Mao truyền ngôi cho Giang Thanh có phần bất đắc dĩ. Mao không tin vào ngàn đời vạn thế mà tính toán chỉ cần hai thế hệ (Giang Thanh và Mao Viến Tân) là đủ thời gian hoàn toàn viết lại lịch sử, chối phắt trách nhiệm làm 37,55 triệu người chết đói. Không thể xoá bỏ, cũng không thể sửa đổi phần lịch sử này. Phải đánh dấu đậm nét vào đây. Với cái giá bi thảm nặng nề qui mô lớn nhát, thời gian dài nhất, hy sinh nhiều nhất, người Trung Quốc đã chứng minh “chủ nghĩa cộng sản” ấy không ổn. Cuộc thực nghiệm này là một cống hiến lớn cho nền văn minh của loài người.

Đây là một toạ độ lịch sử, toạ độ chủ nghĩa xã hội không tưởng hoàn toàn thất bại ở Trung Quốc, trên thế giới, và trong lịch sử văn minh của loài người. Ý nghĩa chính diện của toạ độ này là; làm cho những người đời sau mơ tưởng về một thế giới đại đồng (thuật ngữ mác xít là chủ nghĩa cộng sản) đi tới đây sửng sốt mà dừng bước. Để trên thế giới này không còn nảy sinh việc mấy triệu, mấy chục triệu người chết đói vì sai lầm khi lựa chọn lối đi.

Chẳng có mục tiêu cao đẹp của “chủ nghĩa cộng sản” nào hết, đây là một mệnh đề do người sáng lập Chủ nghĩa Mác nêu ra hồi trẻ và đã từ bỏ vào những năm cuối đời. Tháng 10-1847, Ăng ghen viết tác phẩm “Nguyên lý chủ nghĩa cộng sản” phác hoạ ước mơ của chàng trai 27 tuổi về một xã hội lý tưởng trong tương lai. Ngày 11-5-1893 khi 73 tuổi, nói chuyện với phóng viên báo Pháp “Le Figaro”, Ăng ghen đã phủ định mô hình xã hội tương lai do mình thiết kế hồi trẻ. Ông nói:

“Chúng tôi không có mục tiêu cuối cùng. Chúng tôi là những người theo thuyết không ngừng phát triển. Không tính chuyện áp đặt cho loài người quy luật cuối cùng nào. Còn cách nhìn, dự định chi tiết trên phương diện tổ chức xã hội tương lai ư? Ngài không thể tìm thấy ở chỗ chúng tôi ngay cả hình bóng của chúng”

Theo hồi ức của Liuba, cháu gái cố Tổng bí thư Brezhnev, sinh thời Brezhnev từng nói với người ern trai: “Chủ nghĩa cộng sản cái quái gì, đều là những lời nói trống rỗng lừa bịp dân chúng”. Sai lầm của nhà lãnh đạo Liên Xô cũ không phải ở chỗ từ bỏ mục tiêu của chủ nghĩa cộng sản, mà ở chỗ ông tiếp tục lấy cái lý luận mà bản thân không còn tin nữa làm ý thức hệ chính thức để lừa gạt nhân dân. Một chính đảng lãnh đạo nhân dân tiến lên phải như Ăng ghen điều chỉnh mục tiêu phấn đấu của mình cho kịp thời đại, và trịnh trọng công bố trước nhân dân.

Trong một bức thư tháng 9- 1890, Ăng ghen viết: “Theo quan diềm duy vật, nhân tố mang tính quyết định trong quá trình lịch sử nói cho cùng là sản xuất và tái sản xuất trong đời sống hiện thực. Mác và tôi đều chưa khẳng định được gì nhiều hơn thế”. Trước khi ra đời, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra năng suất lao động cao hơn chế độ phong kiến, nên chế độ tư bản đã hoàn toàn chiến thắng chế độ phong kiến. Chế độ xã hội chủ nghĩa bạo lực - giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản - trải qua hơn 70 năm nỗ lực hết sức mình để đuổi kịp và vượt các nước tư bản chủ nghĩa, chỉ riêng Liên Xô và Trung Quốc đã phải trả giá 50 triệu người chết đói (Liên Xô 13 triệu, Trung Quốc trên 37 triệu), mà cũng không đuổi kịp các nước tư bản chủ nghĩa chủ yếu trên phương diện “sản xuất và tái sản xuất trong đời sống hiện thực”. Chế độ xã hội chủ nghĩa bạo lực của Lenin, Stalin và Mao Trạch Đông thi thố hết tài năng cũng không tạo ra nổi năng suất lao động cao hơn chủ nghĩa tư bản, đương nhiên bị lịch sử đào thải, giai đoạn cao hơn của nó là chủ nghĩa cộng sản tất nhiên cũng diệt vong.

Xu thế tiến hoá tự nhiên của lịch sử loài người không phải chủ nghĩa tư bản, cũng không phải chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa tư bản hiện đại do tiếp thu chính sách của chủ nghĩa xã hội mà nảy sinh tự cải lương, đi tới nền kinh tế hỗn hợp về chế độ sở hữu. Chủ nghĩa xã hội thông qua cải cách, tiếp thu các chính sách của chủ nghĩa tư bản cũng từ chế độ công hữu đơn nhất đi tới nền kinh tế hỗn hợp. Mô hình kinh tế hỗn hợp này gọi là chủ nghĩa tư bản mới, cũng gọi là chủ nghĩa xá hội dân chủ. Tình hình trên đã diễn ra ở Mỹ. Nga, Trung Quốc và nhiều nước phát triển khác.

Trong cuốn Chủ nghĩa tư bản mới, học giả Mỹ W.E Harral viết:

Kinh tế hỗn hợp: Một trật tự thế giới nối liền chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội. Vượt trên ý thức hệ xơ cứng của “chủ nghĩa tư bản cũ” và “chủ nghĩa xã hội cũ”, hai loại chế độ xã hội đều đang tiến tới mục tiêu chung: lợi dụng đặc điểm hấp dẫn của xí nghiệp tự do để tránh mọi khuyết tật của chủ nghĩa tư bản lũng đoạn độc quyền và chủ nghĩa xã hội nhà nước tập quyền trung ương.

Nhà kinh tế học Pháp J. Rafael cũng nêu rõ: “Trong phần lớn các nước phát triển, toàn bộ nền kinh tế quốc dân đều đã trở thành kinh tế hỗn hợp, thậm chí xem ra đã trở thành một thể chế tổ chức xã hội nhất định. Là mô hình hỗn hợp của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa từ bản, về lý luận, kinh tế hỗn hợp chính là biện pháp bổ cứu có ý nghĩa kép nhằm vào thất bại rõ rệt của nền kinh tế kế hoạch quốc hữu hoá toàn diện, và trào lưu tư tưởng tự do cổ dộng xoá bỏ sự quản lý của nhà nước, thực thi tự do hoá toàn diện.

Ông còn vạch rõ:

“Theo niên báo Thế giới phát triển 1982, thể chế kinh tế của 19 nước công nghiệp phát triển đều là kinh tế hỗn hợp. Bởi vậy, nếu lấy thành tích kinh tế cụ thể chứ không phải những lời cam kết trống rỗng để thảo luận chế độ nào có khả năng giải quyết vấn đề hơn, thì không nghi ngờ gì nữa, kinh tế hỗn hợp lấy thị trường làm trung tâm là chế độ tương đối ưu việt”.

Nước Anh đã hai lần thực hiện quốc hữu hoá trong thời gian 1945- 1951 và 1971, tập trung trong tay nhà nước hàng loạt xí nghiệp lớn, kể cả Ngân hàng Anh, khiến kinh tế nước này trở thành nền kinh tế hỗn hợp điển hình kết hợp giữa kinh tế tư nhân và kinh tế quốc doanh. So với Anh, kinh tế quốc doanh của Pháp chỉ hơn, không kém. Từ năm 1944 đến 1946 căn cứ vào kế hoạch nhà nước lần thứ nhất, Pháp đã quốc hữu hoá các ngành than, điện, vận tải, Ngân hàng Pháp và 4 ngân hàng thương nghiệp toàn quốc. Đầu thập kỷ 80 thế kỷ 20, Pháp một lần nữa thực thi quốc hữu hoá, các xí nghiệp quốc hữu hoá không chỉ liên quan đến các ngành cơ sở, mà còn mở rộng sang các ngành công nghiệp mũi nhọn tính cạnh tranh rất mạnh, như công ty máy bay Taso(?), công ty vũ khí Matra. Các thành viên EU khác như Ytaly, Đức cũng thực hiện quốc hữu hoá ở mức độ khác nhau.

“Quyết định một số vấn đề cụ thể về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” của Hội nghị Trung ương 3 khoá 16 ĐCSTQ chỉ rõ: “Phải ra sức phát triển kinh tế chế độ sở hữu hỗn hợp với sự tham gia của các nguồn vốn quốc doanh, tập thể và phi công hữu, khiến chế độ cổ phần trở thành hình thức thực hiện chủ yếu của chế độ công hữu”. Mỗi bước tiến triển lớn của công cuộc cải cách thể chế kinh tế Trung Quốc đều là sản phẩm nhận thức sâu hơn về chế độ sở hữu, và việc điều chỉnh quan hệ chế độ sở hữu. Là sản phẩm cải cách chế độ sở hữu, kinh tế hôn hợp tất sẽ ảnh hưởng lớn lao tới công cuộc cải cách kinh tế và phát triển, trở thành luồng tư duy hoàn toàn mới mẻ trong công cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc.

Kinh tế hỗn hợp hoàn toàn không phải một loại chế độ do con người chủ quan tạo ra, mà là sản phẩm lịch sử ảnh hưởng và diễn hoá lẫn nhau giữa chế độ tư bản chủ nghĩa và chế độ xã hội chủ nghĩa. Chế độ do lịch sử hình thành tự nhiên mới hợp lý và tồn tại lâu dài. Kinh tế hỗn hợp là cơ sở kinh tế của chế độ xã hội chủ nghĩa dân chủ. Con đường của chủ nghĩa xã hội dân chủ dang trở thành con đường được loài người cùng chấp nhận, đưa loài người vào một thế kỷ mới phát triển hoà bình.

Ý nghĩa lớn nhất của công cuộc cải cách mở cửa 27 năm qua là thoát khỏi con đường của chủ nghĩa xã hội không tưởng dựa trên bạo lực của Mao Trạch Đông, từng bước hội nhập với nền văn minh chủ lưu trên thế giới, trở thành một thành viên được tôn kính trong đại gia đình quốc tế. Quá trình chuyển đổi mô hình do Trung Quốc, Liên Xô cũ và các nước Đông Âu hội tụ nên lần này đã từ con đường sai lầm của chủ nghĩa xã hội không tưởng quay trở lại chủ nghĩa xã hội dân chủ, là bước tiến lớn thứ hai của xã hội loài người từ khi nền văn minh hiện dại phương Tây ra đời đến nay. Cải cách-mở cửa đã hoàn toàn phủ định chủ nghĩa xã hội không tưởng. Đưa ra khái niệm “giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội” có nghĩa là ngấm ngầm khôi phục chủ nghĩa dân chủ mới. Ngấm ngầm khôi phục không bằng công khai giương ngọn cờ dân chủ mới. Khi sáng lập lý luận dân chủ mới, Mao Trạch Đông nói chủ nghĩa dân chủ mới là chủ nghĩa tư bản mới. Tiếp nối vào điểm này, tiến lên theo chủ nghĩa xã hội dân chủ, là đã triệt để giải quyết tính hợp pháp và chính thông công cuộc cải cách-mở cửa.

Thành tựu lớn lao của cải cách-mở cửa 27 năm qua đã đặt cơ sở hợp pháp cho ĐCSTQ cầm quyền. Nhắc lại giọng điệu “tả” khuynh là tự phủ nhận mình. Bảo vệ những sai lầm của Mao Thạch Đông, tìm kiếm tiếng nói chung với “phái tả”, thực hiện chính sách kinh tế “hữu khuynh” đi đôi với ý thức hệ “tả khuynh thì chỉ chứng minh lược rằng 27 năm qua mình đã làm sai, không tăng cường mà chỉ có thể làm suy yếu vi trí cầm quyền của ĐCSTQ; không thể mang lại tính hợp pháp cho cải cách mở cửa, mà chỉ có thể mang lại tính hợp pháp cho chủ trương chính trị phản đôi cải cách mở cửa. Thách thức vị trí cầm quyền của ĐCSTQ không phải các thế lực phương Tây ở chốn xa xôi, mà là “phái tả” trong đảng vung vẩy ngọn cờ sai lầm của Mao Trạch Đông bên trong bức tường của Đảng. Xin hãy đọc những lời lẽ sát khí đằng đằng, mê hoặc lòng người trên lá cờ của chúng. Trong bài “Chỉ có Tư tưởng Mao Trạch Đông mới cứu được Trung Quốc”, chúng viết:

“Không phải Đại cách mạng văn hoá sai, mà là Đặng Tiểu Bình hoàn toàn phủ định Đại cách mạng văn hoá. Những người kế thừa Đặng đã theo đuổi đường lối xét lại, và chính vì thế cần phát động cuộc Đại cách mạng vãn hoá nữa để loại trừ”. Lúc lâm chung, Đặng Tiểu Bình dặn dò phải cảnh giác hữu, chủ yếu phản đối “tả”, ông thật có tầm nhìn lịch sử sâu xa. Mưu toan cùng “phái tả” bảo vệ những sai lầm của Mao để đổi lấy việc họ ủng hộ cải cách-mở cửa chỉ khiến họ càng hung hăng phản đối cải cách-mở cửa. Sách lược “bật tín hiệu rẽ trái, bẻ tay lái sang phải” đã đi đến điểm tận cùng.

Tháng 3-2004, kỳ họp thứ 2 Quốc hội Trung Quốc khoá 10 đã đưa điều khoản quan trọng bảo vệ chế độ tư hữu vào hiến pháp, tiếp nối quỹ đạo với “Cương lĩnh chung Hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc” năm 1949, đánh dấu sau khi trải qua chặng đường quanh co, Trung Quốc đã trở lại điểm xuất phát đúng đắn, đi lên con đường chủ nghĩa xã hội dân chủ.

Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc là sản phẩm kết hợp giữa tư tưởng chủ nghĩa xã hội dân chủ của Mác-Ăng-ghen những năm cuối đời và thực tiễn cụ thể cải cách-mở cửa của Trung Quốc, sẽ xây dựng Trung Quốc thành một nước xã hội chủ nghĩa dân chủ giàu có, văn minh, công bằng và hài hoà như châu Âu ngày nay. Đảng Cộng sản Trung Quốc chuyển sang chủ nghĩa xã hội dân chủ là tuân theo lời dạy của Mác và Ăng-ghen những năm cuối đời, kế thừa truyền thống cách mạng dân chủ mới, triệt để thoát khỏi mô hình Liên Xô, trở lại với chủ nghĩa Mác tiến cùng thời đại. Đó là định vị lịch sử của chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc.

Thời kỳ đầu cải cách-mở cửa để phát triển kinh tế nhiều thành phần, phái cải cách đưa vị trí chủ đạo của kinh tế quốc doanh vào hiến pháp nhằm làm yên lòng phái “tả” đến nay thành ra tự tròng dây vào cổ mình, phái “tả” đứng ra “bảo vệ hiến pháp”, dựa vào hiến pháp để chống lại. Tháng 3-2006, trong thời gian họp Quốc hội và Hội nghị hiệp thương chính trị toàn quốc, có uỷ viên Hội nghị hiệp thương chính trị chất vấn: “Điều 6 hiến pháp qui định cơ sở chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa nước CHND Trung Hoa là chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, tức chế độ sở hữu toàn dân và chế độ sở hữu tập thể của quần chúng lao động. Kinh tế quốc doanh năm 1992 chiếm 48% kinh tế quốc dân Trung Quốc, nay còn chiếm tỉ trọng bao nhiêu? Những năm qua, kinh tế quốc doanh ào ạt bản rẻ cho tư nhân, hoặc chuyển thành sở hữu tư nhân. như vậy có vi phạm hiến pháp không?” Chính phủ tự biết mình đuối lý, chẳng ai dám đứng ra đối đáp.

Từ ngày cải cách-mở cửa đến nay, các khoá lãnh đạo các cấp ra sức tìm cách giữ cho được vị trí chủ đạo của kinh tế quốc doanh, đây là “trận địa cuối cùng của chủ nghĩa xã hội”. Tuy kinh tế cá thể và kinh tế tư nhân đã ra đời, các xí nghiệp vốn nước ngoài cũng đã len chân vào, song phái cải cách vẫn phải nắm chặt con bài “xí nghiệp quốc doanh chiếm vai trò chủ đạo” để đối phó phái “tả” coi mình là “người bảo vệ đường lối cách mạng của Mao Chủ tịch”. Song các xí nghiệp quốc doanh thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội này làm ăn chẳng ra gì, liên tục thua lỗ. Thế là tài chính nhà nước và địa phương cấp vốn không hoàn lại, dùng tiền thuế do nông dân và các xí nghiệp tư nhân đóng góp để nuôi xí nghiệp quốc doanh. Khi nhà nước nuôi không nổi, liền đẩy cho ngân hàng.

Ngân hàng mỗi năm cho vay khoảng 1.500 tỉ NDT (Nhân dân tệ - đơn vị tiền tệ của Trung Quốc), 70% số này rót vào các xí nghiệp quốc doanh. Do các xí nghiệp quốc doanh chỉ vay không trả, nợ đọng một khoản tiền khổng lồ, hễ bùng nổ sóng gió tiền tệ, thể chế nhà nước tất sẽ lung lay, thế là nhà nước lại đẩy các xí nghiệp quốc doanh sang thị trường chứng khoán. Các công ty lên sàn mấy năm trước hầu như toàn là xí nghiệp quốc doanh. Những người chơi cổ phiếu ham phát tài, bị cuốn phăng 1.500 tỉ NDT để tiếp máu cho các xí nghiệp quốc doanh, nhưng cũng không cứu sống nổi các xí nghiệp này. Theo báo cáo của người phụ trách Uỷ ban kinh tế thương mại ba tỉnh Cát Lâm, Liêu Ninh, Hắc Long Giang, có xí nghiệp quốc doanh máy móc khởi động, chi phí than - điện - nước rót vào rồi, nhưng tiền lương công nhân viên chức, tiền lãi các khoản vay và lợi nhuận sau thuế đều không lo nổi, đành giảm tài sản tịnh để duy trì đời sống của công nhân viên.

Có xí nghiệp đi vay để chi trả lương công nhân viên và tiền lãi ngân hàng. Có xí nghiệp máy móc, nhà xưởng dần dần giảm giá, thống kê trong sổ sách trên thực tế trở thành “tài sản khống”. Có xí nghiệp tỉ lệ lợi nhuận chỉ có 1 đến 3%, cơ bản ngang tiền lãi công trái kỳ hạn 5 năm, có nơi còn thấp hơn.

Để chuyển lỗ thành lãi, các phương án cải cách lần lượt được đưa ra, cơ cấu quản lý nhiều lần chấn chỉnh, làm trong 20 năm mà vẫn thua lỗ, do đó mới có phương án cải cách, cổ phần hoá, tư hữu hoá.

Con đường cải cách các xí nghiệp quốc doanh sau Đại hội 15 ĐCSTQ là “nắm cái lớn, thả lỏng cái nhỏ”. Các xí nghiệp lớn nhập vốn tư nhân và vốn nước ngoài, thực hiện chế độ cổ phần; các xí nghiệp nhỏ thực hiện tư hữu hoá, nay Chính phủ trung ương chỉ nắm 1.200 (trước đây là 9.000) xí nghiệp quốc doanh cỡ lớn liên quan đến vận mệnh và an ninh quốc gia.

Cách làm này tương tự các nước tiên tiến trên thế giới. Các nước phát triển trên thế giới thực hiện thể chế kinh tế hỗn hợp đều có các xí nghiệp quốc doanh, chủ yếu là các nhà máy do nhà nước độc quyền (như đường sắt, hàng không, ngân hàng), các xí nghiệp tư nhân không đủ sức xây dựng (như điện hạt nhân, dầu khí), cùng các xí nghiệp mang tính công ích (như giao thông công cộng, điện nước). Các xí nghiệp này không lấy lãi làm chính, một số xí nghiệp mang tính phúc lợi toàn dân, phải dựa vào nhà nước đầu tư và trợ giá. Nhưng các xí nghiệp này không được chiếm tỉ trọng lớn, càng không thể chiếm vị trí chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân, mà đại thể chỉ 15 đến 20%. Theo Công ty Tài chính-tiền tệ quốc tế, năm 1996, Trung Quốc có 114.000 xí nghiệp quốc doanh, năm 2005 còn 27.000. 77% số công ty đã tư hữu hoá một phần hoặc toàn bộ. Tỉ trọng kinh tế quốc doanh tụt xuống còn 23%, gần bằng quan hệ tỉ trọng các nước phát triển. Đây là việc từ không bình thường chuyển sang bình thường, nhưng theo phái “tả” nó đã đụng chạm đến mạng sống của chủ nghĩa xã hội.

Phải sửa đổi hiến pháp. Lý do là: năm 1978, kinh tế quốc doanh Trung Quốc chiếm 99,1%, nhưng tổng sản phẩm quốc nội chỉ có 362,4 tỉ NDT. Năm 2005, kinh tế quốc doanh không chiếm vị trí chủ đạo nữa, song tổng sản phẩm quốc nội cả năm đạt 18,230 tỉ NDT. Chúng ta đứng trước sự lựa chọn cần 17.867,6 tỉ NDT, hay cần cái hư danh vị trí “chủ đạo” kia?

Đừng nhìn nhận quan hệ tỉ lệ đó quan trọng đến thế, ngày nay, chủ nghĩa tư bản mới và chủ nghĩa xã hội dân chủ đã trớ thành hai mặt của đồng tiền vàng, đều theo thể chế kinh tế hỗn hợp, chúng ta cần thoát khỏi xiềng xích xí nghiệp quốc doanh chiếm vị trí chủ đạo do mình tạo ra.

Phải nói thẳng là công cuộc cải cách thể chế xí nghiệp quốc doanh cũng nảy sinh một số vấn đề, như hàng loạt công nhân viên mất việc, quần thể yếu kém gặp nhiều khó khăn trong việc khám chữa bệnh, học hành, dưỡng lão, quan chức tham nhũng, nhất là phân phối không công bầng dẫn đến phân hoá hai cực, khiến lòng người xôn xao.

Công cuộc cải cách thể chế xí nghiệp quốc doanh cơ bản do chính quyền các cấp chủ trì. Chính quyền tham gia thiết kế bộ máy quản lý công ty, tìm kiếm người kinh doanh, định giá tài sản quốc doanh, thậm chí gánh vác một phần tiền nợ. Các xí nghiệp quốc doanh tương đối lớn có nhiều tài sản tồn đọng, khó mà bán được, liền mặc cho các quan chức chủ sự “giới định” nó từ sở hữu toàn dân sang sở hữu nội bộ, trong nội bộ lại chỉ định sau cải cách thể chế xí nghiệp quốc doanh, “người kinh doanh nắm cổ phần lớn”. Người ta gọi lối làm ăn này là “cải cách kiểu giới định”, nói trắng ra là chia bôi hành chính, lưu lại không gian vận hành rộng rãi cho các quan chức và thương nhân cấu kết với nhau phát tài qua cải cách. Nếu người chủ trì là một quan tham, thì cuốn “kinh” cải cách thể chế nhằm đưa xí nghiệp quốc doanh thoát khỏi nghèo nàn này liền bị đọc chệch hẳn đi. Trước sự dụ dỗ của lợi ích lớn lao nằm trong tầm tay, các quan chức rất khó giữ mình trong sạch. Chỉ cần nội bộ tập đoàn lãnh đạo chia đều lợi ích theo quyền lực lớn nhỏ, thì chính quyền, đảng uỷ, hội đồng nhân dân đều bật đèn xanh, mọi người vừa có tiền, lại có thành tích chính trị; vừa phù hợp chính sách, vừa đúng với luật pháp. Thế là hình thành “tập đoàn lợi ích” được thể chế, chính sách và luật pháp hiện hành bảo hộ.

Những vấn đề nảy sinh trong cải cách thể chế xí nghiệp quốc doanh cũng từng xảy ra trong các nước theo chủ nghĩa xã hội dân chủ. Họ không lùi bước để xí nghiệp quốc doanh tiếp tục thua lỗ rồi “hoá” sạch, mà lấy tư hữu hoá dân chủ phản đối tư hữu hoá quyền quí, phương hướng tư hữu hoá không thay đổi. “Tư hữu hoá quyền quí” là gì? Là quan chức câu kết với thương nhân vơ vét tài sản của nhà nước và nhân dân. Thực hiện kinh tế thị trường mà không đồng bộ với dân chủ hoá chính trị, tất sẽ nảy sinh quan chức câu kết với thương nhân, muốn đánh giá xí nghiệp quốc doanh thế nào cũng được, muốn đem tài sản quốc doanh cho ai thì cho, muốn đẩy công nhân ra đường thì đẩy ra ngoài đường, đấy là chỗ tệ hại của chủ nghĩa tư bản quan liêu. Giả dụ chúng ta khởi động tiến trình dân chủ, tiến hành cải cách chính trị, thật sự trao cho công nhân quyền dân chủ qui định trong hiến pháp, ủng hộ công nhân xí nghiệp quốc doanh giám sát công cuộc cải cách thể chế, dựa vào dân chủ giành lấy công bằng và chính nghĩa, bảo vệ quyền lợi của mình, thì vấn đề sẽ được giải quyết dễ dàng. Ở đây cần nhấn mạnh nhất định không phải là Đảng và Chính phủ thay mặt công nhân để chủ trì công bằng và chính nghĩa, anh cử một cán bộ Uỷ ban kiểm tra kỷ luật hoặc Viện kiểm sát đến giám sát quan chức chủ sự, một khi cán bộ này bị lôi kéo, liền biến thành đôi bàn tay đen khác lớn mạnh hơn.

Làm thế nào ủng hộ công nhân. Chẳng hạn cho phép công nhân thành lập công đoàn độc lập, tự do báo chí… Chỉ cần có tự do báo chí, kịp thời phơi trần hộp đen thao túng việc phân chia tài sản quốc doanh, thì có thể chặt đứt bàn tay đen mượn cải cách thể chế để vơ vét tài sản nhà nước. Mượn cớ “ổn định áp đảo hết thảy” không cho công nhân tham gia và nắm tình hình, kiểm soát báo chí, trên thực tế là bảo vệ cho các quan chức ăn chia, khiến công nhân giương cao ảnh Mao Trạch Đông biểu tình thị uy, dẫn đến không ổn định hơn. Chỉ có cải cách chính trị mới giải quyết được vấn đề này. Đây là kết quả tốt đẹp nhất phù hợp mong muốn của những người quan tâm ổn định và dân chủ, thị trường hoá và công bằng, tự do và trật tự ở Trung Quốc.

Do cải cách chính trị không theo kịp, làm nổi bật mặt tiêu cực của cải cách mở cửa, khiến số người phản đối và bất mãn với cải cách mở cửa tăng nhanh. Từ 1979 đến 1982, cả nước có 2 vạn vụ kiện cáo lên cấp trên, năm 2005, con số này là 30 triệu vụ, tăng gấp 1.500 lần, cũng có nghĩa là nhân tố không ổn định trong xã hội Trung Quốc tăng gấp 1.500 lần. Một số phần tử phái “tả“ cho rằng đây là tình hình có thể lợi dụng. Họ xui nguyên giục bị, tạo gió gây mưa, lừa dối quần chúng, lôi kéo lớp trẻ. Họ cho rằng “nước lùi, dân tiến” là đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, họ cổ động quay lại thời đại Mao, lại gây ra cuộc tranh luận Trung Quốc nay là xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa. Một khi nắm được số quần chúng trên, lý luận “tả” khuynh có thể chuyển hoá thành lực lượng phá hoại khổng lồ. Củi kho Đại cách mạng văn hoá còn chất đống nơi đây. Phái “tả” tạo gió gây mưa vẫn đi theo con đường Đại cách mạng văn hoá, trương lá cờ phản đối “con đường tư bản chủ nghĩa”, trước tiên đẩy các nhà tri thức lên đàn tế, điểm tên phê phán một số “học giả chủ lưu” từng góp ý kiến hiến kế, có cống hiến cho cải cách-mở cửa, nói họ chủ trương thúc đẩy xây dựng kinh tế thị trường là “tự do hoá tư sản”, lại chia cán bộ lãnh đạo các cấp chủ trì cải cách-mờ cửa thành “phái cải cách tự do hoá tư sản” và “phái cải cách xã hội chủ nghĩa”, xúi giục triển khai cuộc đấu tranh lớn ở trong và ngoài Đảng, đoạt quyền của “phái cải cách tự do hoá tư sản” và đánh đổ phái này. Điều đặc biệt cần cảnh giác là Trưởng phòng Tổng hợp Ban nghiên cứu chính sách Trương Cần Đức đã gióng lên hồi trống trận về cuộc Đại cách mạng văn hoá lần thứ hai. Y tuyên bố: “Trận quyết chiến sắp tới về thực chất là cuộc vật lộn sống chết giữa hai tiền đồ, hai số phận: đi con đường tư bản chủ nghĩa hay con đường xã hội chủ nghĩa, phái cải cách tự do hoá tư sản nắm quyền hay phái cải cách xã hội chủ nghĩa nắm quyền, phụ thuộc vào đế quốc Mỹ hay bảo vệ được độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia”. Phải xem tên Trương Cần Đức này đại diện cho ý kiến của những người nào và đại diện đến mức nào. Đây là một động hướng vô cùng nguy hiểm. Tính chất dã man, tàn khốc, chuyên chế và không tưởng của Đại cách mạng văn hoá có thể phá hoại tan tành những gì hiện có. Một khi dân chúng bị phái “tả” kích động, gửi gắm hy vọng tìm ra lối thoát vào vong hồn Mao Trạch Đông, bộc lộ sự bất mãn của mình theo phương thức do Mao dạy bảo, trương ngọn cờ Mao Trạch Đông mà nhà cầm quyền không dám phản đối, lôi “phái cải cách tư bản chủ nghĩa” ra đấu tố, thì tình hình khó mà dàn xếp được. Đây là ẩn hoạ lớn nhất ở Trung Quốc trong 10 năm tới. Chỉ có tiến hành cuộc cải cách chính trị thật sự chứ không hời hợt, bao gồm cải cách ý thức hệ là cải cách thể chế chính trị, mới có thể tránh được một đại hoạ mới. Không thực hiện hiến chính dân chủ, sớm muộn sẽ bùng nổ cuộc Đại cách mạng văn hoá lần thứ hai.

Bài học lịch sử là không dễ gì nắm bắt được thời cơ cải cách chính trị khi cho rằng mình có đủ lực lượng kiểm soát tình hình, người cầm quyền thường ngoan cố cự tuyệt cải cách, hoặc chần chừ, coi nhẹ, đến khi tình thế qua đi, mới nghĩ đến cải cách nhưng lúc đó khủng hoảng đã bùng phát, họ không còn tư cách chủ đạo công cuộc cải cách chính trị nữa, chỉ còn cách bị dòng thác lịch sử cuốn phăng. Chẳng hạn nửa cuối năm 1945 và nửa đầu năm 1946 là thời cơ của Quốc Dân Đảng Tưởng Giới Thạch. Nếu Tưởng nắm lấy cơ hội hai đảng Quốc Cộng cùng bàn việc nước, không gây nội chiến, tiến hành cải cách chính trị, từ bỏ một đảng độc tài, cùng Đảng Cộng sản tổ chức Chính phủ Liên hợp, thì không đến nỗi bị đuổi khỏi Hoa lục, tình hình xấu nhất là hai đảng luân phiên cầm quyền, và để tranh thủ cử tri, đảng nào cũng lo làm việc tốt, chẳng bên nào dám làm bừa. Trung Quốc từ đó lập nên thể chế dân chủ tuần hoàn tốt đẹp. Một ví dụ khác: năm 1961 là thời cơ của Lưu Thiếu Kỳ. Khi ấy, Đại tiến vọt thất bại thảm hại, mấy chục triệu người chết đói, Mao Trạch Đông mất hết thể diện trên thế giới và mất sạch lòng người trong nước, tại Đại hội 7.000 người, lực lượng thúc giục hạ bệ Mao Trạch Đông từng có lúc chiếm đa số. Đó là giờ phút Mao suy yếu nhất về chính trị, nếu Lưu Thiếu Kỳ thừa thế triệu tập Đại hội 9, đoàn kết toàn đảng, triệt để thanh toán đường lối chủ nghĩa xã hội không tưởng tổng kết bài học đau đớn mấy chục triệu người chết đói, sắp xếp cho Mao một chức vụ danh dự để dưỡng lão, xoá bỏ thể chế chính trị độc tài cá nhân, thực hiện hiến chính dân chủ, thì có thể đẩy chính sách cải cách-mở cửa sớm lên 20 năm, đất nước tránh được một tai hoạ lớn, bản thân Lưu cũng không đến nỗi đi đến một kết cục bi thảm như vậy. Lưu Thiếu Kỳ khi phải quyết đoán lại không quyết, đợi đến khi Mao hoàn hồn, chuẩn bị phát động Đại cách mạng văn hoá, Lưu mói nghĩ đến triệu tập Đại hội 9; và đến khi bị phái tạo phản lôi ra đấu ở Trung Nam Hải, ông mới nghĩ đến hiến pháp.

Bởi vậy, một bước trọng đại phải thực hiện trong khi có thời cơ là đánh giá lại Mao Trạch Đông. Tổ hợp chủ nghĩa cơ hội “bật tín hiệu rẽ trái, bẻ tay lái sang phải” (đề cao ý thức hệ nhưng chống lại chính sách kinh tế của Mao) có thế tạm yên ổn một thời, nhưng sớm muộn sẽ lật xe. Các nhà lãnh đạo hiện nay cần biết rằng: các vị giương ngọn cờ Mao Trạch Đông trong tĩnh vực ý thức hệ càng cao, thì “sai lầm” của các vị về chính sách kinh tế càng lớn, phần “tả” về chính trị làm nổi bật phần “hữu” về kinh tế. Thật sự lấy cái đúng, cái sai của Mao làm tiêu chuẩn đúng sai, thì các vị là “phái theo con đường tư bản chủ nghĩa đang đi trên con đường tư bản chủ nghĩa”. Đề cao Mao như vậy là vác đá ghè chân mình. Cần xác lập vị trí chính thống của đường lối cải cách-mở cửa trong lĩnh vực ý thức hệ. Phái cải cách chỉ có quyền hành chính không có quyền phát ngôn, là không được. “Quyền phát ngôn” ở Trung Quốc ngày nay là quyền giải thích chủ nghĩa Mác. Kế thừa quyền giải thích chủ nghĩa Mác của Mao Trạch Đông để cải cách-mở cửa, tất sẽ gặp muôn vàn trở lực, làn sóng phản đối không dứt. Những người phản đối cải cách mở cửa nằm ngoài chính quyền khí thế như hổ, những người cầm quyền chủ trì cải cách-mở cửa lo ngại, thiếu tự tỉnh thế là đẻ ra sách lược “bật tín hiệu rẽ trái, bẻ tay lái sang phải”. Chỉ có chính sách kinh tế cải cách-mở cửa mà không có ý thức hệ bảo vệ chính sách đó thì không thể thành công, Lưu Thiếu Kỳ đã thất bại ở chỗ này. Chính sách “ba tự, một bao” (đất phần trăm, thị trường tự do, tự chịu lỗ lãi, và khoán sản tới hộ) của Lưu đã cứu vãn tình hình đang bên bờ vực thắm, cứu trăm họ, cứu đất nước, nhưng lại trở thành chiếc vòng kim cô trên đầu ông, mắc phải cái gọi là “sai lầm đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”. Còn “lãnh tụ vĩ đại” được Lưu cứu giá đã niệm chú xiết chặt vòng kim cô trên đầu Lưu, đẩy ông vào chỗ chết.

Nay những người kế thừa chính sách “ba tự, một bao” tuy đã tiến hành cải cách-mở cửa rất thành công, nhưng thường xuyên bị phê phán, ý thức hệ truyền thống coi họ là “phái cải cách tự do hoá tư sản”. Việc cấp bách là phải khôi phục bộ mặt vốn có của lịch sử, nói rõ với quần chúng nhất là thế hệ trẻ nguồn gốc sai lầm của chủ nghĩa xã hội không tưởng Mao Trạch Đông, nhìn lại thời kỳ đại hoạ “tả” khuynh tác oai tác quái, sinh linh lầm than, vạch trần chủ nghĩa Mác giả hiệu của Mao Trạch Đông, giành lại quyền phát ngôn, khiến chủ nghĩa xã hội không tưởng của Mao Trạch Đông mất sạch sức hấp dẫn ở Trung Quốc. Đó là tính toán mưu lược lâu dài, sâu xa của Đặng Tiểu Bình khi ông để lại lời căn dặn một số năm sau phải đánh giá lại Mao. Cuốn sách này phải hoàn thành nhiệm vụ lịch sử ấy.

Chúng tôi viết dưới hình thức sinh động để mọi người cùng thưởng thức, khiến các chính khách đọc không cảm thấy thô thiển, nông cạn, sinh viên đọc không thấy quá sâu xa. Các tài liệu và sự kiện lịch sử đều có chứng cứ, nguồn gốc. Cuốn sách này là tác phẩm học thuật nghiêm túc, xuất bản lần thứ 2 có thêm mấy trăm chú thích. Cuốn sách dài 70 vạn chữ muốn dùng những sai lầm lịch sử của Mao Trạch Đông nhắc nhở đời sau: không thể đi và cũng không đi nổi con đường chủ nghĩa xã hội không tưởng, “thiên đường của chủ nghĩa cộng sản” không có giai cấp, không có bóc lột. không có áp bức trong tưởng tượng là địa ngục trần gian đã làm chết đói 37,55 triệu người. Đi bước này rồi mới có thể đánh bại tận gốc rễ những giáo điều cực tả thiêng liêng bất khả xâm phạm, phái cải cách và đường lối của họ mới có thể thoát khỏi trạng thái uốn éo trong điệu múa ương ca “bật tín hiệu rẽ trái, bẻ tay lái sang phải” đứng vững trên đôi chân lịch sử.

Tôi năm nay ngoài 70 tuổi, đã trải qua những năm tháng của chủ nghĩa xã hội không tưởng ở Trung Quốc, từng tham gia các phong trào chống phái hữu, ba cuộc cải tạo lớn, Đại tiến vọt và Đại cách mạng văn hoá, làm công tác giảng dạy và nghiên cứu ở Học viện quân sự cấp cao trong thời gian dài, hành trình tư tưởng bám sát Mao Trạch Đông, nếu không, không thể trải qua bấy nhiêu cuộc vận động chính trị mà vẫn tồn tại. Mao Trạch Đông là thần tượng của tôi thời trai trẻ, khi giảng dạy và viết bài, tôi từng thật lòng cổ vũ sùng bái cá nhân Mao Trạch Đông, cổ vũ chủ nghĩa xã hội không tưởng mà ông ta thực hiện; thậm chí, tôi từng xuyên tạc chủ nghĩa Mác để biện hộ cho sai lầm của Mao, coi đó là thiên chức của người làm công tác lý luận, là tính đảng của người cộng sản.

Trong làn sóng cuồng nhiệt ca ngợi Mao cũng có bọt nước của tôi. Trên ý nghĩa đó, tôi cũng có phần trách nhiệm đối với sai lầm của Đảng. Xuất phát từ trách nhiệm ấy, tôi sẵn sàng kể với thế hệ sau lịch sử chân thực mình đã trải qua, mong họ đừng cuồng nhiệt như tôi hồi trẻ. Đánh giá lại Mao Trạch Đông sẽ là một đề tài lớn trong thế kỷ 21. Nhiều hồ sơ lịch sử về những sự kiện trọng đại chưa được giải mật, đó là hạn chế lịch sử mà cuốn sách này không có cách nào vượt qua, khó tránh khỏi những sai sót về sử liệu và bình luận không thoả đáng, hoan nghênh bạn bè chỉ giáo, để những ý kiến thô thiển của tôi đổi được những lời vàng ngọc.

(Còn nữa)
Tân Tử Lăng
Nguồn: bản dịch của Thông Tấn Xã Việt Nam 2009

Mao Trạch Đông - ngàn năm công tội
Tân Tử Lăng

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11


(Tiếp theo kỳ trước...)

Chương 1
Muốn trở thành lãnh tụ phong trào cộng sản quốc tế

Tháng 7-1949, trong thời gian Lưu Thiếu Kỳ bí mật thăm Liên Xô, Stalin kiến nghị: Hai nước cần gánh vác nghĩa vụ lớn hơn trong phong trào cách mạng thế giới. Trung Quốc cần giúp đỡ nhiều hơn cho phong trào cách mạng dân tộc dân chủ ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa. Sau khi Mác và Ăng-ghen qua đời, trung tâm cách mạng thế giới đã từ phương Tây chuyển sang phương Đông, nay lại chuyển sang Trung Quốc và Đông Á. Do đó, Trung Quốc cần gánh vác trách nhiệm đối với cách mạng các nước Đông Nam Á.

Ý kiến của Stalin về trung tâm cách mạng chuyển sang Trung Quốc và muốn Trung Quốc giữ chiếc ghế thứ hai trong phe xã hội chủ nghĩa đã cổ vũ Mao Trạch Đông rất nhiều. Mao cho rằng ông ta có sứ mệnh lịch sử mở rộng con đường cách mạng “lấy nông thôn bao vây thành thị” sang các nước Á, Phi, Mỹ Latinh, lấy nông thôn thế giới bao vây thành thị thế giới, cuối cùng giành lấy châu Âu, tiêu diệt nước Mỹ lật đổ toàn bộ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ cộng sản chủ nghĩa, hoàn thành cách mạng thế giới và trong quá trình này, Mao Trạch Đông trở thành người thầy vĩ đại và lãnh tụ vĩ đại của nhân dân cách mạng thế giới. Mao quyết không cam tâm chỉ làm lãnh tụ của Trung Quốc mà cho rằng thắng lợi của cách mạng Trung Quốc chỉ là bước đầu tiên trên con đường trường chinh vạn dặm. Các hoạt động nội chính và ngoại giao, văn trì và vũ công, thành công và thất bại, công lao và tội lỗi của Mao đều trực tiếp hoặc gián tiếp gắn liền với dã tâm muốn làm lãnh tụ thế giới của ông ta. Trong bối cảnh lịch sử ấy, Mao ngả hẳn sang Liên Xô, và việc lần đầu tiên của Mao sau khi thành lập nước CHND Trung Hoa là sang thăm Moskva, mừng thọ Stalin, ký Hiệp ước đồng minh tương trợ Trung-Xô.

Nhưng Stalin không hoàn toàn yên tâm về Mao Trạch Đông, lo ngại Mao trở thành “Tito phương Đông”. Một nước cờ quan trọng của Stalin là kéo Mao vào cuộc chiến tranh Triều Tiên.

Sau thế chiến II, bán đảo Triều Tiên bị phân chia làm hai miền Nam Bắc, lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới, miền Nam do Mỹ cai quản, ngày 15-8-1945 đã thành lập Chính phủ Đại Hàn Dân Quốc do Lý Thừa Vãn làm tổng thống; miền Bắc do Liên Xô cai quản, ngày 9-9-1948 đã thành lập Chính phủ Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên do Kim Nhật Thành làm thủ tướng. Theo thoả thuận Yalta, quân đội Xô, Mỹ đã rút khỏi Triều Tiên vào cuối năm 1948 và tháng 6-1949. Lấy cớ hợp nhất, Kim Nhật Thành đã xoá bỏ Đảng Cộng sản mà ông ta từng gia nhập, thành lập Đảng Lao Động Triều Tiên, xây dựng quân đội do Liên Xô trang bị và huấn luyện. Chính phủ hai miền đều có ý đồ dùng vũ lực nuốt chửng đối phương, nhưng Bắc Triều Tiên nổ súng trước.

Từ 30-3 đến 25-4, Kim Nhật Thành mang theo phương án tác chiến sang Liên Xô gặp Stalin, Stalin chấp nhận, hứa giúp đỡ vũ khí và cố vấn quân sự, nhưng nói rõ nếu Mỹ can thiệp, Liên Xô không thể ra mặt tham chiến, mà Triều Tiên phải dựa vào Trung Quốc. Từ 13 đến 15-5-1950 Kim Nhật Thành bí mật sang Bắc Kinh hội đàm với Mao Trạch Đông, giới thiệu kế hoạch tấn công chi tiết, và yêu cầu giúp đỡ. Mao nói: Trung Quốc vốn định giải quyết vấn đề Đài Loan rồi mới giúp Bình Nhưỡng giải phóng miền Nam, nay Stalin quyết định giải quyết vấn đề Triều Tiên trước. Trung Quốc cũng không có ý kiến gì. Tác chiến phải chuẩn bị kỹ. Binh quý thần tốc, phải bao vây các thành thị chủ yếu, tập trung binh lực tiêu diệt địch. Nếu Mỹ can thiệp, Trung Quốc có thể xuất quân.

Vào thời điểm đó, Bắc Triều Tiên có 135 ngàn quân, gồm 10 sư đoàn bộ binh với đầy đủ quân số và vũ khí, trang bị, 1 sư đoàn xe tăng với 150 chiếc T-34, nhiều pháo hạng nặng, 1 sư đoàn không quân với 180 máy bay chiến đấu tính năng cao. Trong khi đó, Hàn Quốc có 95 ngàn quân, 8 sư đoàn chỉ có 4 sư đoàn gần đầy đủ quân số, 24 máy bay huấn luyện, không có xe tăng và vũ khí hạng năng, thậm chí không có cả mìn chống tăng.

Rạng sáng 25-6-1950, quân đội của Kim Nhật Thành mở cuộc tấn công dữ dội xuống phía nam, chỉ 3 ngày đã chiếm Seoul, thủ đô Hàn Quốc. Ngày 30-6, tổng thống Mỹ ra lệnh cho lục quân Mỹ tham chiến ở Triều Tiên. Ngày 1-7, Sư đoàn 24 bộ binh Mỹ được không vận từ Nhật Bản sang Pusan ở mạn nam Hàn Quốc. Ngày 7-7, Liên hợp quốc thông qua nghị quyết tổ chức quân đội LHQ giúp Hàn Quốc tác chiến, ngoài quân Mỹ ra, 39 ngàn quân của 15 nước được cử sang Triều Tiên. Tướng Mỹ McArthur được cử làm Tổng tư lệnh quân đội LHQ, trung tướng Walker, tư lệnh Quân đoàn 8 Mỹ trực tiếp chỉ huy liên quân trên chiến trường. Ngày 5-7, quân đội Triều Tiên đụng độ sư đoàn 24 Mỹ tại khu vực cách Seoul 48 km về phía nam. Rồi với thế chẻ tre: tiếp tục tiến sâu về phương nam, chỉ trong 2 tháng đã tràn ngập phần lớn lãnh thổ Hàn Quốc, đẩy quân Mỹ ra bán đảo Pusan trên vĩ tuyến 35.

Tướng Waiker tổ chức phòng ngự tại Pusan, Lữ đoàn 1 lính thuỷ đánh bộ hỗn hợp và sư đoàn 2 bộ binh Mỹ đã kịp thời sang tham chiến. Ngày 15-8, Kim Nhật Thành ra lệnh phải hoàn toàn giải phóng Nam Triều Tiên trong Tháng 8. nhưng quân đội của ông lúc này đã như tên bay hết tầm, bị thương vong nặng nề mà không vượt qua nổi phòng tuyến Pusan.

Ngày 28-6, Hạm đội 7 Mỹ từ Philippines đi vào eo biển Đài Loan nhằm kiềm chế Trung Quốc. Mao Trạch Đông nhạy bén nhận ra Mỹ đưa quân sang Triều Tiên có thể đảo ngược cục diện chiến tranh. Từ giữa Tháng 7 đến đầu Tháng 9, Mao đã ba lần nhắc nhở Kim phải quan tâm đến hậu phương, bảo vệ đường giao thông, đề phòng Mỹ đổ bộ lên Incheon. Nhưng Kim Nhật Thành hy vọng đánh nhanh thắng nhanh, không chịu điều chỉnh chiến lược.

Ngày 15-9, McArthur cho Quân đoàn 10 Mỹ và 5.000 linh thuỷ đánh bộ Hàn Quốc được 260 tàu chiến và 500 máy bay phối hợp đổ bộ chiếm Incheon, cắt đứt đường tiếp tế của quân đội Bắc Triều Tiên. Mười ngày sau, quân Mỹ chiếm Seoul, rồi chia làm hai cánh tiến ra vĩ tuyến 38 theo ven biển miền đông và miền tây. Tám sư đoàn chủ lực Bắc Triều Tiên bị cô lập tại mặt tràn Pusan, đã bị thương vong 58.000 người khi phá vây rút lui, ngày 1-10 rút về bắc vĩ tuyến 38, ngày 19-10 rút khỏi thủ đô Bình Nhưỡng. Kim Nhật Thành và cơ quan lãnh đạo đầu não Bắc Triều Tiên chạy ra Kangke cách Trung Quốc 50 km. Sau khi chiếm Bình Nhưỡng, quân đội LHQ theo nhiều ngả tiến về phía biên giới Trung-Triều, Tướng McArthur tuyên bố “sông Áp Lục không phải là trở ngại không thể vượt qua”.

Từ đầu Tháng 7, Stalin đã nhiều lần thúc giục Trung Quốc xuất quân. Đây là một vấn đề gay gắt đặt ra trước Mao Trạch Đông và ban lãnh đạo Trung Quốc. Mao quyết tâm kháng Mỹ viện Triều, bởi gánh vác nghĩa vụ quốc tế là điều kiện để sau này trở thành lãnh tụ của phong trào cộng sản quốc tế. Nhưng hầu hết các nhà lãnh đạo khác không tán thành vì vừa giải phóng được một năm, Trung Quốc còn đầy dẫy khó khăn, nội chiến chưa chấm dứt, nạn thổ phỉ vẫn hoành hành, kho tàng trống rỗng, được Bành Đức Hoài ủng hộ, qua phân tích chỗ mạnh chỗ yếu của mỗi bên, nhất là lợi ích an ninh tạo ra khu đệm giữa Trung Quốc và Mỹ, đánh Mỹ ở bên ngoài còn hơn phải đánh Mỹ trên đất Trung Quốc, Mao Trạch Đông đã thuyết phục được các nhà lãnh đạo khác tán thành đưa quân sang Triều Tiên. Liên Xô cam kết yểm trợ về không quân và giúp Trung Quốc trang bị 40 sư đoàn.

Ngày 19-10-1950, 4 quân đoàn quân tình nguyện Trung Quốc gồrn 26 vạn người do Bành Đức Hoài chỉ huy vượt sông Áp Lục, sau 3 chiến dịch đã xoay chuyển tình thế, đẩy lùi quân Mỹ và LHQ. Ngày 31-12, Liên quân Trung-Triều vượt vĩ tuyến 38, chiếm Seoul. Quân Mỹ phải lùi tới vĩ tuyến 37.

Ngày 13-1-1951, Uỷ ban chính trị LHQ thông qua “báo cáo bổ sung” về nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề Triều Tiên trên cơ sở đề án của 13 nước (Anh, Thuỵ Điển, Ấn Độ), đề nghị ngừng bắn ngay, quân đội nước ngoài rút khỏi Triều Tiên, tổ chức bầu cử để thống nhất Triều Tiên, sau đó họp Hội nghị 4 bên Anh, Mỹ, Xô, Trung giải quyết vấn đề Viễn Đông, bao gồm vị trí của Đài Loan và quyền đại diện của Trung Quốc tại LHQ. Mỹ rất lủng túng trước đề nghi này, chấp nhận thì mất tín nhiệm với người Triều Tiên, khiến Quốc hội và dư luận Mỹ tức giận không chấp nhận sẽ mất sự ủng hộ của đa số trung LHQ. Mỹ chỉ mong Trung Quốc bác bỏ đề nghị trên.

Đối với Trung Quốc, đây là cơ hội tuyệt vời. Nếu Trung Quốc đóng quân gần vĩ tuyến 38, bắt đầu thương lượng ngừng bắn, thì có lợi cả về chính trị, quân sự, ngoại giao. Việc thông qua đề án trên cũng thể hiện sự đồng tình và thái độ hữu nghị của đa số các nước trên thế giới đối với Trung Quốc. Nhưng hồi ấy Stalin quyết tâm đánh tiếp. Ngày 17-l, Chu Ân Lai tuyên bố cự tuyệt đề án ngừng bắn, ông còn chỉ trích đây là âm mưu của Mỹ, làm tổn thương tình cảm của nhiều nước.

Hậu quả là ngày 30-1, với đa số 44/7 (có 7 phiếu trắng), Uỷ ban Chính trị LHQ đã thông qua đề án do Mỹ đưa ra, tố cáo Trung Quốc xâm lược. Tuy trong đó có nhiều nhân tố do Mỹ thao túng, nhưng nó cũng chứng tỏ nhiều nước thất vọng với Trung Quốc, vấn đề chiếc ghế của Trung Quốc ở LHQ cũng bị gác lại rất lâu.

Theo chỉ thị của Stalin, Liên quân Trung-Triều mở tiếp chiến dịch thứ 4 và thứ 5. Hai bên liên tục tăng quân, tổng binh lực trên chiến trường lên tới gần 3 triệu. Riêng Trung Quốc đã đưa sang Triều Tiên 27 quân đoàn bộ binh, 15 sư đoàn pháo binh, 12 sư đoàn không quân, 3 sư đoàn xe tăng, 14 sư đoàn công binh, 10 sư đoàn đường sắt, 2 sư đoàn công an… tổng cộng 1,34 triệu quân. Chiến tranh giằng co, thương vong nặng nề của quân tình nguyện Trung Quốc chủ yếu diễn ra sau khi Trung Quốc vượt vĩ tuyến 38. Cuối cùng quân Mỹ lại đẩy quân Trung Quốc ngược trở lại bắc vĩ tuyến 38.

Ngày 30-6-1951, Mỹ đề nghị thương lượng ngừng bắn. Một ngày sau, Bành Đức Hoài và Kim Nhật Thành trả lời đồng ý ngay. Stalin chỉ thị “không được có biểu hiện vội vã kết thúc đàm phán”, cục diện vừa đánh vừa đàm kéo dài.

Ngày 5-3-1953, Stalin từ trần. Ban lãnh đạo mới của Liên Xô yêu cầu Trung-Triều chủ động ngừng bắn. Ngày 27-7-1953, Hiệp định ngừng bắn được ký kết, trong cuộc chiến này. Phía Trung-Triều thương vong 1,03 triệu người, riêng Trung Quốc thương vong trên 30 vạn người (có 11,5 vạn chết trận), thương vong phi chiến đấu trên 41 vạn người.

Vào ngày đầu dựng nước, với đội quân đã mệt mỏi do chiến trận lâu dài, với nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá, mà Mao dám quyết tâm tham chiến ở Triều Tiên, quả là đại trí, đại dũng. Từ đó, nhân dân Trung Quốc ngẩng cao đầu, chẳng ai dám đến hà hiếp họ nữa. Đây là trận đánh đặt nền móng cho nước Trung Hoa mới, là đỉnh cao huy hoàng trong sự nghiệp cách mạng của Mao Trạch Đông.

Chương 2
Sai lầm của Mao Trạch Đông
về lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội

Ban lãnh đạo Trung Quốc chưa chuẩn bị đầy đủ về lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhược điểm lớn nhất của Mao là “không đọc có hệ thống Tư bản luận, đó là chứng bệnh phổ biến của lãnh đạo cấp cao”. Chịu ảnh hưởng của cố vấn lý luận Trần Bá Đạt, Mao đưa ra quan điểm hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có thể dựa vào phân công để nâng cao năng suất lao động như các công trường thủ công thế kỷ 17. Theo lý luận đó, Mao lãnh đạo toàn dân thực hiện hợp tác hoá, công xã hoá, đại tiến vọt. Trong giai đoạn cách mạng dân chủ, Mao đã sáng tạo con đường nông thôn bao vây thành thị. giải quyết vấn đề các nước tiền tư bản chu nghĩa công nghiệp chưa phát triển, giai cấp công nhân quá nhỏ yếu làm thế nào tiến hành cách mạng, giành chính quyền, những người cộng sản Trung Quốc và toàn thế giới đều cho rằng đây là sự phát triển trọng đại đối với chủ nghĩa Mác. Nếu trong giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Mao có thể bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, một bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng nên một nước Trung Hoa hùng mạnh, giàu có, văn minh trên biển cả mênh mông của nền kinh tế tiểu nông, thì không nghi ngờ gì nữa, đây sẽ là sự phát triển trọng đại hơn đối với chủ nghĩa Mác. Có hai cống hiến lý luận này, Mao có thể làm lu mờ Stalin, mà sánh vai Lenin, trở thành người thầy và lãnh tụ vĩ đại của Phong trào cộng sản quốc tế. Đến khi phong trào cưỡng bức nông dân vào hợp tác xã bị nông dân phản kháng tiêu cực, dẫn đến sản lượng nông nghiệp sụt giảm, Mao vẫn không hiểu vì sao các hợp tác xã nông nghiệp Trung Quốc thế kỷ 20 lại không thể dựa vào phân công tạo ra lực lượng sản xuất mới cao hơn như các công trường thủ công Âu Mỹ thế kỷ 17.

Thật ra, hai hình thái tổ chức sản xuất trên bề ngoài giống nhau, nhưng khác nhau về bản chất.

Làm việc trong các công trường thủ công là những người lao động làm thuê với hai bàn tay trắng. Họ vào đây là tự nguyện, là biện pháp mưu sinh, không có sự lựa chọn nào khác. Nông dân Trung Quốc là những người tư hữu nhỏ có ruộng đất, nông cụ thậm chi cả gia súc kéo, có tư liệu sản xuất và khả năng kinh doanh độc lập, gia nhập hợp tác xã đồng nghĩa với việc họ bị tước đoạt (ngay lập tức hoặc từng bước) tư liệu sản xuất, không được phép giàu lên. Mác coi nông dân, những người làm việc trong ngành chế tạo và thương nhân là sự phân công lớn, tạo thành cơ sở kinh tế của xã hội, nông dân cá thể nắm trong khái niệm phân công lớn, tức phân công trong nội bộ xã hội, nó khác với phân công trong nội bộ công trường thủ công. Hai sự phân công này khác nhau cả về mức độ và bản chất. Tiền đề của phân công trong công trường thủ công là tư liệu sản xuất tích tụ trong tay một nhà tư bản, nhà tư bản có quyền uy tuyệt đối đối với con người, con người chỉ là một phần trong tổng cơ cấu mà nhà tư bản chiếm hữu. Tiền đề của phân công xã hội là tư liệu sản xuất phân tán trong tay nhiều người sản xuất hàng hoá không dựa vào nhau, họ chỉ thừa nhận quyền uy cạnh tranh, không thừa nhận bất cứ quyền uy nào khác.

Qua nghiên cứu, Trần Bá Đạt nhận thấy xã viên hợp tác xã và công nhân công trường thủ công khác nhau ở chỗ một bên là người tư hữu nhỏ, một bên là người lao động làm thuê hai bàn tay trắng, vậy chỉ cần đẩy nhanh cải tạo XHCN đối với xã viên, cắt bỏ “cái đuôi” người tư hữu nhỏ, biến họ thành công nhân nông nghiệp không có ruộng đất, thành người vô sản từ đầu đến chân, cộng thêm tuyên truyền giáo dục lâu dài trên qui mô lớn, để họ “phá tư, lập công”, thì chắc chắn có thể làm cho các hợp tác xã nông nghiệp tạo ra kỳ tích nâng cao hiệu suất lao động như các công trường thủ công thế kỷ 17, bởi tập thể hoá đẻ ra phân công, phân công sẽ nâng cao hiệu suất. Trần Bá Đạt nói với Mao phát hiện trên. Mao liền gấp rút đẩy nhanh tiến trình “cải tạo xã hội chủ nghĩa” đối với nông nghiệp, từ tổ đổi công tới hợp tác xã bậc thấp, từ bậc thấp lên bậc cao, rồi công xã nhân dân, chỉ trong 3 năm đã tách nông dân khỏi ruộng đất, thu lại toàn bộ những ân huệ mà cải cách ruộng đất mang lại cho họ. Theo kế hoạch của Mao Trạch Đông và Trần Bá Đạt, chuyến này nông dân trần như nhộng, chỉ còn mỗi con đường hùng hục làm việc trong các đội sản xuất. Để tạo hiệu quả sản xuất, người ta cho tổ chức “hội thảo”, cờ đỏ rợp trời, trống chiêng dậy đất, các tiểu đội “cô gái thép”, “lão Hoàng Trung” ngày đông giá rét bắt xã viên trần đôi vai run rẩy làm việc. Nhưng hình thức tổ chức càng cao, năng suất càng thấp, lương thực làm ra càng ít, xã viên càng nghèo thêm. Mao không ý thức được rằng phong trào hợp tác hoá đã tách rời quần chúng cơ bản ở nông thôn từng theo ông ta làm cách mạng. Động cơ, nguyện vọng của Mao là cao cả, nhưng ông đã cản trở, bóp nghẹt sự phát triển của lực lượng sản xuất ở nông thôn, chẳng thấy đâu một xã hội thái bình, an khang, thịnh vượng, mà chỉ thấy cảnh nghèo nàn, bệnh phù thủng và đầy rẫy người chết đói. Sự hạn chế của lịch sử và thiên kiến ý thức hệ hẹp hòi khiến Mao vẫn say sưa với cuộc thực nghiệm chủ nghĩa xã hội không tưởng.

Chương 3
Giang Thanh bước đầu tỏ ra lợi hại

Mao Trạch Đông lên làm Chủ tịch nước, Giang Thanh khi ấy 35 tuổi thật sự trở thành đệ nhất phu nhân, nhưng Mao vẫn không cho bà ta xuất hiện trên vũ đài chính trị. Cùng sống ở khu Phong Trạch Viên trong Trung Nam Hải, song mỗi người một phòng, vì Mao đã đam mê những người đàn bà khác.

Mục tiêu lớn của Giang là giữ vững vị trí của mình. Muốn vậy, phải góp phần củng cố và phát triển quyền lực tối cao của Mao. Giang đã từng bước thành công trong 20 năm sau đó. Được Mao công khai và ngấm ngầm ủng hộ, Giang đã từ lĩnh vực văn nghệ đi vào chính trị từ phê phán các bộ phim Chuyện kín trong cung nhà Thanh (1950), Truyện Vũ Huấn (1951), phê phán Hồng Lâu Mộng (1953), vụ án Hồ Phong (1955)…, giúp Mao loại trừ hoặc kiềm chế các nhà lãnh đạo khác. Mao thỉnh thoảng cũng giả vờ phê bình Giang trên thực tế ngày càng tin cậy, cho đến khi Giang được cử giữ chức Tổ phó thứ nhất Tổ Cách mạng văn hoá trung ương, có quyền lực thực tế hơn cả Chủ tịch nước, Tổng bí thư, Thủ tướng.

Chương 4
Vận dụng thuật cầm quyền của vua chúa

Mọi sai lầm lớn của Mao những năm cuối đời, như giết hại công thần, gây bè phái trong đảng, bám chặt lấy chế độ lãnh đạo suốt đời và gia đình trị, dung túng phe đảng Giang Thanh, đều thuộc thuật cầm quyền của vua chúa.

Từ Đại hội 7 ĐCSTQ (1945), Lưu Thiếu Kỳ và Chu Ân Lai là trợ thủ chủ yếu của Mao. Họ hiểu nhau, nhất trí về tư tưởng và đường lối, phối hợp rất ăn ý, vinh nhục có nhau. Nhưng sau khi vào Trung Nam Hải, môi quan hệ thân thiết ấy dần dần thay đổi. Lưu và Chu ngày càng thấy khó nắm bắt được ý đồ của Mao, ngày càng thấy lo ngại, phải thận trọng giữ gìn từng ly một. Cao Cương phụ trách 3 tỉnh Đông Bắc, là ngôi sao mới nổi lên thời kỳ đầu thành lập CHND Trung Hoa, thuộc phái thân Liên Xô, Mao cần dựa vào ông ta để khai thông quan hệ với Stalin. Tháng 6-1949, khi cùng Lưu Thiếu Kỳ và Vương Gia Tường sang Liên Xô thông báo tình hình và xin viện trợ, Cao Cương đã đề nghị sáp nhập 3 tỉnh Đông Bắc thành nước cộng hoà thứ 17 của Liên Xô. Nhận được báo cáo của Lưu Thiếu Kỳ, Mao Trạch Đông nổi giận, gọi Cao Cương về nước ngay.

Nhưng khi họ Cao có mặt tại Trung Nam Hải, Mao lại vỗ về, hứa cho Cao giữ chức Phó Chủ tịch nước. Tiếp đó Mao điều Cao Cương lên trung ương, cử giữ chức Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch nhà nước, đưa 15 cán bộ cấp cao như Trần Vân, Bành Đức Hoài, Lâm Bưu, Đặng Tiểu Bình, Bành Chân, Lý Phú Xuân… về Uỷ ban này làm việc dưới quyền Cao Cương.

Trong khi đó, Mao vẫn cho Cao Cương kiêm nhiệm 4 chức vụ chủ chốt ở Đông Bắc (Bí thư thứ nhất đảng uỷ, Chủ tịch Uỷ ban quân chính, Tư lệnh kiêm Chính uỷ Quân khu). Mao lại cho phổ biến rộng rãi “kinh nghiệm Đông Bắc”, tỏ ra ngày càng không tin cậy Lưu Thiếu Kỳ và Chu Ân Lai… Tất cả những động thái đó khiến Cao Cương lầm tưởng rằng ông ta có vị trí và vai trò đủ để thay thế Lưu Thiếu Kỳ, khi Mao đi theo đường lối thân Liên Xô. Ông ta vẫn mưu toan dựa vào Stalin để củng cố thế đứng cho mình. Cao Cương và bạn đồng minh chủ yếu là Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nhiêu Thấu Thạch tưởng đã nắm được ý đồ của Mao, họ trở thành những nhân vật quan trọng trong làn sóng ngầm chống Lưu Thiếu Kỳ và Chu Ân Lai do Mao phát động. Nào ngờ, Stalin vừa qua đời, Mao liền tính sổ họ ngay với vụ án “Tập đoàn chống Đảng Cao Cương - Nhiêu Thấu Thạch”. Mao chẳng những trừ khử Cao-Nhiêu, mà còn làm suy yếu Lưu Thiếu Kỳ-Chu Ân Lai. Thủ đoạn của Mao lợi hại và đáng sợ đến mức các cán bộ cấp cao run rẩy, dù được tin cậy hay bị nghi ngờ, chỉ có tuyệt đối trung thành với Mao mới có thể giữ mình.

Chương 5
Thiết lập thể chế chính trị chuyên chế một đảng

Thắng lợi trong cuộc chiến tranh Triều Tiên và việc Stalin qua đời khiến Mao cảm thấy mình là người hùng số một trên thế giới ngày nay, chỉ cần ông ta quyết tâm, vung tay lên là chẳng có việc gì không làm nổi trên đời này. Mao phải dựa vào vũ đài lịch sử là Trung Quốc, chỉ huy 600 triệu dân tiến hành sự nghiệp lớn long trời lở đất, ai bàn ra tán vào, ai kiềm chế, cản trở, phản đối Mao, ông ta sẽ đoạn tuyệt với người đó, bất kể là bạn cũ, chiến hữu cũ, bất kể nhân sĩ ngoài đảng hay đồng chí trong đảng. Mao cho rằng ông là người hiểu nông dân nhất, song người mà ông ta hiểu là nông dân thời đại “báo cáo khảo sát phong trào nông dân Hồ Nam”, ông ta không thật sự hiểu lý tưởng, ước mơ, những ưu tư và lo ngại của nông dân được chia ruộng sau cải cách ruộng đất. Địa vị chí tôn đã ngăn cách ông khỏi nông dân rất xa. Mấy năm sau, Mao đã ngã bật ngửa ngay trên địa bàn nông dân, nông nghiệp và nông thôn, lĩnh vực ông cho rằng mình hiểu nhất, thông thạo nhất.

Trung ương ĐCSTQ vốn định xây dựng xong chủ nghĩa xã hội mới định ra hiến pháp. Stalin cho rằng nếu “Chính phủ liên hiệp” tồn tại lâu dài, Trung Quốc có thể phát triển theo hướng dân tộc chủ nghĩa, nên ông kiên trì đòi Trung Quốc sớm định ra hiến pháp. Liên Xô đã thiết kế cho Trung Quốc mô hình chuyển đổi thể chế theo kinh nghiệm các nước Đông Âu.

Tháng 9-1954, Kỳ họp thứ nhất Quốc hội Trung Quốc khoá 1 đã thông qua hiến pháp do Mao Trạch Đông khởi thảo. Tại kỳ họp này, chính phủ liên hợp đổi thành chính phủ một đảng, các nhân sĩ dân chủ cơ bản bị gạt khỏi cơ cấu quyền lực. Hội nghị hiệp thương chính trị vốn có chức năng Quốc hội nay biến thành cơ quan tư vấn; Hội đồng Chính vụ và Hội đồng Chính phủ nhân dân trung ương thành phần chủ yếu là các nhân sĩ dân chủ bị xoá bỏ, thay vào đó là Hội nghị Quốc vụ tối cao; Chính Vụ Viện đổi thành Quốc vụ Viện (Chính phủ), quyền hạn tăng thêm, nhưng trong hàng Phó thủ tướng không có một nhân sĩ dân chủ nào. Tháng 9-1954, tái lập Quân uỷ Trung ương, quyền thống soái và chỉ huy quân đội nằm trong tay một mình Mao Trạch Đông.

Cơ cấu quyền lực mà Mao thiết kế về bản chất giống thể chế độc tài của Tưởng Giới Thạch. Đảng đứng trên Quốc hội, lãnh tụ đứng trên Đảng. Về lý luận nói sự lãnh đạo của Đảng nhất trí với nhân dân làm chủ. Vấn đề là khi nảy sinh tình trạng không nhất trí thì quyền quyết định cuối cùng thuộc về ai? Nói Đảng quyết định cũng không phải Ban chấp hành trung ương thảo luận, biểu quyết, mà do lãnh tụ độc đoán quyết định. Đây là một thể chế dân chủ giả, chuyên chế thật. Nó đã không ngăn cản nổi 50 vạn tri thức bị qui thành phái hữu và bị đàn áp, không ngăn chặn được việc điên cuồng phát động phong trào Công xã hoá và Đại tiến vọt, cũng không có phản ứng nào khi cuộc Đại cách mạng văn hoá kiểu phát xít xoá bỏ hiến pháp, đình chỉ hoạt động của Quốc hội.

Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất phát triển kinh tế quốc dân đã được soạn thảo khá nghiêm túc. Tháng 8-1952, dự thảo khung kế hoạch đã được Chu Ân Lai, Trần Vân, mang sang xin ý kiến Stalin và Chính phủ Liên Xô. Tháng 10-1954, Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai đã dành một tháng cùng nhau thảo luận, sửa đổi bản thảo kế hoạch chi tiết, tháng 11 Bộ Chính trị thảo luận trong 11 ngày. Tháng 3-1955, Hội nghị toàn quốc của Đảng thảo luận, tháng 7 Quốc hội chính thức thông qua, tháng 11 và 12, Chính phủ ban bố lệnh thực hiện trong cả nước. Nhưng kế hoạch thực hiện được hơn 2 năm thì Mao Trạch Đông gạt Thủ tướng và Chính phủ sang một bên, với tư cách Chủ tịch đảng cầm quyền, đích thân đứng ra chỉ huy công cuộc xây dựng kinh tế. Thế là vừa ngủ dậy, Mao đã có một chủ ý mới, đang bơi hứng lên liền quyết định tăng sản lượng gang thép lên gấp 2 lần, chỉ tiêu kế hoạch thay đổi từng ngày, làm rối loạn cả nông nghiệp và công nghiệp, cuối cùng làm rối loạn kinh tế cả nước. (Còn nữa)
Tân Tử Lăng
Nguồn: bản dịch của Thông Tấn Xã Việt Nam 2009