9/3/10

Việc hồi hương 20 vạn hài cốt quân Tàu ở gò Đống Đa

Trần Nhu





Trước hết, mời bạn đọc tìm hiểu qua về địa lý nước ta và khu vực thủ đô Thăng Long.



Thư tịch cổ về địa lý học của Việt Nam từ đời Lý nước ta đã có sách “Nam Bắc phiên giới địa đồ, ghi hình thể núi sông phong vật” đời Lý Anh Tông. Tiếc là từ lâu đã thất truyền. Vị trí mở đầu các tác phẩm “địa lý học Việt Nam Thực Lục mở đầu từ Địa Dư Chí” của Nguyễn Trãi.



Đời Lê Thánh Tông có hai đợt phân định địa giới, sửa đổi địa danh: năm Quang Thuận thứ 10 (1469), chia cả nước làm 12 thừa tuyên, năm Hồng Đức thứ 21 (1490), đổi chia làm 13 xứ thừa tuyên.



Đến năm Đinh hợi, nhằm niên hiệu Cảnh Hưng thứ 28 (1767) trong tập Quốc Sử Quan Hàn Lâm Viện, Học Sĩ Lê Quí Đôn tham gia biên soạn, thì địa đồ nước ta: “Phía đông nam đến tận biển, phía đông đến Châu Khâm Châu Liêm, phía bắc tiếp liền với Quảng tây, phía tây tiếp liền với Vân Nam, phía tây bắc vượt đến ranh giới Vân Nam, Quảng đông và Quảng tây, phía Tây Nam kế tiếp nước Ai Lao, phía nam cắt phân nửa nước Chiêm Thành. Hình thể tiếp liền sông biển, nắm lấy núi sông, đáng gọi là một nước rào dậu vững vàng ở bốn bên”.
(“Dẫn sách Vân Đài Loại Ngũ quyển 3 của Lê Quí Đôn” trang 221)



Riêng về Thăng Long ta còn một tư liệu khá quan trọng cho chúng ta ngày nay hiểu thêm được về thành Thăng Long là bản đồ Thăng Long thời Hồng Đức. Bản đồ thời đó tuy chỉ là những họa đồ có tính ước lệ phần trắc đạc không được chính xác như bây giờ nhưng dù sao qua đó chúng ta có thể hình dung được vị trí một thời của kinh thành.



Nhìn trên bản đồ thành Thăng Long xưa được xây hai lớp, Hoàng Thành và Cấm Thành. Vòng Hoàng Thành uốn lượn theo địa hình, thành có ba cửa: Đông Môn (ước đoán khu vực cửa Đông ngày nay), Nam Môn (ước đoán khu vực phố Cao Bá Quát ngày nay), cửa Bảo Khánh (ước đoán khu vực nhà triển lãm Giảng Võ, Ngọc Khánh ngày nay). Từ góc ngã ba sông Tô Lịch và Thiên Phù chỗ đầu chợ Bưởi ngày nay sang Cầu Giấy, vòng theo đường La Thành xuống Giảng Võ, ngoặt về phía Đông đến phố Kim Mã sang Sơn Tây, vườn hoa Lê Trực đến phố Hà Trung ngược lên hướng Bắc thẳng theo phố Phùng Hưng đến vườn hoa Hàng Đậu, rẽ về phía Tây vòng theo sông Tô Lịch, phố Quan Thánh, đường Hoàng Hoa Thám ngày nay đến chợ Bưởi là hết một vòng Hoàng Thành.



Thăng Long, từ Lý, Trần đến nay, là một khoảng không gian có thể tính từ chợ Bưởi đến Ô Cầu Dền, từ sông Hồng đến Cầu Giấy trên sông Tô Lịch. Bao gồm 3 tòa thành trong 13 trại và 6 phường, rồi 36 phố phường, từ bờ Hồ Tây chạy dài đến Hồ Gươm. Phía Bắc có sông Hồng bao bên trong thành có Hồ Tây, tiếp đến Hồ Trúc Bạch, rồi Cổ Ngư, đi nữa đến Hàng Than, lại thêm một nhánh khác của sông Hồng và sông Tô Lịch, đi từ chợ Gạo đến chùa Cầu Đông, Hàng Đường, chếch lên mạn Bắc ở cổng chéo Hàng Lược đi theo Phố Phan Đình Phùng qua Thụy Khuê, Thụy Chương đến Hồ Khẩu là cửa thoát nước từ Hồ ra sông Hồng rồi đến chợ Bưởi, sau khi gặp con sông Thiên Phù từ Quán La xuống sông Tô Lịch, quẹo về phía Nam sông Tô trở thành cái hào tự nhiên, che mặt Bắc và cả mặt Tây, đến Ô Cầu Giấy, Sông Tô Lịch lại có một nhánh nối liền với sông Kim Ngưu, làm hào lũy cho mặt Nam cửa thành, rồi chạy qua Ô Chợ Dừa, đổ vào Đầm Sét. Mặt Đông của thành Thăng Long có sông Hồng (còn có tên gọi là sông Cái, sông Nhị Hà) phía Nam Tây Hồ. Từ Đông sang Tây, có núi Nùng, núi Khám, núi Xưa, núi Bát Mẫn, núi Voi (Thái Hòa), núi Cột Cờ, núi Cung, núi Trúc và núi Vạn Bảo.



Núi đây là những núi nhân tạo, người ta đắp lên từ đời Lý, Trần. Núi Cung và núi Xưa hiện còn cao khoảng 18 mét. Phía Nam lác đác có những gò lớn tựa như những quả núi. Từ Đống Đa đến gò Chinh Chiến xã Phương Liệt, chạy mãi đến bờ sông có nhiều gò lớn như núi, Gò Ðống Ða ở về phía Tây Nam Hà Nội thuộc khu vực phố Tây Sơn, nay cái tên phố lịch sử đó Cộng Sản đổi thành đường Nguyễn Lương Bằng (UVBCTÐCS, Chủ Tịch nhà nước CSVN).



Gò Ðống Ða là một bằng chứng về sự thất bại thảm hại, nhục nhã nhất của bọn xâm lược Trung Quốc. Hai chục vạn quân xâm lược Tầu đã bị vùi lấp ở nơi đây (Mồng 5 Tết Kỷ Dậu 1789). Trên cả thẩy 12 cái núi xương gọi là gò, thời bấy giờ gọi là Kình Quán, sau những trận đánh, người Việt Nam thường chôn xác giặc thành Gò gọi là Kình Nghê, Kình Quán. Kình Nghê là hai loài cá dữ, chỉ bọn giặc Tầu, Kình Quán là gò lớn. Trong bài thơ “Loa sơn điếu” (viếng núi Ốc của thi sĩ Ngô Ngọc Du, sống cùng thời vua Quang Trung), có hai câu thơ đầy lòng tự hào:

Thành nam thập nhị kình nghê quán
Chiếu diệu anh hùng đại võ công.



Nghĩa là:
Mười hai kình quán phía Nam thành
Còn rọi sáng công lớn của vị anh hùng.



Về núi Ốc ngày trước tên chữ là Loa Sơn. Nay núi này không còn, nhưng trên bản đồ Hà Nội năm 1873 còn thấy ở khu vực Nam Ðồng, Khương Thượng có vẽ nhiều Gò Ðống, trong số này có núi Ốc, giờ đây nằm trên con đường đi từ phố Tây Sơn vào chùa Bộc gần hết địa phận nơi đây Cộng Sản xây dựng trường Công Ðoàn có một chỗ nhô cao chỗ đó chính là vết tích của núi Ốc ngày xưa.



Ngoài ra, suốt cả khu vực rộng lớn đó có nhiều gò đống lớn chôn xác giặc Tầu ấy vốn có tên là “xứ Ðống Ða”. Thời Pháp thuộc, vào những năm cuối thế kỷ thứ XX thực dân Pháp đem khu vực xứ Ðống Ða ấy thưởng cho tên Việt gian Hoàng Cao Khải làm Thái Ấp, Khải bắt dân san bằng gò đống, chỉ giữ lại cái gò thứ 12. Năm 1851 khi xây dựng chợ Nam Ðồng, phải làm đường, san đất dân phu đào thấy nhiều đống hài cốt của quân Tầu khắp cả khu vực rộng lớn đó, đào đâu cũng thấy xương quân Tầu. Viên Tổng Ðốc hạ lệnh cho dân đem chôn ở một cái gò nữa thuộc đất làng Nam Ðồng thành ra cái kình quán thứ 13 (13 cái gò). Rõ ràng đây chẳng phải là những gò thiên nhiên, mà chính là những đống thây quân Trung Quốc xâm lược. Sau trận Khương Thượng, xác giặc Tầu chôn không xuể, nhiều quá! Vượt tất cả kỷ lục Đông Tây kim cổ của thế giới, phải đào xuống rồi xếp thành đống cao, đổ đất lên trên 13 cái gò là những núi xương trở thành một dãy đài kỷ niệm, mà đáng nhẽ ra những nhà lãnh đạo Bắc Kinh như Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo… mỗi lần qua Hà Nội phải đến đây để mặc niệm các chiến sĩ xâm lăng mà suy tư…



Nhưng Giang Trạch Dân, cũng như Hồ Cẩm Đào đã không tới gò Đống Đa, mà chúng nghênh ngang đến Hội An tắm biển không cần lính bảo vệ.



Này hai chú khách kia: Vùng biển Hội An, đâu phải ao nhà của nước Tầu. Các chú muốn tuyên bố gì với thế giới đây? Mục tiêu của Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào, qua việc đến biển Hội An tắm, chúng ta có thể xác quyết rằng họ có ý đồ xâm chiếm nước ta. Với nhiều bằng chứng cụ thể từ nhiều năm nay… Họ làm cái gì mà không có hậu ý, không theo một sứ mạng (“mission”) nào đó. Ta nhìn thấu tim đen của các chú, nếu không phải cái nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN này, kể từ nay, đã trở lại quy chế (AN NAM ĐÔ HỘ Phủ) của Thiên Triều trên thực tế.



Tục ngữ Việt Nam có câu: “Loài nào giống ấy chẳng sai”, ca dao Việt Nam lại dậy rằng:



“Lòng vả cũng như lòng sung
Một trăm lòng vả lòng sung một lòng”



Nghĩa là người Tầu đời nào cũng có máu xâm lăng như nhau cả:



“Loài đỉa Hán vốn say máu Việt
Nước độc rừng thiêng, một đi là một chết
Vạn người đi không một bóng trở về”
(Thơ của Phạm Lê Phan)



Còn bọn Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh kia, vờ không hiểu, và có khi không hiểu thật, ý nghĩa của trò ám chỉ đểu cáng, xấc láo của hai gã kia! Thì bọn chúng đã bôi tro trát trấu vào mặt Tổ Tiên và chối bỏ quốc tịch Việt Nam rồi đó. Bọn chúng không lo mất nước, chỉ sợ mất quyền lợi địa vị.



Tổ quốc Việt Nam chưa bao giờ lâm nguy như bây giờ, bởi vì ngay từ đầu Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện cho giặc can thiệp vào nội tình nước ta cho đến nay đã hội đủ mọi điều kiện để trở thành một tỉnh của Trung Cộng: lãnh đạo đồng lõa, trí thức nhu nhược, dân trí thấp kém với một chủ trương cấm cố qua bao thế hệ bằng đủ mọi thứ biện pháp bưng bít, hậu quả là tất nhiên.



Ý thức nhục nhã, ý thức nguy hiểm. Song với ý muốn giải ảo toàn diện mọi ảnh hưởng của cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” và cả cái thứ Chủ Nghĩa Cộng Sản mà y mang vào một cách dứt khoát. Đất nước ta mới có khả năng hồi sinh, hầu đương đầu với tình huống bi đát hiện tại.



Tất cả ai là công dân Việt Nam hãy ý thức trách nhiệm, hãy cảnh giác Bắc Triều. Đừng bao giờ quên cái họa 1000 năm. Và đừng bao giờ quên Việt Nam luôn luôn là giấc mơ không giấu giếm của bọn bành trướng phương Bắc, dù là bạn bè đồng chí cũng không có ngoại lệ. Đừng bao giờ quên bài học nước Tây Tạng đã bị Trung Cộng ngang nhiên thôn tính trước sự bó tay của cộng đồng quốc tế.



Có lẽ tôi đã đi ra ngoài đề tài vụ hài cốt người Tầu ở gò Đống Đa, tôi muốn nhắc nhở họ mang hài cốt ông cha họ về Bắc Kinh an táng và lập đền thờ mà đâu có phải chỉ có ở khu vực gò Đống Đa, nội thành Thăng Long và khu vực ngoại thành, đâu đâu cũng có thây xác người Tầu từ lớp này đến lớp khác… Đó là chưa kể ở các dòng sông, như sông Như Nguyệt (thời nhà Lý 1077). Sông Bạch Đằng với Ngô Quyền, Lê Đại Hành, thời nhà Trần sau ba phen lửa đạn (1257-1285-1288). Tuy là cuộc chiến với Thành Cát Tư Hãn với các tướng Mông Cổ đấy, nhưng trên 50 chục vạn lính toàn là người Hán, chết nhiều lắm, đến thời nhà Lê, mười năm đánh quân Minh (1418-1427)… Biết là mấy triệu tử sĩ!






Những tử sĩ người Tầu đó chẳng phải là máu mủ, huyết thống của Giang Trạch Dân, chủ tịch Hồ Cẩm Đào hay sao? Nếu cần, các ông có thể nhờ Trung Tâm giảo nghiệm của Hoa Kỳ ở Hạ Uy Di khám nghiệm xem có đúng huyết thống của các ông không? Nơi đây đáng tin cậy lắm. Các ông không quý nhau, mà Trung Quốc là một nước có lễ nghĩa, con cháu của Hoàng Đế và Thần Nông, Đại Hán mà những người tướng lãnh và người lính Tầu hy sinh vì lý tưởng xâm lược Việt Nam lẽ nào lại là kẻ ngoại tộc?



Thế mà các triều đình nước Tầu không có ông vua nào muốn gánh vác trách nhiệm giải quyết vấn đề đó. Nay may ra có Đảng Cộng Sản Trung Quốc vĩ đại làm được việc đó chăng?



Văn hóa truyền thống 5000 năm đấy nhé. Đế quốc Mỹ chỉ có hơn hai trăm năm mà họ coi hài cốt lính Mỹ còn quý hơn cả vàng, chẳng thế mà đường xa vạn dặm, cách trở ngàn trùng, tốn bạc tỷ cũng thuê Việt Cộng tìm cho bằng được. Vậy mong tiên sinh họ Đào và Ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản Trung Quốc nhớ giải quyết vụ hài cốt này cho đẹp lòng người chết, an lòng kẻ sống. Cũng xin quý vị lưu ý, cái vong người Tầu ở khu vực gò Đống Đa, đói rét kinh khủng, họ khổ sở không thể kể xiết…



Vì Tổ quốc của họ không một ai ngó tới! Nên trước đây các chùa Việt Nam ở Hà Nội và nhiều nơi khác hàng năm vào dịp Rằm tháng Bảy có cúng vong. Nhân đây tôi xin kể một câu chuyện xẩy ra gần 50 năm qua mà tôi luôn nghĩ tới. Đó là hồi tôi ở tù khoảng năm 1959, có sống chung với mấy vị sư, tôi có hỏi về việc cúng vong ngày Rằm tháng Bảy. Các thầy đều nói vào những ngày đó, các vong người Tầu đến đông như kiến cỏ. Tôi hỏi: Tại sao các thầy biết là vong người Tầu? Các thầy bảo: Thì họ nói toàn tiếng Tầu mà hàng ngàn vạn vong như một thân hình tiều tụy kêu khóc thảm thiết rằng: Không có ai thừa nhận họ! Không có nơi trở về sống vất vưởng ở đây nhiều thế kỷ rồi! Họ chỉ mong được đầu thai làm con chó nước Mỹ. Hỏi tại sao lại không muốn làm người Trung Quốc? Họ nói nếu được làm kiếp con chó nước Mỹ thì còn hạnh phúc gấp vạn lần làm người Trung Quốc! Sống được đối xử tử tế… chết có nghĩa trang riêng. Còn ở Trung Quốc, muôn thuở các vua chúa coi người như cỏ rác. Nhiều triều đại tắm máu nhân dân để lên ngôi thống trị, bao nhiêu cuộc xâm lăng các vị tướng “công thành” nhờ “vạn cốt khô” nhưng chết không ai ngó tới. Bây giờ chúng con chỉ còn biết trông cậy vào nhà chùa, một năm được ăn của bố thí vài lần, có năm chẳng được gì vì đông quá! Tôi hỏi các thầy có ai ở khu vực đó không?



Một vị nói: Tôi trụ trì chùa Đồng Quang, đối diện với gò Đống Đa, qua trục đường Sơn Tây, ông có nhớ không? Dạ nhớ! Sư kể: Không phải chỉ có ngày Rằm tháng 7 mới có cúng vong mà hàng năm thời Pháp thuộc cứ vào mồng 5 Tết Nguyên Đán có Hội Đống Đa là hội lớn ở Thủ Đô. Từ tinh mơ, cửa đình làng Khương Thượng đã mở rộng. Khói hương thơm ngát tỏa lan cả bầu trời. Lá cờ đại cao ngất trước sân đình chào mừng ngày hội vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Cả Thủ Đô náo nức, cờ Ngũ Hành cắm la liệt quanh sân đình, các tụ điểm lịch sử như chùa Bộc, chùa Đồng Quang mà trung tâm là Gò Đống Đa, nơi cử hành quốc lễ.



Sáng rõ mặt người tất cả các đoàn rước kiệu vùng ngoại ô Hà Nội, các bô lão và các vị chức sắc trong các làng đã tề tựu đầy đủ. Chiêng trống gọi hồi gióng uy nghiêm. Sau tuần trầu nước, vừa trọn một tuần hương cuộc đại lễ bắt đầu.



Khoảng giờ Ngọ (12 giờ), đám rước thần mừng chiến thắng được diễn ra từ đình làng Khương Thượng đến Gò Đống Đa: Cờ, biểu, tàn, tán, lọng, kiệu… Đã sửa soạn xong. Quân chấp kích, Đô tùy, quan viên, người nào việc ấy, cũng đã gọn gàng trong trang phục lễ hội, chờ lệnh:



Ba hồi chín tiếng trống chiêng nổi lên báo hiệu tất cả dân làng ngoại ô Hà Nội đốt một bánh pháo như nghi thức pháo lệnh của vị thống soái.



Tiếng pháo dứt, đám rước lên đường uy nghi hùng tráng làm sống dậy hào hùng của trận tấn công mùa xuân Kỷ Dậu (1789) của Hoàng Đế Quang Trung, người anh hùng áo vải Tây Sơn lãnh đạo.



Hàng vạn thanh niên, nam nữ vui vẻ hồn nhiên đua nhau bện con cùi (núm) bằng rơm thật to, nối dài mãi, rồi lấy mo cau, giấy bồi vẽ thành hình rồng lớn (con rồng lửa) múa theo nhịp sênh tiền, nhiều tốp thanh niên mặc võ phục đi quanh đám rước rồng lửa, biểu diễn côn quyền, múa kiếm… Họ dùng rơm bện núm dài tẩm dầu nổi lửa, như mở trận hỏa công uy hiếp kẻ thù. Đám lửa cháy theo đường dài và vòng tròn, tựa như con rồng đang rực lửa căm thù lao vào thiêu cháy quân giặc.



Từ đó (rồng lửa Thăng Long) trở thành biểu tượng chiến thắng của nhân dân ta, một trò lễ hội độc đáo của lễ hội chiến thắng Đống Đa.



Trước đây, nhà nước đứng ra trụ trì cuộc lễ hội. Quốc kỳ và cờ phất phới trên sân đền trên bãi, chân Gò Đống Đa. Đó là nhà nước còn các chùa Đồng Quang và các chùa ở Hà Nội, cũng cầu kinh, cầu hồn, cúng cháo thí cho cô hồn quân giặc, những kẻ chiến bại như một hành động nhân nghĩa truyền thống của dân tộc ta ông ạ!... Nhưng rồi đến thời Hồ thì chùa chiền bị dẹp! Chẳng ai cúng vong. Vả lại cũng như Trung Quốc Thời Mao, nhà nước Cộng Sản quản lý lương thực hết sức gắt gao, và chặt chẽ, đồng bào ai cũng đói. Còn sư tăng đi tù cả lấy đâu cúng vong. Giả sử Nghiêu Thuấn, đến đức Khổng Tử, Lão Tử… mà các vị đó sống trong thời Cộng Sản quản lý lương thực, chắc cũng khó lòng nhường nhau mẩu sắn, huống hồ là người dân!



Nên mong rằng các ông và dân Trung Quốc cũng cảm thông… chứ đồng bào tôi thực lòng không hẹp hòi gì. Nhân đây xin có một vài lời cùng ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản Trung Quốc vĩ đại.



Cốt nhục, phân ly, các bậc tổ tiên, tướng lãnh Hán tộc quá cố trận vong trăm đời, ngàn đời, cùng với thân nhân quyến thuộc Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào, thủ tướng chính phủ Ôn Gia Bảo, Ngô Bang Quốc chủ tịch quốc hội. Các ông quyền thế, danh vọng tột đỉnh vinh hoa phú quý nhất nước Trung Hoa hiện nay. Phải nghĩ đến tiền nhân của các ông. Ít nhất là nên xây dựng một đài kỷ niệm ở gò Đống Đa Hà Nội. Tiếc thay Ban Lãnh Đạo Đảng Cộng Sản TQ lại không làm việc nghĩa đó, mà họ lại đi xây dựng “Nhà Hữu Nghị Việt-Trung”. Theo báo chí VN thì vào trung tuần tháng 10 năm 2007 chính phủ Trung Quốc đã cho khởi công xây dựng “Nhà Hữu Nghị Việt-Trung”, ở Từ Liêm, Hà Nội. Kinh phí lên đến 26 triệu Mỹ Kim. Đối với nhân dân VN, đây không phải là điều tốt lành trên thực tế trong tâm khảm muôn đời của người Việt là:



Ngậm mối thù truyền kiếp mấy ngàn năm
Con cháu mẹ từng nhọc nhằn u uất
(Thơ Phạm Lê Phan)



Người Trung Quốc và người Việt Nam đều biết sự thực này! Vậy tại sao họ lại đi xây Nhà Hữu Nghị?
Hay họ muốn làm đẹp lòng Chủ Tịch Hồ Chí Minh, kẻ khi còn sống thường dậy các Đảng viên Cộng Sản Việt Nam: “Mối tình thắm thiết Việt-Trung, vừa là đồng chí vừa là anh em.”



Lịch sử sang trang rồi (tình đồng chí anh em) Quốc Tế Cộng Sản đã chìm vào dĩ vãng. Hồ Chí Minh cũng đã chết từ lâu! Nhưng di sản của ông để lại có nhiều cái không chịu chìm vào dĩ vãng, có cái thuộc về quá khứ (Cải Cách Ruộng Đất), có cái thuộc hiện tại, Việt Nam mất đất, mất Trường Sa và Hoàng Sa!
Có cái thuộc về tương lai, mất nước!
Trong tình cảnh như thế này, xây dựng “Nhà Hữu Nghị Việt-Trung” cho ai xem đây? Việc này đáng ngờ, họ định chặn long mạch hay yểm gì ở vùng đất thiêng này? Tổ tiên của họ, Mã Viện dựng cột đồng đề chữ “Ðồng trụ chiết, giao chỉ diệt”. Thóa mạ cả dân tộc Việt Nam, Cao Biền đã phá hủy long mạch đất Hương Cổ Pháp (ngoại thành Hà Nội). Thiền Sư Ðịnh Không biết được âm mưu của giặc, đã lấp lại như xưa… Có hàng trăm chứng tích về các cuộc xâm lấn của người Trung Hoa đối với đất nước Việt Nam nhỏ bé!



Tội của chúng:
“Trúc Nam Sơn không ghi hết chữ.
Nước Ðông hải không rửa sạch mùi”
(Cáo Bình Ngô)



Việc hồi hương 20 vạn hài cốt quân Tàu ở gò Đống ĐaTrần Nhu


(tiếp theo phần một)




Trần Nhu


Phường chó sói đeo mặt nạ thánh hiền. Dù thời đại văn minh có khác chút ít về tình tiết, về ngôn từ mà chung quy là người Tầu đồng lòng xâm lăng nước ta.


Nhà thơ Phạm Lê Phan phẫn nộ!


“Loài đỉa Hán vốn cuồng say máu Việt”


Bản thân thơ cũng là một sản phẩm của lịch sử được kết tinh lại, là người Việt Nam ai có thể tin được: “Mối tình thắm thiết Việt-Trung vừa là đồng chí vừa là anh em?” Có lẽ từ khi lập quốc cho đến nay, chỉ có Hồ Chí Minh, Ðỗ Mười, Lê Ðức Anh, Nông Ðức Mạnh… là tin vào anh em Trung Quốc. Nhưng chẳng lẽ trong số 84 triệu dân Việt Nam có mấy ngoe ấy, mà Bắc Kinh bỏ ra tới 26 triệu dollars để xây nhà Hữu Nghị? E rằng quá lố và uổng phí! Ðúng lý ra họ nên dùng số tiền lớn này giúp Việt Nam để xây dựng một Viện Bảo Tàng… (Museum) Kỷ niệm và triển lãm cái núi xương cốt của người Tầu ở Ðống Ða, và các nơi ở nội thành Hà Nội. Ðể mỗi khi giới lãnh đạo Trung Nam Hải qua Hà Nội đến đó làm lễ mặc niệm cho hương hồn tử sĩ hay cho dân Trung Hoa đi du lịch muốn đến đây viếng tổ tiên, hương hoa thì hợp đạo lý. Thế nhưng họ lại không làm, mà đi xây nhà Hữu Nghị! Thì không hợp tình hợp lý mà việc làm Viện Bảo Tàng không mới mẻ gì, trên thế giới có hàng trăm, đủ loại. Người Do Thái xây dựng “Museum” trưng bày tội diệt chủng của Ðức Quốc Xã. Người Campuchia đã xây dựng “Museum” để cảnh tỉnh nhân loại về tội diệt chủng của Khờ Me Ðỏ, mà tác giả của nó chính là quan thầy Trung Cộng, đồng tác giả của chiến dịch Cải Cách Ruộng Ðất ở Việt Nam.


Thử phác thảo một dự án xây dựng Viện Bảo Tàng các cuộc xâm lăng của người Tầu ở Việt Nam. Với các phương thức trình bầy từng thời kỳ, thí dụ: Kỷ thuộc Tây Hán, Kỷ Trưng Nữ Vương, Kỷ thuộc Ðông Hán, Kỷ thuộc Ngô, Tần, Tống, Kỷ Tiền Lê – Lý, Kỷ Triệu Viết Vương, Kỷ Hậu Lý: Kỷ Ðinh, Lê, Lý, Trần, Kỷ thuộc Minh… Rồi tìm kiếm cái phiên bản… Trung Quốc nếu thực lòng, có thể cộng tác với UNESCO cho chương trình sẽ có nhiều trang bị và phương tiện hiện đại. Có nhân viên trình độ khoa học cao, hoặc khảo cổ học, hay các nhà nghiên cứu sưu tầm tài liệu. Nhờ khảo cổ khai quật các trận đánh quanh Thăng Long (Hà Nội).


Có thể giải thích tường tận các thế hệ xâm lăng của người Tầu, đối với Việt Nam. Ðể khắc trên những bộ xương tử trận thế kỷ thứ mấy, cùng với những chứng tích, hiện vật kim loại như đao, kiếm, mặt khác nhiều bộ sưu tập: tranh, sách, vở. Và mô hình các trận đánh như trận Chi Lăng – Xương Giang (8-10-1427), tranh vẽ hoặc điêu khắc tướng nhà Minh, giảo quyệt, dữ tợn như bọn Liễu Thăng, Lương Minh, Lũ Thôi Tụ, Hoàng Phúc chịu trói như thế nào? Nếu nỗ lực trong việc thu thập và bảo tồn các di sản xâm lăng từ khắp miền đất nước Việt Nam, quá khứ, cả hiện đại như trận Lạng Sơn (1979) đến thuyền các ngư phủ Việt Nam bị lính Trung Quốc bắn giết mấy năm qua cần được trưng bầy. Làm được như vậy sẽ giúp đỡ đắc lực cho nhiều thế hệ sinh viên, cả Trung Quốc lẫn Việt Nam nghiên cứu sinh trong học tập và nghiên cứu lịch sử. Ðồng thời Viện Bảo Tàng này sẽ là một tấm gương vĩ đại, ai là người Tầu có thể nhìn vào đây mà suy ngẫm. Soi xét chuyện đời xưa và đời nay là bài học cho những kẻ xâm lăng. Mong ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản TQ hồi tâm làm một cử chỉ đạo lý với tiền nhân của họ. Cho trọn đạo làm người, trước tiên nên làm ngay Trai Đàn Chẩn Tế giải oan là một pháp hội cúng chay và cầu siêu cho những vong hồn người chết không có ai thờ tự, không có nơi nương tựa, đang sống vất vưởng, lang thang khắp mọi nẻo đường trên cạn, dưới sông ở đất nước Việt Nam, hài cốt chôn vùi bờ đầm, gò đống quanh Hà Nội, và nhiều đoạn sông Hồng, cửa Đại Bàng, sông Văn Úc, sông Cầu khắp nơi trên đất Việt nơi nào chẳng có. Riêng khu vực thủ đô Hà Nội những điểm tụ hội hài cốt người Tầu có thể kể từ đình làng Khương Thượng, Chùa Bộc, Chùa Đồng Quang là chung quanh khu vực gò Đống Đa. Nơi đây đã xẩy ra những trận đánh khốc liệt đẫm máu nhất. Cách đây hơn 200 năm (1789-2007).


Các sách sử VN ghi vào thời nhà Thanh được thiết lập ở Trung Hoa cũng như các triều đại đã rắp tâm xâm lược nước ta, nhưng chưa tìm được cớ gây hấn. Nhân cơ hội Lê Chiêu Thống kẻ đại diện triều Lê Mạt thối nát sang cầu cứu với hy vọng trở lại ngai vàng, Tôn Sĩ Nghị, Tổng Đốc Lưỡng Quảng được lệnh đem 20 vạn quân sang xâm lược nước ta.


Giặc Tầu tiến vào nước ta ngày 16-12-1788, chúng ỷ sức mạnh, đông quân tràn xuống chiếm Thăng Long. Tướng giữ thành Thăng Long là Ngô Văn Sở. Chủ trương của ông là tránh quyết chiến với giặc, tạm thời lui quân về Tam Ðiệp để bảo tồn lực lượng, kéo dài thời gian cho đại quân Nguyễn Huệ quyết định. Đó là một quyết định sáng suốt, hợp với ý đồ của chủ trương.


Ngày 20 tháng Chạp (15-1-1789) đại quân tới Tam Ðiệp, Ngô văn Sở, Ngô Thời Nhiệm ra chịu tội. Nhà Vua cười nói: “Ta biết đây là kế của các ông, lui quân để tránh thế giặc đang mạnh trong khuyến khích sĩ khí, ngoài phấn kích lòng kiêu ngạo của giặc. Kế dụ giặc vào chỗ hiểm yếu của ta, như thế là phải lắm!


Tại đây, Vua hội với Ngô Văn Sở, Ngô Thời Nhiệm, Phan Văn Lân và các Đô Đốc, khẩn trương chuẩn bị phản công, chỉnh đốn quân ngũ, cắt xếp tướng lãnh, hoặc định chiến thuật, chiến lược cụ thể. Khi mọi việc đã chuẩn bị, Vua cho mở tiệc linh đình vào ngày 29 tháng Chạp để thiết đãi tướng sĩ trong bữa tiệc vua nói: “Bữa nay ta đã ăn Tết Nguyên Đán trước. Sang Xuân ngày 7 vào Thăng Long. Sẽ mở tiệc ăn tết kiết hạ, lại nói:


“Xuân sang, một là ăn tết, hai là chịu chết. Tướng sĩ phải hết lòng cùng ta”. Ai nấy đều hớn hở vui mừng.


Nắm chắc phần thắng rồi: Hai lần ra Thăng Long, vua Quang Trung đã quan sát kỹ địa danh địa thế của Bắc Hà. Và trước khi dừng binh ở Nghệ An. Nguyễn Huệ đã mật sai quân đi do thám để nắm vững tình hình của địch. Ngày 15-1-1789 ra đến Tam Điệp. Tại đây Vua hợp quân với Ngô Văn Sở gấp chuẩn bị phản công.


Biên chế thành hai đạo quân, Đạo quân của Đô đốc Lộc vượt biển lên vùng Phượng Nhãn Lang Giang chắn đường rút lui của giặc, Đạo quân của Đô đốc Tuyết cũng theo đường biển đánh vào Hải Dương, diệt cụm quân địch đóng ở đây, và tiếp ứng cho trận công kích Thăng Long từ hướng Đông, theo kế hoạch đã định, từ vùng Biện Sơn – Tam Ðiệp. Khi khối bao vây xuất kích theo đường biển, thì đại quân có nhiệm vụ tiến công cũng bất ngờ vượt sông Gián Thủy. Đó là đêm giao thừa Tết Nguyên Đán liên tiếp ba ngày mồng 1, 2, 3, quân ta tiến công tiêu diệt mấy vạn quân Thanh và bọn Lê Chiêu Thống, như một cơn lốc suốt một giải dài từ Gián Khẩu tới Phú Xuyên. Sáng ngày 30-1 từ ngày quân ta bước vào tấn công các mục tiêu chủ yếu. Nguyễn Huệ tiến đánh Ngọc Hồi, Đô Đốc Đặng Tiến Đông, tiến công Đống Đa Vu Hồi vào thành Thăng Long. Còn Ngọc Hồi, Nguyễn Huệ công kích từ chính diện: chủ tướng Hứa Thế Hành bị giết, giặc chống giữ không nổi, phải tháo chạy về phía Đầm Mực, tại đây, đạo quân của Đô Đốc Bảo phục sẵn để tiêu diệt phần còn lại. Theo sử ghi lại trận chiến đấu diễn ra rất ác liệt, giáo mác, đao kiếm, gẫy như rơm, tên đạn bắn như mưa, kiếm đao vung lên như những tia chớp, đầu quân Tầu rụng như sung, máu đổ như suối.


Chủ soái Tôn Sĩ Nghị hoảng hốt tháo chạy khỏi Thăng Long. Ngày mùa Đông ngắn ngủi ấy kết thúc. Mặt trời rực rỡ chiếu từ buổi sớm đã lặn, và nhờ có bóng tối của đêm đen mà chủ soái Tôn Sĩ Nghị đã thoát chết và không bị bắt. Mất tự chủ, họ Tôn run cầm cập, bỏ cả ấn tín, mấy ngày sau còn phải chạy trốn cực nhục, khốn đốn trên vùng rừng núi Bắc Việt, Tôn Sĩ Nghị mới thoát khỏi tay quân Tây Sơn. Năm thế kỷ trước, Hoàng Tử thoát Hoan con trai Hốt Tất Liệt Đại Hãn, có nhiều sừng cũng phải bẻ để chui vào ống đồng mới thoát khỏi quân nhà Trần.


Trở lại trận Đống đa: Đến ngày mùng 5 Tết thì mọi việc đã xong xuôi, chừng 20 vạn quân Tầu bị giết, bị bắt làm tù binh. Vua Quang Trung kéo quân vào thành Thăng Long trong không khí tưng bừng chưa từng thấy. Chiếc chiến bào của nhà vua đỏ thắm đã bị nhuộm thuốc súng thành màu đen ánh.


Vua vào thành Thăng Long trước kỳ hẹn hai ngày. Trăm họ chật đường nghênh tiếp Ngài và binh sĩ. Tiếng reo hò của nhân dân và binh sĩ vang dội một góc trời. Theo đúng lời hẹn, Vua cho tướng sĩ ăn Tết một lần nữa. Thành Thăng Long, nhân dân đua nhau mời tiệc vui mừng. Cả thủ đô cờ vàng phất phới tung bay.


Nguyễn Huệ là thiên tài quân sự, thông minh xuất chúng, có ý chí vững chắc và nghị lực không gì lay chuyển nổi. Ông hiểu rõ lịch sử, binh pháp, chiến thuật, nghệ thuật chỉ huy, vừa là vị anh hùng dân tộc, vừa là một nhà lãnh đạo quốc gia biết nhìn xa trông rộng, là một nhà ngoại giao khéo léo, và một nhà quân sự tài năng. Nguyễn Huệ biết lựa chọn những người có khả năng vào những vị trí thích hợp. Ông tạo ra một thế hệ tướng lãnh kiệt xuất, những nhà ngoại giao tài ba. Không may cho dân tộc ta, ông chết quá sớm, chứ Nguyễn Huệ còn thì Nguyễn Ánh chắc chắn cũng như Lê Chiêu Thống bỏ xác nơi quê người.


Lịch sử dẫu đã sang nhiều trang… Ngày nay, mong rằng giới lãnh đạo Đảng Cộng Sản Trung Quốc và nhân dân Trung Hoa, ai cũng còn chút lương tâm yêu thương nòi giống, và còn nhớ đến những người đã khuất trong các cuộc xâm lăng nước Việt Nam, hãy làm một cử chỉ thực tế. Bây giờ kinh tế Trung Quốc phát triển, Đảng vinh hoa, dân sung sướng chưa từng có, lại sắp đưa người lên du lịch Mặt Trăng nay mai cũng xin nhắc: (không được khạc nhổ bậy trên mặt trăng) về phương diện tâm linh thì mỗi gia đình người Tầu, nên bỏ ra chút tiền thiết lập bàn thờ cúng vong. Chỉ cần hoa, hương, nước trong, và cháo trắng. Còn về phần nhà nước, thì cần lập Đại Trai Đàn Chẩn Tế giải oan. Đây là một trong những hình thức chữa trị những thương tích nội tâm, nối kết lại tình đồng bào, đồng đảng Trung Hoa với nhau. Chắc chắn sẽ làm vơi đi những oan khuất đã chất chứa nhiều thế kỷ xâm lăng Việt Nam. Chúng tôi có thể xác quyết với quý vị rằng: Đã có hàng triệu triệu sinh linh người Tầu đang vất vưởng ở Việt Nam, và nhiều hài cốt đến nay không có ai thừa nhận. Như thế thật là tủi cho người chết quá! Đáng thương tâm quá! Các trận chiến đẫm máu đã xẩy ra, từ thời Việt Nam mới lập quốc! An Dương Vương với Triệu Đà nhà Tần (257-207 trước CN)… Chỉ kể những trận đánh lớn, năm 938 ở sông Bạch Đằng, giữa Ngô Quyền với Quân Nam Hán, trận này hàng ngàn chiến thuyền quân Hán đã bị đánh chìm, máu lính Tầu chảy loang đỏ cả dòng sông Bạch Đằng, Tướng Hoàng Thao cũng tử trận tại đây. Đến năm Tân Tỵ (981) cũng ở tại đây, đại chiến thủy bộ giữa vua Lê Đại Hành với quân nhà Tống, trận này Tầu lại thua đậm hơn trận trước, máu người Tầu cũng nhuộm đỏ cả dòng sông, và tướng Tầu là Hầu Nhân Bảo và hàng vạn thủy quân Tầu cũng chìm sâu ở sông Bạch Đằng này.


Năm Đinh Tỵ (1077) vẫn cũng Tống triều cử Quách Quỳ, Triệu Tiết đem đại binh thủy bộ sang xâm lăng. Đánh nhau với quân Đại Việt do thống soái Lý Thường Kiệt chỉ huy chỉ trong vòng 3 tháng. Binh lực của Tống triều trên 20 chục vạn cả thủy lẫn bộ đều đại bại, quân Tầu chết gần hết, phải cúi mặt xin rút quân. Triều nhà Trần, Việt Nam ba lần đại kịch chiến với Thành Cát Tư Hãn (1257-1285-1288). Như đã nói trên đa số tướng soái là người Mông Cổ, nhưng 50 vạn quân sĩ toàn người gốc Hán cũng quanh quẩn ở Thành Thăng Long. Và sông Hồng, ba lần ít nhất là 50 vạn, rồi đến thời nhà Minh, với Lê Lợi. Mười năm chinh chiến biết mấy chục vạn, rồi nhà Thanh với vua Quang Trung, trận Đống Đa Việt Nam. Xác người lính Tầu tính sao xuể!Cho nên các nhà lãnh đạo Bắc Kinh cần tổ chức lễ Trai Đàn Chấn Tế giải oan là hết sức hợp tình hợp đạo lý. Điều này cũng lại rất phù hợp với truyền thống của dân Trung Hoa. Pháp hội này được chính vua Lương Võ Đế khởi xướng.


Duyên khởi như sau:


“… Về tập tục theo Hòa Thượng Đạo An, cầu siêu độ cho người chết,” vốn không phải là một tập tục của Phật Giáo, tập tục này chỉ bắt đầu ở Trung Hoa từ đời nhà Đường. Điều này có thể đúng vì theo sử chép, thì năm 738 vua Đường Huyền Tông đã ban sắc lệnh cho toàn quốc ở mỗi quận phải xây một ngôi chùa, đều đặt tên là chùa Khai Nguyên (Khai Nguyên là niên hiệu thứ nhì của vua Huyền Tông). Đó là chùa công do các quan lại địa phương trông coi, dùng làm nơi tổ chức các tiết lễ quốc gia. Cầu cho quốc thái dân an. Năm 755 An Lộc Sơn nổi loạn, kéo binh về chiếm kinh thành khiến vua Huyền Tông phải chạy vào Tứ Xuyên lánh nạn. Một năm sau thì quân triều đình dẹp yên giặc loạn trong một năm chiến tranh. Số người chết, chiến sĩ của cả hai bên và dân thường nhiều vô kể. Triều đình bèn ra chỉ dụ cho tất cả các chùa Khai Nguyên trong toàn nước Tầu, thỉnh chư vị cao tăng, đại đức thiết lễ tụng kinh cầu siêu độ cho các chiến sĩ và thường dân đã chết trong cuộc chiến. Đây rõ ràng mục đích chính của nó là chữa lành những vết thương do chiến tranh gây ra. Tuy nhiên trong nghi thức này cũng dành cho tất cả các loại cô hồn đều được triệu thỉnh về tham dự. Đồng thời an ủi các gia đình nạn nhân. Dân chúng Trung Hoa thấy triều đình làm như thế, bèn bắt chước làm theo. Từ đó lễ cầu siêu độ cho người chết trở thành một tập tục phổ biến lan sang cả các nước láng giềng như nước ta.


Theo tinh thần giáo pháp của Đức Thế Tôn, những nạn nhân của cuộc xâm lăng xấu số, tướng Tầu, lính Tầu, nhiều phen chết ở Việt Nam nên các nhà lãnh đạo Bắc Kinh và Phật Giáo Trung Hoa nên đứng ra tổ chức Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan, thì đồng bào Việt Nam sẽ đồng tâm cầu siêu cho tất cả trong tinh thần bao dung, không kỳ thị…


Với ban lãnh đạo Bắc Kinh, đây là cơ hội tốt nhất để chữa lành vết thương, đưa những niềm oan khuất này lên vùng ý thức dân tộc Đại Hán để nhận diện, để khóc thương, để cầu nguyện và chấp nhận sự thật… Chính nó là Cam Lộ Tình Thương của đạo Phật nhiệm mầu, cho các vong hồn phiêu linh và các loài quỷ đói nhiều thế kỷ được hưởng ân phước của Tổ Quốc Trung Hoa vĩ đại.


Trai đàn chay sẽ cung cấp thức ăn để phân phát cho hàng triệu triệu vong hồn tử sĩ. Chẩn là phân phát, tế là cứu giúp, tế độ những kẻ oan khiên kia ra khỏi cảnh ngộ ngặt nghèo, ngàn năm không ai đoái hoài. Các triều đại Trung Hoa làm ngơ, dân Trung Hoa phớt lờ, thành ra các vong linh lâm vào cảnh khốn cùng! Ôi! Có tin vui trong một ngàn năm tuyệt vọng!


Trai Đàn Chẩn Tế cũng là để hướng dẫn các hương linh sám hối, cho hương linh có cơ hội nghe Kinh để chuyển hóa mà vãng sinh cực lạc quốc, hoặc nếu có đầu thai làm người Trung Hoa trở lại, xin nguyện quyết không đi lính sang xâm lăng Việt Nam nữa.


Sự có mặt của ngài Tổng Bí Thư Hồ Cẩm Đào, ngài Thủ tướng, ngài Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc, tới tham dự lễ trai đàn sẽ có ảnh hưởng rất lớn, một sự quan tâm của Đảng Cộng Sản Trung Quốc thực hiện, sẽ là một công lao lớn, nuôi dưỡng tinh thần quốc gia. Một đất nước Trung Hoa luôn luôn đi theo giá trị tinh thần truyền thống trong công cuộc kiến quốc vĩ đại ở cái thế kỷ 21 nầy.


Nếu quý ngài muốn tổ chức một Đại Trai Đàn Chẩn Tế giải oan cỡ quốc tế, xin lưu ý mời Đại lão Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh, ngài có nhiều kinh nghiệm tổ chức trai đàn và cần mời các vị Tổng Thống Pháp, Mỹ, Nga… Coi như sứ điệp Hòa Bình của nhân loại. Xin nhất tâm phụng thỉnh Chư tôn Hòa thượng Ðạo cao Ðức trọng, kể cả Phật Giáo Việt Nam và Phật giáo Trung quốc, đứng ra lãnh trách nhiệm Cầu Siêu Bạt Độ cho chư vong linh quân lính Trung Hoa tử trận tại chiến trường Việt Nam.


(Điều nầy nên liên lạc giữa hai bên để thành lập một “Ban tổ chức” quy mô giữa Phật giáo của hai quốc gia Việt Trung để thực hiện. Lãnh đạo nhà nước Trung Hoa hiện nay phải là phần chủ động.)


Linh vị quý vị có thể được viết bằng chữ Hán, nếu muốn có thể in trên nền giấy mầu đỏ cho đúng với truyền thống Trung Hoa.


Nội dung linh vị các vị tướng Tầu và binh sĩ hữu danh vô danh, dùng chữ Hán tạm phiên âm như sau:


Phụng vị quá khứ liệt vị tướng soái Trung Hoa… Ức triệu chư vong, thuộc Tổ tiên Dân tộc của Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào, Thủ tướng Ôn Gia Bảo, Chủ tịch Quốc Hội nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa…
Trong chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Quốc, ngót gần 4000 năm và hàng vạn chiến sĩ trận vong chết tại Gò Đống Đa, hàng triệu mạng chết trên Sông Bạch Đằng v.v… Hữu danh Vô vị, Hữu vị Vô danh, nhân lễ kỳ siêu bạt độ nầy mà Siêu sanh Cực Lạc quốc.
Chúng con đại diện cho dân tộc Trung Hoa, Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo hiện diện nơi đây. Nguyện xin chuyển hóa…


**********************************************************************
Nếu được như vậy nhân dân Việt Nam sẽ hết lòng giúp đỡ các ông bằng mọi khả năng sẵn có.


Cũng xin lưu ý:


* Chủ tịch Hồ Cẩm Đào muốn tìm hài cốt tổ tiên (xin liên lạc với người nổi tiếng về khoa ngoại cảm. Việt Nam hiện có nhiều nhà ngoại cảm nổi tiếng được Đảng Cộng Sản xác nhận như Nguyễn thị Phương, Vũ Thành Bát, Dương Mạnh Hùng, thiếu tướng Chu Văn Phát, họ có thể tìm những ngôi mộ cách đây mấy trăm năm, như mộ Huyền Trân Công Chúa đời Trần. Mộ tướng quân Hoàng Công Chất, từ đời chúa Trịnh cách đây gần 300 năm). Theo viện Khoa học Liên Hiệp và giới trí thức Hà Nội, thì các nhà ngoại cảm chỉ là người phiên dịch trung gian, giữa người chết và thân nhân người còn sống, mà họ đã đem đến cho hàng vạn gia đình có người thân mất tích trong các cuộc chiến tranh.


Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng khi được phỏng vấn thì người cõi âm rất cần ở những tấm lòng của người thân. Và họ sợ bị người thân quên lãng.


Hàng triệu người Tầu chết trận ở Việt Nam đã bị lãng quên dễ dàng. Họ cô quạnh, hẩm hiu, nơi đất khách. Họ luôn trông chờ tình cảm của người thân nơi tổ quốc vĩ đại nghĩ về họ.


Sáng ngày 2-4-2007, phái đoàn 7 nhà ngoại cảm cùng đi dự Lễ Trai Đàn Chẩn Tế Bình Đẳng giải oan, do HT Nhất Hạnh tại Quốc Tự Diệu Đế, THPG Thừa Thiên, Huế – Chiều ngày 3-4-2007 có Đại Chẩn Tế tâm linh cô hồn, họ đã phải bật khóc khi trông thấy nhiều hương linh lũ lượt vào tranh nhau ăn mày công đức nơi cửa Phậ!


* Còn chính phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung quốc muốn khai quật khu gò Đống Đa để đem hài cốt người Tầu hồi hương – giá nhân công rất rẻ. Xin liên lạc Bộ Lao Động, Bộ Thương Binh nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
 
(Trích dẫn một chương trong sách “Thăng Long Xưa – Hà Nội Nay” sắp xuất bản)









Công dân siêu hạng 1 hay nhà độc quyền công lý

Phan Thủy

-Từ phiên xử tội yêu nước đến mặt thật của “nền pháp quyền Xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam

Bạn có biết ở nước Việt Nam ta có ít nhất 3 hạng con người? Thực chất sự phân loại này đã tồn tại dưới các triều đại phong kiến, nay không hiểu vì cớ gì vẫn không xó bỏ được giữa thế kỷ 21 văn minh hiện đại. Nếu không biết điều này thì bạn cũng không nên buồn, bởi vì còn rất nhiều người không biết giống như bạn, hoặc biết nhưng nhu nhược nên như không biết.

Loại 1 và 2

Với phiên tòa xử 4 đảng viên Đảng Dân Chủ Việt Nam vừa rồi, qua các triệu chứng lạ được ghi nhận bởi vô số nhà chẩn bệnh uy tín từ nhiều quốc gia, ắt sẽ thành lý do để người Việt Nam viết lại sch. Rất có thể bản giảm tải năm tới ghi rõ như sau: “Công dân Việt Nam được chia làm 2 hạng. Công dân trong mỗi hạng đều bình đẳng với đồng loại mình, nhưng hai kiểu bình đẳng đem so với nhau thấy khác”.

Điều này cũng dễ hiểu, bởi trong phiên tòa chính trị vừa qua, người ta đã ghi nhận một loại công dân được chính quyền ưu ái đặc biệt. Độ 200 công dân loại này đã được xe biển xanh tìm tới tận nhà, mời đi xem xét xử. Để bồi thường tổn hao thể lực của hai tiếng ngồi vỗ tay, vị Bao Công hào phóng của chính quyền nhân dân đã biếu mỗi người 50.000 VNĐ tiền công quỹ. Được trả tiền công, lại được đi xe công, nếu tấn tuồng có gì sơ suất khiến những công dân này phải phật lòng, thì chỉ có thể là do ban tổ chức quên phát bỏng ngô miễn phí.

Những công dân thuộc loại thứ hai, ngược lại, chẳng có xe đưa rước, chẳng được trả tiền, cũng chẳng được phát bỏng ngô. Nhưng xem ra họ còn được chính quyền chăm sóc chu đáo hơn loại 1. Người ta đã không tiếc mồi hôi và phí tổn để điều động cả rừng cảnh phục, súng ống và dùi cui chỉ để ngăn toàn thể loại công dân thứ hai bén mảng quanh nơi xử án. Một số anh dân đã được cơ quan an ninh ân cần gô cổ, cẩn thận tháp tùng tới tận bàn trà của đồn công an vì tội dại dột ngồi uống cà phê trong các quán gần nơi, và đúng lúc cuộc thực thi công lý… mật đang diễn ra.

Gia đình các bị cáo may mắn hơn. Sau khi bị lột sạch những công cụ trót mang hơi hướm của nền văn minh trái đất sau công nguyên như điện thoại, máy ghi âm, máy ảnh, máy quay phim, họ cùng các phóng viên bị nhồi chung vào một phòng cách ly, căng mắt theo dõi cơn hoạn nạn của con em mình qua một màn hình vừa mờ vừa cũ.

Loại 0, hay siêu 1 hảo hạng

Nói về phiên tòa, sáu vị trong Hội đồng xét xử, những ông mặt sắt cầm cân nảy mực, những người thừa hành chính nghĩa, nắm quyền sinh sát trong tay đều là đảng viên Cộng Sản. Rừng dùi cui và súng ống chiếm đóng phòng xử hôm ấy đều phải nhất nhất trung thành với đảng Cộng Sản theo qui định của hiến pháp, và theo luật lệ của đồng tiền lương. “Quần chúng” đến dự, xin hân hạnh giới thiệu, đều là những đảng viên Cộng Sản hưu trí. Như thế, trong cuộc xử kín hôm 20 tháng 1, cùng với các luật sư của mình, bốn người tù chính trị bị cáo buộc hoặc tham gia đảng Dân Chủ Việt Nam, hoặc móc nối với đảng Dân Chủ Việt Nam đã bị bao vây bởi một hội đồng hoặc tham gia đảng Cộng Sản Việt Nam, hoặc cấu kết với đảng Cộng Sản Việt Nam, trong tay lăm lăm súng đạn, dùi cui, và quyền định đoạt công lý.

Một công dân ăn gan hùm nào đó đã từng “vu cáo” đảng Cộng Sản vừa đá bóng, vừa thổi còi trong trận tranh quyền làm chủ đất nước với… nhân dân. Tôi thấy anh này nhận thức lệch lạc nên không hiểu vấn đề. Phải nói lại cho đúng hơn: trong trận tranh hùng với dân, Đảng ta đã vừa đá bóng, vừa thổi còi, vừa tự tiện soạn luật bóng đá.

Ứng cử viên trong cuộc bầu gồm những vị nào là do Mặt Trận Tổ Quốc quyết định. Mà Mặt Trận Tổ Quốc lại là một tổ chức con của đảng Cộng Sản. Thế là nhân dân được tự do bầu chọn những ứng viên nào đảng Cộng Sản cho phép.

Thế thảo nào tuyệt đại đa số “đại biểu nhân dân” là đảng viên Cộng Sản. Thảo nào luật pháp Việt Nam, kết tinh công sức ngồi nhắn tin và ngủ gật của họ trong các buổi họp hành lại lắm những luật lạ: qui định đảng Cộng Sản là lãnh đạo đất nước, quân đội và công an phải vệ đảng trước vệ quốc, trung với Đảng trước trung với dân. Thảo nào lời nói đầu trong bản hiến pháp Việt Nam hiện hành có 530 chữ, nhưng chỉ có 53 chữ được dành cho 4000 năm lịch sử của nước Việt Nam. Phần còn lại, chiếm tròn 90%, dùng để ca ngợi công ơn của đảng Cộng Sản với nước, với dân. Thế rốt cuộc nó là hiến pháp của nước Việt Nam, hay là quyển sổ ghi nợ của đất nước và nhân dân Việt Nam, do vị chủ nợ quang vinh tuỳ tiện sáng tác?
Thì ra là thế…

Khi được Đảng và nhà nước tạo điều kiện cho nói lời cuối cùng trong phiên xét xử, luật sư Lê Công Định đã bộc bạch:

“Thứ nhất xét về hành vi khách quan, luật pháp và hiến pháp của Việt Nam đã quy định và bảo vệ quyền lãnh đạo duy nhất của đảng CSVN đối với nhà nước và xã hội Việt Nam. Cho nên là những lời kêu gọi đa nguyên đa đảng mặc nhiên là muốn thể hiện ý muốn thay đổi thể chế chính trị hiện nay. Và những tổ chức nào chủ trương đa nguyên đa đảng thì như vậy là đương nhiên vi phạm vào điều 79 theo định nghĩa của điều 79 của luật hình sự”.

Thì ra là thế. Thì ra là trong số những người đã, đang và sẽ còn lao mình vào nhà ngục với tội trạng “lật đổ chính quyền nhân dân”, chẳng ai ham hố làm ông vương ông tướng gì, cũng chẳng ai mong mỏi xoá bỏ sự tồn tại của đảng Cộng Sản vì những thù hằn cũ. Họ chỉ mong mỏi xây dựng cho đất nước một nền chính trị đa đảng đa nguyên, trong đó đảng Cộng Sản không còn hưởng những đặc quyền đặc lợi tự ban phát, không còn là những ông vương ông tướng độc tôn quyền hành của nước Việt Nam, mà được dành một chỗ đứng ngang hàng với mọi chính đảng khi đại diện cho nhân dân và chăm lo việc nước.

Dự định cao đẹp này chắc chắn không được háo hức chia sẻ vởi một đảng cầm quyền tề tựu đông đủ các vị quan tham vừa mê tít quyền lực, vừa tài năng và đức độ tới nỗi chẳng dám mơ tới chiến thắng trong các cuộc bầu cử đa đảng, cũng như mọi ông bạo chúa đã chẳng chịu từ bỏ ngai vị để ích nước lợi dân. Đảng Cộng Sản đã nắm cả quyền lập pháp, tư pháp và hành pháp trong tay. Và “đạo đức cách mạng” sẵn có đã giục họ nhanh tay qui sự nghiệp đấu tranh vì một nền dân chủ và lẽ công bằng ở nước Việt Nam thành một tội phạm thượng phải chém.

Nghĩ mà xem, các loại công dân nói trên đều thuộc giống người, và cùng sống ở nước Việt Nam. Họ vẫn tương đồng với nhau về nhiều đặc điểm hình thể, chẳng hạn như số con mắt, số lỗ miệng, lỗ tai, dù tần suất tự do sử dụng những cơ quan này có khác nhau ở hai loại, điều có thể gây hiện tượng tiêu biến. Và dù trong mọi phát ngôn không bí mật, những công dân loại 1 và siêu 1 vẫn thường nhũn nhặn tự xưng là đầy tớ của các đồng bào loại 2. Có đầy tơ nào tự quyền định đoạt công lý và ăn trên ngồi trước cả chủ của mình không?

Phan Thủy

©Tạp Chí Thanh Niên PHÍA TRƯỚC

Tạp chí Phía Trước số 31: 1000 Năm Thăng Long
Tải xuống tại đây:
Bản HD: http://www.mediafire.com/?gky3nkm2njr
Bản Thường: http://www.mediafire.com/?zytozyzoitm
Bản Mini: http://www.mediafire.com/?ty5qrioiwwl
Đăng ký nhận thông báo khi có số báo mới: http://groups.google.com/group/xem_bao_phia_truoc/subscribe?hl=vi


Cộng tác viết bài cho Tạp Chí Phía Trước số 32 Tự hào Việt Nam
Vua Quang Trung Nguyễn Huệ đã từng nói: “Đánh cho sử tri nước Nam anh hùng chi hữu chủ."

Năm mới đang đến, mọi người vui xuân lễ lạc để tết cổ truyền. Thiết nghĩ chúng ta cũng nên nhân dịp đầu năm tìm về truyền thống nước Nam để từ đó thêm tự hào khi mang trong mình dòng máu nước Việt.

Việt Nam ngày nay không còn là một chấm nhỏ trên bản đồ thế giới. Những cuộc trao đổi văn hoá, du lịch, những đầu tư quốc tế và những hoạt động của các du học sinh đã góp phần nâng cao hình ảnh Việt Nam trên sân khấu quốc Tế. Năm vừa qua là năm thế giới biết đến Việt Nam với truyền thống hiếu học qua các thành công của Bộ trưởng người Đức gốc Việt Phillips Roesler, Hạm trưởng Đoàn Bá Hùng, Thẩm phán Liên bang Hoa Kỳ Jacqueline Nguyễn và Giáo sư Ngô Bảo Châu. Và ắt còn nhiều thành công của người Việt khắp năm Châu mà chắc hẳn làm chúng ta không khỏi tự hào.

Các bạn có những suy nghĩ, tâm tư, và những tấm gương mà theo bạn là đáng để chúng ta học hỏi, xin hãy chia sẽ với Tạp chí Thanh niên PHÍA TRƯỚC số 32. Tạp chí hy vọng số 32 với chủ đề ―Tự hào Việt Nam sẽ gióng lên niềm tự hào dân tộc, khơi gợi lòng yêu nước cũng như tinh thần quật khởi của dân tộc.

Bài vở xin gởi về: contact.phiatruoc@gmail.com
Website: http://phiatruoc.info
Blog: http://phiatruoc.wordpress.com
Scribd: http://www.scribd.com/phiatruoc
Twitter: https://twitter.com/phiatruoc
Facebook: http://www.facebook.com/profile.php?id=10000023245260
Đăng ký nhận báo: http://groups.google.com/group/xem_bao_phia_truoc?hl=vi

Tổ quốc trên hết

Xin bắt đầu bài viết này bằng lời di chúc của vị vua anh minh Trần Nhân Tôn: “Các ngươi chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ tự cho mình cái quyền nói một đằng, làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra nơi biên ải, các chuyện đó khiến ta nghĩ đến những chuyện khác lớn hơn, tức là họ không tôn trọng biên giới quy ước. Cứ luôn luôn đặt ra cái cớ tranh chấp, không thôn tính được ta thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta. Dần dần họ sẽ biến giang sơn của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy các ngươi phải nhớ lời ta dặn: một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không để lọt vào tay kẻ khác. Ta để lời nhắn nhủ này như một lời di chúc cho muôn đời con cháu”.



Thật đau buồn khi những lời di chúc đầy tinh thần dân tộc này của vị vua Trần Nhân Tôn, ngày nay đã bị quên lãng dần trong lòng dân tộc, nhất là hầu hết học sinh, sinh viên dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa do Đảng CSVN lãnh đạo cũng hoàn toàn xa lạ với những công lao to lớn của tiền nhân. Thật vậy, vì luôn luôn đặt quyền lợi của Tổ quốc, quyền lợi của dân tộc lên trên hết cho nên, vua Trần Nhân Tôn đã mở ra hội nghị Diên Hồng để lấy ý kiến nên hòa hay đánh của toàn dân trước ngoại xâm. Cuối cùng với tinh thần đoàn kết và thống nhất được ý chí dân tộc mà nhà vua đã đánh bại hoàn toàn giặc Tàu xâm lược.


Nhìn lại lịch sử VN từ xưa đến nay, chưa có một triều đại nào cam tâm dâng đất, dâng biển của đất nước cho ngoại bang TQ như triều đại của ĐCSVN hiện nay. Lịch sử cũng như ngay cả ĐCSVN vẫn thường lên án Lê Chiêu Thống là cổng rắn cắn gà nhà. Nhưng dưới thời Lê Chiêu Thống cai trị đất nước, lãnh thổ VN vẫn được bảo toàn không bị mất dù chỉ một tấc đất. Trong thời đại thông tin rộng mở như bây giờ, từng sự thật về những hành động của các nhà lãnh đạo CSVN đối với Tổ quốc và nhân dân ngày càng được phơi bày ra ánh sáng cho, dù đảng đã dùng mọi thủ đoạn để bưng bít thông tin. Mục đích của bài viết này là cũng chỉ muốn đưa ra những sự thật trong muôn ngàn sự thật mà các nhà lãnh đạo CSVN đã, đang và sẽ làm đối với quê hương đất nước để cho các chiến sĩ trong lực lượng quân đội, công an và những ai còn trung thành với đường lối và sự chỉ đạo của các cấp lãnh đạo hiện nay phải nhìn lại việc làm của mình, để sau này khỏi mang tội với Tổ quốc và nhân dân.






Chúng tôi không tham gia bất cứ một đảng phái hoặc tổ chức nào, chúng tôi chỉ là thành phần trẻ, là công dân của đất nước, với tinh thần trách nhiệm và lòng yêu quê hương đất nước bắt buộc chúng tội phải lên tiếng, cũng như sẵn sàng chấp nhận mọi nguy hiểm sau này. Đã là con người thì hành động cũng có lúc đúng, lúc sai. Nhưng cốt yếu là phải nhận ra được cái lỗi lầm để mà khắc phục, hầu tránh tái phạm. Tuy bây giờ là muộn màng, nhưng cũng chưa quá muộn để những kẻ đã đánh mất lương tri, đang lầm đường lạc lối, phải thức tỉnh lương tâm mình trên trên bước đường dân chủ hóa đất nước, để một nước Việt Nam có thể phát triển hùng mạnh, sánh vai với các nước trên toàn thế giới. Chỉ có thế mới có thể gác qua một bên quá khứ, xoa dịu nỗi đau của hàng trăm ngàn vong linh của những người dân vô tội bị chết oan trong chính sách cải cách ruộng đất và phong trào nhân văn giai phẩm ở miền bắc (1953-1957), cùng với những mồ chôn tập thể ở Huế (1968) và các trại tập trung cải tạo sau năm 1975 do ĐCSVN thực hiện. Đây chính là nỗi đau không của riêng ai, mà là của toàn thể dân tộc Việt Nam! Lịch sử Việt Nam mãi mãi khắc ghi những hình ảnh đau thương này.


Không ai chủ trương tiêu diệt ĐCSVN, kể cả các phong trào và những người đang đấu tranh bất bạo động cho dân chủ nhân quyền hiện nay, cũng như những công dân yêu nước đang bị đảng giam cầm, những tội danh mà đảng đưa ra để bỏ tù những công dân yêu nước này là do tòa án của đảng tự đặt ra để kết án họ, chớ thật ra việc làm của họ là phù hợp với hiến pháp của đảng (điều 69 Hiến Pháp) và những điều khoản trong các công ước quốc tế mà chính quyền CSVN đã ký và tình nguyện tham gia. Cương lĩnh của các đảng phái và các phong trào tranh đấu cũng chỉ đòi hỏi một sự cạnh tranh công bằng, bình đẳng với ĐCSVN thông qua việc ứng cử và bầu cử tự do để nhân dân chọn lựa. Hiện nay, các nhà lãnh đạo đảng đang xiết chặc vòng dây kiểm soát hệ thống Internet, chặc đứt mọi nguồn kinh tế của các nhà đấu tranh dân chủ, bắt buộc những người sử dụng điện thoại di động phải đăng ký tên và số Chứng Minh Nhân Dân (CMND) để theo dõi, mọi việc giao dịch với ngân hàng để vay tiền sản xuất của người dân đều phải qua sự kiểm soát và giới thiệu của các cấp chính quyền, thông tin báo chí đều phải đi bên lề phải do đảng đề ra, mọi quyền hành lãnh đạo trong tất cả các ban ngành đoàn thể trong hệ thống chính quyền từ cơ quan nhỏ nhất cũng đều phải là đảng viên của ĐCSVN…v.v…. Đây là những việc làm không thể chấp nhận được trong một đất nước vừa là thành viên WTO, thành viên LHQ, chủ tịch luân phiên ASEAN mà Việt Nam đang thụ hưởng.


Đất nước đang thực sự lâm nguy vì những hành động ươn hèn để giữ vững địa vị cá nhân của các nhà lãnh đạo chóp bu của ĐCSVN, đây là một sự thật quá rõ ràng. Hành động trên thực tế của các cấp lãnh đạo đảng từ trung ương xuống địa phương đều thể hiện sự thật này. Ngoài việc vùng đất địa đầu Ải nam quan, 2/3 thác bãn Giốc cùng bãi Tục Lãm và trên 10.000km2 vùng biển Vịnh Bắc Bộ đã thực sự về tay Trung Quốc qua các hiệp định, hiệp ước tháng 12/1999 và tháng 12/2000 mà chính quyền CSVN đã ký với TQ, nhưng cho đến hôm nay nhân dân cũng không được biết nội dung các bản hiệp định, hiệp ước này. Còn quần đảo Hoàng Sa nơi có cuộc hải chiến giữa hải quân VNCH với hải quân TQ đầu năm 1974 thì đã được Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký công hàm tháng 9/1958 thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc. Trong khi phần lớn quần đảo Trường Sa thì đã bị Trung Quốc xâm chiếm năm 1988, mà hiện nay bọn người TQ đã xây dựng xong các phi trường và căn cứ quân sự rồi. Còn nhớ trước đây, TQ đã hăm dọa và ngăn cản không cho các công ty khai thác dầu hỏa của Anh và Hoa kỳ hoạt động trên vùng biển VN theo hợp đồng giữa VN và các công ty này, thì hôm nay ngày 26/2/2010 vừa qua, TQ đã đưa lực lượng và phương tiện kỹ thuật đến để dò tìm và khai thác dầu hỏa trên vùng biển đó trước sự im lặng của các nhà lãnh đạo VN.


.Trong năm vừa qua Trung tâm thương mại Hồng Vận thành phố Móng Cái do người TQ xây dựng đã ngừng thi công bởi vì Việt Nam phát hiện phía Trung Quốc đã bí mật đào đường hầm xuyên qua biên giới VN. Các nhà lãnh đạo CSVN đã dùng quyền lực của mình để thực hiện cho bằng được dự án khai thác Bauxite ở Tây nguyên, một dự án đã được ông đại tướng Võ Nguyên Giáp và các tướng lãnh khác trong đảng, các đại biểu Quốc hội cùng trên 3000 nhà trí thức bao gồm từ các giáo sư, tiến sĩ, nhà văn, nhà khoa học ưu tú trong và ngoài nước phản đối bằng những kiến nghị và đưa ra những tư liệu, phân tích chuyên môn về một đại họa cho môi trường, cho cuộc sống của nhân dân, cho nền văn hóa lâu đời của Tây nguyên, nhất là ảnh hưởng đến sự mất nước trong tương lai nếu đại dự án bô xít vẫn được tiếp tục cho TQ khai thác bởi vì, theo như sự nhận định của đại tướng Võ nguyên Giáp: ai làm chủ được Tây nguyên có nghĩa là sẽ làm chủ cả Đông dương. Nhưng với những con người lãnh đạo đất nước bất tài, không có tư duy và tầm nhìn chiến lược như hiện nay, việc khai thác bô xít vẫn ngang nhiên tiến hành. Tây nguyên đang giẫy chết vì sự khai thác Bô xít, vì sự quậy phá của hàng trăm ngàn công nhân TQ, toàn dân VN đang đau khổ vì tình trạng lạm phát gia tăng, vì sự mất đất do các cán bộ cùng cơ quan nhà nước lạm dụng quyền hành lấy đất của dân, nhất là tình trạng bao che tham nhũng, tiêu cực đang lan tràn công khai trong xã hội. Những đại nạn đang xảy ra cho nhân dân và đất nước chưa khắc phục được, thì mới đây dư luận trong và ngoài nước lại biết đến cái tin động trời: 2 tỉnh giáp biên giới Trung Quốc: Lạng Sơn và Quảng Ninh cùng với 8 tỉnh khác đã âm thầm ký cho Hồng Kong, Trung Quốc và Đài loan thuê trên 300 ngàn hecta rừng đầu nguồn trong thời hạn 50 năm. Trong đó, riêng phần của Trung Quốc là 264 ngàn hecta khiến cho trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh cùng đứng đơn kiến nghị lên trung ương đảng, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Bộ Nông nghiệp-Môi trường trong đó có đoạn: “Đây là hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia. Mất của còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn. Các tỉnh cho thuê rừng dài hạn là tự sát, còn các nước thuê rừng của ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo”. Riêng bài viết của cựu thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh (người đã từng làm đại sứ VN tại TQ 15 năm) có tựa đề: cảnh giác với thủ đoạn bành trướng mềm của Trung Quốc được đăng trên trang web bô xít và các trang web khác. Cuối bài ông kêu gọi: “Trước những hành động của ông láng giếng hữu nghị trên biển đông cũng như trên đất liền VN. Hàng triệu người VN yêu nước đang bức xúc và sôi gan. Chúng ta phải làm gì đây?”.


Nhìn qua những việc làm của các nhà lãnh đạo CSVN trong thời gian qua. chúng ta có thể nhận thấy ngay rằng: rồi đây VN là một Tây Tạng thứ 2 của Trung Quốc thứ 2 của Trung Quốc là điều chắc chắn sẽ xảy ra bởi vì, không phải ngẫu nhiên mà những sự việc khó tin nhưng có thật này lại xảy ra.


- Trang web thương mại hợp tác VN và TQ, nhưng tên miền…vn lại để cho phía TQ sử dụng hàng mấy năm liền để họ tự do đăng những bài nói xấu VN, đến khi các nhà trí thức biết được và phãn đối thì mới chịu ngưng.


- Trang web điện tử của ĐCSVN do ông Đào Duy Quát làm Tổng Biên Tập, lại đăng nguyên văn bài của các trang web TQ về cuộc tập trận của hải quân TQ trên vùng biển Đông thuộc hải phận VN mà họ từng tuyên bố là của họ gồm cả HS-TS của VN mà không có lời bình luận nào cả. Đến khi gặp sự phản đối quyết liệt của các nhà trí thức cư dân mạng thì mới chịu gỡ xuống. Hành động nối giáo cho giặc này của ông Quát chỉ bị phạt hành chính là 30 triệu đồng VN. Trong khi đó, người con gái Phạm Thanh Nghiên ngồi tọa kháng tại nhà với biểu ngữ “HS-TS là của VN” thì bị bắt giam, ra tòa lãnh bản án 4 năm tù và 3 năm quản chế. Còn nhà báo tự do điếu cày Nguyễn Văn Hải thì bị chính quyền vu khống là trốn thuế với 3 năm tù, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy thì bị công an dàn cảnh đánh trọng thương để có cớ bắt chị với tội danh đánh người, cuối cùng chị phải nhận lãnh bản án 42 tháng tù và 3 năm quản chế.


- Những pano kỹ niệm 65 năm thành lập QĐNDVN được trưng bày trên các ngã đường của thành phố HCM, dưới lá cờ VN lại là hình ảnh của đoàn quân TQ. Khi phóng viên đài RFA phỏng vấn ông Nguyễn Thành Rum (GĐ sở VH-TT) thì ông này trả lời: đó là hình ảnh của đoàn quân TQ được nhân viên của ông lấy từ các trang web của TQ và đã được chỉnh sửa lại, đến khi phóng viên hỏi tại sao ngày lễ kỷ niệm QĐNDVN mà lại không in hình của đoàn quân VN thì ông Rum không trả lời mà cúp điện thoại.


- Song song với những lời tuyên bố đầy khiêu khích và xem thường VN của phát ngôn viên TQ Jiang Ju ngày 5/1/2010: “những tuyên bố của VN chẳng hề trở ngại lớn lao gì đến kế hoạch phát triển của TQ trong khu vực, cũng chẳng gây thiệt hại đáng kể gì đến quan hệ song phương của 2 nước”, cùng lời đe dọa của đại sứ TQ tại VN Tôn quốc Cường ngày 6/1/2010: “hợp tác sẽ phát triển, đấu tranh sẽ thất bại,… VN nên tạm gác lại tranh chấp với TQ, chờ thời gian chính mùi rồi sẽ giải quyết”. Nhật báo giải phóng quân TQ đăng bài viết về biên giới như sau: “Nơi nào mà lợi ích của quốc gia chúng ta mở đến, thì đó là nhiệm vụ của lực lượng vũ trang của chúng ta”.


Với những lời nói của kẻ bề trên như thế, nhưng các nhà lãnh đạo CSVN vẫn im lặng không dám phản đối, ngược lại lúc nào cũng tuyệt đối trung thành với châm ngôn: “16 chữ vàng và 4 tốt” do TQ đề ra. Đã vậy mà TQ cũng chưa vừa ý, còn đưa Dương Khiết Trì (UVBCT) thay mặt ĐCSTQ qua Hà Nội họp với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng để đưa thêm 4 mối tương quan nữa cho 2 nước Việt-Trung thực hiện đó là:


- Sơn thủy tương liên dịch - Sông núi liền nhau
- Văn hóa tương thông ---- - Văn hóa hiểu nhau
- Lý tưởng tương đồng ---- - Lý tưởng giống nhau
- Mệnh vận tương quan ---- - Vận mệnh gắn bó


- Trong khi TQ lúc nào cũng tìm cách chiếm đoạt nước ta, ngang nhiên bắt bớ, tịch thu tài sản và đánh đập ngư dân của ta để đòi tiền chuộc khiến cho ông Nguyễn Việt Thắng (chủ tịch hiệp hội hải sản VN) bức xúc tuyên bố: “TQ thường xuyên bắt tàu đánh cá của VN, ngay cả khi tàu đánh cá VN không hoạt động trong các vùng biển mà họ cấm, nhưng TQ vẫn bắt và đòi tiền chuộc”. TQ đã ngang nhiên tuyên bố những lời nói trịch thượng và đe dọa VN như thế, nhưng các nhà lãnh đạo VN lúc nào cũng trung thành và ca ngợi TQ bằng chứng là, ngày 17/1/2010 trên trang web điện tử của chính phủ CSVN có điện văn chúc mừng kỷ niệm 60 năm quan hệ VN-TQ có đoạn: “Nhân dân VN luôn luôn ghi nhớ với lòng biết ơn sâu sắc, sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của đảng, chính phủ và nhân dân TQ anh em đã dành cho nhân dân VN trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước trước đây và sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay. Quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện VN-TQ trên cơ sở phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt đã tạo động lực mới quan trọng đưa quan hệ 2 nước phát triển lên tầm cao mới”.


Vì lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ của TQ mà ngày nay đất nước phải mất đi những phần đất cùng các hải đảo và vùng biển thiêng liêng nhất mà tiền nhân xưa đã phải hy sinh xương máu để gìn giữ. Cũng vì lòng biết ơn sâu sắc mà đại dự án bô xít Tây nguyên (một dự án cực kỳ nguy hiểm cho tương lai đất nước) giao cho TQ khai thác, cùng với 264 ngàn hecta rừng nguyên liệu đầu nguồn cũng dành cho TQ thuê thời gian 50 năm. Trong tương lai không biết với phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt cùng 4 mối tương quan mà TQ vừa thêm vào, đất nước VN sẽ ra sao trong mục tiêu đưa quan hệ 2 nước phát triển lên tầm cao mới của chính quyền CSVN.


Thiết nghĩ nếu CNCS Marx-Lenin mà tuyệt vời và thực hiện được như những lời giảng dạy của các gíao viên trong hệ thống giáo dục VN, như những lời tuyền truyền của cán bộ chính quyền trong nhân dân, thì các nước CS đông âu và ngay cả Liên Xô nơi sinh ra ông Lê-Nin không bao giờ từ bỏ nó, cũng như tất cả các nước văn minh và tiên tiến trên thế giới đâu có nước nào theo CNCS. Một thực tế đã cho mọi người thấy rằng, 4 nước CS còn sót lại trên thế giới đều phải nhờ vào sự giúp đỡ và đầu tư của các nước dân chủ đa nguyên, ngay cả con cái của các nhà lãnh đạo CS vẫn gởi con du học tại các nước tư bản này mà VN là điển hình. Như vậy, có phải CNCS đã thực sự lỗi thời trong nền văn minh của nhân loại?


Các tướng lãnh, các đảng viên cao cấp, các nhà ngoại giao của đảng, các nhà trí thức VN, đang mạnh dạn phê phán những chính sách sai lầm của các nhà lãnh đạo CSVN, họ không bao giờ bị sự xúi giục của các thế lực nước ngoài, càng không phải là thành phần phản động như sự suy nghĩ của đảng. Vì sự tồn vong của đất nước, vì lợi ích lâu dài của toàn dân, vì nhận thấy con đường CNCS là không tưởng cho nên, họ mới chấp nhận hiểm nguy để dấng thân vào con đường chính nghĩa của dân tộc.


Chúng tôi xin kết thúc bài viết này bằng lời phát biểu của 2 nhà lãnh đạo ĐCSVN đã từng cống hiến hết mình cho đảng:


1/ - Cựu thủ tướng Võ văn Kiệt: “….. Tổ quốc là của mình, đất nước là của mình, quốc gia là của mình, VN là của mình chớ không phải là của riêng của người CS hay bất cứ tôn giáo hay phe phái nào….., một quốc hội có người tự ứng cử và được dân bầu lên một cách thực sự tự do, công bằng thì sẽ tốt hơn quốc hội bây giờ…”.


2/ - ông Lữ Phương (cựu thứ trưởng bộ văn hóa chính phủ Cách mạng Lâm thời CHMNVN): “…. Ngày xưa nếu ĐCSVN đã cứu nước khỏi ách thực dân, thì bây giờ chính CNTB sẽ cứu nước ra khỏi nghèo nàn lạc hậu”.


Quyền lợi của Tổ quốc, của quốc gia dân tộc là trên hết, còn quyền lợi của các cá nhân và của ĐCSVN và các đảng phài khác chỉ là một trong các thành phần của xã hội mà thôi. Đã đến lúc các nhà lãnh đạo CSVN phải thay đổi tư duy để còn tiếp tục tồn tại trong lòng dân tộc. Dĩ nhiên, là con người thì không ai muốn đất nước mình phải rơi vào tay nước khác, dân tộc mình phải sống cuộc đời nô lệ, và nếu những gì mà chúng tôi nêu ra là đúng sự thật thì các cá nhân và các lực lượng quân đội, công an phải biết rằng: con đường phục vụ của mình là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đất nước và quyền lợi của nhân dân. Nếu tiếp tục trung thành với đường lối của các nhà lãnh đạo CSVN như hiện nay, tức là phản bội Tổ quốc và nhân dân.


Sài Gòn ngày 8/3/2010


Hương Trà cùng nhóm bạn trẻ (Email: huongtra13@gmail.com)


TB: Hôm nay, nhân ngày Quốc tế Phụ nữ 8/03, nhóm sinh viên Luật chúng tôi xin gởi đến chị Lê Thị Công Nhân, bậc đàn chị của chúng tôi, những đoá hoa hồng tươi thắm nhất và xin kính chúc chị luôn luôn gặp nhiều may mắn trong suốt thời gian 3 năm quản chế còn lại. Chị rất xứng đáng là tấm gương tiêu biểu nhất của giòng nữ lưu VN thế kỷ 21. Chắc chắn rằng sự dấn thân và lòng dũng cảm của chị sẽ mãi mãi trường tồn trong lòng dân tộc.


Nỗi nhục cho quốc thể

Nỗi nhục cho quốc thể

Quốc Tấn


Giải quyết chưa xong những vấn nạn cho dân tộc và đất nước do hành động lấn áp trắng trợn của nhà cầm quyền Trung Cộng trên biển Đông Hải, và do việc cho Trung Cộng đưa người vào khai thác bô-xít, nay lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam lại tiếp tục dấn bước trong sự nghiệp bán nước, ngụy trang bằng việc cho thuê đất rừng đầu nguồn suốt NỬA THẾ KỶ trước mặt. Đối với một nhà cầm quyền thiển cận, ngoan cố đến mức trơ trẽn hiện tại ở Việt Nam, dù đã có nhiều lời cảnh tỉnh, ta thán trên nhiều diễn đàn trong thời gian vừa qua, thiết tưởng có phải lập lại những hệ quả tai hại của vụ việc này cũng vẫn không là việc làm vô ích; nhất là khi những diễn đàn trong nước đang bầm dập vì sự bắt bớ trù dập và làn sóng phá hoại bằng tin tặc của nhà cầm quyền này. Tuy nhiên trong phạm vi bài này ta hãy cùng nhìn lại hành động cho thuê rừng đầu nguồn trên khía cạnh ảnh hưởng của nó thế nào đến thể diện của quốc gia và dân tộc Việt Nam, và sự khác biệt trong phản ứng của nhà cầm quyền CSVN và của những quốc gia khác ra sao đối với cái nhục quốc thể.


Việc một nhà nước cho một nước khác thuê đất không phải là một điều gì mới, nhưng thường chỉ là một hình thức lịch sự bề ngoài, cho đỡ xấu mặt nước bị mất đất, hơn là một cuộc lấn đất dành dân trắng trợn như đã từng xảy ra trong thời thực dân đô hộ của những thế kỷ trước. Thực chất của việc cho thuê đất đai trong nhiều trường hợp vẫn chỉ là mạnh thắng yếu, vẫn có kẻ được người thua. Vì lẽ đơn giản khi một nước có chủ quyền và có đủ sức để quản lý bờ cõi của mình, không có lý do nào lại giao một phần đất nước cho ngoại bang toàn quyền sử dụng trong một thời gian, dù ngắn dù dài. Khi sự bàn giao quyền sử dụng này xảy ra, lý lẽ dễ hiểu nhất là nhà nước cho thuê không đủ sức đảm đang một mình mảnh đất cho thuê, hoặc không chịu nổi áp lực bằng cách này cách khác của ngoại bang.


Điển hình là quần đảo Ryuku, thuộc tỉnh bang Okinawa của Nhật. Trong những năm sau cuộc đầu hàng của Nhật ở giai đoạn cuối Đệ Nhị Thế Chiến, Okinawa đã bị đặt dưới sự kiểm soát hành chính của Mỹ trong suốt 27 năm, và chỉ được trao trả trên bề mặt cho Nhật năm 1972. Tuy rằng trong thực tế vẫn còn hơn 25.000 quân nhân Mỹ sinh sống trong những căn cứ rải rác khắp cả quần đảo đó dưới danh nghĩa Hiệp ước Hỗ Tương về Hợp Tác và An Ninh giữa hai nước, nghĩa là một hình thức cho thuê.


Tương tự như Okinawa là trường hợp của Vịnh Subic trên đảo Luzon của Phi Luật Tân tuy thời gian và diễn biến có khác. Do nằm ở một vị trí hiểm yếu về mặt quân sự trong cả khu vực phía Đông Nam Á, vịnh Subic đã từng bị chiếm đóng bởi hải quân Tây ban nha từ những năm cuối thế kỷ 19, để rồi mất vào tay hải quân Mỹ vào năm 1899, không lâu sau khi người Anh giành lấy chủ quyền ở Hương cảng từ tay Trung quốc. Ngoài một vài sự chống chỏi không đáng kể của người Tây ban nha, người Đức, và của ngay cả dân Phi bản xứ, chủ quyền trong Vịnh hoàn toàn thuộc về Mỹ suốt gần trăm năm. Cũng như Okinawa, Vịnh Subic đã có thời được cho thuê, hợp thức hóa bằng việc thay đổi vào năm 1979 các Thỏa thuận Căn cứ Quân sự đã có từ 1947, và chỉ thật sự trở lại dưới chủ quyền của Phi năm 1992, khi hải quân Mỹ dỡ bỏ tất cả các căn cứ trong Vịnh.


Những sự kiện lịch sử kể trên cho thấy dù dưới hình thức nào, và dù có thể có một vài lợi nhuận trước mắt cho một số người, thực chất của việc cho thuê đất đai hay tài nguyên quốc gia vẫn là một sự nhượng bộ, một thua thiệt có thể kéo dài đến hàng trăm năm cho nước mất chủ quyền. Không cần phải có kiến thức sâu rộng, hay phải ở địa vị lãnh đạo xã hội, người dân bình thường nhất của nước mất chủ quyền vẫn cảm nhận được sự thua thiệt đó là một cái nhục, đó là cái nhục quốc thể. Từ Hương Cảng, Okinawa, tới Vịnh Subic, các dân tộc liên hệ đã bằng nhiều cách nói lên nhận thức đó, và đã liên tục tranh đấu để dành lại chủ quyền trên mọi miền của đất nước mình.


Hơn ai hết, người Trung quốc và lãnh đạo Bắc Kinh hiện nay biết việc phải nhượng một phần lãnh thổ cho nước khác “thuê” dài hạn là một sự sỉ nhục quốc gia. Họ đưa vào sách vở giáo khoa, không ngừng nhắc lại trên mọi kênh tuyên truyền về trọng tội của nhà Thanh đã để cho Anh Quốc “thuê” phần đất Hồng Kông (Hương Cảng) 99 năm, và cho Bồ Đào Nha (Portugal) “thuê” phần đất Ma Cao 1 thế kỷ. Do đó, dù các lãnh đạo Hà Nội có ý thức được hay không, thì việc “thuê” đất Việt Nam một nửa thế kỷ là hành động sỉ nhục có chủ ý của Bắc Kinh, vừa để khích động lòng ái quốc cực đoan của dân Tàu vừa để buộc chính lãnh đạo Hà Nội phải đạp dẹp hẳn lòng yêu nước và tự trọng của dân tộc Việt Nam. Mức độ hiểm độc này thật khó có ai bì kịp!


Trong những thua thiệt gần đây của Việt Nam đối với Trung Cộng, trên cái nhục quốc thể chung cho cả dân tộc, và cái nhục hèn nhược riêng của tập đoàn lãnh đạo Hà nội, Việt Nam còn chịu những rủi ro đe dọa môi sinh, không những cho những vùng phía Bắc mà còn cho cả đồng bằng hạ lưu phía Nam; cũng như sự nguy hại tiềm tàng trong lãnh vực an ninh quốc gia về lâu dài. Ngoài những yếu tố địa dư và quốc phòng, thì trên lãnh vực văn hóa, sự nguy hại này còn có liên hệ tới bản sắc thứ hai của người Hoa là khái niệm quan hệ, đồng nghĩa với chữ “guanxi” trong tiếng Quan Thoại của họ. Trong hai thập niên gần đây, song song với phát triển vượt bực trong lãnh vực kinh tế, Trung Cộng đã ráo riết gia tăng các quan hệ đa phương để bằng cách này cách khác, chủ yếu là qua đầu tư, các công ty quốc doanh Trung quốc đã lần lượt xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới, kể cả Phi châu và Trung Đông là những vùng đến mãi gần đây vẫn ngoài tầm với của họ. Do yếu tố điạ dư và hậu cần, những quan hệ nới rộng này có nhiều cơ may sẽ giới hạn phần lớn trong lãnh vực thương mại, hoặc có đi xa hơn nữa cũng chỉ tăng thêm ảnh hưởng chính trị của Trung Cộng trên địa bàn quốc tế. Nhưng đối với khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là đối với Việt Nam gần như đang hoàn toàn trong vòng kiểm soát, chắc chắn cái nhìn của Trung Cộng trong mọi quan hệ song phương chỉ là cái nhìn mạnh được yếu thua, cái nhìn của chủ và tớ, hoặc cái nhìn “mẫu quốc” đối với “thuộc quốc” từ mấy ngàn năm lịch sử. Do vậy một khi đã lọt vào tay họ, mỗi mảnh đất cho thuê dù để khai thác bô-xít như ở Tây Nguyên, hay dưới danh nghĩa để khai thác lâm sản hay vì một lý do nào khác, khả năng họ sẽ hoàn trả lại trong trăm năm tới chỉ gần bằng một con số không.


Việt Nam sẽ phản ứng ra sao trước cái nhục thua thiệt rành rành trước mắt đang có cơ nguy cho cả dân tộc phải gánh chịu đến hàng trăm năm, như đã xảy ra trong trường hợp của những Vịnh Subic, những Okinawa và Hương Cảng trong lịch sử? Hiện tại chỉ thấy người dân Việt không tiền, không quyền đứng lên phản đối; còn nhà nước CSVN thì ngoài việc trấn áp nhữg tiếng nói yêu nước bằng bạo lực, họ đang bận lo xiển dương quan hệ “tốt đẹp” với quan thầy đầy tham vọng phương Bắc. Ngày nào lãnh đạo Hà nội chưa cảm nhận được đâu là cái nhục quốc thể, ngày đó vẫn còn cơ nguy họ sẽ còn nhượng bộ thêm, sẽ còn bán rẻ thêm cho Trung Cộng nhiều mảnh da thịt của đất nước Việt Nam.


MẬU THÂN 1968

MẬU THÂN 1968
Thảm sát Mậu Thân (I)
Tác giả bài viết: LỮ GIANG
_________________________________________________________________________________________
Về quyết định thảm sát
Khi bài này đến với độc giả, nhiều tổ chức trong cộng đồng người Việt hải ngoại đang tổ chức kỷ niệm 40 Tết Mậu Thân để tướng nhớ đến những người đã bị thảm sát trong biến cố đó. Nhưng một câu hỏi được đặt ra và chưa có câu trả lời: Tại sao Cộng quân đã hành động dã man như vậy?
Sau trận Mậu Thân ở Huế, một ủy viên huyện ủy của quận Phú Vang ở Thừa Thiên là Hồ Ty, bí danh Sơn Lâm, đã bị bắt. Trong cuộc thẩm vấn, Hồ Ty đã khai rằng việc thủ tiêu tất cả những người bị bắt là thi hành lệnh Quân Ủy Trị-Thiên-Huế. Sở dĩ có lệnh này là vì khi rút lui, bị quân đội VNCH và Mỹ truy đuổi quá gắt, lo cho đơn vị không nổi làm sao làm lo được cho tù binh được. Số người bị bắt theo quá nhiều làm vướng bận không thể rút lui nhanh được, nên đã có lệnh giết tất cả tù binh.
Tạp chí Time của Mỹ số ra ngày 31/10/1969, trong bài “The massacre of Hue” (Cuộc thảm sát ở Huế) đã đặt câu hỏi: “Điều gì đã khiến Cộng Sản tàn sát?” Rồi tạp chí này trả lời:
Nhiều người dân Huế tin rằng lệnh hành quyết được đưa thẳng từ Hồ Chí Minh xuống. Tuy nhiên, có lẽ chắc chắn hơn, đơn giản là Cộng Sản đã mất tinh thần. Họ đã bị nhồi sọ để tin tưởng rằng nhiều người dân miền Nam sẽ xuống đường tranh đấu cùng với họ trong cuộc tổng tấn công vào dịp Tết. Nhưng điều đó đã không xảy ra, và khi trận chiến ở Huế bắt đầu nghiêng về phía quân đồng minh, Cộng Sản đã hoảng sợ và giết sạch các tù nhân.
Mới đây, trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 24.1.2008, ông Bùi Tín cũng đã đưa ra luận điệu tương tự:
Khi quân Mỹ đổ bộ lại từ Phủ Bài trở ra để lấy lại Huế thì anh em họ trói, di chuyển đi hàng mấy trăm tới hàng nghìn người. Do vướng chân, mệt, rồi bị pháo bắn ở ngoài biển vào dữ dội cho nên do phần lớn do tự động các chỉ huy trung đội tới trung đoàn đồng lõa với nhau để thủ tiêu không cho cấp trên biết.’’
Có một điều người ta quên là cuộc thàm sát đã xẩy ra trong khoảng 10 ngày đầu khi Cộng quân mới chiếm Huế khi Quân Lực VNCH và đồng minh chưa phản công, và nhiều mộ tập thể đã được tìm thấy ngay trong thành phố Huế.
Kế hoạch của Hà Nội
Đọc cuốn “Chiền trường Trị-Thiên-Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước toàn thắng” của Khu Ủy và Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị-Thiên-Huế do nhà xuất bản Thuận Hóa Huế ấn hành năm 1985, chúng ta biết được quyết định của Hà Nội về việc chiếm Huế làm căn cứ lâu dài của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
1.Thành lập Khu Ủy và Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị-Thiên-Huế
Năm 1965 và năm 1966, khi phong trào Phật Giáo đấu tranh nổi lên ở Huế chủ trương đi theo đường lối của MTGPMN, đòi hòa bình, rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam, đốt phòng thông tin và thư viện Mỹ ở Huế, v.v., Hà Nội nhận thấy rằng có thể chiếm Huế làm căn cứ địa lâu dài của MTGPMN vì hai lý do: Lý do thứ nhất là Huế có nhưng thành quách rất vững chắc, nếu chiếm giữ được, Quân Lực VNCH và đồng minh khó lấy lại được, trừ khi phá hủy thành phố. Lý do thứ hai là phong trào Phật ở Huế cho thấy các nhà lãnh đạo Phật Giáo ở đây ủng hội MTGPMN. Vì thế, Hà Nội đã lập một kế hoạch chiếm và giữ Huế rất kỹ càng.
Trước 1966, Trị Thiên là Phân Khu Bắc trực thuộc Quân Khu 5. Tháng 4 năm 1966, Thường Trực Quân Ủy Trung Ương ra quyết định thành lập Khu Ủy và Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị-Thiên-Huế tách khỏi Khu 5, và đặt trực thuộc Trung Ương và Quân Ủy Trung Ương. Thiếu tướng Trần Văn Quang được cử làm Tư Lệnh Quân Khu Trị-Thiên-Huế và Đại Tá Lê Minh làm Phụ tá kiêm Trưởng Ban An Ninh Quân Khu. Lê Chưởng, Phó Bí Thư Khu Ủy Trị Thiên Huế, được cử làm làm Chính Ủy.
Mới thành lập, Khu Ủy Trị Thiên Huế đã đứng ra lãnh đạo cuộc đấu tranh của Phật Giáo tại Huế, nhưng thất bại. Tài liệu ghi lại như sau:
Trong tháng 5,1966 cả thành phố Huế hầu như hổn loạn, ngụy quân, ngụy quyền bị tê liệt. Nhưng do tương quan lực lượng không cân xứng và sự lãnh đạo trực tiếp của ta chưa đủ mạnh, địch đưa quân đến đàn áp khốc liệt và dìm trong bể máu. Các đơn vị ly khai đầu hàng, lực lượng Phật Giáo tan rã, cơ sở của ta trong trào một bị bắt, một số rút vào bí mật. Phong trào kéo dài được 96 ngày.
(tr. 111).
Báo cáo của Khu Ủy Trị Thiên Huế cho biết lúc đó tại Thừa Thiên có 398 chùa, 9 hòa thượng, 15 thượng tọa, 220 tăng ni sư sãi và 80.000 Phật tử. Báo cáo nói rằng “chính tinh thần dân tộc và ý thức giác ngộ chính trị của nhân dân đã đánh bại quân địch ngay trên lãnh vực tôn giáo mà chúng ta đã ra sức lợi dụng.”
2. Lệnh chiếm Huế
Tài liệu cho biết:
“Ý đồ đánh vào thành phố Huế đã có từ lâu. Tháng 2, 1967 Đồng Chí Đặng Kính và Thanh Quảng ra báo cáo, Bộ đã chỉ thị cho Trị – Thiên nghiên cứu đánh vào Huế và thị xã Quảng Trị. Tháng 5, 1967, Thường Vụ Quân Ủy Trung Ương họp nhận định: “Tình hình phát triển của phong trào đã tạo ra khả năng đánh lớn vào thành phố Huế.”
(tr. 136).
Chỉ thị còn nói rõ hơn:
“Phấn đấu trong 7 ngày đêm hoàn thành mọi mục tiêu cơ bản, tập trung chủ yếu vào 2 ngày 3 đêm đầu. Dự kiến tình huống khó khăn, thì có thể phải một tháng hoặc nếu kéo dài 2, 3 tháng cũng phải chiếm lĩnh bằng được thành phố Huế và giữ đến cùng (dự kiến này chỉ phổ biến bằng miệnh cho cán bộ cao cấp)...”
“Nhanh chóng xây dựng lực lượng vũ trang, lực lượng chính trị, xây dựng chính quyền để phát triển thắng lợi...”
(tr. 110).
Những chỉ thị này cho thấy Hà Nội quyết định chiếm Huế và giữ Huế lâu dài rồi thiết lập một chính quyền tại đây. Ngoài Huế, không thành phố nào trên miền Nam được chỉ thị phải hành động như vậy.
3. Chuẩn bị tấn công Huế

 Những mũi tấn công Huế (31/01/1968) Nguồn: images4.fotki.com

Việc tấn công Huế không phải dễ dàng vì mặt trận quá rộng lớn. Vì thế, để tấn công Huế, Quân Khu Trị Thiên Huế được lệnh phải chuẩn bị về lực lượng, tổ chức, tư tưởng, lương thực, phương tiện, nhất là phải chuẩn bị chiến trường.
Về quân số, Quân Khu Trị Thiên Huế chỉ có 2 trung đoàn chủ lực là E6 và E9, 4 tiểu đoàn bộ binh của hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, 4 tiểu đoàn đặc công và các lực lượng pháo binh, công binh. Lực lượng này quá nhỏ bé, không đủ để mở cuộc tấn công Huế. Do đó, vào cuối năm 1967, Trung Ương đã tăng cường cho Huế Trung Đoàn 9.
Gần đến ngày nổ súng, Trung Ương đã tăng cường thêm: Trung Đoàn 2 của Sư Đoàn 324, Trung Đoàn 8 của Sư Đoàn 325. Sau đó tăng cường thêm Trung Đoàn 3/325 rồi Trung Đoàn 1/325. Sau khi chiếm được Huế, Bộ cho tăng cường thêm Trung Đoàn 141 để giữ Huế, nhưng quá muộn. Như vậy Trung Ương đã tăng cường cho Huế đến 5 Trung Đoàn. Với sự tăng cường này, Quân Khu Trị Thiên Huế đã có khoảng 7.500 quân.
Về lương thực, Quân Khu đã thu gom được 2000 tấn ở đồng bằng và 1000 tấn ở miền núi.
Về chính trị, an ninh và tuyên truyền, Quân Khu đã đưa khoảng 700 cán bộ từ thành phố Huế và đồng bằng lên chiến khu huấn luyện, phân công và ra lệnh phải hành động như thế nào sau khi đã chiếm được thành phố (tr. 141).
Chiếm Huế và lập chính quyền
Năm 1968, mồng một Tết Mậu Thân nằm vào ngày 30/01/1968 dương lịch. Lệnh tấn công được đưa ra vào luc 2 giờ 35 sáng 31/01/1968, tức sáng mồng 2 Tết. Cuộc tấn công được chia làm hai cánh. Cánh chính là cánh Bắc: Cộng quân tấn công vào Đồn Mang Cá, nơi có Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1, sân bay Tây Lộc, khu cột cờ Đại Nội, khu Gia Hội, khu Chợ Đông Ba, v.v... Cánh thứ hai là cánh Nam: Cộng quân tấn công vào Tiểu khu Thừa Thiên, cơ sở cảnh sát, đài phát thanh Huế, cầu Kho Rèn, Tòa Đại Biểu Chính Phủ, Dinh Tỉnh Trưởng, nhà lao Thừa Phủ, nhà Ga, v.v...
Cộng quân chia Huế thành ba mặt trận: Mặt trận Thành Nội do Đại Tá Lê Trọng Đấu chỉ huy; mặt trận Quận Nhì (tả ngạn sông Hương) do Chính Ủy Hoàng Lanh và mặt trận Quận Ba (hữu ngạn) do Nguyễn Mậu Hiên bí danh Bảy Lanh.
Tuy nhiên, Quân Lực VNCH vẫn giữ được Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1, cơ sở MACV, Tiểu khu Thừa Thiên, đài phát thanh Huế, Trường Kiểu Mẫu và cầu tàu Hải Quân.
Phải đến ngày 08/02/1968, tức hơn 7 ngày sau, Quân Lực VNCH và đồng minh mới huy động được lực lượng và chính thức phản công lại. Cuộc chiến rất ác liệt. Quân Lực VNCH và đồng minh đã xử dụng hỏa lực tối đa và tiến vào từng khu phố để đánh bật Cộng quân ra. Ngày 15/02/1968 Hà Nội ra lệnh cho Cộng quân phải tử thủ ở Huế đồng thời tăng cường thêm cho mặt trận Huế Trung Đoàn 141 để bảo vệ những cứ điểm đã chiếm được. Nhưng hỏa lực của Quân Lực VNCH và đồng minh quá mạnh nên Cộng quân được lệnh rút.
Sáng 25/02/1968 toàn thể khu Gia Hội được giải tỏa. Đại Đội Hắc Báo của Sư Đoàn 1/BB chiếm được Kỳ Đài, hạ cờ Cộng sản xuống và kéo cờ VNCH lên. Sau 25 ngày đêm giao tranh ác liệt, cuộc chiến ở Huế đã chấm dứt.
Vì các trận đánh ở Huế đã được mô tả đấy đủ trong cuốn “Cuộc tổng công kích – tổng khởi nghĩa của Việt Cộng Mậu Thân 1968” của Quân Lực VNCH nên chúng tôi thấy không cần ghi lại ở đây. Chúng tôi chỉ tìm hiểu Việt Cộng đã làm gì sau khi chiếm được Huế và tại sao các cuộc thảm sát đã xẩy ra trong khắp thành phố rồi lan rộng ra các vùng phụ cận.
Hoạt động sau khi chiếm Huế
Do sự chỉ đạo là huấn luyện từ trước, khi vào Huế, bộ đội lo chiếm các cơ sở quân sự và hành chánh quan trọng ở Huế, còn nhóm cán bộ chính trị, hành chánh và an ninh đã cùng với các thành phần nằm vùng tại địa phương thực hiện các công tác sau đây:
Về chinh trị: Ngày mồng 3 Tết (tức 1.2.1968) Hà Nội tuyên bối thành lập “Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hoà Bình tại Huế” do Tiền Sĩ Lê văn Hảo làm Chủ Tịch. Liên Minh này là một bộ phận của Liên Minh do Trịnh đình Thảo làm Chủ Tịch.
Lê văn Hảo gốc người Huế, sang Pháp học từ năm 1953, trở về Huế năm 1966 và dạy nhân chủng học đại học tại Huế và Sài gòn. Năm 1966, Hảo tham gia phong trào ly khai ở Huế và bị bắt sau đó được Đại Học Huế nhận ra. Giữa năm 1967, Hảo được Hoàng Phủ Ngọc Tường và Tôn Thất Dương Tiềm, một cán bộ cộng sản nằm vùng, móc nối vào Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
Ngoài Lê Văn Hảo, Liên Minh còn có Phó Chủ Tịch là bà Tuần Chi (tên thật là Đào thị xuân Yến, chị vợ Nguyễn Cao Thăng) hiệu trưởng trường nữ trung học Đồng Khánh và Hoà Thượng Thích Đôn Hậu, đương kim Chánh Đại Diện Phật Giáo miền Vạn Hạnh. Các thành phần nồng cốt của Linh Minh còn có: Nguyễn Đóa (cựu giám thị trường Quốc Học), Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Phan Duy Nhân, Phạm Thị Xuân Quế, Tôn Thất Dương Tiềm, Tôn Thất Dương Kỵ, Tôn Thất Dương Hanh...
Về hành chánh: Khu Ủy Trị Thiên quyết định thành lập Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thành Phố Huế và giao cho Tiến sĩ Lê Văn Hảo làm Chủ Tịch Ủy Ban, còn bà Tuần Chi (tức Đào Thị Xuân Yến) và Hoàng Phương Thảo, thường vụ Thành Ủy, làm Phó Chủ Tịch. Tuy nhiên, mọi quyết định đều năm trong tay Hoàng Phương Thảo.
Khu Ủy giao cho Hoàng Kim Loan (một cán bộ nằm vùng trong nhà Nguyễn Đóa), Hoàng Lanh (Thường Vụ Thành Ủy Huế) và Phan Nam (tức Lương) thành lập các Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng tại mỗi quận trong thành phố.
Hoàng Kim Loan phụ trách Thành Nội (Quận 1) đã đưa Nguyễn Hữu Vấn, Giáo Sư Trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế lên làm Chủ Tịch. Phan Nam phụ trách Quận Tả Ngạn (Quận 2) đã giao chức chủ tịch cho Nguyễn Thiết (tức Hoàng Dung). Tại Quận Hữu Ngạn (Quận 3), Hoàng Lanh, vì phải dồn mọi nổ lực vào việc bắt các thành phần bị coi là Việt gian, ác ôn và phản động và đưa đi thủ tiêu, nên chưa kịp thành lập Ủy Ban Nhân Dân
Về an ninh: Đi theo quân đội chủ lực là các đại đội đặc công, võ trang tuyên truyền và các toán an ninh. Hoạt động về an ninh được đặt dười quyền chỉ huy của Đại Tá Lê Minh, Phụ tá Bộ Tư Lệnh Quân Khu kiêm Trưởng Ban An Ninh Quân Khu. Trụ sở chính của Ban An Ninh được đật tại Chùa Từ Đàm.
Chỉ huy các toán an ninh là Tống Hoàng Nguyên và Nguyễn Đình Bảy (tực là Bảy Khiêm) thuộc Khu Ủy Trị Thiên.
Ban An Ninh chia thành phố Huế thành 4 khu để phân chia trách nhiệm hành động:
Khu 1 là Quận 1, tức Thành Nội.
Khu 2 là Quận 2 thuộc vùng tả ngạn sông Hương, nhưng lấy cầu Gia Hội làm ranh giới rồi kéo dài về hướng Tây, qua khỏi cầu Bạch Thổ, xuống tận An Vân, tức bao gồm một phần của Quận Hương Trà.
Khu 3 là Quận 3, tức khu vực hữu ngạn sông Hương, nhưng bao gồm luôn cả giáo xứ Phủ Cam thuộc Quận Hương Thủy ở phía Nam sông An Cựu.
Khu 4 là phần lãnh thổ từ cầu Gia Hội đến Cổn Hến. Phần này vốn thuộc Quận 3.
Tống Hoàng Nguyên phụ trách Khu 1 và Khu 2, Nguyễn Đình Bảy phụ trách Khu 3 và Nguyễn Đắc Xuân đặc trách Khu 4.
Còn tiếp
---------------------------------------------------------------------------------------


_________________________________________________________________________________________
Thảm sát Mậu Thân (Kết)
Thực hiện việc thảm sát
Trước khi Cộng quân mở cuộc tấn công Huế, các thành phần ly khai bỏ đi theo Việt Cộng từ năm 1966 và các tên nằm vùng đã lập sẵn danh sách những người mà chúng cho rằng cần phải thanh toán. Vì thế, khi mới vào Huế, chúng đã mở cuộc lục xét khắp nơi để tìm những người này.
Ngoài những người có tên trong “sổ đen”, các toán an ninh đi lùng bắt các thành phần bị coi là Việt gian, ác ôn hay phản động như công chức, binh sĩ VNCH, cảnh sát, nhân viên sở Mỹ, các thành phần đảng phái, người công giáo, v.v...
1. Tại Thành Nội (Quận 1) và một phần khu Tả Ngạn (Quận 2)
Hoàng Nguyên giao việc thanh lọc và xét xử cho cho hai sinh viên là Nguyễn Đọc và Nguyễn Thị Đoan. Hầu hết những người bị lôi ra tòa chẳng biết lý do tại sao họ bị bắt. Nhưng tất cả đều bị kết án tử hình sau khi bị dọa, qui chụp và kết tội. Một số bị xử tử ngay tức khắc.
Phiên tòa tại Thành Nội và khu Tả Ngạn chỉ kéo dài trong 2 ngày là xong, sau đó một chiến dịch khủng bố đã được phát động: Một người mở trộm radio nghe đã bị đưa ra bắn giữa đường phố để làm gương. Một anh sinh viên không tới dự lớp học tập cũng bị đưa ra bắn. Nguyễn Đọc đã bắn nhiều người trong đó có một bạn thân đồng lớp với anh ta, chỉ vì anh này không chịu hợp tác với y.
2. Tại khu Gia Hội: Hoàng Nguyên giao Nguyễn Đắc Xuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường phụ trách
Hoàng Phủ Ngọc Tường tốt nghiệp đại học Huế, đi dạy học và là một trong các lãnh tụ sinh viên Phật Giáo đấu tranh chống chính quyền VNCH năm 1966, sau đó Tường đi theo MTGPMN.
Chùa Theravada ở đường Võ Tánh được dùng làm trụ sở để các công chức và quân nhân VNCH đến trình diện, Trường Trung Học Gia Hội của Dòng Mai Khôi (Phú Xuân) được dùng làm nơi giam giữ và xét xử các thành phần bị coi là Việt gian hay phản động. Theo Bác sĩ Elje Vannema, các phiên tòa ở đây đểu do Hoàng Phủ Ngọc Tường chủ tọa.


 Phản công tái chiếm Huế (Phía Nam cầu Tràng Tiền, Huế) Nguồn: images4.fotki.com
Người đi bắt và bắn chết các nạn nhân là tên Linh, người Quảng Ngãi, làm nghề thầy bói và khoác cái áo Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Cuộc tàn sát tại đây được thực hiện rất bừa bải và tàn bạo, chẳng hạn như hai anh Nguyễn Ngọc Lộ và Nguyễn Thiết bị hạ sát chỉ vì làm nghề nghề dạy võ thất sơn thần quyền, bị cho là một bộ phận của Đại Việt Quốc Dân Đảng. Hai anh đã bị chôn sống ngay trên con đường nhỏ rẽ vào Trường Trung Học Gia Hội sau khi bị đánh bằng cuốc vào đầu. Nghe nói vợ anh Lộ và ba cháu gồm hai gái một trai cũng bị giết tại nhà ở xã Phú Lưu.
Trong số những người bị giết tại Gia Hội, người ta thấy có các nhân vật sau đây: Ông Lê Văn Cư, Phó giám đốc cảnh sát quốc gia vùng một và ông Phú (em vợ anh Cư), Quận Trưởng Quận 2; ông Từ Tôn Kháng, thiếu tá Tỉnh Đoàn Trưởng Xây Dựng Nông Thôn Thừa Thiên; ông Hồ Đắc Cam và ông Kim Phát, Việt Nam Quốc Dân Đảng; ông Trần Văn Nớp, Trưởng Phòng Hành Chánh Ty Cảnh Sát Thừa Thiên. v.v.
Nguyễn Đắc Xuân là người tổ chức và lãnh đạo “Đoàn Phật Tử Quyết Tử” tại Huế năm 1966 để chống lại VNCH. Khi bị đánh bại, Xuân đãù trốn theo VC và trở lại cố đô vào Tết Mậu Thân, phụ trách đội “Công tác thanh niên” nhắm mục đích khuyến dụ các quân nhân VNCH và cảnh sát bị kẹt ở Huế ra trình diện.
Với quân nhân VNCH, Xuân thành lập “Đoàn Quân Nhân Sư Đoàn 1 ly khai” và bắt Đại Úy Nguyễn Văn Lợi, Tiểu Đoàn Phó Thiểu Đoàn 4, Trung Đoàn 2, mới từ Đồng Hà trở về ăn Tết làm Trưởng Đoàn. Sau đó, Xuân lập “Đoàn Nghĩa Binh Cảnh Sát”, bắt ép Quận Trưởng Hữu Ngạn là Nguyễn Văn Cán ra chỉ huy.
Tuy nhiên, chỉ một thời gian ngắn sau, Bộ Tư Lệnh Quân Khu ra lệnh giải tán hai tổ chức này. Đột nhiên, ngày 18.2.1968, toán an ninh ra lệnh cho các công chức và quân nhân phải ra trình diện lần hai tại Trường Gia Hội rồi giữ lại và đem đi thủ tiêu luôn.
3. Tại khu Hữu Ngạn (Quận 3)
Toán an ninh ở khu Tả Ngạn không lập tòa án để xét xử các nạn nhân như ở khu Thành Nội và khu Gia Hội. Tại đây, các nạn nhân bị bắt đều bị đưa về giam ở chùa Từ Đàm, bắt làm tờ khai và được thanh lộc rồi đưa đi thủ tiêu. Số nạn nhân ở khu vực này đông nhất vì gồm những người đến ẩn nấp trong khu Dòng Chúa Cứu Thế và nhà thờ chính tòa Phủ Cam.
Tại khu Dòng Chúa Cứu Thế: Khu Hữu Ngạn (tức Quận 3) do Nguyễn Mậu Hiên, bí danh Bảy Lanh đánh chiếm. Bảy Lanh là con nuôi của nhà thuốc bắc Thiên Tường tại chợ An Cựu. Hai con trai của nhà thuốc Thiên Tường là cán bộ Việt Cộng nằm vùng ở cơ quan Xây Dựng Nông Thôn, Vì thế, khi Bảy Lanh vừa làm chủ vùng An Cựu, ông Thiên Tướng và hai người con đã đi lùng bắt tất cả những công chức, quân nhân, cảnh sát, thành phần đảng phái... trong khu vực Dòng Chúa Cứu Thế.
Tiếp theo, chúng lùa khoảng 150 người đang ẩn trú trong Dòng Chúa Cứu Thế ra sân để thanh lọc. Chúng xét hỏi giấy tờ của từng người. Những ai có căn cước ghi là quân nhân hay công chức đều được đưa ra khỏi hàng ngay, trong đó có Thượng nghị sĩ Trần Điền. Có khoảng 500 người trong khu vực này bị bắt đưa về chùa Từ Đàm. Về sau, cả ba cha con ông Thiên Tướng đều bị bắt.
Tại nhà thờ Phủ Cam: Nhà thờ này lúc đó chỉ mới được xây xong phần cung thánh và hai cánh tả hữu, nhưng có tường rất dày và trần được đúc bằng bê-ton cốt sắt, nên có thể che chở phần nào bom đạn. Do đó, có trên 3.000 người đã đến ẩn nấp tại đây. Khoảng 1 giờ đêm 7.2.1968, du kích và các toán an ninh đã vào lục soát nhà thờ, sau đó chúng bắt những người từ 15 đến 50 tuổi đứng lên, không phân biệt thành phần. Có khoảng 500 người thuộc lớp tuổi này. Chúng tuyên bố: “Các anh được đưa đi học tập 3 ngày rồi trở về.” Sau đó chúng dẫn những người này đi về chùa Từ Đàm và bắt làm tờ khai. Thỉnh thoảng chúng đưa một người ra gốc cây bồ đề trước sân chùa và bắn chết rồi chôn ngay trong sân chùa. Về sau, người ta đếm được có 20 xác.
Hai hôm sau, vào lúc trời tối, các toán an ninh gọi mọi người ra sân, lấy dây điện thoại trói ké lại, rồi dùng dây kẻm gai xâu 20 người lại một xâu, và dẫn đi về phía Nam Giao.
Ở bệnh viện, trò tương tự cũng đã diễn ra. Dân quanh vùng, đặc biệt là vùng quanh căn cứ Mỹ, Cộng quân viện lý do chiến tranh sắp xẩy ra trong vùng nên ra lệnh cho dân chúng tập trung vào bệnh viện. Sau ba ngày, họ bảo đàn bà và trẻ con ngồi xuống, còn đàn ông đứng dậy. Sau đó, chúng đưa hai tên nằm vùng đến nhận diện. Hai tên này vừa mới được xổ tù khi Cộng quân chiếm thành phố. Một số người, trẻ có già có, được cấp thẻ và dẫn về nhà thờ chính tòa Phủ Cam và từ đó họ được đưa lên chùa Từ Đàm.
Tất cả những người bị giam ở chùa Từ Đàm đểu được lần lượt dẫn đi về phía Tây Nam và hạ sát tại những nơi khác nhau, kể cả ở Khe Đá Mài, cách Huế khoảng 26 cây số. Theo tạp chí Time ngày 31.10.1969, trong số các nạn nhân bị giết tại đây có 398 người là giáo dân Phủ Cam. Cách giết người của Cộng quân cũng đặc biệt. Cộng quân ra lệnh cho những người bị bắt phải đào hố, nói là để làm hầm trú ẩn tránh bom đạn, hoặc để làm mương dẫn nước cho dân chúng cày cấy. Sau khi đào xong, Cộng quân trói thúc ké tay chân nạn nhân và quăng xuống hố rồi lấp đất lại. Có người cho rằng Cộng quân phải chôn sống như vậy vì sợ bắn sẽ gây tiếng động và để lộ mục tiêu.
Con số nạn nhân
Trong cuốn “Công và Tội”, ông Nguyễn Trân cho biết: “Về phía dân chúng, có 5.800 người chết, trong đó có 2.800 người bị Việt Cộng giết và chôn tập thể: 790 hội viên các Hội đồng tỉnh, thị xã và xã bị gán tội “cường hào ác bá”, 1892 nhân viên hành chánh, 38 cảnh sát, hằng trăm thanh niên tuổi quân dịch, một linh mục Việt (Bửu Đồng), hai linh mục Pháp, một bác sĩ Đức và vợ, và một số người Phi Luật Tân.” Trong “Encyclopedia of the Viet Nam War”, David T. Zabecki ghi nhận rằng số thi hài nạn nhân tìm được trong các mồ chôn tập thể ở Huế là 2.810 người và hàng ngàn người bị mất tích.
Trong cuốn “The Vietcong Massacre at Hue” (Vintage Press, New York, 1976), Bác sĩ Elje Vannema, người có mặt tại Huế trong biến cố Tết Mậu Thân, cho biết theo tài liệu kiểm kê được qua 22 mồ tập thể, số nạn nhân bị Cộng quân giết là 2.326 người, chia ra như sau:
Trường Gia Hội: 203 người; Chùa Theravada [Gia Hội]: 43; Bãi Dâu [Gia Hội]: 26; Cồn Hến [Gia Hội]: 101; Tiểu Chủng Viện: 6; Quận Tả ngạn: 21; Phía đông Huế: 25; Lăng Tự Đức và Đồng Khánh: 203; Cầu An Ninh: 20; Cửa Đông Ba: 7; Trường An Ninh Hạ: 4; Trường Văn Chí: 8; Chợ Thông: 102; Lăng Gia Long: 200; Chùa Từ Quang: 4; Đồng Di: 110; Vinh Thái: 135; Phù Lương: 22; Phú Xuân: 587; Thượng Hòa: 11; Thủy Thanh – Vinh Hưng: 70; Khe Đá Mài: 428.
Trong cuốn “Viet Cong Strategy of Terror” (tr. 23 đến 29) Giáo Sư Douglas Pike cho biết qua vụ Tết Mậu Thân ở Huế, có khoảng 7.600 nạn nhân của Cộng Sản, trong đó 1.946 người bị mất tích.
Tại sao phải thảm sát?
Những sự kiện cụ thể chúng tôi vừa trình bày trên cho thấy:
(1) Việc chiếm Huế làm căn cứ địa cho MTGPMN là một quyết định được Hà Nội nghiên cứu kỹ càng và ra lệnh cho Khu Ủy và Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị Thiên Huế thi hành. Cán bộ thi hành cũng đã được huấn luyện trước. Do đó, không thể có chuyện các cấp chỉ huy địa phương quyết định tàn sát mà không có lệnh từ trung ương.
(2) Đa số các cuộc thảm sát đã diễn ra trong thời gian từ 2 đến 12.2.1968, tức trong thời gian Cộng quân còn chiếm đóng Huế. Các nạn nhân thường được kiểm tra hay xét xử rồi mới giết. Rất nhiều mộ tập thể đã được tìm thấy ngay trong thành phớ Huế, nhất là tại khu Gia Hội. Điều này cho thấy không phải vì bị vướng chân khi rút quân nên Cộng Sản mới tàn sát tâp thể để có thể rút nhanh như một số người đã biện hộ cho Cộng Sản.
(3) Đến tối 24.2.1968 Cộng quân mới ra lệnh rút quân toàn bộ khỏi Huế. Tài liệu của Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị Thiên Huế nói rằng có 23.702 tên quân địch, trong đó có 8.000 Mỹ, đã bị diệt, bắt sống và ra hàng (tr. 153). Như vậy số quân nhân Quân Lực VNCH và Mỹ đã bị tiêu diệt hoặc bắt sống lên đến khoảng 3 sư đoàn, trong khi đó số quân VNCH và Mỹ được dùng để tái chiếm Huế chưa đến 2 sư đoàn! Giả thiết tài liệu của Cộng quân là đúng và số người đã bị họ bắt đi theo đã bị giết tập thể để khỏi bị vướng chân..., vậy những người này đã được chôn ở đâu? Các cuộc tìm kiếm sau Tết Mậu Thân không cho thấy có các quân nhân VNCH và Mỹ được chôn trên đường rút quân của Cộng quân.
Chỉ có một trường hợp bị bắn khi Cộng quân rút lui là trường hợp những thanh niên bị bắt gia nhập quân MTGPMN. Những thanh niên không chịu đi theo đều bị bắn tại chỗ. Tại Gia Hội, người ta khám phá ra xác của 18 thanh niên bị bắn chết vì không chịu đi theo. Có khoảng 600 thanh niên vì sợ bị bắn phải đi theo họ.
Tóm lại, lập luận cho rằng các nạn nhân đã bị tàn sát vì làm vướng chân Cộng quân khi rút lui là hoàn toàn láo phét. Đảng CSVN đã duy trì kỷ cương rất chặt chẽ trong khi hành quân nên không thể có chuyện các cấp chỉ huy địa phương tự ý ra lệnh tàn sát tập thể như một số người đã biện minh cho Hà Nội. Phải có lệnh của trung ương, các cán bộ cấp dưới mới làm như vậy. Nhưng vấn đề được đặt ra là: Tại sao Đảng CSVN đã đưa ra quyết định tàn sát tâp thể như thế?
Có tác giả cho rằng sở dĩ Hà Nội đã đưa ra quyết định tàn sát tập thể vì lý do an ninh. Hà Nội muốn chiếm Huế và giữ Huế lâu dài như là một căn cứ địa của MTGPMN. Do đó, để bảo vệ an ninh trong vùng chiếm đóng, Hà Nội đã ra lệnh thanh toán tất cả những thành phần bị coi là cho thể gây nguy hại cho an ninh như tuyên truyền chống đối, quấy rối, làm nội ứng, hình thành các nhóm võ trang chống lại lực lượng chiếm đóng, v.v...
Ngoài những tiêu chuẩn thanh toán mà Hà Nội đã đưa ra, các nhóm Phật Giáo đấu tranh chống VNCH bỏ đi theo MTGPMN từ năm 1966, khi trở lại đã đi tìm và thanh toán những người trước đây không đồng ý hay chống lại chủ trương của họ, đặc biệt là những người Công Giáo.
Nhưng Hà Nội đã có nhận định sai lầm về quyết tâm của Quân Lực VNCH và sự hưởng ứng của quần chúng Phật tử ở Huế. Quân Lực VNCH và đồng minh đã xử dụng hỏa lực tối đa, bất chấp những sự hư hại cho cố đô, để đánh bật Cộng quân ra khỏi thành phố, còn quần chúng Phật tử chỉ có một số nhỏ theo họ. Do đó, quyết định chiếm Huế làm căn cứ địa đã thất bại.

Bài do tác giả LỮ GIANG gởi. DCVOnline biên tập và minh hoạ
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=4641