4/9/11

Ô Nhục Ải Nam Quan

:::: Chân Mây::::
Nguồn: http://www.tamthucviet.com/articleview.aspx?artId=%C5%93%40%1F_

LGT: Những bức ảnh của tác giả Chân Mây trong tập ảnh “Ô Nhục Ải Nam Quan” là những tài liệu lịch sử vô cùng giá trị. Chúng nói lên sự bán nước trắng trợn của chế độ cộng sản Việt Nam.

 Xem hình mà bồi hồi, quặn thắt, một nỗi ray rứt thức dậy trong hồn. Cám ơn tác giả Chân Mây đã cung cấp những dữ kiện cho ngàn đời sau biết được những gì xẩy ra cho dân tộc hôm nay, để không quên tội ác của tập đoàn Việt gian phản quốc Hồ Chí Minh đối với đất nước và dân tộc.

Xin trân trọng giới thiệu tập ảnh “Ô Nhục Ải Nam Quan” của tác giả Chân Mây đến cùng quý độc giả trong ngoài nước.

o O o

Ven trời góc biển buồn chim cá
Dạn gió dày sương tủi nước non
Thượng Tân Thị

Bi thương thay cho lịch sử Việt Nam!

Từng cây số trên quê hương là từng giòng máu lệ, máu của cha ông ngăn thù và máu của hai miền huynh đệ chan hòa vào nhau trong hoan lạc dành cho Quốc tế Cộng Sản. Và đang trở về đây là những bước chân âm thầm của ngàn năm nô lệ. Kết qủa từ công cuộc nhuộm đỏ mạo danh “độc lập, tự do, hạnh phúc” theo tư tưởng Hồ Chí Minh và đồng bọn.

Hãy tiếp tục nhìn những gì mà CSVN đang ra sức thực hiện: “Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan không thuộc lãnh thổ Việt Nam!”. Họ cố chối bỏ lịch sử Việt Nam và ra sức tranh cãi, biện luận với dân Việt thay cho Trung Cộng. Ô nhục! Từ quan đến quân, CSVN chỉ là một lũ tôi mọi dâng đất, dâng biển của tổ tiên cho ngoại bang bằng văn tự công hàm, hiện rõ hình hài là một bọn quái thai chưa từng có trong lịch sử nhân loại!

Chấp bút cho đề tài “Ải Nam Quan”, thay vì tranh luận bằng văn chương, tôi sẽ sử dụng giá trị của những tư liệu bằng hình ảnh. Bởi vì, đã có rất nhiều nghiên cứu công phu của các tác giả yêu nước Việt nồng nàn đã là qúa đủ để khẳng định “Ải Nam Quan là của Việt Nam! Ải Nam Quan thuộc về Trung Cộng là do sự hiến dâng của Đảng CSVN!”. Những hình ảnh sẽ lưu lại đây để cho con cháu chúng ta hiểu rõ hơn niềm bi thương của đất nước, chỉ cho các em bọn bán nước hiện đại là ai. Để rồi không còn ngày phải tôn thờ hỉnh Hồ-Mao và màu cờ máu chỉ còn là một kỷ niệm buồn. Rất buồn!

Hãy xác tin rằng: “Nước Việt của em từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau” là mãi mãi!

Chương I

NHỮNG HÌNH ẢNH LỊCH SỬ

(mời bấm trên hình để xem lớn hơn)

Trong chương này, việc sắp đặt hình ảnh về Ải Nam Quan sẽ dựa theo sự thay đổi của lối kiến trúc v.v. mà phân chia thành các nhóm hình theo ký tự A,B,C…Để sự diễn tả rõ ràng hơn, những hình ảnh bên phía Trung Cộng (hoặc Trung Quốc theo thời đại) sẽ gọi là “Trấn Nam Quan” “Mục Nam Quan” v.v…; ngược lại, nhũng hình ảnh bên phía Việt Nam sẽ gọi là Ải Nam Quan hoặc cổng Nam Quan theo đúng tinh thần lịch sử. Phân chia như sau.

- Nhóm A: họa đồ “Trấn Nam Quan” của Trung Quốc (đánh số A1 đến A4)

- Nhóm B: có chung kiến trúc (đánh số B1 đến B4)

- Nhóm C: có chung kiến trúc (đánh số C1 đến C4)

- Nhóm D: có chung kiến trúc (đánh số D1 đến D2)

- Nhóm E: không xác định (E1 đến E3)

- Nhóm F: hình quân sự và bản đồ (đánh số F1 đến F6)

- Nhóm Phụ ảnh: Một số phụ ảnh bất định sẽ đưa trực tiếp vào nơi hình cần thêm minh họa.

1- NHÓM HÌNH A :

Trước hết, ta có hai bức họa theo lối sơn thủy về hình ảnh “Trấn Nam Quan” trong đời nhà Thanh (Trung Quốc). Niên đại của cả hai được cho rằng họa vào đời vua Ung Chính khi xảy ra cuộc chiến Trung-Pháp (1884-1885)

A1. “Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (1)


Còn gọi là “Thanh Quân Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (Họa đồ bố trí phòng thủ Trấn Nam Quan của quân Thanh). Đây là bức họa các vị trí đóng quân của nhà Thanh nơi Trấn Nam Quan bên trong nội địa Trung Quốc. Địa hình đồi núi khái lược. Cổng ra vào với Ải Nam Quan của Việt Nam nằm tại cạnh phải của bức họa (có đóng khung).

A2. “Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (2)


Các vị trí đóng quân của nhà Thanh nhìn từ hướng Việt Nam. Không hiểu tại sao bố cục của bức họa này lại rất giống với bố cục trên bưu ảnh (tham khảo hình B1) do người Pháp chụp vào đầu TK20 (hoặc cuối TK19?) . Có thể bức họa này dựa theo tài liệu của người Pháp mà vẽ ra. Giá trị của bức họa này so với bưu ảnh (B1) là do sự quan sát của người Trung Quốc vào thời đại cũ nên ta thấy được kiến trúc nguyên thủy của Ải Nam Quan bên phía Việt Nam. Ta thấy có một cổng lớn, hai bên cổng là hai dãy tường thành dâng cao nhưng bị cắt ở hai bên lưng núi. Một khoảng sau cổng mới đến phần cổng có mái ngói. Từ phần cổng mái ngói này có dãy tường thành chạy dài lên đỉnh núi. Đó là phần Trung Quốc. Các điểm này tương xứng với bưu ảnh (B1).

A3. “Trấn Nam Quan Đại Chiến”


Minh họa cảnh giao chiến giữa quân Pháp và quân Thanh tại cổng Nam Quan vào năm 1885. Niên đại của bức họa không rõ nhưng ta thấy tường thành có kiến trúc giống cổng Ải Nam Quan của hình A2.

A4. “Trấn Nam Quan Đại Lâu Đồ”


Mô tả cảnh quân Pháp rút quân và binh lực quân Thanh tại Trấn Nam Quan. Hãy quan sát vị trí cổng theo khung hướng dẫn trong hình.

2- NHÓM HÌNH B:

Bưu thiếp (Carte Postale) phong cảnh Ải Nam Quan do người Pháp thực hiện vào đầu thế kỷ 20. Các nhật ấn sưu tầm được trên bưu thiếp sử dụng từ năm 1908-1912.

B1. Ải Nam Quan nhìn từ độ cao ở Đồng Đăng


Vẫn dựa theo tường thành phía Việt Nam là hai đoạn ngắn nhưng phần cổng đã thay đổi thành cổng nhỏ. Phía Trung Quốc là cổng lớn và cao hơn, thiết kế hai mái ngói và tường thành chạy dài lên núi giống các bức họa đã nêu trên. Có lẽ sau giao tranh vào năm 1885. Cổng phía Việt Nam đã bị phá hủy nên được xây lại không còn qui mô như xưa.

Khoảng trống đến phần cổng phía Trung Quốc là vùng cảnh giới của hai bên vì dựa theo hình phía bên Trung Quốc ta sẽ thấy có sự đối xứng (tham khảo nhóm hình C).

Phụ ảnh:(B1) Ảnh màu để xác nhận hai phần mái ngói đỏ.


B2. Ải Nam Quan nhìn từ hướng Đồng Đăng


Ta nhận thấy sự cao thấp của hai phía cổng và cánh phải của tường thành phía Việt nam cũng dừng ở ngang núi theo như họa đồ Trung Quốc (A1). Ở góc phải phía dưới hình là một ụ trắng phủ cỏ xanh, dấu tích lô cốt của quân đội Pháp (tham khảo hình F1 sẽ thấy rõ vị trí lô cốt nhìn từ bên Trung Quốc).

B3. Bang giao tại Ải Nam Quan


Quan sát các nhân vật trong hình, ta thấy ở cạnh trái có binh lính Việt Nam đứng thành hàng dài. Giữa cổng đi ra là hàng phu khiêng kiệu đội nón vải rộng vành của quân nhà Thanh (chở quan viên?). Ở cạnh phải của hình có những người nhà Thanh đội nón và kết tóc đuôi sam. Có lẽ đang diễn ra một sự kiện nào đó trong lịch sử bang giao tại Ải Nam Quan.

B4. Cổng Ải Nam Quan


Cổng đóng then gài, cỏ mọc cao ngất ngưỡng. Hoang tạnh. Trong lời nhắn trên bưu thiếp cho ta biết cổng được tu phục vào năm 1908. Nhật ấn “Lạng Sơn”. Xác nhận bờ tường thành chỉ còn dấu thang bậc đi lên để so sánh với tường thành phía bên Trung Quốc (nhóm hình C).

Phụ ảnh: Đường lên Ải Nam Quan từ Đồng Đăng


3. NHÓM HÌNH C :

C1. Trấn Nam Quan (1)


Nhìn từ bên Trung Quốc. Kiến trúc ở đây đã khác. Phần mái ngói lớn phía dưới đã mất, chỉ còn lại phần mái ngói bên trên và cấu trúc mái cũng khác. Chỉ có dãy tường thành là vẫn chạy dài lên trên. Cạnh trái trên đỉnh núi có doanh trại. Phía dưới trước mặt cổng có cụm nhà ngói. Kiến trúc thay đổi có lẽ do sự phá hủy trong cuộc “Khởi nghĩa Trấn Nam Quan” do Tôn Trung Sơn lãnh đạo vào năm 1907. Để dễ phân biệt với nhóm hình chụp từ phía Việt Nam ta sẽ quan sát thêm sự khác nhau của địa hình đồi núi.

C2. Trấn Nam Quan (2)


Mặt bằng của Trấn Nam Quan. Bờ tường thành chia theo lô khác với hình thang bậc bên phía Việt Nam. Ta thấy rõ bên phía Trung Quốc cũng có khoảng cách so với cổng lớn (Quan). Một án tường trắng đối diện cổng là theo lối phong thủy ngày xưa tránh sự dòm ngó thẳng vào nhà mình từ phía bên ngoài (ngay trong các kiến trúc cổ của Việt Nam từ đình làng đến lăng miếu ta sẽ nhận ra điểm này). Theo sử liệu Trung Cộng, cụm nhà nhỏ phía trước cổng lớn (nơi có hai nhân vật áo trắng đang đứng) là miếu thờ Quan Công gọi là Quan Đế Miếu và Đền Chiêu Trung. Sau đó vào năm 1896 trong chương trình khảo sát biên giới giữa Trung-Pháp đã xây trên nền này một văn phòng quản lý cùng với 9 điểm khác trên biên giới Trung-Việt. Năm 1914 xây lại lần hai thành kiến trúc nhà lầu kiểu Pháp nên còn gọi là “Pháp Lầu” hoặc “Pháp Quốc Lầu” vẫn còn tồn tại cho đến nay.

C3. Toàn cảnh Trấn Nam Quan


Có một khu trại và hai dãy nhà mái lá cách xa với cổng lớn ở cạnh tâm phải của hình. “Trấn Nam Quan” là đây! Khởi nghĩa Tôn Trung Sơn là đây! Khu di tích này giờ chỉ còn là ruộng nước, gọi là “khu di chỉ Trấn Nam Quan Khởi Nghĩa”. Các khung trong hình dùng để xác định vị trí so với hình C4.

C4. Trấn Nam Quan (3)


Trên bưu thiếp có tiêu đề “NAM QUAN (Chine) – Le Village” rõ ràng đây là khu làng mạc (Trấn) trong đất Trung Quốc. So sánh các khung vị trí với hình C3:

Dãy nhà lá và con đường đất ở giữa, trước mặt là cụm nhà ngói và tán cây. Ngang ở tâm trái của hình là bờ tường thành. Phía góc phải là vách núi đá (đá vôi?) trắng.

Chữ “Trấn” trong văn tự trung Quốc có rất nhiều nghĩa, như “trấn giữ”, “trấn áp”, “trấn tĩnh”, “trấn địa”…v.v. đều là chỉ việc gìn giữ, ổn định. “Trấn” còn là một đơn vị hành chính sau cấp huyện có từ thời xưa tại Trung Quốc (đơn vị hành chính Việt Nam thời xưa cũng thường sử dụng). Trong một số sử sách Việt Nam có nói “Trấn Nam Quan” nằm trong nội địa Trung Quốc. Thì đây, “Trấn Nam Quan” đã xác định là những hình này! Khối nhà lợp mái ngói ta sẽ hiểu là khu nhà quan binh, hai dãy nhà lá là khu dân cư dựa theo binh đội để có cuộc sinh hoạt yên bình. “Trấn” là khu phố nhỏ, làng mạc. Đừng làm lệch lạc lịch sử và đừng theo luận điệu của bọn bán nước mà cho rằng “Ải Nam Quan phải gọi là Bắc Quan”. Chữ “Nam Quan” là do Trung Quốc kiêng kỵ Việt Nam nên không muốn gọi là “Đại Nam Quan” mà thôi. Chữ “Quan” là chiếc cổng qua lại. “Đại Nam Quan” hay “Nam Quan” là cửa ngõ giao thiệp với nước Việt Nam. Hai bên đã thủ lễ với nhau bằng khoảng trống ở hai bên cổng lớn. Theo sử liệu, sau chiến tranh Trung-Pháp thì nhà Thanh đã chiếm giữ cổng lớn và buộc phía Việt nam phải cách xa cổng là 100 thước. Việc này ta thấy tương đương với khoảng cách của hai cổng trong nhóm hình B.

4- NHÓM HÌNH D:

D1. Cổng Nam Quan (1)


Đây là một kiến trúc khác hẳn so với các nhóm hình trên. Có vẻ sơ sài vì đã mất hẳn phần kiến trúc phía trên trong cuộc nội chiến tại Trung Cộng vào năm 1949. Ta thấy có dáng một nhân vật đang cầm súng. Tiêu đề trên bưu thiếp “NAM QUAN (Tonkin)…” đây là bên phía Việt Nam khi qua cổng nhỏ để đứng sát với cổng lớn (vào lúc này có lẽ kiến trúc cổng nhỏ cũng đã mất). Theo sử liệu Trung Cộng, trong cuộc giao tranh vào năm 1949 thì toàn bộ phần trên cổng đã bị phá hoại hoàn toàn (tham khảo hình E2).

D2. Cổng Nam Quan (2)


Hình đăng trên tạp chí “National Geographic” do GS Nguyễn Văn Canh đưa lên mạng và không rõ niên đại. Một số bạn nghi ngờ bức ảnh này không chính xác với hình ảnh của Ải Nam Quan. Tuy nhiên so sánh với hình D1, ta đã thấy kiến trúc cùng kiểu của hai hình. Tại đây, dãy tường thành chạy lên cao đến vách núi trắng tương ứng với hình C3-C4, có thể xác định là hình được chụp từ cao điểm bên phía Việt Nam.

5- NHÓM HÌNH E:

E1. Không xác định (1)


Một hình ngôi chùa trên đường đi Long Châu nơi có cổng giao thiệp với Việt Nam là Bình Nhi Quan. Cùng với Nam Quan và Bình Nhi Quan còn có Thủy Khẩu Quan là 3 cổng quan yếu để vào đất Việt Nam nên gọi chung là “Tam Quan”, có khi cổng Nam Quan còn gọi là riêng là “Tam Quan” do ở vị trí quan trọng hàng đầu so với hai cổng Bình Nhi-Thủy Khẩu. Nơi hình này có tiêu đề “Chine – NAM QUAN – Loc Hang Thiap”. Chưa rõ chữ “Loc Hang Thiap” là gì nhưng hình xác định là Nam Quan trên đất Trung Quốc, có phải là một ngôi chùa trong “Trấn Nam Quan” hay không? Hay là thuộc Trấn Bình Nhi Quan?

E2. Không xác định (2)


Quân đội Trung Cộng đứng trên tường thành giương cờ trong cuộc chiến thắng quân Tưởng Giới Thạch vào ngày 11.12.1949 tuyên bố giải phóng Quảng Tây. Thế tường thấp với cổng và trên mặt tường cổng có chữ “Trấn Nam Quan”.

Phụ ảnh: Hình chụp chính diện của Trấn Nam Quan trong ngày giải phóng Quảng Tây tháng 12.1949. Trên mặt tường cổng thành ta thấy rõ chữ “Trấn Nam Quan”. (phòng trưng bầy lịch sử Hữu Nghị Quan)


E3. Không xác định (3)


Quân đội Trung Cộng đứng trước cổng nhỏ có khắc chữ “Trấn Nam Quan”. Không rõ niên đại của hình. Chung với hình E2, có lẽ đây là “Trấn Nam Quan” mà tôi đã giải thích (mục 3, nhóm hình C).

6- NHÓM HÌNH F:

F1. Toàn cảnh Ải Nam Quan


Do trinh sát quân Nhật Bản chụp vào tháng 6 năm 1940 trước khi tiến hành “cuộc chiến 3 ngày” nhằm đạt mục đích đưa quân vào lãnh thổ Đông Dương. Hình được mô tả: “…thấy được đường xe lửa Lao Cai-Côn Minh. Lại có đường xe ô-tô từ Đồng Đăng lên tận Trấn Nam Quan. Bờ tường thành này bên trong là đất Trung Quốc, ngay bên ngoài là Bắc bộ Đông Dương”.

Từ cao điểm như trong hình ta thấy rõ vị trí lô cốt như đã xem qua hình B2. Có khả năng lô cốt đã xây dựng trên một nền kiến trúc cổ xưa của Việt Nam . Và còn “Suối Phi Khanh” nơi thấm lệ của Nguyễn Trãi, có ai nhận ra chưa?…Nước mắt!

Phụ ảnh: Liên quân Pháp-Việt (trường Sĩ quan Đồng Đăng)


Những người bảo vệ Ải Nam Quan thất thủ trước quân Nhật (25.09.1940)

F2. Cột Mốc Số 18


Do quân đội Nhật Bản chụp tháng 7 năm 1940 ngay tại tường thành Trấn Nam Quan. Cột mốc số 18 lịch sử xác định biên giới Trung-Việt vào năm 1887. Xác định lãnh thổ bảo hộ của thực dân Pháp tại Đông Dương và cũng là khởi điểm Nam tiến của quân đội Thiên Hoàng giao tranh với các nước Châu Âu.

Trên Cột mốc số 18 ta đọc được: “Trung Việt Quốc Giới, Trấn Nam Quan Ngoại, Đệ Thập Bát Hiệu – No.18 FRONTIERE”

F3. Bản đồ vị trí Trấn Nam Quan và cột mốc số 18


Do chính quyền Tưởng Giới Thạch họa vào năm Dân Quốc 13 (1925). Khu vực Trấn Nam Quan và cột mốc số 18 (có đóng khung)

F4. Hữu Nghị Quan (tên gọi cổng Nam Quan do Trung Cộng đặt ra vào năm 1965)


Đây là một bằng chứng sống động nhất cho kết qủa “bác cháu ta cùng giữ nước” trong thời cộng sản cầm quyền tại Việt Nam. Ảnh do cựu chiến binh Trung Cộng (tham gia chiến tranh biên giới Trung-Việt 1979) chụp vào năm 2005. Các vạch và khung đánh dẩu trên ảnh là của tác giả ảnh và được giải thích như sau.

“Hình trên là từ trên núi Kim Kê chụp xuống. Bên trái là Hữu Nghị Quan, vòng tròn màu vàng là cao điểm tranh chấp Trung-Việt, hiện thời do quân ta khống chế; Vùng màu xanh lá cây hình tam giác là khu vực gài địa lôi. Vạch dài màu tím là con đường sắt qua lại với Đồng Đăng. Vùng trắng giữa hình có hai cửa đường hầm là điểm cuối của cao tốc Nam Ninh đến Bằng Tường”

Nguyên văn:

上图]这是在金鸡山上往下拍的。左侧是友谊关,黄圈部分为中越有争议的高地,目前为我军控制;草绿色的三角为雷区 ,蓝线是通往同登的铁路。图片中间灰白处有两个遂道洞口为南宁至凭祥高速公路的终点站。

Tham khảo tại đây:

http://military.china.com/zh_cn/hist…2461442_1.html

Tôi xin thuyết minh thêm. Núi Kim Kê là cao điểm chiến lược nằm ở cánh trái cổng Nam Quan, ngay vị trí chụp ảnh của tên cựu chiến binh này chính là đất Việt Nam. Khu vực tam giác trong hình chính là khu vực của cột cây số Km0 của Việt Nam là nơi mà vào đầu tháng 7.2007, phía Trung Cộng đã tuyên bố hoàn tất gỡ bỏ tấm đạn địa lôi (mìn) cuối cùng, bảo đảm thông thương an toàn cho “vùng Hữu Nghị, Hòa bình vạn tuế!”. Trong các hình ảnh của chương tiếp theo ta sẽ rõ hơn về vị trí này. Ở đây ta đã có khái niệm về việc Ải Nam Quan đã mất trong cự ly ra sao! Việc mất lãnh thổ qủa là nghiêm trọng! không phải là 100m, 150m, hoặc 200m. Cự ly trong hình có thể tính bằng Km! Hai lỗ đen gần giữa tâm hình là đường ra vào của cao tốc Nam-Hữu (Nam Ninh-Hữu Nghị Quan với chiều dài 179.2 Km. Nam Hữu khởi công vào ngày 28.04.2003 và chính thức khai thông vào ngày 28.12.2005, cũng là đường quốc lộ số 322 của Trung Cộng với điểm tận cùng giáp với Km0 của QL1 Việt Nam. Một âm mưu mới hơn đang hình thành!).

Như ta thấy, cả một vùng đồi núi của Việt Nam đã bị Trung Cộng ngang nhiên san bằng và xây dựng công trình trong nhiều năm, vẫn không hề có một chút phản ứng nào của bọn cầm quyền CSVN. Hay nói đúng hơn là đã có một sự thỏa thuận nhượng Ải Nam Quan từ hàng chục năm trước?

F5. Ảnh chụp vệ tinh vị trí của Hữu Nghị Quan


Khu vực Hữu Nghị Quan (đóng khung) so với đường biên giới Trung-Việt màu vàng. Ảnh do cựu chiến binh Trung Cộng thiết kế để mô tả lại chiến trận biên giới Trung-việt năm 1979. Lúc này, Hữu Nghị Quan đã nằm sâu trong đất Trung Cộng từ đời…Hồ Chí Minh!

“Con đê đầu khấn lạy Chư Phật mười phương…”
Ải Nam Quan đã mất, Đất thiêng đã mất!
Có ai còn nhớ Phi Khanh-Nguyễn Trãi?



Chương II

“KẺ BÁN ẢI NAM QUAN VÀ KM ZÉRO Ô NHỤC!”

  • Năm 1966. Công binh xây dựng đường sắt Trung-Việt tại Hữu Nghị Quan tuyên thệ trước khi vào VN làm nhiệm vụ
  • Thiết đạo binh: công binh đường sắt TC giả dạng bộ đội VN
  • Năm 1966. Quân chính qui TC giả dạng bộ đội VN tuyên thệ tại Hữu Nghị Quan. Hướng về TC đồng thanh hô lớn: “Quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Nguyện mang vinh quang trở về!”. Trong ảnh là Sư đoàn 62 Cao Xạ TC
  • Tham gia tra tấn tù binh Mỹ tại VN
  • Tham gia bắt sống phi công Mỹ tại VN. Người cầm ảnh là cựu chiến binh TC tham chiến tại VN
    Huy chương “Đoàn Kết Chiến Thắng Giặc Mỹ” do chính HCM ký tặng
  • Hoặc do PVĐ ban thưởng
  • Năm 1968, hai bác Hồ – Mao đi từ Ải Nam Quan cùng mang vũ khí vào gây tang tóc cho dân miền Nam VN
  • “Nam man! Ta cho ngươi cơm ăn, áo mặc, ta cho ngươi súng đạn, nhưng chính ngươi đã lấy súng đạn bắn vào da thịt ta!” (người anh em đồng chí TC nói!)
    Ngày 28.05.1980, Trung-Việt tiến hành trao trả tù binh tại “Km0″ trên đường Đồng Đăng dẫn vào khu vực Hữu Nghị Quan
  • Dấu đạn giao tranh Trung-Việt trên khắp tường thành “Hữu Nghị Quan”
  • Trung Cộng ca khúc khải hoàn trở về cổng Hữu Nghị Quan sau chiến thắng
  • Hoa Kiều tại Việt Nam bị cưỡng chế hồi hương năm 1978
    Ngày 25.08.1978, khoảng trên 200 quân Việt Nam dùng vũ lực bắt buộc Hoa kiều phải hồi hương đi vào khu vực Hữu Nghị Quan. Lúc 17g30 cùng ngày, ngay trước cổng Hữu Nghị Quan, quân Việt Nam đánh chết 6 người, 82 người bị thương, 15 người chạy thoát. Công tác viên phía Trung Cộng lên tiếng cảnh cáo và xung đột đã xảy ra giữa hai bên cán bộ Trung-Việt. Ba ngày sau, quân Việt Nam tiếp tục tràn lên vùng biên giới tìm kiếm những Hoa kiều đang bỏ trốn… Chiến tranh biên giới Trung-Việt bắt đầu từ đây, cuộc chiến mà Trung Cộng lấy cớ “tự hào” là “Tự Vệ Phản Kích”. Ải Nam Quan thêm một lần nữa chứng kiến xung đột Trung-Việt. Nhưng từ sau cuộc chiến này, Trung Cộng đã đẩy lui lãnh thổ Việt Nam ra khỏi Ải Nam Quan và bỗng xuất hiện cột mốc có tên gọi “Km0” thần thoại, nằm cách xa cổng Nam Quan hàng trăm thước.
  • Phụ ảnh tham khảo “Cột Mốc Số 18″ giả mạo (?)
    Đây là “Cột Mốc Số 18″ mà TC cho rằng đã đặt tại cổng Nam Quan. Khác với “Cột Mốc Số 18″ theo Hiệp ước Pháp-Thanh (đã trình bầy nơi chương I). Trên cột mốc này khắc rằng: “BORNE.18 ANNAM-CHINE, Đệ Thập Bát Bài, Đại Pháp Quốc Việt Nam, Đại Trung Hoa Dân Quốc Vân Nam”. Lịch sử nào ghi rằng Pháp thay mặt VN ký kết Hiệp ước Biên giới với chính quyền của Tưởng Giới Thạch? Loại cột mốc này là cùng kiểu với cột mốc số 53 tại khu vực Thác Bản Giốc. Những cột mốc thật sự của Hiệp ước Pháp-Thanh đã tiêu biến nơi đâu ? Không ai biết rõ hơn biên giới Trung-Việt bằng Đảng CSVN, nhưng họ có nói gì không về hiện tượng này? Lặng câm! Ta nên nhớ, trong đề cương của Đảng CSVN do HCM soạn ra vào năm 1940 đã chủ trương một cách mù quáng: “Không công nhận bất cứ văn kiện, hiệp ước nào của thực dân Pháp thay mặt VN ký kết với quốc gia khác!”
    Sự ra đời của “Km 0” cho đến nay vẫn rất khó hiểu. Theo “truyền thuyết”, “Km 0” ra đời vào năm 1960 và Phạm Văn Đồng đã trồng cây si để đánh dấu vị trí. Có thực sự là PVĐ trồng cây si để đánh dấu vị trí biên giới Trung-Việt hay không? Hay chỉ đơn thuần là việc trồng cây kỷ niệm một sự kiện nào đó? (thói màu mè của CSVN). Năm 1958, chính tay PVĐ đã ký văn bản dâng biển cho Trung Cộng, bản đồ Bắc Việt thì Đảng CSVN dâng cho Trung Cộng vẽ, trong thời điểm lệ thuộc sự viện trợ của Trung Cộng thì làm sao nói chuyện căng thẳng biên giới, lãnh hải được. Còn cây si là cây si nào? Cây si thuộc loại cây nhiệt đới có sức tăng trưởng và phát tán rất nhanh. Không thể nào cho rằng cây si mà PVĐ trồng là cây si đứng sau cột “Km0”. Hãy xem hình (so sánh với cây si trước cổng HNQ ở chương II).
  • Năm 1979, hai tên Trung Cộng đang chỉ vào vị trí cột mốc “Km0”. Cỏ cây rậm rì, một gốc cây nhỏ phía sau (cây si từ năm 1960?). Phải chăng vị trí cột mốc chẳng phải bị di dời đi hàng trăm thước nào cả. Nó đã nằm đó từ những năm 1960, như một thỏa thuận “hữu nghị” khi HCM dành trọn Ải Nam Quan để tiếp nhận vũ khí của TC gây máu lửa trên miền Nam Việt.
  • “Km0″ trong những năm 1990. Biên phòng VN đứng gác nhưng quay mặt về phía VN. Đáng nể!
  • “Km0″ trong những năm đầu 2000, khi đang xây dựng lại cảnh quan “Hữu Nghị” và kế hoạch cao tốc Nam-Hữu . Lúc này trên cột còn ghi “Hữu Nghị Quan” và “cây si PVĐ” còn đó
  • “Cây si PVĐ” bị đốn bỏ dã man vào năm 2005. Cột mốc cũng chỉ còn chữ “Hữu Nghị”. Đảng CSVN không dám nhận thêm chữ “Quan”. Xóa bỏ vĩnh viễn lịch sử để làm vừa lòng đàn anh TC!
  • “Km0″ của VN trơ trọi so sánh với bia đá “Nam Cương Quốc Môn” của Trung Cộng phía sau . Ở vị trí này ta không còn thấy cổng Nam Quan!
  • “Km0″ trong những ngày năm 2006.
  • Gần lại một chút . Hành lang trắng bên tay phải dẫn vào khu vực Hải quan TC.
  • Nhìn sang bên phải để thấy rõ hơn cổng đường hầm cao tốc Nam-Hữu và Cổng kiểm soát của Hải quan TC.
  • Ngang với “Km0″ là giao điểm Quốc lộ 322 (điểm cuối) của TC và Quốc lộ 1A (điểm khởi đầu) của VN!
  • “Trung Quốc Quốc Đạo 322 Chung Kết Điểm”
  • Nhìn sang VN. Đi thêm khoảng 100m nữa mới tới Cổng kiểm soát của Hải quan VN. Khoảng cách “thủ lễ” đã xuống dưới chân Ải Nam Quan trong thời cộng sản. Không còn nằm trước mặt cổng Nam Quan như ngày xa xưa. Đúng vậy! Ải Nam Quan nào là của VN? Bọn Ô nhục!

Hàng trăm thước đất của Ải Nam Quan là cả một đoạn đường dài hàng ngàn năm lịch sử của Việt Nam, nơi mà tổ tiên Trung Cộng phải bao lần cay đắng nuốt hận…Đất biển tổ tiên mất qúa dễ dàng! Đảng CSVN vẫn một mực nói như Trung Cộng, công nhận lãnh thổ bắt đầu từ cột “Km0”. Đảng CSVN đã chà đạp lên hồn thiêng sông núi, thay ngọai bang thảm sát dân tộc, giết chết lịch sử quê hương!

o O o

  • Ngày 18.10.2005, Việt cộng TT Nguyễn Tấn Dũng ra đón khách Trung Cộng ngay tại Km0. Ôi, tư cách của một TT? Hai tay xun xoe chào đón quan thầy Trung Cộng. Không ai trong đám cộng sản thời đại này còn “bản lĩnh” đi qua lại Cổng Nam Quan để đón khách như Hồ Chí Minh của những năm 1950. Vẫn cười đấy! Hèn mọn, bé nhỏ là thế!
  • Ngày 28.12.2005, cao tốc Nam Hữu chính thức khai thông nối vào khởi điểm Quốc lộ 1A của Việt Nam
  • Những người dân quê Đồng Đăng bị bắt đứng ra chụp hình ngay tại giao giới biên cảnh Trung-Việt. Họ đứng trên khởi điểm của QL 1A như làm nhân chứng cho lịch sử bán nước của Đảng CSVN. Những khuôn mặt muộn phiền, ngơ ngác.
  • Ngay cả những đứa bé Trung Cộng mù lòa cũng được nắm tay cho sờ vào thành tích của cha ông chúng!
    Còn người Việt Nam? Có ai dám cảm tử cầm máy ảnh ra chụp tại khu vực này hay không? Thi nhân Bùi Minh Quốc bị cấm cố vì tấm hình ôm cột mốc Trung-Viêt. Nhà báo Điếu Cày có mấy tấm chụp tại Thác Bản Giốc mà giờ còn nằm trong Chí Hòa. Và tôi cũng từng bị biên phòng VN hành hung khi tay lăm le chiếc máy ảnh nơi vùng biên cảnh “Hữu Nghị”!
  • Khách du lịch Trung Cộng thảnh thơi qua lại, nhàn nhã như ở nhà. Chụp hình ư? Chuyện nhỏ! Đố tên biên phòng VN nào dám làm khó dễ!
  • Bước một bước là qua đến VN! Hai con xẩm trong góc có khung là vị trí của Km0 Ô nhục!
  • Đứng hai chân trên biên giới!
  • Chụp các kiểu!
  • Và ngồi lên “Km0″ của bọn Nam man! Chúng ta là chủ nhân của lãnh thổ VN!
  • Hải quan hai bên Trung-Việt trao đổi công tác tại Km0 (tháng 04.2007)
  • Cựu chiến binh trong chiến trận biên giới Trung-Việt hành hương
  • Thế hệ nào của Việt Nam sẽ được tường tận sự ô nhục này. Việc đòi hỏi Trung Cộng trả lại vùng đất thiêng của tổ quốc Việt Nam không phải dễ dàng! Sẽ lại đổ máu như hàng trăm năm trước!”Tổ Quốc Tại Ngã Tâm Trung” (Tổ quốc trong tim ta)
  • Những hoạt động của Trung Cộng tại Ải Nam Quan ngày càng rầm rộ, hoành tráng. Từng đợt học sinh trên các miền được đưa về Hữu Nghị Quan để nghe giáo dục về lòng yêu nước!
  • Tháng 11 năm 2007, kỷ niệm 50 năm thành lập khu tự trị Quảng Tây. Có cả đại biểu VN tham dự, ngồi trên mảnh đất tổ tiên bị ngoại bang xâm chiếm không biết họ nghĩ gi? Hay là họ vẫn cười?
  • Vận động trong sạch môi trường biên cảnh Trung-Việt. Bản đồ VN đã nối vào khu tự trị Quảng Tây!

Phi Khanh hỡi! Người còn ngồi nói những lời xưa?
“Con yêu hỡi chớ xuôi lòng mềm yếu!…”

Chân Mây
12/06/2009

Mộ 3 vua Trần bị lãng quên trên đỉnh núi

(VTC News)-Câu hỏi lớn nhất, cứ vảng vất theo tôi mãi, đó là tại sao, một khu lăng mộ vua lớn như thế này, lại bị người đời quên lãng một cách thảm hại? Nơi yên nghỉ của các vị vua, chỉ có cỏ mọc rậm rạp, trâu bò gặm cỏ, phóng uế bừa bãi…

Theo ông Hứa Văn Phán, thủ nhang đền An Sinh (xã An Sinh, Đông Triều, Quảng Ninh) , sau khi đưa mộ các vua Trần từ Thái Bình ra An Sinh, nhà Trần cho xây dựng lăng Tư Phúc, rồi dựng điện An Sinh để thờ dưới chân núi. Hàng năm, đến ngày lễ lạc, giỗ chạp, các vị vua về dâng hương tại điện An Sinh, rồi đi lên núi chiêm bái 3 vị vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Giản Định.

Xưa kia, điện An Sinh là một công trình vĩ đại, bao trùm một vùng rộng lớn, sơn thủy hữu tình. Lăng Tư Phúc nằm trên đỉnh một quả núi ngay sau điện An Sinh và nằm trong khuôn viên rộng lớn của điện.

Đền Sinh và lăng Tư Phúc đã bị chia cắt bởi xóm làng và cả hồ nước rộng mênh mông này.

Tuy nhiên, thời gian trải hơn 600 năm, qua bao chiến tranh loạn lạc, cướp phá, lãng quên, toàn bộ điện An Sinh đã trở thành phế tích. Những công trình trên mặt đất đã bị biến mất gần như hoàn toàn từ cả trăm năm trước, chỉ còn lại dấu tích là hệ thống nền móng, bệ đá, chân cột nằm dưới lòng đất.

Từ cả trăm năm nay, không biết bao đời người dân đi và đến. Vùng đất rộng lớn của điện An Sinh đã bị chia xẻ thành nhiều khu vườn, khu đất, nhà ở, là một góc của xóm. Hồ nước lớn sau điện An Sinh cũng biến thành ao thả cá của người dân. Lăng Tư Phúc nằm trong quần thể điện An Sinh cũng bị chia cắt, lối đi từ điện lên lăng cũng đã chìm sâu dưới lòng đất, do đó, thay vì đi bộ từ hậu cung của điện An Sinh lên lăng Tư Phúc, thì phải đi vòng sang làng khác một đoạnđường 2 ngàn mét mới đến được.

Chị Quyến chỉ hướng lên lăng Tư Phúc.

Trần Thái Tông (sinh năm 1218) tên là Trần Cảnh. Do sự sắp xếp của chú họ Trần Thủ Độ, ông vào cung làm Chi hậu chính triều Lý, rồi kết hôn với Lý Chiêu Hoàng, vị vua cuối cùng của triều Lý. Năm 1225, khi Trần Cảnh mới 8 tuổi, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng. Ông lên ngôi vua, mở đầu cho triều đại nhà Trần. Ông ở ngôi báu 33 năm, làm Thái Thượng Hoàng 19 năm, mất năm 1277, thọ 60 tuổi, táng ở Long Hưng (Thái Bình). Năm 1381, chuyển về lăng Tư Phúc ở An Sinh.

Hỏi đường đến lăng Tư Phúc, người dân trong xóm lắc đầu quầy quậy, không biết lăng Tư Phúc là lăng gì, ở đâu. Trời mưa tầm tã, tôi chợt thấy lòng lạnh lẽo. Một cái lăng hẳn hoi, có tên rành rành trong sử sách, táng tới 3 ông vua Trần nổi tiếng, mà người dân trong xóm không biết nằm ở đâu. Tôi phải hỏi mấy bác trung tuổi: “Bác cho hỏi, có cái ngọn đồi, nghi có mộ vua, kho báu, mà cáchđây 3 năm các nhà khảo cổ học đào bới suốt cả tháng”, tức thì ai cũng rành rẽ,chỉ lên quả núi mờ mờ trong mưa mù ở cuối làng.

Trước khi hỏi đường đến lăng mộ, ông Phán đã kể với tôi rằng, năm 2009, các nhà khảo cổ đã tiến hành khai quật sơ lược lăng mộ này. Khi các nhà khoa học tiến hành khai quật, thường phải thuê dân đào bới và sự kiện đó sẽ khiến không những cả xóm mà cả xã quan tâm. Vì thế, chỉ có hỏi cách đó, họ mới biết.

Đường lên lăng Tư Phúc qua vườn vải và vườn bạch đàn rộng mênh mông.

Chân quả núi này rậm rạp cây cối và ít người ở. Tôi lòng vòng mãi trênđoạn đường lầy đất đỏ mới tìm thấy một ngôi nhà đang xây dở chìm khuất sau vườn vải của vợ chồng anh Nguyễn Văn Nam và chị Nguyễn Thị Quyến.

Trần Thánh Tông, tên là Trần Hoảng, sinh năm 1240, là con trưởng của Trần Cảnh. Ông lên ngôi năm 18 tuổi, ở ngôi 21 năm, làm Thái Thượng Hoàng 13 năm, mất năm 1290, thọ 51 tuổi.

Chị Quyến nắm rõ đường lên mộ vua, vì nhà chị ở ngay chân núi. Theo chị,ngọn núi này đã bị chia năm xẻ bảy, thuộc sở hữu của nhiều người. Người lập trang trại trồng vải, trồng na, trồng nhãn, người trồng keo, trồng bạch đàn.

Chị Quyến dẫn tôi đi loanh quanh trong trang trại vải rộng mênh mông của ông Nhạn. Ông Nhạn là người ở đâu chị Quyến cũng không rõ. Ông này mua mảnh đất rộng mấy ha dưới chân núi từ nhiều năm trước, rồi thuê người trồng vải tốt um tùm. Đi một lát thì hết vườn vải, tôi đặt chân đến sườn núi.

Đứng trước con đường mòn nhỏ xíu, chị Quyến bảo: “Đây là núi Bãi Bắn. Anh cứ đi thẳng con đường mòn này, lên đến đỉnh núi, thấy đá, gạch lộ ra trên mặtđất, thì chỗ đó là mộ vua đấy. Các nhà khoa học đào bới trên này bảo là mộ vua thì em biết vậy”.

Lăng mộ 3 vị vua Trần nằm trên đỉnh núi Bãi Bắn.

Sở dĩ, người dân trong vùng gọi ngọn núi này là núi Bãi Bắn, vì có một đơn vị quân đội trong khu vực thường xuyên ra đây tập bắn. Mỗi lần họ tập luyện, súng nổ đì đoàng từ sáng đến chiều.

Bao trùm núi Bãi Bắn là rừng bạch đàn, với những cây bạch đàn bằng cổ tay, cổ chân, lơ phơ, xơ xác. Vợ chồng ông Núi, bà Lượm, đại gia nơi khác, đã mua trọn ngọn núi này từ 4 năm trước và trồng toàn bạch đàn.

Con đường mòn dẫn lên núi toàn phân trâu, phân bò, hôi hám, bẩn thỉu. Trèo núi đến khi hơi mỏi gối một chút thì lên đến đỉnh. Đỉnh núi có một mặt bằng khá rộng, cỡ 2000 mét vuông. Đứng trên đỉnh núi, phóng tầm mắt ra tứ phía, thấy phong cảnh thật đẹp. Sau lưng là dãy Yên Tử hùng vĩ, trước mặt là đồng ruộng với những ngọn đồi nhỏ nhấp nhô, làng xóm yên bình, sông chảy uốn lượn, đúng là sơn thủy hữu tình.

Đứng trên lăng Tư Phúc nhìn xuống thấy cảnh sơn thủy hữu tình.

Vạch những bụi cỏ, tiến vào giữa đỉnh núi, thì “lăng mộ” 3 vị vua Trần lộ ra. Một cảnh tượng có thể nói là đau lòng và thương tâm không tả nổi: “Lăng mộ” 3 vị hoàng đế nổi tiếng thời Trần là vài chiếc cột gỗ, hai tấm phi-brô-xi-măng, một bát hương, một chiếc đĩa và vài cái chén. “Lăng mộ” rộng chừng hơn 1 mét vuông, không có tường vách, mặc gió thổi, mưa hắt, khói nhang lạnh lẽo.

Trần Giản Hoàng, sinh năm 1361, tức Trần Phế đế, tên húy Trần Hiện, con trưởng Duệ Tông. Ông lên ngôi năm 16 tuổi, xưng là Giản Hoàng. Ông ở ngôi 12 năm, mất năm 1388, hưởng dương 28 tuổi.

Chị Quyến, người sống dưới chân núi bộc bạch: “Từ xưa đến nay, chẳng ai biết, chẳng ai quan tâm đây là lăng mộ của vua cả. Từ lâu rồi, em chỉ thấy có duy nhất một bát hương đặt giữa đỉnh núi, nhưng cả năm chả có ai hương khói. Hồi khai quật mộ, xong việc, nhân dân và các nhà khảo cổ cùng dựng cột gỗ, lợp tấm bờ-rô rồi đặt bát hương cho các vua đỡ tủi”.

Theo lời chị Quyến, khu mộ vua này được các nhà khoa học khai quật vào tháng 10 năm 2009. Chị Quyến và một số người trong làng cũng được thuê đào bới. Nhưng việc khai quật rất đơn giản, cứ chạm vào bậc đá, nền móng là dừng lại cho các nhà khoa học ghi chép, vẽ vời, rồi lại lấp trả như cũ.

Nơi thờ tự 3 vị vua Trần chỉ là thế này !!!!!

Chị Quyến kể: “Chúng em đào đất lên, thấy toàn gạch ngói, đá tảng, voi ngựa, rồng phượng, nhưng lại lấp ngay lại. Chúng em còn đào được cả những bậc đá là lối đi từ đỉnh núi xuống chân núi, hướng về phía đền Sinh. Nghe họ bảo, ngày xưa đi viếng mộ vua là đi từ đền Sinh lên mà. Nhưng đào phát lộ lối đi, chúng em lại phải lấp trả”.

Tôi vạch từng bụi cây, nhổ những bụi cỏ và nhận thấy vô vàn dấu tích gạchđá. Những tảng đá lớn, dùng để kê chân cột, tiết diện ngót mét vuông nằm chềnhềnh trên mặt đất, theo hàng lối thẳng thớm cho thấy đây là một lăng mộ hoành tráng khi xưa.

Những chân cột bằng đá còn rất nhiều trên đỉnh núi.

Theo sách “Trần Triều Thánh tổ các xứ địa đồ”, thì lăng Tư Phúc nằm liền kề với điện An Sinh, phía Đông Bắc điện An Sinh. Lăng Tư Phúc gồm có 3 lăng. Lăng phía trong dài 6 trượng (19,8m), rộng 3 trượng (9,9m), nền cao 1,3m. Lăng giữa dài 2,3 trượng (7,6m), rộng 1 trượng (3,3m), nền cao 0,4m. Lăng phía ngoài dài 6 trượng (19,8m), rộng 2 trượng (6,6m), nền cao 0,7m.

Qua số liệu trên đây, có thể thấy quy mô lăng Tư Phúc khá lớn, gồm 3 lăng mộ cạnh nhau. Lăng lớn nhất rộng tới 200 mét vuông, lăng nhỏ chỉ hơn 20 mét vuông.

Nền móng lăng mộ lộ ra khỏi lòng đất.

Theo nhà nghiên cứu Vũ Thị Khánh Duyên (BQL các di tích trọng điểm Quảng Ninh), thì các vị vua táng trong lăng Tư Phúc gồm Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Giản Hoàng, chứ không phải Trần Giản Định như sử sách thời Nguyễn vẫn chép.

Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tháng 12, ngày mùng 6, sáng sớm Thượng Hoàng (Trần Nghệ Tông) vờ ngự về Yên Sinh, sai điện hậu hộ vệ, rồi sai chi hậu nội nhân gọi vua tới bàn việc nước. Vua chưa kịp ăn vội đi ngay, chỉ có 2 người theo hầu. Đến nơi, thượng hoàng bảo vua: “Đại vương lại đây”, rồi lập tức sai người đem vua ra giam ở chùa Tư Phúc, tuyên đọc nội chiếu giáng làm Linh đức đại vương rồi cho dìu xuống phủ thái Dương thắt cổ chết”.


 

Trải hơn 600 năm, nhiều chân bệ không còn nguyên vẹn.

Theo bà Duyên, Trần Giản Hoàng mất ở An Sinh và cũng được triều đình đứng ra chôn cất. Do đó, có thể tin đây là lăng mộ Trần Giản Hoàng. Theo “Triều Trần thánh tổ các xứ địa đồ” thì lăng của Giản Hoàng được xây rất nhỏ, chỉ bằng 2/5 quy mô lăng của Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông.

Về vua Trần Giản Định, ông lên ngôi khi đất nước đã bị giặc Minh xâm lược, bị tướng nhà Minh là Trương Phụ bắt về Kim Lăng (Trung Quốc) và giết hại vào năm 1409 (có tài liệu ghi 1410), nên không thể xây dựng lăng mộ ở Yên Sinh được.

Trần Giản Định (Giản Định đế) không rõ năm sinh, mất năm 1410, tên thật là Trần Ngỗi, là vua hậu Trần. Ông là con thứ 4 của vua Trần Nghệ Tông. Ông lên ngôi khi nhà Minh sang xâm lược. Ông bị giặc Minh bắt sang Trung Quốc rồi giết hại. Trần Giản Định làm vua được hơn 1 năm (1407-1409), làm Thái Thượng Hoàng được 4 tháng thì bị giết, không rõ bao nhiêu tuổi.

Rời lăng mộ 3 vị vua Trần trong cơn mưa tầm tã, tôi mang theo nhiều câu hỏi bí ẩn của lịch sử chưa được giải mã. Nhưng câu hỏi lớn nhất, cứ vảng vất theo tôi mãi, đó là tại sao, một khu lăng mộ vua lớn như thế này, lại bị người đời quên lãng một cách thảm hại? Nơi yên nghỉ của các vị vua, chỉ có cỏ mọc rậm rạp, trâu bò gặm cỏ, phóng uế bừa bãi…

Phạm Ngọc Dương

Theo VTC News

2/9/11

Sinh viên... nói leo

T.N.L.A.
BVN đã định kết thúc câu chuyện về bà “Tiến sỹ” Đỗ Ngọc Bích, nhưng xem ra còn quá nhiều người mang tâm lý bức xúc với bài viết của bà “Tiến sỹ “ này.

Trong số các bài gửi đến, có bài viết của nữ sinh viên T.N.L.A, cung cấp một vài chi tiết rất cụ thể về bà “Tiến sỹ”, kèm theo những bình luận liên quan đến cảm nhận của tác giả về hệ thống giáo dục mà tác giả đang là người trong cuộc.

Trân trọng cảm ơn bạn T.N.L.A., và xin được đăng lên để bạn đọc có thêm thông tin.

Bauxite Việt Nam
Thưa các thầy cô.

Tuần qua rất nhiều bài trên mạng bàn về “Tiến sỹ” Đỗ Ngọc Bích sau bài viết của bà trên Đài BBC lên án cái mà chị gọi là “chủ nghĩa dân tộc bài Hoa cực đoan”. Là những sinh viên đang còn ngồi trên ghế giảng đường, sau khi đọc các bài báo, chúng em nhận ra, các tác giả đều là các bậc khả kính. Vì vậy, chúng em xin phép gọi tác giả các bài báo là “Các thầy cô”.

Chúng em đã đọc rất kỹ những bài viết của các thầy cô, trong đó có bài than phiền rằng, hiện tượng Đỗ Ngọc Bích không là gì xa lạ, mà đó chẳng qua chỉ là sản phẩm mà nền giáo dục trong nước đã tạo ra. Với tư cách là “cái sản phẩm” mà “nền giáo dục trong nước đã tạo ra”, chúng em thực sự cảm thấy rất buồn.

Đúng như một bài báo đã viết, trong sách giáo khoa lịch sử thì “sử cách mạng” chiếm một tỷ trọng áp đảo. Không những vậy, chúng em còn đọc được một bài báo khác viết rằng, ngay trong những trang viết về “sử cách mạng” ấy còn viết theo quan điểm mao-ít.

Chúng em vào mạng tra cứu xem “Tiến sỹ” Đỗ Ngọc Bích là ai, thì có một phát hiện hết sức thú vị. Chúng em suy nghĩ mãi về “phát hiện” này, và cuối cùng xin mạnh dạn gửi đến Thầy Nguyễn Huệ Chi, để Thầy cung cấp thêm thông tin cho các bạn đọc của Bauxite Việt Nam. Thông tin chính xác về chị Bích là: chị ấy là sinh viên lớp tiếng Anh Khoá 35 (1991-1994) thuộc Khoa Tiếng nước ngoài của Trường Đại học Tổng hợp, nay là Đại học Quốc gia Hà Nội. Chị Bích tốt nghiệp năm 1994, và không hề có background (nền học vấn) về Lịch sử (!)

Cựu sinh viên Khoa tiếng nước ngoài của Đại học Tổng hợp Hà Nội đã lập một website, trong danh sách có tên Đỗ Ngọc Bích: http://www.diginet.com.vn/ngoaingu/MemberList.asp. Xin các thầy cô và các bạn vào mạng để tìm hiểu thêm.

Qua website của các cựu sinh viên Khoa Tiếng nước ngoài, chúng em hoàn toàn không ngạc nhiên, đoán biết được lý do vì sao chị Bích được xuất hiện trên trang mạng của Đài BBC. Rất có thể, chị ấy đã nhận được sự giúp đỡ của người bạn đồng môn, là anh Ngô Quốc Phương, ký giả trong Ban Việt ngữ của Đài BBC, là sinh viên Khoá 33 cùng Khoa Tiếng nước ngoài (học trước chị Bích hai năm). Quý Thầy Cô có thể tìm được tên anh Ngô Quốc Phương trong danh sách cựu sinh viên của Khoa tiếng nước ngoài, và cũng đã được đăng trong cùng trang mạng này.

Với tư cách là một sinh viên học ngoại ngữ, chúng em xin thú thực, ở Việt Nam, phần lớn sinh viên theo học các ngành ngoại ngữ chỉ mới được học một vốn ngôn ngữ tối thiểu, đủ để làm một loại “thông ngôn” vào cỡ ... “dưới trung bình” thôi, cái nền văn hóa trong chương trình đào tạo ngoại ngữ quá mỏng, trong khi, đáng ra, dạy ngôn ngữ của một dân tộc phải là ... chuyển tải cho sinh viên cái nền văn hóa của cả hai dân tộc: dân tộc mình và dân tộc đó. Vì vậy, vốn hiểu biết quá mỏng về lịch sử và về dân tộc của chị Bích như thể hiện trong bài báo cũng là lẽ đương nhiên thôi.

T.N.L.A.

(Một sinh viên đang theo học một ngành ngoại ngữ ở Hà Nội)

Nhân ngày Quốc khánh nói chuyện quốc kỳ

Huỳnh Ngọc Chênh
clip_image001Sắp đến ngày quốc khánh, tôi nhớ đến chuyện treo cờ nên đi tìm lá quốc kỳ, sửa soạn lại cho tươm tất để chuẩn bị treo lên chào mừng ngày vui của cả nước.
Trong lúc giũ bụi và vuốt phẳng lá quốc kỳ tôi nhớ lại chuyện xảy ra vào sáng Chủ nhật vừa rồi tại một quán cà phê ở khu vực Bưu điện và nhà thờ Đức Bà.
Sáng hôm đó tôi ngồi cà phê một mình tại quán ấy. Cạnh bàn tôi có một nhóm 5, 6 thanh niên. Họ nói rất nhiều chuyện nhưng tôi không chú ý. Đến khi bên ấy vang lên mấy từ cờ tổ quốc thì tôi dừng suy nghĩ, lắng tai nghe.
- Tao thách đứa nào mang cờ tổ quốc đi qua đi lại trước nhà Văn hóa Thanh Niên hai vòng tao thưởng lớn. Một thanh niên trong bàn nói.
Cả bàn nhao nhao lên:
- Ừ đứa nào mang được cờ đi qua lại chỗ ấy hai lượt thì cả bàn góp tiền lại đãi một chầu ăn uống thịnh soạn trưa nay. Đứa nào dám không?
Tôi nhìn qua thấy rất nhiều tiếng nhộn nhạo nhưng không thấy ai đứng lên nhận lời. Tất cả đều ngồi im re rồi rụt cổ, lè lưỡi lắc đầu.
clip_image003
clip_image005
Rồi nhớ lại vừa rồi có đọc một bài trên blog Anh Vũ của nhà giáo Phương Anh. Chị ấy kể trong một chuyến đi công tác Hà Nội có tình cờ đi theo và nhập vào đoàn "tụ tập đông người" chống Trung Quốc. Chị được anh em trong đoàn phát cho một lá cờ tổ quốc để cầm. Nhưng gặp đúng hôm đó đoàn biểu tình bị trấn áp. Nhiều người bị dồn lên xe buýt, nhiều người khác bị cưỡng chế thô bạo, trong đó có anh Nguyễn Chí Đức bị khiêng lên xe và bị đạp vào mặt như bao nhiêu người đã biết. Đoàn biểu tình bị giải tán. Chị Phương Anh viết:
"Đến nỗi khi đoàn biểu tình bị chia cắt, giải tán, thì lá cờ tổ quốc mà trước đó tôi cầm chung với người khác cuối cùng nằm một mình trong tay tôi. Và tôi vội gấp nhỏ lá cờ ấy lại, cất vào trong túi mà lòng thì vô cùng sợ hãi, thực sự thế. Kèm một ý nghĩ chua chát thoáng qua trong đầu: tôi mang cờ tổ quốc, mà sao sợ hãi như đang mang hàng quốc cấm?".
clip_image006
clip_image007
clip_image008
Vuốt ve lá quốc kỳ đã bạc màu tôi chợt nhớ lại, lá cờ nầy đã từng theo tôi nhiều lần xuống đường trong những cuộc tụ tập vô cùng đông người. Những lần ấy tôi hiên ngang cầm lá cờ nầy vẫy thật cao cho nó tung bay phần phật trong gió một cách đầy tự hào và hãnh diện khi ngồi đàng sau xe của thằng con trai của tôi. Những cuộc tụ tập đó đông đến cả hàng vạn người. Quốc kỳ quấn trên người, đội trên đầu, cắm trên xe, cầm trên tay... đỏ rực và tràn ngập khắp mọi nẻo đường Sài Gòn. Những lúc đó, cờ cũng bay rợp trời theo đoàn người tụ tập vô cùng đông đảo ở Hà Nội, Đà Nẵng, Huế, Nha Trang, Cần Thơ... Hầu như thành phố nào cũng có cảnh tụ tập vô cùng đông người. La hét thoải mái, hoan hô đả đảo lộn xà ngầu cho đến tận 1, 2 giờ sáng mới chịu tan hàng. Chẳng thấy ai buộc giải tán. Sướng thật. Ấy là những lần đội tuyển bóng bá VN giành được ngôi vô địch.
Bây giờ lo thật, mùa SEAGAME tới đây nhỡ như đội tuyển bóng đá VN vô địch thì sẽ không còn được tụ tập đông người nữa. TP HCM cấm tiệt, Hà Nội cũng ra văn bản cấm tụ tập đông người, và cả ông Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh cũng qua cam kết với Trung Quốc rằng dứt khoát không cho tái diễn cảnh tụ tập đông người nữa. Khổ thật!
Tôi dựng lá cờ vào góc rồi cảm thán: Quốc kỳ ơi, ngươi không còn được ngạo nghễ phất cao giữa đường phố Việt Nam nữa rồi.
H.N.C.

Thị trường “bán… nước”

01/09/2011   

Hành Khất
-
Trong lãnh vực thương mại, khi muốn bán được những hàng hóa người ta thường hay quảng cáo qua những phương tiện truyền thông, từ tờ giấy in, báo chí, truyến hình, phim ảnh, mạng v.v., ngay cả rỉ tai đến những người mới quen biết. Tuy nhiên, có một biệt lệ riêng trong vấn đề thương mại là “không nên quảng cáo” nhưng vẫn thu được lợi, mà lại là món lợi to lớn hơn những danh hiệu nổi tiếng khác. Biệt lệ đó chỉ dành riêng trong thị trường “bán nước”.
Trong thị trường đó, nếu nhiều người biết đến, thì không thể phát triển vấn đề trao đổi mua bán giữa hai đối tác chính; nên cần sự bí mật, giữ kín, và làm sai lạc cảm nhận về thông tin đối với người tiêu thụ. Hay nói đúng ra, họ là những người “phải chịu tiêu thụ” vì không thể có sự lựa chọn nào khác. Và không những thế, họ phải tỏ ra rất hài lòng với những sản phẩm được cung cấp theo quy hoạch một cách có hệ thống. Một khi những sản phẩm đó được tung ra rộng rãi, những hội đoàn bên trong thị trường đó rầm rộ phát động những phong trào tuyên truyền quảng cáo một cách tích cực. Người tiêu thụ bị thu hút quay cuồng như lạc vào con xoáy, và càng lúc càng mê mẩn tâm thần hơn, như đang say thuốc phiện hay bạch phiến. Cái ảo tưởng tuyệt vời đó vẫn tồn tại lâu dài từ thế hệ nầy qua thế hệ khác, họ hồ hởi thi nhau hưởng thụ và cổ động những ai chưa biết qua, trong cũng như ngoài nước.
Quả thật đó là một sự thành công lợi lộc nhất trong lãnh vực thị trường bán nước, mà đảng đang tận dụng rất điêu luyện. Đó là cả một thời gian dài trong kinh nghiệm và học hỏi từ các nước “bạn” như Liên Sô, Trung Cộng. Để có thể hiểu và nhìn thấy qua một góc nhìn nhỏ nhoi nhất, chúng ta thử xem lại câu phát biểu của Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, bên lề cuộc Đối thoại với báo chí tại Hội nghị An ninh châu Á – Thái Bình Dương lần thứ 10 (Đối thoại Shangri-La 10) tổ chức tại Singapore, trong bản tin của http://vietbao.vn, “Tướng Nguyễn Chí Vịnh nói về đề nghị thay tên biển Đông” ra ngày Thứ hai, 06 Tháng sáu 2011:
“Tôi khẳng định, Việt Nam không hoạt động ở những vùng biển đang tranh chấp. Đó là những vùng hoàn toàn thuộc chủ quyền Việt Nam. Ví dụ như vụ việc của tàu Bình Minh 02, ngay sau khi sự việc xảy ra, tàu đã khắc phục sự cố và tiếp tục hoạt động thăm dò. Hải quân nhân dân Việt Nam có nhiệm vụ bảo vệ vùng trời, vùng biển của Việt Nam. Tuy nhiên, những vụ việc liên quan tới trách nhiệm dân sự, sẽ do những cơ quan pháp luật giải quyết vấn đề này”.
Nếu những vùng biển đang tranh chấp đó hoàn toàn thuộc chủ quyền Việt Nam (VN), thì tại sao VN không thể hoạt động ở những nơi đó ? Hoạt động không có nghĩa là phải đưa quân đội ra dàn trận; như thế chỉ làm nhọc công bộ đội hải quân, và nhất là đến vị Thứ trưởng Quốc phòng, lại bị hiểu lầm là hiếu chiến. Và nếu xét sự việc dây cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 bị tàu Trung cộng cắt là chỉ là vấn đề dân sự, thì có phải chăng tập đoàn dầu khí VN hoàn toàn không có sự đầu tư của nhà cầm quyền VN ? Vì lý do đó, sự xét xử là do cơ quan pháp luật… dân sự giải quyết (?) thì không cần đem cái luật UNCLOS quốc tế ra bàn cãi chi cho mệt. Mà có gì phải đem cái luật quốc tế đó ra, khi thị trường bán nước đang quan hệ tốt. Đó có phải là một sự nhìn nhận mặc nhiên quyền sở hữu của trung cộng trước thế giới, dù chưa có văn bản nghị quyết ? Điều nầy cũng đã cho biết tại sao những con thuyền của ngư dân luôn bị bắt bớ, phá vỡ, thậm chí họ bị giết chết, cũng chỉ là vấn đề… dân sự với Trung cộng; nên không bao giờ có sự bao che, bảo vệ hay tiềng nói phản đồi từ quân đội hải quân VN.
Trong thương trường, dịch vụ làm vừa lòng người mua luôn là điểm quan trọng. Sự phục vụ đó bày tỏ lòng hiếu khách, cũng như mua chuộc sự mến mộ, ưa thích của đối phương. Thí dụ, khi khách đặt mua vài ngàn áo lông mắc tiền, và yêu cầu nhãn hiệu trên đó là của công ty nhập hàng. Qua thương lượng vì lợi ích giữa hai bên, nên khách hàng được như ý. Và điều nầy cũng không ngoại lệ trong thị trường bán nước, mà chúng ta có thể hiểu qua lời phát biểu trước đó của vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng qua câu hỏi của báo chí theo nguyên văn như sau:
- (Phóng viên):” Tôi được biết một nhóm người Việt ở Ca-li-pho-ni-a (Mỹ) có vận động đề nghị đổi tên Biển Đông mà tiếng Anh là South China Sea (biển Hoa Nam) thành Southeast Asia Sea (biển Đông Nam Á). Tôi thắc mắc, liệu đây có phải là nguyện vọng chung của toàn dân Việt Nam?”
(Thứ trưởng Bộ Quốc phòng) : “Cùng một vùng biển, Trung Quốc gọi biển Hoa Nam, chúng tôi gọi Biển Đông. Đó chỉ là cái tên gọi. Còn đề nghị từ một nhóm người Việt Nam nào thì tôi cho đó cũng là xuất phát từ lòng yêu nước, nhưng tôi không cho đấy là một vấn đề lớn. Tôi không cho đó là nguyện vọng chung của Việt Nam. Việt Nam chỉ có một nguyện vọng là vùng biển nào theo luật pháp quốc tế là của Việt Nam thì phải được thừa nhận là lãnh thổ Việt Nam.”
Chắc chắn một điều là vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng ta, nghe và hiểu được câu tiếng Anh “South China Sea”, vì với cương vị đó, không ai dám nói vị Thứ trưởng… không biết đến một tên gọi thông thường trên bản đồ thế giới như thế. Hai chữ “thông thường” ở đây có nghĩa là hàng chữ “South China Sea” luôn luôn được viết trên bản đồ, theo thói quen tên gọi của Tây phương để chỉ về một vùng biển trong vùng Đông Dương, mà không có hàm chứa ý nghĩa nào về chủ quyền thuộc về Trung Quốc (hay trung cộng theo tên gọi hôm nay). Tuy nhiên, không bao giờ thấy hai chữ “Biển Đông” – được dịch ra là “Southeast Asia Sea” – trên bất kỳ bản đồ thế giới nào.
Dĩ nhiên, dân Việt Nam muốn gọi tên vùng biển đó ra sao cũng được, hay dân Trung Quốc gọi thế nào cũng chẳng sao, như vị Thứ trưởng nói ở trên. Nhưng vấn đề trong câu hỏi không phải chỉ đơn giản như vị Thứ trưởng đã nghĩ như thế, mà là vấn đề xác minh lại tên gọi trong tất cả bản đồ trên thế giới, khắp mọi nước, trong tất cả học viện, giáo dục, nghiên cứu khoa học, kinh tế, luật, hành chánh, v.v. Đó là một nghị định ảnh hưởng sâu rộng theo chiều dài lịch sử của nhân loại và tương lai. Một sự thay đổi nhận thức đúng ý nghĩa theo tên gọi vùng biển đó, không chỉ giới hạn trong hai nước Việt Nam và Trung Quốc qua nhiều thế hệ sau nầy. Hơn nữa, dòng chữ “Southeast Asia Sea” được dịch lại theo xác chữ và nghĩa của hai từ “Biển Đông”  – như theo ý muốn tên gọi mà Thứ trưởng muốn – hơn là “South China Sea”:
Thứ nhất, trong dòng chữ “South China Sea” không có chữ nào có nghĩa hướng Đông (East). Thứ hai, nó mang chữ “China” (Trung Quốc) lại càng làm sai lạc hai từ “Biển Đông”. Thứ ba, trong dòng chữ “Southeast Asia Sea” chỉ định rõ phương hướng vùng biển đó qua từ “Southeast” (Đông Nam) và xác minh vị trí trong vùng Á Châu qua từ “Asia” (Á Châu). Cũng như danh từ “Đông Nam Á” (Southeast Asia) tự nó đã nói lên ý nghĩa chính xác nhất theo địa lý, mà dân Việt Nam, cả người ngoại quốc, đang dùng trong sách.
Đi xa hơn nữa, khi dòng chữ “South China Sea” được Trung cộng dùng như một lợi khí trong vấn đề tranh chấp chủ quyền biển Đông. Họ dựa vào đó và lý luận rằng vùng biển Đông đã được quốc tế hoá sự nhìn nhận chủ quyền thuộc về Trung cộng, với chữ “China” trong dòng chữ trên, dù không có văn bản chính thức. Để bày tỏ sự phản đối từ phía VN nói riêng, và cộng đồng khối ASEAN nói chung, nghị định thay đổi nêu trên cũng là một phương diện về mặt tâm lý chống lại sự đòi hỏi chủ quyền phi lý của Trung cộng. Và nếu được quốc tế nhìn nhận, thì đó cũng là một bước thắng lợi trong vấn đề tranh chấp.
Chữ “nếu” sở dĩ được đưa ra vì vị Thứ trưởng cho là nghị định thay đổi đó không phải là nguyện vọng chung của VN, dù nhà cầm quyền chưa bao giờ công bố và thăm dò dân ý. Có nghĩa, đảng đã quyết định dùm dân về nguyện vọng đó. Có lẽ, cũng chỉ vì nghị định đó là do… nhóm người Việt bên Cali nào đó, đã “cả gan” đưa ra mà không tham khảo ý và thông qua lệnh đảng, nên dù là một ý kiến hay, “xuất phát từ lòng yêu nước” (như vị Thứ trưởng nói), thì chẳng bao giờ được đảng nhất trí. Đó chỉ là nghị định của nhóm Việt “tài lanh” xen vào việc đảng! Không phải là đảng luôn giáo dục nhân dân qua câu nói “đừng lo, cứ để nhà nước lo” được lập đi lập lại từ trên thông suốt tận cùng quần chúng sao?
Trở lại vấn đề thương trường và nhãn hiệu qua thí dụ trên. Khách hàng Trung cộng trong thị trường bán nước, muốn giữ lại cái nhãn hiệu mà họ ưa thích nhất là “South China Sea” để phủ trùm những vùng hải đảo Hoàng Sa, Trường Sa, mà chúng là sản phẩm của VN. Vì vậy, VN luôn phải làm vừa lòng người khách trong chủ trương “cùng nhau phát triển”. Tuy nhiên, trên mạng vnexpress.net, ra ngày Thứ tư, 29/6/2011, với tiêu đề “Học giả Việt Nam nói về Biển Đông trên truyền hình Trung Quốc”, đăng lại nội dung của chính tác giả là tiến sĩ Vũ Cao Phan, về những đối đáp của ông với phỏng vấn viên Đài truyền hình Phượng Hoàng, Hong Kong, Trung Quốc, có đoạn như sau :
- (Phỏng vấn viên) : “Bản chất của sự tranh chấp Trung – Việt, theo ông, là vấn đề kinh tế hay chủ quyền? Việt Nam nhìn nhận nguyên tắc “gác tranh chấp, cùng khai thác” như thế nào?”
(Ts Vũ Cao Phan) : “Đây là một câu hỏi thú vị. Các sự kiện ở Biển Đông cho thấy có cả màu sắc tranh chấp về kinh tế lẫn tranh chấp chủ quyền. Quan sát khách quan thì thấy Trung Quốc có vẻ nghiêng về lý do kinh tế, còn Việt Nam nghiêng về lý do chủ quyền nhiều hơn. Cách nhìn vấn đề như vậy sẽ giải thích được tại sao Việt Nam không mặn mà lắm với việc “gác tranh chấp, cùng khai thác”.
Ta thử phân tích xem tại sao nhé. Và đây là ý kiến của cá nhân tôi thôi. Lý do thứ nhất là tài nguyên thì có hạn, một khi khai thác hết rồi điều gì sẽ xảy ra? Liên quan đến nó là lý do thứ hai: “gác tranh chấp, cùng khai thác” mà các bạn vừa nêu mới chỉ là một nửa lời căn dặn của ông Đặng Tiểu Bình mà nguyên văn là: “Chủ quyền của ta, gác tranh chấp, cùng khai thác”, có đúng không? Như thế có nghĩa là khi đã cạn kiệt tài nguyên khai thác rồi, Việt Nam chẳng còn gì và Trung Quốc thì vẫn còn cái cơ bản là “chủ quyền”! Mà những hòn đảo và vùng biển ấy đâu chỉ có giá trị về tài nguyên?”
Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng đã khẳng định theo đường lối đảng, như những cấp lãnh đạo khác, là Việt Nam theo đuổi chính sách giải quyết căng thẳng bằng đối thoại hòa bình. Qua bài viết trên http://vietbao.vn, với tiêu đề “Tướng Vịnh: Nếu bạo lực vũ trang thì QĐ sẽ tham gia”, ra ngày Chủ nhật, 05 Tháng sáu 2011, cũng trong cuộc phỏng vấn với báo chí tại diễn đàn an ninh châu Á – Thái Bình Dương ở Singapore,
- (Phóng viên) : “Thưa Trung tướng, trong tất cả các cuộc họp từ khi diễn đàn khai mạc tới nay, vấn đề biển Đông luôn được nhắc đến với hàm ý không đồng tình về sự vô lý của Trung Quốc (TQ). Ông có nghĩ rằng, ngay tại hoặc sau diễn đàn, TQ sẽ có những điều chỉnh phù hợp?”
(Thứ trưởng Bộ Quốc phòng) : ” … Tiếng nói của cộng đồng quốc tế tại đây, theo tôi hiểu, là họ nói vấn đề chung đó, rằng đây là “sân” chung, trước hết phải tôn trọng chủ quyền của các nước theo luật pháp quốc tế, không ai được quyền giữ làm “sân” riêng của mình, không ai được quyền khống chế biển Đông, không ai được quyền tài phán ở các khu vực tranh chấp.
Tôi nhắc lại, đưa ra tòa án quốc tế cũng là một lựa chọn. Nhưng trước hết và sau cùng vẫn là giải quyết với TQ. Và vì vậy, sự lựa chọn của Đảng và Nhà nước ta sẽ giải quyết được vấn đề, dù là rất lâu dài.
Trước hết, TQ đâm tàu, cắt cáp của ta, ta phản đối, đòi bồi thường, sửa xong ta lại tiếp tục thăm dò ở chỗ ấy, ta có bỏ chỗ ấy đâu!”
Vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng dường như… hay “quên” những gì đã phát biểu trước đó, làm người đọc thêm nhiều nghi vấn, hay là vị Thiếu tướng ta chưa có một định kiến rõ ràng về vấn đề chủ quyền vùng quần đảo, nên lúc bấy giờ còn xem đó chỉ là “sân” chung (?), và tin tưởng trong vấn đề giải quyết song phương với Trung cộng, như là sự thương lượng mặc cả trong thương trường, kẻ bán người mua, kẻ trao người đổi, thêm hai bớt một, hơn là đưa ra trước quốc tế phân giải. Trong những “gặt hái” vừa qua, giữa những thương lượng song phương với Trung cộng, từ Hiệp ước biên giới (30/12/1999) đến Hiệp định Vịnh Bắc bộ (25/12/2000), đảng đã “chia sẻ” với Trung cộng bằng những dãy đất, và thác “biếu không”, và Vịnh Long Vĩ cũng “nhờ” nước bạn giữ hộ, bao gồm vùng đánh cá đặc quyền của VN.
Sự quấy phá tàu Bình Minh 02 từ phía Trung cộng, được xem như là một sự “lầm lẫn” nào đó, “vô tình” gây nên sự bức xúc từ dư luận VN. Đó không phải là một sự sỉ nhục về thể diện quốc gia, như bọn “kích động” hay rêu rao, lợi dụng thời cơ phá hoại, bôi nhọ “16 chữ vàng”. Đảng cũng đã lên tiếng… than phiền nước bạn bằng văn thư, như một biện pháp phản đối đủ tích cực (“…Tóm lại, tôi muốn nói, hãy nhìn sự kiện 26/5 một cách tích cực về phía VN”), vì kèm theo đó, là sự đòi hòi bồi thường (dù Trung cộng không buồn trả lời VN, hay nói đúng hơn là không thèm điếm xỉa đến văn thư đó).
Để minh chứng cho thái độ của mình, nên ngày 9/6/2011, Trung cộng lại tái diễn màn cắt dây cáp thăm dò dầu khí của tàu Viking II phía VN mướn, trước mặt vị thuyền trưởng ngoại quốc, với một kỹ thuật điêu luyện hơn lần trước.
(Xin được ngừng lại ở đây để nhảy đến phần kết luận một cách vội vã hơn, vì nếu viết thêm, chắc chắn sẽ dài hơn 10 trang, và vì còn quá nhiều chi tiết khó có thể khơi ra hết trong vài ngàn chữ. Và nhất là khiến bạn đọc mệt mỏi)
Thị trường bán nước luôn nóng bỏng, dù nó được che đậy rất kín đáo bằng nhiều hình thức khác nhau tùy theo tình hình thay đổi, và qua những ngữ vựng được sử dụng một cách khéo léo trong những lời phát biểu trước báo chí, để đánh lạc hướng những cái nhìn dư luận, và sự tò mò của những kẻ phản động. Thật ra, thị trường nầy đã hình thành từ lâu đời, để thoả mãn vấn đề cung cầu. Vì vậy dù hình thức có nhiều thay đổi, nhưng trong cùng mục đích là làm sao thu được nhiều lợi nhất, qua bản chất vẫn giống nhau là bán nước.
© Hành Khất

CỰU CHỦ TỊCH QUỐC HỘI NGUYỄN VĂN AN: BA VẤN ĐỀ CỐT LÕI KHI SỬA HIẾN PHÁP

Thu Hà (lược ghi)
Cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An hi vọng lần sửa đổi Hiến pháp này sẽ bàn kĩ 3 vấn đề cốt lõi: Dân được quyền phúc quyết Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp để đúng nghĩa là người chủ đất nước; Quyền của nguyên thủ quốc gia cần được tập trung hơn; Phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước cần được cân bằng hơn để phòng ngừa lạm quyền và thoái hóa quyền lực.
LTS: Văn kiện Đại hội Đảng XI vừa qua đã nêu rõ chủ trương sửa Hiến pháp theo hướng đổi mới nhận thức về nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp một cách rành mạch và kiểm soát lẫn nhau, xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tịch nước để thực hiện đầy đủ chức năng nguyên thủ quốc gia…
Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường mới đây khẳng định: đã đến thời điểm chín muồi để sửa đổi Hiến pháp và tư tưởng pháp quyền buộc phải có cách thức viết Hiến pháp khác, không thể “ôm đồm”, “dài dòng” như hiện nay. Ông cho rằng, đổi mới nhận thức về nhà nước pháp quyền chính là cơ sở chính trị để các học giả, nhà nghiên cứu hiến kế cho việc xây dựng một bản hiến pháp theo đúng nghĩa hiến pháp của một nhà nước pháp quyền.
Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam lược ghi lại cuộc trò chuyện với nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An về việc tu chính Hiến pháp 1992 sắp tới.
Dân phải được phúc quyết Hiến pháp
Sửa đổi Hiến pháp là một cơ hội sinh hoạt chính trị dân chủ sâu rộng trong toàn dân, toàn dân có được hưởng quyền lợi và làm nghĩa vụ tham gia ý kiến và phúc quyếthay không?
Nếu nhân dân được tham gia và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này thì đây là một cơ hội to lớn do ta tạo ra để thúc đẩy mạnh mẽ và toàn diện công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tôi hy vọng là như vậy.
Nếu nhân dân không được tham gia và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này thì chúng ta lại bỏ lỡ mất cơ hội vô cùng quan trọng.
Kinh nghiệm các lần sửa đổi Hiến pháp trước đây là như vậy. Chúng ta đã sửa đổi Hiến pháp nhiều lần rồi song chưa đáp ứng lòng mong đợi của nhân dân, nhân dân chưa có quyền phúc quyết Hiến pháp mà lẽ ra quyền phúc quyết Hiến pháp là quyền đương nhiên của người dân dưới chế độ dân chủ cộng hòa.
Trước tiên tôi muốn nhấn mạnh rằng chúng ta đã sửa đổi Hiến pháp nhiều lần rồi mà vẫn chưa đạt yêu cầu. Nếu tính từ năm 1946 đến 1992 là 46 năm, ta đã sửa đổi lớn 3 lần vào các năm 1959, 1980 và 1992. Đó là chưa kể nhiều lần chúng ta sửa đổi nhỏ khác.
Sửa đổi như vậy là nhiều lần rồi, song dân chưa được phúc quyết lần nào. Hiến pháp 1946 quy định dân phúc quyết Hiến pháp song dân cũng chưa được phúc quyết vì chiến tranh đã xảy ra ngay sau đó.
Còn Hiến pháp sửa đổi 1959 lại quy định Quốc hội có quyền lập Hiến và lập Pháp. Thay đổi quan trọng đó do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân bất khả kháng là đất nước trong tình trạng chiến tranh và chia cắt hai miền Nam – Bắc; rồi chịu ảnh hưởng của mô hình cộng hòa Xô Viết,…
Tuy vậy, chúng ta cần hiểu bản chất của thể chế cộng hòa hay dân chủ cộng hòa là quyền lập hiến phải thuộc về nhân dân, mà trực tiếp là cử tri cả nước.

Nguyên Chủ tịch QH Nguyễn Văn An.
Cho nên, không thể đặt Hiến pháp ngang hàng với các bộ luật khác do Quốc hội thông qua. Hiến pháp là bộ luật cơ bản, luật gốc, luật mẹ được Quốc hội lập hiến thông qua và nhân dân phúc quyết nên rất ổn định, đặc biệt là những vấn đề cơ bản của Hiến pháp, như thể chế chính trị, ai là chủ đất nước, quyền của người chủ đất nước là những gì; ai là nguyên thủ quốc gia, quyền của nguyên thủ quốc gia là những gì?; vấn đề phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước…
Ai là chủ đất nước?
Thứ hai, tôi cho rằng các lần sửa đổi Hiến pháp sau này có một vài vấn đề cốt lõi lại xa rời hoặc lại không rõ ràng bằng Hiến pháp năm 1946 – Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Có nhiều vấn đề, ở đây tôi chỉ đề cập tới 3 vấn đề cốt lõi:
Đầu tiên, Hiến pháp phải làm rõ AI LÀ CHỦ ĐẤT NƯỚC? NGƯỜI CHỦ ĐÓ CÓ NHỮNG QUYỀN GÌ? Với câu hỏi này, có thể nhiều người sẽ nói ngay rằng Dân làm chủ chứ ai. Đúng. Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp và Pháp luật của nhà nước đều khẳng định như vậy. Quốc hiệu của Việt Nam đã ghi rất rõ: “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Thể chế chính trị là Dân chủ Cộng hòa, khác hoàn toàn với Quân chủ.
Do vậy, người chủ đất nước không phải là Vua nữa mà chính là Dân (không phân biệt thành phần, giới tính, giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo…).
Song quy định cụ thể về quyền làm chủ trực tiếp của người dân thì còn quá ít, nhất là quyền phúc quyết Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia thì các Hiến pháp sửa đổi sau này lại ghi khác hoàn toàn với Hiến pháp năm 1946:
Điều 21 của Hiến pháp 1946 quy định: “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, theo Điều 32 và Điều 70″.
Điều 32 của Hiến pháp 1946 quy định: “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa nhân dân phúc quyết, nếu 2/3 tống số nghị viện đồng ý”.
Điều 70 của Hiến pháp 1946 quy định: “Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây… Khi được nghị viên ưng chuẩn, phải đưa ra toàn dân phúc quyết”.
Những quy định trên đây của Hiến pháp 1946 có nghĩa rằng quyền lập Hiến hoàn toàn thuộc về toàn dân, thuộc về nhân dân, mà trực tiếp là cử tri cả nước.
Hiến pháp 1946 không có một điều nào, một ý nào quy định quyền lập Hiến thuộc về Quốc hội.
Các Hiến pháp sửa đổi sau này laị quy định Quốc hội có quyền lập Hiến:
Điều 43, 44 và 50 của Hiến pháp 1959 ghi: “Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, là cơ quan duy nhất “có quyền lập Pháp”, có quyền “làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp”.
Điều 6 của Hiến pháp 1980 quy định: “Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”.
Điều 82 của Hiến pháp 1980 và Điều 83 của Hiến pháp 1992 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập Hiến và lập Pháp”…
Chúng ta nhận thấy ngay rằng đã có sự thay đổi rất lớn, rất cơ bản về quyền lập Hiến từ Dân đã được chuyển sang Quốc hội.
Câu hỏi đặt ra là ai có quyền chuyển quyền đó? Câu trả lời rõ ràng là chỉ có Dân mới có quyền đó. Song Dân chưa có văn bản nào chuyển quyền lập Hiến của Dân sang Quốc hội cả, mà là do chính Quốc hội tự quyết định giao quyền lập Hiến cho mình.
Có thể nói đơn giản thế này: Ai là người có quyền tối hậu trong lập Hiến thì người đó là người chủ đích thực của đất nước. Từ chỗ Dân làm chủ trực tiếp trong lập Hiến, chuyển sang chỗ Dân làm chủ gián tiếp thông qua Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của Dân. Như vậy có thể nói, từ Dân làm chủ đích thực chuyển sang Quốc hội thay mặt cho dân làm chủ.
Đó là sự thay đổi, sự xa rời rất lớn, rất cơ bản về người chủ đích thực của đất nước.
Quốc hội vừa lập hiến, vừa lập pháp, người ta gọi như thế là vừa đá bóng, vừa thổi còi.
Dân làm chủ có nghĩa là Dân phải quyết trực tiếp thể chế quốc gia, tức là Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, rồi Dân giao cho Nhà nước và giám sát Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ và Tòa án) quản lý đất nước theo Hiến pháp và những quyết định đó của Dân. Như vậy Dân mới làm chủ đích thực.
Đây là vấn đề xa rời bản chất dân chủ của nhà nước, cả về pháp lý, cả về thực tiễn. Như trên đã nói, do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân bất khả kháng, vì vậy, chúng ta đã chuyển từ Dân chủ thành Quốc hội chủ. Song về thực chất thì Quốc hội cũng còn nhiều hình thức.
Hiện nay khoảng 90% đại biểu Quốc hội là đảng viên. Do vậy mà nhiều người cho rằng, về hình thức thì Quốc hội quyết, song thực chất là Đảng quyết . Quyết định của Quốc hội chỉ là quyết định mở rộng trong nội bộ Đảng. Như vậy là từ Dân chủ đầy đủ chuyển sang Quốc hội chủ một phần, Dân chủ một phần, song cả Dân và Quốc hội đều còn nhiều hình thức nên nhiều người cho rằng Đảng mới thực quyền. Thực tế đó cho thấy, quyền của Dân – của người làm chủ còn bị phân tán quá lớn.
Nói cho dễ hiểu, ai làm chủ đất nước thì người đó phải có hai điều kiện, hai quyền thực chất tối thiểu là:
a/ – Bầu cơ quan đại diện cao nhất cho mình (Quốc hội) để bầu cử ra các cơ quan Nhà nước,
b/ – Phúc quyết Hiến pháp để giao quyền của Dân cho các cơ quan Nhà nước thực thi.

Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Chúng ta nói nhiều về Dân chủ, rằng nhân dân ta là người chủ đích thực của đất nước, rằng nhà nước ta là nhà nước của Dân, do Dân và vì Dân,… song những quyền tối hậu của người Dân thì lại chưa được quy định cụ thể và đầy đủ trong các Hiến pháp sửa đổi sau Hiến pháp 1946.
Ngay Hiến pháp 1946 tuy đã qui định rất rõ quyền lập Hiến thuộc về nhân dân, song cũng không thực hiện được trong thực tiễn vì lý do bất khả kháng là chiến tranh đã nổ ra ngay sau đó.
Từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, nhân dân ta là người chủ đất nước, song Nhà nước ta chưa một lần nào hỏi ý kiến Dân với tính chất là trưng cầu dân ý cả. Nhân dân ta chủ yếu mới làm chủ gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện như Quốc hội và HĐND các cấp, nhân dân mới làm chủ trực tiếp trong bầu cử trưởng thôn, bầu cử đại biểu QH và HĐND các cấp. Như vậy chưa đúng với quyền và nghĩa vụ của người Dân trong thể chế Dân chủ Cộng hòa trong điều kiện hòa bình và thống nhất đất nước như hiện nay.
Nếu Dân được phúc quyết Hiến pháp thì Hiến pháp chính là văn bản pháp lý quan trọng nhất của Dân trao quyền lực của Dân cho Nhà nước.
Ngược lại, nếu Dân chưa được phúc quyết Hiến pháp thì cũng có nghĩa là Dân chưa trao quyền lực của Dân cho Nhà nước bằng một văn bản pháp lý cao nhất là Hiến pháp.
Sửa đổi Hiến pháp lần này cần giao lại quyền phúc quyết cho dân như Hiến pháp 1946 đã quy định cho đúng với bản chất của thể chế cộng hòa hoặc dân chủ cộng hòa, hoặc cộng hòa xã hội chủ nghĩa.
Quyền lực của nguyên thủ quốc gia bị phân tán 3 nơi
Vấn đề thứ hai là việc xác định: AI LÀ NGUYÊN THỦ QUỐC GIA? VÀ NGƯỜI ĐÓ CÓ NHỮNG QUYỀN GÌ?
Vấn đề này Hiến pháp 1946 ghi rất rõ, và Nhà nước ta khi đó thực hành cũng rất tốt.
Các Hiến pháp sửa đổi sau này lại không rõ ràng bằng Hiến pháp 1946, và trong thực hành cũng rất lúng túng.
Theo quy luật tự nhiên, đàn chim bao giờ cũng có chim đầu đàn, đàn trâu bao giờ cũng có trâu đầu đàn, dàn nhạc phải có nhạc trưởng,… Với một quốc gia cũng vậy, quốc gia nào cũng phải có một nguyên thủ.
Về quy định này, tại Điều 49 của Hiến pháp 1946 ghi cụ thể về quyền của Chủ tịch Nước như sau:
a, Thay mặt cho Nước…
b, Giữ quyền tổng chỉ huy quân đội toàn quốc…
c, Ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng….
d, Chủ tịch Hội đồng Chính phủ …
……………….
h, Ký hiệp ước với các nước….
Và Điều 50 của Hiến pháp 1946 cũng ghi: “Chủ tịch Nước không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc”.
Những quy định của Hiến pháp 1946 rất ngắn gọn, rõ ràng rằng Chủ tịch Nước là nguyên thủ quốc gia, đại diện cho Nhà nước về đối nội, đối ngoại; thống lĩnh các lực lượng vũ trang; và cũng là người đứng đầu cơ quan hành pháp là Chính phủ.
Nói cho dễ hiểu, nguyên thủ quốc gia phải có ba điều kiện, ba quyền thực chất tối thiểu như sau:
a, Thay mặt cho Nhà nước về đối nội cũng như đối ngoại,
b, Đứng đầu cơ quan hành pháp,
c, Thống lĩnh lực lượng vũ trang,
Các Hiến pháp sửa đổi sau này (1959, 1980, 1992) đều giảm nhẹ vai trò của Chủ tịch Nước, không rõ thực chất quyền của một nguyên thủ quốc gia. Điều đó không phải lỗi của vị Chủ tịch nước nào, mà chẳng qua là do các Hiến pháp sửa đổi sau này quy định như vậy:
Điều 6 của Hiến pháp 1959 quy định: “Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là người thay mặt cho Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về đối nội và đối ngoại”.
Điều 65 của Hiến pháp 1959 quy định: “Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thống lĩnh các lực lượng vũ trang trong toàn quốc, giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng”, song thực chất Tổng Bí thư mới là người thống lĩnh các lực lượng vũ trang.
Điều 66 của Hiến pháp 1959 quy định: “Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi xét thấy cần thiết thì triệu tập và Chủ tọa các phiên họp của Hội đồng Chính phủ”. Quy định như vậy là làm giảm nhẹ hẳn vai trò của Chủ tịch Nước trong cơ quan hành pháp so với Hiến pháp 1946.
Như vậy, các Hiến pháp sửa đổi sau này đều quy định không rõ ràng và không tập trung quyền của Chủ tịch nước bằng Hiến pháp 1946. Rõ ràng không có ai hội đủ ba điều kiện, ba quyền thực chất tối thiểu của một nguyên thủ quốc gia như Hiến pháp 1946.
Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương thống lĩnh lực lượng vũ trang song về pháp lý lại không thay mặt cho nhà nước về đối nội cũng như đối ngoại, cũng không đứng đầu cơ quan hành pháp.
Thủ tướng Chính phủ đứng đầu Chính phủ nhưng lại không đứng đầu đầy đủ cơ quan hành pháp và cũng không thống lĩnh lực lượng vũ trang.
Chủ tịch Nước thay mặt cho nhà nước về đối nội và đối ngoại nhưng trong thực tiễn lại không thống lĩnh lực lượng vũ trang, cũng như không đứng đầu đầy đủ cơ quan hành pháp.
Chúng ta dễ dàng nhận thấy ngay rằng quyền lực của một nguyên thủ quốc gia lại bị phân tán làm ba nơi, do ba người nắm giữ. Tức là ta có ba người thực thi quyền của một nguyên thủ trong điều hành thực tiễn, như thế có phân tán quyền của nguyên thủ quốc gia không? Tôi cho là quá phân tán.
Tới đây, chúng ta phải sửa đổi bổ sung Hiến pháp làm sao để chỉ có một nguyên thủ quốc gia, tập trung quyền hành pháp vào người đứng đầu để điều hành đất nước có hiệu lực và hiệu quả hơn.
Việc không rõ nguyên thủ quốc gia, không rõ con chim đầu đàn, không rõ nhạc trưởng, hậu quả thế nào thật dễ hiểu, dễ thấy.
Phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước
Cuối cùng là VẤN ĐỀ PHÂN CÔNG VÀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC. Phân công phải hướng tới cân bằng tương đối, phải rõ ràng, rành mạch; kiểm soát phải có chế tài, phải chặt chẽ, hiệu lực.
Phân công phải cân bằng thì mới có khả năng kiểm soát hiệu lực, kiểm soát hiệu lực nằm ngay trong sự phân công công bằng.
Nhìn lại lịch sử của thể chế quân chủ cho thấy, quyền lực tập trung vào nhà Vua, mà quyền lực bao giờ cũng có xu hướng lạm quyền, thoái hóa… Do đó mà triều đại nào lên, lúc đầu thường là được lòng người, sau lại thoái hóa, lại bị triều đại sau thay thế. Những sự thay thế đó thường diễn ra khi triều đại cũ đã quá thối nát, quá cản trở sự phát triển của xã hội và thường bị thay thế bằng bạo lực.
Chính vì thế mà thể chế cộng hòa hay dân chủ cộng hòa đã áp dụng sự phân công cân bằng và kiểm soát quyền lực để chống độc quyền, hạn chế sự lạm quyền và khi cần thì thay thế ê kíp cầm quyền một cách chủ động, kịp thời, thông qua tranh cử nghị viện.
Quyền lực dưới thể chế cộng hòa hay dân chủ cộng hòa không tập trung vào một người hay một lực lượng, cơ quan nào, mà phân công tương đối cân bằng cho ba cơ quan: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp (Quốc hội – Chính phủ – Tòa án): Quốc hội là cơ quan lập pháp cao nhất, Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất, và Tòa án là cơ quan xét xử cao nhất.
Nghiên cứu kỹ các Hiến pháp sửa đổi sau này (1959, 1980, 1992) thì thấy rằng những quy định để cân bằng và kiểm soát quyền lực lại không được rõ ràng và cân bằng như Hiến pháp 1946.
Ví dụ, Quốc hội có quyền lập Hiến, điều đó có nghĩa rằng quyền lực của Quốc hội vượt trội quá lớn so với các cơ quan hành pháp và tư pháp. Quốc hội có quyền phân công quyền lực cho cả các cơ quan hành pháp và tư pháp, và cho cả chính mình.
Đúng ra, quyền lập Hiến phải là quyền của Dân chứ không phải của Quốc hội. Do đó mà quyền của Dân cũng bị phân tán và yếu thế, không đúng với quyền của người làm chủ.
Hoặc quyền của nguyên thủ quốc gia bị phân tán ở ba nơi, điều đó cũng có nghĩa là quyền lực của cơ quan hành pháp quá yếu thế so với cơ quan lập pháp.
Còn quyền lực của cơ quan tư pháp thì sao? Trong thực tiễn thì nó yếu thế hơn các cơ quan lập pháp và hành pháp và còn bị chi phối trong xét xử.
Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, phân công quyền lực không cân bằng, không rõ ràng thì sự kiểm soát sẽ không có hiệu lực và hiệu quả. Tình trạng tham ô, lãng phí, quan liêu, cơ hội là những biểu hiện của sự lạm quyền và thoái hóa quyền lực rõ ràng nhất. Nó cũng là hậu quả của sự phân công và kiểm soát quyền lực chưa được cân bằng như quy định của Hiến pháp 1946.
Cân bằng và kiểm soát quyền lực là một cơ chế cực kỳ quan trọng trong Hiến pháp nhằm tránh sự lạm quyền và thoái hóa mà trong thể chế quân chủ chuyên chế đã bất lực. Tất nhiên không thể nói tuyệt đối được, vì thể chế nào cũng phải thông qua con người cụ thể. Nhưng có một cơ chế cân bằng và kiểm soát quyền lực cho ba cơ quan Nhà nước, sẽ tốt hơn rất nhiều so với cơ chế tập trung quyền lực vào một ông vua, hoặc vào bất kỳ một lực lượng, một cơ quan nào khác.
Cân bằng và kiềm soát quyền lực là một sự tiến bộ về khoa học và nghệ thuật cầm quyền, là một bước tiến của văn minh nhân loại về quyền lực nhà nước. Chính vì vậy, sửa đổi bổ sung Hiến pháp lần này phải quan tâm để làm rõ ràng hơn, hoàn thiện tốt hơn sự phân công cân bằng và kiểm soát quyền lực Nhà nước.
Tóm lại, ở đây nhấn mạnh có ba vấn đề cốt lõi cần được bàn kỹ trong đợt sửa Hiến pháp tới đây:
1/- Dân được quyền phúc quyết Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, để cho đúng nghĩa với thể chế Dân chủ Cộng hòa, Dân là chủ đích thực của đất nước.
2/- Quyền của nguyên thủ quốc gia cần được tập trung hơn, nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý, điều hành của cơ quan hành pháp.
3/- Phân công và kiểm soát quyền lực cần được cân bằng hơn, nhằm phòng ngừa sự lạm quyền và thoái hóa quyền lực, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và cơ hội trong hệ thống chính trị.
Tôi hy vọng tới đây, nhân dân ta sẽ được hưởng quyền và làm nghĩa vụ của người chủ đích thực của đất nước là: Tham gia ý kiến và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này.
Theo Tuần Việt Nam

GIÁ TRỊ ĐÍCH THỰC CỦA NỀN ĐỘC LẬP

Nguyễn Văn Đài, theo BBC
Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã giành được độc lập và có chủ quyền.
Để giành được độc lập dân tộc, nhiều dân tộc trên thế giới đã phải hy sinh xương máu của nhiều thế hệ.
Nền độc lập của một quốc gia là vô giá, nhưng điều quan trọng hơn cả là nhân dân phải được hưởng những thành quả đích thực mà nền độc lập đó mang lại.
Giá trị đích thực của nền độc lập là nhân dân có quyền làm chủ đất nước của mình bằng cách lựa chọn hay thay đổi quốc hội, chính phủ thông qua cuộc bầu tự do và công bằng.
Nhân dân có tự do ngôn luận, có quyền làm báo chí tư nhân, có quyền lập đảng, lập hội, hội họp, có quyền biểu tình hòa bình mà không bị đàn áp, bắt bớ…
Những dân tộc, những quốc gia may mắn trên thế giới là ngay sau khi giành được độc lập, họ đã tiến hành dân chủ hóa xã hội và xây dựng lên một hệ thống chính trị dân chủ đa đảng, tôn trọng phẩm giá con người và các giá trị của quyền con người.
Trên nền tảng căn bản đó, nền kinh tế của họ phát triển đúng hướng và mạnh mẽ nên đã đảm bảo cho nhân dân các nước đó có cuộc sống sung túc, quốc gia hùng mạnh về kinh tế, chính trị và quân sự.
Xã hội phát triển hài hòa và ổn định giúp cho người được hưởng thụ những giá trị đích thực của một quốc gia độc lập. Ví dụ như những nước trong khu vực châu Á như: Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan,…
Bức tranh Đông Âu
Có những dân tộc, quốc gia không may mắn thì sau khi giành được độc lập, những lực lượng lãnh đạo cách mạng đã phản bội lại nhân dân, họ đã không thực hiện dân chủ hóa xã hội, không xây dựng hệ thống chính trị dân chủ đa đảng, mà xây dựng nên một chính thể có thể là chính quyền độc tài, độc tài quân sự, hay chế độ độc đảng toàn trị.
Ở trong các chế độ này thì các quyền con người không được tôn trọng và hầu hết các quyền con người về chính trị bị hạn chế hoặc tước đoạt.
Ví dụ như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí: khi người dân chỉ trích hay phê phán chính quyền thì bị qui chụp tội danh tuyên truyền chống Nhà nước, quyền tự do làm báo của công dân bị tước đoạt nên không có các tờ báo tư nhân; khi người dân thực hiện quyền lập đảng, lập hội hay tham gia các đảng phái thì bị qui chụp tội danh hoạt động nhằm lật đổ chính quyền; khi người dân thực thi quyền biểu tình thì bị qui chụp tội danh phá rối trật tự nơi công cộng hay tội chống người thi hành công vụ…
Hệ quả là nhân dân các quốc gia này phải tiếp tục tiến hành cuộc cách mạng dân chủ để thay đổi các chế độc tài, độc đảng toàn trị bằng một chế độ dân chủ, tôn trọng các quyền con người.
Ví dụ ở các nước Đông Âu: sau Thế chiến thứ II, một loạt các nước Đông Âu thoát khỏi hiểm họa của chủ nghĩa phát xít và giành được độc lập.
Thay vì tiến hành dân chủ hóa xã hội, tôn trọng các quyền con người thì đảng cộng sản ở các nước này thực hiện chuyên chính vô sản, xây dựng chế độc đảng toàn trị.
Sau nhiều thập kỷ bị mất quyền làm người thì vào cuối thập niên 80 của thế kỷ 20, nhân dân các nước đông Âu đã đứng lên làm cuộc cách mạng dân chủ mà người ta còn gọi là Cách mạng nhung để thay thế các chế độc đảng toàn trị bằng các chế độ dân chủ đa đảng.
Kết quả là ngày nay các nước Đông Âu đang dần hội nhập toàn diện với các nước Tây Âu về kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao.
Độc lập và dân chủ
Ở các nước Trung Đông và Bắc Phi hầu hết đều là các quốc gia độc lập, nhưng nhiều chính thể ở các quốc gia đó là chính phủ độc tài hoặc độc đảng toàn trị.
Biểu tình ở Libya
Người dân Libya biểu tình chống chế độ độc tài
Sau nhiều thập kỷ phải chịu đựng sự cai trị hà khắc của các chế độ này thì gần đây nhân dân các nước Ai Cập, Tunisia đã đứng lên làm cuộc cách mạng dân chủ và đã thành công.
Nhân dân Libya cũng sắp thành công và sớm hay muộn thì cuộc cách mạng dân chủ ở Yemen và Syria cũng sẽ thành công.
Tuy nhân dân các nước này sẽ gặp những khó khăn ngắn hạn trước mắt, nhưng chắc chắn cuối cùng những giá trị đích thực của độc lập sẽ đến với họ.
Trên thế giới có gần 200 quốc gia độc lập, có chủ quyền. Nhưng không phải tất cả nhân dân các nước đều được hưởng những giá trị đích thực của nền độc lập.
Độc lập dân tộc phải gắn liền với tiến trình dân chủ hóa xã hội và tôn trọng các quyền con người thì nhân dân mới từng bước được hưởng những giá trị của nền độc lập.
Còn có độc lập dân tộc mà không có dân chủ thì nhân dân đã làm cuộc cách mạng vô ích để thay thế sự cai trị của giặc ngoại xâm bằng sự cai trị độc ác hơn và tàn bạo hơn của giặc nội xâm.
Ngày 2/9/2011, chúng ta sẽ kỷ niệm 66 năm ngày độc lập.
Quí vị nghĩ gì về hiện tình đất nước? Chúng ta phải làm gì để tất cả mọi người dân Việt Nam đều được hưởng những giá trị đích thực của nền độc lập?
Bài viết phản ánh quan điểm của tác giả, một luật sư bất đồng chính kiến hiện đang thi hành lệnh quản chế tại gia ở Hà Nội.

Điều 4 Hiến pháp – những bất cập

Quỳnh Chi-  2011-08-29

Điều 4 Hiến pháp vẫn được nói đến rất nhiều, điển hình là các buổi tọa đàm về “Chỉnh đốn để tồn tại và phát triển” trước đại hội 9 năm 2001. Lần này điều 4 Hiến pháp lại một lần nữa được quốc hội khoá 13 mang ra “mổ xẻ”.

Noi theo các nước Cộng Sản
Dịp thảo luận nhân đại hội 9 năm 2001, một số nhà lý luận đã nhận định rằng “điều 4 Hiến pháp đã đặt Đảng vào vị thế siêu quyền lực”. Nay điều 4 lại được đem ra trước diễn đàn Quốc hội trong dịp quốc hội bàn việc tu chính hiến pháp 1992.
Có thể nói điều khoản này của Hiến pháp là một trong những đề tài gây nhiều tranh cãi nhất, đặc biệt khi áp dụng vào những vấn đề trọng đại của quốc gia. Trong đó, điều luật xác định sự cầm quyền của Đảng Cộng sản cùng với ảnh hưởng của điều 4 trong đời sống dân chủ của người dân thường được nói đến nhiều nhất.
Khi chúng ta làm Hiến pháp 1980 cũng tham khảo qui định của Liên Xô và vận dụng vào hiến pháp của mình”.
nguyên Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn đình Lộc
Việt Nam không phải là nước đầu tiên hay duy nhất nói đến Đảng trong Hiến pháp. Mặc dù ngôn ngữ khác nhau nhưng hiến pháp các nước Liên Xô cũ, Trung Quốc, Bắc Hàn và Cuba cũng có những điều khoản nhằm khẳng định sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Thực chất điều 4 Hiến pháp 1980 được xây dựng dựa trên sự tham khảo điều 6 Hiến pháp Liên Xô. Việc này đã được khẳng định trong lời phát biểu của người từng tham gia xây dựng hiến pháp năm 1980 và 1992, nguyên bộ trưởng Bộ Tư pháp, ông Nguyễn Đình Lộc. Trong cuộc phỏng vấn với báo Tuổi Trẻ vào tháng 10 năm 2007, ông Lộc nói:
“Điều 6 hiến pháp năm 1977 của Liên Xô đã nói đến vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Khi chúng ta làm Hiến pháp 1980 cũng tham khảo qui định của Liên Xô và vận dụng vào hiến pháp của mình”.
Điều 4 Hiến pháp năm 1980 đã khẳng định “Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Điều 4 Hiến pháp Việt Nam 1992 xây dựng trên cơ sở điều 4 Hiến pháp 1980, chỉ bỏ đi từ “duy nhất” sau khi chủ nghĩa cộng sản Đông Âu sụp đổ.

“Ông vua tập thể”

Việc bỏ đi từ “duy nhất” xem ra không làm nhẹ đi sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, ở một xứ sở mà khái niệm đa đảng chưa được khuyến khích. Bằng chứng là nhiều vị quan chức về hưu, thậm chí còn tại vị đã phải lên tiếng khi điều khoản này đã tạo ra những lạm dụng quyền lực. Trong cuộc phỏng vấn với nhà báo Nguyễn Anh Tuấn trên Tuần Việt Nam năm ngoái, ông Nguyễn Đình Lộc cũng nói rằng “Liên Xô sụp đổ, cũng là lúc cái điều trong Hiến pháp về sự lãnh đạo của Đảng cộng sản được khẳng định rất mạnh mẽ”.
Không phải dân chủ nữa mà là đảng chủ rồi
Cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An
Cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An cũng đã phát biểu trong bài phỏng vấn với Tuần Việt Nam, số ra tháng 10 năm ngoái rằng
“Quyền lực nhà nước được phân công ra làm ba nhánh song lại thống nhất ở nơi Đảng. Vậy, Đảng trở thành ông vua tập thể rồi. Không phải dân chủ nữa mà là đảng chủ rồi”.
Một khi đã là ông vua tập thể, nếu quyền lực tập trung như thế, thì sự lạm quyền là tất yếu. Đó cũng chính là tư tưởng của thuyết Montesquieu, nền móng cho các Hiến pháp dân chủ, trong đó hiến pháp Hoa Kỳ được nhiều người công nhận là mô thức điển hình .
Việc quy định quyền lãnh đạo của Đảng trong hiến pháp tất nhiên tạo ảnh hưởng đến cả các bộ luật hay văn bản dưới luật cũng như gây ảnh hưởng trực tiếp đến các điều khoản, luật lệ khác trong hiến pháp.  Có thể nói không quá lời khi cho rằng hầu hết các điều trong Hiến pháp đều bị điều 4 chi phối, nghĩa là sự lãnh đạo của Đảng vẫn là tối thượng.
Tháng 10 năm 2007, khi có nhiều ý kiến về việc sửa đổi Hiến pháp, TS Uông Chu Lưu phó chủ tịch Quốc hội phát biểu rằng việc sửa đổi Hiến pháp “cần chờ đại hội Đảng toàn quốc để sửa đổi cương lĩnh…Bây giờ nếu chúng ta sửa Hiến pháp, rồi sau khi Đảng sửa cương lĩnh, lại đặt vấn đề sửa Hiến pháp nữa thì rất phức tạp”.
Phản biện trước ý kiến này, nguyên chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn An đã nói “Ai có quyền tối hậu trong Lập Hiến thì người đó là người chủ đích thực của đất nước”.  Như vậy phải chăng Đảng Cộng Sản, thực chất chỉ là một nhóm người được quy định tại điều 4 Hiến pháp, đã tước đi vai trò làm chủ thật sự của người dân?
Luật gia Lê Hiếu Đằng, phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam phát biểu:
“Ví dụ có những vấn đề Đảng lại quyết định trước rồi mới thông qua Quốc hội. Như vậy vai trò của QH không có ý nghĩa gì cả. Cho nên vấn đề này cần được minh bạch”.

Quyền lập hiến phải thuộc về toàn dân

Hiến pháp không phải là một văn bản bình thường. Hiến pháp qui định những điều căn bản của xã hội, trong đó bao gồm tự do, dân chủ, nhân quyền. Chính vì thế, quyền lập hiến chỉ thuộc về một bộ phận duy nhất là nhân dân, vì họ là người chủ đất nước thực sự. Điều 83 của Hiến pháp 1992 qui định “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền Lập Hiến và Lập Pháp”. 
Đây là một sự chuyển quyền mà theo cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An là “sự thay đổi rất lớn, rất cơ bản về quyền lập hiến từ dân đã được chuyển sang Quốc hội”. Trong khi đó thì Quốc hội luôn luôn nằm dưới sự lãnh đạo của Đảng bởi hơn 90% đại biểu Quốc hội là đảng viên. Ai cũng thấy được rằng một nước dù theo thể chế nào đi nữa thì mọi đảng viên của một đảng chính trị nào cũng phải theo chính sách của đảng ấy.
bây giờ người dân phải bầu (chọn hiến pháp) qua Quốc hội. Mà Quốc hội có đến hơn 90% là đảng viên rồi”  
Cổ động bầu quốc hội khóa 13, tháng 5-2011- AFP photo
Cổ động bầu quốc hội khóa 13, tháng 5-2011- AFP photo


luật gia phó chủ tịch UB Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Một trong hai nguyên tắc bắt buộc để xác định người chủ đất nước là việc bầu cơ quan đại diện cao nhất cho mình, tức Quốc hội. Thế nhưng ở Việt Nam người dân phải bầu chọn từ một danh sách được Mặt trận tổ quốc và Ban bầu cử đã chọn trước và đưa ra. Đảng Cộng sản coi Mặt Trận Tổ Quốc do đảng chọn ra cũng là đại diện của nhân dân, vậy liệu có phải các vị “nhân dân cấp cao” trong Mặt Trận lại được chọn ra danh sách ứng cử viên quốc hội để toàn dân chọn lại chăng? Ông Lê Hiếu Đằng, cho biết:
“Về vấn đề nhân sự, người dân phải bầu trực tiếp. Tuy nhiên, bây giờ người dân phải bầu (chọn hiến pháp) qua Quốc hội. Mà Quốc hội có đến hơn 90% là đảng viên rồi”.
Trong bài “Một chiến lược dân chủ hóa để chống tham nhũng” năm 2000, trung tướng Trần Độ từng nhận định rằng một khi đã nắm hết quyền mà không ai kiểm soát thì sẽ sinh ra tham nhũng. Về điều này, luật gia Lê Hiếu Đằng chia sẻ:
“Điều 4 cần được thể chế hóa thành luật quy định sự lãnh đạo của Đảng phải để người dân giám sát. Nếu không có giám sát thì Đảng dễ sinh ra tệ quan liêu, chuyên quyền, lạm quyền.

“Luật hóa” điều 4: chống lạm quyền

Chính vì thế, từ lâu, đã có những ý kiến về điều 4 Hiến pháp, trong đó có việc đề nghị luật hóa điều này. Gần đây nhất, GS.TS Nguyễn Minh Thuyết, nguyên ĐBQH cũng từng phát biểu rằng
“Còn riêng về điều 4, tôi cho là cần phải cụ thể hóa hơn nữa, để người dân cũng biết được sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với xã hội ở trong khuôn khổ pháp luật là nghĩa như thế nào. Và thậm chí cũng nên cụ thể hóa bằng một đạo luật”.
Theo điều 2 Hiến pháp, thì Nhà nước Việt Nam là một nhà nước pháp quyền, vậy nên nếu không thể chế hóa về mặt pháp lý sự lãnh đạo của Đảng, thì chẳng lẽ Đảng lại nằm ngoài vòng pháp luật hoặc đứng trên pháp luật? Ông Lê Hiếu Đằng nói thêm:
 “Nếu muốn tiến lên một xã hội dân sự, pháp quyền, thì phải như thế thôi. Mọi bộ máy trong hệ thống chính trị phải được người dân giám sát chặt chẽ, không loại trừ một ai. Như thế mới gọi là dân chủ”.
Nếu Đảng là đảng cầm quyền thì dĩ nhiên những chính sách và phương thức lãnh đạo của Đảng có mối quan hệ trực tiếp và sâu rộng với đời sống gần 90 triệu dân. Cho nên, nếu không có những biện pháp chế tài và kiểm soát của pháp luật thì lợi ích người dân trong tất cả các mối quan hệ xã hội từ chính trị, văn hóa xã hội, thể chế… sẽ bị ảnh hưởng theo hướng tiêu cực nhiều hơn tích cực, do xu hướng lạm quyền.
Suy cho cùng, các quy định của pháp luật, dù là đối với Đảng, không phải được đặt ra để ngăn cấm hay hạn chế, mà chính là tạo ra khuôn khổ để đảm bảo quyền lợi của người chủ thật sự của đất nước: đó là nhân dân.  Chính vì thế, mà đề nghị luật hóa điều 4 đã được nói đến. Việc này nhằm xác định những giới hạn trách nhiệm công việc, phương thức kiểm soát và chế tài khi cần thiết như ông Lê Hiếu Đằng chia sẻ:
“Mặc dù có điều 4 Hiến pháp nhưng nếu chính sách, chủ trương của Đảng không phù hợp thì sự lãnh đạo của Đảng cũng rất yếu và không có tác dụng nhiều”....“Và khi Đảng có những sai lầm thì cũng phải có những chế tài nhất định’.
Ông Nguyễn Minh Thuyết không phải là người đầu tiên và duy nhất nói đến luật hóa điều 4 Hiến pháp. Trong một đề tài quốc gia của Học viện Hồ Chí Minh, cũng đã có ý kiến đề nghị xây dựng một dự án luật về sự lãnh đạo của Đảng. Thêm vào đó, ông Nguyễn Đình Lộc cũng từng cho rằng có một số văn kiện gây lúng túng và đạo lý của nó chưa được thấm hết. Theo ông, “thế nào là đảng cầm quyền, trách nhiệm đến đâu, quan hệ với nhà nước thế nào”.

Một nền móng bất cập, mập mờ

Những nhà lãnh đạo Việt Nam hay dùng hình mẫu "độc đảng" của Singapore trong thời kỳ lập quốc như một minh chứng rằng một đảng lãnh đạo vẫn có thể mang đến một xã hội phát triển. Tuy nhiên, một điều rất quan trọng là hiến pháp Singapore không hề qui định về sự lãnh đạo của đảng, trong khi điều 4 Hiến pháp Việt Nam, qui định sự lãnh đạo của Đảng; đó là một trong những điều tối quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân chủ của tất cả công dân Việt Nam.
Những phân tích vừa được dẫn giải cho thấy những chồng chéo, bất cập, và thậm chí mập mờ của Hiến pháp Việt Nam, nền móng của luật pháp ở Việt Nam - một việc không nên xảy ra với bất kỳ một Hiến pháp nào. Hiến pháp là luật gốc, là luật mẹ, là khế ước của toàn dân.
Một khi đã không đảm bảo được tính dân chủ thật sự cho người dân, từ tay người dân, thì hiến pháp, dù là hiến pháp mang tên dân chủ, cũng chẳng có ý nghĩa gì.