16/8/10

TÌM RA SỰ THẬT “THỰC”?

Linh mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh
Bối cảnh của một chuyến đi
Nhằm đánh dấu 350 năm thành lập hai giáo phận đầu tiên và 50 năm thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam, Năm Thánh 2010 đã khai mạc trọng thể tại Sở Kiện, Hà Nội dịp lễ các thánh Tử Đạo Việt Nam 24-11-2009. Chỉ hơn một tháng sau thì xảy ra vụ thánh giá Đồng Chiêm bị đập nát. Người tín hữu Công Giáo vừa bàng hoàng và phẫn nộ trước hành vi báng bổ của chính quyền cộng sản, vừa ngạc nhiên và đau đớn khi thấy tuyệt đại đa số các giám mục hai giáo tỉnh Huế và Sài Gòn hoàn toàn thinh lặng. Không một lời nói, không một cử chỉ hiệp thông với anh chị em giáo tỉnh Hà Nội. Tình trạng phân hoá trong nội bộ Công Giáo càng thêm trầm trọng và phơi bày công khai khi đức cha Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn được bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục (TGM) Phó Hà Nội với quyền kế vị, và chỉ mấy hôm sau là Đức TGM Giu-se Ngô Quang Kiệt rời khỏi Việt Nam giữa đêm hôm khuya khoắt, chẳng khác chi một kẻ tội đồ bị trục xuất khỏi quê hương.
Chính trong bối cảnh đó mà Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn (ĐHY), Tổng Giám Mục Sài Gòn, đã lên đường đi Rô-ma gặp các quan chức cấp cao của Toà Thánh, và sau khi trở về, đã có bài trả lời phỏng vấn liên quan đến chuyến đi; bài trả lời đó được đăng tài trên tuần báo Công Giáo & Dân Tộc, số 1762, tuần lễ từ 18-06 đến 24-06-2010. Xin được chia sẻ một vài suy nghĩ sau khi đọc bài trả lời phỏng vấn đó.
Tại sao đi? Đi để làm gì?
Đức Hồng Y nói: Trong tình hình một số ý kiến trên mạng hay qua truyền tai nhau, tạo nên dư luận gây ít nhiều hoang mang và bất ổn trong cộng đoàn Giáo hội và xã hội, ví dụ như một vài dư luận cho rằng có sự tắc trách của Bộ Truyền giáo, sự thoả hiệp của Bộ Ngoại giao, sự cấu kết của một ít nhân vật trong Giáo hội vì tư lợi, sự ngây ngô của Vatican…, một số giám mục đề nghị tôi đi tìm hiểu sự thật “thực” tận gốc rễ. Qua những lời trên đây, ĐHY vừa cho ta thấy nguyên nhân nào khiến ngài rời Việt Nam để có mặt tại Vatican từ ngày 30-05 đến 03-06-2010, vừa cho thấy mục tiêu của chuyến đi, đó là để tìm hiểu sự thật “thực” tận gốc rễ. Chuyến đi này không phải là một chuyện hoàn toàn cá nhân, nhưng còn theo lời đề nghị của “một số giám mục”. Các vị này là những ai, gồm bao nhiêu người, nắm chức vụ gì trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGM/VN), ngài không nói.
Những hoạt động trong chuyến đi
Tại Rô-ma, những người đầu tiên được ĐHY gặp gỡ và thăm hỏi là những linh mục, tu sĩ, giáo dân Việt Nam được ngài gửi tới học. Đây là chuyện bình thường, nhưng chắc không ở trong mục tiêu quan trọng của chuyến đi. Ngay cả việc đi thăm đức hồng y Etchegaray cũng vậy, cũng chỉ là một cuộc thăm viếng xã giao.
Nhưng hai cuộc gặp quan trọng hơn cả trong chuyến đi này, trước hết là cuộc gặp tại Bộ Ngoại Giao Toà Thánh sáng ngày 01-06, với vị Ngoại trưởng là Đức TGM Dom. Mamberti, và với Thứ trưởng, đức ông Ern. Ballestrero ; kế đến là cuộc gặp tại Bộ Truyền Giáo với Tổng Trưởng là ĐHY Ivan Dias. Tại mỗi nơi, ĐHY Phạm Minh Mẫn đã “giãi bày tình hình do dư luận tạo ra”. Ngài đã nói những gì, giãi bày thế nào thì không ai biết. Nhưng phần trả lời, thì tại cả hai nơi, ngài đã nhận được một nội dung hoàn toàn giống nhau. Phía Bộ Ngoại Giao thì Bộ đã “lắng nghe và tôn trọng ý kiến cùng bản thân của đương sự” (tức là Đức TGM Hà Nội Giu-se Ngô Quang Kiệt). Tại Bộ Truyền Giáo cũng vậy, Bộ “luôn lắng nghe và tôn trọng ý kiến cùng bản thân của người liên hệ” (vẫn là Đức Tổng Kiệt). Và dựa vào cách làm của cả hai bộ là “lắng nghe và tôn trọng ý kiến cùng bản thân của người liên hệ”, cuối cùng “Đức Thánh Cha chấp thuận lời Đức Cha Ngô Quang Kiệt xin từ nhiệm Tổng Giám Mục Hà Nội vì lý do sức khoẻ”. Và đây là sự thật “thực” ĐHY đã phải vượt bao nhiêu ngàn cây số đến tận Rô-ma để cất công đi tìm.
Nói nôm na là như thế này: Sở dĩ có “dư luận gây ít nhiều hoang mang và bất ổn trong cộng đồng Giáo Hội và xã hội” là do việc Đức Giáo Hoàng bổ nhiệm đức cha Nguyễn Văn Nhơn thay thế đức cha Ngô Quang Kiệt trong cương vị Tổng Giám Mục Hà Nội. Việc thay thế đó bắt nguồn từ việc đức cha Kiệt xin từ chức vì lý do sức khoẻ. Và trong việc này, cả hai bộ Ngoại Giao cũng như Truyền Giáo đều tôn trọng ý kiến, nguyện vọng của đương sự.
Tóm lại: mấu chốt của vấn đề, hay là sự thật “thực”, chính là việc đức cha Ngô Quang Kiệt xin từ chức mà thôi. Có gì đâu mà phải ầm ĩ!
Những điều gây thắc mắc
Thế nhưng đối với công luận, mọi chuyện không đơn giản như thế. Giả sử đức cha Kiệt lâm trọng bệnh, không còn khả năng lãnh đạo, hay đến tuổi về hưu, thì bất cứ vị nào được Đức Giáo Hoàng bổ nhiệm thay thế, cộng đồng tín hữu cũng hoan hỷ đón nhận. Lịch sử đã chứng minh điều đó. Nhưng việc đức cha Kiệt rời khỏi chức vụ TGM Hà Nội, lại chính là đòi hỏi của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, qua văn thư đề ngày 23-09-2008 của ông Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân Thành phố Hà Nội, gửi HĐGM/VN do đức cha Nguyễn Văn Nhơn làm Chủ tịch. Vậy thì điều người tín hữu Việt Nam muốn biết, đó là mối tương quan giữa hai sự việc: giữa đòi hỏi của nhà cầm quyền Hà Nội và việc Đức Giáo Hoàng chấp thuận cho đức cha Kiệt từ chức. Điều người tín hữu Việt Nam nóng lòng muốn được soi sáng là HĐGM/VN đóng vai trò nào trong việc thay thế TGM Hà Nội, Đức Cha Ngô Quang Kiệt. Cũng liên quan đến vụ việc này, một nhân vật quan trọng khác mà tín hữu Công Giáo Việt Nam muốn có thông tin, đó là vị đại diện Toà Thánh đến thăm Việt Nam lần chót, vào đầu năm 2009: Đức ông Cao Minh Dung. Đâu là vai trò của đức ông trong việc liên quan đến Đức Tổng Kiệt? Trong bài trả lời phỏng vấn, ĐHY Phạm Minh Mẫn có cho biết là chiều ngày 02-06 ngài đã “gặp gỡ linh mục, tu sĩ Việt Nam đang làm việc tại Vatican”, nhưng nhân vật mà mọi người chờ đợi là đức ông Cao Minh Dung thì ĐHY không hề nhắc tới. Như thế cũng có nghĩa là thắc mắc của người tín hữu Việt Nam liên quan đến đức ông Cao Minh Dung, vẫn chưa có câu trả lời.
Liệu có tìm ra sự thật “thực”?
ĐHY Phạm Minh Mẫn có một kiểu nói khá độc đáo khi thêm tính từ “thực” vào danh từ “sự thật” (sự thật “thực”). Điều này chẳng phải không có lý do. Là vì trong chế độ hiện thời tại Việt Nam, mọi phương tiện truyền thông đều nằm trong tay Nhà Nước. Có nhiều đài truyền hình và truyền thanh trên khắp nước, từ trung ương tới địa phương, với trên dưới 700 tờ báo, nhưng tất cả chỉ nói những điều được phép nói. Khi đề cập đến chuyện nói dối, nói láo… trong xã hội chúng ta đang sống hôm nay, nhà văn Nguyễn Khải đã viết trong tập Tuỳ Bút của ông: “… các cuộc trả lời phỏng vấn báo chí, diễn văn tại các buổi lễ kỷ niệm, báo cáo của đảng, của chính phủ, của quốc hội, tất cả đều dùng các từ rất mơ hồ, ít cá tính và ít trách nhiệm nhất. Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy… Nói dối lem lẻm, nói dối lỳ lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ. Người nói nói trong cái trống không, người nghe tuy có mặt đấy nhưng cũng chỉ nghe có những tiếng vang của cái trống không. Nói để giao tiếp đã trở thành nói để không giao tiếp gì hết; nói để mà nói …”. Chính vì vậy mà khi nổ ra vụ Toà Khâm Sứ – Thái Hà chẳng hạn, nếu chỉ dựa vào báo đài của Nhà Nước, hay cả khi đọc báo Công Giáo & Dân Tộc, không ai biết được: thực sự chuyện gì đã xảy ra.
Và điều ta phải đặc biệt quan tâm, là tình trạng này chẳng phải không ảnh hưởng đến truyền thông Công Giáo. Hôm xảy ra vụ Đồng Chiêm chẳng hạn, đố ai vào trang mạng của HĐGM mà tìm được thông tin! Còn trang mạng của Toà TGM Tp. HCM, trong bài “Tự do báo chí là nhựa sống của nền dân chủ”, lấy nguồn từ Vietvatican, thì chuyện trớ trêu là đã cắt xén đoạn nói đến Trung Quốc, Bắc Hàn, Việt Nam… cũng như đoạn sau đây: “Tất cả các chính quyền và các tổ chức nói trên đều theo đường lối cai trị độc tài, sợ hãi sự thật, chủ trương ngu dân, nên tìm mọi cách và đưa ra mọi luật lệ để kèm kẹp con người và đất nước trong tình trạng nô lệ, chậm tiến, dốt nát…”.
Một ví dụ khác, đó là nếu có ai nghe đoạn ghi âm lời đức cha Nguyễn Văn Khảm, Giám mục Phụ tá Sài Gòn, nói về chuyến đi Hoa Kỳ của ĐHY Phạm Minh Mẫn đến Long Beach chủ toạ Đại lễ Lòng Thương Xót Chúa, rồi đem đối chiếu với vô số thông tin liên quan trên mạng, đố ai biết được sự thật “thực” ở chỗ nào. Và ví dụ cuối cùng là dịp lễ nhậm chức của Đức Tân TGM Hà Nội ngày 07-05-2010: nếu có ai vào trang mạng của Uỷ Ban Kinh Thánh mà đọc bài của Peter Nguyễn Minh Trung, thì 15.000 chữ ký của thỉnh nguyện thư gửi Đức Giáo Hoàng đã bị hô biến thành panô với những chữ “Nguyễn Văn Nhơn, Bùi Văn Đọc, Võ Đức Minh: biến khỏi trái đất này !” Vậy thì câu hỏi dai dẵng vẫn cứ đeo đuổi chúng ta là: sự thật “thực” ở đâu?
Sự thật “thực” về Giáo Hội Việt Nam?
ĐHY Phạm Minh Mẫn vượt núi băng ngàn đến tận Rô-ma để tìm sự thật “thực”, nhưng liệu ngài có giúp được Đức Giáo Hoàng tìm ra sự thật “thực” về Giáo Hội Việt Nam? Dĩ nhiên Đức Giáo Hoàng biết những thay đổi diễn ra tại Việt Nam trong mọi lãnh vực kể cả tôn giáo. Ngày nay cuộc sống khá hơn, người dân được tương đối tự do hơn. Các tôn giáo được phép xây cất, tổ chức lễ lạt, huấn luyện chức sắc, đi ra nước ngoài, v.v… Du khách đến Việt Nam lác mắt khi thấy các nhà thờ ngày Chúa nhật động nghẹt người, ơn gọi linh mục, tu sĩ rất đông, số đi ra nước ngoài truyền giáo đến cả ngàn. Đó là mặt tích cực, và cũng là mặt nổi. Trong khi đó, các lãnh vực như y tế, giáo dục, xã hội… đều là độc quyền của Nhà Nước. Đi xin tiền giúp người nghèo thì được, nhưng tranh đấu cho quyền lợi của người nghèo, đòi hỏi sự công bằng cho người nghèo thì không. Tôn giáo không được tự do phục vụ con người. Trong một chế độ độc tài toàn trị, thì “đối thoại” và “hợp tác” chỉ là những mỹ từ của người chấp nhận ngửa tay xin. Xin cái gì ? Thưa xin lại những quyền chính đáng của mình đã bị nhà cầm quyền tước đoạt. Sự thật “thực” phũ phàng là như thế. Liệu Đức Giáo Hoàng có biết rằng Giáo Hội Công Giáo Việt Nam hôm nay, chỉ vì muốn thoả hiệp với nhà cầm quyền để được yên thân, mà đánh mất khả năng ngôn sứ: quay lưng lại người nghèo, hững hờ với các tôn giáo bạn, thờ ơ với vận mạng dân tộc, với tương lai đất nước? Liệu Đức Giáo Hoàng có biết rằng khi thánh giá tại Đồng Chiêm bị đập nát, tuyệt đại đa số các giám mục hai giáo tỉnh Huế và Sài Gòn đã ngậm miệng làm thinh? Thế thì trước câu hỏi: liệu Đức Giáo Hoàng có biết được sự thật “thực” về Giáo Hội Việt Nam hôm nay, xem ra chưa có câu trả lời!
Kết luận
Đạt tới chân thiện mỹ là khát vọng tự nhiên của con người. Khát vọng tìm cho ra sự thật càng mãnh liệt khi con người sống trong môi trường đầy dẫy những lừa lọc, gian dối. Tìm cho ra sự thật, đó là mối quan tâm của ĐHY Phạm Minh Mẫn khi ngài nói đến sự thật “thực” và đã cất công đi tìm. Nhưng khi sự thật mình đi tìm lại chính là sự thật mình muốn có bằng bất cứ giá nào, thì liệu sự thật mình khám phá ra, đã là sự thật “thực” hay chưa? Người đọc bài của ĐHY vẫn cứ phải tự tìm lấy câu trả lời. Không biết đến bao giờ Giáo Hội Công Giáo Việt Nam mới tìm lại được sự bình an đã mất, mới tìm lại được sự đồng tâm nhất trí đã tan rã, mới tìm lại được lòng tin tưởng kính mến đã nhạt phai đối với hàng giáo phẩm kể từ khi Đức Cha Giu-se Ngô Quang Kiệt rời khỏi chức vụ TGM Hà Nội trong một hoàn cảnh còn nhiều ẩn số chưa được giải mã?
Sài-gòn, ngày 24 tháng 06 năm 2010
Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm

pascaltinh@gmail.com

VIỆT NAM CẦN CÓ VŨ KHÍ NGUYÊN TỬ

Vùng biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa vốn thuộc chủ quyền của Việt Nam với những bằng chứng địa lý, lịch sử … phù hợp công pháp quốc tế không thể chối cãi được nhưng Trung Quốc ỷ thế nước lớn vẫn lấn lướt ức hiếp một cách rất càn bậy. Không chỉ bắn giết nhiều binh sỹ, ngư phủ, cư dân Việt Nam, họ còn gây áp lực buộc các công ty nước ngoài hủy bỏ giao kèo tìm kiếm dầu khí ngoài khơi Việt Nam ( Công ty BP của Anh năm 2007, Công ty ExxonMobil của Hoa Kỳ năm 2008 ).

Tháng tư năm 2009 và tháng tư năm 2010 họ ngược ngạo ra lệnh cấm ngư dân Việt Nam đánh cá trên Biển Đông từ 15 tháng 5 đến hết tháng 8.
Tháng 12 năm 2007, họ ban hành quyết định thành lập thành phố hành chánh cấp huyện Tam Sa gồm ba quần đảo Hoàng Sa, Trung Sa (Macclesfield Bank) và Trường Sa đặt trực thuộc tỉnh Hải Nam là tỉnh mới được thành lập năm 1988, sau khi tách ra khỏi tỉnh Quảng Đông.
Không chỉ ức hiếp Việt Nam, năm 2007 vệ tinh thương mại của Anh còn khám phá một căn cứ tàu ngầm của Trung Quốc tại Yulin ở cực nam đảo Hải Nam. Căn cứ này có khả năng đồn trú một hạm đội lớn, có hầm trú ẩn cho tàu ngầm nguyên tử và cầu tàu cho mẫu hạm, giúp hải quân Trung Quốc hoạt động trong vùng Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.
Tháng ba năm 2009 Trung Quốc cho tàu ngăn cản hoạt động “dò đáy biển” của chiếc USS Impeccable của Hoa Kỳ ngoài hải phận quốc tế tại một nơi cách bờ đảo Hải Nam 104 km về phía nam.
Tháng ba và tháng tư 2010 Trung Quốc cho thao dượt hải quân trong vùng Đông Nam Á xuống tận phía đông eo biển Malacca và thực tập oanh tạc các mục tiêu ngoài biển trong vùng Trường Sa. Mục đích của Trung Quốc là nới rộng hoạt động của hải quân ra vùng biển Nhật Bản, biển Phi Luật Tân, biển Indonesia gồm cả quần đảo Marianas và Palau sát với đảo Guam.
Đầu tháng 8 vừa qua họ lại mở cuộc tâp trận hải quân trên quy mô rộng lớn được báo chí Trung Quốc tuyên bố là quan trọng chưa từng thấy từ ngày thành lập quân đội Trung Quốc.
Sau cuộc tập trận hải quân có bắn đạn thật ngoài khơi Biển Đông, từ ngày 3 tháng 8 năm 2010 Trung Quốc lại mở cuộc tập trận kéo dài 5 ngày ở Hà Nam và Sơn Đông với 12 000 binh lính, hàng trăm máy bay thuộc 7 loại khác nhau tham gia bên cạnh các đơn vị pháo cao xạ và tên lửa phòng không.
Cuối tháng 7 vừa qua Trung Quốc vừa thiết lập một căn cứ tên lửa mới tại Thiều Quan – Quảng Đông với các hỏa tiễn đạn đạo DF-21C và hỏa tiễn hành trình tầm xa CJ-10 có tầm bắn hơn 2.000 km, có thể vươn tới tận quần đảo Trường Sa và các cứ điểm Đông Nam Á.
Ngày 21 tháng 7 năm 2010, mạng “ tiexue.net ” thuộc hệ thống báo chí Trung Quốc, trong mục “ Diễn đàn hải quân ” đăng một bài viết nêu mấy khuyến nghị sau:
Một - Chính phủ phải tôn cao bãi ngầm Tăng Mẫu làm cho nó nổi hẳn trên mặt nước và xây dựng căn cứ quân sự và căn cứ không quân tại đó.
Hai – Thành lập liên minh khống chế Biển Đông với Đài Loan.
Ba – Khoét sâu mâu thuẫn giữa mấy nước ASEAN để họ kiềm chế, chống đối lẫn nhau trong vấn đề Biển Đông.
Bốn – Đầu tư mạnh vào các hoạt động dụ dỗ, mua chuộc các chính đảng và tổ chức thân Trung Quốc tại Việt Nam, Philippine, Malaysia, Indonesia, ngầm ủng hộ họ nắm và giữ chính quyền, kịp thời giúp đỡ họ về mọi mặt để đặt cơ sở nội ứng.
Năm – Thường xuyên cử quân hạm đi tuần tra, thị uy tại Biển Đông, tiến hành tâm lý chiến, cũng như đe dọa quân sự với mấy nước có liên quan.
Sáu – Vừa đàm phán vừa làm tốt việc chuẩn bị chiến tranh, nắm cả hai tay và cả hai tay đều phải cứng rắn trên vấn đề chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải, quyết không mơ hồ.
Lòng tham vô độ đã đẩy nhà cầm quyền Trung Quốc trâng tráo đến mức tháng 5 năm 2009 họ ngang nhiên cho công bố một bản đồ có hình cái lưỡi bò liếm gần hết Biển Đông, nói là vùng biển thuộc chủ quyền Trung Quốc. Tháng 3 năm nay, Cui Tiankai, trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc nhắn nhe với hai quan chức cấp cao Mỹ viếng thăm Bắc Kinh rằng: Trung Quốc hiện xếp các tuyên bố chủ quyền đối với 1,3 triệu km2 vùng Biển Đông thuộc loại “ quyền lợi then chốt ”. Trước đây Trung Quốc đã xem Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương là những vùng có “ quyền lợi then chốt ” với nghĩa là vùng Trung Quốc sẵn sàng dùng vũ lực để bảo vệ.
Sự trâng tráo tột độ này không chỉ khiến toàn dân Việt Nam muốn thét lên giận dữ ( trừ một vài quan chức lãnh đạo ĐCSVN nào đó ) mà đến cả Hoa Kỳ cũng phải lên tiếng.
Đối đáp lời kêu gào “ quyền lợi then chốt ” của Trung Quốc, Hoa Kỳ cũng thẳng thừng tuyên bố: Tự do hàng hải trên Biển Đông là quyền thuộc “ lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ ”. Hoa Kỳ xem việc tự do lưu thông, tự do lui tới và sự tôn trọng luật lệ quốc tế trên Biển Đông phù hợp với quyền lợi của Hoa Kỳ ”, là nguyên văn lời bà ngoại trưởng Hoa Kỳ phát đi từ Hà Nội, trên Diễn đàn Khu vực Asean.
Khi được hỏi về quan hệ chiến lược giữa Mỹ và Asean cho hiện tại và tương lai, bà Hillary Clinton còn rành rọt hơn:
“ Tại Hội nghị các Bộ trưởng Asean năm ngoái, tôi đã thông báo Hoa Kỳ trở lại Đông Nam Á và đã cam kết sẽ làm việc với các nước Asean để nâng cao lợi ích và các giá trị mà chúng ta chia sẻ. Kể từ đó, chúng ta đã đạt được nhiều tiến triển và hôm nay tôi xin nhắc lại rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục làm việc với từng nước thành viên Asean để thúc đẩy quan hệ đối tác giữa các quốc gia.”
Và, thế là, ngày 8 tháng 8 năm 2010 chiếc USS George Washington đã thăm Việt Nam. Đây là một siêu hàng không mẫu hạm hạt nhân lớn và hiện đại bậc nhất của Hoa Kỳ và thế giới, trọng tải 100.000 tấn, có thể mang theo đoàn thủy thủ 6.250 người cùng khoảng 80 phi cơ, bao gồm các chiến đấu cơ phản lực FA-18, phi cơ cảnh báo sớm trên không và chiếc E-2C Hawkeye .
Hai ngày sau, mới hôm qua, khu trục hạm USS John McCain lại vừa đến Việt Nam để xúc tiến các “ hoạt động luyện tập và trao đôi văn hóa ”.
Rõ ràng, không chỉ “ Chính quyền Obama đã chuẩn bị sẵn sàng để đưa mối bang giao Việt-Mỹ vào giai đoạn mới ” mà bà ngoại trưởng Hillary Clinton còn cặn kẽ hơn:            “ Chúng tôi quan niệm rằng không những mối quan hệ này phải xứng đáng với tầm quan trọng của nó, hơn thế nữa, nó là một phần của chiến lược nhằm củng cố sự hiện diện của Hoa Kỳ tại Châu Á Thái Bình Dương ”.
Tháng tư vừa qua tổng thống Obama đã mời thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tham dự hội nghị thượng đỉnh về an toàn nguyên tử ( Nuclear Security Summit ) tại Washington. Càng nức lòng hơn khi người ta đọc thấy trên tờ “ Wall Sreet Journal ” ra ngày 3 tháng 8 năm 2010, ký giả Jay Solomon loan báo rằng bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đang cùng Việt Nam tiến hành các thủ tục cần thiết để Việt Nam có thể tinh chế chất Uranium.
( Ai cũng biết nhân nguyên tử của Uranium 238 (U-238) ở trạng thái ít cân bằng nên nếu được bắn bằng một trung hòa tử có tốc độ thích hợp có thể bị vỡ và tạo thành phản ứng dây chuyền tỏa ra một khối năng lượng khổng lồ gây hiện tượng nổ trong vũ khí nguyên tử. Trong thiên nhiên thường chỉ có U-235 có nhân rất vững không thể bị bắn vỡ. U-238 thường chỉ chiếm 1 phần 140 trong Uran thiên nhiên. Kỹ thuật tinh chế và khoa học tính toán để có được một khối lượng U-238 tới hạn cần thiết cho việc sản xuất vũ khí nguyên tử là một bí mật bị ngăn cấm phổ biến ).
Tin trên làm Trung Quốc hốt hoảng. Theo China Daily, ông Li QingGong, phó tổng thư ký Hội đồng Trung Quốc về Nghiên cứu Chính sách An ninh Quốc gia, tuyên bố:            " Chúng ta không thể làm ngơ trước tình hình này! "
Ông Đằng Kiến Quần, phó chủ tịch Hiệp hội Kiểm soát và Giải trừ Vũ khí của Trung Quốc, thì phân bì: "Hoa Kỳ có chính sách không công bằng đối với các quốc gia khác nhau. Là nước chủ trương và kêu gọi các nước khác phi hạt nhân hóa nhưng Mỹ đã xem thường dư luận bằng việc thỏa thuận với Việt Nam khi cho phép nước này làm giàu Uranium ".
Thật vậy, cả chính quyền Obama lẫn chính quyền George W. Bush đều đã từng đòi hỏi các quốc gia mong muốn có được sự hợp tác của Hoa Kỳ trong việc phát triển kỹ nghệ hạt nhân phải tuân thủ một điều kiện quan trọng: Các quốc gia này phải từ bỏ quyền tinh lọc Uranium. Điều kiện trên được áp dụng trong các hiệp ước hợp tác hạt nhân mà Tổng thống Obama đã ký kết với các Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất (UAE) và Jordan.
Tuy nhiên, theo lời của giới chức trách Mỹ, Bộ Ngoại giao đang đưa ra một chuẩn mực khác dành cho Hà Nội vì các chính giới ngoại giao cho rằng rủi ro phổ biến hạt nhân tại Trung Đông lớn hơn tại Á Châu. Một chức trách Mỹ cho biết: “ Vì chúng tôi đặc biệt quan ngại về tình hình Iran và vì những mối đe doạ chạy đua võ trang hạt nhân tại Trung Đông, chúng tôi tin tưởng rằng thoả thuận giữa Hoa Kỳ và UAE là một khuôn mẫu cho mọi thoả thuận trong khu vực này ”, nhưng “ Những quan ngại như trên không đặt ra với châu Á. Tuỳ theo thực trạng của từng khu vực và của từng quốc gia, chúng tôi sẽ tiếp cận vấn đề một cách thích hợp ”.
Theo nguồn tin AFP, hai phụ tá quốc hội Mỹ nắm chắc diễn biến thảo luận, cho biết, chính quyền của Tổng thống Obama đã kết luận rằng nhiều khả năng “ Không thuyết phục nổi Việt Nam nhất trí với một cam kết không làm giàu nhiên liệu theo cách thức mà UAE đã ký kết với Hoa Kỳ ”.
Ông Đằng Kiến Quần tố cáo: “ Hoa Kỳ thách đố uy tín của chính mình và gây xáo trộn trật tự thế giới hiện tại " nhưng mạng Sify của Ấn Độ cho rằng « Hợp tác Mỹ - Việt về hạt nhân có thể gây bất ổn định ( chỉ ) cho Trung Quốc ” và diễn giải: đây không phải là lần đầu tiên Washington không quan tâm đến quy định quốc tế về kiểm soát hạt nhân. Năm 2008, Hoa Kỳ đã ký thỏa thuận hợp tác công nghệ hạt nhân với Ấn Độ mặc dù New Delhi không ký kết vào Hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, một điều kiện cần thiết để được chuyển giao công nghệ. Tương tự như vậy, được trợ giúp của Mỹ, Việt Nam sẽ được phép tinh lọc uranium trên lãnh thổ của mình.
Không biết rồi Mỹ có giúp Việt Nam chế tạo vũ khí nguyên tử hay không? Nhưng nghĩ rằng Việt Nam cần có vũ khí nguyên tử.
Việt Nam cần vũ khí nguyên tử chắc chắn không để đối chọi với bất cứ ai.
Việt Nam có vũ khí nguyên tử cũng không nhằm nã vào Trung Quốc mà để mong được nắm tay Trung Quốc thân ái, bình đẳng ( nhưng khiêm nhường ), thể theo đường lối:  “ Việt Nam muốn bảo toàn lãnh thổ và lãnh hải tay phải phải nắm Hoa Kỳ, tay trái phải nắm Trung Quốc”.
Hà Nội 11 /8/2010                                                                                                    Nguyễn Thanh Giang                                                                                                                 
 Số nhà 6 – Tập thể Địa Vật lý Máy bay                                                          
 Trung Văn – Từ Liêm – Hà Nội                                                                                   Điện thoại: ( 04 ) 35 534 370 

Ứng xử của Việt Nam khi Mỹ quan tâm đến vấn đề Biển Đông

image001



Đức Tâm (RFI)

Theo Chiến lược An ninh Quốc gia Mỹ được công bố hồi tháng năm vừa qua, liên quan đến châu Á-Thái Bình Dương, Hoa Kỳ chủ trương thúc đẩy các lợi ích chung thông qua các quan hệ liên minh, củng cố vai trò của các tổ chức đa phương, đặc biệt là Hiệp hội Đông Nam Á, ASEAN, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương, Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á.
Trong tinh thần này, ngoại trưởng Mỹ bà Hillary Clinton sẽ sang Việt Nam tham dự Diễn đàn Khu vực châu Á, ARF, được tổ chức từ 19 đến 23/07/2010. ARF là diễn đàn an ninh quan trọng nhất trong khu vực.
Sự kiện chính quyền Mỹ quan tâm trở lại đến vấn đề an ninh khu vực châu Á vào lúc vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông giữa Trung Quốc và nhiều quốc gia Đông Nam Á đang có xu hướng căng thẳng lên. Cụ thể giữa Việt Nam và Trung Quốc trong hồ sơ Hoàng Sa, giữa Trung Quốc với Bruneil, Đài Loan, Malaysia, Philippines và Việt Nam trong hồ sơ Trường Sa. Bên cạnh đó, Bắc Kinh còn đưa ra yêu sách “đường lưỡi bò” với tham vọng kiểm soát tới 80% diện tích Biển Đông.
Về phần mình, Hoa Kỳ công khai tuyên bố không đứng về bên nào trong tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông nhưng nhấn mạnh rằng quyền tự do thông thương hàng hải phải được tôn trọng.
Trong bối cảnh, đó, nên hiểu thái độ của Mỹ như thế nào và ứng xử của Việt Nam ra sao trước sự lấn lướt của Trung Quốc tại Biển Đông ? Sau đây là phân tích của giáo sư Vũ Hồng Lâm – Alexandre Vuving, thuộc Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương – Hawaii.
* * *
I- Diễn đàn Khu vực châu Á ARF và thông điệp của Mỹ
Sự hiện diện của ngoại trưởng Mỹ tại ARF đưa ra hai thông điệp. Thứ nhất là Mỹ coi trọng khu vực Đông Nam Á. Thứ hai, Mỹ coi ARF là một diễn đàn đa phương quan trọng về an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Cả hai điều này đều được thể hiện trong bản Chiến lược An ninh Quốc gia mới công bố của Mỹ.
II- Về lập trường của Mỹ trong tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông

Đứng ngoài các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa các bên thứ ba là lập trường nguyên tắc của Mỹ. Tuy nhiên, gần đây, trước sự gia tăng áp lực của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông, lập trường của chính phủ Mỹ đã có sự cụ thể hóa.
Cụ thể là Mỹ phân biệt hai loại tranh chấp ở Biển Đông : Tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp về vùng nước trên biển.
Nếu là tranh chấp lãnh thổ, liên quan đến đất đai, đảo, Mỹ đứng trung lập. Nhưng liên quan đến vùng nước, như quan chức bộ Ngoại giao Mỹ đã tuyên bố trong hai cuộc điều trần trước Thượng viện và Quốc hội hồi tháng 7 năm 2009 và tháng 2 năm 2010, Mỹ bác bỏ mọi yêu sách về các vùng nước trên biển mà không phát sinh từ đất liền hay hải đảo. Nói cách khác, Mỹ bác bỏ thẳng thừng yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc.
Mỹ cũng tuyên bố không chấp nhận dùng vũ lực hay áp lực trong tranh chấp chủ quyền, tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông. Do đó, Mỹ đã phản đối Trung Quốc gây áp lực hay dọa nạt các công ty Mỹ làm ăn với Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Mặc dù Mỹ tuyên bố đứng ngoài các tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông, nhưng Mỹ cũng tuyên bố quan ngại về tình hình căng thẳng trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc và Hoa Kỳ cũng tuyên bố quan ngại về yêu sách quá đáng trên Biển Đông của Trung Quốc cũng như về những hoạt động gây nguy hiểm của Trung Quốc trên Biển Đông. Để đối phó với tình trạng đó, bộ Quốc phòng Mỹ đã có một chiến lược bao gồm các hướng chính là :
1- Khẳng định sự hiện diện quân sự của Mỹ trong vùng Biển Đông, khẳng định vị thế của Mỹ là lực lượng quân sự mạnh nhất trong vùng.
2- Tăng cường thực thi quyền đi lại tự do của hải quân Mỹ trong vùng.
3- Tăng cường quan hệ hợp tác quân sự với các nước đối tác trong khu vực ở mọi cấp độ. Các nước đối tác bao gồm hai đồng minh Philippines và Thái Lan, các đối tác khác như Indonesia, Singapore, Việt Nam và Malaysia.
4- Tham gia tích cực vào các diễn đàn an ninh đa phương ví dụ như ARF.
Thái độ trên đây của Mỹ có tác dộng là tái lập phần nào thế quân bình quyền lực ở Biển Đông. Việc Mỹ khẳng định bằng sự hiện diện quân sự của mình và bằng các tuyên bố khá mạnh mẽ không để cho nước nào bá chủ trên vùng biển quốc tế ở Biển Đông có thể đã tạo một sự yên tâm nhất định ở các nước nhỏ Đông Nam Á. Tuy nhiên, nguy cơ xung đột liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn còn đó.
III- Việt Nam đón tiếp tàu chiến, đối thoại với Mỹ, nhưng giới lãnh đạo liên tục sang Trung Quốc
Ở một mặt nào đó, các động thái này thể hiện chính sách của Việt Nam muốn giữ thế quân bình trong quan hệ với Trung Quốc và Mỹ. Do đòi hỏi khách quan, Việt Nam phải dựa vào Mỹ để chống đỡ trước áp lực của Trung Quốc, đặc biệt là ở Biển Đông. Mặt khác, Mỹ cũng muốn tăng cường quan hệ hợp tác an ninh quốc phòng với Việt Nam. Do đó mà có các động thái giữa Việt Nam với Mỹ.
Nhưng thế của Việt Nam vẫn còn rất chơi vơi, sức thì yếu, cho nên có một tư tưởng khá mạnh trong cả giới lãnh đạo lẫn giới chuyên viên của Việt Nam là muốn yên thân thì phải vuốt ve Trung Quốc. Cũng có một tư tưởng nữa muốn dựa vào Trung Quốc để giữ chế độ XHCN. Do đó mà có các động thái giữa Việt Nam và Trung Quốc.
IV- Về khả năng Việt Nam để Mỹ sử dụng quân cảng
Thực ra thì cả Mỹ và Việt Nam đều chưa có một hình dung cụ thể về chuyện Việt Nam để cho Mỹ sử dụng quân cảng ở miền trung, cụ thể là Cam Ranh. Lợi hại của việc này cho phía Việt Nam có thể như sau: Thứ nhất là sự hiện diện quân sự của Mỹ sẽ đem lại thế mạnh cho Việt Nam trong so sánh lực lượng với Trung Quốc ở Biển Đông. Nó sẽ có tác dụng răn đe nhất định đối với nguy cơ Việt Nam bị bất biển, mất đảo. Thứ hai là các dịch vụ cho Mỹ sẽ đem lại lợi ích kinh tế cho Việt Nam.
Phía Việt Nam cũng có người muốn những lợi ích này, cho nên người ta muốn cho Mỹ tiếp cận mạnh hơn. Thế nhưng cũng có nhiều người nghĩ đến những lợi ích khác. Thứ nhất là họ lo ngại sự chống đối của Trung Quốc. Thứ hai là có người cũng lo ngại ảnh hưởng của Mỹ. Họ coi lợi ích của họ đối lập với lợi ích của Mỹ nên họ chống.
Về phía Mỹ thì cả về chiến lược và chiến thuật, họ đều có nhu cầu tiếp cận các quân cảng của Việt Nam. Nhưng một căn cứ quân sự thường xuyên của Mỹ ở Việt Nam chắc chắn sẽ không xẩy ra trong tương lai gần. Bởi vì việc này sẽ làm thay đổi đáng kể cán cân lực lượng trong vùng.
Về phía Mỹ thì chưa có nhu cầu cấp bách. Việt Nam cũng vậy. Về lâu dài, tôi cho rằng chuyện đó có thể xẩy ra khi mà cán cân lực lượng trong vùng quá lệnh về phía Trung Quốc. Và vì Mỹ có lợi ích chiến lược về tự do lưu thông trên Biển Đông, Việt Nam có lợi ích chiến lược về giữ đảo, giữ biển, cho nên lúc đó có thể Việt Nam sẽ mở cửa quân cảng mạnh hơn cho Mỹ. Tất nhiên, thời điểm lúc nào xẩy ra cũng còn phụ thuộc vào đánh giá riêng của Việt Nam và Mỹ về cán cân lực lượng trong vùng.
Do cán cân lực lượng trong vùng đang thay đổi một cách dần dần, từ từ, cho nên chuyện Việt Nam mở cửa cho tàu chiến Mỹ tiếp cận các cảng biển của mình cũng diễn ra dần dần, từ từ.
Do lợi ích chiến lược có điểm đồng, cho nên cả Mỹ và Việt Nam đều có nhu cầu cho tàu chiến Mỹ tiếp cận cảng biển ở Việt Nam. Nhưng tiếp cận như thế nào thì có rất nhiều kiểu. Hiện nay, vẫn có các cuộc viếng thăm giao lưu hàng năm của tàu hải quân Mỹ. Từ một năm nay thì có thêm một số tàu hải quân Mỹ được đưa vào sửa chữa ở Việt Nam.
Trong tương lai, có thể sẽ mở ra hướng hai bên ký một hiệp định để máy bay và tàu chiến Mỹ được hưởng dịch vụ tiếp liệu trên đất liền của Việt Nam cũng như tàu chiến Việt Nam có thể được tàu chiến Mỹ tiếp liệu trên Biển Đông.
V- Lãnh đạo Việt Nam trước sự chia rẽ của công luận về thân/chống Mỹ – Trung

Bản thân lãnh đạo Việt Nam cũng không thống nhất trong quan điểm đối với Mỹ và Trung Quốc. Tư tưởng của họ cũng phần nào phản ánh các luồng tư tưởng trong công chúng. Có người nghi ngờ Mỹ, có người tương đối tin Mỹ. Có người nghi ngờ Trung Quốc, có người tương đối tin Trung Quốc. Có người ưa Mỹ hơn, có người lại ưa Trung Quốc hơn, có người chẳng ưa ai hết.
Theo truyền thống và cũng như theo bản năng, lãnh đạo Việt Nam muốn thuyết phục công luận không nên tham gia vào việc lớn, việc chiến lược rất phức tạp, tế nhị, theo ngôn ngữ của họ là “nhậy cảm”, nhiều chuyện không nên và không thể bàn công khai, cho nên tốt nhất là hãy vững tin vào lãnh đạo, để cho lãnh đạo dễ bề chèo lái.
Tuy nhiên, công chúng vẫn cứ tham gia vào việc lớn và sức mạnh của công chúng hiện nay đã lớn đến mức lãnh đạo không thể cản trở quá đáng được nữa. Do đó, lãnh đạo cũng chịu sức ép ngày càng tăng của công luận. Để đối phó, lãnh đạo dùng cả hai phương thức: đàn áp và thuyết phục. Theo tôi, gần đây, việc đàn áp có phần dịu đi và việc thuyết phục có phần tăng lên. Tuy nhiên, hướng thuyết phục thì vẫn chưa rõ ràng lắm.
Nói chung, có vẻ như lãnh đạo Việt Nam muốn thuyết phục rằng Việt Nam cần giữ cân bằng trong quan hệ với các nước lớn. Cần cố gắng làm sao để giữ hòa hiếu với Trung Quốc và Mỹ, nhất là với Trung Quốc, đồng thời làm sao để giữ độc lập, tự chủ, không để cho nước lớn, nhất là Mỹ can thiệp vào công việc nội bộ.
Lại cũng có xu hướng muốn thuyết phục rằng Việt Nam và Trung Quốc là hai nước XHCN, cùng chung lý tưởng, cùng chống kẻ thù chung, cho nên những bất đồng như trong chuyện tranh chấp biển đảo chỉ là những tiểu tiết không nên để ảnh hưởng xấu đến đại cục, không nên để Mỹ và các “thế lực thù địch” lợi dụng chuyện tranh chấp với Trung Quốc, chuyện bảo vệ biển đảo, để kích động gây “diễn biến hòa bình”, lật đổ Đảng, thay đổi chế độ.
Tuy nhiên, công luận có chịu thuyết phục hay không thì chỉ phụ thuộc một phần vào lý lẽ, một phần lớn là phụ thuộc vào lợi ích. Theo tôi, muốn thực sự thuyết phục công chúng thì phải tiếp cận được nhu cầu của công chúng. Hiện nay, đang có một ngọn lửa đang lên trong công chúng là tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc. Nó day dứt về chỗ đứng của Việt Nam trên thế giới. Nó lo lắng về biển đảo và ngư dân đang bị đe dọa, đất đai và tài nguyên đang bị bán rẻ, môi trường và sức khỏe đang bị xói mòn. Nó rất tự hào về đất nước nhưng cũng rất bức xúc về hiện trạng. Nếu căn cứ vào kinh nghiệm lịch sử, thì lực lượng chính trị nào sử dụng được ngọn lửa này thì lực lượng đó sẽ thành công.
Có người ở Việt Nam không muốn sử dụng ngọn lửa này, vì họ cho là nguy hiểm. Nhưng kinh nghiệm chính trị cũng khiến họ không muốn ai khác sử dụng được ngọn lửa này vì như thế còn nguy hiểm hơn cho họ. Do vậy, họ tìm cách vô hiệu hóa ngọn lửa này.
Nhưng cũng có người trong giới lãnh đạo Việt Nam muốn dùng ngọn lửa này. Chỉ có điều họ đang loay hoay chưa biết dùng thế nào. Vì thế, nhìn chung, sự thuyết phục công luận của lãnh đạo Việt Nam chưa được rõ ràng lắm.

Hoa Kỳ phục kích ở sân sau Trung Quốc như thế nào và điều gì sẽ xảy ra?

hillaryclinton1
Greg Torode/South China Morning Post Ngọc Thu dịch

Washington cầm đầu việc phục kích Trung Quốc về tranh chấp Biển Đông ở diễn đàn an ninh hàng đầu trong khu vực hôm thứ Sáu đánh dấu một bước ngoặt thay đổi trong quan hệ Trung-Mỹ và đưa ra các sự thiếu sót chiến lược sâu sắc ở châu Á.
Ngay cả khi Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton tấn công vào Biển Đông tại Hà Nội, Hoa Kỳ và các tàu hải quân Nam Hàn chuẩn bị cho giai đoạn tập trận với quy mô lớn ở biển Nhật Bản, hay Biển Hoa Đông, gần phía Đông Bắc Trung Quốc – tăng thêm căng thẳng cho bức tranh toàn cảnh.
Những gì đã xảy ra ở Hà Nội thì đặc biệt quan trọng. Khi bà Clinton tuyên bố rằng giải quyết việc đòi chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông hiện nay là “lợi ích quốc gia” và là “ưu tiên ngoại giao” của Hoa Kỳ, bà không chỉ phản ánh mối quan tâm ngày càng tăng của Hoa Kỳ về khả năng thống trị hàng hải Trung Quốc. Điều đó cũng cho thấy Washington đã nắm vững một cơ hội lịch sử.
Hàng tháng qua, liên tục có sự gia tăng các mối quan ngại ở Đông Á về sự quyết đoán của Trung Quốc đã được lên tiếng tại Washington, cũng giống như chính quyền non trẻ Tổng thống Mỹ Barack Obama đã đưa ra các cách để trở lại tham gia vào khu vực bị bỏ quên. Hoảng sợ về việc lặp đi lặp lại rằng, Hoa Kỳ là cường quốc suy yếu, các viên chức Mỹ đã nói chuyện riêng về việc cần xác nhận lại tính ưu chiến lược của Hoa Kỳ ở châu Á.
Sự khẳng định ồn ào ngày càng gia tăng của Trung Quốc về lịch sử của nó, và bây giờ là luật pháp, đòi hầu như toàn bộ vùng biển – ví dụ qua việc giam giữ hàng trăm ngư dân Việt Nam, việc quấy rối các tàu của Hoa Kỳ và các lực lượng hải quân và việc đe dọa thực hiện đối với các công ty dầu hỏa quốc tế khổng lồ nhằm kết thúc các thỏa thuận khai thác với Hà Nội – cung cấp cơ hội đó.
Hành động của Hoa Kỳ không chỉ làm hài lòng những nước đòi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, những nước là đối thủ của Trung Quốc như: Việt Nam, Malaysia, Philippines và Brunei, mà còn làm yên tâm các nước lớn hơn như Hàn Quốc, Nhật Bản và Indonesia bằng cách gửi thông điệp ảm đạm tới Trung Quốc.
Trong gần 15 năm qua, Washington đã giữ bên lề các căng thẳng trên Biển Đông, trên đường thủy chiến lược và giàu khoáng sản nối Đông Á với Trung Đông và châu Âu. Đại diện ngoại giao của họ thỉnh thoảng quan tâm về sự cần thiết cho một giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ, nhưng không đứng bên nào trong việc tranh chấp.
Lời bình luận của bà Clinton đã thay đổi tất cả. Họ đã đưa Hoa Kỳ đứng đầu trong vấn đề chủ quyền Trung Quốc, vấn đề mà gần đâyTrung Quốc đã nói là “lợi ích cốt lõi”, quy tắc ngoại giao đặt ngang với Đài Loan và Tây Tạng về sự nhạy cảm.
Đầu năm nay, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, Tiến sĩ Robert Gates đã nói tại một diễn đàn an ninh ở Singapore rằng, Washington phản đối bất kỳ nỗ lực nào nhằm đe dọa các công ty dầu khí của Hoa Kỳ tham gia các hợp đồng hợp pháp trong khu vực.
Bà Clinton bình luận chính thức ở Diễn đàn Khu vực Asean, trong các cuộc họp song phương và trong các tuyên bố công khai. Trong khi đó, các viên chức của bà thông báo ngắn gọn với nhóm báo chí đi cùng với phái đoàn Washington để họ không bỏ qua điểm chính.
Trong khi bà bị mắc kẹt vào kịch bản cũ về việc không đứng về bên nào, bà đã nói rõ ràng là Washington muốn thúc đẩy các cuộc thảo luận và các giải pháp trong khu vực – một thách thức trực tiếp tới Bắc Kinh, kẻ đã cố gắng, kín đáo nhưng mạnh mẽ, để chặn đứng ASEAN thảo luận vấn đề này và các viên chức ngoại giao Trung Quốc đã nhấn mạnh nó phải được xử lý song phương – nói cách khác, từng nước tranh chấp xếp hàng để giải quyết riêng với Trung Quốc.
Bà Clinton nói: “Hoa Kỳ hỗ trợ quá trình cộng tác ngoại giao của tất cả các bên tranh chấp để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khác nhau mà không cần cưỡng chế. Chúng tôi phản đối việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực của bất kỳ nước tranh chấp nào”.
Những lời nói của bà là một thắng lợi ngoại giao quan trọng cho Việt Nam, một món quà từ Washington khi hai nước đánh dấu 15 năm kể từ khi chính thức khôi phục các quan hệ ngoại giao sau cuộc chiến Việt Nam và gần 20 năm bị cấm vận kinh tế.
Trong nhiều tháng, Việt Nam đã tìm cách khai thác vai trò Chủ tịch Hiệp hội mười nước Đông Nam Á để giữ vấn đề Biển Đông nóng bỏng [không bị bỏ rơi]. Các nước tranh chấp vùng biển giàu có đã tuyệt vọng để đạt tiến bộ về một ràng buộc pháp lý của Quy tắc ứng xử – một cam kết trong Tuyên bố năm 2002 đã ký kết giữa ASEAN và Trung Quốc trên Biển Đông kêu gọi tự kiềm chế. Tuyên bố ban đầu này được coi là một bước tiến quan trọng, nhưng ngày càng hiện ra như một tờ giấy lộn trong việc chống đối các hành động của Trung Quốc.
Bà Clinton nhiều lần nhắc đến các nguyên tắc của Tuyên bố đó, như âm nhạc vang bên tai các quan chức Việt Nam.
Chỉ một năm trước, Trung Quốc đã được nhiều người xem như là đang chia rẽ ASEAN, với mỗi thành viên có quan hệ riêng với Bắc Kinh trước khi ASEAN thống nhất. Có rất ít động lực về vấn đề [Biển Đông] trong các cuộc họp chính thức, và trong bối cảnh, áp lực Trung Quốc là không đổi, theo một số nhà ngoại giao ASEAN. Ngay cả Campuchia, chế độ đã từng là liên minh chặt chẽ với Hà Nội, đang bác bỏ các nỗ lực của Việt Nam, nhân danh Bắc Kinh.
Sự thận trọng đó vẫn còn nhìn thấy vài giờ trước khi bà Clinton đến. Vào một ngày trước khi Diễn đàn Khu vực ASEAN tổ chức, các Ngoại trưởng của khối đã có cuộc họp chính thức hàng năm với Bộ trưởng Ngoại giao Dương Khiết Trì. Chỉ có Philippines nêu ra vấn đề Biển Đông. Sự dè dặt như thế phản ánh cung cách truyền thống của ASEAN. Các cuộc họp và các tuyên bố chính thức nói chung là nhạt nhẽo nhất.
Ngay cả Việt Nam hiếm khi đổ lỗi cho Trung Quốc trước công chúng, khuynh hướng duy trì vẻ bề ngoài của tình anh em. Hôm qua, tràn ngập một chiến thắng hiếm hoi, báo chí Nhà nước bao giờ cũng thận trọng đã không có tiếng nói chính thức nào về các cuộc họp.
Một quan sát viên ngoại giao cho biết: “Đó là điều đáng chú ý. Không ai muốn dẫn đầu. Tất cả mọi người đều chờ đợi để cùng nhau được an toàn”.
Clinton đến hôm thứ Năm cho thấy sự hỗ trợ đối với [tâm lý] an toàn đó, khi lời lẽ truyền đi về sự cứng rắn mới của bà.
Vào lúc diễn đàn bắt đầu hôm thứ Sáu, 11 thành viên khác đã sẵn sàng với các báo cáo, bao gồm Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam – những nước có phần được hoặc mất nhiều nhất – cũng như Indonesia, EU, Úc và Nhật Bản. Tiếp theo là từng nước thay phiên đọc các báo cáo.
Trong khi ông Dương bày tỏ sự bực tức sau đó, những gì xảy ra không có gì bất ngờ đối với Bắc Kinh. Trong hơn một năm, quân sự, diễn tập chính trị và ngoại giao đã cho thấy các mối quan ngại ngày càng tăng trong khu vực.
Các viên chức quân sự Việt Nam kín đáo đã bay ra tàu sân bay Hoa Kỳ ở Biển Đông và đã được mời lên trên chiếc tàu ngầm của Hoa Kỳ ở Hawaii. Và Việt Nam đã cho phép các tàu chiến Hoa Kỳ sửa chữa tại cảng địa phương.
Hà Nội cũng đã thực hiện một thỏa thuận với Moscow, đồng minh chiến tranh lạnh trước đây để mua sáu tàu ngầm hiện đại loại Kilo.
Trong khi đó, Lầu Năm Góc và các quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày càng nói thẳng lời điều trần trước Quốc hội Hoa Kỳ về sự cần thiết để khẳng định quyền hàng hải trong vùng biển quốc tế bất chấp sự quan tâm của Trung Quốc. Trong khi Trung Quốc tuyên bố nhiều [phần] Biển Đông là vùng đặc quyền kinh tế, Hoa Kỳ và các quốc gia khác nhấn mạnh rằng nó vẫn thuộc vùng biển quốc tế và vì thế các hoạt động quân sự thường xuyên, gồm cả giám sát, đều được phép.
Những căng thẳng này đã hiện ra khi ở Singapore, ông Gates nói với các cử tọa gồm các sĩ quan cao cấp của Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc.
một viên chức PLA đã nổi giận sau đó: “Chúng tôi không xem nó như là một ‘cái hồ của Trung Quốc’, chúng tôi cho phép [những tàu] vô sự đi qua. Nhưng tôi xin lỗi, sự giám sát của Hoa Kỳ không phải là vô hại. Sự quan tâm của Trung Quốc không phải được đánh giá thấp”.
Có hay không việc Washington đánh giá thấp các mối quan ngại kia vẫn được nhìn thấy. Chắc chắn Bắc Kinh sẽ xem những sự kiện ở Hà Nội như là một khiêu khích đáng kể. Cũng có một cảm giác ngày càng tăng trong khu vực, rằng biển là quan trọng đối với tham vọng của Trung Quốc cho hải quân trên “đại dương” có thể hoạt động xa bờ, vì chỉ có nó cung cấp lối vào vùng nước sâu đến Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.
Điều rõ ràng là Hoa Kỳ hiện đang chuẩn bị để giải quyết một trong những vấn đề khó khăn nhất trong khu vực – một sự thay đổi chính sách mà sẽ không dễ dàng quay ngược trở lại. Và với Trung Quốc, tuần trăng mật với bất kỳ nước ASEAN nào thì đã đi qua.
Đối với tất cả những rủi ro, Washington nhận biết cơ hội.
Ngọc Thu dịch
Nguồn Bauxite Việt Nam

Cầm Quyền Du Đảng Hay Du Đảng Cầm Quyền?

superstock_1538r-280142 

Đinh Tấn Lực

 Nhà cầm quyền CSVN hiện chỉ cầm búa cầm liềm theo kiểu cầm chừng: Chủ nghĩa bây giờ là cầm khoán bẻ măng. Chính sách là cầm cố đất nước. Định hướng là cầm cái/cầm con mọi nguồn viện trợ. Quan chức thì cầm cốc mua vui. Khẩu hiệu đạo đức là cầm lòng. Kẻ thù là sĩ phu cầm bút. Đối nội là cầm tù phản biện. Đối ngoại là cầm dao đằng lưỡi. Tư tưởng là uốn gối cầm bô. Kinh tế là khấu đầu cầm bị. Văn hóa nhắm mắt cầm loa. Thông tin bịt mồm cầm kéo. Tuyên giáo nhắc tuồng cầm canh. Công thương khum lưng cầm khách. Công an khóa xích cầm chân. Tư pháp cầm đèn chạy án. Báo đài khép nép cầm ca. Giáo dục huơ roi cầm tiền. Y tế miên man cầm giá. Hành chánh xum xoe cầm dù. Dân phòng lăm le cầm súng. Tại chức nhi nhô cầm bằng. Cấp ủy loay hoay cầm đũa. Đảng viên tí toáy cầm nhầm. Chất xám tất bật cầm máu. Mặt Trận đắm đuối cầm chầu. Phong bì thoải mái cầm cương. Đầu tư tuột dốc cầm chắc. Quốc Hội không dám cầm còi. Tham nhũng ung dung cầm lái. Đất nước lệt bệt cầm cờ…
 Sứ mệnh lịch sử bây giờ là cầm cự: Lãnh đạo níu ghế cầm đô. Nhân dân lũ lượt cầm đồ. Công nhân hút gió cầm cữ. Nông dân chạy gạo cầm hơi. Ngư dân cầm mạng chuộc tàu. Tiểu thương cầm vợ đợ con. Trí thức rán cầm nước mắt. Trung ương vẫn ngỡ cầm đầu. Trên dưới tranh quyền cầm trịch. Cả giuộc lắm phen cầm cập. Nhìn giặc đoạt ải/chiếm đất/cướp đảo mà chẳng dám cầm quân. Thấy dân đòi đất/đòi nhà/đòi chỗ tu hành thì giả dạng du côn cầm gạch/cầm đá/cầm cây/cầm gậy…

Một nhà cầm quyền như Rứa đáng gọi là gì? Nghe chừng phảng phất đâu đây thoảng chút hoang mang: cầm độc hay cầm thú?
- Toàn Đảng Chống Toàn Dân -
Câu trả lời cho câu hỏi nêu trên hoàn toàn thuộc về nhân dân. Dù chưa rõ và chắc, qua một cuộc trưng cầu dân ý vẫn biết là khó sớm có, song chẳng ai là chưa đoán ra được, căn cứ vào những sự kiện đã từng xảy ra đó đây, từ Thái Hà tới Tam Tòa, Bát Nhã, và mới vừa lặp lại, cả trên đồi Đồng Chiêm, cả trên mạng BauxiteVN, lẫn trên bục chánh thẩm khắp nước.
Cứ Google Image các từ khóa đó là lập tức hình ảnh máu me nhầy nhụa hiển thị đến không kịp bấm chuột sang trang.
Du đảng là gì, nếu không phải là tổ chức cho dân phòng/xã hội đen lấy cớ dẹp xe máy dựng trước nhà để gây ẩu đả có thương tích; là chỉnh sửa hình ảnh của thủ phạm từ nhiều năm trước để vu oan/bắt bớ nạn nhân?
Du đảng là gì, nếu không phải là tổ chức thuê bao xã hội đen trà trộn vào đám đông giáo dân/phật tử đang cầu nguyện để phá rối/lăng mạ; là chiếm đất giáo đường làm công viên; là giật sập nhà nguyện/đập phá chùa chiền/huy động hàng ngàn công an cùng chó nghiệp vụ giật sập thánh giá lúc 2 giờ sáng…?
Du đảng là gì, nếu không phải là chỉa dàn loa phường từ bốn hướng vào nhà thờ ra rả chửi rủa Chánh xứ họ đạo; là ủi đất/đắp mô/lấp ngõ để giáo dân không qua lại được; là hành hung/đả thương cả người thu hình các thương binh bị đánh và chụp ảnh các mô đất điển hình của chính sách gây ùn tắc giao thông/ngăn sông cấm chợ?
Du đảng là gì, nếu không phải là “tổ chức chu đáo, bỏ nhiều công sức và tiền bạc” thuê bao tin tặc (cả tin tặc “lạ”) để xâm nhập/khống chế/truy sát các trang mạng phản biện; là ăn cắp mật khẩu để chiếm đoạt các trương mục email và mạo danh tung thư lũng đoạn?
Du đảng là gì, nếu không phải là tổ chức nghe lén điện thoại/đọc lén điện thư; là xông vào nhà dân lục soát, chộp ổ cứng vi tính về khám; là gọi dân lên đồn không được, mới trưng ra trát tòa; là buộc dân phải thành khẩn khai báo “tội yêu nước” vì đã vạch trần các âm mưu phá hoại đất nước và bán nước cầu vinh?
Du đảng là gì, nếu không phải là bao vây/cô lập tòa án bằng trùng lớp nhiều thứ lực lượng cơ động/giao thông/PCCC/bảo vệ/dân phòng; là tổ chức thay đổi chiếu khán của ủy viên Hội đồng Thẩm phán Quốc tế, ngăn cản các đoàn ngoại giao, ngăn cản luật sư của Hiệp hội Luật gia Quốc tế (IBA- mà nạn nhân là một thành viên), ngăn cản phóng viên của các tờ báo quốc tế, và chận đường nhân dân đến theo dõi/dự thính phiên tòa áp án người phản biện; là huy động thuê bao hàng xóm nạn nhân vào lấp kín phòng xử trong lúc thân nhân/bằng hữu của nạn nhân phải đứng ngoài mưa; là phá nhiễu âm thanh các đoạn phát biểu của nạn nhân trước vành móng ngựa; là cấm phóng viên chụp ảnh/thu âm làm phóng sự phiên xử; là tịch thu cả điện thoại di động của những người bước vào phòng xử; là cấm tiệt báo chí tường thuật/trích đăng/bình luận phần đối thoại/tranh luận trước tòa của các nạn nhân? là chỉ cần 15 phút nghị án cho một tội danh có thể lên mức tử hình; thậm chí, là bắt giữ/hạch sách/thẩm vấn người dân ngồi uống càphê ở quán nước trước tòa?…
- Cùng Tắc Biến, Biến Tắc Tị -
Các thắc mắc hợp hiến hay vi hiến, pháp quyền hay bạo quyền… đều không còn là vấn đề, một khi đảng và nhà nước đã mất hết/mất trọn/mất ráo mọi quyền lực chính thống của một chính quyền. Đến mức phải chọn lấy các hành xử ti tiện nhất là hình sự hóa mọi lời lẽ phản biện và sử dụng/giả danh du đảng để phân định Đúng/Sai.
Liên Xô và các chế độ Đông Âu cũ đều từng trải và từng thuộc vào bậc thầy của các cách hành xử đê tiện đẫm máu và nước mắt đó trước khi kết thúc.
Các cuộc cách mạng màu (thời hậu chiến tranh lạnh) cũng có chung điểm khởi từ sự chối từ lẫn ý muốn chấm dứt cung cách cai trị du đãng hèn hạ và đê tiện của các chế độ độc tài bản địa: “Hết thời rồi” tại Serbia năm 2000. “Hoa hồng” tại Georgia năm 2003. “Màu cam” tại Ukraina năm 2004. “Uất kim hương” tại Kirzistan năm 2005. “Màu xanh” tại Lebanon năm 2006…
Hiện tượng “Hết Thời Rồi” đang rần rật tự diễn biến trong lòng chế độ Việt Nam.
Cũng không còn là vấn đề ở đây nữa, về mọi hoang mang cầm quyền hay cầm thú.
Vấn đề là thời điểm của một cuộc cách mạng trắng (áo trắng và khăn tang trắng). Biết đâu đó cũng là dịp đánh dấu hoành tráng của đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long?
21/01/2010
Blogger Đinh Tấn Lực

Đảng là ai? tên gì? ở đâu? mấy đứa?

http://dinhtanluc.multiply.com/journal/item/574/574

 
  đảng là ai? tên gì? ở đâu? mấy đứa?
. Đinh Tấn Lực

 

Dạo này, chỉ nội trong một quý, cả nước rộ lên toàn chuyện động trời, mà đảng ta thì cứ lấp ló/làm lơ/lập lờ/làm liều/lếu láo/lấp liếm… lẫn lấm le lấm lét.
***
Đảng viên thiếu úy “chiến sĩ công an” Trương Đình Hoàng ở Thái Nguyên, mặc thường phục, rượt dí xe máy công dân như trong phim hành động xã hội đen, truy đuổi đến khi ép dừng được “đối tượng” thì mắng dân té tát: “con kia sao chưa chịu xuống (xe), mày chán cơm thèm đất hả?”, rồi rút súng bắn xuyên đùi trái, chui qua hố xương chậu, găm vào tủy xương đùi phải của người thiếu nữ ngồi sau xe máy, xong phân trần với đám đông tụ tập là đang “truy bắt tội phạm”, bỏ mặc cho nạn nhân đứng tại hiện trường đầm đìa trong máu. Vụ việc được ghi lại thành biên bản “Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ”.
“Tội phạm”, người ngồi sau người lái xe vi phạm giao thông, là cô Hoàng Thị Trà, sinh viên khoa Toán-Tin, Đại học Sư phạm Thái Nguyên.
Còn chiến sĩ công an Trương Đình Hoàng, mới chính thực là đảng. Kẻ máu lạnh, lúc mắng dân là thằng này con kia, khi rút súng nhả đạn buộc nhân dân phải chán cơm thèm đất, và nghĩ rằng mình có toàn quyền sinh sát, thực ra đang vỗ ngực: đảng là tao!
*
“Trả lời báo giới sáng 11/8, đại tá Nguyễn Như Tuấn (Phó giám đốc, Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên) khẳng định, việc nữ sinh Trà bị găm đạn thủng đùi, có nhiều người chứng kiến nên không thể giấu diếm, bao che”.
Tức là, nếu ở một nơi vắng vẻ, không người chứng kiến, thì các vụ công an tùy hứng nhả đạn vào dân thế này đều có nhiều xác suất im ắng/chìm xuồng?
Rõ ràng, mỗi một công an và lãnh đạo của nó đều là đảng, hoặc đều ngấm ngầm xưng đảng là tao!
*
Đảng viên thiếu úy “chiến sĩ công an” Nguyễn Mạnh Thư huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa, đã nổ súng vào đám đông nhân dân tụ  tập phản đối tiến trình giải phóng mặt bằng bất công ở Nghi Sơn, gây tử vong tại chỗ cho cháu bé 12 tuổi Lê Xuân Dũng, gây thương tích cho bà Lê Thị Thanh, và gây tử vong sau đó cho ông Lê Hữu Nam.
Nguyễn Mạnh Thư, nả đạn vào dân, là đảng.
Lãnh đạo địa phương, cố bao che bằng kết luận ban đầu là “bắn chỉ thiên/súng cướp cò”, tất nhiên, cũng trong tâm thức coi đảng là tụi tao!
*
Chỉ vì mấy con vịt hay phá rối, hai mẹ con va chạm với nhau, bà mẹ trong lúc nóng giận đã làm đơn gửi đến cơ quan công an với mong muốn công an dọa cho đứa con một trận để nó ngoan hơn. Thế nhưng sau một ngày, cơ quan công an đã trả lại cho bà chiếc quan tài và xác chết đứa con trai. Nạn nhân là anh Vũ Văn Hiền, nông dân ở thôn Bình Xuân, xã Bình Thuận, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Ngày trước, khẩu hiệu của CA là: “không đánh cho có, có đánh cho chừa”. Nay thu gọn lại chỉ còn 3 từ: “đánh cho chết”.
Giống hệt mọi nơi khác, công an Đại Từ là đảng.
*
Thanh niên Nguyễn Văn Khương bị cảnh sát giao thông huyện Tân Yên, Bắc Giang, bắt giữ về  tội đi xe máy không đội mũ bảo hiểm, sau đó đã gục chết ngay trên ghế thẩm vấn tại đồn. Vì bất bình, nhiều người dân đã cùng gia đình nạn nhân mang quan tài của người chết đến trụ sở UBND tỉnh để yêu cầu làm sáng tỏ vụ việc. Lực lượng công an được huy động tới giải tán đoàn biểu tình đòi công lý lên đến cả vạn người, bằng dùi cui và hơi cay.
Nguyễn Thế Nghiệp, tay công an đánh chết anh Khương, là đảng.
*
Chiều chủ nhật 25-7-2010, gia đình nạn nhân bị công an đánh chết đã đưa thi thể anh Khương lên Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh để đòi làm rõ vụ việc. Hỗ trợ gia đình anh Khương, một số rất đông người dân đã đi theo quan tài, bao vây UBND tỉnh từ 14 giờ đến tối. Đến 5 giờ chiều thì 6 đoạn tường rào (60 mét) của UBND tỉnh bị phá hủy. Nhiều tiếng nổ lớn xảy ra do người dân đốt mìn tự tạo. Thi thể nạn nhân vẫn được quàn tại cổng UBND tỉnh. Cổng phụ của UBND đã bị phá cùng với biển ghi tên UBND tỉnh Bắc Giang. Chín giờ tối, nhà chức trách cho thợ làm lại tường và biển tên UB trước sự hiếu kỳ của hàng trăm người dân. Không như mọi ngày, tối nay UBND tỉnh tối om không có cả đèn trang trí ở sân…
Trong khi đó, “thái tử” Nông Quốc Tuấn (con trai Nông Đức Mạnh, sắp trở thành bí thư tỉnh ủy) vẫn thản nhiên tiếp đãi bạn bè trong tiệc nhậu đặc sản bằng món thịt bò tót do 2 đầu bếp từ Hà Nội được điều về Bắc Giang để nấu nướng theo yêu cầu của Tuấn tại nhà hàng Tài Lộc.
Nông Quốc Tuấn, một mình, tự thân, chưa ngồi vào ghế tỉnh ủy, đã là đảng.
*
Ngày 03-7-2010, giáo dân Tôma Nguyễn Thành Năm ở Cồn Dầu đã chết vì bị công an Đà Nẵng lùng bắt, đánh đập, tra tấn tàn bạo. Nhìn những vết thương dã man trên thân xác anh, nhìn cái chết đau đớn của anh, giáo dân Cồn Dầu đã sợ hãi trước những con người hầu như trở thành loài thú dữ. Anh đã ra đi trong đau đớn, trong vòng vây của đội quân công an ngăn chận những người thân quen đến tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Anh ra đi không có những ngọn nến giải oan, để soi rọi sự bất công, dối trá trên miền đất Cồn Dầu. Anh ra đi bên những tiếng khóc thương nhớ, uất ức của vợ con. Anh ra đi trong bối cảnh dối gian, lọc lừa biến hóa hành động giết người của công an và chính quyền Đà Nẵng trở thành vô tội. Hiện gần 2000 hộ dân bị giải tỏa tại Cồn Dầu không có nhà mà ở.
Không thể nhầm: công an, ở mọi nơi trên đất nước này, đều là đảng.
*
Dự án đúc tim cho tượng thánh Gióng gây xôn xao dư luận cả nước trước hạn kỷ niệm 1000 năm Thăng Long.
Phù Đổng Thiên Vương không phải là đảng viên.
Nguyễn Thị Thoa, Giám đốc Cty ATS, người đề xuất dự án này, cũng không chắc là đảng viên.
Chỉ riêng kẻ vận động và phê duyệt dự án, biết trước là sẽ có phần chia chác, mới là đảng.
*
Huỳnh Ngọc Sỹ, nguyên phó giám đốc Sở Giao Thông Vận Tải kiêm giám đốc Ban Quản Lý Dự Án Ðại Lộ Ðông Tây và Môi Trường Nước Sài Gòn, bị báo Nhật phanh phui đường dây tham nhũng PCI, lãnh án sơ thẩm 3 năm tù về tội danh “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, ra tòa phúc thẩm bị nâng mức án lên thành 6 năm tù, hiện có nhiều xác suất ra tòa lần nữa về tội danh chính thức là “nhận hối lộ” nhiều triệu USD.
Huỳnh Ngọc Sỹ, là đảng.
Mỗi cá nhân trong đường dây chung chi của Sỹ cũng là đảng.
*
Thượng tá Đặng Đình Tiến, Phó tham mưu trưởng Sư đoàn 324 Quân khu 4, cùng các sĩ quan dưới trướng, kết hợp với Nguyễn Thị Kim Hoa, Giám đốc Công ty TNHH Liên kết và Giới thiệu Việc làm Bắc Miền Trung, để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 114 gia đình quân nhân (130 triệu đồng/1quân nhân/1hồ sơ xuất khẩu lao động). Các nạn nhân đã tố cáo lên các cấp cầm quyền địa phương cũng như trung ương, và trong suốt năm qua đã trên dưới 30 lần tìm cách khiếu nại đến các cơ quan liên hệ: Sư đoàn 324 QK4; Bộ tư lệnh QK4; Phòng điều tra hình sự QK4; Tỉnh ủy, UBND, Công An các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình, đặc biệt là Bộ Quốc phòng. Nhưng không được trả lời.
Đặng Đình Tiến là đảng.
Thủ trưởng của mỗi cơ quan nêu trên cũng đều tự coi mình là đảng.
*
Nguyễn Ngọc Ân, Giám đốc sở Văn-thể-du của tỉnh Phú Thọ đã tiêu tốn non hai vạn USD tiền thuế của dân để lấy bằng tiến sĩ của Đại học Nam Thái Bình Dương (Southern Pacific University – SPU). Đến khi bị trưng ra ánh sáng những góc đen khuất tất này thì Ân than rằng: Tôi là kẻ kém may! Té ra có nguyên một đường dây giới thiệu của bộ Tài Chánh cho những quan chức muốn có bằng tiến sĩ mà không cần học.
Nguyễn Ngọc Ân (kém may), và cả những đồng chí (còn may) chưa bị lộ, chính là đảng.
*
Sầm Đức Xương, Hiệu trưởng trường trung học Hà Giang, cưỡng dâm nhiều nữ sinh, biến các nữ sinh đó thành gái gọi để thu tiền, rồi cống nạp lên thượng cấp, từ lãnh đạo ngân hàng đến cấp lãnh đạo cao nhất tỉnh, hoàn thành một danh sách đen hoành tráng. Khi vụ việc vỡ lở, các lãnh đạo nhất trí xử lý tình huống bằng cách phù phép cho các nữ sinh nạn nhân phải lãnh án tù về tội bán dâm. Trong số đó, một nạn nhân bỗng dưng mất tích. Nguyễn Trường Tô, chủ tịch tỉnh Hà Giang, với nick trên phôn di động là Tình yêu Chủ tịch, đứng tên hàng đầu trong danh sách đó…
Sầm Đức Xương, hiệu trưởng, chuyên ngành trải ga giường để tiến thân, là đảng.
Nguyễn Trường Tô, tỉnh ủy viên, dùng quyền lực để cưỡng dâm nữ sinh, tất yếu là đảng.
*
11 chiến sĩ công an thuộc Cục Kỹ thuật Nghiệp vụ II (A-23), còn được gọi là CAM, vừa mới được Lê Doãn Hợp, Bộ trưởng 4T, trao kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp 4T”, bởi đã tận tình “sử dụng các phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ phối hợp với các lực lượng chủ động đấu tranh với âm mưu hoạt động của các loại tình báo, gián điệp, phản động và tội phạm khác”.
Mới vài tháng trước, thiếu tướng công an Vũ Hải Triều cũng đã báo cáo thành tích đánh sập 300 trang mạng và blogs, đồng thời, đã chộp được mật khẩu để xâm nhập nhiều trương mục email của một bộ phận không nhỏ nhân dân.
A-23 là đảng. CAM là đảng. Tự thân Lê Doãn Hợp/Vũ Hải Triều cũng là đảng.
*
Văn Đình Ưng, Phó chánh Văn phòng Bộ GD-ĐT phân tích sâu sát rằng có 4 lý do khiến học sinh đỗ tốt nghiệp cao năm nay:
Thứ nhất do năm nay là năm thứ tư thực hiện cuộc vận động “hai không” nên những thí sinh yếu kém đã cố gắng học tập để thi đỗ.
Thứ hai, do công tác tư vấn tốt của các cơ quan truyền thông.
Thứ ba, do các ngày thi trên toàn quốc thời tiết mát mẻ.
Thứ tư là có thể do các em phấn đấu lập thành tích để chào mừng đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội!

Văn Đình Hưng, đích thị là đảng.
*
Ban Tuyên Giáo thuộc Thành Ủy thành phố Ðà Nẵng vừa ra một văn bản, không rõ thuộc loại gì, nhưng có vẻ ngang với một cái lệnh, đề gửi cho “Văn phòng đại diện báo Ðại Ðoàn Kết tại Ðà Nẵng”, đòi cơ quan báo chí này cử phóng viên phải “là đảng viên” đến để “thông tin, tuyên truyền về Ðại hội lần thứ XX đảng bộ thành phố Ðà Nẵng”. Thế là …tịt, bởi văn phòng đại diện báo ĐĐK tại Đà Nẵng không có nhà báo nào là đảng viên.
Các ban Tuyên giáo, từ TW xuống tới địa phương đều tự coi mình là đảng.
*
Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch UBND TP Hà Nội, và Hoàng Tuấn Anh, Bộ trưởng Văn-thể-du,  đã hè nhau đề xuất một phương án thực sự động trời có tên là Phương án… “bắn mây ngăn mưa”, với phí tổn vào tầm 1 tỷ USD cho 3 ngày đại lễ nhiệt liệt chào mừng 60 năm hữu nghị Việt-Trung và 1000 năm Thăng Long. Đề án này được chuyển đường tắt lẫn đường vòng lên tới Phó TT Nguyễn Sinh Hùng. Tức là toàn giới IQ thượng hạng ngoại hạng. Không may cái là thời điểm của đề án này rớt vô sau vụ đường sắt cao tốc bị bác. Nguyễn Sinh Hùng, dù rất mê tính béo ngậy của dự án, nhưng cũng đành nuốt nước bọt nói “không”, kèm theo một lời phán nuối tiếc: “Nếu ta làm được thì nên làm, đằng này ta chưa làm được thì thôi”.
Kẻ đề xuất theo cảm hứng và trong tâm thức toàn quyền, tất nhiên là đảng.
Kẻ phê chuẩn, dù không được như ý, cũng vẫn xưng xưng rằng đảng là tao!
*
Chỉ riêng 16 bộ phận tổ chức của đảng CSVN, chưa phải toàn đảng, trong nhiệm kỳ 10 đã “vi phạm trong sử dụng tiền bạc” tăng gấp đội nhiệm kỳ 9: số tiền vi phạm phát hiện được ở cấp do trung ương kiểm tra là trên 80 tỷ đồng, tương đương 4,2 triệu đô la. Ở cấp cơ sở, con số này là 56 tỷ đồng. Lưu ý rằng đây chỉ là những con số “phát hiện được”.
Nguyễn Văn Chi, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, thừa nhận “vi phạm qua kiểm tra tài chính đảng là đáng lo ngại, kiểm tra đâu cũng có vi phạm ở mức độ khác nhau”.
Thủ trưởng bất kỳ cơ quan nào của đảng cũng tự coi mình là đảng.
*
Hai anh em Trần Văn Chính (nguyên Vụ phó Vụ Tổ chức cán bộ của Bộ Giáo dục & Đào tạo) quyết tâm chiếm lấy bằng được Trường Đại học Phan Châu Trinh ở Hội An (một tư thục phi lợi nhuận). Theo một vài (trong số rất nhiều) đường dây (nổi tiếng của Bộ), việc vận động của anh em Trần Văn Chính đã đưa đến kết quả là Nguyễn Thị Nghĩa, Thứ trưởng Bộ GD- ĐT, cùng một Đoàn công tác hùng hậu về “làm việc” với Ban giám hiệu của trường trong suốt …một giờ đồng hồ, trên nguyên tắc định sẵn là …miễn đối thoại.
Hệ quả là 2 cái quyết định ngồi xổm trên luật pháp của Nguyễn Thị Nghĩa đều được hoàn trả cho khổ chủ: 1) bãi miễn trách vụ hiệu trưởng của ông Phạm Hữu Thu; và 2) ngưng tuyển sinh cho trường Phan Châu Trinh.
Hai anh em Trần Văn Chính tất nhiên là đảng.
Nguyễn Thị Nghĩa cũng là đảng. Thậm chí, còn hơn cả đảng, bởi đã bị mắng ngay trong buổi họp với thành ủy Hội An: “chị là Thứ trưởng thôi chứ chị to hơn đảng à?”.
*
Trường Cao đẳng Nghề số 8 (thuộc bộ QP, ở Biên Hoà, Đồng Nai), từng được vinh danh “Điểm sáng về dạy nghề”, là nơi mà mọi thí sinh đều an tâm đóng tiền đi thi “bảo đảm đậu”. Kể cả những thí sinh ngồi ngoài quán uống cà phê, thậm chí, đi tắm biển tận Vũng Tàu Bà Rịa, cho hết giờ thi, đều được cấp bằng. Ngô Phước Sánh, Chủ tịch UBND thị trấn Tân Thạnh, cũng là 1 trong các tay cò mua bán bằng, tuyên bố: “Chỉ đạo của huyện là làm sao thì làm, miễn có bằng thì thôi!”.
Hiệu trưởng trường nghề số 8, với toàn quyền cấp bằng, là đảng.
Các chủ tịch UBND đồng loại với Ngô Phước Sánh, cũng là đảng.
*
Một trong các bộ đứng đầu công nghiệp nuôi dưỡng nhiều cò lắm chợ là Bộ GD-ĐT. Ngoài chợ phao, các chợ tuyển sinh là nơi sầm uất phồn thịnh hơn cả. 200 triệu đồng/1 suất đại học! Khẩu hiệu bắt mắt thời đại là: “Trường nào cũng chạy được”, “Trôn kim nào cũng qua lọt”…
Quan chức bộ GD-ĐT là đảng.
Cò chạy trường, không nhất thiết đảng viên, cũng hành xử không khác đảng.
*
Phạm Thanh Bình, Chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc Vinashin, quản trị thua lỗ/thất thoát 86.000 tỷ đồng tiền thuế của dân. Tính trung bình ra là mỗi công dân VN phải trả khoảng một triệu đồng tiền nợ do Bình gây ra.
Nguyễn Sinh Hùng, Phó thủ tướng, lãnh trách nhiệm vực dậy tập đoàn kinh tế khánh tận Vinashin bằng dự án vay nợ 56 tỷ USD dưới danh nghĩa xây dựng đường sắt cao tốc, nhưng rất tiếc là quốc hội phản bác, không thông qua.
Phạm Thanh Bình, kẻ phá hoại tài sản của nhân dân ở tầm kỷ lục bằng tính khí tùy tiện và ngu muội lộng quyền như trên, chính là đảng.
Nguyễn Sinh Hùng, nâng đỡ/bảo kê/bao che/cứu vớt cho một tội phạm như Bình, vẫn bằng tính khí tùy tiện và ngu muội lộng quyền như trên, cũng đã tự coi mình là đảng.
*
Võ Kim Cự, ủy viên Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy, phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Hà Tĩnh, từng “bị kỷ luật vì làm cho một cô giáo mầm non mang bầu”, từng mua bằng dỏm của Western Pacific University, vừa được bổ nhiệm giữ chức chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh.
Nguyễn Nhật, chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị, tổng giám đốc Tổng công ty Khoáng Sản và Thương Mại Hà Tĩnh, nổi danh xài bằng dỏm của Ðại Học Irvine và Nam Thái Bình Dương, cũng vừa được bổ nhiệm giữ chức phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh.
Quyết Ðịnh bổ nhiệm mang số 1385/QÐ-TTg.
Võ Kim Cự và Nguyễn Nhật, lọc lừa cả nước, dùng bằng dỏm để thành lãnh đạo, chính là đảng.
Nguyễn Tấn Dũng, kẻ hồn nhiên bổ nhiệm cho mấy đứa xài bằng dỏm làm lãnh đạo như nó, tất nhiên, càng là đảng “gộc”.
***
Ngần ấy thời sự nhục nhã xảy ra chỉ trong khoảng trên dưới một quý.
Đủ để cả nước thất kinh khi phải lược qua tình hình cần duyệt lại xem đảng là ai? tên gì? ở đâu? mấy đứa?
Đảng ta là đạo đức, là văn minh, như thế ư?
Thẻ đảng là giấy chứng thực tất cả những lề thói đạo đức/văn minh như thế chăng?
Những đảng viên khác nghĩ sao?
Phải chăng đã đến lúc để vất bỏ những tấm thẻ đảng ô nhục đó?
Nơi nơi đang sục sôi. Chỉ cần Đại tướng Võ Nguyên Giáp phát pháo tiên phuông, làm gương dẫn dắt, là trở thành động lượng đại trà, giúp cho mọi người mạnh dạn hơn để cùng vất bỏ thẻ đảng, chối từ cái hàng ngũ phi nhân đang nhân danh cộng sản mà vơ vét tư lợi; nhân danh xã hội chủ nghĩa mà bóc lột công nông; nhân danh Tổ Quốc mà bán đứng Tổ Quốc; nhân danh Dân Tộc mà đọa đày/giết hại Dân Tộc…
Hãy cùng nhau vất bỏ thẻ đảng để sang trang lịch sử.
Không chỉ thuần để giữ nguyên bờ cõi, mà còn để kiến tạo bệ phóng cho đất nước cất cánh, con người thăng hoa.
14-8-2010. Chuẩn bị chào mừng 65 năm ngày Cách Mạng Tháng Tám.
Blogger Đinh Tấn Lực