29/5/11

Xin đừng bịp bợm thế hệ trẻ chúng tôi nữa!

Độc giả Dân Luận - Tôi là: Một công dân Việt Nam, 30 tuổi, Đảng viên, Sỹ quan quân đội, Bí thư Đoàn và là một Nhà giáo.
Thế hệ trẻ chúng tôi mặc dù được tuyên truyền, giáo dục, thậm chí là nhồi sọ rằng mình đang được sống ở một xứ sở thiên đường, một nơi mà nền dân chủ được phát huy cao độ cũng như vô vàn những điều tốt đẹp khác nhưng những gì chúng tôi nhìn thấy đang chứng minh điều ngược lại. Như vậy, chúng tôi đang bị bịp bợm một cách trắng trợn bởi những kẻ dốt nát về trí tuệ nhưng ma giáo về chính trị. Tôi viết thư này mong muốn Dân luận đăng tải để những kẻ đó, nếu có đọc (và chắc chắn sẽ đọc, rất kỹ là đằng khác) biết rằng chúng tôi không phải là những con lừa để các vị dắt mũi đi theo con đường nào cũng được. Chúng tôi là những thanh niên tràn đầy nhiệt huyết, có học, có bản lĩnh… và chúng tôi mong muốn được đối xử xứng đáng hơn, chí ít là không bị bịp bợm. Và cũng chỉ bằng cách đó, các vị mới có cơ may kêu gọi được thanh niên chúng tôi trở thành một lực lượng hùng hậu, là “cánh tay đắc lực” theo đúng nghĩa của nó, góp sức được nhiều hơn cho Tổ quốc, cho Nhân dân (tôi không muốn nói “cho Đảng” ở đây mặc dù là một Đảng viên, vì chỉ khi nào Đảng thật sự xứng đáng, tôi mới cống hiến hết mình cho Đảng).
Sau đây, tôi muốn trình bày những gì mà các vị đã, đang, và sẽ còn (âm mưu) tiếp tục bịp bợm chúng tôi:

1. Về chính trị, tư tưởng:

- Các phương tiện thông tin đại chúng suốt ngày ra rả rằng Việt Nam là một quốc gia có nền dân chủ đầy đủ, có một Nhà nước pháp quyền đúng nghĩa. Chúng tôi hiểu rằng một nền dân chủ đầy đủ phải đảm bảo những quyền tự do cơ bản cho con người: quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do tụ họp, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng – tôn giáo, tự do về cư trú, di dân,… Nhưng thực tế thì ngược lại, tôi chẳng thấy một quyền nào được đảm bảo đầy đủ, thậm chí có những quyền bị chà đạp nghiêm trọng. Có lẽ không cần nêu những ví dụ ra đây để minh chứng cho điều đó vì các vị là những người biết nhiều hơn cả. Còn Nhà nước pháp quyền đúng nghĩa phải có Tam quyền phân lập, nhưng ở Việt Nam tồn tại một thực trạng là Đảng đứng trên cả 3 cơ quan Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp – vô hình trung trở thành một thế lực siêu nhà nước. Chính vì thế mà có những việc đáng ra không phải của mình thì Đảng lại tự nhận, còn những việc thuộc chức năng của mình thì làm không đến nơi đến chốn. Điều này dẫn đến sự chồng chéo, kém hiệu quả trong quản lý và điều hành, gây hậu quả nặng nề và hết sức tai hại cho sự phát triển của đất nước. Chúng tôi cay đắng nhận ra rằng Tổ quốc mình đang đi thụt lùi so với bạn bè quốc tế mà nguyên nhân cơ bản không phải do Nhân dân tôi ngu dốt (ngược lại IQ rất cao!?). Các vị giải thích thế nào cho thực trạng này?
- Từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng tôi được giáo dục về chủ nghĩa Mác – Lênin, về phương hướng phấn đấu vươn lên trở thành Đoàn viên rồi Đảng viên Cộng sản, tin theo lý tưởng “Suốt đời phấn đấu – hi sinh vì chủ nghĩa Cộng sản”. Tôi nghĩ rằng đây là sự bịp bợm lớn nhất mà các vị dành cho thế hệ chúng tôi. Kể cả bây giờ, chứng kiến rất nhiều lễ kết nạp Đảng viên mới, tôi vẫn thấy các anh, các chị, các bạn đọc những đơn xin vào Đảng giống nhau, đều thề thốt trung thành với cái mà mình không biết là gì. Vậy tại sao các vị vẫn tiếp tục duy trì tình trạng này? Nếu không chỉ cho chúng tôi biết CNXH hay CNCS là cái gì thì mong các vị hãy đừng bắt chúng tôi đi theo những chủ thuyết đó, hãy thay thế bằng những mục tiêu, lý tưởng gần gũi mà nhân văn hơn, như các nước tiên tiến – bạn bè của chúng ta – đang thực hiện theo chẳng hạn. Hay gần nhất với chúng ta là những luận điểm trong tư tưởng và đạo đức Bác Hồ cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Lại nói về tư tưởng và đạo đức Bác Hồ, Trung ương Đảng mà trực tiếp là Ban Tuyên giáo Trung ương phát động một cuộc vận động học tập và làm theo vô cùng rầm rộ. Đây lại là một sự bịp bợm rất lớn. Sở dĩ tôi nói thẳng đây là một cuộc vận động bịp bợm vì nó hết sức hao tiền tốn của mà không mang lại hiệu quả gì, hoàn toàn mang tính hình thức. Nhiều người trong số các tấm gương được tôn vinh trong giai đoạn thứ nhất của cuộc vận động (gọi là giai đoạn học tập) là những “tấm gương” mờ, thậm chí là những con người vô đạo đức. Chỉ riêng giai đoạn này đã ngốn không biết bao nhiêu tiền của, giấy mực, thời gian cho hội nghị, hội thảo, tuyên truyền, giáo dục, sơ tổng kết, viết bài thu hoạch,… mà nếu các vị có dịp chứng kiến có những đơn vị sau đợt sơ tổng kết đã bán giấy vụn các bài thu hoạch đóng hàng thùng lớn thì các vị mới hiểu, mình đã xúc phạm Bác Hồ kính yêu đến mức như thế nào.

2. Về giáo dục, đào tạo:

Có thể nói thẳng về tình trạng giáo dục nước nhà trong hơn 20 năm trở lại đây, xuất phát từ chính trải nghiệm của bản thân, là một nền giáo dục bịp bợm. Điều này thể hiện ở sự nhộm nhoạm, hỗn loạn, vô tổ chức vô kỷ luật, thầy không ra thầy, trò càng không ra trò, bất chấp cả những nguyên tắc cơ bản nhất của một nền giáo dục lành mạnh. Và kết quả: sản phẩm của nền giáo dục XHCN của nước nhà đa phần là những người bất tài (đến giờ phút này, đau đớn thay tôi nhận ra mình cũng là kẻ nằm trong số đó), vô dụng, cơ hội, lưu manh,… số khá hơn thì tìm mọi cách để được “tỵ nạn giáo dục” ở những nước phát triển.
Các vị có thấy tình cảnh này không? Tôi biết chắc là có, nhưng các vị vẫn để như thế dù về hình thức đang tiến hành những biện pháp cải cách tào lao, lòng vòng, tiếp tục tiêu tiền của Nhân dân cho những dự án giáo dục vô bổ. Và tôi có cảm giác, các vị đang cố gắng khuấy cho vũng nước giáo dục ngày càng đục lên để các vị, bạn bè và người thân các vị dễ dàng trục lợi. Còn con cháu các vị, không có gì phải lo cả vì chúng đã được cha mẹ, ông bà cho đi “tỵ nạn” cả rồi.
Có đau lòng không khi những kẻ vô học đi tuyển sinh những người có học (không tin, các vị cứ đến các trung tâm tuyển sinh mà hỏi, có kẻ nào làm công tác tuyển sinh mà không nhà lầu xe hơi, sống xa hoa trên sự đóng góp của thí sinh và gia đình họ trong khi không có trình độ tối thiểu để hiểu được chuyên ngành mình tuyển sinh đào tạo về cái gì, để rồi sau tuyển sinh, họ thực hiện phương châm “đem con bỏ chợ”, “sống chết mặc bay”). Có đau lòng không khi sinh viên tốt nghiệp ra trường, đa phần thất nghiệp hoặc không làm đúng chuyên môn. Có đau lòng không khi đi tuyển dụng, các doanh nghiệp thờ ơ với những người có bằng cấp cao vì theo họ không thể trả lương cao cho những kẻ chỉ có bằng cấp. Có đau lòng không khi có những thầy cô giáo hết lòng vì học trò thì bị bạc đãi, tích cực đấu tranh với tiêu cực thì bị vùi dập để phải từ bỏ niềm vinh quang được đứng trên bục giảng. Tôi gọi đây là một nền giáo dục bịp bợm chắc vẫn đang còn nhẹ vì nhiều người đã gọi đây là nền giáo dục vô nhân đạo.

3. Về kinh tế - xã hội và khoa học công nghệ:

Không được học nhiều về kinh tế nhưng tôi biết thực trạng kinh tế nước nhà không giống như những gì hay được xem, được nghe trên các phương tiện thông tin đại chúng chính thống. Các số liệu đẹp đẽ được đưa ra không đủ để khỏa lấp nỗi lo lắng ngày càng tăng của Nhân dân khi lạm phát vào bão giá như con bạch tuộc giơ những chiếc vòi gớm ghiếc vào tận bữa cơm của những gia đình nghèo. Tôi có cảm tưởng sự điều hành của các cơ quan Nhà nước không hề có vai trò gì ở đây, nếu có cũng chỉ là ngụy biện, bịp bợm cho tình trạng ngày càng tồi tệ của nền kinh tế. Các vị đừng lấy bối cảnh của vài chục năm trước ra so sánh với bây giờ để kết luận chúng tôi sướng hơn thế hệ cha anh bởi ai trong chúng tôi cũng hiểu, mức sống cao hơn không có nghĩa là chúng ta sống tốt hơn. Mà ngược lại, với cách điều hành nền kinh tế “tài ba” như hiện nay, các vị đang làm cho đất nước này từ chỗ “rừng vàng biển bạc” trở nên cạn kiệt tài nguyên (tức là không còn gì cho con cháu), ô nhiễm môi trường trầm trọng, phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ nét, xã hội hỗn loạn với đủ các loại tội phạm, thiên tai dịch bệnh hoành hành, tai nạn giao thông trở thành vấn đề thường nhật, y tế và các dịch vụ công thì trì trệ, đạo đức xã hội xuống cấp nghiêm trọng, tình cảm tốt đẹp giữa người với người đang dần bị thay thế bằng mối quan hệ dựa trên đồng tiền, không ít người dân và gia đình của họ bị bần cùng hóa do chính sách đất đai và hướng nghiệp, biến thành những tên Chí Phèo thời hiện đại… Có người đã nói không ngoa rằng sống ở Việt Nam không khác gì đem số mệnh của mình ra để đánh bạc. Vậy những gì các vị đang tuyên truyền tích cực nào là “kinh tế phát triển nhanh và bền vững”, “xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” hay “tình hình trong nước ổn định, yên bình”,… không phải là sự bịp bợm thì là gì?
Cũng chính nhờ những chính sách điều hành của các vị mà chúng tôi đang được sống trong một đất nước có nền Khoa học – Công nghệ ở hàng dưới đáy của nhân loại mặc dù trí tuệ con người Việt Nam chắc chắn không phải là kém. Tôi từng xấu hổ vô cùng khi phải nói với học trò của mình rằng nền Khoa học kỹ thuật của nước nhà không chế tạo được sản phẩm nào ra hồn, rằng chúng ta đang đi sau chính những nước trong khu vực tới hàng chục năm, còn đi sau những nước phát triển không biết bao nhiêu năm nữa. Bằng chính sách giáo dục như trên đã nói, tôi không hiểu rồi đến bao giờ chúng ta mới có được một nền khoa học – công nghệ và kỹ thuật đủ sức cạnh tranh với họ. Vậy những điều các vị rêu rao về “đi tắt đón đầu”, “đi thẳng vào hiện đại”,… không là bịp bợm thì là gì?

4. Về quốc phòng – an ninh

Là sỹ quan quân đội, tôi có đủ cơ sở để kết luận rằng những chủ trương, chính sách của các vị về quốc phòng – an ninh phần lớn là những chủ trương, chính sách mang tính bịp bợm.
Bịp bợm trước hết là bịp bợm về kẻ thù. Trong những năm gần đây, chúng tôi công nhận là với xu hướng hội nhập, chúng ta đang ngày càng thêm bạn bớt thù. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta đã hết kẻ thù. Việc xác định bạn – thù là một vấn đề hết sức trọng đại, mang tính sống còn để từ đó, xây dựng được chiến lược quốc phòng – an ninh đúng đắn, xác định được mục tiêu của công tác huấn luyện bộ đội cho phù hợp với đặc trưng của đối tượng tác chiến. Thế nhưng, hiện nay các vị đang tính bịp bợm chúng tôi rằng “anh bạn” láng giềng phương Bắc – một “anh bạn” được tô vẽ với những “4 tốt” và “16 chữ vàng” – là một anh bạn đúng nghĩa “môi hở răng lạnh”. Nhưng với những gì mà Trung Quốc đang làm mà tôi có thể liệt kê ra đây:
+ Luôn âm mưu xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam,
+ Bắt bớ, giam cầm, tra tấn, đòi tiền chuộc (không khác gì cướp biển) đối với ngư dân của ta trên lãnh hải của ta,
+ Luôn âm mưu phá hoại nền kinh tế của ta,
+ Âm mưu đồng hóa văn hóa và làm thui chột giống nòi của ta,
+ Âm mưu bòn rút cạn kiệt tài nguyên của ta,
+ Can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ của Đảng và Nhà nước ta
thì chúng tôi có đủ cơ sở để khẳng định, chính Trung Quốc chứ không phải ai khác đang là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất đối với nền quốc phòng – an ninh của ta. Vì vậy, các vị đừng cố tình bịp bợm những người lính chúng tôi về vấn đề này nữa.
Bịp bợm tiếp theo là bịp bợm về chính sách đãi ngộ đối với quân nhân. Các vị cho xây dựng trụ sở làm việc hoành tráng (đương nhiên bằng tiền của Nhân dân), phong quân hàm sỹ quan cao cấp búa xua, vô nguyên tắc (chính sách thay đổi xoành xoạch hàng năm) nhằm ru vỗ chúng tôi. Nhưng thực tế thì trụ sở làm việc hoành tráng nhưng lãng phí, vô dụng, không góp phần nâng cao chất lượng công tác mọi mặt trong quân đội. Việc phong quân hàm cho tướng tá không làm cho đời sống của đại đa số sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan chiến sỹ khá hơn mà chủ yếu tạo ra kẽ hở cho việc tham nhũng, chạy chức chạy quyền tràn lan ngay trong một môi trường được xem là kỷ luật nghiêm minh. Đời sống của cán bộ chiến sỹ khó khăn cộng với công tác tuyển dụng, công tác cán bộ - quân lực, công tác đào tạo nhiều bất cập dẫn đến ngày càng có nhiều cán bộ chiến sỹ tha hóa, biến chất, tham gia các tệ nạn xã hội thậm chí trở thành tội phạm nghiêm trọng mà báo chí gần đây đã đưa tin. Đại đa số chiến sỹ sau khi hết nghĩa vụ quân sự trở thành thất nghiệp, lông bông, thậm chí trở thành xã hội đen, tiếp tục rơi vào vòng luẩn quẩn của quá trình bần cùng hóa, biến thành những tên Chí Phèo phá hại làng xóm. Các vị còn muốn bịp bợm chúng tôi đến bao giờ nữa?
Cuối cùng, việc bịp bợm không chỉ dừng lại ở đó. Thời gian gần đây, các vị đang thực hiện một âm mưu mà tôi cho là độc ác và bạo tàn. Đó là các vị đang muốn biến những người lính của Quân đội Nhân dân anh hùng trở thành những công cụ bạo lực, quay mũi súng chống lại chính đồng bào thân yêu của mình, nhằm phục vụ những mưu đồ ăn cướp của các vị. Tôi xin nói để các vị rõ, chúng tôi từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu. Lý tưởng cao đẹp nhất của chúng tôi là phụng sự Tổ quốc, hiếu thảo với Nhân dân. Lời thề cao nhất mà cán bộ chiến sỹ chúng tôi tâm niệm, cao hơn nhiều so với 10 lời thề chúng tôi vẫn đọc khi chào cờ, đó là: tự bản thân mình, chúng tôi sẽ không làm tổn thương bất kỳ ai. Nhưng nếu có kẻ nào, thế lực nào âm mưu xâm hại đến Tổ quốc của chúng tôi, xâm hại đến Nhân dân chúng tôi thì chúng tôi sẵn sàng bắn thẳng vào đầu chúng mà không bao giờ phải ân hận vì điều đó. Vậy các vị có còn muốn bịp bợm chúng tôi nữa hay thôi? Nếu các vị vẫn còn âm mưu những điều đen tối chống lại Tổ quốc, chống lại Nhân dân, chúng tôi sẽ không ngần ngại quay mũi súng về chính các vị. Nhân dân và Lịch sử sẽ luôn đứng bên chúng tôi.
Với tất cả những gì đã nói ở trên, một lần nữa, tôi mong các vị hãy đừng cố gắng bịp bợm chúng tôi thêm nữa. Chúng tôi đã quá rõ bộ mặt thật của các vị rồi và chúng tôi không muốn mình được dắt đi bởi những kẻ vừa MÙ, vừa ĐIẾC mà nhất là lại VÔ LƯƠNG TÂM. Đừng coi thường thế hệ trẻ chúng tôi!
(Một bạn đọc xin được giấu tên vì nhiều lý do tế nhị).
http://danluan.org/node/8914

Chờ đợi Bộ Quốc phòng sẽ có những hoạt động đáp ứng lòng dân

Bauxite Việt Nam - Đây là một tin không vui. Đúng như Cụ Hồ từng nói trong Lời kêu gọi kháng chiến toàn quốc sáng ngày 20-12-1046: “Chúng ta muốn hòa bình chúng ta phải nhân nhượng, nhưng chúng ta càng nhân nhượng giặc… [Tàu] càng lấn tới”.
Nhiều năm nay, trước mọi hoạt động khiêu khích và lấn chiếm của bọn giặc hung hãn, dân chúng tuy công phẫn đến cực điểm vẫn phải cố cắn răng mà chịu, vì bọn giặc này chỉ mới nhè thuyền cá của dân giết chóc, cướp phá, mà dân thì hình như chẳng phải là đối tượng quan tâm của mấy ông CP từ lâu nay, nên muốn làm gì để đối phó cũng thật khó khăn; muốn há miệng thì mắc quai (cái quai “4 tốt” và “16 chữ” do ông cựu Tổng mang từ bên Tàu về “quai” vào miệng dân), nên đành cứ phải chờ chiếc loa của bà Phương Nga phát lên hộ mình, đúng giờ giấc và đúng bài bản.
Nhưng nay thì không phải như vậy nữa. Giặc đã hung hăng đến quấy phá chiếc tàu thăm dò dầu khí Bình Minh 02 của một Tập đoàn kinh tế nhà nước vào lại lớn nhất nhì của CP, nghĩa là đã  ra oai với CP Việt Nam. Chúng đã chuyển sang giai đoạn thứ hai, thị uy ông TT và cả cái bộ sậu vốn ăn to nói lớn của ông rồi. Chắc chắn chúng không dừng ở đấy. Anh Ba Sàm nghĩ rằng hẳn từ nay không còn vị nào trên cấp cao quyền lực đưa 4 tốt và 16 chữ ra che mắt dân hay là nhử dân được nữa. Chúng tôi tán thành nên trả mấy thứ của nợ ấy cho ông Tổng Mạnh đem về treo ở nhà ông thôi.
Nhưng quan trọng hơn, đất nước đang lâm nguy, phải làm gì đây? Bình thường thì những ai có nhiều đặc quyền đặc lợi trong các hoạt động khoan dầu trước đến nay phải nên ngẫm nghĩ và hành động, chứ dân đen đang lâm vòng lạm phát kinh khủng, lời lãi gì của PVN nào có đếm xỉa đến họ đâu. Song nói thế cũng không được. Đất nước là của chung, và xâm phạm vào đất nước thì “sất phu hữu trách”, ai cũng có trách nhiệm trong mối đe dọa mất còn này. Chúng tôi chợt nhớ đến những lời tuyên bố rắn chắc của ông Nguyễn Chí Vịnh. Hai lần ông tuyên bố  đều gây ấn tượng cho rất nhiều người, và những lời của ông, rạch ròi, khúc chiết, khác hẳn với những kẻ bụng phệ “ăn thì nên đọi nhưng nói không nên lời” mà ta thấy nhan nhản trên các diễn đàn, hội nghị quan trọng này khác. Chúng tôi nhớ đinh ninh những gì ông nói trước khi dự Hội nghị ASEAN rất gần đây: “Việt Nam không chấp nhận một nền hòa bình lệ thuộc”; “”Phải làm thất bại mọi âm mưu xâm phạm chủ quyền”; “Giữ vững độc lập tự chủ là nguyên tắc cơ bản, bất di, bất dịch và cần được quán triệt trong mọi kế hoạch, biện pháp công tác đối ngoại quốc phòng, là cơ sở để nâng cao vị thế, uy tín của đất nước trong quan hệ quốc tế, là điều kiện để hội nhập thành công”; “Việt Nam tôn trọng bạn bè quốc tế, mong muốn hợp tác hữu nghị với tất cả các nước, nhưng không bao giờ quên rằng, việc đất nước mình thì mình phải tự lo”, và việc tôn trọng lợi ích của nước khác “không được xâm phạm những vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, về độc lập tự chủ, và chủ quyền lãnh thổ, chế độ chính trị…” của nước ta.
Chúng tôi đã hồ hởi nghe ông nói và bây giờ là lúc đang chờ lời nói biến thành việc làm. Có thể quan niệm được rằng việc Trung Quốc cho 3 tàu hải giám đến phá hoạt thiết bị của chiếc tàu thăm dò Bình Minh 02 của PVN vẫn chỉ nằm trong phạm vi quan hệ bình thường giữa hai nước, chưa có gì đáng để có hành động “đáp trả” được hay không? Lại có thể nghĩ nếu dùng lực lượng quốc phòng đối phó với những hoạt động khiêu khích hèn hạ của tên giặc không lồ thì sẽ sinh to chuyện bất lợi cho việc giữ gìn hòa bình ở Biển Đông hay không? Quân đội Malaysia, Philippines trong vài năm lại đây đều đã biểu thị tinh thần độc lập và sự giữ vững chủ quyền bất khả xâm phạm của nước họ bằng những hành động thiết thực mà ông đã biết, và những hoạt động đó đều có kết quả xua đuổi cho tên cướp bỏ chạy mà vẫn không dẫn đến làm căng thẳng giữa nước lớn đối với nước nhỏ. Chúng tôi cho rằng trong chiến lược, giữ vững hòa bình là yêu cầu thượng sách, nhưng trong chiến thuật, cứ cúi đầu mãi thì lại là là đánh mất uy tín của một nước độc lập trên trường quốc tế. Uy tín ấy hoàn toàn không được bảo đảm bằng những lời hùng hồn chỉ trên báo chí. Đó là bảo đảm bằng lưỡi chứ không bảo đảm bằng vàng.
Chúng tôi đã mất hy vọng ở Bộ Ngoại giao vì nghe quá nhiều những lời lặp đi lặp lại không thay đổi đến nhàm tai, trong khi các Sứ quán của họ ở khắp nơi thì rất năng động và thông minh trong việc thúc giục con dân xuất ngoại kiếm sống ở nước người phải thực hiện “nghĩa vụ” với họ. Bởi vậy giờ đây, chúng tôi chờ đợi Bộ Quốc phòng sẽ có những hoạt động chững chạc, đáp ứng lòng dân mong mỏi.
Bauxite Việt Nam

Giọt nước mắt của loài quỷ dữ !

Hồ chí Minh và Cải cách ruộng đất

 
Cải cách ruộng đất, một chiến dịch diệt chủng của người cộng sản cách đây hơn nữa thế kỷ mà khi nhắc lại tưởng chừng như mới hôm nào. Chắc chắn trong lòng người dân Việt, nhứt là người Việt ở miền Bắc đã phải gánh chịu cái tai ách ấy trong suốt 3 năm trời vẫn còn bàng hoàng khi nhắc đến CCRĐ. Ngày nay đảng cộng sản còn đây thì tất cả những hành động diệt chủng của họ còn được che đậy, nhưng mai kia khi đảng cộng sản bị tiêu diệt rồi thì mọi người dân sẽ thắp nén nhang, lập đàn tràn giải oan cho bao nhiêu vong hồn uổng tử đã bị giết oan và bắt kẻ gây án phải đền tội dù họ còn sống hay đã chết.
                1 – Cải cách ruộng đất:
Ông Hoàng Tùng, nguyên Tổng Biên tập báo Nhân Dân(1954-1982) kể lại trong chuyện“ Bí mật HCM” cho chúng ta thấy được sự nô lệ của ông Hồ và đảng Lao Động Việt Nam(tiền thân của đảng CSVN) như thế nào.
“ Mùa hè năm 1952 Mao Trạch Đông Stalin gọi bác sang, nhất định bắt phải thực hiện CCRĐ. Sau thấy không thể từ chối được nữa, bác mới quyết định phải thực hiện CCRĐ…
“ Mùa hè năm 1952, sau khi đi Trung quốc và Liên xô về, bác chuẩn bị cho hội nghị cán bộ đầu năm 1953, quyết định CCRĐ. Đoàn cố vấn CCRĐ do Kiều Hiếu Quang làm trưởng đoàn. Kiều là phó bí thư tỉnh ủy Quảng Tây. Họ muốn qua CCRĐ để chỉnh đốn lại đảng ta. Thời gian từ lúc tiến hành CCRĐ đến lúc dừng là 3 năm”. (Đàn chim Việt online ngày 4-7-2010)
ÔngNguyễn Minh Cần, người được thành ủy Hà nội giao cho trách nhiệm sửa sai trong việc CCRĐ ở ngoại thành Hà Nội đã kể lại qua bài “ Xin đừng quên bài học CCRĐ nữa thế kỷ truớc”.
“ Ngày 4-12-1953, Quốc hội nhất trí thông qua luật CCRĐ. Sau đó, chủ tịch HCM đã ra sắc lệnh ban hành luật CCRĐ. Từ đó, bắt đầu các đợt CCRĐ, mà đợt đầu tiến hành ở 47 xã tỉnh Thái Nguyên và 6 xã tỉnh Thanh Hoá, sau đó tràn lan trên khắp miền Bắc, trừ các vùng miền núi…
“ Do sự phẩn nộ của quần chúng đã bùng lên dữ dội, nhiều cuộc nổi dậy ở Bùi Chu, Phát Diệm, nên về sau, trung ương đảng Lao Động VN chỉ tiến hành cái gọi là“ Cải cách Dân chủ” ở miền núi, nghĩa là dẹp bỏ phong kiến địa phương mà không dùng bạo lực quá mạnh vì sợ dân chúng chạy sang Trung quốc, Lào…”
(Người Việt ngày 4 đến 11-2-2006)
                Nguyễn Minh Cần trong bài “ Xin đừng quên bài học CCRĐ nửa thế kỷ trước” nói về cái tỷ lệ giết người như sau:
“  Cái tỷ lệ quái gở 5% đó kèm thêm những“ kết luận” quái đản khác…Cái phương châm“ thà sai hơn bỏ sót, cộng thêm với việc“ thi đua lập thành tích đánh phong kiến”…
“ Tóm lại, những con số về người thiệt mạng trong CCRĐ vẫn chưa xác nhận được. Dù thế nào chăng nữa, với những con số ước tính đã cho thấy đây là một tội ác tày trời. Tội ác này chính là tội ác chống nhân loại”. (Người Việt ngày 6-2-2006)
Trong chiến dịch CCRĐ giết người có chỉ tiêu rõ ràng, cái chỉ tiêu ác độc ấy phải giết địa chủ ở mỗi xã cho đủ 5% dân số hoặc nhiều hơn càng tốt, càng được khen thưởng. Theo nhà văn Tô Hoài:
“ Thế mà vượt hết, thắng lợi lớn, toàn đoàn truy được hơn năm trăm địa chủ lọt lưới, đến bước ba đưa tỷ lệ 5% lên 7,24% đánh đổ hoàn toàn giai cấp địa chủ về chính trị cũng như về kinh tế”. (Ba người khác- trang 206)
Nhà văn Trần Mạnh hảo, rất bức xúc với cái tỷ lệ giết người trong chiến dịch CCRĐ ở làng của ông cao hơn các nơi khác:
“ Làng tôi là làng công giáo Bùi Chu Phát Diệm, là làng tề, làng bị gọi là ác ôn, nên chỉ tiêu địa chủ trên giao nặng nhất: phải bắt cho được 15% địa chủ là Bình Hải Đoài. Nghĩa là cứ 100 người dân thì phải nộp cho bác và đàng 15 tên địa chủ”. (Thời Luận ngày 1-4-2006)
                Chính vì các đội cải cách thi đua lập thành tích cho nên con số người dân vô tội đã bị giết một cách dã man đưa con số lên đến hàng trăm ngàn:
“ Ông Bùi Tín, một người bất đồng quan điểm với chính phủ Việt nam cũng nêu lên con số nạn nhân là 500.000 người do Michel Tauriac, nhà văn người Pháp đưa ra. Bùi Tín cho rằng con số nầy cũng hợp lý nếu kể cả người bị giết, bị chết trong tù, bị chết sau khi thả ra và tự tử” (Wikipedia tiếng Việt online ngày 19-5-2006)
“ Một ý kiến cực đoan là của Hoàng văn Chí, người tin rằng 5% dân số miền Bắc( 675.000 người đã chết). Cuốn sách From Colonialism to Communism của ông nầy đã có tác động mạnh đến cuộc tranh luận về vấn đề con số” (BBC online ngày 28-12-2006)
                 Trong bài “ Cuộc CCRĐ 50 năm trước đây” của phóng viên Nguyễn văn An, đài RFA thì:
“ Thống kê của nhà nước được đăng trong cuốn Lịch sử kinh tế tập 2 cho biết đã có 172.008 người bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông, là những người bị xếp vào loại kể thu của nhân dân, bị“ đào tận gốc, trốc tận rễ”, nghĩa là không bị bắn tại chỗ thì cũng bị án tù rồi chết trong nhà giam. Con số nầy có thể không chính xác, nhưng số nạn nhân không thể thấp hơn thế được…
“ Bản thống kê chính thức cho biết là trong 172.008 người bị quy là địa chủ và phú nông trong CCRĐ thì 123.266 người bị quy sai, tức là bị oan. Tính theo tỷ lệ là 76,66%. Có lẻ chưa bao giờ và ở đâu tỷ lệ giữa số bị oan và nạn nhân lại cao đến như thế”. (RFA online ngày 15-5-2006)
Chiến dịch CCRĐ đã tàn sát người dân vô tội, máu đã chảy tràn lan khắp nơi, tiếng oán than ngút trời, lúc bấy giờ ông HCM mới chịu cho dừng tay bắn giết và ông Nguyễn Minh Cần, người được thành ủy Hà nội đề cử làm nhiệm vụ sửa sai tại Hà Nội kể:
“ Trung ương đảng buộc phải thừa nhận những sai lầm nghiêm trọng trong CCRĐ và chủ trương sửa sai. Tại hội nghị, Trung ương đã thi hành kỷ luật như sau: Trường Chinh, mất chức tổng bí thư, chỉ còn làm Ủy viên BCT, còn Hoàng Quốc Việt Lê văn Lương mất chức Ủy viên BCT, Hồ Viết Thắng, bị đưa ra khỏi TƯ/đảng LĐVN…
“ Hồi đó chúng tôi được giải thích:“ Bác đến không tiện”, nhưng chúng tôi đều hiểu là ông Hồ muốn đưa ông Giáp rachịu trậnthay mình, nên không hề có việc ông Hồ khóc trước dân chúng”. (Người Việt ngày 4-2-2006)
 2 – Hành động diệt chủng:
Trong khi thi hành CCRĐ đảng Lao Động Việt Nam đã đưa ra một phương châm hành động thật là sắt máu, họ chỉ có biết giết và giết.
“ Cái phương châm“ Thà sai hơn bỏ sót”, cộng thêm với việc“ Thi đua lập thành tích chống phong kiến” đã gây tình trạng“ kích thành phần”,“ nống thành tích”, cố tìm ra nhiều địa chủ, phản động, xử tử nhiều ác bá…để có được bằng khen, huân chương, để ngoi lên địa vị cao hơn…
“ Các đội CCRĐ không từ một cách nào hết để“ tìm ra địa chủ”,“ tìm ra phản động”,“ tìm ra của chìm”, ép buộc con cáiđấu tố cha mẹ, con dâu đấu tố bố mẹ chồng, con rể đấu tố bố mẹ vợ, vợđấu tố chồng, anh emđấu tố lẫn nhau, tròđấu tố thầy, kẻ hàm ơn đấu tố kẻ ban ơn, láng giềng hàng xómđấu tố lẫn nhau ( cũng có trường hợp cha mẹ bấm bụng khuyên con cái   “ đấu tố” mình để mong cứu mạng cho con cái)…
“ Những người bị quy là địa chủ ngay lập tức bị tước mọi quyền làm người, bị hạ nhục, bị chà đạp, ngay lập tức phải thay đổi cách xưng hô trước nông dân, phải cúi đầu lễ phép“ thưa các ông, các bà nông dân”, phải xưng“ con” trước mặt nông dân, dù đó chỉ là một đứa trẻ con…
“ Còn khi hành quyết người bị án tử hình thì những người thân thích, ruột thịt của người ấy, từ gìa cả cho đến trẻ con, đều bắt buộc phải có mặt để chứng kiến tận mắt cảnh tượng đó! Đúng là sự khủng bố tinh thần cực kỳ vô nhân đạo”.
(Người Việt ngày 4 đến 11-2-2006)
Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, trả lời báo Quê Mẹ khi du lịch sang Pháp sau năm 1975, ông nói:
“ Trong lịch sử Việt Nam từ hồi lập quốc đến nay chưa có một cuộc thanh trừng giết dân nào khủng khiếp tàn bạo như cuộc CCRĐ. Hầu như mọi cuộc đấu tố đều có sự nhúng tay của cố vấn Trung cộng. Điều đó cho thấy chính quyền HCM lệ thuộc ngoại bang như thế nào”. (Người Việt ngày 7-9-2004)
               Hòa thượng Thích Quảng Độ, Xử lý thường vụ Viện Tăng thống,Viện trưởng Viện Hóa đạo GHPGVNTN trong cuốn“ Nhận định về những sai lầm tai hại của đảng CSVN đối với Dân tộc và Phật giáo Việt Nam”, đoạn nói về CCRĐ, ngài viết như sau:
“ Những kẻ thù bên trong ấy là ai. Đó là“ Trí, Phú, Địa, Hào, Tôn giáo, Lưu manh” và phải“ đào tận gốc trố tận rễ”có nghĩa là phải tiêu diệt cho bằng hết. Và cuộc căm thù đấu tranh giai cấp ấy đã diễn ra năm 1956, dưới hình thức CCRĐ và“ ôn nghèo giợi khổ” kéo dài suốt sáu tháng trời…
“ Khẩu hiệu của đội cải cách là“ Nhất đội nhì trời”. Cũng như trong miền Nam năm 1975, cộng sản đang trong khí thế“ thừa thắng xông lên”, tại các công trường làm thuỷ lợi, cộng sản trương khẩu hiệuthằng trời đứng qua một bên, để cho thuỷ lợi đứng lên thay trời” và“ vắt đất ra nước thay trời làm mưa”, còn gì ngông cuồng hơn…
“ Có nhiều trường hợp con tố cha, vợ tố chồng, trò tố thầy, anh em họ hàng tố lẫn nhau vì những nguyên nhân bất hòa trong gia đình trước kia. Tố xong, tòa án nhân dân luận tội và kết án tử hình, tất cả đám đông ở dưới phải hô to ba lần “tử hình; tử hình; tử hình” vừa hô vừa đấm lên hư không ba cái. Thế rồi khổ chủ bị bịt mắt lại đưa đến trói vào cây cột đã được dựng sẳn và đội hành quyết gồm 5 người đứng nhắm bắn, khổ chủ gục đầu xuống và kết liểu một cuộc đời”.
(ĐốiThoại online ngày 21-9-2007)
Để cổ vỏ cho phong trào diệt chủng, hai nhà “ đại thi nô” miền Bắc lúc bấy giờ thi nhau làm thơ cổ động chiến dịch một cách hiếu sát như sau:

1-         Tố Hữu:      
 Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghĩ
Cho ruộng đồng mau tốt, thuế mau xong
Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch, thờ Stalin…bất diệt
(Trăm hoa đua nở trên đất Bắc- trang 37)

2-         Xuân Diệu:  
“ Anh em ơi! quyết chung lòng
Đấu tranh tiêu diệt tàn hung tư thù
Địa hào đối lập ra tro
Lưng chừng, phản động đến giờ tan xương
Thắp đuốc cho sáng khắp đường
Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay
Lôi cổ bọn nó ra đây
Bắt quỳ gục xuống đọa đày chết thôi”.                            
(Trăm hoa đua nở trên đất Bắc- trang 38)

3 – Những vụ án thời CCRĐ:
Vụ án đầu tiên trong chiến dịch CCRĐ là thí điểm ở đồng bằng và chọn đồn điền bà Nguyễn thị Năm tức Cát Thành Long được ông Hoàng Tùng viết trong “ Bí mật Hồ chí Minh” như sau: 
Nguyễn thị Năm tức Cát Thành Long có một người con làm trung đoàn trưởng ở cục chính trị của Văn Tiến Dũng. Gia đình bà trong dịp Tuần lễ Vàng có hiến 100 lượng vàng. Bà còn tham gia công tác của Hội Phụ nữ từ năm 1945 đến 1953. Tôi chưa đến đó lần nào, các anh Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ thường hay ăn cơm ở nhà bà. Gia đình Nguyễn thị Năm cũng giống như các gia đình Đỗ Đình Thiện, Trịnh Văn Bô giúp đỡ nhiều cho cách mạng. Chọn địa chủ Nguyễn thị Năm để làm trước là do có người mách cho cố vấn Trung quốc. Họp bộ chính trị bác nói:“ Tôi đồng ý người có tội thì phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu phát súng đầu tiên lại nổ vào người đàn bà, mà người ấy lại cũng giúp đỡ cho cách mạng. Người Pháp nói không nên đánh đàn bà, dù chỉ đánh bằng một cành hoa”. Sau cố vấn Trung quốc là La Quý Ba đề nghị mãi, bác nói:“ Thôi tôi theo đa số, chứ tôi vẫn cứ cho là không phải”. Và họ cứ thế làm. Thuyết của họ là không dựa vào tổ chức cũ mà tổ chức lại một số tổ chức khác của đảng, họ phủ nhận hết các tổ chức khác như chính quyền, các đoàn thể. Ai lãnh đạo cách mạng tháng 8 thành công, ai lãnh đạo cuộc kháng chiến từ năm 1945 đến năm 1953. Thế mà họ thẳng tay bỏ hết, trong đó mấy ngàn người bị xử tử. Mục đích của họ không phải là CCRĐ mà là đánh vào đảng ta. May mà đến năm 1956 ta kịp thời dừng lại…
“ Đánh thuế công thương nghiệp, cải tạo tư sản cũng là do Trung quốc đề ra. Hậu quả là hơn một triệu người di cư vào Nam. Ta đổ tội cho Pháp, Mỹ, điều đó chỉ đúng một phần nào, còn là do ta làm vội, làm ẩu, đánh tràn hết. Không phải địa chủ mà phú nông, thậm chí trung nông cũng đánh. Đảng viên nhiều người tốt cũng bị đánh. Kết quả của những chính sách, cải cách lúc đó là như thế”. (Đàn chim Việt online ngày 4-7-2010)   
 Nhà văn Vũ Thư Hiên, con của cụ Vũ Đình Huỳnh, bí thư của ông HCM. Cả hai cha con ông Vũ Thư Hiên đã từng ở tù về tội“ Xét lại chống đảng”. Trong quyễn“ Đêm giữa ban ngày” ông Hiên viết về CCRĐ như sau:
“ Từ tinh mơ đoàn người rầm rập trên các nẻo đường làng còn tối đất, khản tiếng hô vang những khẩu hiệu có mùi máu. Dân chúng ùn ùn đổ về những sân đình, những bãi rộng, nơi sẽ diễn ra những cuộc đấu tố bọn địa chủ cường hào gian ác…
“ Đấu tố diễn ra liên miên, ngày một khốc liệt. Người dân cày dung dị hôm trước, được đảng phóng tay phát động, vụt trở thành hung tợn, mặt bừng bừng khoái trá trong niềm vui hành hạ đồng loại. Tôi kinh hoàng nhìn cảnh tượng không hiểu nổi: nườm nượp lướt qua mắt tôi từng bày đàn người bị kích thích bởi mùi máu, hăm hở đi dưới lá cờ đỏ sao vàng không biết để chiến đấu với quân xâm lược mà với chính đồng bào mình…
“ Chúng tôi nghe tiếng kêu khóc chạy tới thì hấy mấy anh du kích quen đang xềnh xệch kéo bà đi. Hai tay bị trói giơ lên trời, bà xiêu vẹo bước sau họ, kêu gào thảm thiết:“ Ơi cụ Hồ ơi, cụ trông xuống mà xem người ta đối xử với con dân cụ thế này đây!”
“ Ở một xã khác, một người đàn bà bị trói vào hai cây nứa bắt chéo, bên dưới là một đống lửa. Con mẹ ni là phú nông phản động, ngoan cố lắm, những người bâu quanh nhao nhao nói thế. Người đàn bà quằn quại mãi, tới khi ngất đi mới được người ta hạ xuống.
“ Cha bạn tôi, hoạt động cách mạng từ trước năm 1945, bị tống giam vì bị vu là đảng viên Quốc Dân đảng, thắt cổ tự tử, để lại bức thư tuyệt mệnh:“ Oan cho tôi lắm, cụ Hồ ơi. Tôi trung thành với cụ, với đảng. Tôi không phản bội. HCM muôn năm!”
Người ta lấy gai bưởi cắm vào đầu ngón tay một cô gái, có trời biết cô ta tội gì, có thể cô ta là con địa chủ, cứ mỗi câu hỏi lại nhấn những cái gai sâu thêm một chút làm cho cô gái rú lên vì đau, quằn quại trong dây trói”. (ĐGBN- trang 30-31)
Ông Nguyễn văn Thủ, quê ở tỉnh Hưng Yên khi trả lời phỏng vấn của đài RFA thì đang ở Hà Nội kể lại chuyện gia đình ông bị đấu tố hồi CCRĐ như sau:
“ Gia đình tôi, cụ(ông nội) công tác tốt, đến lúc ấy tự nhiên quy cho cụ tôi là thành phần đối kháng, bắt cụ đi đấu tố, gia sản bị tịch thu hết. Tôi bị coi là con nhà địa chủ, khổ lắm, đi ra ngoài đường là phải chào ông bà nông dân. Dù nó là con là cháu mình, cũng phải gọi nó là“ Ông” là “ Bà”…của cải mất hết, chả còn gì cả…
“ Lúc ấy, tự nhiên nó như ma quỉ cám dỗ, người ta nhìn thấy nhà tôi, người ta như muốn ăn thịt luôn, họ muốn làm gì thì làm. Lúc ấy, người nào càng hăng hái, càng tốt, càng đấu tố, càng đánh đập, thì càng tốt. Có những người bị tử hình,  ông cụ tôi bị kết án tử hình, bắn chết ngay, bắn ngay trước mặt mọi người, con cháu”. (RFA online ngày 19-5-2006)
Nhạc sĩ Trịnh Hưng, hiện đang ở bên Pháp, là người bạn thân vừa về thăm thi sĩ Hữu Loan và kể lại câu chuyện có liên quan đến tác gỉa bài thơ nổi tiếng Màu tím hoa sim như sau:
“ Ông ấy kể tôi nghe là: Lúc ấy, ông ấy là trưởng Ban Tuyên huấn của Đoàn 304, do tướng Nguyễn Sơn phụ trách, quân đội thì đói khổ lắm, chỉ có ăn khoai, ăn sắn, không có gạo mà ăn…Ông địa chủ đó thì giàu, tháng nào cũng đem gạo đến, để nuôi quân cho…Chính tướng Nguyễn Sơn tháng nào cũng làm lễ vinh danh cho ông ta, ban thưởng huân chương.
              “ Năm 1953, bị đấu tố, lan đến Thanh Hoá, ông bà địa chủ ấy bị giết chết. Nhà thì chỉ có một cô con gái thôi. Nó cấm tất cả mọi người, con trai, hay con gái, không được kết hôn với con nhà địa chủ, không được nuôi con nhà địa chủ.
“ Ông ấy( nhà thơ Hữu Loan) thấy bực quá, mới bỏ về làng, đi qua làng ấy, ông ghé vào thăm, ông biết rằng ông bà cụ bị giết rồi, cô con gái không ai nuôi cả, cô ấy phải đi mót sắn, mót khoai ở ngoài đồng, ăn sống, để sống thôi, quần áo rách rưới bẩn thỉu lắm, ngủ ở đường, ở đình làng, ông thấy thế, thương hại và đem về nhà nuôi…và bây giờ là vợ ông ấy!” (RFA online ngày 19-5-2006)
Nhà văn Trần Mạnh Hảo, người bị đuổi ra khỏi đảng CSVN năm 1989 và đuổi khỏi biên chế nhà nước viết cuốn“ Ly thân” có bài“ Độc quyền chân lý là thủ tiêu chân lý”, đoạn ông viết về CCRĐ:
   “ Ông đội( tên gọi cán bộ CCRĐ từ trung ương phái về) từ trên bàn xử án xông tới sát ông Luân bị trói, bị chôn chân tới đầu gối trong chiếc hố đấu tố”, đoạn hét:“ mày có hô CCRĐ muôn năm không?” Ông Luân trợn mắt, đôi mắt sưng tấy, lòi cả con ngươi ra…
“ Sau đó, ông đội lên bàn xử án, tuyên bố thay mặt đảng và bác vĩ đại, tuyên án xử tử hình gián điệp Quốc Dân đảng Luân, lệnh du kích xã lên đạn rốp rốp thị uy; đoạn trói nghiến ông Luân vào cọc bắn trên ruộng cạn mùa đông đang rét…
Ông Luân bị bắn bằng bốn cây súng trường. Bốn phát đạn cùng lúc đều trúng vào ngực ông Luân phụt máu, khiến ông gục xuống liền, cái giẻ nhét miệng ông bị máu trào ra, rơi bịch xuống như một cục máu đông, hay một mảnh phổi vở tràn ra ngoài”. (Thời Luận ngày 1-4-2006)
Dưới đây là chuyện của cựu trung tá QĐND Trần Anh Kim, hiện đang ngồi tù 5 năm rưởi về tội “ hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” đã trả lời phỏng vấn của Việt Hùng, phóng viên đài RFA kể về hoàn cảnh của gia đình ông bị xử một cách dã man trong chiến dịch CCRĐ như sau:
“ Đến CCRĐ, sau năm 1954 giải phóng, sau đó giảm tô, đến CCRĐ thì người ta quy cho ông tôi là địa chủ, và quy cho bố tôi là QD đảng. Bố tôi là Phó bí thư QD đảng và bác tôi là Bí thư QD đảng. Bác tôi bị bắn luôn, ông ấy nhận thì bị bắn luôn. Còn bố tôi thì kiên quyết không nhận. Không nhận thì người ta tra tấn, người ta thắt hai dây thừng vào hai ngón chân cái rồi người ta kéo lên sàn nhà, bố tôi đau quá, kêu khóc xin thả xuống. Kêu khóc quá to thì người ta, lấy rơm, lấy rạ nhét vào mồm
“ Địa chủ ngày đó là địa chủ“ phân” anh ạ. Thí dụ mỗi thôn là mấy địa chủ thì cứ thế mà người ta đưa lên thôi. Cuối cùng cũng bị tù không án hai năm. Mà khốn nạn hơn thời tôi đi tù nhiều. Tức là tay thì trói cánh khuỷu ra đàng sau, chân thì cùm, quần áo thì chẳng có mặc, cứ nằm như thế ở dưới sàn chuồng trâu thôi”.
(RFA online ngày 19-5-2006)  
4 – Dư luận về CCRĐ:
Học gỉa Hoàng Xuân Hãn nói lên cái nhận định của mình về chiến dịch CCRĐ khi trả lời phỏng vấn của Thuỵ Khuê trên đài RFA:
“ Cái mất mát lớn bởi sai lầm trong CCRĐ là nó phá vỡ mất cái nông thôn Việt Nam và phá vỡ mất lòng tin. Cái nguy hại của CCRĐ là ở chỗ nó phá vỡ một tế bào quan trọng vào bậc nhất của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ là làng quê”.
(Người Việt ngày 7-9-2004)
Cố thủ tướng CSVN Võ văn Kiết, người có nhiều trăn trở trong việc làm của mình đã qua, ông cũng nói lên quan điểm của mình về chiến dịch CCRĐ sau khi đã không còn chức vụ gì trong chính phủ:
               “ Năm 2005, ông Võ văn Kiệt, nguyên thủ tướngViệt Nam, nhìn nhận“ Trong các chiến dịch CCRĐ và cải tạo công thương nghiệp, nhiều nhân sĩ yêu nước, nhiều nhà kinh doanh có công với cách mạng đã không được coi như bạn nữa, gây những tổn thất lớn về chính trị và kinh tế” nhằm khẳng định đại đoàn kết dân tộc là cội nguồn sức mạnh của đất nước”. (Wikipedia tiếng Việt online ngày 19-5-2006)
Nhà phê bình văn học Lại Nguyên Ân, trả lời phỏng vấn của BBC, ông nói còn nhiều vấn đề trong lịch sử Việt Nam nữa thế kỷ trước tiếp tục là kiêng kị, chưa được bàn thảo sòng phẳng:
“ Trong xã hội Việt Nam lâu nay, xung quanh đề tài CCRĐ, dư luận buộc phải im lặng. Sự kiện CCRĐ, khi xảy ra, đã làm đảo lộn đời sống nông thôn miền Bắc; nó đi vào lịch sử như một vết thương. Có thể nói đó là vết đen lớn đầu tiên mà phong trào của những người cộng sản khi lên cầm quyền đã để lại trong xã hội Việt Nam”.  (BBC online ngày 14-1- 2007)  
               Ông Đoàn Duy Thành, nguyên phó thủ tướng chính phủ, người đã từng kể về mật lệnh Z 30 tịch thu nhà hai tầng trở lên hồi sau năm 1975 viết về CCRĐ trong cuốn“ Lý luận HCM” ông nói lên cái nhận định của mình về cái chiến dịch này:
“ Những sai lầm của CCRĐ đã để lại hậu quả lâu dài cho dân tộc, cho đất nước, là sự hận thù, sự lừa dối, xảo trá, vu khống như: tố điêu, ép cung, bịa chuyện…gây tai họa cho bao gia đình, làm mất đi những truyền thống tốt đẹp về gia đình, họ hàng, làng xóm, mà cha ông ta đã dày công xây dựng hàng nghìn năm…
“ Những sai lầm trong việc đấu tố không chỉ có trong CCRĐ, mà cũng phổ biến trong cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, nhưng cải tạo công thương chỉ làm ở một số thành phố và tiến hành sau CCRĐ nên phần nào giảm bớt sai lầm, khuyết điểm, tác hại của nó cũng chỉ thu hẹp trong một số thành phố”.
(Bauxite Việt Nam online ngày 16-11-2010)
Cụ Nguyễn văn Trấn, một lão thành cách mạng nổi tiếng của miền Nam trong quyễn“ Viết cho Mẹ và Quốc hội” cho chúng ta thấy được rõ ràng sự nô lệ của chính phủ Hồ chí Minh trước đế quốc Trung cộng là như thế nào. Họ ngữa tay nhận viện trợ của Trung cộng để đánh Pháp, Mỹ giải phóng dân tộc(?), nhưng lại tròng vào cổ dân tộc một ách thống trị nguy hiểm hơn, tàn bạo hơn và lâu dài hơn.
“Ác hết sức là cố vấn Trung quốc hiến cho cái kế Phóng tay. Phóng tay! Nói nôm na( theo Nam bộ) là“ cứ việc làm mạnh thả cửa”. Và họ dẫn lời vàng ngọc nguỵ biện,“ à la” Mao Trạch Đông.
“ Kiểu uông tất tu quá chỉnh”. Có nghĩa là: muốn uốn khúc cây cong, ắt phải kéo nó quá chiều.
Trời ơi! đảng của tôi đã nghe lời người ngoài, kéo khúc cây cong quá trớn. Nó trở lại giết chết bao vạn sanh linh
“ Có lần anh chị em Nam bộ“ Đại biểu tôi đến gặp ông gìa Tôn mà hỏi, tại sao ổng để cho CCRĐ giết người như vậy?”
“ Bác Tôn đang ngồi, nghe tôi hỏi, liền đứng dậy bước ra khỏi ghế, vừa đi và nói:“ Đụ mẹ, tao cũng sợ nó, mầy biểu tao còn dám nói cái gì?
“ Quả thật, lúc CCRĐ còn nghe theo Chệc mà phóng tay phát động ai mà có ý kiến với nó thì sẽ bị quy là có tư tưởng địa chủ”. (VCMVQH- trang 266-267)
          Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, một nhà trí thức trẻ lớp hậu sinh góp lời nhận định về công cuộc CCRĐ của HCM khi trả lời phỏng vấn của Duy Ái đài VOA:
“ Theo tôi cột mốc rõ nhất cho sự phi dân chủ hóa để trở thành độc tài toàn trị của chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một cái tên rất dân chủ, là việc đảng Lao Động VN phát động CCRĐ, được cụ Hồ gọi là cáchmạng long trời lỡ đất”, vào năm 1953. Bao trùm toàn bộ“ cách mạng” này là sự tuỳ tiện của chính phủ cụ Hồ trong việc bắt giữ, hành hạ, bắn giết, tịch thu gia sản đối với hàng trăm nghìn người Việt Nam. Các thủ tục tư pháp thông thường đã có từ thời thực dân Pháp hay các quy định phải tôn trọng pháp luật và quyền con người được ghi trong Hiến pháp 1946 đều không được đếm xỉa trong CCRĐ”. (VOA online ngày 15-9-2010)
Để kết luận bài viết này, tôi xin mượn lời của cố giáo sư Nguyễn Mạnh Tường trích trong bài diễn văn “ Qua những sai lầm trong CCRĐ” đọc trong phiên họp của MTTQ tại Hà nội ngày 30-10-1956 với tư cách là một thành viên của MTTQ. Và cũng chính vì bài diễn văn này mà ông đã bị tước hết chức vụ và danh vị nghề nghiệp và sống một cuộc đời bị bạc đải cho đến chết.
“ ..tôi nhớ lại kết quả tai hại của các sai lầm đã phạm trong công cuộc CCRĐ. Tôi xin phép các vị được kính cẩn nghiêng mình trước kỷ niệm những người vô tội bị chết oan, không phải vì bàn tay của kẻ địch mà chính của ta…
“ Trong CCRĐ chúng ta đã phạm sai lầm nghiêm trọng mà cả trong nhiều khu vực khác nữa. Trong các khu vực này, sai lầm cũng đã đưa một số người trong quần chúng đến cái chết một cách thê thảm”. (Người Việt ngày 9-5-2005)

          Đại Nghĩa

Học tiến sĩ ở Việt Nam

Bài dưới đây tôi sưu tầm từ một website có tên ngồ ngộ là “Thanh niên xa mẹ”. Tác giả mô tả quá trình “làm” tiến sĩ ở VN. Xin nói trước, bài viết có nhiều đoạn rất gay gắt, bạn đọc nào không chịu nổi thì … ráng chịu nhé.

Tôi không hiểu nổi tại sao người ta (ai đó?) lại ra những qui định rất máy móc và phản khoa học như thế này. Chẳng hạn như tại sao tên đề cương nghiên cứu không được thay đổi, tại sao những cái nhỏ nhặt như tên đề cương phải có động từ, hay tại sao nghiên cứu sinh phải chi tiền túi ra để chăm sóc buổi lễ “phản biện” mà ai cũng biết là chẳng có phản biện, v.v… Đọc qua những qui định ở trong nước thì bất cứ ai đang học tiến sĩ ở nước ngoài ắt hẳn thấy mình may mắn biết bao.

Tuy qui định máy móc như thế, nhưng đầu ra thì ... khó nói quá. Người viết bài này đã đọc qua nhiều luận án TS ở trong nước (chỉ trong ngành y thôi) thì thấy chưa xứng tầm với một luận án tiến sĩ theo chuẩn mực ở ngoài này. Chẳng hạn như mỗi thí sinh chỉ làm một nghiên cứu, mà nghiên cứu cũng rất sơ sài, rất đơn giản và không có gì mang tính "original". Đó là chưa nói đến vấn đề y đức. Hầu hết đều không có công bố quốc tế. Còn phần tổng quan tài liệu thì cũng rất thiếu thốn, không đầy đủ, nó chứng tỏ ứng viên thiếu thông tin. Phần phân tích thì ôi thôi mỗi người một phách chẳng đâu vào đâu. Phần trình bày kết quả cũng chỉ dừng lại ở mức độ mô tả là chính vì các phân tích mang tính suy luận đều có vấn đề về phương pháp. Muốn sửa những khiếm khuyết này không khó, vì chỉ cần tham khảo cách làm của các đại học trên thế giới là sẽ có một qui định tốt cho VN. Nhưng vấn đề là của hệ thống: muốn sửa thì phải sửa từ hệ thống, và phải bắt đầu từ những người đề ra những qui định này.

NVT

===

http://tathy.com/thanglong/showpost.php?p=638774&postcount=125

Làm tiến sĩ ở Việt Nam như thế nào?

Số tiền 80tr kia là chi phí chứ không phải là để trả cho giáo viên hướng dẫn (mặc dù đúng là giáo viên hướng dẫn chỉ được thù lao 2tr/năm).

Việc làm TS ở Vn cực kỳ nhiêu khê, phản khoa học, và phản động (theo nghĩa chổng mông vào tất cả các quy chuẩn tiên tiến của thế giới). Làm TS ở VN cực kỳ dễ mà cũng cực kỳ khó. Cực kỳ dễ là cực kỳ dễ về mặt chuyên môn khoa học, cực kỳ khó là về các thủ tục hành chính rườm rà và vô lý đến độ gây ức chế cho cả thầy và trò. Người làm NCS trong nước mà làm nghiêm túc có 2-3 bài quốc tế (tức là định lượng tương đương với một PhD ở đại học tiên tiến của thế giới) thì bản thân mình thấy rất rất đáng kính phục (mình cho là cực giỏi), vì ngoài những cái ức chế trên còn phải đủ mọi khó khăn về cơ sở vật chất (sách, báo không có, không có tiền dự hội nghị quốc tế), cuộc sống (vừa phải làm vừa phải lo kiếm tiền để sống và trả chi phí cho việc làm PhD của mình), và quan trọng nhất là quỹ thời gian thường rất eo hẹp (chắc chỉ độ bằng 1/4-1/5 các bạn xa mẹ), may mà gặp thầy ngon (rất hiếm) thì còn có cái thực chất không thì đa phần kết thúc là "tiến sỹ tắm giặt".

Ở VN người ta tự đặt ra các chuẩn, các quy định hành chính để lấy sự rườm rà, phức tạp của nó thay cho các quy chuẩn về khoa học và chuyên môn. Hãy lấy quá trình làm TS ở VN để thấy điều này (và qua đó sẽ lý giải cái 80tr kia).

Đầu vào:

- NCS phải đảm bảo điều kiện tối thiểu gồm có: Thi chuyên ngành, thi ngoại ngữ -> Tiền (tiền đóng phí và tiền tiêu cực phí cho nhiều anh nhất là ngoại ngữ).

- NCS phải có ít nhất 1-2 bài báo chuyên ngành đã đăng về lĩnh vực nghiên cứu của mình. Cái này hết sức thừa thãi và hình thức vì NCS thi vào làm PhD là học làm nghiên cứu khoa học chứ không phải đã là giỏi, Standford cũng không đòi hỏi tiêu chuẩn cứng như vậy. Vậy là nhiều NCS phải lo cho đủ tiêu chuẩn cứng này, thôi thì các loài bài báo trên các tạp chí củ chuối ra đời cho đủ điều kiện và thường là kèm với phí (phí cho các báo này để đăng cho nhanh cho kịp kỳ thi NCS)

- Sau khi phải đạt các tiêu chuẩn cứng trên rồi (thường là đỗ vì nói vậy chứ chỉ tiêu của bộ cho số TS hàng năm nhiều trường không có đủ học viên thi vào đâu, chắc tại chỉ tiêu 20ngàn nên mưa chỉ tiêu hàng năm về các trường), học viên phải bảo vệ research proposal. Cái này thì cũng bình thường đối với các đại học tiên tiến trên thế giới NCS nào cũng phải submit research proposal lúc đầu vào cả. Nhưng cái đặc trưng rất VN của RP của NCS trong nước là:

- Có tên chết cứng, nghĩa là lúc mới thi tên thế nào thì 3-4 năm sau bảo vệ tên luận văn cũng phải thế ấy. Việc thay đổi cực kỳ khó khăn và rườm rà về mặt hành chính. Do đó thường ở VN thầy và trò phải đối phó bằng cách đặt tên luận văn cực kỳ "mênh mông biển rộng" (Ví dụ: "Mạng Neural Mờ", "Tâm Lý Tắm Giặt Tập Thể" ....).

- Yêu cầu NCS phải đưa cả dự kiến nội dung luận văn (chi tiết đến từng đề mục trong từng chương). Một quy định ngu xuẩn và phi lý như vậy mà biết bao người đã góp ý mà bộ GD vẫn cứ trơ lấc (có lẽ là vì toàn những người mặt dầy và não trang như anh Phúc phát biểu "bằng giả" ở phía trên).

Làm luận văn và bảo vệ

Quá trình làm luận văn của NCS thì vô cùng gian nan vất vả, vừa phải lo chuyện gia đình, cơ quan, xã hội (khóc, cười, văn nghệ quần chúng, họp, học chính trị etc) vừa phải lo về kinh tế (để nuôi bản thân, gia đình, vừa để đóng cho những khoản này, khoản nọ trong quá trình làm NCS). Cơ sở vật chất thì thiếu thốn, sách báo không có, kinh phí cho nghiên cứu khoa học không có, NCS phải tự bỏ tiền túi ra hết . Những nghiên cứu nào phải làm thí nghiệm tốn kém thì tiền tấn (đối với mức sống ở VN). Không chỉ thế ở VN thiếu thầy giỏi làm khoa học thực sự nghiêm túc ở tầm quốc tế, môi trường làm nghiên cứu khoa học, học thuật nghiêm túc gần như trống vắng (không seminar, không nhóm nghiên cứu, không hội nghị, hội thảo etc). Thậm chí NCS có khi cả năm mới chỉ gặp thầy 1 hướng dẫn 1 lần, vào nơi đào tạo còn bị lạc etc là những "chuyện thường ngày ở huyện".

Sau khi hoàn thành xong luận văn, NCS bước vào một ma trận bảo vệ làm tốn kém rất nhiều thời gian và tiền bạc. Để bảo vệ NCS phải trình luận văn (với nhiều tiêu chuẩn hay hay như luận văn phải có ít nhất 120 tài liệu tham khảo etc, số bài báo - phải in ra và có chứng nhận của các đồng tác giả), in ấn rất nhiều bản (tự bỏ tiền túi ra nhé). NCS phải bảo vệ hai lần trước hai hội đồng. Đầu tiên NCS phải bảo vệ tại hội đồng cơ sở, trình bày luận văn sau đó các thành viên đánh giá và góp ý sửa đổi. Nghe thì hợp lý, nhưng có chứng kiến các hội đồng kiểu này mới thấy hài, thậm chí ngay giữa hội đồng bảo vệ TS nọ, vị chủ tịch hội đồng còn hồn nhiên phát biểu là vị ấy chẳng biết tý quái gì về lĩnh vực nghiên cứu của NCS. Việc chọn hội đồng đa phần là theo cạ và bằng cấp, phẩm hàm (mà rất nhiều là rởm) thuần túy. Cũng nên nói, tiền bồi dưỡng các thành viên hội đồng, chủ tịch hội đồng, thư ký hội đồng (hai ông này mức cao hơn thành viên), thậm chí cả người ngồi nghe (thường là 100K/người; đâm ra bản thân mình thích đi ngồi dự nghe mấy cái này lắm), tiền thuê địa điểm (dù vẫn là phòng ốc của cơ sở đào tạo), tiền hoa, tiền hoa quả, trà thuốc, etc đều tự NCS phải bỏ tiền túi ra trả. Có những quy định bán chính thức của bộ về các mức tiền bồi dưỡng này chứ không phải là tiêu cực nhé (xin không đưa con số ra đây vì nó chỉ là quy định về số tối thiểu, NCS nào mà chỉ có bám vào đưa số tối thiểu thì kẹo quá, còn hơn thì nó rất ... vô cùng).

Sau khi bảo vệ xong hội đồng cơ sở thì thí sinh phải đợi ít nhất 6 tháng (thường là 1 năm) để hoàn thiện luận văn và chờ bảo vệ hội đồng quốc gia. Luận văn được phản biện kín (trên hình thức thì là thế), NCS còn phải tự bỏ tiền ra đăng tin trên đài báo có tầm vực quốc gia về việc bảo vệ (ngày, giờ, địa điểm) của mình, phải in 20 bản tóm tắt luận văn phát đi khắp nơi trong nước đến các chuyên gia và phải có ít nhất 12 phản hồi (đây là thứ rất hình thức và rắm rối, nhận xét luận văn 200 trang chỉ qua việc đọc tóm tắt 20 trang). Ngày bảo vệ đến lại các thủ tục, tiền nong như buổi bảo vệ hội đồng cơ sở (quên còn cả mục mời các thầy hội đồng liên hoan sau buổi bảo vệ cũng phải bỏ tiền túi ra nhé). Trong khi bảo vệ cũng nhiều tình huống cười ra nước mắt, những chuyện như GS Cao Xuân Hạo từng kể (cho một ông bảo vệ luận văn TS Ngữ văn 3 điểm vì như lời GS là:"Đọc luận văn anh này tôi khẳng định anh này chưa học hết lớp 3", nhưng đến hội đồng quốc gia thì người ta loại những ủy viên có nhận xét bất lợi và cài cắm cạ vào để TS trên có được 7 điểm và đạt TS). Và rồi mưa nhận xét đánh giá xuất sắc, xuất sắc, hoặc chí ít cũng là đạt. Thường thì phần bất ngờ nhất của buổi bảo vệ hội đồng cấp nhà nước chỉ là phần sau bảo vệ (ăn gì ở nhà hàng nào), chứ còn đa phần các hội đồng này mang tính hình thức sau khi thầy và trò đã lo chu đáo mọi chuyện (nếu để xảy ra tranh luận nảy lửa bất đồng sâu sắc tại buổi bảo vệ thì NCS nên trách thầy hướng dẫn không lo cho chu đáo, trách mình kẹo). Và tất nhiên hoa, lời chúc, ... chẳng mấy chốc số 20ngàn TS của anh Nhân đặt ra trở thành một con số khiêm tốn đến thảm hại.

Tổng kết thiệt hại thì thế này: Nếu NCS không được nhà nước trả tiền cho (nếu được thì nhà nước chỉ trả mức tối thiểu còn phụ trội NCS từ bỏ tiền túi) thì số tiền phải bỏ từ túi ra sẽ phụ thuộc vào từng ngành nhưng không thể dưới 50tr (ngành nào phải tốn kém chuyện làm thí nghiệm etc thì còn cao hơn), đó là không kể "tiêu cực phí", chỉ làm đúng các quy định vô cùng cứng nhắc và cũng vô cùng mềm dẻo của bộ. Nếu có tiêu cực phí thì con số này là ... vô cùng, không xác định chính xác được.

Nguyên nhân? Để lúc khác có thời gian, nhưng một trong những nguyên nhân chính là ta đa phải hứng chịu hậu quả của một thế hệ các "trí thức hữu nghị XHCN Liên Xô và Đông Âu", những người đang có quyền (hay tự cho là có quyền) ra các quy định và quyết định về đào tạo và nghiên cứu khoa học ở VN.

2/5/11

Hà Nội động đất, tín hiệu cảnh báo này có làm rung động tình người không?


 
Lê Diễn Đức
 
 
Hà Nội "xuống đường" đêm ngày 24 tháng 3 năm 2011 - Ảnh: Việt Báo
 
Khoảng 9 giờ tối ngày 24 tháng 3 năm 2011, thủ đô Hà Nội bị động đất nhẹ, dưới 4 độ richter.
 
Nhiều ngày nay, từ khi có các cuộc cách mạng Hoa Nhài bên Bắc Phi, nhà cầm quyền Hà Nội chắc hẳn khó ngủ vì sợ nhân dân xuống đường làm cách mạng.
 
Sợ đến mức báo chí chính thống đưa tin về động đất nói bà con từ trên các nhà cao tầng chạy xuống đường, đăng rồi đã chỉnh sửa lại thành "xuống dưới đường", “xuống đất”… Nhiều tờ khác tìm sự yên thân, tự kiểm duyệt, cho biến luôn cả từ ngữ đó!
 
Ông bạn Trần Đông Đức trao đổi với tôi về bài viết tức thì sau khi có thông tin về động đất.
 
Bài viết có nội dung xúc động về tình đất, nghĩa trời, mang đậm màu sắc của lý trí cũng như nhân bản. Tác giả còn có những suy diễn thú vị và hợp lý.
 
Mới ngày hôm trước, ngày 23 tháng 3, chính quyền tung ra lực lượng an ninh chìm nổi chiếm đến một phần ba số người có mặt, theo dư luận trong nước, nhằm uy hiếp và ngăn cản không cho mọi người “xuống đường” dự lễ tang ông Trịnh Xuân Tùng, người bị Trung Tá công an Hà Nội Nguyễn Văn Ninh đánh dã man, tàn ác, đưa đến cái oan ức một tuần sau đó.
 
Cũng không thiếu bóng dáng công an chìm, nổi, trên khu vực quanh Toà án Hà Nội, trước cơn động đất trong ngày 24 tháng 3, là ngày dự kiến xử công khai tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, dù đã được hoãn tới ngày 4 tháng 4.
 
Chính quyền không cho mọi người “xuống đường” thì nghịch lý thay, ông trời bắt mọi người phải “xuống đường”!
 
Cứ cho là tôi suy diễn vớ vẩn hay ngớ ngẩn chăng nữa, cũng giống bạn Trần Đông Đức, tôi cho mình cái quyền cười đểu, và được nghĩ rằng, đây là cú quả báo ngoạn mục cho các nhà chức trách đang sống tại Ba Đình!
 
Nó còn là tín hiệu cảnh báo cho tình người của dân chúng Hà Nội, cho tất cả những ai vô cảm, bàng quan trước các bất công xã hội ngút trời đang diễn ra trong xã hội Việt Nam hiện nay.
 
Thật may mắn, động đất trong đêm 24 tháng 3 đã không gây ra thương vong hay thiệt hại gì đáng kể.
 
Đây không phải lần đầu tiên Hà Nội bị động đất. Hà Nội, Sài Gòn và Vũng Tàu, theo các chuyên gia trong nước, đều nằm trong vùng cảnh báo đặc biệt, bởi có thể xảy ra động đất tới 5-7 độ richter. Nếu tâm địa chấn nằm ở giữa các thành phố, với mức này, có thể gây thiệt hại khủng khiếp, 30-40% nhà cửa, hoặc hơn thế, sẽ bị đổ sập hoàn toàn!
 
Hà Nội "xuống đường" do động đất, tháng 5 năm 2008 - Ảnh Dân Trí
 
Cho đến giờ phút này, cả phía nhà nước lẫn dân chúng đều không có sự chuẩn bị kỹ thuật an toàn nào trước thảm kịch động đất!
 
Chẳng ai lường trước được tai hoạ! Cũng chẳng ai đoán trước được số phận nghiệt ngã sẽ rơi vào mình lúc nào!
 
Cứ sống với sự vô cảm, với chủ nghĩa “makeno” (mặc kệ nó), chủ nghĩa “măm”, “xúc” (mammonism/chạy theo đồng tiền bất chấp đạo đức) và không chỉ vô cảm với chính trị, mà còn vô cảm ngay cả với người bị nạn quanh mình, thì một mai (nói dại) không may Hà Nội, Sài Gòn bị hoạn nạn, lúc ấy không biết ai sẽ giúp ta?
 
Không thể nào kể hết vô số ý kiến của người Việt, rộng khắp trong và ngoài nước, biểu lộ sự cảm phục trước tình người, tình đoàn kết cộng đồng, thái độ làm việc mẫn cán của các quan chức chính phủ Nhật Bản đối với dân chúng trong thảm họa động đất vừa qua.
 
Nhưng từ sự kiện này, trên các diễn đàn, rất nhiều người đã hoài nghi và thất vọng về con người Việt Nam trong thời buổi nhiễu nhương hôm nay. Dường như những đức tính truyền thống cao quý của dân tộc Việt, không thua kém gì người Nhật, đã bị đánh mất hoặc bị đánh tráo khái niệm.
 
Ôi! Những câu ngạn ngữ, ca dao dân gian như “tôn sư trọng đạo”, “lương y như từ mẫu”, “cô giáo như mẹ hiền”, “hàng xóm có nhau khi tối lửa tắt đèn”, “nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”, “khôn ngoan đối đáp người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”,... chỉ còn trong các câu chuyện cổ tích, hay phảng phất đâu đó của một thời xa vắng...
 
Trong trận lụt kỷ lục ở miền Bắc năm 2008, ngày 2 tháng 11 năm 2008, trả lời phỏng vấn tờ “Vietnamnet” về tình hình chống lũ, ông Pham Quang Nghị, Bí thư Thành uỷ Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam nói: “Tôi thấy nhân dân ta bây giờ so với ngày xưa ỷ lại Nhà nước lắm. Cứ chờ trên về, chờ cung cấp cái này, hỗ trợ cái kia chứ không đem hết sức ra tự làm...”. Ông Nghị nói câu đó hai ngày sau khi dân chúng Hà Nội kêu trời về sự vắng mặt của nhà chức trách trong khi toàn dân thủ đô đang bơi lội trên khắp phố phường.
 
Thật khó quên cái ngày Hà Nội tô son trát phấn, cờ đỏ, đèn hoa giăng giăng khắp phố, khắp ngõ, pháo hoa nổ vang trời, tưng bừng và háo hức kỷ niệm Lễ Nghìn năm Thăng Long - Hà Nội.
 
Hôm ấy, ngày 1 tháng 10 năm 2010, đúng ngày quốc khánh nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, trên quảng trường Ba Đình, bên cạnh xác ướp của Hồ Chí Minh "vĩ đại", Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đọc diễn văn khai mạc dài mười mấy phút, không hề có một lời chia buồn với hàng chục ngàn đồng bào miền Trung đang đói khát, màn trời, chiếu nước và đến thời điểm ấy đã có mấy chục người thiệt mạng, không kể mất tích!
 
Không một lời nào!
 
Những người đứng ở vị trí quyền lực cao nhất của một nhà nước được rêu rao suốt mấy chục năm nay là “của dân, do dân và vì dân”, là “đấy tớ trung thành của nhân dân”, rằng Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân trao cho sứ mệnh lãnh đạo đất nước, bla bla…, mà lại có thể ăn nói trơ tráo và có thái độ vô tâm đến thế!
 
Không có gì quá đáng khi tôi kết luận rằng, đây là một chế độ mà trong đó những kẻ đại diện đã thể hiện sự kiêu căng, ngạo mạn nhất, vô tâm đến mức bất nhân, coi mạng dân như cỏ rác!
 
Tôi nhớ trong trận lụt lớn tháng 7 năm 1997 ở Ba Lan, Thủ tướng Ba Lan lúc bấy giờ là ông W. Cimoszewicz nói nông dân Ba Lan không có thói quen mua bảo hiểm tài sải nên bây giờ nhiều người trắng tay. Chỉ có thế thôi, mà bị báo chí truyền thông Ba Lan quần cho cho lên bờ xuống ruộng, đòi ông từ chức. Ông đã lên TV xin lỗi vì lời phát biểu không đúng lúc của mình, khi mà dân chúng đang hoảng loạn vì chết chóc và tổn thất. Trong cuộc bầu cử quốc hội tháng 9 sau đó, đảng cầm quyền SLD của ông đã bị thất bại thảm hại, chỉ giành được 27% số phiếu. Hậu quả này sẽ còn đeo đuổi ông mãi, vì được gắn với tiểu sử của ông trên pl.Wikipedia.
 
Vào tháng 6/2010, Ba Lan cũng trải qua một trận lụt thế kỷ. Chính quyền Ba Lan đã huy động hết công suất lực lượng cảnh vệ, cảnh sát, quân đội, cùng các tổ chức thiện nguyện khắp đất nước giúp đỡ dân chúng trong và sau trận lụt.
 
Đang đúng kỳ nghỉ phép, Quốc hội Ba Lan triệu tập phiên họp bất thường, nhiều vị dân biểu đi nghỉ xa tắp bên Ấn Độ, Thái Lan, Brazil… tức tốc về nước để có đủ con số thông qua luật bổ sung ngân sách cứu trợ. Nhà nước Ba Lan tạm thời cấp không hoàn lại số tiền tương đương 2.000 đôla cho mỗi gia đình trong khu vực bị lụt và hứa sau khi tổng kết xong toàn bộ thiệt hại, chính phủ sẽ có kế hoạch dài hạn giải quyết tiếp hậu quả. Vậy mà, Hiệp hội “Cùng nhau phản kháng” của các sinh viên đã tốt nghiệp và đang theo học Khoa luật và Hành chính của Đại học Warszawa, vẫn đệ đơn tập thể lên tòa án kiện nhà nước Ba Lan ứng phó chậm hơn khả năng có thể, gây thiệt hại cho dân chúng.
 
Với người Việt, không chỉ chính quyền, dường như số đông cũng dửng dưng, vô cảm trước các cảnh bất công thường trực trong đời sống. Thậm chí thái độ này đã trở phổ biến, bình thường.
 
Thật khó tìm ra ngôn ngữ nào thích hợp thay cho sự nguyền rủa thậm tệ đối với một xã hội mà trong đó công an thường xuyên ngang nhiên đánh chết dân ngay giữa chốn công đường chỉ vì họ vi phạm luật giao thông; học sinh tỉnh bơ nhìn các bạn gái cấu xé nhau, hay thả chó bécgiê cắn nát người phụ nữ đến chết, trước con mắt lạnh lùng của người khác!...
 
Chị Chiến đã bị cho bécgiê cắn nát sau hàng rào này ngày 22 tháng 1/2010 - Ảnh: Tuổi Trẻ
 
Cho nên, nhìn không khí xung quanh lễ tang ông Trịnh Xuân Tùng ngày hôm qua, nhà văn Võ Thị Hảo, một người đang sống giữa lòng Hà Nội, đã phải nói lên sự xót xa, cay đắng và phẫn uất trước nhân tình thế thái, qua bài “Văn tế Dân Oan” (trích):
 
"Hỡi dòng người vô cảm!
Rùng rùng đi mê loạn
Đàn kiến khốn khổ quằn quại kiếm ăn
Câm lặng nhìn đồng bào mình chết
Dưới bàn tay bạo tàn"…
 
"Người người
Xin đừng vờ ngủ
Đừng giả điếc
Rồi đến lượt mình
Một ngày tức tưởi nhập dòng oan"…
 
Tôi cứ băn khoăn suy ngẫm.
 
Đời của bản thân mình coi như xong, chẳng có gì đáng nói. Nhưng may mắn làm sao, tất cả các con tôi đều không phải lớn lên và trưởng thành trong môi trường xã hội khủng khiếp ấy.
 
Nhưng còn hàng triệu, hàng chục triệu em thơ khác của đất nước mà số người sinh ra sau chiến tranh 1975 chiếm tới hai phần ba, không có điều kiện, cơ hội như các con tôi?
 
Lẽ nào mãi mãi chúng ta thản nhiên tự nhận mình hèn giữa đám đông? Cảm thấy mình hèn nhát, cam phận với văn hoá nô lệ và sợ hãi, thì im lặng đã là đáng trách, thế mà còn thản nhiên tự nhận, thì còn gì để nói!
 
- Vâng! Tôi không quan tâm đến chính trị!
 
- Vâng! Tôi không dây vào chính trị!
 
- Vâng! Chủ nghĩa “múc” và “rúc” muôn năm!
 
Nhưng đáng tiếc thay! Bạn có thể không quan tâm đến chính trị nhưng quan tâm đến chính trị lại là đạo đức; chính trị, oái oăm thay, lại là thứ tạo ra cái xã hội đang quấn trói lấy bạn, không buông tha bạn, từ miếng ăn, giấc ngủ, công việc, đến tương lai của bạn, của con cái bạn và cao hơn, cả tiền đồ, số phận của dân tộc!■
 
© 2011 Lê Diễn Đức

36 năm đất nước thống nhất, một tội danh bị đánh tráo, nỗi buồn riêng và chung


 
Lê Diễn Đức
 
 Dinh Độc Lập ngày 30 tháng Tư năm 1975 - Ảnh: Tư liệu
 
Suốt 36 năm qua, mỗi lần tới ngày 30 tháng 4 là mỗi lần tôi trở về với miền ký ức.
 
Tôi vốn không thích “bị” phỏng vấn và phỏng vấn có sự chuẩn bị trước, phải hẹn hò, chờ đợi. Thường hỏi về những sự kiện liên quan tới Ba Lan, bạn hữu của đài quốc tế Pháp RFI biết tính tôi vậy, nên khi gọi điện thoại cho tôi chỉ trao đổi ngắn gọn về chủ đề, giới hạn thời gian, rồi thực hiện ngay.
 
Năm 2007, anh Nguyễn Khanh của “Radio Free Asia” từ Washington DC gọi điện qua Ba Lan có nhã ý phỏng vấn nhân dịp 32 năm ngày thống nhất đất nước, tôi cũng đề nghị làm luôn. Khi trả lời rằng, ngày này 32 năm về trước tôi đang nằm ở nhà tù Hoả Lò, anh Khanh đã rất ngạc nhiên.
 
Về miền ký ức
 
Sau hơn một năm trời bị biệt giam, không được gia đình thăm viếng, chịu đói rét, ghẻ lở, cùng với các cuộc thẩm vấn liên miên, tôi nhận bản án 2 năm tù giam của Toà án Nhân dân Thành phố Hà Nội với tội danh là “Trốn ở lại nước ngoài”. Tôi bị an ninh cộng sản Ba Lan bắt giữ, giao nộp cho phía Việt Nam và bị áp tải về nước sau chuyến trốn qua Thuỵ Điển không thành, phải quay trở lại.
 
Ý thức phản kháng lại các đạo lý giáo điều, bất công, phi nhân bản của chế độ cộng sản và cuộc hành trình mạo hiểm đi tìm tự do của tôi đã xảy ra rất sớm, trước cả cái mốc lịch sử của cuộc “exodus” chưa từng có của người Việt sau 30 tháng 4 năm 1975.
 
Cũng muốn nói thêm để các bạn trẻ biết rằng, cho đến cuối thập niên 70, đầu 80 của thế kỷ trước, sinh viên Việt Nam từ miền Bắc du học ở các nước cộng sản (cũ) chạy sang các nước tư bản bị quy kết tội rất nghiêm trọng. Án phạt dành cho tôi có lẽ được giảm nhẹ sau khi Cục Chấp pháp Bộ Nội vụ kết luận tôi trốn qua Nam Tư, Thuỵ Điển chỉ vì muốn ở lại với người mình yêu, chứ không có hành động làm gián điệp hay phản bội tổ quốc.
 
Ít ai giờ đây tin rằng, ngay tại châu Âu, hồi đó chúng tôi bị cấm yêu, giữa sinh viên Việt Nam với nhau, chứ đừng sớ rớ tới người ngoại quốc.
 
Tuy nhiên, đến cả Adam và Eva trên Vườn Địa đàng còn quên lời răn của Thượng đế, không kìm nổi tò mò, dám ăn cả trái cấm, huống chi chúng tôi, những chàng trai, cô gái đang ở tuổi đôi mươi bằng xương bằng thịt nơi trần tục. Chúng tôi vẫn yêu nhau nhưng lén lút, kín đáo và khôn ngoan đối phó với những con mắt cú vọ sẵn sàng bẩm báo với trưởng đoàn lấy điểm. Người yêu của tôi là một cô gái Ba Lan xinh đẹp, tên Bozena, học khoa Pháp văn, cùng Wroslaw University.
 
Số sinh viên “vượt rào” bị phát hiện và đuổi về nước bấy giờ không ít. Hầu hết bị trả về địa phương, quay lại với “kiếp trâu cày chạy bữa đứt hơi”. Họ không thể ngẩng mặt lên làm một con người bình thường được nữa, vì bị hàng xóm, thậm chí gia đình, khinh thị, hắt hủi. Ở thành phố, tấm lý lịch đen tối không cho họ cơ hội tìm được việc làm tử tế nào ngoài lao động chân tay. Tôi biết T. người Thanh Hoá, học ở Warsaw Polytechnic, đã chết trên biển khi đi đánh cá, còn K. tôi gặp trong tù, người Quảng Bình, đã chết vì mìn nổ khi đi làm ruộng…
 
Tuy đã phải ngồi tù nhưng tôi gặp nhiều may mắn hơn. Sau 14 năm vật lộn, xoay xở và ma mãnh qua mặt chính quyền với nhiều trò có thể viết thành một cuốn tiểu thuyết bi hài, tôi đã quay trở lại Ba Lan, đúng lúc chế độ cộng sản Ba Lan sụp đổ và ở lại luôn cho đến nay. Tôi không bao giờ quên cảm nghĩ của mình khi máy bay của hãng Hàng không Liên Xô Aeroflot dứt khỏi đường băng sân bay Tân Sơn Nhất vươn lên bầu trời vào ngày 9 tháng 10 năm 1989: “Thế là ta đã chiến thắng!”.
 
Quy định cấm yêu được chấm dứt sau sự kiện Lê Vũ Anh, con gái (với bà vợ cả) của cố Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn, bất chấp can ngăn của Đại sứ quán, đã nhất quyết lấy chồng người Nga, gây nên làn sóng phản đối của sinh viên. Họ đòi hỏi quyền được bình đẳng. Một số đã viết thư tập thể bằng máu gửi lên Đại sứ quán Việt Nam. Nhờ “công” của con gái vị lãnh đạo cao nhất của Đảng mà chính sách được thay đổi! Sau này Lê Vũ Anh chết do băng huyết trong lúc sinh con, nhiều sinh viên thương cảm nói có lẽ nên đúc tượng đồng “Nữ thần Tình yêu” cho cô! Đúng thế, Lê Vũ Anh đã làm một cuộc cách mạng.
 
Vào một đêm không ngủ trong trại tạm giam ở ngoại thành Hà Nội (sau này tôi được biết có tên gọi là B15), tôi viết:
 
… Tiếng dế kêu thưa thớt, hoang sơ
Tiếng lá cây xào xạc gió khua
Tiếng ếch ngoài đồng sau cơn mưa
Tiếng gà gáy gọi trời trở sáng
Tiếng chó sủa làng bên vang vọng…
Chỉ thế thôi, chẳng có gì hơn
Bản nhạc trời khuya rầu rĩ lạ thường!
 
(…) Sự thật nơi nào trên khắp thế gian
Có bao giờ tình yêu trở thành tội lỗi
Khi đó đây những vành đai biên giới
Khép mọi con đường, giam cả lứa đôi?
 
Hoặc trước đó, trên những nẻo đường đi tìm mặt trời và sóng biển:
 
Từ trên cao, Bozena em ơi, hãy cùng anh nhìn xuống địa cầu
Thế giới dọc ngang những đường chia xẻ
Biên giới chẳng riêng là những ngọn núi, dòng sông hay hàng cọc bình thường
Bởi chính nơi đây, chân lý và tình yêu chẳng có phút giây nào khỏi bị đoạ đầy, cắn xé!
 
Cái xấu xa, chua chát của cuộc đời dạy anh bài học yêu em
Giúp anh trả lời thế nào là Tình yêu và Cuộc sống
Quên gông sắt, nhà tù lấy em làm hy vọng
Xây nên cuộc đời!
 
Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, một lần trong cuộc phỏng vấn của BBC đã từng nói rằng, trong ngày 30 tháng Tư năm 1975, có triệu người vui nhưng cũng có cả triệu người buồn. Tôi thuộc vế sau. Cả phòng giam hôm ấy huyên náo khi giám thị loan báo tin chiến thắng. Tôi cũng phải cười nói hoà vào đám đông, nhưng lòng quặn đau nghĩ tới viễn cảnh đen tối và cùng đường của mình. Hy vọng le lói của tôi sau khi ra tù sẽ tìm cách vào Nam vụt tắt!
 
Tội danh bị đanh tráo
 
36 năm trôi qua. Có thể là một nửa đời người. Việt Nam đã trải qua vô vàn biến động và thay đổi chóng mặt. Nhưng có một thứ bất biến: Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ độc quyền cai trị đất nước, vẫn cùng một triều đại phong kiến mới với những khuôn mặt của các ông Vua mới kế vị nhau.
 
Tôi đã nhiều lúc nghĩ đến tội danh “trốn ở lại nước ngoài” mà tôi đã phải chịu gánh chịu. Cũng một bộ máy ấy, cũng đảng cầm quyền ấy, tội danh này dưới lăng kính hôm nay sẽ được quan sát ra sao?
 
Không có Bộ Luật hình sự của CHXHCN Việt Nam trong tay, cũng chẳng ham muốn truy cập trên mạng để tìm hiểu, tôi cho rằng, tội danh “trốn ở lại nước ngoài” đã bị loại bỏ khỏi đời sống pháp lý của chế độ hiện hành. Bởi vì nếu có, nhà tù Việt Nam sẽ không thể nào xây kịp!
 
Hàng chục ngàn, nếu không nói tới con số hàng trăm ngàn, công nhân Việt Nam lao động trong khuôn khổ hợp tác kinh tế tại Nga, Bulgaria, Tiệp Khắc (cũ), Đông Đức (cũ) sau khi Bức tường Berlin sụp đổ đã không trở về nước mà ở lại mưu kế làm ăn hoặc xin tị nạn.
 
Tôi cũng là nhân chứng liên tiếp suốt hai thập niên qua trước dòng người Việt bay sang  Nga rồi khốn khổ vượt biên bất hợp pháp vào Ba Lan và các nước khác.
 
Hàng trăn ngàn công nhân được xuất khẩu lao động trong những năm gần đây, bị bóc lột thậm tệ, bị lừa gạt, bị bỏ rơi, không thể trở về nước vì món nợ đè lên vai, đã phải ở lại vật lộn với cuộc sống cơ cực, thậm chí phải hành nghề trộm cắp, đĩ điếm (như ở Malaysia)…
 
Rồi sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, gần cả triệu người miền Nam chấp nhận một sống hai chết, đã trốn chạy khỏi chế độ.
 
Nếu bị xử tù như tôi về tội “trốn ở lại nước ngoài”, chúng ta hình dung một bức tranh xã hội sẽ khủng khiếp như thế nào.
 
Ở đây, chúng ta thấy rằng, cùng một hành vi, ngày hôm trước được xem là có tội, ngày hôm sau mặc nhiên thành chuyện bình thường, thậm chí còn được nhà nước khuyến khích. Vậy thì, trong sự oan ức của tôi chỉ có thể được cắt nghĩa bằng hai cách. Thứ nhất, tôi thuộc những người “đầu thai nhầm thế kỷ”, giống như các văn nghệ sĩ trong phong trào Nhân văn Giai phẩm đã nói về mình. Thứ nhì, sự ấu trĩ và sai lầm của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đẩy vô vàn con người lương thiện xuống vực thẳm của bất hạnh và đau thương.
 
Dưới bàn tay cai trị của Đảng cộng sản Việt Nam, rõ ràng các khái niệm đã được đánh tráo trơ trẽn và nhanh chóng. Giờ đây, lực lượng đông đảo những người “trốn ở lại nước ngoài” (như tôi) mỗi năm gửi về nước nhiều tỷ đôla, mang tiền về nước đầu tư, Nhà nước ra Nghị quyết 36 gọi họ là bộ phận không thể tách rời khỏi cộng đồng dân tộc, là “khúc ruột ngàn dặm”, có thể xênh xang “áo gấm về làng”:
 
“Ngày đi, Đảng gọi Việt gian
Ngày về thì Đảng chuyển sang Việt kiều
Chưa đi: phản động trăm chiều
Đi rồi thành khúc ruột yêu ngàn trùng!”
(Thơ dân gian)
 
Song song với các khái niệm bị đánh tráo, các tội danh cũng được phù phép biến hoá thêm cho kịp với hoàn cảnh mới, nhằm phục vụ mục đích đàn áp tự do.
 
Điều 88 của Bộ luật hình sự xác định tội “truyên truyền chống phá nhà nước CHXHCN Việt Nam”, được các luật gia và tổ chức quốc tế cho là rất mù mờ, có thể dẫn đến quy kết tuỳ tiện.
 
Tôi viết những dòng cảm xúc này sau khi vụ án xử Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ trong ngày 4 tháng 4 vừa rồi đã gây xôn xao dư luận trong và ngoài nước.
 
10 tài liệu mà Toà án Nhân dân thành phố Hà Nội lấy cơ sở quy kết tội cho Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, nếu đặt dưới ánh sáng của quyền phát biểu chính kiến và góp ý cho nhà nước được bảo hộ bởi Hiến pháp và các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký và cam kết, thì Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ phải được xem là vô tội. Tiếng nói của anh khó nghe với chính quyền, nhưng thực ra anh chỉ nói thay những người cùng có ý nghĩ như anh nhưng chưa hoặc không dám nói ra (ý của Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh).
 
Vậy mà Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ đã bị kết án nặng nề với 7 năm tù giam, 3 năm quản chế, trong “một phiên toà trơ trẽn”, “làm mất thể diện quốc gia”, thậm chí “lưu manh và ô nhục”.
 
Trước Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, rất nhiều nhà bất đồng chính kiến khác cũng đã chung một số phận.
 
Là một công dân có kiến thức tối thiểu về luật pháp, có lương tri, không ai không hiểu một thực tế phũ phàng: “Ở Việt Nam ta đã có cả một rừng luật nhưng khi xét xử lại dùng luật rừng!” (nhận định của bà Ngô Bá Thành, một luật sư nổi tiếng trước và sau năm 1975).
 
Là một công dân có trách nhiệm với xã hội, khao khát công lý và công bằng xã hội, không ai có thể mặc nhiên cúi đầu chấp nhận trò chơi luật pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Ở nước ta xử đúng cũng được, xử sai cũng được, xử hòa cũng được, xử thắng cũng được” (phát biểu trước Quốc hội của ông Trịnh Hồng Dương, Chánh án Tòa án tối cao, nhiệm kỳ 1997- 2002).
 
Lời kết
 
Ngang nhiên chà đạp lên cả luật pháp do chính mình thiết lập, lên các giá trị nhân đạo vẫn rao giảng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã bất nhân khi ném hàng triệu sinh linh vào hố tử thần, vào bể khổ của ngục tù và sự đày ải tinh thần, cũng như vật chất kể từ Cải cách Ruộng đất cho đến ngày 30 tháng Tư năm 1975 và suốt 36 năm qua, chưa thấy có tín hiệu cải thiện nào.
 
Hả hê trên chiến thắng, ngông cuồng trên bạo lực, ngạo mạn trên sự giàu sang phú quý do tham nhũng mà có, những người cầm cán cân công lý của Đảng Cộng sản Việt Nam có lẽ chưa bao giờ nhận thức được sai lầm của các thế hệ tiền nhiệm chăng? Không những thế, họ còn tiếp tục mạnh tay hơn, tàn nhẫn hơn, đưa những người vô tội vào vòng lao lý hoặc cái chết tức tưởi bởi bàn tay của công an, đôi khi chỉ vì đi xe gắn máy quên đội mũ bảo hiểm!
 
Cho nên, dễ nhận ra rằng, tại sao sau 36 năm đất nước thống nhất, mọi thứ khẩu hiệu hô hào hoà hợp, hoà giải dân tộc, quên quá khứ, hướng tới tương lai của Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn không mang lại ý nghĩa thuyết phục nào. Người ta vẫn thấy đậm màu sắc giả dối phía sau sân khấu tuyên truyền sặc sỡ và ầm ĩ. Trong lòng người Việt muôn phương vẫn nặng trĩu những ký ức oán hờn, tủi hận. Vết thương lòng vẫn rỉ máu vì chưa bao giờ được giải toả hoặc đền bù, chí ít một lời xin lỗi thành tâm cũng không.
 
Mặc dù phải trải qua số phận nghiệt ngã của đất nước bị chia cắt và cuộc chiến huynh đệ tương tàn vì ý thức hệ, tôi cho rằng, những người con của đất Việt, trong hay ngoài nước, khắp ba miền, không có lý do gì lại không có thể cư xử với nhau trong tình nhân ái, bao dung, cao thượng vì sự phát triển của đất nước. Nhưng thái độ này chỉ có thể tồn tại và thể hiện trong một xã hội cởi mở, dân chủ, tự do, mọi người bình đẳng trước pháp luật và những quyền tự do cơ bản nhất của công dân được Hiến pháp thực sự che chở.
 
Một nhà nước tạo ra được môi trường như thế sẽ không cần phải tốn công sức kêu gọi tình đoàn kết dân tộc.■
 
© 2010 Lê Diễn Đức – RFA Blog
 

Đạo đức chuyên môn của giới an ninh sân bay


http://www.hanoiairportonline.com/images/hanoi43.jpg
Bài viết sau đây là của một anh bạn nhờ đăng. Chúng ta đã nghe nhiều về phong cách “phục vụ” của tiếp viên Air Dùi Cui, nhưng ít ai phản ảnh văn hóa của nhân viên hải quan và an ninh trong nhà ga. Bài viết sau đây của anh Hoài Ngọc kể lại một sự việc có thể nói là nhỏ, nhưng ý nghĩa thì không nhỏ chút nào: đó là thái độ của nhân viên hải quan đối với hành khách ở các phi trường. Cái gốc của vấn đề, theo tôi, là giáo dục và cái mà tiếng Anh gọi là professional ethics – tạm dịch là đạo đức chuyên môn. Theo tôi thấy giới hải quan và an ninh phi trường thiếu đạo đức chuyên môn, nên thái độ của họ có phần thô lỗ và thiếu lịch sự. Chỉ có một cách cải tiến tình hình: nên cho họ đi nước ngoài để học phong cách hải quan và an ninh của các nước văn minh. NVT


===



Đạo đức chuyên môn của giới an ninh sân bay


Hoài Ngọc

Cách đây mấy năm, sau chuyến công tác Hà Nội, tôi ra sân bay Nội Bài đáp chuyến bay trở lại Sài Gòn. Anh trai tôi một cựu chiến binh và mấy em, cháu nữa cùng đi tiễn tôi. Anh em chào tạm biệt nhau bên ngoài hàng rào chắn, tôi đi qua hàng rào, hướng đến quầy soát vé trước khi qua cổng kiểm tra an ninh con người, để vào phòng chờ lên máy bay … Sau quầy vé có một cô nhân viên đứng sẵn, bên cạnh là một lính biên phòng mặc sắc phục tươm tất, mày râu nhẵn nhụi, đứng nghiêng người tỳ khuỷu tay lên bàn quầy. Tôi bước tới trước mặt cô nhân viên, móc túi lấy vé đưa ra. Bỗng nghe anh lính biên phòng buông hai tiếng cụt ngủn, khô khan như một khẩu lệnh trong quân đội:

- Xếp hàng

Tôi sững lại, ngơ ngác nhìn quanh, không có khách nào xếp hàng, không có cái hàng rào tạo ra hành lang xếp hàng. Nghĩa là, không có dấu hiệu gì về một cái “hàng” cho khách đứng theo. Tôi cũng buông câu trả lời:

- Làm gì có hàng mà xếp !

Tay biên phòng gằn giọng, nhiệt độ giọng nói tăng lên:

- Hàng ở kia.

Và ngón tay gã lính chĩa xuống phía sau lưng tôi, trên mặt đất. Tôi quay người nhìn theo: một cái vạch sơn đỏ, sậm màu do bẩn bụi đất, mờ mờ vì nhiều giày dép chà xát, cách chỗ tôi đứng khoảng hai thước.
Anh trai tôi còn đứng bên kia hàng rào barrie, cách xa vài chục thước, vẻ nhấp nhổm, nôn nóng, lớn tiếng hỏi “Có chuyện gì thế ?”. Tôi giơ tay ra hiệu “không có chuyện gì” bởi vì ngại nói to những điều chẳng đáng nói, thực là vì tôi buồn quá.

Tôi thong thả lùi lại, đứng sau vạch sơn đỏ bẩn như quết trầu của bà già ngày xưa, lòng trĩu nặng buồn bã về thái độ trịch thượng, thô lỗ của một tên lính thời bình ở ngay sân bay thủ đô nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa. Tôi giận gã lính thì ít mà buồn nhiều vì sự cẩu thả trong việc giáo dục quân nhân của “Đảng ta”. Bất kỳ người lính nào bây giờ cũng thuộc lòng sáu chữ “Trung với Đảng, hiếu với dân” nhưng có mấy ai nhớ ba chữ đi sau “Hiếu với dân” ?! Đảng chỉ cần người lính thuộc lòng ba chữ đầu thôi.

Khi đã vào phòng chờ ra máy bay, tôi mới rút điện thoại nói chuyện với ông anh (lúc này hẳn đã rời khỏi Nội Bài quay về nhà). Tôi hờn mát mà nói: uổng công anh ném cả tuổi thanh xuân vào chiến trường B, K, nay trở về quê làm nông dân, khonah tay đứng nhìn mấy gã lính thời bình mặt non choẹt được Đảng cưng chiều, hỗn láo với cả nhũng người đáng tuổi cha chú, mà chẳng làm gì được nữa rồi.

Tôi làm nghề giáo dục nên rất nhạy cảm với vấn đề này. Ngành hàng không cần phải soạn kỹ tài liệu dạy dỗ nhân viên trong ngành, binh chủng biên phòng cũng phải biết dạy dỗ lính tráng những bài học đơn giản nhất về thái độ đối xử với nhân dân. Dễ lắm, có khó gì đâu ! Khó là, họ có đủ ý thức trách nhiệm về việc dạy dỗ người của họ hay không.

Thực ra tôi vốn ác cảm với các hãng “quốc doanh”, những lần khác tôi đều chọn Pacific Airlines, tiếc rằng hãng này luôn nằm ở thế “hạ phong”, khó đáp ứng yêu cầu hành khách, mọi ưu tiên E dùi-cui giành giữ hết rồi.

Trong một chuyến khác, tôi đi hãng máy bay South China từ Tân sơn nhất sang Quảng Châu, nhận thấy dàn tiếp viên Tàu cũng với những bộ mặt lạnh như tiền kẽm, như lời anh Nguyễn Văn Tuấn hóm hỉnh viết về tiếp viên của hãng E dùi cui VNA “chẳng bao giờ thấy nàng cười”. Tôi chưa được đi hãng hàng không Âu-Mỹ như GS Tuấn nên chả biết đâu mà so sánh. Thôi thì, tôi so sánh hai hãng mà tôi biết vậy. Có cái gì đó giống nhau giữa hai hãng hàng không XHCN láng giềng này? Mẫu số chung của nó là gì đây ?

Hình như trong hệ thống đạo đức ứng xử với hành khách của hai hãng hàng không này mắc cùng một lỗi hệ thống. Muốn chữa trị ắt phải trị lỗi hệ thống, nếu không thì cứ tốn công đi vá víu hoài những lỗi bộ phận như “vụ áp giải võ sư Lê Văn Khương” ở sân bay Đà Nẵng, cái sân bay từng được thiên hạ ghi nhớ cảnh một sĩ quan cảnh sát giao thông múa gươm giữa đường băng năm nào.

PHN