16/7/11

Bản tin… kì lạ và những người đưa tin… kì lạ!

Nguyễn Duy Xuân

Nguyễn Duy Xuân
Dưới đây là bản tin đăng trên Vietnam+ (Cơ quan chủ quản là TTXVN) lúc 6 giờ 22 phút ngày 11-07-2011. Chỉ sau vài tiếng đồng hồ, hàng ngàn trang mạng trong đó có Tiền phong, Dân trí, Báo mới.com, Giáo dục Việt Nam, Bee.net.vn, Đất Việt, báo Đà Nẵng đồng loạt đăng tải nguyên vẹn.

Trung Quốc cử tàu ngư chính tuần tra Trường Sa

11/07/2011 | 06:22:00
Từ khóa: Trường Sa, Vành Khăn, Tàu ngư chính, Tài nguyên, Tàu cá
Trong bản tin ảnh phát đi vào lúc 15 giờ 41 phút ngày 10/7, phóng viên Tân Hoa xã Hầu Kiến Sâm cho biết sáng cùng ngày, tàu ngư chính số 46012 đã rời cảng Tú Anh thuộc thành phố Hải Khẩu, tỉnh Hải Nam lên đường đi Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa) thay thế tàu ngư chính số 301 làm nhiệm vụ bảo vệ đảo đá ngầm Vành Khăn (Trung Quốc gọi là đá ngầm Mỹ Tế) và quản lý ngư chính trong thời gian 50 ngày.
Đây là lần đầu tiên ngành cá hải dương tỉnh Hải Nam thực hiện tuần ngư chính ở Trường Sa.
Liên quan tới sự kiện này, trong bản tin phát đi vào lúc 20 giờ 26 phút tối 10/7, hãng thông tấn bình luận Trung Quốc dẫn lời Trưởng phòng Hải dương và nghề cá Hải Nam Triệu Trung Xã cho biết việc tuần tra bảo vệ ngư chính ở Trường Sa là hành động chấp pháp chuyên ngành do Cục Ngư chính khu Nam Hải tổ chức thực hiện nhằm bảo vệ quyền lợi biển quốc gia, bảo vệ an toàn sản xuất, quy phạm hành vi sản xuất của các tàu cá Trung Quốc, tăng cường bảo vệ và quản lý tài nguyên sinh vật biển ở Trường Sa và cung cấp dịch vụ cứu trợ cần thiết cho các tàu cá Trung Quốc.
Đồng thời, hành động tuần tra bảo vệ ngư chính là biện pháp quan trọng thể hiện chủ quyền và sự quản lý của Trung Quốc đối với vùng biển Trường Sa.
Theo thuyền trưởng tàu ngư chính số 46012 Tạ Bất Phong, thực hiện nhiệm vụ lần này, tàu ngư chính số 46012 có tổng cộng 22 nhân viên ngư chính, vật tư dự trữ trên tàu gồm nước ngọt, thực phẩm, thuốc... đủ sử dụng trong 60 ngày.
Nhằm đối phó với khả năng xảy ra bão biển, sóng lớn..., các nhân viên ngư chính làm nhiệm vụ phải đề ra phương án phòng chống, bảo đảm tác động của thiên nhiên không ảnh hưởng tới việc thực hiện nhiệm vụ.
Cần nhắc rằng các tàu hải giám và ngư chính của Trung Quốc đã nhiều lần xâm phạm vùng biển chủ quyền của Việt Nam.
Gần đây, các tàu cá Trung Quốc với sự yểm trợ của các tàu ngư chính đã liên tục phá hoại hoạt động khảo sát bình thường do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tiến hành trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam./.
(Vietnam+)
Bạn đọc suy nghĩ gì khi người ta vô tư (chẳng khác gì đưa tin nhà) đưa nguyên vẹn bản tin của Tân Hoa Xã mà không một lời bình luận nào về tính hợp pháp của nó?
Một người bình thường, không là nhà báo cũng biết phản ứng khi tiếp nhận thông tin trên:
1. Lên án hành động trên của Trung Quốc là xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền biển đảo Việt Nam.
2. Bác bỏ những luận điệu xằng bậy nêu trong bản tin của Tân Hoa Xã nào là “tuần tra bảo vệ ngư chính ở Trường Sa”, rồi “tăng cường bảo vệ và quản lý tài nguyên sinh vật biển ở Trường Sa” và “là biện pháp quan trọng thể hiện chủ quyền và sự quản lý của Trung Quốc đối với vùng biển Trường Sa”.
3. Khẳng định chủ quyền bất khả xâm phạm của Việt Nam đối với vùng biển và quần đảo Trường Sa.
Thế mà, Vietnam+ của TTXVN lại không làm được như vậy. Thật khó hiểu khi Vietnam+ chỉ thòng vào cuối bài báo vài câu: “Cần nhắc rằng các tàu hải giám và ngư chính của Trung Quốc đã nhiều lần xâm phạm vùng biển chủ quyền của Việt Nam. (chỉ nhắc một cách chung chung thôi-NDX). Gần đây, các tàu cá Trung Quốc với sự yểm trợ của các tàu ngư chính đã liên tục phá hoại hoạt động khảo sát bình thường do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tiến hành trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.”
Tuyệt nhiên không một câu chữ nào lên án hành động và lời nói sai trái, ngang nhiên xâm phạm chủ quyền Việt Nam của phía Trung Quốc.
Một tờ báo của TTXVN mà đưa tin kiểu này thì định hướng dư luận sao đây?
Từ bản tin của Vietnam+, hàng loạt các trang mạng khác cùng đăng tải, vô hình trung truyền thông Việt đang tuyên truyền không công cho kẻ khác và mặc nhiên công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Trường Sa?
[*] Bài do tác giả Nguyễn Duy Xuân gửi trực tiếp cho NXD-Blog.
Xin chân thành cảm ơn tác giả!

Cảnh sát Trung Quốc: Không phải là Hãm Hiếp nếu ông ta mang bao cao su

Độc giả Dân Luận chuyển ngữ từ blog của tờ theepochtimes.com
Chuyện khó tin nhưng chỉ thật có ở những xứ thiên đường cộng sản!!! Nhân dân Trung Quốc cũng như Việt Nam phải chịu nhiều sự bất công dưới sự cai trị độc tài, bá đạo, vô dân chủ, vô pháp luật của thể chế CS. Cô giáo Chu Tần cũng như học sinh Hằng, Thúy và nhiều em khác đã phải mang sự ẩn uất suốt cả cuộc đời, vết nhơ cuộc đời không bao giờ tẩy xóa được khi công an CS đã trắng trợn bao che cho quan chức nhà nước, khi lẽ phải vẫn nằm trong tay kẻ có quyền lực! Đốn mạt thay!
MPR đăng ngày 13 Tháng Bảy 2011
Câu chuyện về vụ hãm hiếp giáo viên trung học cô Chu Tần (Zhou Qin), 26 tuổi, đã thu hút nhiều sự chú ý hơn các báo cáo thông thường về sự lạm dụng quyền lực của các quan chức Trung Quốc, bởi vì sự phản ứng tuyệt vời của cảnh sát Trung Quốc cho sự tố cáo của cô Chu Tần: Cảnh Sát Trung Quốc đã bác bỏ trường hợp trên với lý do "đeo bao cao su không tính là hiếp dâm."

Cô Chu Tần giảng dạy tại trường trung học cơ sở Huajuea trong thị trấn Ashi, khu vực Bijie, phía tây nam tỉnh Quý Châu. Vào sáng ngày 17 tháng 5 các lớp học bị hủy bỏ cho một buổi "giáo dục pháp luật." Sau đó là thời gian tiệc tùng cho các công thần địa phương. Cô Chu Tần được lệnh phải dự bữa tiệc của họ và - trong một bầu không khí nữa như cưỡng ép, bản tin gốc của tờ Qianzhong Morning Post (1) cho thấy – cô đã bị ép uống nhiều hơn khả năng của cô.
Wang Zhonggui, trưởng Phòng quản lý đất đai và tài nguyên đất của địa phương và và sau đó bị tố tội hiếp dâm, đã ép cô Chu Tần uống chừng 15 cốc rượu. Sau đó, khi cô khật khưởng đi bộ về nhà, ông đã đón cô bằng xe hơi của mình, đưa cô trở lại văn phòng của ông, và hãm hiếp cô.
Các sự kiện này đã không được thông tin công cộng loan báo cho đến bây giờ bởi vì vụ này nằm trong tay của các quan chức cảnh sát địa phương. Cô Chu Tần đã cho báo chí biết sau khi cảnh sát đưa ra kết luận gây sốc của họ là họ không tính vụ này là hiếp dâm vì kẻ bị cáo có mang bao cao su.
Nhưng cảnh sát ở Trung Quốc có tin như vậy không? Còn gì nữa để nói khi đây không chỉ đơn giản là sự phản bác đầy mỉa mai cay đắng?
Bài này đã được đăng trong mục Nhân Quyền, Xã hội và Hiếp dâm.
(1) http://news.cn.yahoo.com/ypen/20110712/464527.html
Theo trang blog: http://blog.theepochtimes.com/1/china/2011/07/13/chinese-police-it%E2%80%99s-not-rape-if-he-wore-a-condom/
Ghi chú: Tên gọi và tên địa phương của Tàu tôi không biết để dịch.

Kiến nghị Quốc Hội ra tuyên bố về Biển Đông trước các diễn biến gần đây

Nguyễn Thượng Long

Nguyễn Thượng Long
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC
Hà Nội ngày 14 / 7 / 2011
KIẾN NGHỊ GỬI QUỐC HỘI NƯỚC CHXHCN

VIỆT NAM KHOÁ XIII.
Thưa các quý vị đại biểu Quốc Hội!
Đã nhiều năm nay, ngư dân vùng ven biển của Việt Nam, mỗi lần ra khơi đánh bắt cá, lo gặp mưa, gặp bão thì ít, còn lo gặp phải “Người Lạ” - “ Tầu Lạ” – “Nước Lạ” lại là nhiều. Về lý thuyết, người cộng sản là người duy vật, vậy tại sao ban lãnh đạo Việt Nam ngày nay lại chấp nhận cách gọi siêu hình đến như vậy?
Khi ông Nguyễn Phú Trọng bị các vị trong thường vụ Quốc Hội 12 chất vấn về tình trạng ngư dân liên tiếp bị “Các Lạ” đâm chìm tầu, cướp cá tôm, cướp ngư cụ, bị họ bắt bớ, đánh đập, phạt vạ…thì ông Trọng lại lạnh lùng trả lời bằng một tuyên bố vô cảm, có lẽ chẳng thể vô cảm hơn:
“TÌNH HÌNH BIỂN ĐÔNG KHÔNG CÓ GÌ MỚI” (!?) (NPT – 2010)
Từ cuối tháng 5/2011, qua tháng 6 đến những ngày thượng tuần tháng 7 hôm nay, thử hỏi hàng loạt sự cố sau đây đã đáng được gọi là “…mới” được chưa?
- Ngày 26/5/2011. Tầu thăm dò địa chất Bình Minh 02 của Việt Nam đang hoạt động sâu trong vùng lãnh hải của mình bị tầu Trung Quốc cắt cáp.
- Ngày 9/6/2011. Tầu Vi King 2 của Việt Nam đang hoạt động sâu trong vùng lãnh hải thuộc chủ quyền của mình bị tầu Trung Quốc cắt cáp.
- Liên tục các chủ nhật trong tháng 6 và tuần đầu tháng 7, sinh viên, học sinh, trí thức… biểu tình và tuần hành phản đối hành vi sai trái của Trung quốc.
- 25/6/2011 Gặp gỡ song phương giữa ông Hồ Xuân Sơn, Đặc Phái Viên của Việt Nam và Đới Bỉnh Quốc Uỷ Viên Quốc Vụ Viện Trung Quốc, có nội dung về tình hình Biển Đông.
- Cùng ngày 25/6/2011. 95 vị nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sỹ, lão thành cách mạng của Việt Nam ra Tuyên Cáo về tình hình Biển Đông.
- Ngày 4/7/2011. 18 nhà trí thức nổi tiếng gửi Kiến Nghị đòi Bộ Ngoại Giao bạch hoá nội dung cuộc gặp gỡ song phương giữa Hồ Xuân Sơn và Đới Bỉnh Quốc.
- Ngày 13/7/2011. Gặp gỡ bất thành giữa đại diện Bộ Ngoại Giao với 18 vị nhân sĩ, trí thức, lão thành cách mạng .
- Ngày 10/7/2011. Các vị nhân sĩ và trí thức viết Kiến Nghị về việc bảo vệ và phát triển đất nước.
Tôi trước sau chỉ là người Việt Nam bình thường, yêu nước và không hề có bất cứ một tham vọng nào cho riêng mình. Tôi không thể hiểu nổi vì lý do gì mà ĐCS Việt Nam có hẳn 1 điều trong Hiến Pháp (Điều 4), khẳng định sự độc quyền lãnh đạo đất nước này, vậy mà qua những gì truyền thông chính thống cho biết, diễn biến chính của hội nghị TW 2 vừa qua cũng chỉ xoay quanh vấn đề nhân sự cấp cao sẽ được đưa ra trong kỳ họp QH sắp tới (!?). Trong bài phát biểu của ông Tổng Bí Thư trên VTV1, không một lời nói tới tình hình Biển Đông, nói tới chủ quyền của Việt Nam trên Hoàng Sa và Trường Sa(!?). Ông Trọng đã làm biết bao người Việt Nam trong nước, ngoài nước buồn phiền và lo ngại.
Tôi nghĩ, không thể là một tiền lệ là cứ cái gì Đảng đề cập thì Quốc Hội mới được đề cập. Cuộc họp sắp tới của Quốc Hội khoá 13, dù cho Chính Phủ của ông Nguyễn Tấn Dũng có, hay cũng lại không 1 lời nào vể Biển Đông thì đó là sự không hoàn thành trách nhiệm trước nhân dân, trước đất nước của giới hành pháp. Với Quốc Hội 13, những người dù hoàn toàn là “Đảng Cử !”, nhưng cũng gọi là đã được dân bầu, trong cuộc họp sắp tới, tôi kiến nghị:
“Bên cạnh những công việc muôn thuở của cơ quan lập pháp thì việc ra một Tuyên Bố về tình hình Biển Đông của Quốc Hội khoá 13 là một việc làm cần thiết. Làm được việc đó, Quốc Hội mới thực sự là cơ quan quyền lực cao nhất, Quốc Hội mới thực sự là Của Dân – Do Dân – Vì Dân”.
Việc Quốc Hội khoá 13 ra được “Tuyên Bố về Biển đông” sẽ là một bằng chứng để nói rằng không phải người đảng viên nào cũng nhu nhược, không phải người Việt Nam nào cũng là một Lê Chiêu Thống, một Trần Ích Tắc và cũng không phải tất cả dân tộc chúng ta “…đã hoàn toàn mất gốc”, đã “ …hoàn toàn vong bản”.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì đã viết trong Kiến Nghị này./.
Hà Đông ngày 14 /7/2011.
Nhà Báo Nguyễn Thượng Long.
- Nguyên giáo viên dậy Địa Lý của Giáo Dục Hoà Bình & Hà Tây.
- Nguyên Thanh Tra Giáo Dục kiêm nhiệm của Hà Tây.
- Nơi ở: Tổ 6 – Đường Văn La – Phường Phú La – Hà Đông – Hà Nội.
- Email: nguyenthuonglong571@gmail.com

Tuyên ngôn của Nông dân Trung quốc về vấn đề đòi lại ruộng đất

Nguyên tác của Lưu Hiểu Ba
Đoàn Thanh Liêm lược dịch
Trích trong sách “Triết lý con heo”, bản Pháp văn do nhà xuất bản Gallimard ấn hành năm 2011: La Philosophie du porc.
Vào cuối năm 2007, tại Trung quốc nông dân nhiều địa phương đã phát động một phong trào đòi lại quyền sở hữu ruộng đất. Điển hình là các trường hợp sau đây:
1 – Ngày 9 tháng Mười Hai, 40.000 nông dân ở Đông Nam Cương và ở 72 làng xã thuộc thị trấn Phúc Âm thuộc tỉnh Hắc Long Giang đã công bố cho toàn quốc biết rằng họ dành lại quyền sử dụng đất đai của mình. Sự việc diễn tiến như sau: Ngày 28 tháng Mười Một, hội nghị toàn thể dân làng đã quyết định đòi lại ruộng đất đã bị chiếm cứ. Ngày 29 họ đã ra đo đạc lại các cánh đồng. Ngày 30 họ chuẩn bị việc cấp phát đất cho nông dân, và ngày 3 tháng Mười Hai, việc phân chia ruộng đất đã chính thức khởi sự.
2 – Ngày 12 tháng Mười Hai, một cuộc tập hợp của 70.000 nông dân bị dời chỗ, trong 72 ngôi làng thuộc các huyện Đại Lý và Đông Hoàn và thị trấn Hoa Âm trong khu vực Tam Môn Hiệp ở tỉnh Thiểm Tây, cũng đã công bố rộng rãi trên toàn quốc rằng: “Chúng tôi, 70.000 nông dân của hai huyện và một thị trấn, ngày hôm nay đã cùng nhau quyết định đòi lại quyền sở hữu trên ruộng đất mà tại đó chúng tôi đã canh tác từ nhiều thế hệ nay. Chúng tôi sẽ tổ chức để trao lại cho nông dân cái quyền chiếm dụng vĩnh viễn trên diện tích bình quân mà họ sử dụng, và chấm dứt các hành vi chiếm đất do những cán bộ các cấp gây ra”.
3 – Ngày 15 tháng Mười Hai, trong làng Thịnh Trang, thị trấn Nghi Hưng thuộc tỉnh Giang Tô, 250 gia đình nông dân đã thông báo cho toàn quốc về: “Quyền sở hữu vĩnh viễn trên các thửa đất” và sự áp dụng nguyên tắc “Người cư ngụ sở hữu căn nhà của mình”. Làng Thịnh Trang đã có trên 5.000 năm lịch sử và từ nhiều triều đại, qua nhiều thế hệ, mỗi gia đình đều biết rõ ràng các thửa đất cày cấy được và các núi có tre bao phủ thì thuộc về ai. Các mảnh đất này xưa kia thuộc về cha ông chúng tôi, bây giờ phải được trả lại cho chúng tôi, và trong tương lai sẽ được trao lại cho con cháu chúng tôi: Tất cả mọi thửa đất của làng Thịnh Quang là tài sản vĩnh viễn của từng gia đình, những mảnh đất canh tác được và những núi có tre bao phủ, và cả những ngôi nhà do tổ tiên để lại thì phải trả lại tất cả cho người dân trong làng, để cho họ canh tác và phát triển”.
Trong mấy năm gần đây, tại Trung quốc đã có sự thảo luận sôi nổi về vấn đề ruộng đất ở nông thôn. Nhưng tiếng nói của chính giới nông dân thì lại không hề được chú ý đến. Và các trường hợp được ghi ra trên đây chứng tỏ rõ rệt là người nông dân đã cất cao tiếng nói của mình để cho toàn thể quốc gia nghe được tiếng kêu từ sâu thẳm lòng đất. Những tuyên ngôn này bắt nguồn từ truyền thống lịch sử, dựa trên thực tế và công lý đã mở ra một lỗ hổng nhằm phá bỏ cái hệ thống phi lý về quyền sở hữu ruộng đất bị áp đặt từ thời kỳ Mao Trạch Đông đến bây giờ. Rõ ràng là người nông dân đã bắt đầu ý thức mạnh bạo dứt khóat về quyền tự chủ của mình, khi họ tuyên bố: “Ruộng đất dưới chân chúng tôi không phải là tài sản của nhà nước, cũng không phải là tài sản của tập thể, đó là mảnh vườn của tổ tiên chúng tôi là những người đã sống trên đó từ nhiều thế hệ, đó là tài sản thuộc về những người nông dân chúng tôi”. Và, để bảo vệ chủ quyền của mình, họ đã không chịu quỳ gối để mà xin xỏ một ân huệ nào. Mà lúc này, họ đứng thẳng lên để xác định cái quyền sở hữu của mình: “Chúng tôi là chủ nhân ông duy nhất của thửa đất dưới chân chúng tôi, và chúng tôi muốn trọn quyền chọn lựa cách thức chúng tôi sử dụng các đất đai ấy theo đúng sở thích của riêng chúng tôi”.

A - Đảng cộng sản đã tước đoạt toàn thể tài sản của nông dân

Lịch sử Trung quốc có những chu kỳ thịnh suy kế tiếp nhau, khi đất nước yên hàn, người nông dân vẫn khổ cực; mà khi nước loạn, thì nông dân cũng vẫn lầm than. Nhưng dù dưới chế độ phong kiến quân chủ có tàn bạo và nhũng lạm đến mấy đi nữa, thì cũng không có sự bóc lột và áp bức tột cùng như dưới chế độ cộng sản. Với chính sách tập thể hóa và hợp tác hóa nông nghiệp, không một mảnh đất nào mà còn thuộc quyền sở hữu của nông dân nữa. Và chính quyền cộng sản đã trở thành sở hữu chủ duy nhất của đất đai, họ toàn quyền thao túng trên số tài sản đồ sộ này. Một khi người nông dân bị lấy mất hết ruộng đất, thì họ trở thành nông nô bị ép buộc phải sinh sống trong các công xã.
Họ bị biến thành cái máy chuyền máu sang cho công cuộc kỹ nghệ hóa điên rồ của chủ tịch Mao. Cái thảm họa của chiến dịch “Bước nhảy vọt” đã gây cho nông dân sự nghèo túng cùng cực đến nỗi hàng chục triệu người phải chết đói, và nhiều nơi đã xảy ra nạn ăn thịt người.

B – Nông dân vẫn là thành phần bị thiệt thòi nhất của đất nước

Sau khi Mao Trạch Đông qua đời, thì có sự thay đổi với hệ thống “hợp đồng khoán đất với các hộ gia đình nông dân”, để cho nông dân nhận ruộng đất mà canh tác và họ được thụ hưởng những hoa lợi trên khu đất đó. So với thời trước, thì đây là điều tiến bộ, mà có người gọi đó là “cuộc cách mạng giải phóng người nông nô”. Nhưng về thực chất, đây mới chỉ là một thứ “giải phóng nửa vời”, vì người dân vẫn chưa có quyền sở hữu trọn vẹn trên thửa đất do mình khai thác. Các cán bộ của nhà nước vẫn còn hành xử quyền quản lý trên các đất đai đó, và họ đã cấu kết với giới kinh doanh để thâu mọi lợi ích do sự lên giá của mọi bất động sản được sử dụng cho mục đích thương mại và đô thị hóa.
Và trong một chế độ không có tự do báo chí, không có nền tư pháp độc lập, thì người nông dân không có tiếng nói, không được quyền thành lập những hiệp hội nông dân, mà họ chỉ có một cách duy nhất là viết đơn “thỉnh nguyện” (pétition) gửi lên chính quyền mà thôi. Nhưng vì các cán bộ họ bênh đỡ, bao che lẫn nhau, nên mọi khiếu nại của nông dân đều không được giải quyết thỏa đáng. Rút cục, người dân chỉ còn có một cách duy nhất để tranh đấu bằng những “phản kháng tập thể” (incidents collectifs). Cán bộ lại ra tay đàn áp tàn bạo.
Điển hình như vào ngày 6 tháng Mười Hai năm 2005, tại làng Đông Châu trên vịnh Hồng hải, thị trấn Sán Vĩ, tỉnh Quảng Đông, nhân cuộc tranh chấp về đất đai, chính quyền đã điều động hàng ngàn cảnh sát đến ném lựu đạn cay và xả súng bắn vào số trên 1.000 người dân biểu tình, khiến cho ít nhất là 3 người thiệt mạng và nhiều người bị bắt giữ.

C – Bị dồn vào thế cùng, nông dân phải tìm cách tự giải thoát lấy

Như đã trình bày ở trên về ba trường hợp tập thể nông dân đã tự phát đứng lên công bố xác định về quyền sở hữu ruộng đất của mình. Họ phải làm như vậy, vì không còn phương cách nào khác nữa để có thể giải quyết được tình trạng bế tắc đã kéo dài quá lâu ở địa phương. Xin ghi thêm chi tiết về các vụ phản kháng tập thể “ngoài luồng” này:
1 – Tuyên cáo của 250 gia đình nông dân tại làng Thịnh Trang, thị trấn Nghi Hưng, tỉnh Giang Tô nhấn mạnh như sau:
“Dưới danh nghĩa phát triển những tiện nghi công ích và xây dựng thiết bị công cộng cho tập thể, những nhóm thế lực do sự cấu kết của giới kinh doanh và cán bộ địa phương đã dùng sức mạnh để chiếm đoạt đất đai của nông dân và xây cất trên đó những khách sạn, nhà hàng, vũ trường và những khu phố thương mại, tất cả chỉ vì lợi ích thương mại mà thôi. Vì lý do đó mà người nông dân đòi hỏi phải có sự giải thích: “Những chuyện này có liên quan gì đến công chúng? Có liên hệ gì đến quyền lợi của nông dân chúng tôi?”.
“Hôm nay, chúng tôi muốn đặt câu hỏi là: Đất nước này thuộc về ai? “Lợi ích công cộng” thuộc về ai? Tập thể thuộc về ai? Mỗi khi đất đai bị chiếm cứ, dân làng phản đối, ký kiến nghị, thì Chủ tịch xã và Chi bộ đảng lại nhân danh “tập thể” mà “đại diện” cho toàn thể nông dân bằng vũ lực… Cán bộ, cảnh sát, bọn mafia “liên kết với nhau để thi hành pháp luật”, bằng cách đánh đập, phá phách, cướp đoạt phương tiện sinh sống của chúng tôi. Và bọn mafia tuyên bố công khai rằng họ “nhân danh chính quyền để giải tỏa đất đai, các người phải tuân lệnh vô điều kiện. Kẻ nào chống lại việc làm này của họ, tức là chống lại nhà nước”. Rõ ràng đây y hệt như là tác phong của phường lũ cướp bóc ngày xưa vậy…”.
2 – Những nông dân tại thị trấn Phúc Âm đã hiểu rõ những gì núp đàng sau bức màn che của “nhà nước” và của “tập thể”, và trong tuyên cáo, họ đã ghi ra thật rõ ràng như sau: “Bởi vì từ lâu nay cái gọi là sở hữu tập thể đã làm mất hết ý nghĩa của quyền “Làm chủ trên đất đai” của người nông dân, và những viên chức cán bộ các cấp cùng với kẻ độc tài địa phương thị trấn Phúc Âm đã không ngừng nhân danh tập thể để chiếm đọat ruộng đất của nông dân và đem chia chác cho nhau. Họ đã ngang nhiên trở thành chủ nhân ông và nông dân thì biến thành người đi thuê mướn lại các thửa đất ấy. Vì thế mà nay chúng tôi đã đồng lòng quyết định là phải thay đổi cái lề lối chiếm dụng đất đai này, và thực sự áp dụng và bảo đảm cái vị thế làm chủ đất đai của các hộ gia đình và của các cá thể nông dân”.
3 – Tuyên ngôn của 70.000 nông dân trong vùng Tam Môn Hiệp cũng nhấn mạnh: “Chúng tôi biết rằng bất kể luật pháp và chính sách của nhà nước quy định ra sao, thì việc kiểm soát đất đai cũng rất khó khăn. Một khi quyền làm chủ ruộng đất trở lại vào tay của nông dân, thì những thế lực ham hố lợi lộc sẽ không còn dám chiếm đọat, bởi lẽ các đất đó không phải là thứ đất đai tập thể nào đó nữa, mà là thuộc về những con người cụ thể rõ ràng. Và vì đất này là nguồn lợi sinh sống cho họ, nên người nông dân sẽ quyết tâm bảo vệ tài sản này mỗi khi bị uy hiếp. Một khi lực lượng nông dân được huy động, thì chính quyền trút được gánh nặng trong việc bảo vệ đất đai. Đó chính là cách thức giải quyết tận gốc rễ cho vấn đề tại nông thôn, và người nông dân có thể trở thành ngang hàng bình đẳng với người dân thành phố và thụ hưởng những thành quả của công cuộc hiện đại hóa nữa”.

D – Một cuộc cách mạng còn vĩ đại hơn nữa

Nếu ta coi việc nông dân xã Hiểu Cương, huyện Phong Dương, tỉnh An Huy cùng tự phát ký tên vào hợp đồng khoán đất với các hộ gia đình như là cuộc cách mạng thứ nhất trong quá trình giải phóng nông dân, thì bản tuyên cáo về quyền sở hữu về đất đai của nông dân tại ba địa phương nói trên là cuộc cách mạng thứ hai nhắm vào việc “tự giải phóng” (autolibération) của giới nông dân Trung quốc. Cuộc cách mạng thứ hai này còn vĩ đại và đi xa hơn cuộc cách mạng thứ nhất rất nhiều.
Những nông dân đã đưa ra bản tuyên ngôn này, thì họ có ý thức rất rõ ràng. Tiếng nói của họ không phải chỉ là tuyên cáo về ruộng đất của nông dân, đây còn là một tuyên ngôn về các quyền của tập thể giới nông dân Trung quốc nữa vậy.
L.H.B.
Đoàn Thanh Liêm dịch tóm lược, Costa Mesa, trung tuần tháng Bảy 2011
Admin gửi hôm Thứ Bảy, 16/07/2011
Bạn đánh giá bài viết này thế nào?

Gương canh tân của Vua Phật Mongkut vẫn còn trên xứ Thái

  Gương canh tân của Vua Phật Mongkut vẫn còn trên xứ Thái

Hạ Long Bụt sĩ

Hạ Long Bụt sĩ
Thế kỷ XIII Việt Nam có vua Phật Trần Nhân Tôn (1279-1293) thì Thái Lan cũng có một vị vua, đáng gọi là vua Phật ở thế kỷ XIX, đồng thời với vua Tự Đức (1843-1883) bên ta: đấy là vua Mongkut (1851-1868) mà thế giới biết đến qua phim ảnh, The King and I, Nhà Vua và Tôi, thời 1960. Không phải ngẫu nhiên tài tử trọc đầu Yul Brynner được chọn thủ vai vua Mongkut và Deborah Kerr thủ vai cô giáo dậy tiếng Anh Mrs. Anna Leonowens: phim bản dựa phần nào trên sử liệu, nhà vua Mongkut trước khi lên ngôi đã xuống tóc xuất gia 27 năm, sống trong chùa và từng giữ chức Sư trưởng một tu viện, còn Anna là cô giáo dậy Anh ngữ từ Singapore sang, 1866-68, với hợp đồng 3 năm, nhưng mới 2 năm thì vua Mongkut mất, phim bản thêm chuyện cô giáo Anna khiêu vũ với nhà vua và đứng cạnh giường vua khi vua thăng hà. Cô giáo Anna thật ra không phải là người dậy vua tiếng Anh, vua Mongkut học Anh văn với các giáo sĩ Hoa kỳ, từ khi còn ở chùa, học 3 năm với Dr. Caswell và sau đó với Dr. Bradley và Dr.House. Khi lên ngôi, nhà vua nhờ Dr. Bradley tổ chức lớp dậy Anh ngữ cho 9 phi tần trẻ tuổi trong cung. Dr. Bradley cử ba bà giáo thay phiên vào dậy, từ tháng 8 năm 1851, sau 3 năm lớp học bị ngưng vì các bà giáo bắt đầu mang Thánh Kinh Cơ Đốc ra dậy và lại còn chỉ trích nhà vua đa thê! Vua Mongkut chỉ có 39 cung phi, không phải 600 như Sir J. Browning viết! Vua rất rộng lượng, cho phép các cung phi rời cung nếu không sinh hoàng tử, và được tái giá. Nhà vua muốn các cung phi và công chúa, hoàng tử, được giáo dục theo kiểu Tây phương nên mới nhờ quan lãnh sự ở Tân Gia Ba tìm được bà giáo Anna sang Thái, với điều kiện dậy Anh ngữ chứ không dậy giáo lý!

VUA MONGKUT và TRUYỀN THỐNG GIÁO DỤC NHÀ CHÙA

Cho đến thời vua Mongkut Thái Lan không có chế độ giáo dục thi cử Tống Nho như Tầu, Việt. Thái vẫn như thời Lý bên ta, việc giáo dục dành cho nhà Chùa, giao cho các sư sãi. Từ nhỏ, hoàng tử Mongkut đã được gửi tới chùa để học đọc và viết chữ, đồng thời học cách cưỡi voi (elephantry), năm 13 tuổi xuống tóc (lễ cắt cuộn tóc dài quấn cao đỉnh đầu) và trở thành chú tiểu trong 8 tháng theo truyền thống. Hết 8 tháng tu tập mới được trở về cung và được vua cha trao cho chức vụ tượng trưng trong triều. Năm 21 tuổi, 1824, Mongkut chính thức trở thành sa môn và cũng vào năm này vua cha, Rama II, mất. Hoàng tử Tap, con một thứ phi, lên nối ngôi, Rama III. Tuy không phải là con Hoàng hậu như Mongkut, nhưng hoàng tử Tap đã được vua cha yêu quý, có kinh nghiệm ngoại giao (ký hiệp ước 1821 với Crawford) và cai trị nên được hoàng gia ủng hộ lên ngôi. Sư Mongkut, hoàng thế tử, không tranh dành với em, sư chọn ở trong chùa suốt 27 năm.

CÔNG CUỘC HIỆN ĐẠI HÓA PHẬT GIÁO CỦA SƯ MONGKUT

Cư trú tại chùa Mahatat sư Mongkut nhận thấy giới tăng sĩ không giữ đúng giới luật và đi sai với kinh kệ mà đức Phật trao truyền. Mongkut ra công học chữ Pali để khán kinh trực tiếp không qua bản dịch, trình độ Pali của Mongkut được xác định qua kỳ giám định “thi đình”, cấp Thái học sinh, đệ cửu đẳng, cao cấp nhất của Phật học thời đó. Mongkut từng thề nguyện: nếu trong 7 ngày mà không gặp được chân sư thì sẽ vĩnh viễn hoàn tục rời chùa. Chư Phật đã đáp lại lời nguyện đó: Mongkut gặp được một vị sư người thiểu số Mon xứ Miến Điện hiện đang trú ngụ ở Thái. Sư mặc áo vàng, liễu kinh đúng như Mongkut đã đọc, Mongkut khâm phục xin nhà sư người Mon làm lại lễ thọ giới cho mình. Mongkut bắt đầu thanh lọc đạo Phật xứ Thái: sư cho vứt bỏ một lúc 500 cuốn kinh sách, viết sai, dịch sai, và cho dịch kinh sách lại từ cổ ngữ Pali.
Trong thời gian làm Sư trưởng Viện, Mongkut giao thiệp với các giáo sĩ Thiên Chúa giáo, học Anh ngữ với các giáo sĩ Mỹ, lại học cả Pháp ngữ với Giám mục Pallegois, giám mục dậy Latin cho Mongkut và đổi lại ngài dậy Pali cho giám mục. Mongkut không ngần ngại học hỏi và áp dụng phương pháp hoằng đạo của Thiên chúa giáo cho Phật giáo và thiết lập pháp môn mới cho Thái, Dharmayukta, cùng với pháp môn cũ, Mahanikaya, phát triển trên xứ Thái, và ảnh hưởng sang Cao Miên, Lào, cho tới ngày nay.
Mongkut dùng chữ Pali viết kệ tụng, và tu chỉnh nghi lễ, …Sau này, khi lên ngôi vua, 1851, Mongkut phạt nặng các tu sĩ phạm giới rượu chè thuốc phiện, dâm dục, ăn quá ngọ: họ phải hoàn tục, hay đi cắt cỏ cho voi ăn..

MỘT CHÍNH SÁCH CAI TRỊ PHÁ CHẤP

Vua Rama III mất năm 1851, hoàng tử lại nghiện thuốc phiện nên không được truyền ngôi. Hoàng gia họp lại và đi mời sư Mongkut, hoàng thế tử đích vị, anh của Rama III về làm vua, tức Rama IV. Năm ấy Mongkut đã 47 tuổi, đầy kinh nghiệm đời và đầy đức đạo. Ngay lễ đăng quang ngài đã phá chấp: mời người ngoại quốc dự lễ và không phải quỳ mọp như thần dân Thái, treo chuông cửa cung cho dân tới đánh chuông khiếu nại… cấm hoàng gia và quan chức bắt nô tỳ, cấm ép gái đẹp làng xóm về phủ đệ làm đoàn ca múa riêng…
Mongkut đặc biệt cởi mở với các giáo sĩ Cơ Đốc: ngài từng nói với một giáo sĩ Mỹ: ông có thể cải đạo toàn dân Thái nhưng còn một người ông không cải được là tôi! Có lần một tăng sĩ cải sang Cơ Đốc Giáo, vua Rama III đòi trừng phạt, ngài Mongkut đã ngăn lại và chủ trương mọi người được tự do lựa chọn tín ngưỡng. Vua Mongkut còn cho phép các giáo sĩ cất nhà thờ, khuyến khích và bảo vệ họ khi đi truyền đạo, tặng tiền bạc và khi mất, như giám mục Pallegois, còn được tẩm liệm theo nghi lễ hoàng gia với thuyền bát nhã và súng chào.

THÂN ANH QUỐC

Vua Mongkut đặc biệt thân thiện với Anh quốc; ngài dùng một Đại úy Anh luyện quân sĩ và các sĩ quan Anh chỉ huy thuyền chiến Thái, người Anh luyện cảnh sát còn người Pháp chỉ được dùng vào việc luyện lính gác! Ngài cho người Anh vào kỹ nghệ làm đường mía, khai mỏ... xưa nay vẫn trong tay người Tầu.
Năm 1853 vua cho nhập cảng máy in tiền giấy, lập đường dây điện tín với Miến Điện và Penang, đặt đường xe lửa...

VUA MONGKUT và VIỆT MIÊN LÀO

Năm 1864, thế tử Norodom chạy sang Thái cầu cứu vì bị em đoạt ngôi. Thái cho quân đưa Norodom về và cai trị Cao Miên. Sau, trước áp lực của giám mục Pháp tên Miche dụ Cao Miên về với Pháp và Đại úy Doudart de Lagrée mang quân Pháp sang, Thái phải rút quân vào năm 1864 nhường Cao Miên cho Pháp đô hộ. Trong bức thư sứ thần Thái dâng lên nữ hoàng Anh, vào năm 1857 có câu xác định đất đai vương quốc Thái ...King Mongkut the Supreme or Major King of Siamese Kingdom and its adjacent tributary countries: Laos, Cambodia, and several provinces of Malay Peninsula etc,etc… Các thư ngoại giao của Mongkut thường rất dài và hay dùng chữ etc, etc... như phim The King and I đã mô tả. Qua các lá thư này có thể hình dung sự tranh chấp ngấm ngầm giữa thực dân Anh và Pháp ở Đông Á cùng ảnh hưởng của các nhà truyền giáo. Thái khéo léo kết bạn với nhiều nước Âu Mỹ, nghiêng về Anh vì Anh mạnh nhất, nghiêm chỉnh nhất, và không có dã tâm đánh bật gốc văn hóa tín ngưỡng địa phương. Anh chỉ chú trọng tới thương mại, dù ở Trung Đông, Ấn, Miến Điện, Mã Lai hay Thái.
Trong 17 năm trị vì, vua Mongkut ban rất nhiều chiếu chỉ và châu phê ngự bút, châu bản số 144 có đoạn liên quan tới Việt Nam như sau “năm nay có thể hạn hán 60 ngày, chưa biết hạn hạn nặng hay nhẹ, chưa cần ngăn cấm xuất cảng gạo, cứ tiếp tục cho dân buôn bán. Chớ nghe lời bầy đặt của một số sư, tiểu, và những người thiếu hiểu biết, phao tin là người Anh thu mua gạo đổ xuống biển, đấy là tin thất thiệt vô lý... chớ phao tin đồn nhảm là người Anh lấy gạo Thái mang cho Việt Nam (yuan). Người Việt là cha của người Anh từ bao giờ mà dám nói như thế!”

BÀI HỌC CANH TÂN CỦA VUA PHẬT MONGKUT

Vua Mongkut mất năm 1868. Tuy không được sang thăm Anh quốc, nhưng mối giao hảo giữa hai nước đã đặt đầu cầu cho công cuộc canh tân Thái: con vua Mongkut, Rama V đã sang thăm nữ hoàng Anh năm 1893 và tới năm 1926 thì Thái đã có trên 2000 sinh viên du học Anh quốc! Sứ thần Parkes gọi vua Mongkut là vị lãnh tụ tân tiến nhất của Á Đông, vượt xa thời đại, Bowring thì thì tán tụng Mongkut là ông vua vĩ đại nhất Đông phương và là một trong những học giả uyên thâm nhất về Phật giáo.
Công cuộc canh tân đất nước của vua Mongkut đi trước Minh Trị Thiên Hoàng Nhật Bản (1867-1912) cả một thế hệ, hạt giống thiện mà vua đã gieo trồng nẩy nở viên mãn trên xứ Thái: Thái cả 150 năm nay tránh được họa Thực dân, họa Cộng sản và họa mất gốc. Nếu kể từ sau cuộc chiến xâm lăng của Miến Điện vào Thái năm 1767, thì suốt 244 năm nay Thái được hưởng thái bình thịnh trị và triều đại Chakri tới nay đã truyền được 9 đời vua, vua Rama IX hiện tại trị vì hơn 60 năm, một minh quân đã và đang được toàn dân và thế giới mến phục. Một số bài học canh tân có thể rút tỉa từ vua Mongkut:
1- Việc canh tân đất nước cần khởi đầu bằng việc xây dựng căn bản tinh thần dân tộc, tinh thần ấy sẵn có trong Phật giáo, chỉ cần hiện đại hóa và tẩy rửa một viên ngọc quý, không cần vay mượn ý thức hệ hay đạo giáo nào khác. Giáo dục nhà Chùa trang bị cả văn lẫn vũ cho hành giả, riêng số lượng kinh sách đã là đại bách khoa, dạy từ đạo đức đến vũ trụ thiên văn, rốt ráo và rộng lớn hơn Tứ Thư Ngũ Kinh nhiều. Cho nên không lấy làm lạ, thời Lý Trần các hiền nhân như Thường Kiệt, Tô Hiến Thành, Hưng Đạo, Quang Khải, Ngũ Lão... không có bằng cấp khoa bảng, nhưng giống lớp samurai Nhật Bản, văn vũ song toàn.
Phật giáo nguyên thủy (tiểu thừa) hữu hiệu trong việc chấn hưng đạo đức là vì: tự giác ưu tiên, chưa tu thân mà đã vội hý luận kinh kệ, chưa tự giác giữ giới mà đã đi bố thí pháp như Bồ Tát thì dễ rơi vào vòng luẩn quẩn kiến chấp triết lý ngôn từ. Hình ảnh một tu sĩ chân đất khất thực là tấm gương nhẫn nhục khổ hạnh sống động, tự nó tỏa ra ánh sáng chinh phục giác tha quần chúng hang cùng ngõ hẻm, vì thế từ Tích Lan, Miến Điện tới Thái, Lào... Phật giáo nguyên thủy đã giữ được thế sâu rễ bền gốc trước các tôn giáo ý hệ Tây phương.
2- Vua Mongkut đã để lại cho Thái một truyền thống tăng sĩ tài đức, những bậc đại sư cao tăng lần lượt tiếp nối xuất hiện. Sau khi lựa chọn đúng đường thì phần cốt yếu là huấn luyện thanh lọc nhân sự : sư sãi giữ giới làm gương cho tín đồ, thực tập hỷ xả phá chấp tạo hòa khí với mọi người. Thái không giết người theo đạo Cơ Đốc như ở các nước Phật giáo bị bôi bác bởi Tống Nho Việt, Tầu, Hàn, Nhật, tinh thần phá chấp cao thượng dung hóa khế cơ của nhà Phật đủ sức chinh phục các tôn giáo khác, đủ sức giữ vững nền tảng quần chúng, mà không cần tới chính quyền yểm trợ qua bạo lực. Cũng những giáo sĩ Cơ Đốc Pháp, Bồ đào Nha... mà tới Thái thì họ cảm phục, mà tới Tầu, Việt, Hàn, Nhật thì xẩy chuyện lấn áp xung khắc, đấy chính là vì ở Thái họ gặp chính pháp chân tu, mà ở nơi khác thì họ gặp mạt pháp hủ Nho phong kiến.
3- Việt Nam khó được như Thái: các nước nghiêng về văn hóa Ấn Độ và Anh dường như tránh được điên đảo tưởng loại hiện sinh, Mác xít, còn các nước theo văn hóa Tầu, Pháp dễ rơi vào nhị biên hý luận ngã mạn, từ đó tới độc tài phong kiến cực đoan. Là vì văn hóa Anh thực tiễn, trí thức Anh trọng danh dự và quân tử, họ gặp Gandhi thì trả lại độc lập, gặp Mongkut thì giao hảo thân tình, còn Pháp, Tầu thì ưa biện chứng hý luận đỉnh cao trí tuệ vì thế nên mớ kiến chấp Judeo Mác xít mới có môi trường phát triển, và các lãnh tụ chính trị điên rồ loại Pol Pot cùng nhóm trí thức Tây học, mới mất quân bình tâm trí, điên đảo sát sinh gây họa cho Đông dương!
4- Trí thức Việt Nam, từ thời Tự Đức, cũng cố gắng đi tìm lối thoát cho dân tộc: sang Nhật, sang Nga, sang Pháp, Tây du Đông du, khuynh tả khuynh hữu, cần vương, xã hội... mà vẫn luẩn quẩn trong rọ điên đảo tưởng cho tới hiện tại. Thậm chí đến tinh thần phá chấp từ bi của nhà Phật cũng nhiều khi bị biến thể thành triết lý xuông với số học giả tầm chương trích cú kinh kệ nhiều hơn số tu tập thực chứng, bàn về Thiền thì nhiều mà thực sự tu Thiền thì ít, thuyết là vô tâm đối cảnh, vượt biên kiến, lắng nghe nỗi khổ tha nhân mà thực tế có khi lại lộng ngôn bênh phe này, hạ phe kia, nghiêng về tả, khuynh về hữu, chân giả thiện ác đạo đế tục đế bất phân minh, chẳng khác gì phàm phu vọng tưởng vô minh.
5- Người Thái, gốc Bách Việt từ Nam Chiếu xuống, có thể là Âu Việt hay Điền Việt là anh em của Lạc Việt, là láng giềng thân thiết của ta. Bắt chước lối sống hòa hợp cởi mở khiêm nhường của láng giềng cũng là điều hay trước khi đi tìm ở đâu xa. Một thể chế quân chủ lập hiến là đường lối dân chủ thích hợp cho Đông phương, nhưng muốn có một vua Phật như Mongkut, như Lý Công Uẩn, như Trần Nhân Tôn không phải dễ, dân tộc phải có phước lành, trồng cây đức, mới có thiện duyên chuyển hoá vào thời:
Bảo sơn thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành

KẾT LUẬN CẬP NHẬT

Trong 6 năm vừa qua, chính trị xứ Thái căng thẳng qua cuộc tranh chấp giữa phe thủ cựu áo vàng (Democrats) và phe cấp tiến bình dân áo đỏ (Pheu Thai), vài vụ đổ máu xẩy ra, nhưng tinh thần tiến bộ thấm nhuần dân chủ, dân tộc hoà hợp vẫn thấy rõ và hơn hẳn các nước độc tài Viễn Đông. Nhà vua vẫn được các phe phái và quần chúng tôn kính, Phật giáo cao tăng vẫn là giềng mối tinh thần đất nước, biến động mà không chao đảo, bầu cử công minh, đối lập có tiếng nói và cơ hội, không có tầng lớp thảo khấu ác ôn côn đồ, không có tầng lớp trí thức điên đảo tưởng nóng tính sân hận muốn đạp đổ tất cả. Một đất nước như vậy, Tầu, Việt, Bắc Hàn không dễ gì theo kịp và tinh thần từ bi hỷ xả đổi mới của vua Mongkut trao truyền vẫn chưa phai tàn trên đất Thái thanh bình.
Viết 4-2005
Cập nhật 7-2011

Tham Khảo

- King Mongkut and The British-by M.L. Manich Jumsai-Chalermnit-Bangkok. 1991
- In His Own Words by Vasana Chinvarakorn-Bangkok Post 12-18-2004-
Excerpts from Collected Proclamations.
- Thai Air Magazine 12-04- Google Search.
- Sử liệu Thái liên quan tới Việt Nam còn khá nhiều: thế kỷ XVII có nhóm người Cơ Đốc giáo VN chạy sang Thái tỵ nạn; vua Rama V con Mongkut đi thăm Java (Nam Dương) cũng là nơi mà phái đoàn VN với Cao Bá Quát từng thăm viếng buôn bán; vua Rama VI cũng đi thăm Nam Dương và mang về Thái một số thợ thêu lụa người Việt, chính nhóm thợ Việt này đã dậy cung nữ của Hoàng hậu Thái thêu thùa và chỉ cách thêu trên lụa láng (flat silk embroidery). Với số trống đồng khá nhiều ở Thái, nhất là bắc Thái, nền văn hóa Lan Na hẳn có nhiều liên hệ với Nam Trung Hoa, và theo các nhà khảo cứu Tầu, Âu Mỹ và Thái hiện tại thì người Nam Chiếu khi bị nhà Nguyên đánh đã chạy sang Thái năm 1253 và từ vùng Chieng Mai đã lập thành nước Xiêm La ngày nay.
Thái đã phải nhượng đất đai cho thực dân Pháp như vùng Luangprabang, Vientian của Lào, nhường mấy tỉnh phía Nam sát Mã Lai ngày nay cho Anh, để mưu cầu hòa bình. Đệ nhị thế chiến Thái mềm dẻo với quân chiếm đóng Nhật, sau 1975 Thái cũng đạt được yêu cầu 23,000 quân Mỹ trú đóng rút đi. So với VN thì chính sách ngoại giao Thái lấy dĩ hòa vi quý làm chuẩn, tránh đổ máu vô ích cho dân, nói theo nhà Phật thì họ ở quốc độ gần Thanh văn Duyên giác, còn ta ở quốc độ nóng nảy sát khí sân si A tu la, hay có thể thấp hơn nữa.
Admin gửi hôm Thứ Tư, 06/07/2011

6/6/11

Hiện tượng "không bình thường": VN công khai vạch mặt TQ với những toan tính ở Biển Đông

05-03-2011 02:56
Hiện tượng
Tàu đánh cá vũ trang TQ chặn đường tàu VN (VNCH) trên đường ra Hoàng Sa
LTS. Có lẽ đã lâu lắm rồi báo chí Việt Nam ít khi cho ra những bài viết mạnh dạn, dám vạch trần cũng như nhắc lại công khai phần nào hành động xâm lược của Trung Quốc ở Biển Đông nói riêng. Trên trang Tuần VN vừa có bài phóng vấn TS Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban biên giới với nội dung "không bình thường"  về toan tính đen tối của Trung Quốc trước vấn đề Biển Đông. Ông Trục đã liệt kê ra các sự kiện, thời gian Trung Quốc chiếm đoạt Hoàng Sa, Trường Sa,..mà vẻ như đây là lần đầu tiên sau 20 năm im lặng!
Theo TS Trần Công Trục, nguyên Trưởng Ban Biên giới Chính phủ, một loạt những động thái gần đây của Trung Quốc liên quan đến Biển Đông không phải ngẫu nhiên, bộc phát mà được tính toán, có sự phối hợp về mặt quân sự, dân sự, tuyên truyền, pháp lí, có mục đích cụ thể, nhất là trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động phức tạp hiện nay.
Từng làm công tác đàm phán biên giới nhiều năm và tham gia các hội thảo quốc tế về Biển Đông thời gian qua, ông Trần Công Trục cũng khuyến nghị đối sách cho Việt Nam, bên tham gia tranh chấp chủ quyền tại vùng biển này.

Một loạt những hành động có tính toán
Mới đây mạng thông tin Trung Quốc có nói về sự kiện Hoàng Sa năm 1974 và nói rằng đây là phản ứng tự vệ của quân dân Trung Quốc đối với vùng đất có chủ quyền của Trung Quốc. Ông đánh giá như thế nào về động thái này từ phía Trung Quốc?
Động thái nói trên của Trung Quốc không có gì mới. Chúng ta đã từng được nghe khá nhiều lần những thông tin tương tự  trước khi Trung Quốc dùng sức mạnh để gây ra các sự kiện tranh chấp trên các vùng biên giới và  trên biển. Vấn đề chúng ta cần xem xét, tìm hiểu là tại sao trong thời điểm hiện nay, họ lại nhắc lại luận điểm này?
Trong thời gian gần đây cùng với luận điểm đó, Trung Quốc gia tăng nhiều hoạt động liên quan đến Biển Đông. Chẳng hạn, họ chuẩn bị khởi động một siêu dự án mang tên "Vùng sâu Biển Đông", nghiên cứu, khám phá Biển Đông,  tiến hành các hoạt động ngăn chặn bắt bớ, cản trở gây nhiều khó khăn với tàu thuyền VN đánh cá trong vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam, tiếp tục tiến hành xây dựng, củng cố các vị trí họ đã chiếm đóng trên khu vực quần đảo Hoàng Sa, kể cả Trường Sa, đặc biệt tích cực vận động, kêu gọi các công ty nước ngoài đầu tư khai thác dầu khí trong các khu vực biển, thềm lục địa của Việt Nam và của các nước khác trong khu vực.
Tàu đánh cá vũ trang Trung Quốc chặn đường tàu VN trên đường ra Hoàng Sa. Ảnh tư liệu

Trên mặt trận tuyên truyền, pháp lí, Trung Quốc lại tung ra bản đồ trực tuyến vẽ đường biên giới biển hình lưỡi bò để một lần nữa hợp thức hóa đường  "lưỡi bò" phi lý đã bị cộng đồng quốc tế phê phán, bác bỏ.
Rõ ràng, đây là một loạt các hoạt động được tính toán, có sự phối hợp về mặt quân sự, dân sự, tuyên truyền, pháp lí. Những hoạt động này không phải là ngẫu nhiên, bộc phát mà đều có mục đích cụ thể, nhất là trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động phức tạp hiện nay.
Quá trình chiếm đóng bằng vũ lực
Vì sao ông lại cho rằng đây là những hành động có tính toán cụ thể?
Để trả lời câu hỏi này, theo tôi, ta nên quay lại các mốc thời gian lịch sử có liên quan đến quá trình Trung Quốc tiến hành xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Viêt Nam.
Năm 1909, lần đầu tiên Trung Quốc nhảy vào tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, lúc đó đang nằm dưới sự quản lý của chính quyền thực dân Pháp, với danh nghĩa là đại diện cho nhà nước Việt Nam về mặt đối ngoại, bằng  hành động của viên đô đốc Lý Chuẩn, theo lệnh của Tổng đốc Lưỡng Quảng, đưa vài ba pháo thuyền ra khu vực Hoàng Sa bắn pháo, đổ bộ lên vài đảo, rồi nhanh chóng lặng lẽ rút lui.
Năm 1946, lợi dụng việc giải giới quân Nhật theo sự ủy thác của Đồng Minh, Chính quyền Quốc dân Đảng đã đưa tàu chiến ra chiếm đóng một số đảo thuộc hai quần đảo này. Tàu chiến mang tên Thái Bình của Quốc dân đảng đã đổ quân lên chiếm đóng đảo Ba Bình của Việt Nam mà người phương Tây gọi là Itu Aba,  để rồi từ đó hòn đảo này được gán ghép cho một tên mới "Thái Bình đảo" theo đúng cách thức truyền thống của Trung Quốc.
Năm 1956, hai năm sau khi Hiệp định Gieneve được ký kết, trong thời điểm chuyển quân và chuyển giao quyền quản lý giữa các lực lượng và chính quyền của hai miền Nam Bắc Việt Nam theo Hiệp định Gieneve lấy vỹ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời. Lợi dụng tình hình quân đội Pháp buộc phải rút quân, quân đội của chính quyền Nam Việt Nam chưa đủ sức tiếp quản hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã huy động lực lượng quân đội ra xâm chiếm nhóm phía Đông quần đảo Hoàng Sa, thực hiện một bước tiến quan trọng của họ xuống khu vực Biển Đông.
Trước tình hình đó, Chính quyền Sài Gòn đã đưa quân ra đóng giữ nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa và với tư cách là người quản lý hợp pháp phạm vi lãnh thổ từ vỹ tuyến 17 trở vào, chính quyền Sài Gòn đã chính thức phản đối hành động xâm chiếm trái phép của Trung Quốc nhóm phía Đông Hoàng Sa, đồng thời tiến hành các hoạt động ngoại giao, pháp lý để thực hiện và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ảnh: VietNamNet

Năm 1959, Trung Quốc lại tiếp tục huy động lực lượng quân sự giả dạng tàu đánh cá mon men nhòm ngó xâm chiếm nhóm phía Tây Hoàng Sa nhưng không thành. Quân đội của Việt Nam Cộng Hòa, với sự trợ giúp trực tiếp của Hoa Kỳ, toàn bộ tàu "đánh cá " của Trung Quốc đã bị tóm gọn và bị áp giải về giam tại Đà Nẵng.
Đến đầu những năm 1970, trước những diễn biến quan trọng về quân sự, chính trị... đang diễn ra tại Việt Nam, Trung Quốc  lại tiếp tục có những hoạt động để chuẩn bị cho cuộc chiếm đóng mới bằng quân sự. Lợi dụng bối cảnh chính trị lúc bấy giờ, trong tình thế xuống dốc của chính quyền miền Nam và sự rút lui của Hoa Kỳ, ngày 19/1/1974, Trung Quốc đã điều 11 tàu chiến với sự yểm trợ của máy bay tới xâm chiếm nhóm đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa. Chính quyền Sài Gòn đã huy động 4 chiến hạm ra chống trả nhưng tương quan lực lượng quá chênh lệch nên cuối cùng, nhóm đảo này đã rơi vào tay Trung Quốc. Trung Quốc đã hoàn thành việc xâm chiếm bằng vũ lực toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào thời điểm trước khi miền Nam Việt Nam được giải phóng.
Năm 1988, Trung Quốc lại đưa quân xuống khu vực quần đảo Trường Sa, dùng tàu chở các phương tiện, gạch ngói, xi măng đổ lên một số  bãi cạn, biến các bãi cạn này thành các căn cứ quân sự, ngang nhiên khiêu khích và  gây ra cuộc đụng độ với Hải quân Việt Nam cũng trong bối cảnh có những khó khăn về kinh tế mà Việt Nam phải đương đầu và tình hình chính trị quốc tế có những diễn biến phức tạp bất lợi cho Việt Nam tại thời điểm đó.
Năm 1995, Trung Quốc lại  tiếp tục dùng sức mạnh đánh chiếm đảo Vành Khăn, một đảo đá nằm phía tây nam Trường Sa.
Phải chăng, Trung Quốc có hàng loạt những động thái kể trên vì bối cảnh quốc tế đang thuận lợi cho họ khi các nước lớn và ASEAN đang bận tậm với những vấn đề khác?
Bài học của lịch sử nhân loại cho thấy rõ những cuộc xung đột, xâm chiếm thường xảy ra khi kẻ xâm lược  biết cách khai thác và tận dụng cơ hội.  Phải chăng bối cảnh và tình hình quốc tế hiện nay có thể sẽ là cơ hội để cho nhưng âm mưu muốn biến Biển Đông trở thành ao nhà của mình trở thành hiện thực?
Tuy nhiên, tôi cho rằng, Biển Đông là khu vực vô cùng quan trọng và có mối liên quan mật thiết đến hoà bình, an ninh và ổn định ở châu Á - Thái Bình Dương, một địa bàn chiến lược đối với nhiều cường quốc.
Bởi vậy, người ta không bao giờ có thể quên những vấn đề tiềm ẩn ở khu vực Biển Đông, nơi tranh chấp phức tạp, nhạy cảm  trong thế cân bằng cán cân lực lượng thế giới. Chắc chắn các chính khách, các chiến lược gia, giới quân sự của các nước có liên quan đều đã phải tính đến để có những đối sách thích hợp.
Đối sách cho Việt Nam
Vậy theo ông, trước những diễn tiến đó, Việt Nam cần phải có đối sách như thế nào?
Việc họ có thực hiện được tham vọng độc chiếm Biển Đông hay không còn là một vấn đề và còn phụ thuộc vao nhiều yếu tố.
Tôi cho rằng, yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất để bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền của chúng ta trên Biển Đông trong bối cảnh hiện nay chính là sức mạnh của sự đại đoàn kết của  dân tộc Việt Nam. Nếu như nội bộ chúng ta  không đồng lòng, không nhất trí, thiếu sự quan tâm cần thiết đến chủ quyền biển đảo và không tranh thủ được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế thì sẽ là yếu tố tạo cơ hội cho những mưu toan xâm lược sẽ được thực hiện. Bài học lịch sử đã cho thấy điều này.
Tôi tin rằng người Việt Nam, dù đang sống  ở đâu, đều luôn luôn hướng về Đất Nước và sẵn sàng đóng góp tinh thần lẫn vật chất để bảo vệ từng tấc đất Tổ Quốc. Chúng ta phải tìm mọi cách giữ gìn và phát huy được sức mạnh vô song này.
Chúng ta phải triển khai mạnh mẽ và kịp thời cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam bằng sự phối hợp một cách chủ động, chặt chẽ, liên tục trên các mặt quân sự, ngoại giao, pháp lý, tuyên truyền... Đặc biệt, cần phải tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng quốc tế, dù đó là cá nhân hay tổ chức, của các quốc gia, dù là nhỏ hay lớn... như những gì mà thời gian qua chúng ta đã làm và đã thu được những kết quả đáng kể trong các hoạt động ngoại giao của mình.
Trường Minh - Lan Anh/ TuầnVN
Bookmark and Share
Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh. Ảnh: N.H.
Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh,  .

'Việt Nam sẽ làm tất cả để bảo vệ chủ quyền'

"Việt Nam yêu chuộng hòa bình, nhưng khi đứng trước nguy cơ mất chủ quyền thì nhân dân Việt Nam sẽ làm tất cả để bảo vệ nó", Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh trả lời VnExpress ngay sau khi trở về từ Hội nghị An ninh châu Á.
> Việt Nam đưa vụ tàu bị cắt cáp ra diễn đàn an ninh châu Á/ Hải quân Việt Nam tập luyện bảo vệ chủ quyền biển đảo

- Trong phát biểu chính thức tại Hội nghị An ninh châu Á vừa qua, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đã đề cập đến vụ Bình Minh 02 như là một ví dụ cho thấy những phức tạp mới nảy sinh trên biển Đông. Ông có thể nói rõ hơn về điều này?
- Hội nghị An ninh Châu Á lần này có sự tham dự của một Tổng thống, 2 Thủ tướng, 28 Bộ trưởng Quốc phòng và gần 2.000 quan chức quốc phòng, học giả… Tại diễn đàn, Đại tướng Phùng Quang Thanh đã có bài phát biểu ở phiên thứ 5 về “Đối phó thách thức an ninh mới trên biển”. Dư luận đánh giá đây là bài phát biểu tốt, ở tầm cao chiến lược và đóng góp tích cực vào quá trình phát triển, ổn định của khu vực.
Vụ tàu Bình Minh 02 đã được đưa vào phát biểu chính thức tại Hội nghị. Bên cạnh đó, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh cũng trả lời câu hỏi của nhiều đại biểu, khẳng định sự sai trái của Trung Quốc trong sự việc này. Việc tàu hải giám của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền vào sâu tới hơn 80 hải lý trong vùng đặc quyền kinh tế là điều không chấp nhận được trong bất cứ văn bản luật pháp nào. Đồng thời, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh nhắc lại chủ trương Việt Nam trên biển Đông là kiên trì giải quyết bằng biện pháp hòa bình, dựa trên luật pháp quốc tế và công khai minh bạch để cộng đồng thế giới phân biệt đúng sai.

- Đáp lại phản ứng của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, phía Trung Quốc cho rằng, đây là hoạt động chấp pháp bình thường và quân đội Trung Quốc không hề tham gia. Ông bình luận gì về phản ứng này?
- Tôi muốn khẳng định, vụ tàu hải giám Trung Quốc vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam là hành động xâm phạm trắng trợn. Đó là vụ hành xử bằng bạo lực, hành động bạo lực khoác áo dân sự. Hành động này của phía Trung Quốc chứng tỏ một điều chính người gây hấn cũng không có cơ sở pháp lý để giải quyết mà phải sử dụng đến bạo lực để phá hoại một hoạt động lao động hoà bình trên vùng biển chủ quyền của Việt Nam.
Sự việc này lại diễn ra sau một loạt hoạt động ngoại giao quan trọng của Trung Quốc, ngay trước thềm Hội nghị An ninh châu Á. Vì thế, đây còn là sự thách thức dư luận quốc tế. Cộng đồng quốc tế phải có trách nhiệm bảo vệ chân lý, bảo vệ luật pháp quốc tế, không cho ai xé rào khỏi luật pháp.
- Thưa ông, những đối thoại và phát biểu chính thức tại Shangri La của các nước không thấy đề cập đến vụ việc tàu Bình Minh 02. Tại sao các nước ASEAN chưa nhìn nhận đây là vấn đề khu vực, chứ không chỉ là vấn đề Trung Quốc - Việt Nam?
- Đối với Việt Nam, hành động gây hấn vừa rồi của Trung Quốc là xâm phạm chủ quyền. Nhưng đối với quốc tế thì cần phải hiểu hành động này là phép thử để Trung Quốc biến cái gọi “đường 9 khúc” thành hiện thực. Và nếu các nước làm ngơ thì lợi ích của họ cũng sẽ bị xâm phạm. Nếu không làm cho phía Trung Quốc chấm dứt ý định đó, thì có thể những sự việc tương tự sẽ tiếp tục xảy ra. Vấn đề sẽ là sự việc xảy ra ở đâu, vào lúc nào, với ai, ở mức độ nào thôi.
Theo nhìn nhận của tôi, có lẽ đến thời điểm diễn ra Hội nghị, sự việc còn quá mới, các đại biểu chưa nắm đầy đủ thông tin, chưa hiểu rõ mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Tôi tin rằng, sau những thông điệp của phía Việt Nam, các nước nhất là trong khối ASEAN sẽ nhìn nhận vấn đề này đúng bản chất hơn: Xuất hiện một nguy cơ là Trung Quốc đang đặt ra khuôn phép mới, cách hành xử mới với các nước trong khu vực để hiện thực hoá cái gọi là “yêu sách về đường 9 khúc”. Hôm nay là Việt Nam thì ngày mai sẽ là nước khác. Tôi cho rằng, các nước trong khu vực phải xem xét lại đúng hay sai với tư cách là đối tượng trong tương lai.
- Trong bối cảnh các nước còn đang phân tán trong đánh giá, với tư cách là tướng quân đội, Việt Nam sẽ làm gì để sự việc Bình Minh 02 không tái diễn, thưa ông?
- Chúng ta sẽ áp dụng mọi biện pháp để duy trì sự ổn định và giữ chủ quyền, trong đó biện pháp nhất quán, cơ bản, lâu dài là giải quyết trong hoà bình. Chiến tranh là điều không ai muốn, tuy nhiên khi sự việc leo thang thì chúng ta cũng sẽ hành động chứ không thể ngồi im.
Hôm qua, tàu Bình Minh 02 tiếp tục ra khơi làm nhiệm vụ và việc chúng ta tăng cường đến 8 tàu bảo vệ cũng là một hành động cụ thể để ngăn chặn những hành vi xâm phạm khu đặc quyền kinh tế. Quân đội không trực tiếp tham gia. Tuy nhiên sẽ quân đội sẽ theo dõi sát sao để tránh xảy ra xung đột. Nếu đến mức xảy ra xung đột vũ trang thì nhất quyết quân đội tham gia để bảo vệ chủ quyền đất nước.
Chúng ta không nói suông, không thụ động ngồi im, nhưng cũng không bảo vệ chủ quyền một cách thiếu khôn ngoan mà phải dựa vào sức mạnh thời đại, đó là niềm tin, sự ủng hộ vào chân lý và khát vọng hoà bình của tất cả các nước, tất cả các dân tộc trong thế giới ngày nay. Ngay cả nhân dân Trung Quốc cũng vậy, họ rất yêu chuộng hoà bình và cũng mong muốn một hình ảnh tốt đẹp cho đất nước mình. Chúng ta sẽ sử dụng đúng luật pháp quốc tế và bảo vệ bằng được chủ quyền lãnh thổ, tài sản quốc gia. Với những cố gắng của chúng ta trong tuyên truyền, đấu tranh ngoại giao, đối thoại với Trung Quốc và tăng sức mạnh bảo vệ thì tôi tin sẽ không tái diễn sự kiện 26/5 lần nữa.
- Theo báo chí Trung Quốc, Hà Nội tự tin hơn sau phát biểu của Ngoại trưởng Hillary Clinton năm ngoái là Mỹ có lợi ích lâu dài tại biển Đông. Phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ tại hội nghị Shangri La cũng tiếp tục khẳng định Mỹ không buông biển Đông. Theo ông, trong bối cảnh này, Việt Nam có lợi ích gì trong chiến lược này của Mỹ?
- Tôi có thể tự tin nói rằng, Việt Nam đủ khả năng để bảo vệ chủ quyền mà không dựa vào sức mạnh của một bên thứ ba. Chủ quyền là thiêng liêng không được phép đánh đổi. Chúng ta không để các nước lớn thỏa hiệp trên lưng mình.
- Ở bên cạnh một nước lớn như Trung Quốc“thường có hành động trái với tuyên bố” điều e ngại nhất của ông là gì?
- Tại Đối thoại Shangri La 10 vừa qua, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt đã có bài phát biểu rất hay, có tính xây dựng cao và được chuẩn bị kỹ lưỡng. Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đã đánh giá cao về nội dung bài phát biểu này. Tuy nhiên ngay trong Hội nghị, một số đại biểu đã bày tỏ sự băn khoăn về khoảng cách giữa lời nói và việc làm trên thực tế của Trung Quốc, đặc biệt là đặt nó bên cạnh một số vụ việc vừa qua. Chúng ta hy vọng, chờ đợi và ủng hộ những hành động sắp tới đây của Trung Quốc sẽ phù hợp với những tuyên bố tốt đẹp của Bộ trưởng Lương Quang Liệt.
Còn về sức mạnh của Trung Quốc - rõ ràng họ là một nước lớn, vừa qua đã đạt được những bước phát triển to lớn, toàn diện, trong đó có lĩnh vực quân sự. Chúng ta tôn trọng và ủng hộ sự phát triển ấy nếu nó đem lại sự phát triển hoà bình ổn định trong khu vực, củng cố tình hữu nghị đoàn kết giữa các nước. Còn trong trường hợp một thế lực nào sử dụng sức mạnh vi phạm các quy định của luật pháp quốc tế, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ thì chúng ta không thể khoanh tay, im lặng. Chúng ta kiên trì bằng biện pháp hòa bình, công khai minh bạch để dư luận nhân dân thế giới, trong đó có cả người dân Trung Quốc hiểu được Việt Nam là nước yêu chuộng hòa bình. Nhưng khi đứng trước nguy cơ mất chủ quyền thì nhân dân Việt Nam sẽ làm tất cả để bảo vệ nó. Đó là điều bất biến.
Năm 1945, khi các nước lớn ngồi phân chia lại thế giới sau Thế chiến thứ hai, hồi đó Mỹ cho rằng, đối thủ đáng gờm trong tương lai của Mỹ sẽ là Liên Xô và Trung Quốc. Nhưng có nhà tiên tri nào biết được rằng, hơn 30 năm sau, Mỹ đã thất bại trong cuộc chiến tranh với một nước nhỏ, lạc hậu và khi đó còn chưa có tên trên bản đồ thế giới? Việt Nam thắng Mỹ, một lý do vô cùng quan trọng là nhờ nhân dân Mỹ đã đứng lên phản đối cuộc chiến tranh xâm lược, phi nghĩa đó.
Sức mạnh của chúng ta là chính nghĩa, là tinh thần yêu chuộng hoà bình của nhân dân thế giới, và lòng yêu nước, quyết tâm bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta.
Phạm Hiếu - Nguyễn Hưng
Trung Quốc xâm phạm quyền chủ quyền Việt Nam (06/06)
▪Chiến lược 'đàm phán' và 'đe dọa vũ lực' của Trung Quốc (06/06)
▪Tàu Trung Quốc bắn đuổi tàu cá qua lời kể thuyền trưởng (06/06)
▪Tâm sự thủy thủ trước giờ ra khơi thăm dò dầu khí (06/06)
▪'Trung Quốc phải bồi thường cho tập đoàn dầu khí Việt Nam' (06/06)
▪Tướng Thanh: 'Quân đội hai nước cần kiềm chế' (04/06)

Lộng ngôn

Vâng, chỉ có thể nói là lộng ngôn. Qua đường dẫn trong entry trước tôi tìm đến đọc bài của tác giả Nguyễn Hoàng Đức viết về Ngô Bảo Châu. Trong bài viết, NHĐ viết “Với thành công được quốc tế công nhận, GS. Châu hoàn toàn xứng đáng là một bậc thầy của dân tộc”. Chưa bao giờ thấy một kẻ có chữ nghĩa mà lộng ngôn như thế!
NHĐ còn viết nhiều câu nâng bi rất kêu. Một trong những câu nâng bi là “GS Châu là một người trí thức có công trình siêu việt”. Một công trình có giá trị hẹp như thế mà gọi là siêu việt thì đúng là lộng ngôn. Ông lộng ngôn vì ông không am hiểu khoa học. Giải Fields trị giá 15.000 USD là giải dành cho nhà toán học trẻ, dưới 40 tuổi, để ghi nhận những cống hiến quan trọng (to give recognition and support to younger mathematical researchers who have made major contributions). Chú ý là công trình “quan trọng” nhé, chứ không phải “siêu việt”. Giải Fields không phải là “giải cao nhất giành cho toán học” như ông NHĐ hiểu. Giải cao nhất dành cho toán học là Giải Abel trị giá 992.000 USD.
Còn câu “quốc tế công nhận” là một lộng ngôn khác. Quốc tế nào công nhận? Công trình của NBC có không quá 100 nhà toán học trên thế giới hiểu. Trong giới khoa học quốc tế, ai biết NBC là ai? Ngay cả trong giới toán học cũng chẳng mấy ai biết NBC là ai, và cũng ít người quan tâm đến giải Fields. Ấy thế mà nói là “quốc tế” công nhận thì quả là lộng ngôn. Còn Bậc thầy dân tộc thì quả là đại lộng ngôn. Bậc thầy về cái gì? Đọc câu này sao nghe quen quen kiểu cha già dân tộc. Chao ôi, hợm hĩnh không tưởng nổi. Đây là triệu chứng của bệnh sùng bái cá nhân, bệnh thần tượng.
Tôi muốn bàn qua những điểm mà NHĐ nhắc đến như sau:
Có ý kiến bảo GS Ngô Bảo Châu là sặc mùi cơ hội.
Ý kiến nào, ai viết? Phải nói cụ thể. Viết như thế là xem thường người đọc. Nếu NBC có nắm lấy cơ hội để làm việc gì đó thì cũng chẳng có gì đáng trách. Ai cũng nắm lấy thời cơ và cơ hội. Người ta miệt mài nghiên cứu không chỉ vì lý tưởng quốc tế đâu, mà còn vì lợi lộc cá nhân nữa. Đừng đạo đức giả để nói là người ta dấn thân khoa học chỉ vì phụng sự khoa học!
Có người lại bảo nếu sợ hãi thì ai là người “sợ hãi”, hay chính GS Châu đang sợ hãi?
Không ai biết NBC sợ hãi hay không sợ hãi. Nhưng hành động không dám ký vào kiến nghị của nhóm bauxite cho thấy NBC thiếu can đảm mà cậu ta từng có trước đây. NBC từng viết thư cho Quốc hội phản đối dự án khai thác bauxite. Nay thì sau món quà căn hộ vincom thì cậu ta có thái độ khác. Thật ra, nếu cậu ta có sợ thì người ta cũng thông cảm được, vì nhà văn Nguyễn Tuân đã từng nói “biết sợ” để sống trong chế độ đó sao.
Có người bảo GS Châu nói Cù Huy Hà Vũ nói có điểm chưa thuyết phục, sao không chứng minh đi!
Đúng. Nếu nói không thuyết phục thì phải chứng minh bằng ít nhất một câu, một ví dụ. Nói khơi khơi như thế là vô trách nhiệm, là xem thường người đọc. Lại còn dùng cách diễn đạt Tây để tỏ ra khệnh khạng ta đây!
Có người nói, GS Châu nói vụ án là cẩu thả, nhưng vụ án đã được người ta lập kế hoạch tỉ mỉ đến từng chi tiết
Đúng. Người ta đã lên kế hoạch rất chi tiết để hạ nhục Cù Huy Hà Vũ. Còn NBC viết cẩu thả mà không nói cẩu thả cái gì thì đó là cái dở của cậu ta. Đừng bênh cái dở. Thật ra, đáng lẽ NBC phải nói rằng các quan tòa dốt luật thì chính xác hơn là “cẩu thả”. Vì dốt luật nên họ thiếu tự tin, vì thiếu tự tin nên họ chạy trốn tranh luận, và vì trốn tranh luận nên họ phải dùng đến đòn lưu manh. Nhà giáo Phạm Toàn nhận xét chí lý rằng đó là một phiên tòa lưu manh và ô nhục.
Tôi chỉ tiếc một người khá thông minh như Nguyễn Hoàng Đức mà cũng mắc bệnh thần tượng. Mới xong “câu cá” mà thấy một bệnh nhân như NHĐ cũng muốn giúp lắm, nhưng e rằng bệnh đã quá nặng và cần nhập viện để có đặc trị.

Những con “chuột – người” ở nước ta

Tôi phải sửa tiêu đề Những con “chuột – người” để phù hợp với tình hình ở nước ta. Các “đại gia” dược đa quốc gia thử nghiệm thuốc trên người. Đúng. Có lạm dụng trong thử nghiệm. Có. Nhưng nói người ta, tại sao không nhìn mình. Nền y học của mình có lạm dụng / lợi dụng bệnh nhân không? Theo tôi là CÓ. Có rất nhiều.
Để phát triển thuốc điều trị người ta cần đến thử nghiệm. Thử nghiệm trên chuột, thỏ, cừu và trên người. Để đến bước thử nghiệm trên người, thuốc đã trải qua nhiều khâu thử nghiệm trên chuột để tìm liều lượng an toàn và hiệu quả. Các đại gia dược đa quốc gia thường làm những thử nghiệm lâm sàng vì đó là lẽ sống của họ. Nhưng cách họ làm rất nghiêm túc, đúng theo quy định về y đức. Tất cả bệnh nhân đều ký giấy cam kết chấp thận tham gia. Bệnh nhân có quyền rút ra khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào mà không cần giải thích. Số liệu được thu thập có hội đồng y đức kiểm tra.
Còn ở ta thì sao? Mỗi ngày ở các bệnh viện ta, có hàng trăm bệnh nhân đang bị thử nghiệm mà họ không hề hay biết. Cách làm thử nghiệm của giới nghiên cứu y khoa nước mình chẳng những vi phạm y đức, vi phạm pháp luật, mà còn dã man. Những ngày tôi còn làm trong một bệnh viện lớn ở TP, tôi chứng kiến biết bao trường hợp bệnh nhân bị bác sĩ đưa vào những thử nghiệm lâm sàng. Bệnh nhân chẳng hề hay biết rằng mình đang biến thành vật thử nghiệm vì bác sĩ không hề nói. Không có informed consent như bên tây.Như thế là vi phạm y đức, vi phạm pháp luật. Nếu có biến chứng thì vô tình/cố ý bác sĩ là thủ phạm. Như thế là dã man. Một nền y học với “y đức” như thế thì có hơn gì bọn Đức quốc xã cũng từng thử nghiệm vô y đức như thế.
Một lần họp giao ban, tôi nêu vấn đề bệnh nhân consent, liền bị đồng nghiệp bác bỏ. Họ biện minh rằng nếu xin phép bệnh nhân thì chẳng ai dám tham gia thử nghiệm. Nhưng đó là yêu cầu của y đức. Thế nhưng đạo đức bác sĩ thì sao? Ôi, bỏ mấy thứ y đức đó một bên, làm xong việc mình cái đã. Nếu bệnh nhân bị biến chứng từ thử nghiệm, ai chịu trách nhiệm? Không có ai cả. Nói chung, cách làm nghiên cứu của các bác sĩ trong bệnh viện rất vô trách nhiệm và hoàn toàn vi phạm y đức.
Ngày nay còn có chương trình bác sĩ học chuyên khoa I, II, thạc sĩ, tiến sĩ. Theo quy định, tất cả thí sinh đều phải làm nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu là ai? Xin thưa là bệnh nhân của chính họ hay của thầy cô họ. Chẳng có hội đồng y đức.  Nếu có thì cũng chỉ là nửa mùa. Bệnh nhân không hề hay biết mình là vật thử nghiệm. Làm xét nghiệm thì bệnh nhân phải trả tiền. Thế là bệnh nhân vừa là đối tượng để bác sĩ làm nghiên cứu vừa bị làm hao tốn tiền của! Có hệ thống giáo dục y tế nào quái gở và phản bội bệnh nhân đến như thế không? Chỉ có ở nước mình. Có quá lời không nên nói đó là một nền y tế phản bội.
Sân sau của mình dơ bẩn như thế, chưa quét sạch, mà đã làm khôn đi chê sân người là dơ bẩn! Thật là ngược đời.

Đại dịch PGS-TS-BS

Tạp Chí GS Dỏm Việt Nam

Entry này có một tựa đề hơi bí hiểm. Nhưng những ai làm trong nghề y đều biết đó là viết tắt của Phó giáo sư – Tiến sĩ – Bác sĩ. Chỉ có ở nước Việt Nam. Chỉ có ở nước Việt Nam dưới thời XHCN. Nó là biểu hiện của căn bệnh mới phát sinh trong ngành y. Đó là bệnh hám danh. Bệnh hám danh đang làm tan nát hệ thống y khoa và đang biến hóa thành một đại dịch nguy hiểm cho người bệnh.
Có mấy ai còn nhớ đến thầy Phạm Biểu Tâm, thầy Trần Ngọc Ninh? Thầy Phạm Biểu Tâm có sống lại bây giờ không thể là hiệu trưởng trường y. Thầy Trần Ngọc Ninh có ở Việt Nam giờ này cũng không bao giờ thành khoa trưởng, chứ nói gì đến chức danh giáo sư. Cả hai thầy đều không có bằng tiến sĩ. Cái bằng tiến sĩ ngày nay ở đất nước này là một cái bùa hộ mệnh. Nó cũng là cái vé xe cho những chuyến xe đò thăng quan tiến chức. Nó là cái boarding pass cho những phi vụ làm trưởng khoa, làm hiệu trưởng trường y. Đó là luật chơi mới do những người cách mạng đặt ra. Người cách mạng không nhất thiết phải là người trong y giới, cũng chẳng cần làm khoa học. Nhưng họ có giá trị hơn nhà khoa học. Bài giảng của người cách mạng có giá hơn bài giảng của giáo sư tiến sĩ. Ở đất nước này, chính trị thống lĩnh tất cả. Làm cách mạng là làm chính trị. Bởi vậy, người cách mạng chẳng cần phải có tấm bằng bác sĩ để đặt ra luật chơi mới cho ngành y. Họ đang hủy hoại nền y học.
Tuần rồi đi dự một hội thảo chuyên đề và gặp một anh bạn đồng môn trên bàn cà phê. “Ủa, ông chưa tiến sĩ hả? Sao không làm một cái”? Anh bạn tôi hỏi. Tôi ngạc nhiên về chuyện làm một cái. Tiến sĩ là một cái gì như đồ chơi. Tôi lắc đầu. Mình đã già. Mình không có khả năng làm nghiên cứu. Cũng chẳng có thầy đỡ đầu. Anh bạn tôi cười lớn nói: Ông mà già gì, đâu cần khả năng làm nghiên cứu, cũng không cần thầy hướng dẫn, chỉ cần bỏ tiền ra mua thôi. Tôi cám ơn tấm lòng của bạn cũ và vẫn thấy mình vui với việc giúp người mà không có những râu ria trước tên mình. Bạn cũ tôi bây giờ là một PGS-TS-BS.
TS-BS bây giờ nhan nhản trong các bệnh viện. Thử dạo một vòng các phòng trong bệnh viện ngoài Hà Nội, sẽ thấy trước cửa phòng ai cũng có danh xưng TS-BS in ngay chính giữa cửa phòng. Bảng hiệu đó cho chúng ta biết người đang ngự trị hoặc chiếm lĩnh căn phòng là một bác sĩ và có bằng tiến sĩ. Bằng tiến sĩ là học vị cao nhất trong thế giới khoa bảng. Tôi không có con số thống kê để nói, nhưng tôi cảm thấy số bác sĩ có danh hiệu TS-BS nhiều hơn bác sĩ trong các bệnh viện Hà Nội. Sài Gòn đang đuổi theo Hà Nội, sắp đến đích nay mai. Với đà này, một ngày không xa bệnh nhân sẽ không còn gặp bác sĩ nữa, họ chỉ gặp TS-BS.
PGS-TS-BS xuất hiện ngày càng dày đặt trong các hội thảo. Nhìn lên bàn chủ tọa chúng ta thấy gì? Có hoa tươi. Có chai nước lọc. Có laptop. Có microphone. Và, có tấm bảng nền trắng chữ đen in những từ viết tắt như PGS-TS-BS. Hoa tươi để làm màu mè. Chai nước lọc vì trí thức không quen uống nước máy sợ nhiễm khuẩn. Laptop để nói rằng ta đây có trình độ IT. Microphone để truyền bá lời vàng ý ngọc. Danh hiệu PGS-TS-BS để khoe thành tựu miệt mài làm khoa học. Một bức tranh đầy hoa sắc, màu mè. Có phần phần cứng (IT, microphone) lẫn phần mềm (hoa, trí lực, bằng cấp).
Danh và thực lúc nào cũng là hai khía cạnh nhức nhối trong y giới. Bao nhiêu tiến sĩ của nước ta là do thực tài, bao nhiêu là giả, dỏm. Không ai biết được, nhưng xã hội biết. Xã hội đã từ lâu phong danh tước “tiến sĩ giấy” cho những kẻ bất tài, hám danh, mua quan bán tước. Cụm từ “Tiến sĩ giấy” ngày càng xuất hiện nhiều trên báo chí, trong những câu chuyện thường ngày. Tức là xã hội biết rằng ngày nay chúng ta có nhiều tiến sĩ dỏm hơn là tiến sĩ thực.
Dỏm có nghĩa là những bằng cấp được mua bán, tiền trao cháo múc. Anh bạn tôi vừa đề cập trên đây không ngần ngại nói rằng để có cái bằng tiến sĩ, anh phải chi ra nhiều tiền. Hỏi bao nhiêu, anh chỉ cười. Nhưng xã hội biết. Những cái giá 5.000 USD, 10.000 USD, 20.000 USD đã được đề cập đến. 100 triệu đồng. 200 trăm triệu đồng. 400 triệu đồng. Có khi 500 triệu. Có nhiều lò sản xuất văn bằng tiến sĩ và mỗi lò có biểu giá riêng. Quân y nổi tiếng là một trong những lò đào tạo đắt tiền. Các trường y thì rẻ hơn nhưng không rẻ bao nhiêu. Nhiều đồng nghiệp tôi mua bằng như thế. Đó là những con số chóng mặt cho bệnh nhân nghèo. Ai trả tiền? Xin thưa không phải bác sĩ, mà là bệnh nhân. Họ sẽ ăn tiền các hãng dược. Hãng dược nâng giá thuốc. Bệnh nhân là người cuối cùng trong vòng tròn này. Bệnh nhân lãnh đủ. Vì thế, mua bán bằng cấp là một trong những yếu tố làm cho giá thuốc cao đến mức “cắt cổ” như ở nước ta.
Những kẻ hám danh và bất tài xem chuyện mua bằng tiến sĩ là một đầu tư. Họ có thể chi ra vài trăm triệu hôm nay, nhưng nay mai thì sẽ được chức quyền. Trường khoa. Giám đốc bệnh viện. Hiệu trưởng. Tất cả đều mua, đều chạy. Một khi đã ngồi vào vị trí quyền lực, họ ra sức vơ vét tiền của người dân để trả lại chi phí mua bằng, mua chức vụ. Người dân cũng chính là đối tượng sau cùng trong đường dây này. Đừng trách tại sao dân mình nghèo vẫn hoàn nghèo. Cái cơ chế này làm cho họ nghèo. Đã nghèo thì thường chịu phận hèn. Cái cơ chế này làm cho người dân vừa nghèo và vừa hèn.
Dỏm có nghĩa là làm nghiên cứu ma, giả tạo số liệu. Báo chí đã nêu nhiều vấn đề đạo văn. Nhưng báo chí không hề biết những chuyện động trời hơn đạo văn. Đó là chuyện giả tạo số liệu. Những tiến sĩ dỏm chẳng bao giờ làm nghiên cứu cho tốn công. Họ chỉ ngồi đâu đó giả tạo ra số liệu. Có người làm nghiên cứu nghiêm túc, nhưng khi kết quả không đúng ý, họ sửa số liệu. Chẳng ai hay biết. Thầy cô hướng dẫn chỉ là những người mù vì bất tài, hoặc giả mù vì họ đã ăn tiền. Giả tạo số liệu xong, họ mướn một người nào đó làm phân tích thống kê. Giá phân tích cũng không rẻ chút nào, từ 500 USD đến 2000 USD. Có cậu nọ nay làm chức cao trong trường y từng làm phân tích mướn như thế. Chẳng cần biết đúng sai vì chính người làm mướn cũng mù mờ mà cũng chẳng quan tâm. Phân tích xong, họ mướn người viết luận án. Giá viết cũng từ 500 USD đến 2000 USD. Người viết chỉ cần có bằng cử nhân cũng viết được. “Viết” ở đây có nghĩa là cắt và dán. Hỏi google, dịch, cắt, dán. Vâng, luận án là dịch-cắt-dán. Thế là xong luận án. Thầy dỏm thì làm sao biết được đó là luận án thật hay dỏm. Có thể nói rằng đại đa số những nghiên cứu khoa học ở nước ta hiện nay đều làm theo quy trình như thế. Không có đạo đức khoa học. Không có tinh thần khoa học. Đừng nói đến văn hóa khoa học. Đọc những lời tâm huyết có khi mang tính hô hào của Gs Tuấn về nghiên cứu khoa học mà tôi thấy tội nghiệp cho ông. Ông đâu biết rằng ở trong nước người ta đâu có quan tâm đến nghiên cứu, những lời ông nói ra chỉ là nước đổ đầu vịt mà thôi, chẳng ai nghe đâu.
Dỏm có nghĩa là làm nghiên cứu chất lượng còn thấp hơn luận văn cử nhân của các thầy trước 1975. Nếu có dịp đọc những luận án tiến sĩ của các bác sĩ, người có kiến thức không biết nên cười hay nên khóc. Cười vì những đề tài nghiên cứu như là đề tài của sinh viên học làm nghiên cứu. Khóc vì trình độ thấp đến mức thê thảm. Những đề tài nghiên cứu kinh điển mà thế giới đã làm từ ngày tôi còn ngồi trong trường y cũng được biến hóa thành đề tài tiến sĩ. Có đề tài đánh giá phẫu thuật nội soi mà người đánh giá cũng chính là người thực hiện. Không có cái gì là mới. Không có cái gì để gọi là khoa học. Số liệu đã giả thì làm sao có kết quả thật được. Bản thân thầy hướng dẫn chẳng hiểu tường tận vấn đề thì làm sao có được đề tài mới. Họ để cho trò tự “bơi”. Bơi bằng cách lên mạng, xem người ta ở ngoài làm gì rồi cố gắng làm giống như thế ở Việt Nam. Đại đa số bắt chước mà vẫn còn sai. Sai vì không hiểu vấn đề đến nơi đến chốn. Không có sáng tạo thì làm sao gọi là tiến sĩ được. Cả một nền học thuật chỉ bắt chước mà cho ra lò cả ngàn tiến sĩ mỗi năm. Đó là một nền học thuật ăn theo, dỏm.
Còn luận án thì thế nào? Cũng công thức nhập đề – thân bài – kết luận như ai. Nhưng đọc kỹ thì không khỏi phì cười. Phần nhập đề thí sinh hay nói đúng hơn là người viết mướn tha hồ dịch-cắt-dán từ các nguồn trên internet, có khi đem cả kiến thức từ sách giáo khoa thế kỷ 19, những mớ thông tin chẳng liên quan gì đến đề tài. Dân gian có câu “nói dai, nói dài, nói dở” thật là thích hợp cho luận án tiến sĩ. Phần phương pháp thì chẳng có gì để đọc, vì họ chủ yếu là ngụy tạo. Ngụy tạo số liệu thì làm sao dám viết chi tiết phương pháp được. Vả lại, người viết mướn cũng đâu có trình độ chuyên môn để đi chuyên sâu vào phương pháp. Đến phần kết quả là khôi hài nhất. Một chuỗi bảng số liệu. Một chuỗi đồ thị. Điều khôi hài là đồ thị làm từ bảng số liệu. Hai cách trình bày một thông tin! Chưa hết, thí sinh còn bồi thêm câu diễn giải dưới bảng số hay đồ thị. Tức là 3 cách trình bày chỉ nói lên một thông tin. Người ta cần số trang sao cho đủ nên phải làm như thế. Thừa thải? Không thành vấn đề. Vấn đề là làm cho đủ số trang theo quy định của Bộ. Sai sót? Đây đâu phải là công trình khoa học mà quan tâm đến sai sót. Đến phần bàn luận là một tràng từ ngữ bay múa, những ý tưởng hỗn độn, chẳng đâu vào đâu. Những gì Gs Tuấn chỉ cách viết bài báo khoa học không áp dụng ở đây. Không cần đến logic luận. Nó y như là cái thùng lẩu thập cẩm. Có lẽ vài bạn đọc chưa quen sẽ nói tôi cường điệu hóa vấn đề. Các bạn hãy vào thư viện trường y mà đọc xem các luận án tiến sĩ có xứng đáng cái danh xưng cao quý đó hay không. Người ta xem đó là những “luận án tiến sĩ” có mã số, có bìa đỏ, được lưu giữ cẩn thận. Nhưng tôi xem đó là những chứng cứ hùng hồn nhất cho một thời đại nhiễu nhương trong học thuật. Những kẻ đã, đang và sẽ có bằng tiến sĩ từ những cách học dỏm đó sẽ đi vào lịch sử nước nhà như là những tiến sĩ giấy, những con vi khuẩn làm ô uế nền học thuật nước nhà.
Dỏm có nghĩa là người thầy hướng dẫn cũng dỏm. Sự suy thoái của giáo dục y khoa là một chu kỳ bắt đầu từ người thầy. Sự suy đồi của người thầy bắt đầu từ những ông quan cách mạng. Dưới mắt của quan cách mạng, hồng quan trọng hơn chuyên, đảng viên quan trọng hơn người ngoài đảng. Vì thế chúng ta không ngạc nhiên sau 1975 có những vị mang danh “giáo sư” mà kiến thức còn thua cả bác sĩ gia đình, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy có “giáo sư” đi tuyên truyền cho xuyên tâm liên trị bá bệnh, bo bo bổ dưỡng hơn gạo. Ngày nay, kẻ bất tài nhưng có đảng tịch thì vẫn được cất nhắc làm thầy, được “tạo điều kiện” làm tiến sĩ. Có người được “cơ cấu” (một danh từ mới) chức trưởng khoa, giám đốc bệnh viện rồi, “tổ chức” (cũng là một từ mới) sẽ tìm cho họ cái bằng tiến sĩ. Bằng tiếng sĩ vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh trong cái nền học thuật nhếch nhác hiện nay. Bằng tiến sĩ nó tầm thường đến nỗi người ta nhạo báng ra đường gặp tiến sĩ. Nó rẻ tiền vì chúng ta biết rằng bằng tiến sĩ của Việt Nam chỉ là bằng dỏm, không bao giờ xứng đáng với danh vị đó. Không dỏm thì cái bằng đó cũng chỉ là thứ được cấu thành từ những giả tạo, những “nghiên cứu” loại rác rưởi khoa học, những dữ liệu có được từ vi phạm y đức. Bằng tiến sĩ của Việt Nam chỉ là thứ rác rưởi trong thế giới học thuật ngay chính trên đất nước Việt Nam. Thế là chúng ta có thầy dỏm. Thầy dỏm đào tạo ra trò dỏm. Trò dỏm đào tạo tiếp trò dỏm. Sẽ không lâu chúng ta sẽ có nhiều thế hệ tiến sĩ dỏm, giáo sư dỏm. Và chúng ta sẽ phải trả giá cho những cái dỏm đó. Thực ra, bệnh nhân đang trả giá cho cái dỏm.
Cái giá mà bệnh nhân phải trả cho hệ thống y khoa hám danh này là cái chết. Nhiệm vụ của người bác sĩ lâm sàng trước hết là chữa trị bệnh nhân. Nhiệm vụ đó đòi hỏi kỹ năng lâm sàng tốt. Ngoài ra, còn có sự cảm thông, chia sẻ với bệnh nhân. Nhưng bác sĩ hám danh ngày nay chỉ chạy theo bằng cấp dỏm, làm nghiên cứu dỏm, gây tác hại cho bệnh nhân. Họ không trao dồi kỹ năng lâm sàng. Họ không có thì giờ để đọc sách. Họ thừa thì giờ đi nhậu để làm “ngoại giao”. Thiếu kiến thức lâm sàng. Chẩn đoán sai. Làm xét nghiệm không cần thiết. Đối diện với bệnh nhân thì chỉ hách dịch ra lệnh chứ không biết nói. Hậu quả là chẩn đoán sai, điều trị sai, bệnh nhân chết. Nếu còn sống thì gặp biến chứng, hoặc thương tật suốt đời. Dỏm trong các ngành khác như khoa học xã hội thì có thể không gây tác hại nguy hiểm, nhưng dỏm trong y khoa thì hậu quả khôn lường. Rất tiếc là các quan cách mạng không nhìn thấy hay không nhìn thấy điều hiển nhiên đó để cho sự hám danh và dỏm lên ngôi. Họ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử nước nhà.
Bệnh hám danh trong y giới ngày nay đã trở thành đại dịch. Có lần trong một hội thảo chuyên môn, một anh kia tên là D, học y trước 1975 nhưng ra trường sau 1975, thuộc thành phần răng đen mã tấu – “cách mạng 75″ như người Sài Gòn vẫn nói, được người ta giới thiệu anh ta là TS, nhưng khi anh ta lên bục giảng câu đầu tiên anh ta nói là chỉnh người giới thiệu, rằng chức danh của anh ta bây giờ là PGS. Chính xác hơn là PGS-TS-BS. Cả hội trường có phần sững sờ trước sự khoe khoang hợm hĩnh. Tôi cũng ngạc nhiên khi biết anh ta có bằng tiến sĩ và càng sững sờ khi biết anh ta là PGS. Hỏi đồng nghiệp làm cùng bệnh viện với anh ta, ai cũng cười. Nghiên cứu là con số 0. Lâm sàng? Đã có nhiều bệnh nhân thành nạn nhân của anh ta. Thế là biết. Tất cả chỉ là mua bán. Thế mới biết cái cơ chế có khả năng nhào nặn một con người có tư cách thành một kẻ háu danh hợm hĩnh. Và chỉ trong một thời gian ngắn. Nhưng trường hợp của anh D chỉ là một hạt cát trong sa mạc y giới. Ngày nay có hàng chục ngàn người như thế. Nó đã thành một đại dịch. Dịch hám danh. Dịch hám bằng cấp. Đại dịch hám danh và hám bằng cấp còn nguy hiểm đến bệnh nhân hơn các đại dịch H1N1 nhiều.
Đại dịch hám danh không chỉ trong y giới mà còn lan tràn ra các địa hạt khác ngoài xã hội. Ai cũng cố gắng tạo cho mình một cái danh xưng trước tên. Ngày nào xã hội biết đến bác sĩ, kỹ sư, tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư … nhưng ngày nay người ta còn gắn CN và Master trước tên mình. CN là cử nhân. Master là cao học. Chưa bao giờ tôi thấy một sự háu danh quái đản như hiện nay. Trong y giới, người ta còn gắn thêm TS-BS, hoặc PGS-TS-BS. Nếu có danh xưng gì khác như thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú, người ta cũng gắn vào luôn. Nếu một người nông dân không có bằng cử nhân thì họ được gọi là gì. Không là gì cả. Do đó, đại dịch dịch hám danh nó phân chia xã hội thành những người có và những người không có. Nó dẫn đến nạn kỳ thị. Kẻ có danh xem thường người không có danh. Vì thế người ta phải chạy theo danh, phải mua danh bán tước. Đại dịch hám danh tạo ra một thị trường mua bán tước danh, bằng cấp. Từ cấp trung ương đến địa phương, hiện tượng mua bán bằng cấp xảy ra hàng ngày. Mua bán tước danh và bằng cấp là hành động xem thường kỷ cương phép tắt trong học thuật. Vì thế dịch hám danh không chỉ làm phân hóa, kỳ thị xã hội, mà còn làm hủy hoại nền học thuật quốc gia.
Sau khi gặp bạn tôi gặp trong hội thảo tuần qua làm tôi có cảm hứng viết entry này tôi lên taxi về nhà. Trên đường về nhà bị kẹt xe, anh tài xế phải vất vả nhích từng cm. Mưa càng lúc càng nặng hạt. Đường xá ngập nước như trong cơn bão lụt. Ngay giữa thành phố có thời mang danh Hòn ngọc viễn đông. Anh tài xế cùng độ tuổi tôi lắc đầu ngao ngán. Anh nhìn tôi ái ngại vì quá trễ giờ. Chúng tôi nói chuyện đời. Anh chỉ vào con đường ngập nước và nói họ đang phá nát thành phố này. Tôi đồng ý. Nhưng tôi muốn thêm rằng họ cũng đang hủy hoại nền học thuật nước nhà bằng cách tạo ra một đại dịch PGS-TS-BS.