![]() Nguyễn Hiến Lê (1912 - 1984) | |
Dung Khanh Lời nhà xuất bản trong mấy trang đầu của cuốn Hồi kí Nguyễn Hiến Lê do Nhà xuất bản Văn học, Thành phố Hồ Chí Minh tái bản lần thứ sáu, năm 2006, có viết như sau: “Ngòi bút của Nguyễn Hiến Lê, tâm hồn và con tim Nguyễn Hiến Lê ngay từ đầu đã thuộc về nhân dân, những người lao động, những ai cực khổ, bần hàn và bất hạnh. Niềm tự hào về dòng giống, tổ tiên và nỗi đau về dân tộc trước những cuộc ngoại xâm đã kéo Nguyễn Hiến Lê, một nhà văn luôn ý thức lánh xa những gì phù phiếm như chức tước, địa vị và sự giàu sang không lương thiện xích gần với Cách mạng và tự coi mình là người của Cách mạng, bởi lẽ dễ hiểu, những điều Cách mạng đang làm cũng chính là mơ ước của ông.” Sau khi khẳng định nhân cách của người cầm bút và tấm lòng của ông Nguyễn Hiến Lê đối với đất nước, Nhà xuất bản Văn học, một cơ quan văn hoá chính thức của nhà nước Việt Nam, giới thiệu cuốn sách này như sau: “Trên tinh thần tôn trọng một học giả nghiêm túc và được nhiều người mến mộ, kính nể ấy, Nhà xuất bản Văn học trân trọng giới thiệu cuốn hồi kí của ông. Tuy là hồi kí một người, một nhà văn, nhưng qua đấy người đọc cảm nhận được xã hội Việt Nam xuyên suốt hai cuộc kháng chiến chống xâm lược mà nét hào hùng lẫn những vệt máu và nước mắt vẫn còn thấm đẫm mới rọi trên từng trang sử của dân tộc chúng ta. Từng sự kiện, từng con người (từ nhà chính khách cho đến nhà văn…) đều được cách nhìn Nguyễn Hiến Lê soi rọi và đánh giá.” Và như thế, cuốn Hồi kí Nguyễn Hiến Lê đã được in tới sáu lần, đủ cho ta thấy sự hưởng ứng của độc giả và ảnh hưởng của nó tới độc giả trong nước như thế nào. Nhưng sau tất cả những lần tái bản, cho tới bản gần đây nhất, năm 2006, cuốn sách đều không được in lại một cách đầy đủ, có nhiều phần đã bị tỉa bớt mà theo Nhà xuất bản Văn học thì: “Vì tác giả đã mất, Nhà xuất bản không thể cắt bỏ nhiều quá. Trong quá trình biên tập, chúng tôi chỉ lược bớt phần rườm rà và cắt những chỗ không thể nào để lại được. Chúng tôi mong bạn đọc thông cảm.” Câu này làm độc giả không khỏi thắc mắc: nếu ông Nguyễn Hiến Lê còn sống, cuốn sách của ông có lẽ còn bị cắt bỏ nhiều hơn, thậm chí còn không được xuất bản (mà quả thật là vậy, ông mất năm 1984, vậy mà tới năm 1992 Hồi kí Nguyễn Hiến Lê mới được xuất bản lần đầu tiên trong nước). Tuy người đọc rất “thông cảm” với Nhà xuất bản Văn học, nhưng trong suốt 14 năm, sau 6 lần in, người ta phải tự đặt câu hỏi là: ông Nguyễn Hiến Lê, một học giả rất được trọng vọng ở Việt Nam, đã tâm sự những gì trong quãng đời cuối cùng của ông khiến cho cuốn sách của ông được xuất bản muộn màng và bị kiểm duyệt như vậy. Lời bạt của cuốn sách có nói: “Một lần nữa, chúng tôi tin rằng, xuất bản tập Hồi kí này là hết sức cần thiết, và rất bổ ích, nhưng chúng tôi cũng nghĩ rằng sẽ có những vấn đề cần phải tranh luận”. Vậy thì phải chăng những đoạn cắt bỏ đó - “những chỗ không thể nào để lại được” - là những vấn đề “cần phải được tranh luận”? Dù rằng “xét trên cảm hứng chung của ngòi bút Nguyễn Hiến Lê, chúng tôi vẫn thấy trước tiên đây là một học giả đầy trách nhiệm và xây dựng” như Nhà xuất bản đã nhận xét? Phần “Mục lục” của cuốn Hồi kí Nguyễn Hiến Lê cho thấy cuốn sách gồm có 6 phần, chia làm 33 chương, những phần bị bỏ đi là chương XXI, XXII, XXIV (trong Phần IV), và chương XXX, XXXI, XXXII (trong Phần VI) mà nhà xuất bản bỏ trống không in, với một lời ghi chú vỏn vẹn là “xin để lại sau một thời gian nữa…”. Những chương này đã nói những gì khiến cho Nhà xuất bản Văn học (hay nói đúng hơn, nhà nước Việt Nam) phải giấu nhẹm, bưng bít hơn 23 năm sau khi ông Nguyễn Hiến Lê mất? Câu trả lời được tìm thấy trong cuốn Hồi kí do nhà Văn nghệ - California – USA xuất bản năm 1988, in đủ 33 chương. Cuốn Hồi kí này đã được xuất bản hai năm sau khi ông Nguyễn Hiến Lê mất, toàn bộ được in làm ba tập, Tập I, II, III, và một phần trong cuốn Đời viết văn của tôi (Văn nghệ, 1986). Theo bản in cuốn Hồi kí của nhà Văn nghệ thì chương XXI, XXII, XXIV trong Phần IV – Nam Bắc chia hai - Chiến tranh Việt Mĩ gồm những tiết sau: Chương XXI - Việt Nam chia hai (1954-1965) A. Miền Nam Gia đình Ngô Đình Diệm Dẹp giáo phái - Truất Bảo Đại Chính sách nhà Ngô Dân nổi dậy chống đối - Hai vụ 11-11-60 và 26-2-62 Ấp chiến lược - Trận Ấp Bắc Phật nạn - Đảo chánh 1-11-63 B. Miền Bắc Pháp mất hết quyền lợi Kinh tế suy - Đời sống khắc khổ Cải cách điền địa - Vụ Quỳnh Lưu Vụ Nhân văn - Giai phẩm Kinh tế phát triển rất chậm Bắc giúp Mặt trận Giải phóng miền Nam Chương XXII - Chiến tranh Việt Mỹ (1965-1975) Các chính phủ quân nhân Mĩ đưa quân sang Vụ Mậu Thân Vừa đánh vừa đàm - Hiệp định Paris Những bí mật trong chiến tranh Việt Mỹ Mĩ rút về, quân Nam tan rã, chiến tranh chấm dứt Chương XXIV - Xã hội miền Nam trong thời Mỹ Kinh tế mền Nam từ 1954 đến 1974 Nhân số bộc phát - Nạn đói Thị dân tăng lên quá mau - Nền kinh tế trái luật kinh tế Sản xuất kém mà tiêu thụ mạnh Đời sống quay cuồng Cảm giác bất an - Thời đại kĩ nghệ điện tử Phong hoá suy đồi Ta có thể thấy ngay là những điều mà Nguyễn Hiến Lê viết về hai miền Nam, Bắc trong Chương XXI, vụ Mậu Thân, bí mật trong chiến tranh Việt - Mĩ trong Chương XXII, kinh tế, thời đại kĩ nghệ điện tử ở miền Nam trong Chương XXIV có thể là những điều sẽ làm cho nhà nước Việt Nam phải lúng túng bào chữa, lấp liếm nếu nó được in ra. Nhưng có lẽ cái gai làm cho các nhà quản lý tư tưởng Việt Nam khó chịu nhất là những gì ông Nguyễn Hiến Lê đã viết trong Chương XXX, XXXI, và XXXII, trong Phần VI – Giai đoạn 1975-1981: Chương XXX tả lại đời sống xã hội miền Nam sau 6 năm dưới chế độ xã hội chủ nghĩa; chương XXXI viết lại những kết quả sau 6 năm đó; Chương XXXII tập hợp những ý kiến của ông về lỗi lầm của Đảng và về tương lai của đất nước. Câu cuối cùng trong lời bạt của Nhà xuất bản Văn học có viết: “Nhà xuất bản rất mong sự đóng góp của độc giả trong nước cũng như ngoài nước để lần in sau chúng tôi rút được những kinh nghiệm tốt hơn.” Chẳng lẽ những đóng góp này chỉ là những ý kiến về kĩ thuật ấn loát hoặc trang trí hình bìa? Vì theo nhà Văn học thì “qua đấy (cuốn Hồi kí) người đọc cảm nhận được xã hội Việt Nam xuyên suốt hai cuộc kháng chiến”, vậy thì độc giả, nhất là độc giả trong nước, có thể nêu lên một băn khoăn là: Dù chúng tôi thông cảm cho nhà xuất bản đã cắt bỏ những chương quan trọng trên trong tất cả những lần tái bản, nhưng chúng tôi, với tấm lòng ngưỡng mộ một vị học giả quá cố, vẫn không khỏi thắc mắc tự hỏi ông Nguyễn Hiến Lê đã nhận xét những gì về xã hội Việt Nam sau cuộc kháng chiến chống Pháp, Mĩ. Đến bao giờ chúng tôi mới đọc được toàn bộ cuốn Hồi kí của ông? Đã 16 năm rồi chứ đâu phải là ít? Trong tinh thần tự do công luận đó, tôi xin trích ra sau đây chương XXX, XXXI, XXXII trong cuốn Hồi kí của học giả Nguyễn Hiến Lê. Có lẽ lý tưởng nhất là đăng nguyên văn những chương này, không thiếu sót một câu, một chữ, do Nhà xuất bản Văn nghệ in năm 1988; nhưng ba chương này rất dài, chiếm hơn ba phần tư (160 trang) cuốn Hồi kí, Tập III, tức là gần một phần năm của toàn bộ cuốn Hồi kí dầy non một ngàn trang. Mục đích của tôi là tóm tắt, thu gom lại những ý tưởng, câu viết của ông trong ba chương đã bị cắt bỏ trên thành một bài đọc ngắn để độc giả có thể biết ngay được tâm tư, trăn trở của ông sau 6 năm sống dưới chế độ cộng sản. Tôi sẽ giữ đúng bố cục mà ông đã dàn trong ba chương này, và theo sát những ý tưởng, diễn biến trong cách viết của ông. Tôi cũng xin mạn phép thỉnh thoảng xen vào vài ý kiến cá nhân phụ thuộc, phần lớn là để cập nhật tình trạng xã hội Việt Nam mà, sau hơn 25 năm, đã có nhiều thay đổi. Hồi kí của Nguyễn Hiến Lê | |
24/9/11
Xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam sau năm 1975 qua cuốn Hồi kí của học giả Nguyễn Hiến Lê
Các vị tướng từ chối đàn áp sinh viên tại Thiên An Môn ra sao
![]() Tướng Qin Jewein đứng giữa, bên phải là Đặng Tiểu Bình | |||||||||||||||
John Garnaut của báo Sydney Morning Herald trường trình từ Bắc Kinh, 2010.06.04 http://www.smh.com.au/world/how-top-generals-refused-to-march-on-tiananmen-square-20100603-x7f0.html Vào tháng năm 1989, vị tướng tài ba và là tư lệnh của Lộ quân 38th, trung tướng Xu Qinxian, không tuân lệnh của vị chỉ huy tối cao quân đội lúc đó là Đặng Tiểu Bình, bảo phải tiến vào Bắc Kinh. Tướng Xu đã không tham gia vào việc giết hàng trăm sinh viên biểu tình tại quãng trường Thiên An Môn, vụ giết người mà ngày nay được gọi một cách đơn giản là vụ Lục Tứ và xem như là vụ quân đội nhúng tay vào giết dân xấu xa nhất trong lịch sử sáu mươi năm của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Vụ tắm máu này gây ra chia rẽ trong nội bộ Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân và nội bộ đảng Cộng sản Trung Quốc. Ông Warren Sun, một người có ảnh hưởng tại Monash University bàn về lịch sử nội bộ đảng Cộng sản Trung Quốc nói: "Trường hợp tướng Xu tiêu biểu cho sự bất đồng ý kiến trong nội bộ quân đội". Ông tiếp: "Lúc đó Đặng Tiểu Bình quả thật lo sợ sẽ có một cuộc đảo chính do quân đội gây ra". Vụ tàn sát tại Thiên An Môn tiếp tục làm hoen ố uy tín các đảng viên kỳ cựu đã ra lệnh, họ làm theo sự lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình, và tiếng xấu đó đổ lên thế hệ đảng viên bảo thủ đã có được cơ hội thăng tiến nhờ vào việc các đồng chí có khuynh hướng ôn hòa đã bị trừng trị hoặc bị gạt ra rìa khi bất tuân lệnh đàn áp sinh viên. Vết thương nội bộ này vẫn còn rỉ máu, biểu hiện qua việc ngày kỷ niệm vụ Thiên An Môn thứ 21 này sẽ không được công khai nhắc đến tại Trung Quốc . Nhưng các hành động can đảm bất tuân lệnh vẫn còn sống trong lòng các quân nhân và các đảng viên kỳ cựu với sự tin tưởng một ngày nào đó những người từ chối tham gia vào việc đàn áp tại Thiên An Môn sẽ được xem như là những người anh hùng.
Vào khoảng ngày 20 tháng Năm, 1989, tướng Zhou Yibing, tư lệnh Quân Khu Bắc Kinh, đã gửi lệnh tiến quân đến doanh trại của tướng Xu tại Baoding, Nam Bắc Kinh . Một vị tướng đang phục vụ trong quân đội kể lại cho phóng viên tờ Sydney Morning Herald là "Khi được lệnh tiến vào quãng trường Thiên An Môn, tướng Xu đặt ra một loạt câu hỏi". "Ông ta hỏi có phải là lệnh từ Triệu Tử Dương". Lúc đó là Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Trung Quốc nhưng đã bị gạt ra ngoài vì chống lại chủ trương dùng vũ lực đàn áp . Khi câu trả lời là "Không" thì tướng Xu từ chối không đem quân đi . Tướng Xu chỉ là người biết nhiều nhất như là kẻ vì lương tâm mà bất tuân thượng lệnh như không phải là kẻ duy nhất . Một số nguồn tin kể tướng Qin Jiwei, người đỡ đầu cho tướng Xu, lúc đó là bộ trưởng quốc phòng và là ủy viên bộ chính trị đã định liên kết với Triệu Tử Dương để chống lại lệnh thiết quân luật . Triệu Tử Dương bị thanh trừng, cách chức và bị quản chế tại gia cho đến hết đời . Một vị học giả, con một quân nhân dưới quyền tướng Qin kể: "Ông ta được lệnh ban hành thiết quân luật (sau cuộc họp với Đặng Tiểu Bình ngày 17 tháng Năm) nhưng ông bất tuân lệnh, lấy cớ rằng ông ta cần phải có lệnh của đảng . Sau đó ông gọi đến văn phòng của Triệu Tử Dương và đợi bốn tiếng đồng hồ, cho đến 2 giờ rưỡi sáng để chờ cú điện thoại Triệu Tử Dương gọi lại ra lệnh là không nghe lời Đặng, nhưng cú điện thoại đó không bao giờ có. Không có xác nhận công khai về sự kiện này cũng như từ nhưng người cộng sự gần gũi với Triệu Tử Dương . Vị tướng trong quân đội này cũng trả lời câu hỏi của phóng viên tờ Herald về vụ tướng Xu bằng cách đưa ra trường hợp tướng He Yanran, tư lệnh Lộ Quân 28. "Tướng He bị đưa ra tòa án quân sự vì đoàn xe thiếp giáp và xe chở quân của ông bị đốt cháy bởi người dân hai bên đường tức giận mà ông không ra lệnh đuổi họ đi". Vị tướng đang ở trong quân đội kể lại do ông biết được qua các sự quen biết. Tướng Xu bị giam năm năm và có lẽ đang sống một cuộc sống thầm lặng, thỉnh thoảng có liên lạc với một số thân hữu có tinh thần đổi mới. Tướng Qin sau đó vẫn được chế độ trình bày như là người đã ủng hộ chủ trương đàn áp nhưng thật ra bị tước hết quyền lực cho đến lúc qua đời vào 1997. Còn tướng He thì bị giáng cấp.
| |||||||||||||||
Tự do Báo Chí và Phát Triển Kinh Tế
Bản thông cáo báo chí ngày 7-11-2002 của Hiệp Hội Báo Chí Thế Giới (WAN, World Association of Newspapers), Paris.
Bản báo cáo mới của Ngân Hàng Thế Giới về liên quan giữa phát triển kinh tế và tự do báo chí.
Một bản báo cáo mới của Ngân Hàng Thế Giới cho các tổ chức phát triển và các chính phủ thấy bằng chứng hiển nhiên là tự do báo chí có thể giúp giảm bớt nghèo đói và đẩy mạnh phát triển kinh tế.
Trong một cuộc họp báo chung giữa Ngân Hàng Thế Giới và Hiệp Hội Báo Chí Thế Giới tại Paris và Brussels vào tuần lễ đầu tháng 11-2002, hai cơ quan này đã đưa ra bản báo cáo với các phân tích khoa học cho thấy báo chí có thể góp phần vào việc đẩy mạnh kinh tế nếu như báo chí được độc lập, có chất lượng và việc được phổ biến đến quảng đại quần chúng được bảo đảm.
Ông Thimothy Balding, Tổng Giám Đốc của cơ quan Hiệp Hội Báo Chí Thế Giới (WAN) tuyên bố trong buổi họp báo:
“Đây là sự đóng góp nghiêm túc và cụ thể nhất từ trước đến nay cho công cuộc nghiên cứu, phân tích và bàn luận về vai trò của tự do báo chí trong việc phát triển kinh tếvà xóa giảm đói nghèo.”
Ông tiếp:
“Có lẽ đây là lần đầu tiên mà Ngân Hàng Thế Giới vượt lên trên những phát biểu giản dị từ trước đến nay khi nói rằng việc được thông tin và tự do báo chí là nhân quyền, luân lý và là điều hiển nhiên tốt, mà bắt đầu đưa ra những trường hợp cụ thể một cách khoa học để chứng minh rằng một nền báo chí tự do có được sự độc lập, vững vàng là đồng minh đắc lực của phát triển xã hội và giảm bớt nghèo đói.”
Ông nói thêm: “Bản nghiên cứu này được đưa ra vào lúc này là đúng nhất, vì hai lý do: thứ nhất, sau vụ khủng bố ngày 11-9-2002 ở Mỹ, tự do thông tin thường bị trở thành nạn nhân của cái gọi la chiến tranh chống khủng bố, với nhiều chính quyền bắt tay vào việc hạn chế thông tin nhân danh lợi ích của quốc gia.”
“Thật sự thì như sự nghiên cứu của Ngân Hàng Thế Giới và như Hiệp Hội Báo Chí Thế Giới vẫn chủ trương, một nền báo chí được tự do, không bị kềm kẹp đóng vai trò tích cực lớn trong việc thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và phát triển xã hội, từ đó mà góp phần vào việc xóa đi các điều kiện gây ra nghèo khó sinh ra chỉ vì thiếu thông tin hoặc thiếu tranh luận các vấn đề một cách công khai. Thiếu thông tin và tranh luận công khai sẽ nuôi dưỡng và phát triển bạo lực khủng bố. Bản nghiên cứu này đã đặt tự do thông tin và một nền báo chí độc lập, vững chãi vào tâm điểm các ưu tiên của chiến lược làm sao cho viện trợ được xử dụng để phát triển một cách hiệu quả .”
Ông nói tiếp:
“Lý do thứ hai khiến cho sự xuất hiện của bản nghiên cứu này trở thành đúng lúc là nó đóng những nhát đinh vào nắp quan tài chôn đi cái ý tưởng thường được các chính quyền độc tài, áp bức cho rằng sự phát triển kinh tế và xã hội bị cản trở vì có tự do báo chí hoặc cho là ưu tiên hàng đầu là phải giới hạn tự do thông tin và ngôn luận cho đến lúc nào nền kinh tế phát triển đến một mức nào đó.”
Cuốn sách “Quyền Được Kể Lại - Vai Trò Của Truyền Thông Đại Chúng Trong Phát Triển Kinh Tế” (The Right to Tell - The Role of the Mass Media in Economic Development) bao gồm 19 chương được viết bởi nhiều tác giả khác nhau, trong đó có cựu kinh tế gia đứng đầu tổ chức Ngân Hàng Thế Giới là Joseph Stiglitz, từng được giải Nobel, cả tác giả cuốn 'Exuberance Irrational' là Garcia Marquez. Các cây viết của các nước đang phát triển cũng tả ra những khó khăn giới truyền thông gặp phải tại một số nước cụ thể, trong đó có Liên Bang Xô Viết cũ, Thái Lan, Bangladesh, Ai Cập và Zimbabwe, để trình bày cho thấy tiềm năng của thuyền thông như là chất xúc tác cho sự chuyển biến và tăng trưởng.
Cuốn sách này cũng trưng ra dẫn chứng về thành tích hoạt động của truyền thông và luật lệ tại các nước trên thế giới và đồng thời vạch ra những chính sách nào, điều kiện kinh tế nào có thể ngăn trở hoặc giúp cho ngành truyền thông trong vai trò hỗ trợ cho phát triển kinh tế. Các tác giả này cũng tìm hiểu vai trò của truyền thông như là cơ chế giám sát chính quyền và giám sát khu vực kinh doanh, sức mạnh của truyền thông trong việc ảnh hưởng đến thị trường, sự hữu dụng của truyền thông trong việc loan truyền những ý kiến mới mẻ và truyền bá tin tức, và khả năng của truyền thông trong việc lên tiếng bênh vực giới nghèo. Các tác giả này cũng đề cập đến những cái hại có thể gây ra bởi nền báo chí thiếu đạo đức, vô trách nhiệm và những hậu quả của các luật cấm phỉ báng, cùng với những chính sách khác ngăn cản sự hoạt động của một nền báo chí tự do.
Ông Mark Nelson, một nhà Quản Lý Các Dự Án của Ngân Hàng Thế Giới và cũng là người đóng góp vào cuốn sách trên nói: “Chúng tôi đang soạn thảo ra những tài liệu để thuyết phục các chính quyền và các chính trị gia cũng như những người nắm quyền quyết định ở khắp nơi trên thế giới rằng một chế độ thông tin tự do và cởi mở là điều họ cần phải có để giúp cho sự cải tổ kinh tế được thành công.”
Ông Balding phát biểu: “Chúng tôi hy vọng rằng những lý lẽ trên sẽ nâng cao tầm quan trọng của viện trợ giúp cho báo chí phát triển trong chương trình hoạt động của các tổ chức thường làm việc với các chính quyền, trong đó có cả Ngân Hàng Thế Giới.”
Muốn biết thêm về nội dung cuốn sách “Quyền Được Kể Lại - Vai Trò Của Truyền Thông Đại Chúng trong Phát Triển Kinh tế” xin liên lạc 'lkilman@wan.asso.fr'.
Tổ chức WAN, đặt văn phòng tại Paris, là tổ chức toàn cầu của ngành báo chí, có nhiệm vụ bảo vệ và đề cao tự do báo chí trên toàn thể thế giới. Tổ chức này đại diện 18 nghìn tờ báo; số hội viên bao gồm hiệp hội báo chí của 71 quốc gia, các nhà báo của hàng trăm quốc gia, 13 hãng thông tấn và 9 nhóm báo chí có tầm hoạt động từng vùng hoặc toàn thế giới.
Trang nhà của WAN:
http://www.wan-press.org
http://www.wan-press.org
Bàn luận:
Giả sử bây giờ có người đưa ra con số Việt Nam hay Trung Quốc phát triển 7% , 8% mỗi năm thì cũng chưa chứng minh được bản tin của WAN về vai trò của tự do báo chí trong phát triển kinh tế là sai .
Bản tin của WAN nói là tự do báo chí đẩy mạnh việc phát triển kinh tế và giám sát chính quyền . Bản tin này nói tự do báo chí đẩy mạnh kinh tế chứ không nói là nếu thiếu tự do báo chí thì sẽ không có phát triển kinh tế . Nếu muốn chứng minh là bản tin đó sai thì phải chứng minh là tự do báo chí không góp phần đẩy mạnh kinh tế . Đưa ra con số phát triển 7%, 8% một năm thì chưa chứng minh được bản tin đó sai vì nếu có tự do báo chí thì biết đâu tỉ lệ phát triễn của Việt Nam và Trung Quốc sẽ còn cao hơn là 7%, 8% .
Chế độ phát xít Đức Quốc Xã trước đây tuy không có tự do báo chí nhưng cũng vẫn đạt được mức độ phát triển kinh tế cao . Chế độ độc tài cộng sản Liên Xô dưới thời Stalin cũng đạt được mức độ phát triển kinh tế cao . Có năm, nhà nước Liên Xô đưa ra tỉ lệ phát triển là 16% . Cứ cho là nhà nước Liên Xô phóng đại thì mức phát triển của Liên Xô lúc đó cũng vẫn có .
Nhưng bản tin của WAN và World đâu có nói là nếu không có tự do báo chí sẽ không có phát triển . Những người viết ra cuốn sách Right To Tell- Role of The Mass Media in Economic Development là những người hiểu biết về kinh tế họ đâu có dốt đến nỗi mà nói rằng không có tự do báo chí thì sẽ không có phát triển kinh tế . Thời các vua chúa ngày xưa, đâu đã có báo chí mà vẫn có phát triển kinh tế . Ở đây các tác giả nói về vai trò của tự do báo chí đối với sự phát triển kinh tế, nghĩa là nói những điều kiện gì của tự do báo chí đóng góp vào sự phát triển kinh tế, và các tác giả đó cũng không quên đề cập những sự tai hại của một nền báo chí tự do nhưng vô trách nhiệm, vô đạo đức .
Các chế độ thiếu tự do báo chí như phát xít Đức, Ý và Nhật đều quá ngắn ngủi và bị sụp đổ vì thua trận nên người ta chưa có dịp kiểm nghiệm vai trò của tự do báo chí đối với sự phát triển kinh tế . Các chế độ cộng sản Nga , Trung Quốc, Việt Nam và các nước cộng sản khác là các chế độ tồn tại đủ lâu để cho thấy sự thiếu tự do báo chí gây ra những hậu quả gì .
Trong thời Stalin, mặc dù nước Nga có phát triển kinh tế nhưng nhà nước Liên Xô dồn hết tài nguyên vật lực vào công nghiệp nặng, làm cho nguồn vốn dành cho khu vực tiêu dùng của nhân dân bị thu hẹp, kết quả là hàng tiêu dùng trở nên thiếu thốn, đời sống dân Nga lúc đó vô cùng khổ cực mặc dù kinh tế có tăng trưởng . Giả sử như có tự do báo chí lúc đó thì các báo của tư nhân sẽ lên tiếng nói lên cảnh khổ của dân thì nhà nước sè phải bớt dồn tài nguyên vào công nghiệp nặng mà phải cải thiện đời sống cho nhân dân . Dưới thời Breznev, trong suốt 15 năm cầm quyền, Breznev dồn hết tiền của vào việc chế tạo vũ khí, chạy đua với Mỹ làm cho mức sống nhân dân Nga ngày càng đi xuống và kết quả là nhân dân Nga đã nổi lên chấm dứt cái chế độ không cho phép mình được nói lên cảnh khổ của mình . Giả sử, chế độ Liên Xô có tự do báo chí, thì chính quyền Liên Xô sẽ phải chú ý hơn đến việc nâng cao mức sống của người dân Nga, giảm bớt chi tiêu cho quân sự . Nền kinh tế Liên Xô không phát triển nổi những năm cuối của chế độ độc tài cộng sản vì nhân dân bị kiệt quệ, chán nản . Nếu Liên Xô có tự do báo chí, thì đời sống nhân dân Nga không đến nỗi bị kiệt quệ, và nền kinh tế Liên Xô lúc đó có thể cũng đã khá hơn . Và biết đâu khi dân Nga không quá khổ thì sẽ không có những cuộc biểu tình làm sụp đổ chế độ cộng sản Liên Xô .
Tại Trung Quốc, nếu có tự do báo chí thì biết đâu cái tư tưởng “không cần biết mèo trắng hay mèo đen, miễn là mèo bắt được chuột” của Đặng Tiểu Bình được tự do đăng trên báo, rồi được nhân dân Trung Quốc hưởng ứng, thì biết đâu Trung Quốc đã có thay đổi trước đó hàng chục năm . Ngày nay, Trung Quốc mỗi năm bỏ ra hơn 10 tỉ đô la để mua vũ khí . Vào lúc này, thì kinh tế Trung Quốc đang phát triển nên nhà nước Trung Quốc có tiền để chi tiêu như vậy . Nhưng về lâu về dài thì sao ? Hiện nay, nhiều vùng của Trung Quốc vẫn còn nghèo, hàng chục triệu dân vẫn thất nghiệp . Nếu Trung Quốc dồn hết tiền vào chạy đua vũ khí thì không chừng lại đi vào vết xe đổ của Liên Xô, nghĩa là phát triển kinh tế đến một mức nào đó rồi chỉ lo chạy đua vũ khí, bỏ mặc đời sống nhân dân .
Còn tại Việt Nam, ông Nguyễn Thanh Giang có lần viết là vào thập niên 70, năng suất của Liên Xô lúc đó đã tỏ ra thua xa năng suất của Mỹ và các nước tư bản, nhưng đảng CSVN vẫn tiến hành chiến tranh để đánh chiếm miền Nam, đưa miền Nam đi theo con đường Xã Hội Chủ Nghĩa. Để rồi kết quả là gì? Là đường lối XHCN là sai lầm, đảng CSVN phải chuyển qua kinh tế tư bản. Nhưng vậy là tiêu phí hơn 4 triệu mạng người cho chiến tranh, bỏ phí hàng chục năm không xây dựng kinh tế mà lại còn bị tàn phá, để rồi không đi đến đâu cả . Giả sử thời thập niên 70, tại miền Bắc có tự do báo chí, báo miền Bắc tự do đăng tin đời sống xã hội tư bản ra sao, so sánh cho nhân dân thấy năng suất giữa các nước XHCN và các tư bản khác nhau ra sao, thu nhập bình quân giữa các nước XHCN và các nước tư bản khác nhau ra sao, thì chắc là nhân dân miền Bắc không có ai muốn đi “giải phóng miền Nam”, mà trái lại còn đòi đảng CSVN phải thay đổi mà đi theo con đường kinh tế thị trường và kinh tế miền Bắc chắc là cũng không đến nỗi quá tồi tệ, thu nhập bình quân của Việt Nam chắc là cũng không đến nỗi đứng hạng bét so với các nước trong vùng như hiện nay . Điều đó chứng minh là tự do báo chí quả có đóng góp vào việc phát triển kinh tế .
Ông Vũ Cao Quận cũng đã viết rằng giả sử vào thập niên 60 tại miền Bắc có tự do báo chí thì chính sách khoán sản phẩm trong nông nghiệp của ông Bí Thư Tỉnh Ủy Nghệ An Kim Ngọc đã có thể được công bố cho toàn dân biết và có thể là ông Kim Ngọc đã không bị trừng phạt mà kinh tế miền Bắc cũng đã khá hơn .
Qua trường hợp Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam, người ta thấy tự do báo chí đóng vai trò tích cực trong việc phát triển kinh tế, nhất là về lâu về dài, tự do báo chí đóng vai trò phản ảnh tâm tự nguyện vọng của nhân dân, làm cho đường lối của nhà nước trở nên cần bằng hơn , không quá thiên vị cho nhà nước mà coi nhẹ quyền lợi của nhân dân . Một chính sách kinh tế cân bằng hơn có nghĩa là có sự phát triển lâu dài hơn .
Nói chung, những quyền con người mà các nước Tây phương tôn trọng đưa đến việc có đối lập chính trị, có quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do biểu tình đã tạo nên một hệ thống phản ảnh tâm tư nguyện vọng của người dân . Nhờ có hệ thống phản ảnh tâm tư nguyện vọng của người dân mà các chính quyền dân chủ điều chỉnh đường lối của mình theo sát với nguyện vọng của nhân dân . Sự phát triển lâu dài, bền bỉ của các nước Tây phương là kết quả chính sách phát triển theo sát với nguyện vọng nhân dân .
Đem so sánh hai nước Mỹ và Nga thì thấy vào đầu thế kỷ, Nga đã phải trải qua một cuộc cách mạng, rồi sau đó là một giai đoạn nội chiến đẫm máu . Đến thời Stalin, thì hàng chục triệu người dân Nga bị giết để Stalin tập trung quyền lực vào tay mình và bắt dân tộc Liên Xô đi theo ý riêng của mình . Rồi đến cuộc cách mạng vào đầu thập niên 90, làm sụp đổ chế động cộng sản và dẫn theo nhiều năm xáo trộn . Trong những thời kỳ biến độ ở Nga thì tại Mỹ xã hội vẫn phát triển đều đặn trong hòa bình . Chế độ dân chủ Tây phương không phải trải qua cuộc cách mạng gây ra xáo trộn vào đầu thập niên 90 như ở Nga vì nhân dân các nước dân chủ có bất mãn gì thì đã nói lên qua báo chí rồi, và chính quyền cũng đã giải quyết rồi, các vấn đề không bị dồn lại để rồi nổ tung ra thành cuộc cách mạng như tại Nga . Mà nước Mỹ phát triển công nghiệp không cần phải giết 50 – 60 triệu dân như ở Liên Xô dưới thời Stalin .
Các nhà lãnh đạo độc tài tước bỏ các quyền tự do của người dân là những người chỉ nhắm vào kết quả trước mắt mà bỏ qua cái lợi về lâu về dài của việc tôn trọng ý dân . Vì chỉ nhắm vào kết quả ngắn hạn nên việc làm của các chế độ độc tài cũng ngắn hạn . Vì thế mà các chế độ độc tài tại Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam đã phải thay đổi sau một thời gian hoạt động, còn các chế độ dân chủ, vì nhắm vào cái lợi lâu dài nên đã tồn tại lâu hơn các chế độ độc tài .
Người ta có thể ví chế độ dân chủ với các quyền của người dân được tôn trọng như một hệ thống có phản ảnh, system with feedback, và chế độ độc tài, không tôn trọng quyền của người dân, như là một hệ thống không có phản ảnh, system without feedback .
Có thể thí dụ system without feedback là những hỏa tiễn thô sơ V1, V2 được chế tạo thời đệ nhị thế chiến . Các hỏa tiễn này chỉ được ngắm lúc trước khi phóng rồi khi phóng đi muốn rơi vào đâu thì rơi . Còn system with feedback có thể ví như các hỏa tiễn tầm nhiệt hiện đại ngày nay, có các sensor để dò nguồn nhiệt từ mục tiêu để báo cho hỏa tiễn tự động điều chỉnh đường đi cho theo sát mục tiêu .
Các chế độ độc tài, thiếu tự do báo chí, tức bỏ các quyền của người dân, là một hệ thống thô sơ. Chính quyền chỉ cắm đầu cắm cổ làm theo ý mính, còn ý dân thế nào thì mặc kệ, không cho dân phát biểu, nếu dân có kêu ca gì thì chính quyền cũng không cho dân phương tiện để phản đối để chính quyền có thể làm ngơ lời kêu ca của dân.
Các chế độ dân chủ là sytem with feedback, giống như các hỏa tiễn tầm nhiệt biết tự điều chỉnh đường bay để theo sát mục tiêu, các chính quyền dân chủ dễ dàng điều chỉnh chính sách khi nhận được sự phản ảnh của nhân dân qua báo chí, các cuộc biểu tình, các tiếng nói của các tổ chức của nhân dân.
Xét về đặc tính thì system without feedback, thô sơ hơn, dễ thực hiện hơn, ổn định hơn, nhưng về mặt xử dụng thì kém hiệu năng hơn . Tương tự, một chế độ độc tài thì giản dị, dễ thực hiện, ổn định, thực tế cho thấy chế độ độc tài cũng là chế độ kém hiệu năng.
System with feedback, thì phức tạp hơn, mất công thực hiện hơn, kém ổn định hơn, một hỏa tiễn có thể tự điều chỉnh đường bay dĩ nhiên là kém ổn định hơn một hỏa tiễn không bao giờ đổi đường bay vì hỏa tiễn có khả năng tự điều chỉnh có nhiều máy móc phức tạp, có nhiều bộ phận có thể hư hỏng, nhưng lại có hiệu năng cao hơn.
Các chế độ vua chúa thời xưa, và các chế độ độc tài thời nay là các chế độ thô sơ , thiếu các cơ chế để dân phản ảnh nguyện vọng của mình . Các chế độ dân chủ là chế độ hiện đại hơn các chế độ độc tài vì có cơ chế để dân phản ảnh nguyện vọng của mình . Chế độ dân chủ xây dựng tuy khó khăn hơn chế độ độc tài, nhưng hiệu năng của các chế độ dân chủ cũng cao hơn các chế độ độc tài.
Một vai trò khác của báo chí ngòai vai trò phản ảnh là vai trò kiểm sóat và phê phán. Các nhà báo độc lập theo dõi cách cai trị, cách thi hành chính sách của nhà cầm quyền rồi lên tiếng phê phán. Sự phê phán của báo chí có ảnh hưởng đến dư luận quần chúng. Nhà cầm quyền sợ làm cho quần chúng bất bình, sợ mất sự ủng hộ của quần chúng thì phải giữ gìn đừng làm bậy, hoặc phải sửa sai nếu đã làm bậy. Chính quyền nào cũng cần phải có sự ủng hộ của dân đến một mức nào đó mới cai trị được. Một chế độ mà hòan tòan không có sự ủng hộ của dân thì chính sách, luật lệ đưa ra sẽ bị thi hành lệch lạc, hoặc bị dân làm ngơ không tôn trọng. Vì có khả năng phê phán và ảnh hưởng đến dư luận, báo chí có một quyền lực đối với chính quyền. Cái quyền lực đó chỉ có thể có tác dụng tích cực nếu như báo chí được tự do và độc lập.
Một nền báo chí tự do sẽ dùng sức mạnh của ngòi bút để phê phán những vụ tham nhũng, làm thất thóat công quĩ, và như vậy sẽ có tác dụng hạn chế bớt hoặc ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực này. Đó chính là sự đóng góp của báo chí mà các tổ chức cấp viện quốc tế mong muốn có ở các nước mà họ cấp tiền cho để giúp đỡ phát triển. Các tổ chức cấp viện muốn cho tiền của mình cấp cho các nước được thực sự xử dụng vào các việc đem lại phát triển chứ không muốn nó bị phung phí vì bị lọt vào tay viên chức tham nhũng hoặc bị xử dụng một cách phí phạm. Ý muốn tiền cấp viện được xử dụng một cách hữu hiệu chẳng cũng là ý muốn của nhân dân tại các nước nhận tiền cấp viện hay sao? Nhà nước tham nhũng lấy tiền đi vay của các tổ chức quốc tế đem phung phí, hay đút túi làm của riêng rồi sau này bắt dân đóng thuế để trả nợ, hoặc nếu không trả nợ được thì quịt nợ thì chẳng những làm thiệt hại cho các tổ chức cấp viện mà còn làm thiệt hại cho tòan thể nhân dân nước đó.
Vì thế nhân dân thì thấy tự do báo chí là cần thiết, các tổ chức cấp viện quốc tế cũng thấy tự do báo chí là cần thiết, còn những kẻ cầm quyền tham nhũng thì xem tự do báo chí là điều tối kỵ.
Minh Đức
Singapore chống tham nhũng thế nào?
(Theo "Bí quyết hoá rồng" của Lý Quang Diệu) Để xây dựng một Chính phủ trong sạch, Lý Quang Diệu và các đồng sự của ông đã đặt quyết tâm chống tham nhũng lên hàng đầu bằng những biện pháp mạnh mẽ, cứng rắn, quyết đoán và quyết liệt. Nhờ đó, Singapore tránh được nhiều tổn thất lớn trong quá trình phát triển và tạo dựng được một Chính phủ tài năng, trong sạch, vững mạnh, biến Singapore từ quốc đảo nhỏ bé thành con rồng châu Á với mức thu nhập bình quân đầu người 22.000 USD/năm, đứng hàng thứ 4 trên thế giới. Xây dựng bộ máy chính quyền trong sạch ngay từ trứng nướcKhi đảng PAP (People Action Party, Đảng Nhân Dân Hành Động) lên nắm chính quyền vào năm 1959, chúng tôi bắt đầu xây dựng một bộ máy chính quyền trong sạch. Một quyết định quan trọng mà chúng tôi thực hiện trước cuộc tổng tuyển cử tháng 5/1959 là nhấn mạnh quan điểm của chúng tôi đối với tệ tham nhũng. Sự cám dỗ đang có mặt ở khắp mọi nơi chứ không chỉ riêng ở Singapore. Lấy ví dụ, viên chức đầu tiên tiếp xúc với những người nước ngoài khi họ bước chân vào lãnh thổ một quốc gia chính là nhân viên phòng hải quan và nhập cư. Ở nhiều sân bay tại Đông Nam Á, du khách thường thấy sự chậm trễ trong khâu thủ tục hải quan cho đến khi nào họ đã sẵn sàng một số tiền đút lót đúng lúc (thường là tiền mặt). Cái thực tế phiền hà ấy cũng hiện diện ở những CSGT, khi buộc phải ngừng xe do bị vin vào lý do tốc độ, lái xe phải nộp bằng lái cùng với việc tiếp theo là một số tiền ước lượng bằng đô la để tránh những hành động xa hơn. Các sĩ quan cao cấp cũng chẳng nêu được một tấm gương tốt. Ở nhiều thành phố trong khu vực, thậm chí nhập viện sau một tai nạn giao thông cũng cần một khoản đút lót để được chăm sóc mau lẹ. Những người có chức vụ nhỏ không thể sống nổi bằng đồng lương của họ và thực tế đó đã lôi kéo họ đến sự lạm dụng quyền lực. Chúng tôi ý thức sâu sắc sứ mệnh của mình là kiến lập một chính quyền trong sạch và hiệu quả. Vào tháng 6/1959, khi tuyên thệ tại nghi lễ nhận nhiệm kỳ ở văn phòng HĐND thành phố, tất cả chúng tôi đều mặc áo sơ mi trắng và quần trắng tượng trưng cho sự thanh khiết và lương thiện của mình trong hành vi cá nhân cũng như trong cuộc sống cộng đồng. Đây là điều mà nhân dân đã kỳ vọng ở chúng tôi và chúng tôi quyết định phải sống xứng đáng với những kỳ vọng đó... Tất cả các Bộ trưởng của tôi, ngoại trừ một người, đều là những người đã tốt nghiệp ĐH. Hết nhiệm kỳ, chúng tôi tin là mình có thể kiếm sống được và những nhà chuyên nghiệp giống như tôi luôn sẵn sàng làm điều đó. Chúng tôi không cần phải dành dụm một cái gì đó để phòng những trường hợp có thể xảy ra. Quan trọng hơn, hầu hết chúng tôi đều có những người vợ lao động có thể nuôi dưỡng gia đình nếu chúng tôi bị vào tù hay không còn xuất sắc trong công việc được nữa. Yếu tố này định hướng quan điểm của các Bộ trưởng và vợ của họ. Khi các Bộ trưởng chiếm được lòng tin và lòng kính trọng của người dân, các công chức còn có thể ngẩng cao đầu và tự tin ra quyết định. Điều này đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến của chúng tôi với những người cộng sản. Từ ngày lên nắm chính quyền vào tháng 6/1959, chúng tôi chắc chắn rắng mỗi đồng đô la trong tổng thu nhập đều phải được giải thích một cách hợp lý và sẽ đến với người dân nguyên vẹn là một đồng đô la mà không bị rút bớt đi ở dọc đường. Vì vậy, ngay từ buổi đầu, chúng tôi đã đặc biệt chú ý đến những lĩnh vực mà sự lộng quyền được khai thác cho lợi ích cá nhân và đồng thời mài nhọn những công cụ có thể ngăn chặn, phát hiện và cản trở những thủ đoạn này. Chúng tôi quyết định tập trung vào những người đảm nhận chức vụ lớn ở các cơ quan hành chính cấp cao và cho CPIB (Ban Điều tra hành vi tham nhũng - người Anh thành lập vào năm 1952), hướng vào mục tiêu mà chúng tôi ưu tiên. Đối với những đối tượng nhỏ hơn, chúng tôi đơn giản hoá thủ tục, tẩy trừ sự lạm quyền bằng đường lối chỉ đạo được công bố rõ ràng, thậm chí huỷ bỏ nhu cầu cấp giấy phép hoặc phê chuẩn trong những phạm vi ít quan trọng. Mỗi khi chúng tôi gặp khó khăn trong việc kết tội khi truy tố, chúng tôi siết chặt hơn luật pháp trong lĩnh vực đó. Tăng tiền phạt tối đa tội tham nhũng từ 10.000 đô la Sing lên 100.000Năm 1960, chúng tôi thay đổi Luật chống tham nhũng đã lỗi thời của năm 1937 và mở rộng định nghĩa về quà cáp để chỉ bất cứ thứ gì có giá trị. Sự sửa đổi này nới rộng quyền lực của các điều tra viên, kể cả quyền bắt giữ, khám xét, thanh tra tài khoản ngân hàng, số ghi tiền gửi ngân hàng của những kẻ bị tình nghi cũng như của vợ, con và thuộc hạ của họ. Người quản lý thuế thu nhập buộc phải đưa ra những thông tin có liên quan tới bất kỳ ai đang bị điều tra. Luật hiện hành quy định rằng, chứng cứ do kẻ đồng phạm khai ra không có giá trị tin cậy trừ phi được chứng minh. Chúng tôi đã thay đổi bằng cách cho phép các quan toà chấp nhận lời khai của kẻ đồng phạm là chứng cứ. Với sự nhạy bén, tinh tế và quyền hạn được điều tra bất kỳ viên chức hay vị Bộ trưởng nào, vị Giám đốc của CPIB, đang làm việc tại Phủ Thủ tướng, nổi danh trong việc phát hiện ra những kẻ phản bội lại lòng tin của nhân dân. Năm 1963, chúng tôi thực hiện việc bắt buộc các nhân chứng, được triệu tập bởi CPIB, phải có mặt để cung cấp thông tin. Năm 1989, chúng tôi tăng tiền phạt tối đa đối với tội tham nhũng từ 10.000 đô la Sing lên đến 100.000 đô la Sing. Cung cấp thông tin giả hoặc lừa dối CPIB sẽ bị phạt tù và số tiền nộp phạt lên đến 10.000 đô la Sing, các quan toà được quyền sung công những khoản tiền có nguồn gốc từ tham nhũng. Đưa ra những chuẩn mực đạo đức cao, lên án mạnh mẽ và đề ra quyết tâm tiêu diệt tham nhũng thì dễ dàng. Nhưng sống theo những lý tưởng tốt đẹp này thì vô cùng khó khăn, trừ phi người lãnh đạo có đủ mạnh mẽ và quyết tâm để đương đầu với kẻ phạm tội và không có sự ngoại lệ nào. Nhân viên CPIB phải được ủng hộ để thực thi luật, không e dè hay thiên vị. Trả lương tương xứng năng lựcĐiều kiện tiên quyết đối với một chính quyền lương thiện là những người ứng cử không phải cần đến một số tiền lớn để được đắc cử, nếu không nó sẽ khởi sự một chu trình tham nhũng. Nguyên nhân suy sụp của hầu hết các quốc gia châu Á chính là cái chi phí quá cao của những cuộc bầu cử. Sau khi đã chi một số tiền lớn để được đắc cử, người chiến thắng sẽ phải kiếm chác để bù lại chi phí mà họ đã bỏ ra và còn phải tích luỹ những khoản quỹ dành chi cho cuộc bầu cử tới. Singapore tránh sử dụng tiền cho mục đích thắng cử. Là người lãnh đạo của phe đối lập, năm 1959, tôi thuyết phục Lim Yew Hock thực hiện việc bỏ phiếu bắt buộc và cấm sử dụng xe hơi để đưa cử tri đi bỏ phiếu. Sau khi nắm chính quyền, chúng tôi xoá sạch ảnh hưởng chính trị của Hội Tam Hoàng (một tổ chức bí mật của người Hoa). Địch thủ ghê gớm nhất của chúng tôi là cộng sản đã không dùng đồng tiền để mua chuộc các cử tri. Chi phí dành cho cuộc bầu cử của chúng tôi rất thấp, dưới cả mức tiền mà luật cho phép. Họ bỏ phiếu cho chúng tôi nhiều lần vì chúng tôi đã cung cấp việc làm, xây dựng trường học, bệnh viện, trung tâm cộng đồng và quan trọng hơn hết là những ngôi nhà mà họ sở hữu. Đó là những lợi ích đáng kể làm thay đổi cuộc sống của họ và thuyết phục họ rằng tương lai của con cháu họ đặt trong tay của PAP. Mặt khác, Singapore đã chứng minh rằng, một hệ thống bầu cử trong sạch, không có ảnh hưởng của đồng tiền sẽ giúp duy trì một chính phủ lương thiện. Tuy nhiên, Singapore chỉ giữ được sự trong sạch và lương thiện khi nào những con người lương thiện và đầy năng lực sẵn sàng tham gia ứng cử và nắm giữ chức vụ. Họ phải được trả một mức lương tương xứng với những gì mà một người có khả năng và liêm chính có thể được hưởng khi điều hành một công ty lớn hay đang làm những công việc có tính chuyên môn khác. Họ phải quản lý được một nền kinh tế Singapore mà trong hai thập niên qua đạt mức tăng trưởng hằng năm từ 8% đến 9%, và mức GDP bình quân đầu người, theo Ngân hàng Thế giới ước tính, đứng thứ 9 trong những nước cao nhất trên thế giới. Nếu chúng tôi trả lương quá thấp cho những người đảm nhận chức vụ Bộ trưởng thì chúng tôi không thể kỳ vọng họ ở lại lâu với chức vụ mà tiền lương chỉ bằng một phần nhỏ những gì họ có thể kiếm được ở bên ngoài. Với mức tăng trưởng kinh tế cao và tiền lương cao hơn trong khu vực tư nhân, lương của các Bộ trưởng phải tương xứng với mức lương của những người tương đương với họ trong khu vực tư nhân. Chính vì đồng lương thấp mà các Bộ trưởng và công chức đã làm sụp đổ nhiều chính quyền tại châu Á. Sự trả công thoả đáng là nhân tố quan trọng đối với chuẩn mực liêm khiết của hàng ngũ những nhà lãnh đạo chính trị và viên chức cao cấp. Điều chỉnh lương khu vực Nhà nước ngang bằng khu vực tư nhânSau khi độc lập, tôi hạn định lại tiền lương của các Bộ trưởng, giữ cho mức lương ở các cơ quan dân chính tăng ở mức độ thấp để chúng tôi có thể đương đầu với nạn thất nghiệp và sự tụt hậu của nền kinh tế đồng thời nêu tấm gương về sự chừng mực. Năm 1970, khi tình trạng thất nghiệp không còn trầm trọng nữa, không khí đã dễ thở hơn, tôi tăng lương cho các Bộ trưởng từ 2.500 đôla Sing lên 4.500 đôla Sing một tháng nhưng giữ cố định lương của tôi ở mức 3.500 đôla Sing để nhắc nhở cơ quan dân chính rằng, sự chừng mực vẫn là cần thiết. Cứ vài năm tôi lại tăng lương cho các Bộ trưởng để thu hẹp khoảng cách rộng lớn với mức lương trong lĩnh vực tư nhân. Khi tôi còn là một Bộ trưởng cấp cao, năm 1994 tôi đã đề nghị lên nghị viện rằng chính phủ nên đặt ra một phương án nhằm tự động hoá việc xét duyệt lương các Bộ trưởng, quan toà, và các công chức hàng đầu theo bản báo cáo thuế thu nhập của khu vực tư nhân. Với mức tăng trưởng kinh tế từ 7% đến 10%/năm trên hai thập niên qua, tiền lương trong khu vực Nhà nước luôn chậm lại sau khu vực tư nhân từ hai đến ba năm. Năm 1995, Thủ tướng Goh quyết định chọn phương thức mà tôi đề nghị rằng sẽ gắn lương các Bộ trưởng và các viên chức cao cấp với mức lương ở vị trí tương ứng trong khu vực tư nhân. Điều này sẽ tự động làm cho thu nhập của họ tăng khi thu nhập trong khu vực tư nhân tăng. Trong cuộc tổng tuyển cử 18 tháng sau đó, Thủ tướng thông qua toàn bộ cử tri mặc dù phe đối lập khai thác vấn đề tiền lương của các Bộ trưởng. Người dân cần một chính phủ trong sạch, lương thiện và tài giỏi nhằm mang lại những thành quả tốt đẹp. Và đó chính là những gì mà đảng PAP đã đạt được. Hiện tại, không quá khó khăn trong việc tuyển chọn nhân tài từ khu vực tư nhân. Trước khi phương án tiền lương được thực thi, các luật sư giỏi kiếm được 2 triệu đôla Sing. Nếu không có sự thay đổi này, chúng tôi không bao giờ có thể bổ nhiệm được những luật sư giỏi nhất vào bộ máy tư pháp. Chúng tôi còn kết hợp lương của bác sĩ và những nhà chuyên môn khác trong cơ quan Nhà nước với thu nhập của những người tương đương họ trong khu vực tư nhân. Phương án tiền lương này không có nghĩa là gia tăng lương mỗi năm, vì thu nhập trong khu vực tư nhân có thể tăng hoặc giảm. Điển hình là sự kiện năm 1995 khi thu nhập trong khu vực tư nhân giảm xuống, do đó năm 1997 lương các Bộ trưởng và viên chức cao cấp cũng bị giảm theo. Bầu một tổng thống có sự uỷ thác độc lập từ cử tri để chống tham nhũngĐể đề phòng những người thiếu trung thực và không lương thiện vào bộ máy Chính phủ, trong một buổi mít tinh chào mừng Ngày Quốc khánh vào tháng 8/1984, tôi đã đề nghị nên bầu ra một tổng thống để bảo vệ đội ngũ viên chức dự bị của quốc gia. Tổng thống cũng sẽ có những quyền cao hơn cả một Thủ tướng, chẳng hạn, tổ chức các cuộc điều tra tham nhũng đối với chính Thủ tướng và các Bộ trưởng của ông ta hoặc các viên chức cao cấp, và có quyền phủ quyết sự bổ nhiệm không thích hợp vào các vị trí cao cấp như chánh án, bộ trưởng quốc phòng, tổng nha cảnh sát. Một tổng thống như thế sẽ cần đến sự uỷ thác độc lập từ cử tri. Nhiều người cho rằng tôi đang chuẩn bị một chức vụ cho bản thân tôi sau khi rời khỏi chức vụ Thủ tướng. Thực sự tôi chẳng có chút hứng thú nào đối với chức vụ cao cấp này vì nó quá thụ động so với tính khí của tôi. Kế hoạch đề xuất này và những vấn đề liên quan đến nó được thảo luận tự do tại nghị viện năm 1988. Vài năm sau đó, vào năm 1992, Thủ tướng Goh Chok Tong bổ sung hiến pháp chuẩn bị cho việc bầu cử chức vụ Tổng thống. Chúng tôi phải giữ thăng bằng giữa quyền lực của tổng thống và quyền lực tự do hợp pháp của thủ tướng cùng với nội các của ông. Khi các quốc gia Đông Á từ Hàn Quốc đến Indonesia bị tổn thất bởi cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, tham nhũng và chủ nghĩa gia đình trị làm tình trạng của họ càng thêm khốn khổ. Singapore khắc phục cuộc khủng hoảng tốt hơn vì không có nạn tham nhũng và không có sự tồn tại của chủ nghĩa gia đình trị, hai yếu tố vốn đã làm cho các quốc gia khác phải tổn thất hàng tỉ bạc. Trong đoạn viết về "xây dựng một chính phủ trong sạch" , Thủ tướng Lý Quang Diệu cũng dẫn chứng quyết tâm bài trừ tham nhũng của ông bằng việc thẳng tay cương quyết xử lý cả những đồng sự thân cận có dính líu đến tệ nạn này. Trong đó, nhiều vụ nổi bật gây xôn xao trên báo chí. Ví như vụ ông sa thải, tước bỏ mọi quyền hạn của Bộ trưởng Phát triển quốc gia - Tan Kia Gan, lúc đó là Giám đốc hãng hàng không Malaya, vì ông này mượn tay người khác đòi hoa hồng cho việc mua máy bay Boeing; Quốc vụ khanh của Bộ Môi trường năm 1975 là Wee Toon Boon cũng bị bắt giam và bị kết án 4 năm 6 tháng tù (sau đó được giảm nhẹ còn 18 tháng) vì tội nhận hối lộ. Đặc biệt là trường hợp của Teh Cheang Wan, Bộ trưởng Phát triển quốc gia, sau khi bị phát hiện tham nhũng, nhận hối lộ đã xin được gặp Lý Quang Diệu nhưng ông từ chối với lý do "không thể gặp cho đến khi nào cuộc điều tra kết thúc". Cuối cùng, Teh Cheang Wan đã tự sát để chuộc lỗi. (Theo "Bí quyết hoá rồng" của Lý Quang Diệu) |
Nhà nước đảng trị
Nhà nước đảng trị
(Trích dịch từ cuốn Giai Cấp Mới của Milovan Djilas)
(Trích dịch từ cuốn Giai Cấp Mới của Milovan Djilas)
1.
Cơ chế quyền lực cộng sản có thể là một cơ chế đơn giản nhất mà người ta có thể nghĩ ra được, kết quả là nó tạo ra những hình thức đàn áp tinh vi nhất và bóc lột dã man nhất.
Cơ chế này cực kì đơn giản, tại chóp bu của mọi hoạt động chính trị, kinh tế và tư tưởng là một đảng duy nhất, đảng của những người cộng sản. Xã hội dậm chân tại chỗ, hay vận động với tốc độ rùa bò hay lao vào những khúc quanh chóng mặt, tất cả phụ thuộc vào các quyết định của tổ chức đảng.
Vì vậy công dân trong các hệ thống cộng sản hiểu ngay điều gì được phép làm, còn điều gì thì không. Không phải là luật pháp mà là quan hệ bất thành văn giữa chính quyền và thần dân của nó đã trở thành “phương hướng hành động” chung cho tất cả mọi người.
Ai cũng hiểu rằng quyền lực, bất chấp luật pháp, nằm trong tay các tổ chức đảng và cảnh sát mật. “Vai trò lãnh đạo của đảng” không thấy ghi trong bất kì điều luật nào, nhưng lại thấm vào mọi tổ chức và mọi lĩnh vực hoạt động; không thấy ở đâu nói rằng cảnh sát mật của đảng có quyền theo dõi các công dân, nhưng cảnh sát vẫn là lực lượng đầy uy quyền; không có tài liệu nào nói rằng toà án và viện kiểm sát phải báo cáo với tổ chức đảng và cảnh sát mật, nhưng sự thật đã là như thế. Sự thật là như thế đối với nhiều người đã không còn là bí mật, đa số đều biết. Người ta cũng biết rằng cái gì được phép, cái gì bị cấm và ai có quyền cấm. Đấy là lí do vì sao người ta có thể thích ứng được với hiện thực và bất kì vấn đề gì họ cũng giải quyết với tổ chức đảng hoặc tổ chức nằm dưới sự lãnh đạo của tổ chức đảng.
Việc quản lí các tổ chức xã hội được thực hiện bằng một phương pháp đơn giản sau đây: các đảng viên ở đó thành lập đảng đoàn và đưa ra mọi quyết định sau khi đã thoả thuận với cấp lãnh đạo bên trên. Đấy chỉ là sơ đồ chung. Trong thực tế, nếu tổ chức do một người có quyền lực trong đảng lãnh đạo thì nó không cần phải thoả thuận về những vấn đề không quan trọng với ai hết. Ngoài ra, những đảng viên đã quen với hệ thống sẽ biết vấn đề nào là quan trọng, vấn đề nào không vì cấp trên chỉ quan tâm đến những vấn chung, có tính nguyên tắc hay có tính chất đặc biệt mà thôi. Đảng đoàn tồn tại để khi cần có tiếng nói cuối cùng của đảng, còn những người bầu ra tổ chức ấy nghĩ gì thì nó không thèm quan tâm.
Cội nguồn của phương pháp quản lí và thực thi quyền lực của đảng, cũng như của chế độ toàn trị cộng sản và giai cấp mới xuất phát từ giai đoạn chuẩn bị cách mạng của đảng. Chính những đảng đoàn trước đây đã phát triển, phân nhánh, hoàn thiện và đóng vai trò lãnh đạo trong các cơ quan chính quyền và tổ chức xã hội. Chính lí thuyết về vai trò tiên phong của đảng của giai cấp công nhân tạo ra “vai trò lãnh đạo của đảng” trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trước cách mạng, lí thuyết này đã trui rèn nên lực lượng cán bộ cho cách mạng, nay nó lại đóng vai trò biện hộ cho chế độ toàn trị của giai cấp mới. Thật ra cũng có một chút khác biệt. Trước đây, cách mạng và những hình thức của nó là việc không tránh khỏi, thậm chí là nhu cầu của bộ phận xã hội nhằm hướng đến tiến bộ kinh tế và kĩ thuật.
Nhưng thoát thai từ cách mạng, bạo lực toàn trị và ách thống trị của giai cấp mới đã trở thành núi đá đè lên xã hội, làm cho xã hội kiệt sức vì mất bao mồ hôi, xương máu. Một vài hình thức cách mạng đã trở thành phản động. Đảng đoàn là một trong những hiện tượng như thế.
Việc điều hành dưới chế độ cộng sản được bộ máy nhà nước thực hiện theo hai cách. Cách thứ nhất: theo chức năng như đã nói ở trên. Về nguyên tắc đây là phương pháp chủ yếu. Nhưng trên trên thực tế phương pháp thứ hai: một số chức vụ của chính quyền chỉ được giao cho các đảng viên lại hay được áp dụng. Đấy là những vị trí được coi là quan trọng đối với mọi chính quyền, đặc biệt là chính quyền cộng sản: cảnh sát, trước hết là cảnh sát mật, ngoại giao đoàn và tầng lớp sĩ quan, nơi công tác chính trị và tình báo được coi là công tác chủ yếu. Chỉ các cơ quan trung ương của ngành tư pháp mới bị kiểm soát một cách nghiêm ngặt: cơ quan này thuộc quyền các tổ chức đảng và cảnh sát nhưng lương thấp nên không hấp dẫn. Xu hướng chung là làm cho ngành này trở thành hấp dẫn hơn, có nhiều bổng lộc hơn để lôi kéo các đảng viên. Khi đó việc quản lí ngành tư pháp sẽ dễ dàng hơn hoặc thậm chí không cần thiết nữa: toà án sẽ xử theo đúng đường lối chung của đảng, nghĩa là theo đúng “tinh thần xã hội chủ nghĩa”.
Chỉ có trong chế độ cộng sản mới có việc một số ngành chức năng (đã liệt kê và cả những ngành khác nữa) mới bị các đảng viên hoàn toàn khống chế. Chính quyền cộng sản dù mang tính giai cấp về nội dung lại mang tính đảng về hình thức, quân đội của đảng, nhà nước do đảng lãnh đạo. Nếu nói cho thật đúng thì người cộng sản có xu hướng coi nhà nước và quân đội là vũ khí của riêng mình.
Dù không được thể hiện trên bất cứ tài liệu nào nhưng chỉ có đảng viên mới có quyền trở thành cảnh sát, sĩ quan quân đội, trở thành các nhà ngoại giao, nghĩa là các đảng viên và chỉ có các đảng viên mới có quyền giữ các chức vụ quyền lực, thực thi quyền lực, điều đó không chỉ tạo ra một tầng lớp quan liêu, tầng lớp ưu tú mà còn đơn giản hoá cơ chế quản lí. Bằng cách đó đảng đoàn đã bao gồm ở mức độ này hay mức độ khác tất cả những người làm việc trong các lĩnh vực này. Kết quả là các cơ quan đó trở thành một trong những bộ phận của công tác đảng, đảng đoàn biến mất.
Vì vậy trong các chế độ cộng sản không có sự khác biệt của các cơ quan đó với các tổ chức đảng, nhất là giữa đảng và cảnh sát mật. Đảng và cảnh sát liên hệ mật thiết với nhau trong hoạt động hàng ngày, sự khác nhau chỉ còn là phân công lao động. Đảng, có thời đã là người tổ chức quần chúng, thì nay đã trở thành một bộ máy.
Toàn bộ cơ chế quyền lực được thực hiện theo sơ đồ sau: các cơ cấu chính trị là đặc quyền của các đảng viên, các cơ quan ban ngành khác thì hoặc do các đảng viên nắm giữ hoặc bị họ kiểm soát một cách gắt gao. Chỉ cần ở trung ương diễn ra cuộc họp hoặc công bố một bài báo là toàn bộ bộ máy sẽ đi vào vận hành. Chỉ cần một nơi nào đó có trục trặc là đảng và cảnh sát sẽ can thiệp ngay.
2.
Nếu đảng cộng sản không phải là một đảng đặc biệt thì hình thức nhà nước đó không thể nào tồn tại được.
Trên kia đã nói đến tính chất đặc biệt của đảng cộng sản. Nhưng vẫn cần phải nói thêm một loạt biểu hiện đặc thù nữa ngõ hầu làm rõ bản chất của nhà nước cộng sản.
Đảng cộng sản là đảng đặc biệt không chỉ vì nó là đảng cách mạng, tập trung, có kỉ luật nhà binh, có những mục tiêu cụ thể... Tất cả những điều vừa nói đều là những tính chất đặc biệt của nó cả.
Có cả những đảng khác với những tính chất gần như thế.
Nhưng chỉ có trong đảng cộng sản thì sự thống nhất về tư tưởng, sự thống nhất về thế giới quan và quan điểm trong việc xây dựng xã hội mới là bắt buộc với mọi đảng viên. Dĩ nhiên là mệnh lệnh này chỉ là bắt buộc đối với các cơ quan đầu não, các cơ quan cấp cao mà thôi. Các cấp bên dưới về hình thức cũng phải tuân thủ sự thống nhất về tư tưởng nhưng thực ra trách nhiệm của họ chính là: thực thi các nghị quyết. Nhưng xu hướng chung là phải nâng cao trình độ của cấp dưới để họ luôn nắm được quan điểm của lãnh tụ.
Dưới thời Lenin sự bất đồng quan điểm vẫn còn được chấp nhận. Lenin không cho rằng tất cả các đảng viên đều bắt buộc phải có quan điểm hoàn toàn giống nhau, mặc dù chính ông là người khởi xướng việc lên án và loại bỏ khỏi hàng ngũ của đảng những quan điểm mà ông cho rằng không hoàn toàn mác-xít, hay thiếu tính đảng, nghĩa là những quan điểm mà theo ý ông là không có tác dụng củng cố đảng. Ông đã xử lí các nhóm đối lập trong đảng không phải theo kiểu của Stalin: không bắn giết mà chỉ bịt miệng. Dưới quyền ông người ta còn được thảo luận và biểu quyết. Chế độ toàn trị chưa hoàn toàn thắng thế.
Đối với Stalin thì sự thống nhất về tư tưởng, thống nhất về chính trị là điều kiện để trở thành đảng viên. Đấy là đóng góp trực tiếp của Stalin vào lí luận về đảng kiểu mới. Điều đáng chú ý là luận điểm về sự thống nhất tuyệt đối về tư tưởng được ông ta phát biểu ngay từ khi còn rất trẻ. Dưới triều Stalin sự thống nhất về tư tưởng là điều kiện bắt buộc của tất cả các đảng cộng sản và điều đó vẫn còn tác dụng cho đến tận hôm nay.
Các lãnh tụ Nam Tư, ban lãnh đạo Liên Xô cũng như các đảng cộng sản khác hiện vẫn giữ quan điểm như vậy. Sự kiên trì tính thống nhất về tư tưởng trong đảng không chỉ là dấu hiệu của sự trì trệ mà còn chứng tỏ rằng trong các ban “lãnh đạo tập thể” hiện nay không có sự trao đổi ý kiến hoặc rất ít khi có trao đổi ý kiến.
Sự thống nhất bắt buộc như vậy nói lên điều gì và sẽ dẫn đến đâu?
Sẽ dẫn đến hậu quả thật là tai hại.
Trước hết là bất kì đảng nào, đặc biệt là đảng cộng sản, quyền lực cũng nằm trong tay lãnh tụ hoặc các cơ quan lãnh đạo. Sự thống nhất là mệnh lệnh (đặc biệt là đối với đảng cộng sản, một đảng có kỉ luật theo kiểu nhà binh) nhất định sẽ dẫn tới việc bao cấp về tư tưởng của trung ương đối với các đảng viên thường. Nếu dưới thời Lênin tư tưởng chỉ được thống nhất sau các cuộc đấu tranh dữ dội ở các cấp cao nhất, thì Stalin bắt đầu tự mình quyết định tư tưởng nào là đúng, còn “ban lãnh đạo tập thể” hiện nay lại chỉ cần ngăn chặn không cho những tư tưởng mới xuất hiện là được. Chủ nghĩa Marx đã trở thành lí luận của các ông trùm cộng sản như thế đấy. Một chủ nghĩa Marx hoặc chủ nghĩa cộng sản khác không thể nào xảy ra được, trong hiện tại và có thể cả trong tương lai nữa.
Hậu quả của sự thống nhất về tư tưởng thật là tai hại: nền chuyên chế của Lenin dĩ nhiên là khắc nghiệt, nhưng nó chỉ trở thành toàn trị dưới trào Stalin. Việc chấm dứt cuộc đấu tranh tư tưởng trong nội bộ đảng đã dẫn đến sự tiêu diệt tự do trong toàn xã hội. Sự bất dung đối với các trào lưu tư tưởng khác và việc khăng khăng khẳng định tính khoa học giả tạo của chủ nghĩa Marx-Lenin đã tạo ra sự độc quyền tư tưởng của ban lãnh đạo chóp bu của đảng và cuối cùng là sự thống trị tuyệt đối của nó đối với xã hội.
Thống nhất về tư tưởng thực chất là sự đè nén mọi sáng kiến không chỉ trong phong trào cộng sản mà trong toàn xã hội nữa. Tất cả những gì mang tính mới mẻ đều phải được đảng cho phép, xã hội bị đặt hoàn toàn dưới sự giám sát của đảng, còn trong đảng thì không có chút tự do nào.
Sự thống nhất về tư tưởng không xảy ra ngay lập tức, điều đó, cũng như những điều khác trong chế độ cộng sản đã phát triển một cách tuần tự và nó chỉ đạt được sức mạnh tuyệt đối khi các xu hướng khác nhau của phong trào đấu tranh quyết liệt với nhau để giành quyền lực. Và không phải vô tình mà vào giữa những năm 20 của thế kỉ XX chính Trotsky bị yêu cầu từ bỏ quan điểm của mình. Stalin bắt đầu tập hợp lực lượng.
Sự thống nhất về tư tưởng là cơ sở của độc tài cá nhân, thiếu sự thống nhất đó thì độc tài cá nhân không thể nào tồn tại được. Cái này tạo ra cái kia và củng cố lẫn nhau. Điều này được giải thích như sau: tư tưởng là kết quả của sự suy tư sáng tạo của từng cá nhân riêng biệt, còn sự độc quyền tư tưởng chỉ là mặt nạ của chế độ độc tài. Mặc dù sự thống nhất về tư tưởng và chế độ độc tài đã song song tồn tại ngay từ khởi thủy của phong trào bolshevik, phong trào cộng sản hiện đại, nhưng chúng chỉ được củng cố khi chế độ bước vào giai đoạn trưởng thành và sẽ là xu hướng chủ đạo cho đến ngày diệt vong của chế độ đó.
Việc diệt trừ các quan điểm khác nhau trong ban lãnh đạo đảng tự động dẫn đến việc loại bỏ các trào lưu, xu hướng trong nội bộ phong trào và như vậy đồng nghĩa với việc giết chết dân chủ trong các đảng cộng sản. Trong chế độ cộng sản “lãnh tụ là người biết tuốt” đã trở thành nguyên tắc: những kẻ có quyền dù ngu dốt đến đâu cũng đều trở thành nhà tư tưởng hết.
Khi người ta tiến hành các biện pháp nhằm tăng cường sự thống nhất về tư tưởng trong đảng cũng là lúc sự độc tài cá nhân hay độc tài của một nhóm những kẻ cầm đầu đang được củng cố. Nhóm này có thể tạm thời thoả thuận với nhau hoặc cùng tồn tại khi có sự cân bằng lực lượng tạm thời.
Trong quá khứ người ta đã từng thấy xu hướng thống nhất về tư tưởng của các đảng khác nữa, đặc biệt là các đảng xã hội. Nhưng đây chỉ là xu hướng và cũng không kéo dài như những đảng cộng sản. Đảng viên không chỉ là một người mác-xít mà phải là mác-xít theo quan điểm và chỉ thị từ trung ương. Từ một tư tưởng có tính cách mạng và tự do, chủ nghĩa Marx đã trở thành một giáo lí không khác gì trong các chế độ độc tài phương Đông, nơi vương triều có toàn quyền qui định và giải thích giáo lí, còn nhà vua đóng luôn vai trò Giáo Chủ.
Sự thống nhất bắt buộc về tư tưởng, đã phát triển qua nhiều giai đoạn và mang nhiều hình thức khác nhau, đã và vẫn là đặc điểm cơ bản của đảng bolshevik.
Nhưng sự thống nhất bắt buộc như thế sẽ không thể nào xảy ra được nếu như đảng không phải là cha đẻ của giai cấp mới và nếu như nó không đặt ra cho mình nhiệm vụ lịch sử chưa từng có.
Lịch sử hiện đại chưa có giai cấp nào hay đảng phái nào thực hiện được sự thống nhất tuyệt đối về tư tưởng trong hàng ngũ của mình như đảng cộng sản. Nhưng ngoài họ thì cũng chưa ai có ý định cải tạo toàn bộ xã hội chủ yếu bằng các biện pháp chính trị và hành chính. Chỉ có những người có niềm tin tuyệt đối, có niềm tin mù quáng vào sự đúng đắn và trong sáng của các quan điểm và mục đích của mình mới dám làm những việc như vậy. Nhiệm vụ này khó khăn đến nỗi nó đòi hỏi không chỉ thái độ không khoan nhượng đối với các tư tưởng khác và các nhóm xã hội khác mà còn đòi hỏi sự khuất phục của toàn xã hội và sự cố kết của chính giai cấp cầm quyền. Đấy chính là lí do vì sao đảng cộng sản cần một sự ổn định vững chắc về tư tưởng.
Sau khi đã đạt được rồi, sự thống nhất về tư tưởng sẽ trở thành một định kiến. Người cộng sản được dạy rằng thống nhất về tư tưởng (thực ra là các tư tưởng được truyền từ trên xuống) là điều thiêng liêng bất khả xâm phạm, bè phái trong đảng là hoạt động xấu xa nhất.
Như vậy là không thể tạo được chế độ toàn trị nếu không đàn áp các nhóm xã hội khác, cũng như sự thống nhất về tư tưởng không thể xảy ra được nếu không tiến hành thanh trừng ngay trong hàng ngũ của mình. Hai quá trình này diễn ra đồng thời và quyện chặt vào nhau một cách “khách quan” trong nhận thức của những người sáng lập chế độ toàn trị, mặc dù đấy là hai việc khác nhau, một đằng là tiêu diệt kẻ thù và mặt khác là “giải quyết quan hệ” trong nội bộ. Dĩ nhiên Stalin biết rằng Trotsky, Bukharin hay Dinoviev không phải là gián điệp hay những kẻ phản bội. Nhưng việc họ bất đồng với ông ta đã tạo nhiều khó khăn cho việc thiết lập chế độ toàn trị và ông ta phải tiêu diệt họ, tất cả chỉ có thế mà thôi. Tội lỗi của ông ta đối với đảng chính là ông ta đã biến sự tranh chấp, bất đồng khách quan về tư tưởng và đường lối chính trị trong đảng thành tội lỗi chủ quan của từng người và từng nhóm khác nhau và vu cho họ những hành động tội ác mà họ không phạm.
Nhưng đối với chế độ cộng sản thì đấy là con đường bắt buộc phải đi qua. Có thể thiết lập chế độ toàn trị, nghĩa là tạo ra sự thống nhất về tư tưởng, bằng những biện pháp mềm dẻo hơn biện pháp mà Stalin đã áp dụng, nhưng thực chất vẫn chỉ là một. Ngay cả trong những trường hợp khi mà công nghiệp hoá không phải là biện pháp cũng như điều kiện để tạo ra chế độ toàn trị - Tiệp và Hung là những thí dụ - thì đảng cộng sản vẫn áp dụng những biện pháp không khác gì những biện pháp được áp dụng ở các nước chậm phát triển, thí dụ như Liên Xô. Đấy không phải là do Liên Xô áp đặt cho các đảng đàn em mà là bản chất của các đảng cộng sản, bản chất của tư tưởng cộng sản. Quyền lực tối thượng của đảng đối với xã hội, đồng nhất chính quyền và bộ máy quyền lực với đảng, chỉ những cấp nào đó mới được quyền có tư tưởng là những đặc thù của tất cả các đảng cộng sản cầm quyền.
Đảng là sức mạnh của chính quyền và nhà nước cộng sản. Đảng là người tạo nên tất cả, là cội nguồn và sức mạnh cố kết giai cấp mới, quyền lực, tài sản và tư tưởng của giai cấp ấy.
Chính vì vậy mà trong chế độ cộng sản không thể xảy ra độc tài quân sự mặc dù ở Liên Xô có vẻ như đã từng có các âm mưu cướp quyền của giới tướng lĩnh. Nếu giả dụ chế độ độc tài quân sự có thuyết phục được xã hội về sự cần thiết phải tập trung toàn bộ sức mạnh và chấp nhận hi sinh trong một thời gian nào đó thì nó cũng không thể kiểm soát được toàn bộ xã hội. Chỉ có một đảng duy nhất làm được chuyện đó, đấy là đảng tuyên truyền cho những lí tưởng cao cả, sự độc đoán chuyên quyền của nó được các đảng viên và tất cả những ai tin vào lí tưởng ấy coi không những là cần thiết mà còn là hình thức tổ chức nhà nước, tổ chức xã hội cao nhất.
Nếu xét theo khía cạnh tự do thì độc tài quân sự trong chế độ cộng sản là một tiến bộ lớn. Nó đồng nghĩa với việc cáo chung của chế độ toàn trị của đảng, của nhóm chóp bu nắm quyền của đảng đối với xã hội.
Về lí thuyết, độc tài quân sự chỉ xảy ra khi đất nước gặp thất bại năng nề về quân sự hoặc có khủng hoảng chính trị nghiêm trọng. Lúc đó hình thức khởi thuỷ của nó sẽ là độc tài của đảng hay dưới danh nghĩa độc tài của đảng. Nhưng điều đó nhất định sẽ dẫn tới sự thay đổi của toàn bộ hệ thống.
Chế độ độc tài toàn trị của nhóm đầu sỏ trong đảng trong các chế độ cộng sản không phải là kết quả nhất thời của cuộc tranh chấp chính trị mà là kết quả của một quá trình phức tạp và kéo dài. Sự cáo chung của chế độ độc tài không chỉ có nghĩa là sự thay thế hình thức cai trị này bằng hình thức cai trị khác mà còn là sự thay đổi, đúng hơn là khởi đầu của sự thay đổi của cả hệ thống. Nền chuyên chính của đảng chính là hệ thống, là linh hồn, trí tuệ và bản chất của cả hệ thống.
3.
Trong chế độ cộng sản, quyền lực tập trung vào tay một nhóm rất nhỏ các lãnh tụ và cái gọi là chuyên chính vô sản chỉ còn là những lời sáo rỗng mà thôi. Chính lí thuyết về vai trò tiên phong của giai câp vô sản đã góp phần làm nên chuyện đó.
Không nghi ngờ gì rằng trong giai đoạn đấu tranh giành quyền lực, đảng đã là lãnh tụ thực sự của quần chúng lao động, đã bảo vệ quyền lợi của họ. Nhưng ngay từ bấy giờ vai trò và vị trí của đảng đã đồng thời là những giai đoạn và hình thức để tiến đến quyền lực của chính mình. Giai cấp công nhân đã được lợi, nhưng đảng cũng được củng cố để trở thành người nắm quyền và hạt nhân của giai cấp mới. Ngay khi giành được quyền lực, đảng - làm như mình là hiện thân quyền lợi của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động - ngay lập tức “khoác vào mình toàn bộ gánh nặng” của chính quyền và không quên kiểm soát luôn toàn bộ tài sản quốc gia. Sự tham gia và vai trò của giai cấp vô sản, ngoại trừ giai đoạn đấu tranh cách mạng ngắn ngủi lúc đầu, về thực chất cũng không khác gì các giai cấp khác.
Điều đó không có nghĩa là giai cấp vô sản, đúng hơn là một bộ phận của nó, trong những giai đoạn nhất định không ủng hộ đảng. Những người nông dân hi vọng rằng công nghiệp hoá sẽ đưa họ ra khỏi tương lai tăm tối cũng đã bị gạt ra rìa hệt như thế.
Việc có những giai đoạn nhân dân lao động đã ủng hộ đảng không có nghĩa là, thứ nhất, nhân dân nắm được quyền lực và thứ hai, việc tham gia của họ có ảnh hưởng quyết định đến quá trình phát triển của xã hội và các quan hệ xã hội. Trong chế độ cộng sản không có quá trình nào trong những quá trình từng được thực hiện lại có tác dụng củng cố quyền làm chủ của quần chúng lao động nói chung và của giai cấp vô sản nói riêng.
Không thể nào xảy ra khác đi được.
Các giai cấp và các đám đông không thực thi các chức năng của quyền lực, các chính đảng thay mặt họ làm chuyện này. Ngay cả các đảng dân chủ nhất thì vai trò quan trọng nhất vẫn thuộc về các lãnh tụ, như vậy nghĩa là quyền lực của đảng bao giờ cũng là quyền lực của các lãnh tụ.
Cái gọi là chuyên chính vô sản, trong trường hợp tốt nhất cũng là quyền lực của đảng và sau đó nhất định trở thành quyền lực của các lãnh tụ đảng. Còn hiện ta đang thảo luận về chính quyền toàn trị thì chuyên chính vô sản chỉ còn là sự biện hộ về mặt lí luận, là cái mặt nạ che đậy cho sự chuyên chế của một số lãnh tụ đầu sỏ. Đấy là nói trường hợp tốt nhất.
Marx coi chuyên chính vô sản như là nền dân chủ trong nội bộ giai cấp vô sản và dành cho giai cấp vô sản, nghĩa là một chế độ trong đó tồn tại nhiều xu hướng và đảng phái xã hội chủ nghĩa. Công xã Paris năm 1871 là nền chuyên chính vô sản duy nhất thời Marx và ông đã dựa vào kinh nghiệm của nó để đưa ra kết luận của mình, nhưng Công xã là chính quyền đa đảng và những người mác-xít không đóng vai trò quan trọng cả về số lượng lẫn ảnh hưởng. Chuyên chính vô sản, nếu nói về sự thực thi quyền lực của cả giai cấp, chỉ là một giả tưởng vì quyền lực bao giờ cũng được thực thi thông qua các tổ chức. Lenin đã biến chuyên chính vô sản thành quyền lực của một đảng, còn Stalin thì biến nó thành quyền lực của riêng mình, biến thành nền độc tài cá nhân cả trong đảng và trong chính quyền. Sau cái chết của nhà độc tài cộng sản những người kế tục ông ta cảm thấy vô cùng vui mừng vì thông qua “lãnh đạo tập thể” họ có thể chia nhau quyền lực. Như vậy là trong tất cả các trường hợp vừa xét, chuyên chính vô sản chỉ là một giả tưởng hoặc là quyền lực của một số lãnh tụ đảng nhất định.
Lenin tin rằng Xô Viết là hình thức của chính quyền chuyên chính vô sản mà Marx từng nghĩ tới. Khởi kì thuỷ các Xô Viết, nhờ vào sáng kiến cách mạng và sự tham gia đông đảo của quần chúng đã tạo cho người ta cảm tưởng như thế. Trotsky cũng cho rằng Xô Viết có ý nghĩa thời đại tương tự như các cơ quan lập pháp trong cuộc đấu tranh với chế độ chuyên chế. Nhưng đấy chỉ là ảo tưởng. Từ những tổ chức cách mạng, Xô Viết đã thoái hoá thành hình thức chính quyền chuyên chế toàn trị của giai cấp mới, của đảng cầm quyền.
Chủ nghĩa tập trung dân chủ của Lenin cũng có diễn biến tương tự. Khi trong đảng còn có, dù ít dù nhiều, những cuộc tranh luận thì dù chưa thật dân chủ, ta vẫn có thể coi như có một chủ nghĩa như vậy. Sau khi chế độ toàn trị đã hoàn toàn thắng lợi, tập trung dân chủ chỉ còn là những từ ngữ sáo rỗng che đậy bản chất của nó là sự tuỳ tiện của tầng lớp chóp bu đương quyền mà thôi.
Từ những nguyên nhân đã nói ở trên có thể rút ra kết luận: việc biến chuyên chính của đảng thành độc tài cá nhân là quá trình bất khả kháng. Sự thống nhất về tư tưởng, mâu thuẫn không tránh khỏi của nhóm cầm quyền và nhu cầu của hệ thống nói chung nhất định sẽ đưa tới độc tài cá nhân. Lãnh tụ đảng, người đứng trên đỉnh cao nhất của quyền lực chính là kẻ thể hiện và bảo vệ một cách kiên định nhất quyền lợi của giai cấp mới.
Các điều kiện lịch sử cũng là nhân tố giúp cho việc thiết lập và củng cố nền độc tài cá nhân: nhu cầu đẩy nhanh công nghiệp hoá cũng như chiến tranh đòi hỏi mọi người phải có chung một ý chí, phải thống nhất hành động. Chúng ta có thể kể thêm một nguyên nhân nữa, nguyên nhân đặc biệt của chủ nghĩa cộng sản: đối với từng đảng viên và cả phong trào cộng sản thì chính quyền, quyền lực là mục đích chính và cũng là phương tiện chính. Người cộng sản khát khao quyền lực như nắng hạn khát mưa. Câu: “Được làm vua thua làm giặc” thể hiện đúng bản chất họ.
Vấn đề có thể còn là sự xa hoa của các lãnh tụ cộng sản nữa, họ không cưỡng được chuyện này không chỉ vì đấy là điểm yếu của con người nói chung mà còn vì nhu cầu thể hiện sức mạnh và hơn nữa ma lực của quyền sinh quyền sát đối với đồng loại, một loại nghệ thuật mà chỉ những người đặc biệt mới có.
Thói bon chen, ưa xa hoa, tham quyền. Phải kể thêm là tham nhũng nữa. Đây không phải là tham quan ô lại, chuyện này bây giờ có thể ít hơn chế độ cũ. Đây là loại tham nhũng đặc biệt: khi quyền lực nằm dưới quyền kiểm soát của một đảng, mà đảng ấy lại là nguồn gốc của tất cả đặc quyền đặc lợi, thì việc “quan tâm đến các chiến hữu”, việc bổ nhiệm họ vào những chức vụ có lợi, việc phân phối phúc lợi các kiểu giữa các đảng viên với nhau phải trở thành việc đương nhiên. Việc đồng nhất chính quyền và đảng với nhà nước (thực ra là với sở hữu) đã làm cho nhà nước cộng sản trở thành, có thể nói, nhà nước tự-tham-nhũng, nhất định kèm theo đặc quyền đặc lợi và những kẻ ăn bám.
Một đảng viên đảng cộng sản Nam Tư đã mô tả trạng thái tâm lí của một đảng viên thường như sau: “Nói một cách chân thành thì tôi như bị xé làm ba phần: tôi ghen với những người có ô tô đẹp hơn tôi vì tôi cho rằng họ cống hiến cho đảng và cho chủ nghĩa ít hơn tôi; tôi nhìn những người không có ô tô và nghĩ: đúng rồi - công lao ít; dù sao mặc lòng, tôi cảm thấy hạnh phúc vì nói gì thì nói tôi cũng có ô tô riêng”
Người này đúng ra không thể coi là đảng viên chân chính. Anh ta thuộc loại tin vào lí tưởng và tham gia phong trào nhưng sau đó đã thất vọng, chỉ còn coi đảng là nấc thang danh vọng mà thôi. Người cộng sản chân chính phải là hai trong một: cuồng tín và ham quyền lực vô bờ bến. Những người khác chỉ có thể được coi là những gã háo danh hoặc những người say mê lí tưởng mà thôi.
Trên mọi nấc thang của hệ thống cộng sản ta đều thấy tính chất quan liêu và được phân chia theo ngôi thứ rõ ràng. Khắp nơi đều có các nhóm mà người ngoài khó thâm nhập vào được và tất cả các nhóm đó đều châu tuần xung quanh các lãnh tụ hoặc ban lãnh đạo cấp trên. Tất cả hoạt động chính trị tựu trung chỉ là giải quyết mâu thuẫn giữa các nhóm ấy với nhau, ở đâu cũng có sự bao che, bè phái. Càng lên cao thì các mối ràng buộc gia đình, dòng họ càng mạnh. Các vần đề quốc kế dân sinh quan trọng nhiều khi được giải quyết trong bữa ăn hay các cuộc đi săn hoặc thảo luận chỉ có ba bốn người. Các cuộc hội nghị đảng, các cuộc họp của chính phủ hay quốc hội chỉ có tính chất trình diễn, được tổ chức nhằm hợp thức hoá các vấn đề đã được quyết định “trong xó bếp” từ lâu. Những người cộng sản coi quyền lực (của mình, dĩ nhiên rồi) như một bái vật cho nên khi những người ấy, đúng hơn phải nói những gia đình ấy, có mặt ở đâu đó như là những quan chức nhà nước thì ta thấy họ có ngay những bộ mặt lạnh lùng, xa cách và long trọng.
Đúng là chế độ chuyên chế, chỉ một chút khác biệt: ít kiến thức.
Chính hoàng đế, chính nhà độc tài cũng không nhận thức được rằng mình là độc tài, là hoàng đế. Stalin đã cười nhạo khi có người gọi ông ta là nhà độc tài. Ông ta cảm thấy mình chỉ là người đại diện cho ý chí tập thể của đảng. Ở khía cạnh nào đó thì ông ta cũng có lí, mặc dù có thể lịch sử chưa từng biết đến người nào có nhiều quyền lực hơn ông. Đơn giản là cũng như mọi nhà độc tài cộng sản khác, ông ta hiểu rằng chỉ cần xa rời các nguyên tắc tư tưởng cơ bản của đảng, xa rời sự độc quyền của giai cấp mới, xa rời chế độ toàn trị là ông ta sẽ bị lật đổ ngay. Là người tạo ra và cũng là đại diện thông minh nhất của hệ thống không bao giờ ông ta lại làm như thế. Nhưng Stalin cũng là người phụ thuộc vào hệ thống do chính ông ta lập ra, cũng phụ thuộc vào “ý kiến chung” của nhóm đầu sỏ nắm quyền. Ông ta không thể sống thiếu họ, cũng không thể chống lại họ.
Dù có vẻ kì quặc nhưng sự thật vẫn là: trong hệ thống cộng sản ngay cả cấp cao nhất, ngay cả lãnh tụ, tất cả đều không có tự do. Mọi người phụ thuộc lẫn nhau và đều phải rất thận trọng: làm sao không tách khỏi không khí chung, quan điểm chung, quyền lợi chung, cách hành xử chung.
Sau những điều đã trình bày ta còn có thể nói về chuyên chính vô sản được không?
4.
Lí thuyết của Lenin, được Stalin và những người khác bổ sung, đã đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố chế độ chuyên chế đảng trị. Có hai luận điểm quan trọng quyện chặt lấy nhau trong lí thuyết này: lí thuyết về nhà nước và luận điểm về sự cáo chung của chính nhà nước. Được trình bày đầy đủ nhất trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng do Lenin viết trong thời kì trốn tránh Chính phủ lâm thời, lí thuyết này cũng như toàn bộ chủ nghĩa Lenin đều dựa trên khía cạnh cách mạng của chủ nghĩa Marx về vấn đề nhà nước (có sử dụng nhiều kinh nghiệm của cuộc cách mạng Nga lần thứ I – năm 1905) và được các lãnh tụ cộng sản khác bổ xung thêm sau này. Từ quan điểm lịch sử, tác phẩm Nhà nước và cách mạng là vũ khí tư tưởng quan trọng của chính cách mạng chứ không phải cơ sở lí thuyết để xây dựng chính quyền mới.
Lenin coi nhà nước chỉ là biện pháp cưỡng chế, đúng hơn là cơ chế đàn áp của một giai cấp đối với các giai cấp khác trong xã hội. Lenin từng đưa ra định nghĩa ngắn gọn: “Nhà nước-dùi cui”
Điều đó không có nghĩa là các chức năng khác của nhà nước đã bị bỏ qua, nhưng ngay ở đây Lenin cũng tìm thấy vai trò chủ yếu của nhà nước: biện pháp đàn áp của giai cấp này đối với các giai cấp khác.
Nếu lí thuyết của Lenin về nhà nước có nhiệm vụ phá huỷ bộ máy nhà nước cũ và để chuẩn bị làm việc đó phải bóc hết những gì không phải là bản chất của nhà nước đi, thì lí thuyết đó còn xa mới có thể gọi là một khoa học.
Tác phẩm rất quan trọng này của Lenin, theo quan điểm lịch sử, tiếp tục truyền thống của lí luận cộng sản: các kết luận và quan điểm có vẻ khoa học thực ra được hình thành từ nhu cầu trực tiếp của đảng; một nửa chân lí được tuyên bố là chân lí. Không nghi ngờ gì rằng cưỡng chế và đàn áp là một phần máu thịt của mọi nhà nước, còn bộ máy nhà nước thì bị những lực lượng chính trị và xã hội khác nhau sử dụng (nhất là khi có xung đột võ trang). Nhưng từ kinh nghiệm của mình, mỗi người đều biết rằng xã hội, dân tộc cần bộ máy nhà nước để phát triển và phối hợp các chức năng khác nhau. Học thuyết cộng sản, trong đó có lí thuyết của Lenin đã bỏ qua khía cạnh này.
Trong thời quá khứ xa xôi đã có những cộng đồng không cần nhà nước và chính quyền. Không thể gọi đấy là xã hội vì đấy chỉ mới là giai đoạn chuyển tiếp từ tình trạng bán khai mông muội sang xã hội loài người. Nhưng ngay cả các cộng đồng đó cũng đã có những hình thức quyền lực nhất định. Lại càng ngây thơ khi cho rằng trong tương lai với cơ cấu xã hội ngày càng phức tạp hơn, nhu cầu về nhà nước sẽ biến mất. Lenin (dựa vào uy tín của Marx, thực ra về vấn đề này Marx ủng hộ những người vô chính phủ) đã nêu ra và biện giải cho một xã hội như thế, xã hội không còn nhà nước. Hãy để sang một bên tính chính đáng của các tiền đề, ta thấy ngay đấy là giấc mơ về một xã hội cộng sản phi giai cấp của ông. Nếu theo lí thuyết này thì vấn đề rất đơn giản: không còn giai cấp và đấu tranh giai cấp, không còn ai để áp bức, bóc lột nữa thì nhà nước dĩ nhiên là không cần. Trước khi đến đó thì “chuyên chính vô sản” là hình thức nhà nước “dân chủ nhất”, lí do: nó thủ tiêu các giai cấp và vì vậy sẽ dần dần trở thành không cần thiết nữa. Như vậy là mọi hành động nhằm tăng cường nền chuyên chính vô sản, nghĩa là dẫn tới “thủ tiêu” các giai cấp đều được coi là chính đáng, tiến bộ, đều đưa người ta tiến dần đến tự do cả. Đấy là lí do vì sao khi chưa giành được chính quyền thì những người cộng sản đòi hỏi phải có những hình thức dân chủ nhưng chỉ cần giành được chính quyền là họ lập tức đàn áp mọi yêu cầu tự do mà họ gọi là “tư sản”. Đấy là lí do vì sao hiện nay họ vẫn khăng khăng phân biệt “dân chủ tư sản” và “dân chủ xã hội chủ nghĩa” mặc dù đáng ra phải phân biệt về số lượng, nghĩa là tự do bao hàm những lĩnh vực nào.
Lí thuyết của Lenin nói riêng và của chủ nghĩa cộng sản về nhà nước chứa đầy khiếm khuyết: cả về khoa học cũng như trên thực tế. Chính cuộc sống đã bác bỏ lời tiên đoán của Lenin: “chuyên chính vô sản” không những không thủ tiêu các giai cấp mà chính nó cũng không có ý định tự tiêu vong. Đáng lẽ ra việc thiết lập chế độ toàn trị cộng sản sau khi đã tiêu diệt hết các giai cấp của xã hội cũ phải đem lại cho các nhà cầm quyền một sự “an bình” nhất định vì mục đích là tiêu diệt hoàn toàn các giai cấp đã cận kề. Nhưng không, sức mạnh của nhà nước (trước hết là các cơ quan chuyên chính) không những không giảm mà còn tăng thêm không ngừng.
Để che đậy thiếu sót về lí luận, Stalin đã phải và víu nó bằng cách bịa ra vai trò “giáo dục” ngày càng cao của nhà nước Xô Viết.
Nếu qui lí thuyết cộng sản về nhà nước, chưa nói đến thực tế, chỉ là cưỡng chế và đàn áp như là chức năng chủ yếu, nếu không nói là chức năng duy nhất, thì từ quan điểm của Stalin có thể thấy vai trò to lớn của cảnh sát, kể cả trong lĩnh vực giáo dục nữa. Rõ ràng chỉ những kẻ ác tâm mới có thể nghĩ như thế. Và ở đây, lí luận của Stalin là chỗ trú thân cho một nửa chân lí của cộng sản: không thể giải thích được tại sao trong “xã hội chủ nghĩa đã hoàn thành” sức mạnh và sự áp bức của bộ máy nhà nước ngày càng được tăng cường thêm, ông ta liền cho một trong những chức năng chủ yếu của nhà nước là giáo dục. Đàn áp không còn hợp thời nữa: các giai cấp đối kháng đã không còn, đàn áp giai cấp phải chấm dứt.
Lí luận “tự quản” do các lãnh tụ Nam Tư đưa ra cũng có chung số phận. Khi mâu thuẫn với Stalin đạt đỉnh điểm, họ phải nghĩ ra một cái gì đó để “sửa chữa” các “lệch lạc” của ông ta và khởi đầu sự “tiêu vong” của nhà nước. Nhưng điều đó không cản trở họ cũng như Stalin chăm bẵm lực lượng đàn áp, chăm bẵm cái chức năng, theo lí thuyết của họ là tối thượng của bộ máy nhà nước.
Điều đặc biệt là ngược lại với lí luận về sự “tiêu vong”, chức năng của nhà nước ngày càng mở rộng và phân nhánh cùng với số người tham gia vào bộ máy ngày một đông hơn. Nhận thức được rằng vai trò của bộ máy nhà nước sẽ ngày càng mở rộng và phức tạp thêm (dù xã hội đã chuyển sang giai đoạn “phi giai cấp”, giai đoạn “cộng sản), Stalin quyết định rằng nhà nước sẽ tiêu vong khi tất cả các công dân đều sẵn sàng nhận những công việc của ông ta, đạt đến trình độ của ông ta. Lenin cũng từng nói tới giai đoạn khi một bà nấu bếp cũng đảm đương vai trò quản lí nhà nước. Như chúng ta đã thấy các lí thuyết tương tự như của Stalin từng hiện diện tại Nam Tư. Nhưng không lí thuyết nào có thể san bằng được cách biệt giữa giáo điều cộng sản về nhà nước, nghĩa là sự “tiêu vong” các giai cấp và “tiêu vong” của nhà nước trong chế độ “xã hội chủ nghĩa” của họ với chế độ đảng trị-toàn trị trên thực tế.
Vấn đề quan trọng nhất, cả về phương diện lí thuyết và phương diện thực tiễn của chủ nghĩa cộng sản là vấn đề nhà nước, và đây chính là nguồn gốc của mọi rắc rối và những mâu thuẫn ngày một rõ.
Vì nhà nước không chỉ là - rất ít khi chủ yếu là - bộ máy đàn áp (trừ chế độ cộng sản, đây chính là một hình thức nội chiến giữa nhân dân và những kẻ đương chức đương quyền), nên bộ máy nhà nước cũng như toàn xã hội luôn nằm trong tình trạng chống đối, khi thăng khi giáng, tầng lớp chóp bu, một tầng lớp ngấm ngầm muốn biến bộ máy nhà nước thành một kẻ chỉ chuyên làm việc cưỡng bức. Cộng sản đã không hoàn thành được việc đó, cũng như họ không thể nô dịch được toàn bộ xã hội. Nhưng họ đã thiết lập được sự kiểm soát của các cơ quan chuyên chính - cảnh sát và đảng - lên toàn bộ bộ máy nhà nước và các công việc mà bộ máy này thực hiện. Vì vậy việc phản ứng của các cơ quan chính phủ đối với “sự thiếu cảm thông” từ phía đảng, công an hoặc các nhân vật cụ thể trên thực tế chính là phản ứng của xã hội, chính là sự chống đối của xã hội được thể hiện thông qua bộ máy nhà nước trước những o ép và coi thường các nhu cầu và ước vọng của nhân dân.
Ngay cả trong chế độ cộng sản, nhà nước và vai trò của nó cũng không chỉ là các cơ quan chuyên chính và không đồng nhất với các cơ quan này. Khi nhà nước như một cách tổ chức đời sống của nhân dân, của xã hội, chịu phục tùng các chủ thể này nghĩa là nhà nước nằm trong nhà nước. Chế độ cộng sản không thể giải quyết được mâu thuẫn đó vì tính toàn trị của nó luôn luôn xung đột với những xu hướng khác, trái ngược hoàn toàn với sự áp chế mà các chức năng khác của nhà nước có thể đảm nhiệm.
Milovan Djilas

Từ trái qua phải: Rantovic, Tito và Djilas. Ảnh chụp năm 1942, thời còn là đồng chí, sống chết có nhau. Sau 1945, Tito trở thành chủ tịch nhà nước Nam Tư, Rankovic nắm ngành an ninh, tình báo, Djilas là phó chủ tịch nhà nước. Sau khi viết cuốn Giai Cấp Mới, Djilas bị Tito kết án 9 năm tù.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)














