16/8/10

Ứng xử của Việt Nam khi Mỹ quan tâm đến vấn đề Biển Đông

image001



Đức Tâm (RFI)

Theo Chiến lược An ninh Quốc gia Mỹ được công bố hồi tháng năm vừa qua, liên quan đến châu Á-Thái Bình Dương, Hoa Kỳ chủ trương thúc đẩy các lợi ích chung thông qua các quan hệ liên minh, củng cố vai trò của các tổ chức đa phương, đặc biệt là Hiệp hội Đông Nam Á, ASEAN, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương, Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á.
Trong tinh thần này, ngoại trưởng Mỹ bà Hillary Clinton sẽ sang Việt Nam tham dự Diễn đàn Khu vực châu Á, ARF, được tổ chức từ 19 đến 23/07/2010. ARF là diễn đàn an ninh quan trọng nhất trong khu vực.
Sự kiện chính quyền Mỹ quan tâm trở lại đến vấn đề an ninh khu vực châu Á vào lúc vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông giữa Trung Quốc và nhiều quốc gia Đông Nam Á đang có xu hướng căng thẳng lên. Cụ thể giữa Việt Nam và Trung Quốc trong hồ sơ Hoàng Sa, giữa Trung Quốc với Bruneil, Đài Loan, Malaysia, Philippines và Việt Nam trong hồ sơ Trường Sa. Bên cạnh đó, Bắc Kinh còn đưa ra yêu sách “đường lưỡi bò” với tham vọng kiểm soát tới 80% diện tích Biển Đông.
Về phần mình, Hoa Kỳ công khai tuyên bố không đứng về bên nào trong tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông nhưng nhấn mạnh rằng quyền tự do thông thương hàng hải phải được tôn trọng.
Trong bối cảnh, đó, nên hiểu thái độ của Mỹ như thế nào và ứng xử của Việt Nam ra sao trước sự lấn lướt của Trung Quốc tại Biển Đông ? Sau đây là phân tích của giáo sư Vũ Hồng Lâm – Alexandre Vuving, thuộc Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương – Hawaii.
* * *
I- Diễn đàn Khu vực châu Á ARF và thông điệp của Mỹ
Sự hiện diện của ngoại trưởng Mỹ tại ARF đưa ra hai thông điệp. Thứ nhất là Mỹ coi trọng khu vực Đông Nam Á. Thứ hai, Mỹ coi ARF là một diễn đàn đa phương quan trọng về an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Cả hai điều này đều được thể hiện trong bản Chiến lược An ninh Quốc gia mới công bố của Mỹ.
II- Về lập trường của Mỹ trong tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông

Đứng ngoài các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa các bên thứ ba là lập trường nguyên tắc của Mỹ. Tuy nhiên, gần đây, trước sự gia tăng áp lực của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông, lập trường của chính phủ Mỹ đã có sự cụ thể hóa.
Cụ thể là Mỹ phân biệt hai loại tranh chấp ở Biển Đông : Tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp về vùng nước trên biển.
Nếu là tranh chấp lãnh thổ, liên quan đến đất đai, đảo, Mỹ đứng trung lập. Nhưng liên quan đến vùng nước, như quan chức bộ Ngoại giao Mỹ đã tuyên bố trong hai cuộc điều trần trước Thượng viện và Quốc hội hồi tháng 7 năm 2009 và tháng 2 năm 2010, Mỹ bác bỏ mọi yêu sách về các vùng nước trên biển mà không phát sinh từ đất liền hay hải đảo. Nói cách khác, Mỹ bác bỏ thẳng thừng yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc.
Mỹ cũng tuyên bố không chấp nhận dùng vũ lực hay áp lực trong tranh chấp chủ quyền, tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông. Do đó, Mỹ đã phản đối Trung Quốc gây áp lực hay dọa nạt các công ty Mỹ làm ăn với Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Mặc dù Mỹ tuyên bố đứng ngoài các tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông, nhưng Mỹ cũng tuyên bố quan ngại về tình hình căng thẳng trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc và Hoa Kỳ cũng tuyên bố quan ngại về yêu sách quá đáng trên Biển Đông của Trung Quốc cũng như về những hoạt động gây nguy hiểm của Trung Quốc trên Biển Đông. Để đối phó với tình trạng đó, bộ Quốc phòng Mỹ đã có một chiến lược bao gồm các hướng chính là :
1- Khẳng định sự hiện diện quân sự của Mỹ trong vùng Biển Đông, khẳng định vị thế của Mỹ là lực lượng quân sự mạnh nhất trong vùng.
2- Tăng cường thực thi quyền đi lại tự do của hải quân Mỹ trong vùng.
3- Tăng cường quan hệ hợp tác quân sự với các nước đối tác trong khu vực ở mọi cấp độ. Các nước đối tác bao gồm hai đồng minh Philippines và Thái Lan, các đối tác khác như Indonesia, Singapore, Việt Nam và Malaysia.
4- Tham gia tích cực vào các diễn đàn an ninh đa phương ví dụ như ARF.
Thái độ trên đây của Mỹ có tác dộng là tái lập phần nào thế quân bình quyền lực ở Biển Đông. Việc Mỹ khẳng định bằng sự hiện diện quân sự của mình và bằng các tuyên bố khá mạnh mẽ không để cho nước nào bá chủ trên vùng biển quốc tế ở Biển Đông có thể đã tạo một sự yên tâm nhất định ở các nước nhỏ Đông Nam Á. Tuy nhiên, nguy cơ xung đột liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn còn đó.
III- Việt Nam đón tiếp tàu chiến, đối thoại với Mỹ, nhưng giới lãnh đạo liên tục sang Trung Quốc
Ở một mặt nào đó, các động thái này thể hiện chính sách của Việt Nam muốn giữ thế quân bình trong quan hệ với Trung Quốc và Mỹ. Do đòi hỏi khách quan, Việt Nam phải dựa vào Mỹ để chống đỡ trước áp lực của Trung Quốc, đặc biệt là ở Biển Đông. Mặt khác, Mỹ cũng muốn tăng cường quan hệ hợp tác an ninh quốc phòng với Việt Nam. Do đó mà có các động thái giữa Việt Nam với Mỹ.
Nhưng thế của Việt Nam vẫn còn rất chơi vơi, sức thì yếu, cho nên có một tư tưởng khá mạnh trong cả giới lãnh đạo lẫn giới chuyên viên của Việt Nam là muốn yên thân thì phải vuốt ve Trung Quốc. Cũng có một tư tưởng nữa muốn dựa vào Trung Quốc để giữ chế độ XHCN. Do đó mà có các động thái giữa Việt Nam và Trung Quốc.
IV- Về khả năng Việt Nam để Mỹ sử dụng quân cảng
Thực ra thì cả Mỹ và Việt Nam đều chưa có một hình dung cụ thể về chuyện Việt Nam để cho Mỹ sử dụng quân cảng ở miền trung, cụ thể là Cam Ranh. Lợi hại của việc này cho phía Việt Nam có thể như sau: Thứ nhất là sự hiện diện quân sự của Mỹ sẽ đem lại thế mạnh cho Việt Nam trong so sánh lực lượng với Trung Quốc ở Biển Đông. Nó sẽ có tác dụng răn đe nhất định đối với nguy cơ Việt Nam bị bất biển, mất đảo. Thứ hai là các dịch vụ cho Mỹ sẽ đem lại lợi ích kinh tế cho Việt Nam.
Phía Việt Nam cũng có người muốn những lợi ích này, cho nên người ta muốn cho Mỹ tiếp cận mạnh hơn. Thế nhưng cũng có nhiều người nghĩ đến những lợi ích khác. Thứ nhất là họ lo ngại sự chống đối của Trung Quốc. Thứ hai là có người cũng lo ngại ảnh hưởng của Mỹ. Họ coi lợi ích của họ đối lập với lợi ích của Mỹ nên họ chống.
Về phía Mỹ thì cả về chiến lược và chiến thuật, họ đều có nhu cầu tiếp cận các quân cảng của Việt Nam. Nhưng một căn cứ quân sự thường xuyên của Mỹ ở Việt Nam chắc chắn sẽ không xẩy ra trong tương lai gần. Bởi vì việc này sẽ làm thay đổi đáng kể cán cân lực lượng trong vùng.
Về phía Mỹ thì chưa có nhu cầu cấp bách. Việt Nam cũng vậy. Về lâu dài, tôi cho rằng chuyện đó có thể xẩy ra khi mà cán cân lực lượng trong vùng quá lệnh về phía Trung Quốc. Và vì Mỹ có lợi ích chiến lược về tự do lưu thông trên Biển Đông, Việt Nam có lợi ích chiến lược về giữ đảo, giữ biển, cho nên lúc đó có thể Việt Nam sẽ mở cửa quân cảng mạnh hơn cho Mỹ. Tất nhiên, thời điểm lúc nào xẩy ra cũng còn phụ thuộc vào đánh giá riêng của Việt Nam và Mỹ về cán cân lực lượng trong vùng.
Do cán cân lực lượng trong vùng đang thay đổi một cách dần dần, từ từ, cho nên chuyện Việt Nam mở cửa cho tàu chiến Mỹ tiếp cận các cảng biển của mình cũng diễn ra dần dần, từ từ.
Do lợi ích chiến lược có điểm đồng, cho nên cả Mỹ và Việt Nam đều có nhu cầu cho tàu chiến Mỹ tiếp cận cảng biển ở Việt Nam. Nhưng tiếp cận như thế nào thì có rất nhiều kiểu. Hiện nay, vẫn có các cuộc viếng thăm giao lưu hàng năm của tàu hải quân Mỹ. Từ một năm nay thì có thêm một số tàu hải quân Mỹ được đưa vào sửa chữa ở Việt Nam.
Trong tương lai, có thể sẽ mở ra hướng hai bên ký một hiệp định để máy bay và tàu chiến Mỹ được hưởng dịch vụ tiếp liệu trên đất liền của Việt Nam cũng như tàu chiến Việt Nam có thể được tàu chiến Mỹ tiếp liệu trên Biển Đông.
V- Lãnh đạo Việt Nam trước sự chia rẽ của công luận về thân/chống Mỹ – Trung

Bản thân lãnh đạo Việt Nam cũng không thống nhất trong quan điểm đối với Mỹ và Trung Quốc. Tư tưởng của họ cũng phần nào phản ánh các luồng tư tưởng trong công chúng. Có người nghi ngờ Mỹ, có người tương đối tin Mỹ. Có người nghi ngờ Trung Quốc, có người tương đối tin Trung Quốc. Có người ưa Mỹ hơn, có người lại ưa Trung Quốc hơn, có người chẳng ưa ai hết.
Theo truyền thống và cũng như theo bản năng, lãnh đạo Việt Nam muốn thuyết phục công luận không nên tham gia vào việc lớn, việc chiến lược rất phức tạp, tế nhị, theo ngôn ngữ của họ là “nhậy cảm”, nhiều chuyện không nên và không thể bàn công khai, cho nên tốt nhất là hãy vững tin vào lãnh đạo, để cho lãnh đạo dễ bề chèo lái.
Tuy nhiên, công chúng vẫn cứ tham gia vào việc lớn và sức mạnh của công chúng hiện nay đã lớn đến mức lãnh đạo không thể cản trở quá đáng được nữa. Do đó, lãnh đạo cũng chịu sức ép ngày càng tăng của công luận. Để đối phó, lãnh đạo dùng cả hai phương thức: đàn áp và thuyết phục. Theo tôi, gần đây, việc đàn áp có phần dịu đi và việc thuyết phục có phần tăng lên. Tuy nhiên, hướng thuyết phục thì vẫn chưa rõ ràng lắm.
Nói chung, có vẻ như lãnh đạo Việt Nam muốn thuyết phục rằng Việt Nam cần giữ cân bằng trong quan hệ với các nước lớn. Cần cố gắng làm sao để giữ hòa hiếu với Trung Quốc và Mỹ, nhất là với Trung Quốc, đồng thời làm sao để giữ độc lập, tự chủ, không để cho nước lớn, nhất là Mỹ can thiệp vào công việc nội bộ.
Lại cũng có xu hướng muốn thuyết phục rằng Việt Nam và Trung Quốc là hai nước XHCN, cùng chung lý tưởng, cùng chống kẻ thù chung, cho nên những bất đồng như trong chuyện tranh chấp biển đảo chỉ là những tiểu tiết không nên để ảnh hưởng xấu đến đại cục, không nên để Mỹ và các “thế lực thù địch” lợi dụng chuyện tranh chấp với Trung Quốc, chuyện bảo vệ biển đảo, để kích động gây “diễn biến hòa bình”, lật đổ Đảng, thay đổi chế độ.
Tuy nhiên, công luận có chịu thuyết phục hay không thì chỉ phụ thuộc một phần vào lý lẽ, một phần lớn là phụ thuộc vào lợi ích. Theo tôi, muốn thực sự thuyết phục công chúng thì phải tiếp cận được nhu cầu của công chúng. Hiện nay, đang có một ngọn lửa đang lên trong công chúng là tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc. Nó day dứt về chỗ đứng của Việt Nam trên thế giới. Nó lo lắng về biển đảo và ngư dân đang bị đe dọa, đất đai và tài nguyên đang bị bán rẻ, môi trường và sức khỏe đang bị xói mòn. Nó rất tự hào về đất nước nhưng cũng rất bức xúc về hiện trạng. Nếu căn cứ vào kinh nghiệm lịch sử, thì lực lượng chính trị nào sử dụng được ngọn lửa này thì lực lượng đó sẽ thành công.
Có người ở Việt Nam không muốn sử dụng ngọn lửa này, vì họ cho là nguy hiểm. Nhưng kinh nghiệm chính trị cũng khiến họ không muốn ai khác sử dụng được ngọn lửa này vì như thế còn nguy hiểm hơn cho họ. Do vậy, họ tìm cách vô hiệu hóa ngọn lửa này.
Nhưng cũng có người trong giới lãnh đạo Việt Nam muốn dùng ngọn lửa này. Chỉ có điều họ đang loay hoay chưa biết dùng thế nào. Vì thế, nhìn chung, sự thuyết phục công luận của lãnh đạo Việt Nam chưa được rõ ràng lắm.

Hoa Kỳ phục kích ở sân sau Trung Quốc như thế nào và điều gì sẽ xảy ra?

hillaryclinton1
Greg Torode/South China Morning Post Ngọc Thu dịch

Washington cầm đầu việc phục kích Trung Quốc về tranh chấp Biển Đông ở diễn đàn an ninh hàng đầu trong khu vực hôm thứ Sáu đánh dấu một bước ngoặt thay đổi trong quan hệ Trung-Mỹ và đưa ra các sự thiếu sót chiến lược sâu sắc ở châu Á.
Ngay cả khi Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton tấn công vào Biển Đông tại Hà Nội, Hoa Kỳ và các tàu hải quân Nam Hàn chuẩn bị cho giai đoạn tập trận với quy mô lớn ở biển Nhật Bản, hay Biển Hoa Đông, gần phía Đông Bắc Trung Quốc – tăng thêm căng thẳng cho bức tranh toàn cảnh.
Những gì đã xảy ra ở Hà Nội thì đặc biệt quan trọng. Khi bà Clinton tuyên bố rằng giải quyết việc đòi chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông hiện nay là “lợi ích quốc gia” và là “ưu tiên ngoại giao” của Hoa Kỳ, bà không chỉ phản ánh mối quan tâm ngày càng tăng của Hoa Kỳ về khả năng thống trị hàng hải Trung Quốc. Điều đó cũng cho thấy Washington đã nắm vững một cơ hội lịch sử.
Hàng tháng qua, liên tục có sự gia tăng các mối quan ngại ở Đông Á về sự quyết đoán của Trung Quốc đã được lên tiếng tại Washington, cũng giống như chính quyền non trẻ Tổng thống Mỹ Barack Obama đã đưa ra các cách để trở lại tham gia vào khu vực bị bỏ quên. Hoảng sợ về việc lặp đi lặp lại rằng, Hoa Kỳ là cường quốc suy yếu, các viên chức Mỹ đã nói chuyện riêng về việc cần xác nhận lại tính ưu chiến lược của Hoa Kỳ ở châu Á.
Sự khẳng định ồn ào ngày càng gia tăng của Trung Quốc về lịch sử của nó, và bây giờ là luật pháp, đòi hầu như toàn bộ vùng biển – ví dụ qua việc giam giữ hàng trăm ngư dân Việt Nam, việc quấy rối các tàu của Hoa Kỳ và các lực lượng hải quân và việc đe dọa thực hiện đối với các công ty dầu hỏa quốc tế khổng lồ nhằm kết thúc các thỏa thuận khai thác với Hà Nội – cung cấp cơ hội đó.
Hành động của Hoa Kỳ không chỉ làm hài lòng những nước đòi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, những nước là đối thủ của Trung Quốc như: Việt Nam, Malaysia, Philippines và Brunei, mà còn làm yên tâm các nước lớn hơn như Hàn Quốc, Nhật Bản và Indonesia bằng cách gửi thông điệp ảm đạm tới Trung Quốc.
Trong gần 15 năm qua, Washington đã giữ bên lề các căng thẳng trên Biển Đông, trên đường thủy chiến lược và giàu khoáng sản nối Đông Á với Trung Đông và châu Âu. Đại diện ngoại giao của họ thỉnh thoảng quan tâm về sự cần thiết cho một giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ, nhưng không đứng bên nào trong việc tranh chấp.
Lời bình luận của bà Clinton đã thay đổi tất cả. Họ đã đưa Hoa Kỳ đứng đầu trong vấn đề chủ quyền Trung Quốc, vấn đề mà gần đâyTrung Quốc đã nói là “lợi ích cốt lõi”, quy tắc ngoại giao đặt ngang với Đài Loan và Tây Tạng về sự nhạy cảm.
Đầu năm nay, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, Tiến sĩ Robert Gates đã nói tại một diễn đàn an ninh ở Singapore rằng, Washington phản đối bất kỳ nỗ lực nào nhằm đe dọa các công ty dầu khí của Hoa Kỳ tham gia các hợp đồng hợp pháp trong khu vực.
Bà Clinton bình luận chính thức ở Diễn đàn Khu vực Asean, trong các cuộc họp song phương và trong các tuyên bố công khai. Trong khi đó, các viên chức của bà thông báo ngắn gọn với nhóm báo chí đi cùng với phái đoàn Washington để họ không bỏ qua điểm chính.
Trong khi bà bị mắc kẹt vào kịch bản cũ về việc không đứng về bên nào, bà đã nói rõ ràng là Washington muốn thúc đẩy các cuộc thảo luận và các giải pháp trong khu vực – một thách thức trực tiếp tới Bắc Kinh, kẻ đã cố gắng, kín đáo nhưng mạnh mẽ, để chặn đứng ASEAN thảo luận vấn đề này và các viên chức ngoại giao Trung Quốc đã nhấn mạnh nó phải được xử lý song phương – nói cách khác, từng nước tranh chấp xếp hàng để giải quyết riêng với Trung Quốc.
Bà Clinton nói: “Hoa Kỳ hỗ trợ quá trình cộng tác ngoại giao của tất cả các bên tranh chấp để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khác nhau mà không cần cưỡng chế. Chúng tôi phản đối việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực của bất kỳ nước tranh chấp nào”.
Những lời nói của bà là một thắng lợi ngoại giao quan trọng cho Việt Nam, một món quà từ Washington khi hai nước đánh dấu 15 năm kể từ khi chính thức khôi phục các quan hệ ngoại giao sau cuộc chiến Việt Nam và gần 20 năm bị cấm vận kinh tế.
Trong nhiều tháng, Việt Nam đã tìm cách khai thác vai trò Chủ tịch Hiệp hội mười nước Đông Nam Á để giữ vấn đề Biển Đông nóng bỏng [không bị bỏ rơi]. Các nước tranh chấp vùng biển giàu có đã tuyệt vọng để đạt tiến bộ về một ràng buộc pháp lý của Quy tắc ứng xử – một cam kết trong Tuyên bố năm 2002 đã ký kết giữa ASEAN và Trung Quốc trên Biển Đông kêu gọi tự kiềm chế. Tuyên bố ban đầu này được coi là một bước tiến quan trọng, nhưng ngày càng hiện ra như một tờ giấy lộn trong việc chống đối các hành động của Trung Quốc.
Bà Clinton nhiều lần nhắc đến các nguyên tắc của Tuyên bố đó, như âm nhạc vang bên tai các quan chức Việt Nam.
Chỉ một năm trước, Trung Quốc đã được nhiều người xem như là đang chia rẽ ASEAN, với mỗi thành viên có quan hệ riêng với Bắc Kinh trước khi ASEAN thống nhất. Có rất ít động lực về vấn đề [Biển Đông] trong các cuộc họp chính thức, và trong bối cảnh, áp lực Trung Quốc là không đổi, theo một số nhà ngoại giao ASEAN. Ngay cả Campuchia, chế độ đã từng là liên minh chặt chẽ với Hà Nội, đang bác bỏ các nỗ lực của Việt Nam, nhân danh Bắc Kinh.
Sự thận trọng đó vẫn còn nhìn thấy vài giờ trước khi bà Clinton đến. Vào một ngày trước khi Diễn đàn Khu vực ASEAN tổ chức, các Ngoại trưởng của khối đã có cuộc họp chính thức hàng năm với Bộ trưởng Ngoại giao Dương Khiết Trì. Chỉ có Philippines nêu ra vấn đề Biển Đông. Sự dè dặt như thế phản ánh cung cách truyền thống của ASEAN. Các cuộc họp và các tuyên bố chính thức nói chung là nhạt nhẽo nhất.
Ngay cả Việt Nam hiếm khi đổ lỗi cho Trung Quốc trước công chúng, khuynh hướng duy trì vẻ bề ngoài của tình anh em. Hôm qua, tràn ngập một chiến thắng hiếm hoi, báo chí Nhà nước bao giờ cũng thận trọng đã không có tiếng nói chính thức nào về các cuộc họp.
Một quan sát viên ngoại giao cho biết: “Đó là điều đáng chú ý. Không ai muốn dẫn đầu. Tất cả mọi người đều chờ đợi để cùng nhau được an toàn”.
Clinton đến hôm thứ Năm cho thấy sự hỗ trợ đối với [tâm lý] an toàn đó, khi lời lẽ truyền đi về sự cứng rắn mới của bà.
Vào lúc diễn đàn bắt đầu hôm thứ Sáu, 11 thành viên khác đã sẵn sàng với các báo cáo, bao gồm Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam – những nước có phần được hoặc mất nhiều nhất – cũng như Indonesia, EU, Úc và Nhật Bản. Tiếp theo là từng nước thay phiên đọc các báo cáo.
Trong khi ông Dương bày tỏ sự bực tức sau đó, những gì xảy ra không có gì bất ngờ đối với Bắc Kinh. Trong hơn một năm, quân sự, diễn tập chính trị và ngoại giao đã cho thấy các mối quan ngại ngày càng tăng trong khu vực.
Các viên chức quân sự Việt Nam kín đáo đã bay ra tàu sân bay Hoa Kỳ ở Biển Đông và đã được mời lên trên chiếc tàu ngầm của Hoa Kỳ ở Hawaii. Và Việt Nam đã cho phép các tàu chiến Hoa Kỳ sửa chữa tại cảng địa phương.
Hà Nội cũng đã thực hiện một thỏa thuận với Moscow, đồng minh chiến tranh lạnh trước đây để mua sáu tàu ngầm hiện đại loại Kilo.
Trong khi đó, Lầu Năm Góc và các quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày càng nói thẳng lời điều trần trước Quốc hội Hoa Kỳ về sự cần thiết để khẳng định quyền hàng hải trong vùng biển quốc tế bất chấp sự quan tâm của Trung Quốc. Trong khi Trung Quốc tuyên bố nhiều [phần] Biển Đông là vùng đặc quyền kinh tế, Hoa Kỳ và các quốc gia khác nhấn mạnh rằng nó vẫn thuộc vùng biển quốc tế và vì thế các hoạt động quân sự thường xuyên, gồm cả giám sát, đều được phép.
Những căng thẳng này đã hiện ra khi ở Singapore, ông Gates nói với các cử tọa gồm các sĩ quan cao cấp của Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc.
một viên chức PLA đã nổi giận sau đó: “Chúng tôi không xem nó như là một ‘cái hồ của Trung Quốc’, chúng tôi cho phép [những tàu] vô sự đi qua. Nhưng tôi xin lỗi, sự giám sát của Hoa Kỳ không phải là vô hại. Sự quan tâm của Trung Quốc không phải được đánh giá thấp”.
Có hay không việc Washington đánh giá thấp các mối quan ngại kia vẫn được nhìn thấy. Chắc chắn Bắc Kinh sẽ xem những sự kiện ở Hà Nội như là một khiêu khích đáng kể. Cũng có một cảm giác ngày càng tăng trong khu vực, rằng biển là quan trọng đối với tham vọng của Trung Quốc cho hải quân trên “đại dương” có thể hoạt động xa bờ, vì chỉ có nó cung cấp lối vào vùng nước sâu đến Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.
Điều rõ ràng là Hoa Kỳ hiện đang chuẩn bị để giải quyết một trong những vấn đề khó khăn nhất trong khu vực – một sự thay đổi chính sách mà sẽ không dễ dàng quay ngược trở lại. Và với Trung Quốc, tuần trăng mật với bất kỳ nước ASEAN nào thì đã đi qua.
Đối với tất cả những rủi ro, Washington nhận biết cơ hội.
Ngọc Thu dịch
Nguồn Bauxite Việt Nam

Cầm Quyền Du Đảng Hay Du Đảng Cầm Quyền?

superstock_1538r-280142 

Đinh Tấn Lực

 Nhà cầm quyền CSVN hiện chỉ cầm búa cầm liềm theo kiểu cầm chừng: Chủ nghĩa bây giờ là cầm khoán bẻ măng. Chính sách là cầm cố đất nước. Định hướng là cầm cái/cầm con mọi nguồn viện trợ. Quan chức thì cầm cốc mua vui. Khẩu hiệu đạo đức là cầm lòng. Kẻ thù là sĩ phu cầm bút. Đối nội là cầm tù phản biện. Đối ngoại là cầm dao đằng lưỡi. Tư tưởng là uốn gối cầm bô. Kinh tế là khấu đầu cầm bị. Văn hóa nhắm mắt cầm loa. Thông tin bịt mồm cầm kéo. Tuyên giáo nhắc tuồng cầm canh. Công thương khum lưng cầm khách. Công an khóa xích cầm chân. Tư pháp cầm đèn chạy án. Báo đài khép nép cầm ca. Giáo dục huơ roi cầm tiền. Y tế miên man cầm giá. Hành chánh xum xoe cầm dù. Dân phòng lăm le cầm súng. Tại chức nhi nhô cầm bằng. Cấp ủy loay hoay cầm đũa. Đảng viên tí toáy cầm nhầm. Chất xám tất bật cầm máu. Mặt Trận đắm đuối cầm chầu. Phong bì thoải mái cầm cương. Đầu tư tuột dốc cầm chắc. Quốc Hội không dám cầm còi. Tham nhũng ung dung cầm lái. Đất nước lệt bệt cầm cờ…
 Sứ mệnh lịch sử bây giờ là cầm cự: Lãnh đạo níu ghế cầm đô. Nhân dân lũ lượt cầm đồ. Công nhân hút gió cầm cữ. Nông dân chạy gạo cầm hơi. Ngư dân cầm mạng chuộc tàu. Tiểu thương cầm vợ đợ con. Trí thức rán cầm nước mắt. Trung ương vẫn ngỡ cầm đầu. Trên dưới tranh quyền cầm trịch. Cả giuộc lắm phen cầm cập. Nhìn giặc đoạt ải/chiếm đất/cướp đảo mà chẳng dám cầm quân. Thấy dân đòi đất/đòi nhà/đòi chỗ tu hành thì giả dạng du côn cầm gạch/cầm đá/cầm cây/cầm gậy…

Một nhà cầm quyền như Rứa đáng gọi là gì? Nghe chừng phảng phất đâu đây thoảng chút hoang mang: cầm độc hay cầm thú?
- Toàn Đảng Chống Toàn Dân -
Câu trả lời cho câu hỏi nêu trên hoàn toàn thuộc về nhân dân. Dù chưa rõ và chắc, qua một cuộc trưng cầu dân ý vẫn biết là khó sớm có, song chẳng ai là chưa đoán ra được, căn cứ vào những sự kiện đã từng xảy ra đó đây, từ Thái Hà tới Tam Tòa, Bát Nhã, và mới vừa lặp lại, cả trên đồi Đồng Chiêm, cả trên mạng BauxiteVN, lẫn trên bục chánh thẩm khắp nước.
Cứ Google Image các từ khóa đó là lập tức hình ảnh máu me nhầy nhụa hiển thị đến không kịp bấm chuột sang trang.
Du đảng là gì, nếu không phải là tổ chức cho dân phòng/xã hội đen lấy cớ dẹp xe máy dựng trước nhà để gây ẩu đả có thương tích; là chỉnh sửa hình ảnh của thủ phạm từ nhiều năm trước để vu oan/bắt bớ nạn nhân?
Du đảng là gì, nếu không phải là tổ chức thuê bao xã hội đen trà trộn vào đám đông giáo dân/phật tử đang cầu nguyện để phá rối/lăng mạ; là chiếm đất giáo đường làm công viên; là giật sập nhà nguyện/đập phá chùa chiền/huy động hàng ngàn công an cùng chó nghiệp vụ giật sập thánh giá lúc 2 giờ sáng…?
Du đảng là gì, nếu không phải là chỉa dàn loa phường từ bốn hướng vào nhà thờ ra rả chửi rủa Chánh xứ họ đạo; là ủi đất/đắp mô/lấp ngõ để giáo dân không qua lại được; là hành hung/đả thương cả người thu hình các thương binh bị đánh và chụp ảnh các mô đất điển hình của chính sách gây ùn tắc giao thông/ngăn sông cấm chợ?
Du đảng là gì, nếu không phải là “tổ chức chu đáo, bỏ nhiều công sức và tiền bạc” thuê bao tin tặc (cả tin tặc “lạ”) để xâm nhập/khống chế/truy sát các trang mạng phản biện; là ăn cắp mật khẩu để chiếm đoạt các trương mục email và mạo danh tung thư lũng đoạn?
Du đảng là gì, nếu không phải là tổ chức nghe lén điện thoại/đọc lén điện thư; là xông vào nhà dân lục soát, chộp ổ cứng vi tính về khám; là gọi dân lên đồn không được, mới trưng ra trát tòa; là buộc dân phải thành khẩn khai báo “tội yêu nước” vì đã vạch trần các âm mưu phá hoại đất nước và bán nước cầu vinh?
Du đảng là gì, nếu không phải là bao vây/cô lập tòa án bằng trùng lớp nhiều thứ lực lượng cơ động/giao thông/PCCC/bảo vệ/dân phòng; là tổ chức thay đổi chiếu khán của ủy viên Hội đồng Thẩm phán Quốc tế, ngăn cản các đoàn ngoại giao, ngăn cản luật sư của Hiệp hội Luật gia Quốc tế (IBA- mà nạn nhân là một thành viên), ngăn cản phóng viên của các tờ báo quốc tế, và chận đường nhân dân đến theo dõi/dự thính phiên tòa áp án người phản biện; là huy động thuê bao hàng xóm nạn nhân vào lấp kín phòng xử trong lúc thân nhân/bằng hữu của nạn nhân phải đứng ngoài mưa; là phá nhiễu âm thanh các đoạn phát biểu của nạn nhân trước vành móng ngựa; là cấm phóng viên chụp ảnh/thu âm làm phóng sự phiên xử; là tịch thu cả điện thoại di động của những người bước vào phòng xử; là cấm tiệt báo chí tường thuật/trích đăng/bình luận phần đối thoại/tranh luận trước tòa của các nạn nhân? là chỉ cần 15 phút nghị án cho một tội danh có thể lên mức tử hình; thậm chí, là bắt giữ/hạch sách/thẩm vấn người dân ngồi uống càphê ở quán nước trước tòa?…
- Cùng Tắc Biến, Biến Tắc Tị -
Các thắc mắc hợp hiến hay vi hiến, pháp quyền hay bạo quyền… đều không còn là vấn đề, một khi đảng và nhà nước đã mất hết/mất trọn/mất ráo mọi quyền lực chính thống của một chính quyền. Đến mức phải chọn lấy các hành xử ti tiện nhất là hình sự hóa mọi lời lẽ phản biện và sử dụng/giả danh du đảng để phân định Đúng/Sai.
Liên Xô và các chế độ Đông Âu cũ đều từng trải và từng thuộc vào bậc thầy của các cách hành xử đê tiện đẫm máu và nước mắt đó trước khi kết thúc.
Các cuộc cách mạng màu (thời hậu chiến tranh lạnh) cũng có chung điểm khởi từ sự chối từ lẫn ý muốn chấm dứt cung cách cai trị du đãng hèn hạ và đê tiện của các chế độ độc tài bản địa: “Hết thời rồi” tại Serbia năm 2000. “Hoa hồng” tại Georgia năm 2003. “Màu cam” tại Ukraina năm 2004. “Uất kim hương” tại Kirzistan năm 2005. “Màu xanh” tại Lebanon năm 2006…
Hiện tượng “Hết Thời Rồi” đang rần rật tự diễn biến trong lòng chế độ Việt Nam.
Cũng không còn là vấn đề ở đây nữa, về mọi hoang mang cầm quyền hay cầm thú.
Vấn đề là thời điểm của một cuộc cách mạng trắng (áo trắng và khăn tang trắng). Biết đâu đó cũng là dịp đánh dấu hoành tráng của đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long?
21/01/2010
Blogger Đinh Tấn Lực

Đảng là ai? tên gì? ở đâu? mấy đứa?

http://dinhtanluc.multiply.com/journal/item/574/574

 
  đảng là ai? tên gì? ở đâu? mấy đứa?
. Đinh Tấn Lực

 

Dạo này, chỉ nội trong một quý, cả nước rộ lên toàn chuyện động trời, mà đảng ta thì cứ lấp ló/làm lơ/lập lờ/làm liều/lếu láo/lấp liếm… lẫn lấm le lấm lét.
***
Đảng viên thiếu úy “chiến sĩ công an” Trương Đình Hoàng ở Thái Nguyên, mặc thường phục, rượt dí xe máy công dân như trong phim hành động xã hội đen, truy đuổi đến khi ép dừng được “đối tượng” thì mắng dân té tát: “con kia sao chưa chịu xuống (xe), mày chán cơm thèm đất hả?”, rồi rút súng bắn xuyên đùi trái, chui qua hố xương chậu, găm vào tủy xương đùi phải của người thiếu nữ ngồi sau xe máy, xong phân trần với đám đông tụ tập là đang “truy bắt tội phạm”, bỏ mặc cho nạn nhân đứng tại hiện trường đầm đìa trong máu. Vụ việc được ghi lại thành biên bản “Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ”.
“Tội phạm”, người ngồi sau người lái xe vi phạm giao thông, là cô Hoàng Thị Trà, sinh viên khoa Toán-Tin, Đại học Sư phạm Thái Nguyên.
Còn chiến sĩ công an Trương Đình Hoàng, mới chính thực là đảng. Kẻ máu lạnh, lúc mắng dân là thằng này con kia, khi rút súng nhả đạn buộc nhân dân phải chán cơm thèm đất, và nghĩ rằng mình có toàn quyền sinh sát, thực ra đang vỗ ngực: đảng là tao!
*
“Trả lời báo giới sáng 11/8, đại tá Nguyễn Như Tuấn (Phó giám đốc, Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên) khẳng định, việc nữ sinh Trà bị găm đạn thủng đùi, có nhiều người chứng kiến nên không thể giấu diếm, bao che”.
Tức là, nếu ở một nơi vắng vẻ, không người chứng kiến, thì các vụ công an tùy hứng nhả đạn vào dân thế này đều có nhiều xác suất im ắng/chìm xuồng?
Rõ ràng, mỗi một công an và lãnh đạo của nó đều là đảng, hoặc đều ngấm ngầm xưng đảng là tao!
*
Đảng viên thiếu úy “chiến sĩ công an” Nguyễn Mạnh Thư huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa, đã nổ súng vào đám đông nhân dân tụ  tập phản đối tiến trình giải phóng mặt bằng bất công ở Nghi Sơn, gây tử vong tại chỗ cho cháu bé 12 tuổi Lê Xuân Dũng, gây thương tích cho bà Lê Thị Thanh, và gây tử vong sau đó cho ông Lê Hữu Nam.
Nguyễn Mạnh Thư, nả đạn vào dân, là đảng.
Lãnh đạo địa phương, cố bao che bằng kết luận ban đầu là “bắn chỉ thiên/súng cướp cò”, tất nhiên, cũng trong tâm thức coi đảng là tụi tao!
*
Chỉ vì mấy con vịt hay phá rối, hai mẹ con va chạm với nhau, bà mẹ trong lúc nóng giận đã làm đơn gửi đến cơ quan công an với mong muốn công an dọa cho đứa con một trận để nó ngoan hơn. Thế nhưng sau một ngày, cơ quan công an đã trả lại cho bà chiếc quan tài và xác chết đứa con trai. Nạn nhân là anh Vũ Văn Hiền, nông dân ở thôn Bình Xuân, xã Bình Thuận, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Ngày trước, khẩu hiệu của CA là: “không đánh cho có, có đánh cho chừa”. Nay thu gọn lại chỉ còn 3 từ: “đánh cho chết”.
Giống hệt mọi nơi khác, công an Đại Từ là đảng.
*
Thanh niên Nguyễn Văn Khương bị cảnh sát giao thông huyện Tân Yên, Bắc Giang, bắt giữ về  tội đi xe máy không đội mũ bảo hiểm, sau đó đã gục chết ngay trên ghế thẩm vấn tại đồn. Vì bất bình, nhiều người dân đã cùng gia đình nạn nhân mang quan tài của người chết đến trụ sở UBND tỉnh để yêu cầu làm sáng tỏ vụ việc. Lực lượng công an được huy động tới giải tán đoàn biểu tình đòi công lý lên đến cả vạn người, bằng dùi cui và hơi cay.
Nguyễn Thế Nghiệp, tay công an đánh chết anh Khương, là đảng.
*
Chiều chủ nhật 25-7-2010, gia đình nạn nhân bị công an đánh chết đã đưa thi thể anh Khương lên Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh để đòi làm rõ vụ việc. Hỗ trợ gia đình anh Khương, một số rất đông người dân đã đi theo quan tài, bao vây UBND tỉnh từ 14 giờ đến tối. Đến 5 giờ chiều thì 6 đoạn tường rào (60 mét) của UBND tỉnh bị phá hủy. Nhiều tiếng nổ lớn xảy ra do người dân đốt mìn tự tạo. Thi thể nạn nhân vẫn được quàn tại cổng UBND tỉnh. Cổng phụ của UBND đã bị phá cùng với biển ghi tên UBND tỉnh Bắc Giang. Chín giờ tối, nhà chức trách cho thợ làm lại tường và biển tên UB trước sự hiếu kỳ của hàng trăm người dân. Không như mọi ngày, tối nay UBND tỉnh tối om không có cả đèn trang trí ở sân…
Trong khi đó, “thái tử” Nông Quốc Tuấn (con trai Nông Đức Mạnh, sắp trở thành bí thư tỉnh ủy) vẫn thản nhiên tiếp đãi bạn bè trong tiệc nhậu đặc sản bằng món thịt bò tót do 2 đầu bếp từ Hà Nội được điều về Bắc Giang để nấu nướng theo yêu cầu của Tuấn tại nhà hàng Tài Lộc.
Nông Quốc Tuấn, một mình, tự thân, chưa ngồi vào ghế tỉnh ủy, đã là đảng.
*
Ngày 03-7-2010, giáo dân Tôma Nguyễn Thành Năm ở Cồn Dầu đã chết vì bị công an Đà Nẵng lùng bắt, đánh đập, tra tấn tàn bạo. Nhìn những vết thương dã man trên thân xác anh, nhìn cái chết đau đớn của anh, giáo dân Cồn Dầu đã sợ hãi trước những con người hầu như trở thành loài thú dữ. Anh đã ra đi trong đau đớn, trong vòng vây của đội quân công an ngăn chận những người thân quen đến tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Anh ra đi không có những ngọn nến giải oan, để soi rọi sự bất công, dối trá trên miền đất Cồn Dầu. Anh ra đi bên những tiếng khóc thương nhớ, uất ức của vợ con. Anh ra đi trong bối cảnh dối gian, lọc lừa biến hóa hành động giết người của công an và chính quyền Đà Nẵng trở thành vô tội. Hiện gần 2000 hộ dân bị giải tỏa tại Cồn Dầu không có nhà mà ở.
Không thể nhầm: công an, ở mọi nơi trên đất nước này, đều là đảng.
*
Dự án đúc tim cho tượng thánh Gióng gây xôn xao dư luận cả nước trước hạn kỷ niệm 1000 năm Thăng Long.
Phù Đổng Thiên Vương không phải là đảng viên.
Nguyễn Thị Thoa, Giám đốc Cty ATS, người đề xuất dự án này, cũng không chắc là đảng viên.
Chỉ riêng kẻ vận động và phê duyệt dự án, biết trước là sẽ có phần chia chác, mới là đảng.
*
Huỳnh Ngọc Sỹ, nguyên phó giám đốc Sở Giao Thông Vận Tải kiêm giám đốc Ban Quản Lý Dự Án Ðại Lộ Ðông Tây và Môi Trường Nước Sài Gòn, bị báo Nhật phanh phui đường dây tham nhũng PCI, lãnh án sơ thẩm 3 năm tù về tội danh “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, ra tòa phúc thẩm bị nâng mức án lên thành 6 năm tù, hiện có nhiều xác suất ra tòa lần nữa về tội danh chính thức là “nhận hối lộ” nhiều triệu USD.
Huỳnh Ngọc Sỹ, là đảng.
Mỗi cá nhân trong đường dây chung chi của Sỹ cũng là đảng.
*
Thượng tá Đặng Đình Tiến, Phó tham mưu trưởng Sư đoàn 324 Quân khu 4, cùng các sĩ quan dưới trướng, kết hợp với Nguyễn Thị Kim Hoa, Giám đốc Công ty TNHH Liên kết và Giới thiệu Việc làm Bắc Miền Trung, để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 114 gia đình quân nhân (130 triệu đồng/1quân nhân/1hồ sơ xuất khẩu lao động). Các nạn nhân đã tố cáo lên các cấp cầm quyền địa phương cũng như trung ương, và trong suốt năm qua đã trên dưới 30 lần tìm cách khiếu nại đến các cơ quan liên hệ: Sư đoàn 324 QK4; Bộ tư lệnh QK4; Phòng điều tra hình sự QK4; Tỉnh ủy, UBND, Công An các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình, đặc biệt là Bộ Quốc phòng. Nhưng không được trả lời.
Đặng Đình Tiến là đảng.
Thủ trưởng của mỗi cơ quan nêu trên cũng đều tự coi mình là đảng.
*
Nguyễn Ngọc Ân, Giám đốc sở Văn-thể-du của tỉnh Phú Thọ đã tiêu tốn non hai vạn USD tiền thuế của dân để lấy bằng tiến sĩ của Đại học Nam Thái Bình Dương (Southern Pacific University – SPU). Đến khi bị trưng ra ánh sáng những góc đen khuất tất này thì Ân than rằng: Tôi là kẻ kém may! Té ra có nguyên một đường dây giới thiệu của bộ Tài Chánh cho những quan chức muốn có bằng tiến sĩ mà không cần học.
Nguyễn Ngọc Ân (kém may), và cả những đồng chí (còn may) chưa bị lộ, chính là đảng.
*
Sầm Đức Xương, Hiệu trưởng trường trung học Hà Giang, cưỡng dâm nhiều nữ sinh, biến các nữ sinh đó thành gái gọi để thu tiền, rồi cống nạp lên thượng cấp, từ lãnh đạo ngân hàng đến cấp lãnh đạo cao nhất tỉnh, hoàn thành một danh sách đen hoành tráng. Khi vụ việc vỡ lở, các lãnh đạo nhất trí xử lý tình huống bằng cách phù phép cho các nữ sinh nạn nhân phải lãnh án tù về tội bán dâm. Trong số đó, một nạn nhân bỗng dưng mất tích. Nguyễn Trường Tô, chủ tịch tỉnh Hà Giang, với nick trên phôn di động là Tình yêu Chủ tịch, đứng tên hàng đầu trong danh sách đó…
Sầm Đức Xương, hiệu trưởng, chuyên ngành trải ga giường để tiến thân, là đảng.
Nguyễn Trường Tô, tỉnh ủy viên, dùng quyền lực để cưỡng dâm nữ sinh, tất yếu là đảng.
*
11 chiến sĩ công an thuộc Cục Kỹ thuật Nghiệp vụ II (A-23), còn được gọi là CAM, vừa mới được Lê Doãn Hợp, Bộ trưởng 4T, trao kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp 4T”, bởi đã tận tình “sử dụng các phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ phối hợp với các lực lượng chủ động đấu tranh với âm mưu hoạt động của các loại tình báo, gián điệp, phản động và tội phạm khác”.
Mới vài tháng trước, thiếu tướng công an Vũ Hải Triều cũng đã báo cáo thành tích đánh sập 300 trang mạng và blogs, đồng thời, đã chộp được mật khẩu để xâm nhập nhiều trương mục email của một bộ phận không nhỏ nhân dân.
A-23 là đảng. CAM là đảng. Tự thân Lê Doãn Hợp/Vũ Hải Triều cũng là đảng.
*
Văn Đình Ưng, Phó chánh Văn phòng Bộ GD-ĐT phân tích sâu sát rằng có 4 lý do khiến học sinh đỗ tốt nghiệp cao năm nay:
Thứ nhất do năm nay là năm thứ tư thực hiện cuộc vận động “hai không” nên những thí sinh yếu kém đã cố gắng học tập để thi đỗ.
Thứ hai, do công tác tư vấn tốt của các cơ quan truyền thông.
Thứ ba, do các ngày thi trên toàn quốc thời tiết mát mẻ.
Thứ tư là có thể do các em phấn đấu lập thành tích để chào mừng đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội!

Văn Đình Hưng, đích thị là đảng.
*
Ban Tuyên Giáo thuộc Thành Ủy thành phố Ðà Nẵng vừa ra một văn bản, không rõ thuộc loại gì, nhưng có vẻ ngang với một cái lệnh, đề gửi cho “Văn phòng đại diện báo Ðại Ðoàn Kết tại Ðà Nẵng”, đòi cơ quan báo chí này cử phóng viên phải “là đảng viên” đến để “thông tin, tuyên truyền về Ðại hội lần thứ XX đảng bộ thành phố Ðà Nẵng”. Thế là …tịt, bởi văn phòng đại diện báo ĐĐK tại Đà Nẵng không có nhà báo nào là đảng viên.
Các ban Tuyên giáo, từ TW xuống tới địa phương đều tự coi mình là đảng.
*
Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch UBND TP Hà Nội, và Hoàng Tuấn Anh, Bộ trưởng Văn-thể-du,  đã hè nhau đề xuất một phương án thực sự động trời có tên là Phương án… “bắn mây ngăn mưa”, với phí tổn vào tầm 1 tỷ USD cho 3 ngày đại lễ nhiệt liệt chào mừng 60 năm hữu nghị Việt-Trung và 1000 năm Thăng Long. Đề án này được chuyển đường tắt lẫn đường vòng lên tới Phó TT Nguyễn Sinh Hùng. Tức là toàn giới IQ thượng hạng ngoại hạng. Không may cái là thời điểm của đề án này rớt vô sau vụ đường sắt cao tốc bị bác. Nguyễn Sinh Hùng, dù rất mê tính béo ngậy của dự án, nhưng cũng đành nuốt nước bọt nói “không”, kèm theo một lời phán nuối tiếc: “Nếu ta làm được thì nên làm, đằng này ta chưa làm được thì thôi”.
Kẻ đề xuất theo cảm hứng và trong tâm thức toàn quyền, tất nhiên là đảng.
Kẻ phê chuẩn, dù không được như ý, cũng vẫn xưng xưng rằng đảng là tao!
*
Chỉ riêng 16 bộ phận tổ chức của đảng CSVN, chưa phải toàn đảng, trong nhiệm kỳ 10 đã “vi phạm trong sử dụng tiền bạc” tăng gấp đội nhiệm kỳ 9: số tiền vi phạm phát hiện được ở cấp do trung ương kiểm tra là trên 80 tỷ đồng, tương đương 4,2 triệu đô la. Ở cấp cơ sở, con số này là 56 tỷ đồng. Lưu ý rằng đây chỉ là những con số “phát hiện được”.
Nguyễn Văn Chi, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, thừa nhận “vi phạm qua kiểm tra tài chính đảng là đáng lo ngại, kiểm tra đâu cũng có vi phạm ở mức độ khác nhau”.
Thủ trưởng bất kỳ cơ quan nào của đảng cũng tự coi mình là đảng.
*
Hai anh em Trần Văn Chính (nguyên Vụ phó Vụ Tổ chức cán bộ của Bộ Giáo dục & Đào tạo) quyết tâm chiếm lấy bằng được Trường Đại học Phan Châu Trinh ở Hội An (một tư thục phi lợi nhuận). Theo một vài (trong số rất nhiều) đường dây (nổi tiếng của Bộ), việc vận động của anh em Trần Văn Chính đã đưa đến kết quả là Nguyễn Thị Nghĩa, Thứ trưởng Bộ GD- ĐT, cùng một Đoàn công tác hùng hậu về “làm việc” với Ban giám hiệu của trường trong suốt …một giờ đồng hồ, trên nguyên tắc định sẵn là …miễn đối thoại.
Hệ quả là 2 cái quyết định ngồi xổm trên luật pháp của Nguyễn Thị Nghĩa đều được hoàn trả cho khổ chủ: 1) bãi miễn trách vụ hiệu trưởng của ông Phạm Hữu Thu; và 2) ngưng tuyển sinh cho trường Phan Châu Trinh.
Hai anh em Trần Văn Chính tất nhiên là đảng.
Nguyễn Thị Nghĩa cũng là đảng. Thậm chí, còn hơn cả đảng, bởi đã bị mắng ngay trong buổi họp với thành ủy Hội An: “chị là Thứ trưởng thôi chứ chị to hơn đảng à?”.
*
Trường Cao đẳng Nghề số 8 (thuộc bộ QP, ở Biên Hoà, Đồng Nai), từng được vinh danh “Điểm sáng về dạy nghề”, là nơi mà mọi thí sinh đều an tâm đóng tiền đi thi “bảo đảm đậu”. Kể cả những thí sinh ngồi ngoài quán uống cà phê, thậm chí, đi tắm biển tận Vũng Tàu Bà Rịa, cho hết giờ thi, đều được cấp bằng. Ngô Phước Sánh, Chủ tịch UBND thị trấn Tân Thạnh, cũng là 1 trong các tay cò mua bán bằng, tuyên bố: “Chỉ đạo của huyện là làm sao thì làm, miễn có bằng thì thôi!”.
Hiệu trưởng trường nghề số 8, với toàn quyền cấp bằng, là đảng.
Các chủ tịch UBND đồng loại với Ngô Phước Sánh, cũng là đảng.
*
Một trong các bộ đứng đầu công nghiệp nuôi dưỡng nhiều cò lắm chợ là Bộ GD-ĐT. Ngoài chợ phao, các chợ tuyển sinh là nơi sầm uất phồn thịnh hơn cả. 200 triệu đồng/1 suất đại học! Khẩu hiệu bắt mắt thời đại là: “Trường nào cũng chạy được”, “Trôn kim nào cũng qua lọt”…
Quan chức bộ GD-ĐT là đảng.
Cò chạy trường, không nhất thiết đảng viên, cũng hành xử không khác đảng.
*
Phạm Thanh Bình, Chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc Vinashin, quản trị thua lỗ/thất thoát 86.000 tỷ đồng tiền thuế của dân. Tính trung bình ra là mỗi công dân VN phải trả khoảng một triệu đồng tiền nợ do Bình gây ra.
Nguyễn Sinh Hùng, Phó thủ tướng, lãnh trách nhiệm vực dậy tập đoàn kinh tế khánh tận Vinashin bằng dự án vay nợ 56 tỷ USD dưới danh nghĩa xây dựng đường sắt cao tốc, nhưng rất tiếc là quốc hội phản bác, không thông qua.
Phạm Thanh Bình, kẻ phá hoại tài sản của nhân dân ở tầm kỷ lục bằng tính khí tùy tiện và ngu muội lộng quyền như trên, chính là đảng.
Nguyễn Sinh Hùng, nâng đỡ/bảo kê/bao che/cứu vớt cho một tội phạm như Bình, vẫn bằng tính khí tùy tiện và ngu muội lộng quyền như trên, cũng đã tự coi mình là đảng.
*
Võ Kim Cự, ủy viên Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy, phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Hà Tĩnh, từng “bị kỷ luật vì làm cho một cô giáo mầm non mang bầu”, từng mua bằng dỏm của Western Pacific University, vừa được bổ nhiệm giữ chức chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh.
Nguyễn Nhật, chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị, tổng giám đốc Tổng công ty Khoáng Sản và Thương Mại Hà Tĩnh, nổi danh xài bằng dỏm của Ðại Học Irvine và Nam Thái Bình Dương, cũng vừa được bổ nhiệm giữ chức phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh.
Quyết Ðịnh bổ nhiệm mang số 1385/QÐ-TTg.
Võ Kim Cự và Nguyễn Nhật, lọc lừa cả nước, dùng bằng dỏm để thành lãnh đạo, chính là đảng.
Nguyễn Tấn Dũng, kẻ hồn nhiên bổ nhiệm cho mấy đứa xài bằng dỏm làm lãnh đạo như nó, tất nhiên, càng là đảng “gộc”.
***
Ngần ấy thời sự nhục nhã xảy ra chỉ trong khoảng trên dưới một quý.
Đủ để cả nước thất kinh khi phải lược qua tình hình cần duyệt lại xem đảng là ai? tên gì? ở đâu? mấy đứa?
Đảng ta là đạo đức, là văn minh, như thế ư?
Thẻ đảng là giấy chứng thực tất cả những lề thói đạo đức/văn minh như thế chăng?
Những đảng viên khác nghĩ sao?
Phải chăng đã đến lúc để vất bỏ những tấm thẻ đảng ô nhục đó?
Nơi nơi đang sục sôi. Chỉ cần Đại tướng Võ Nguyên Giáp phát pháo tiên phuông, làm gương dẫn dắt, là trở thành động lượng đại trà, giúp cho mọi người mạnh dạn hơn để cùng vất bỏ thẻ đảng, chối từ cái hàng ngũ phi nhân đang nhân danh cộng sản mà vơ vét tư lợi; nhân danh xã hội chủ nghĩa mà bóc lột công nông; nhân danh Tổ Quốc mà bán đứng Tổ Quốc; nhân danh Dân Tộc mà đọa đày/giết hại Dân Tộc…
Hãy cùng nhau vất bỏ thẻ đảng để sang trang lịch sử.
Không chỉ thuần để giữ nguyên bờ cõi, mà còn để kiến tạo bệ phóng cho đất nước cất cánh, con người thăng hoa.
14-8-2010. Chuẩn bị chào mừng 65 năm ngày Cách Mạng Tháng Tám.
Blogger Đinh Tấn Lực

Phong thủy ngàn năm Thăng Long (1/2)

I/ Hai bản dịch chiếu dời đô sai lầm nghiêm trọng:

Hiện nay nhà nước Việt Nam đang ráo riết chuẩn bị làm lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long, căn cứ vào bản chiếu dời đô của ông Lý Công Uẩn (năm 1010). Vấn đề đặt ra là hậu thế đã hiểu và học được gì từ sự kiện lịch sử này? Ðể không tủi nhục với tiền nhân.

Theo Ðại Việt Sử ký toàn thư (ÐVSKTT) (1) ghi chép sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi gần một năm đã tự tay viết chiếu dời đô từ Hoa Lư về thành Ðại La đổi tên là thành Thăng Long có nội dung theo bản gốc như sau:
Phiên âm:
THIÊN ÐÔ CHIẾU
Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi Tam đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân trí, cẩu hữu tiện triếp cải. Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ. Nhi Ðinh Lê nhị gia, nải tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi. Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ.
Huống Cao vương cố đô Ðại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung; đắc long bàn hổ cứ chi thế. Chính Nam Bắc Ðông Tây chi vị; tiện giang sơn hướng bội chi nghi. Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải. Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa. Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô.Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà? (2)
Hiện nay có hai bản dịch chính thức Thiên đô chiếu này được công nhận đăng ký và phổ biến công khai trên báo chí và sử liệu Việt Nam, đó là:

* Bản dịch thứ nhất của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, in trong Ðại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993. (3)

Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Ðại; ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Ðinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.
Huống chi thành Ðại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.
Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?

* Bản dịch thứ hai của Nguyễn Ðức Vân, in trong Tóm tắt lịch sử Triều Lý - Ban quản lý Di tích lịch sử văn hóa Ðền Ðô - Ðình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh; Giấy phép xuất bản số 35/VHTT ngày 22/10/2001 của Sở Văn hóa - Thông tin Bắc Ninh (4)

CHIẾU DỜI ÐÔ
Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần đời đô; nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô. Phải đâu các vua thời Tam Ðại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời ? Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi. Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh. Thế mà hai nhà Ðinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi. Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không đổi dời.
Huống gì thành Ðại La, kinh đô cũ của Cao Vương: ở vào nơi trung tâm trời đất; được thế rồng cuộn hổ ngồi. Ðã đúng ngôi Nam Bắc Ðông Tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Ðịa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp nước Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.
Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào?

Sự khác biệt lớn nhất và gây nhiều tranh cãi của hai bản dịch này là cụm từ phong thủy “long bàn, hổ cứ” được dịch thành “rồng chầu, hổ phục” và “rồng cuộn hổ ngồi”. Rất tiếc là cả hai bản dịch theo lối phóng tác, tượng thanh, tượng hình đã hoàn toàn sai lạc về học thuật cũng như về phong thủy đem lại nhiều nghịch lý, gây hậu quả nghiêm trọng. (Ngoài ra còn một bản dịch khác của Ngô Tất Tố, đã dịch cụm từ trên là thế rồng bò, hổ ngồi) (5)

A /- Về học thuật:
Ðiều lưu ý đầu tiên là hai cụm từ “Thăng Long”“long bàn, hổ cứ” xuất phát từ một người viết ra đó là ông Lý Công Uẩn, tại một thời điểm nhất định (1010), để chỉ cùng một vùng đất định cư, như vậy nếu dịch thuật ra tiếng Việt thì phải sử dụng cùng một phương pháp giống nhau. Ý nghĩa của hai cụm từ này nếu không tương tự nhau thì chí ít cũng phải bổ sung cho nhau chứ không thể đối nghịch nhau trong sự việc đặt tên cho một vùng đất.
Ðiều lưu ý kế tiếp là những cụm từ này có thể có nhiều lối dịch khác nhau, thế nhưng lối dịch chuẩn xác nhất vẫn phải hội đủ hai điều kiện nói trên.

Từ “Thăng Long” được dịch là “rồng bay lên” rất chuẩn và chính xác không ai tranh cãi. Chữ long là một danh từ, chữ thăng đứng trước chữ long là một động từ đóng vai tỉnh từ bổ nghĩa cho chữ long.
Áp dụng phương cách thứ tự dịch thuật này vào cụm từ “long bàn”, chữ bàn là danh từ, chữ long là danh từ đóng vai tĩnh từ bổ nghĩa cho chữ bàn, như vậy phải dịch là địa bàn của rồng hay là chỗ ở của rồng mới là chính xác.
Tương tự như vậy cụm từ “hổ cứ” phải dịch là căn cứ của hổ, hay nơi ở của cọp.

Nếu từ Thăng Long dịch là rồng bay lên, trong khi cụm từ “long bàn, hổ cứ” dịch là rồng cuộn hổ ngồi, hay rồng chầu hổ phục, thể hiện hai lối dịch khác nhau về ngữ pháp không thể chấp nhận được.

Nếu cho rằng dịch rồng cuộn hổ ngồi, hay rồng chầu hổ phục là đúng, điều này gián tiếp nói rằng cụm từ “long bàn hổ cứ” đã viết sai ngữ pháp, thay vì phải viết là “bàn long, cứ hổ”. Sự kiện này hoàn toàn không thể xảy ra với một người học chữ hán từ nhỏ làm quan đại thần, lên làm vua, sử dụng chữ hán mỗi ngày vào thời điểm Việt Nam chưa có chữ Việt.

B /- Về phong thủy:
Ngoài ra lối dịch trên hoàn toàn sai lạc, đem lại nhiều nghịch lý theo ý nghĩa phong thủy của nó.
1)- Chữ rồng cuộn hay rồng chầu mô tả một trạng thái, hay động tác của con rồng an phận, định vị một nơi, trong khung trời hẹp. Ðiều này hoàn toàn tương phản với ý nghĩa của tên gọi Thăng Long là rồng bay lên trời, ở khung trời mở rộng mang trạng thái hoàn toàn tự do và phóng khoáng.

2)- Rồng cuộn, rồng chầu là loại rồng mang trách nhiệm tận trung phục vụ nhà vua hoàn toàn đối nghịch với hình ảnh rồng bay lên trời , chỉ sự chia ly, rời bỏ nhà vua ra đi, không hẹn ngày trở lại. Có thể nào đặt hai tình thế đối nghịch trong cùng một thế đất hay không?

3)- Rồng cuộn, rồng chầu ở thể TỊNH, trong khi rồng bay lên trời ở thể ÐỘNG, trong một vùng đất lại đặt tên vừa tịnh lại vừa động rất mâu thuần hoàn toàn trái với nguyên tắc dịch lý mà người xưa rất coi trọng.

4)- Theo truyền thuyết rồng luôn luôn ở trong mây, mới có thể vùng vẫy phát huy uy lực của mình, thế nhưng theo hai bản dịch rồng cuộn hay rồng chầu là hai loại rồng thoát ra ngoài môi trường thuận lợi vốn cần thiết của rồng. Như vậy đây là loại rồng thất thế , hết thời.
Hổ ngồi hay hổ phục cũng là loại hổ rời xa núi rừng, “dựa núi nhìn sông” chẳng khác gì loại hổ trong sở thú nuối tiếc một thời quá khứ như bài thơ “nhớ rừng’ của Thế Lữ tâm tình:

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
......
Ðâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Ðể ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
- Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

Rồng và hổ trong hoàn cảnh như đã diễn tả không thể là loại sinh vật phát huy được sở trường và sở đoản của mình được, khó có sự trung thành bền bỉ khi chính những sinh vật này luôn luôn hồi tưởng quá khứ.

5)- Rồng là sinh vật theo truyền thuyết ở trên trời mây, vậy tại sao Lý Công Uẩn lại đặt tên cho vùng đất Ðại La là rồng bay lên trời. Câu hỏi đặt ra rồng xuất phát từ đâu đến để có thể bay lên trời? Phải chăng từ trong lòng đất thiên đô. Nếu đúng như vậy thì chữ long bàn phải có nghĩa là vùng đất sinh sản ra rồng để bay về trời. Cũng theo truyền thuyết rồng là sinh vật có linh tánh, bay lên khung trời mở rộng, có khả năng chọn lựa một nơi tốt đẹp và thiêng liêng để sản sinh bảo tồn nòi giống. Như vậy vùng đất Thăng Long phải là nơi “linh thiêng”. Nói một cách tổng quát hơn đây là vùng đất “địa linh để sản sinh nhân kiệt”

6)- Hổ cứ được dịch là nơi trú ngụ của con hổ. Cũng còn ý nghĩa là nơi sản sinh ra mãnh hổ để bảo vệ vùng đất của mình. Như vậy đây là vùng đất nguy hiểm bất khả xâm phạm.

7)- Cụm từ “long bàn hổ cứ” tự thân cũng có ý nghĩa bổ sung cho nhau. Nếu cho rằng vùng đất này sản sinh ra rồng tượng trưng cho nhà vua, thì chính vùng đất này cũng phải sản sinh ra mãnh hổ tượng trưng cho binh tướng giỏi để hỗ trợ cho nhà vua. Vì rằng vua mà không có binh tướng giỏi thì chẳng làm được việc gì cả.

8)- Theo hai bản dịch thế đất rồng cuộn hổ ngồi hay rồng chầu hổ phục mang tính huyền bí, phức tạp, mơ hồ khó hình dung ra được vị trí thế đất như thế nào.Trái lại theo nội dung văn bản chiếu dời đô rất trong sáng và rõ ràng đây là thế đất bằng phẳng, “chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước” lại nằm tại vị trí “chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước”.

9)- Như vậy, dưới nhãn quan phong thủy Thăng Long có giá trị như là vùng đất “nội ngoại lưỡng toàn”.
Thứ nhất về phía đối nội đây là thế đất địa linh sản xuất ra nhân kiệt mọi người dân đều có cơ hội phát huy mọi tài năng của để vươn lên trong khung trời mở rộng không giới hạn.

Thứ hai về đối ngoại đây là thế đất bất khả xâm phạm. Tất cả mọi thế lực ngoại bang xâm phạm vào lãnh thổ Việt Nam như đi vào hang cọp đều phải trả giá bằng mạng sống không có đường về.
Ðúc kết từ những ý nghĩa trên, cụm từ “long bàn, hổ cứ” nên dịch là “ ổ rồng, hang cọp” (là nơi rồng và cọp ở và sinh sản, cũng là nơi bất khả xâm phạm) lối địch này có ưu điểm ngắn gọn thay vì giải thích dài dòng, nhưng lại bao quát được hai ý nghĩa là nơi cư trú (về mặt ngôn ngữ) cũng là nơi sản sinh rồng, cọp (về mặt phong thủy). Lại phù hợp với nội dung của bản chiếu dời đô đã mô tả thế đất Thăng Long.

Người xưa thường hay sử dụng ngôn ngữ đầy sáng tạo hoặc hư cấu nhằm che dấu một nội dung phong thủy nào đó, với điều kiện ngôn ngữ này lại không quá xa rời mục đích và hình tượng của nó. Và cụm từ “long bàn, hổ cứ” cũng không thoát ra ngoài thông lệ cố hữu đó.

Ðiểm quan trọng cần nói thế đất “ổ rồng, hang cọp” là thế đất “vượng phát cho dân tộc và đất nước” chứ không phải là thế đất vượng phát riêng cho một cá nhân ông vua, hay một triều đại nào cả. Ý niệm này đã được thể hiện trong phần đầu của chiếu dời đô: Vua thấy thành Hoa Lư ẩm thấp chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đế vương, muốn dời đi nơi khác, tự tay viết chiếu truyền rằng:
“Ngày xưa, nhà Thương đến đời Bàn canh năm lần dời đô, nhà Chu đến Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam đại ấy theo ý riêng tự dời đô xằng bậy đâu. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh”
Do vậy khi tìm hiểu giá trị phong thủy của đất Thăng Long là phải xét đến hiệu quả của thế đất này trong suốt quá trình sử dụng, chứ không thể chỉ chú trọng đến thời điểm nhà Lý dời đô.
II/- Kiểm chứng qua lịch sử:
Theo Ðại Việt sử ký toàn thư, nước Việt Nam được hình thành từ năm 2879 trước Tây Lịch cho đến nay 2010 sau Tây Lịch tổng cọng là 4889 năm, đã trải qua nhiều thời kỳ hay triều đại như sau:

Bảng thống kê các triều đại (thời kỳ) Việt Nam



Triều đại
Thời gian trị vì
Tổng số
Ghi chú
Họ Hồng Bàng
2879 - 258 tr . TL
2622
Không có chi tiết lịch sử (?)
Nhà Thục
257  - 207 tr. TL
50

Nhà Triệu
207 - 111 tr. TL
96

Bắc thuộc lần thứ I
111 tr. TL - 39 s. TL
150

Trưng Vương
40  -  43 s. TL
3

Bắc thuộc lần II
43 - 544
501

Nhà Tiền Lý
544 - 602
58

Bắc thuộc lần III
603 - 939
336
Ba lần Bắc thuộc là 987 năm
Nhà Ngô
939 - 965
26

Nhà Ðinh
968 - 980
12

Nhà Tiền Lê
980 - 1009
29

Chiếu dời đô
Tháng 7/1010

Từ Ðại La về Thăng Long
Nhà Lý
1010 - 1225
215
9 đời
Nhà Trần
1225 - 1400
175
11 đời
Bỏ Thăng Long
Tháng 11/ 1397

Dời về Tây Ðô Thanh Hóa
Nhà Hồ
1400  -  1407
7

Nhà hậu Trần
1407 - 1413
6

Nhà Minh đô hộ
1414 - 1427
13

Kháng chiến
1418 - 1427
6

Nhà Lê
1428 - 1788 (1533)
105

Nhà hậu Lê
1533 - 1788
255
Trịnh Nguyễn phân tranh
Nam Bắc Triều
1527 - 1592
65

Nhà Nguyễn Tây Sơn
1788 - 1802
14

Nhà Nguyễn
1802 - 1954
1152
Bị Pháp bảo hộ từ 1883 - 1954
Chiến tranh Việt Nam
1954 - 1975
21

Việt Nam Cộng Sản
1975 - 2010
35
Tồn tại bao lâu nữa?
Tổng cọng
24 triều đại (thời kỳ)
4889






Qua bản thống kê, có thể rút ra những tổng kết như sau:
  • Thời tiền sử từ năm 2879 đến 258 trước Tây Lịch tổng cọng 2672 là thời gian dài, rất tiếc là không có sử liệu ghi chép đầy đủ, do đó vẫn còn nhiều tranh cãi.
  • Trải qua ba thời kỳ Bắc thuộc 111 tr.TL - 39s.Tl, 43 - 544 s TL, 603 - 939 tổng cọng 987 năm, nước Việt Nam đặt dưới sự đô hộ của người Tàu đây là những trang sử đen tối và ô nhục nhất của đất nước, mà không người Việt Nam nào có thể quên được.
  • Kể từ khi ông Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long (1010) đến khi nhà Hồ bỏ thành Thăng Long dời về Tây Ðô (1397). Tổng cộng thời gian sử dụng thành Thăng Long là 387 năm cũng là thời gian ngự trị của thời Lý và thời Trần. Ðây là khoảng thời gian dài nhất trong những trang sử độc lập (có sử liệu) của Việt Nam cũng là những trang sử vinh quang và oai hùng, phát huy được hiệu quả giá trị phong thủy nhất của đất Thăng Long mang ý nghĩa “nội ngoại lưỡng toàn” là “phát huy dân trí, và đánh đuổi ngoại xâm, mở mang bờ cõi”.
  • Ngoài ra những thời đại khác không sử dụng kinh đô Thăng Long, một số yểu tử, hoặc rơi vào sự lệ thuộc ngoại bang, hay nội chiến tương tàn. Chỉ ngoại trừ nhà Lê được tồn tại 105 năm.
Tất cả những điều trên đã khẳng định được giá trị phong thủy của Thăng Long, không ai có thể tranh cãi.
Ðể minh chứng một lần nữa chúng tôi đi vào chi tiết phân tách thành quả của thế đất trên như sau:

1)- Ðối nội, dân trí:
Thời nhà Lý và nhà Trần rất hiểu rõ giá trị phong thủy của Thăng Long, nên đã ra sức tạo nên những điều kiện thuận lợi để phát triển dân trí bằng những biện pháp: Mở Quốc Tử Giám, Hàn Lâm Viện, tạo cơ hợi đồng đều cho mọi người dân ra sức cống hiến cho đất nước bằng các cuộc thi tuyển hàng năm.

- Năm 1075, tháng 2, xuống chiếu tuyển Minh kinh bác học và thi Nho học tam trường. Lê Văn Thịnh trúng tuyển, cho vào hầu vua học.
- Năm 1076 mùa hạ, tháng 4, đại xá, Xuống chiếu cầu lời nói thẳng.
Cất nhắc những người hiền lương có tài văn võ cho quản quân dân.
Chọn quan viên văn chức, người nào biết chữ cho vào Quốc tử giám.
- Năm 1077 tháng 2, thi lại viện bằng phép viết chữ, phép tính và hình luật.
- Năm 1086 tháng 8, thi người có văn học trong nước, sung làm quan ở Hàn lâm viện, Mạc Hiển Tích trúng tuyển, bổ làm Hàn lâm học sĩ. (1)

2) Ðối ngoại: Bất khả xâm phạm, Chống ngoại xâm
Triều đại Nhà Lý và Nhà Trần đã lập nên những trang sử sáng chói về thành tích chống ngoại bang. lịch sử đã ghi công:

- Lý Thường Kiệt với thành tích “Bắc phạt Tống, Nam bình Chiêm” và ngạo nghễ đứng trên đất Tàu phổ biến tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam:
Nam Quốc Sơn Hà Nam Ðế Cư
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhử đẳng hành khan thủ bại hư!
Dịch:
Sông núi nước Nam, Nam đế ở,
Rõ ràng phân định tại sách trời
Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm?
Cứ thử làm xem, chuốc bại nhơ!
Mở rộng thêm đất nước với ba châu Ðịa Lý, Ma Linh và Bố Chính.
- Ỷ Lan Thái phi xuất thân chỉ là một cô gái hái dâu, đã góp công ổn định quan trường hậu cung để cho vua Lý Nhân Tông yên tâm đánh thắng quân Chiêm Thành.
- Ngoài ra thời nhà Trần có Hưng Ðạo Vương đại thắng quân Nguyên, Mông với trận Bạch Ðằng Giang oai hùng, vang danh kim cổ.
- Tổ chức Hội nghị Diên Hồng (1283) đế lấy ý dân quyết chiến thắng là một biến cố lịch sử trọng đại cho hậu thế noi theo.
Tóm lại với những thành tựu được lưu danh trên những trang sử nhà Lý và nhà Trần trong thời gian sử dụng đất Thăng Long đã minh chứng giá trị phong thủy vốn có của vùng đất này. (còn tiếp)




Ghi chú:


1)- Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư
http://docs.google.com/viewer?a=v&pid=sites&srcid=dmlldGhvYy5jb218d2VifGd4OjMzZjFiN2U3Nzc5ZTExYzQ
2)- Bản gốc Thiên đô chiếu
http://quehuongonline.vn/VietNam/Home/Dat-nuoc-Con-nguoi/1000-nam-Thang-Long-Ha-Noi/2010/03/3BC8C739/

3)- Bản dịch Thiên Ðô chiếu chính thức của viện khoa học xã hội Việt Nam
http://www.tuyengiao.vn/Home/thanglonghanoi/thanglonghanoi/2009/5/9315.aspx

4)- Bản dịch Thiên Ðô chiếu của Nguyễn Ðức Vân
http://thuvien.maivoo.com/Lich-su-c4/Thien-Do-Chieu-Ban-dich-cua-Nguyen-Duc-Van-d34965

5)- Lý Công Uẩn Chiếu dời đô Thăng Long - Vịnh Hạ Long
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=116912&z=257