11/12/10

Ham cầm quyền quên giữ nước"Đã có nằm vùng của Bắc Kinh trong Đảng?"

Trong 80 năm hiện diện trên đất Việt Nam, chưa bao giờ Đảng Cộng Sản phải lo giữ quyền lực bằng thời gian tổ chức Đại hội Đảng XI sắp diễn ra vào tháng 01 năm 2011, nhưng càng ham nắm quyền Đảng càng quên giữ nước để không rơi vào tay Trung Cộng.

Từ xưa đến nay Đảng CSVN thường rêu rao “đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, nhưng thực tế dân chỉ có thể làm chủ được bản thân mình.

Hãy đọc bài viết của ông Nguyễn Văn An, nguyên Chủ tịch Quốc hội, về vần đề này:

“Tư tưởng của Bác Hồ là tư tưởng lấy dân là gốc, dân là chủ. Đảng không thể đòi hỏi Mặt Trận (Tổ quốc), đòi hỏi dân phải thừa nhận quyền lãnh đạo của mình mà phải qua hoạt động thực tiễn, phải được Mặt Trận và nhân dân suy tôn, lựa chọn. Lựa chọn đây là lựa chọn cương lĩnh và người đứng đầu đất nước thông qua tổng tuyển cử”.

Dân suy tôn và lựa chọn bằng cách nào? Dân suy tôn và lựa chọn cương lĩnh phát triển của Đảng, lựa chọn người đứng đầu Đảng trở thành người đứng đầu đất nước thông qua tổng tuyển cử. Bây giờ cương lĩnh của Đảng chưa được dân lựa chọn, chưa được dân bỏ phiếu, người đứng đầu Đảng chưa sang ứng cử chức danh người đứng đầu đất nước. Dân chưa được lựa chọn như vậy cho nên dân chưa được làm chủ thật sự.

Nếu Đảng coi mình đương nhiên là lực lượng lãnh đạo thì chẳng khác gì nhà vua cha truyền con nối. Từ một nhà vua cá nhân thời quân chủ, nay trở thành một nhà vua tập thể thời cộng hòa xã hội chủ nghĩa. Như vậy là Đảng chủ chứ không phải dân chủ.”

(Báo Tuần Việt Nam, 06/12/2010)

Tuy ông Nguyễn Văn An chưa đòi Đảng phải rút lui, nhưng nguyên việc đòi người đứng đầu đất nước phải được dân bầu lên mới là dân chủ cũng rất mới so với thời ông Nguyễn Văn An còn làm Chủ tịch Quốc hội từ ngày 27/06/2001 đến ngày 26/06/2006.

Nhưng nếu ông Nguyễn Văn An chỉ muốn dân chủ trong Đảng mà không đòi cho dân được quyền làm chủ đất nước, tự quyết định lấy thể chế chính trị cho mình và để nguyên Đảng lãnh đạo độc quyền như hiện nay thì cũng bằng không. Như vậy, phải chăng ông Nguyễn Văn An muốn cứu Đảng đang “tứ đầu thọ địch” từ ngay trong lòng chế độ thay vì từ các “thế lực thù địch” và “diễn biến hòa bình” của đế quốc như Đảng đang tuyên truyền và ra sức phản công trên mặt trận tư tưởng?

Đảng lãnh đạo là ai?

Đáng chú ý là bài viết của ông Nguyễn Văn An, coi như vượt ra ngoài vòng kiềm tỏa của Đảng, được phổ biến vào lúc có nhiều “chuyên viên tư tưởng, tuyên truyền” của Đảng và quân đội được sử dụng viết bài bảo vệ quyền lãnh đạo cho Đảng.

Chẳng hạn như ông Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch Sử Đảng đã viết bài “Bối cảnh xác lập vai trò và vị trí lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam” trên báo điện tử của đảng ngày 29/11/2010.

Ông Nguyễn Trọng Phúc viết:

“Đường lối đổi mới và Cương lĩnh 1991 của Đảng đã đưa sự nghiệp đổi mới - cuộc canh tân vĩ đại trong lịch sử dân tộc không ngừng phát triển, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đảng Cộng sản Việt Nam một lần nữa thể hiện trách nhiệm lớn lao trước dân tộc và lịch sử.

Vị trí và vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng xuất phát từ tính tổ chức, kỷ luật của Đảng ở tính tiên phong, gương mẫu, đạo đức cách mạng được rèn luyện ngay từ khi bước vào sự nghiệp cách mạng của cán bộ, đảng viên, ở sự gắn bó mật thiết với dân tộc và nhân dân”.

“Canh tân vĩ đại ở chỗ nào” trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (bổ sung, phát triển năm 2011), gọi tắt là Cương lĩnh 1991 ra đời tại Đại hội đảng khóa VII đã đưa Đỗ Mười lên làm Tổng Bí thư Đảng?

Nếu ông Nguyễn Trọng Phúc còn nhớ thì khi ấy Tổng bí thư Đảng khóa VI là Nguyễn Văn Linh đã nói câu để đời “Đổi mới hay là chết” để mô tả hoàn cảnh sắp chết của Việt Nam vào năm 1986 khi Đảng phải quyết định bỏ mô hình kinh tế tập trung, bao cấp của Liên Sô để “đổi mới’, mở cửa cho ngọai quốc vào đầu tư làm kinh tế thị trường của tư bản để cứu Đảng khỏi tan vỡ.

Do đó, không ai có thể bị mê hoặc bởi những lời ông Nguyễn Trọng Phúc tự biên tự chế để khoe khoang như:

“Vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng vẫn không ngừng được củng cố, phát triển từ trong bản chất cách mạng, khoa học và tư tưởng, lý luận của Đảng, từ sự đúng đắn và không ngừng hoàn thiện Cương lĩnh, đường lối chính trị, từ sự không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, từ sự rèn luyện, không ngừng theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Vị trí lãnh đạo duy nhất của Đảng không bao giờ thay đổi vì ngoài lợi ích của giai cấp, dân tộc và nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác.”

Nhưng “giai cấp – dân tộc – nhân dân” nào đã ủy nhiệm cho Đảng lãnh đạo đất nước? Nếu Đảng tự cho rằng mình là đại biểu của “giai cấp công nhân và nhân dân lao động” là một ngụy biện vì cả hai giai cấp này đã, đang và sẽ tiếp tục bị Đảng bạc đãi và bóc lột đến tận xương tủy như đã thấy từ khi có bóng dáng Đảng trên đất nước. Do đó khi nghe ông Nguyễn Trọng Phúc nói Cương lĩnh đã phản ảnh quyết tâm “không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng” thì chẳng ai tin, vì ông Nguyễn Trọng Phúc đã nói những điều ngược lại với nội dung của văn kiện này. Việc này đã được chứng minh trong các ý kiến của nhiều tầng lớp nhân dân sau 47 ngày bản Cương lĩnh được đem ra lấy ý kiến (kết thúc ngày 31/10/2010).

Nhiều người trong nước, kể cả một số trí thức hàng đầu và cựu lãnh đạo, đảng viên cao cấp đã chỉ trích Cương lĩnh vẫn giữ nguyên lối mòn tư duy bảo thủ, phản dân chủ, xưa cũ, chậm tiến, lạc hậu, mơ hồ, mị dân, không tưởng và là lực cản tiến bộ của dân tộc cần phải bỏ đi hay viết lại.

Dân chủ hay đảng chủ?

Để bênh vực cho chính sách độc tài ngụy trang trong “tập trung dân chủ”, anh Thiếu tá – Thạc Sỹ Trần Văn Huyên, Phòng Nhà trường, Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị đã phét lác trong báo điện tử Đảng qua bài "Một số vấn đề về bản chất nguyên tắc tập trung dân chủ và đấu tranh với các quan điểm sai trái hiện nay".

Ông Trần Văn Huyên đã lý luận “tập trung dân chủ” như thế này:

“Tập trung trên cơ sở dân chủ, điều này làm cho tập trung khác biệt về bản chất so với chuyên chế, chuyên quyền. Nội dung của nguyên tắc chỉ rõ: Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Đó là tập trung. Nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành. Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Nghị quyết là sự tập trung cao trí tuệ, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên. Để có sự chấp hành nghị quyết một cách nghiêm chỉnh, vô điều kiện, thì điều kiện tiên quyết là nghị quyết đó phải được xây dựng trên cơ sở dân chủ.”

(bài viết ngày 03/12/2010)

nhân dân Việt Nam
chưa hề có dân chủ,
dù chỉ một ngày kể từ khi
Đảng Cộng Sản nắm quyền
Đây là lập luận Đảng đang cổ võ cho điều được gọi là dân chủ phải có kỷ luật, không dân chủ bừa bãi để gây hỗn loạn xã hội, nhưng đồng thời cũng để chống đòi Đảng phải thi hành dân chủ thật sự bằng cách từ bỏ độc quyền lãnh đạo và chấp nhận đa nguyên đa đảng chính trị. Bởi lẽ thực tế đã chứng minh nhân dân Việt Nam chưa hề có dân chủ, dù chỉ một ngày kể từ khi Đảng Cộng Sản nắm quyền cai trị ở miền Bắc năm 1954 và sau 1975 trên cả nước. Thứ “dân chủ tập trung” đang được làm rùm beng trước thềm Đại hội Đảng XI là thứ dân chủ hạn chế chỉ diễn ra trong nội bộ đảng mà thôi. Dân không có quyền đòi dân chủ mà phải do Đảng ban cho ai thì người ấy được. Do đó chủ trương này đã bị bóc trần, bị chỉ trích là độc tài, mị dân bởi nhiều trí thức trong nước, kể cả một số đông cựu đảng viên và cựu lãnh đạo.

Để chống lại, Ban Tuyên Giáo và Báo Quân Đội Nhân Dân đã tung ra nhiều bài viết xuyên tạc và chụp mũ những người có lập trường đối lập với Đảng. Chẳng hạn như lập luận của ông Trần Văn Huyên:

“Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc vô cùng quan trọng đảm bảo sự sống còn của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Do vậy, các thế lực thù địch đã chống phá quyết liệt bằng những quan điểm sai trái về bản chất của nguyên tắc tập trung dân chủ cả trên phương diện lý luận và thực tiễn. Về phương diện lý luận, đã có nhiều quan điểm hiểu không đúng hoặc cố tình xuyên tạc nội dung và bản chất của nguyên tắc này, thực chất là muốn xoá bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, làm suy yếu Đảng, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Lẽ dĩ nhiên, những quan điểm này không trực diện đòi xoá bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ mà núp dưới cái phương pháp “phân tích bản chất của nguyên tắc”, bằng lập luận lập lờ, lái nhận thức của mọi người đi đến chỗ từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ.”

Trước đó, ông Nguyễn Mạnh Hưởng, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Viện Khoa Học Xã Hội Nhân Văn Quân Sự - Bộ Quốc Phòng cũng huyênh hoang trên Tạp chí Cộng Sản ngày 08/09/2010:

“Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn là đội tiền phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam, là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Qua sự “sàng lọc” dữ dội của lịch sử những thập kỷ đầu thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã lựa chọn Đảng Cộng Sản Việt Nam là người dẫn dắt mình đi đến tương lai hạnh phúc.”

Người dân nào đã “lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam” để thay mình lãnh đạo đất nước, hay Đảng này đã cướp mất của dân từ cuộc “cách mạng” tháng 8/1945?

Ông Nguyễn Mạnh Hưởng còn cả gan nói rằng:

“Dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam, sự nghiệp cách mạng nước ta đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân lao động Việt Nam, nhân dân ta thực sự được làm chủ cuộc sống của mình, được sống cuộc đời “tự do, hạnh phúc”.

Ai đã làm chủ cuộc sống của dân thì người cộng sản biết rõ hơn ai hết nên điều được gọi là “tự do, hạnh phúc” cho đến nay, sau 64 năm “được” sống với chế độ (1954-2010), người dân mới thấy mình bị Đảng lừa, bị Đảng cho ăn nhiều bánh vẽ quá! Vậy mà ông Nguyễn Mạnh Hưởng vẫn có thể trâng tráo dẻo mép:

“Ở Việt Nam không thực hiện chế độ đa đảng không phải vì chúng ta bảo thủ, mất dân chủ như các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc, mà đó là yêu cầu khách quan, là vì sự ổn định và phát triển của đất nước, vì sự phát triển của nền dân chủ và hạnh phúc của nhân dân, để thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Rằng:

“Ở nước ta, thực hiện một đảng duy nhất lãnh đạo, mọi người dân đều có thể trực tiếp hay gián tiếp (thông qua người đại diện của mình) đề đạt nguyện vọng và đóng góp ý kiến cho các cơ quan công quyền. Các kênh bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được mở rộng và hoạt động có hiệu quả. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trở thành quy chế, thiết chế dân chủ trong các tổ chức chính trị - xã hội, trong các hoạt động của xã hội; là phương châm hành động của người dân trong xây dựng hệ thống chính trị; là yêu cầu ứng xử của cán bộ trong tiếp xúc, quan hệ với dân và chăm lo đến dân. Nhân dân lao động là chủ thể mọi quyền lực; quyền lợi và nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm, cống hiến và hưởng thụ luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Thực tế trên chưa phải là đầy đủ, nhưng đã cho thấy tính ưu việt của chế độ một đảng ở Việt Nam; không thể vì những khó khăn, phức tạp nào đó mà xuyên tạc bản chất chế độ dân chủ của nước ta, đòi thực hiện đa đảng, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.”

Quả thật chỉ có những cái đầu mất óc mới có thể bù lu bù loa những “thành quả vĩ đại” của Đảng CSVN và tính ưu việt của chế độ như ông Nguyễn Mạnh Hưởng đã bịa ra. Ngay cả khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã tự nó làm nhục chế độ khi trong thực tế người dân không có quyền gì cả. Vì nếu người dân có quyền “kiểm tra” thì có lẽ Việt Nam không còn quốc nạn tham nhũng như hiện nay.

Đến phiên ông Trần Quang Nhiếp, Phó Giáo sư, Tiến sỹ cũng a-dua viết bài “Đảng với việc thay đổi lịch sử dân tộc" trên báo điện tử của Đảng ngày 15/11/2010 rằng: “Đảng thực sự là của dân, vì dân, được nhân dân đồng tình, ủng hộ”. Để biện hộ cho quan điểm này, ông Nhiếp nói rằng:

“Ngay trong máu lửa, Đảng ra đời là vì sự nghiệp giải phóng, cứu vớt nhân dân, Đảng thực sự được nhân dân tin, dân kỳ vọng là người cứu vớt, người đem lại hạnh phúc cho mình. Các thế hệ đảng viên, cán bộ của Đảng đã thật sự vì nhân dân mà hy sinh phấn đấu, không vì lợi ích cá nhân. Nhân dân tìm thấy ở Đảng là người dẫn dắt mình đi tới tương lai. Đồng thời Đảng ta đã là của dân, Đảng dựa vào nhân dân, tạo thành lực lượng cách mạng có sức mạnh vật chất và tinh thần vô tận, mạnh như thác lũ. Nhân dân che chở, bảo vệ, nuôi dưỡng Đảng trong mọi hoàn cảnh. Đảng đã thiết lập mối quan hệ máu thịt, quan hệ cá nước giữa Đảng với nhân dân. Đảng thực sự là của dân, Đảng không có mục đích tự thân.”

Nếu dân đã liên hệ “máu thịt” với Đảng như thế thì tại sao bây giờ đã có nhiều người quay lưng lại với Đảng. Điều này cũng đã được ông Trần Quang Nhiếp chứng minh khi viết rằng:

“Những thái độ trên đây khác hẳn với thái độ của những kẻ dụng ý xấu xa, tâm địa độc ác một cách có bài bản hòng xóa bỏ Đảng cộng sản Việt Nam. Chúng ra sức lôi kéo, làm chuyển biến nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân đi đến hoài nghi, từ bỏ Đảng. Bằng nhiều thủ đoạn kinh tế, chính trị, văn hóa… chúng làm cho cán bộ, đảng viên tự diễn biến mất lòng tin, phai nhạt lý tưởng. Chúng bơm to, thổi phồng những yếu kém, sai lầm, thiếu sót nhằm bôi nhọ, hạ uy tín của Đảng, bôi đen chế độ. Họ không những bác bỏ mọi công lao của Đảng suốt 80 năm qua, mà còn bịa đặt vu cáo trắng trợn cho Đảng về tội lỗi đối với dân tộc, đối với lịch sử. Chúng chia rẽ khối đoàn kết, kích động phái này, phái kia làm suy yếu Đảng… thực chất đây là những hành vi “đục nước, béo cò”, phá hoại Đảng, kích động tâm lý ly khai Đảng để mưu cầu mục tiêu đen tối của chúng.”

Đã có nằm vùng của Bắc Kinh?

Nhưng ông Trần Quang Nhiếp có biết tại sao bây giờ đã có những người thù ghét Đảng đến đỗi không cón muốn nhìn mặt Đảng nữa không? Tại vì Đảng bám víu quyền lợi thiển cận mà đã đẩy đất nước vào tay Bắc Kinh qua các dịch vụ hợp tác khai thác bauxite ở Tây Nguyên; cho thuê đất rừng trong thời hạn 50 năm ở ít nhất 10 tỉnh đầu nguồn có vị trị chiến lược quốc phòng; để cho hàng chục ngàn công nhân Tàu vào làm ăn ngay trong lãnh thổ Việt Nam qua các vụ trúng thầu xây dựng các nhà máy điện, xi-măng v.v. được Chính phủ Bắc Kinh bù đậy, che chở.

Đảng bám víu quyền lợi thiển cận
mà đã đẩy đất nước
vào tay Bắc Kinh
Hãy đọc bài viết của Tác giả Cầm Văn Kình trên báo Tuổi Trẻ ngày 28/03/2009: “Ngày 27-3, Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam tổ chức buổi tọa đàm về kích cầu trong xây dựng. Thực trạng lớn nhất được đưa ra tại buổi tọa đàm là rất nhiều dự án lớn đã triển khai nhưng hàng hóa VN không thể tiêu thụ được vì trúng thầu là các nhà thầu ngoại, chủ yếu là Trung Quốc” .

Chủ trương kích cầu xây dựng là đúng, nhưng ông Trần Ngọc Hùng - Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam - khẳng định các nhà thầu Việt Nam đang rất lo vì thực tế cho thấy các dự án lớn khi đem ra đấu thầu hầu như đều rơi vào tay các nhà thầu nước ngoài. Ông Trần Ngọc Hùng cho biết các nhà thầu Trung Quốc đang thắng thầu rất nhiều công trình trọng điểm về điện, ximăng, hóa chất... “Đáng quan tâm là các nhà thầu Trung Quốc thường đem theo hàng ngàn công nhân và đem cả thiết bị của họ sang, trong khi những thiết bị đó VN hoàn toàn có thể sản xuất được”...

Vừa đi cùng Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đến thăm một công trình xây dựng nhiệt điện ở Quảng Ninh, ông Nguyễn Công Lục - Vụ trưởng Vụ Kinh Tế Ngành, Văn phòng Chính Phủ - công nhận “một công trình nhưng công nhân Trung Quốc sang tới hơn 2.000 người” . Trong khi đó, ông Trần Văn Huynh - Chủ tịch Hội Vật liệu Xây dựng Việt Nam - cho biết không chỉ một mà hơn 10 công trình xây dựng nhà máy xi-măng và nhiều dự án nhà máy điện lớn ở VN đều đang được các nhà thầu Trung Quốc thi công. Đặc trưng của nhà thầu Trung Quốc, theo ông Trần Văn Huynh, là họ không thuê nhân công Việt Nam mà đem người sang, có thể bằng cả đường du lịch rồi ở lại.

Ông Trần Văn Huynh nói “Một số loại vật liệu Trung Quốc được đem qua Thái Lan rồi vòng vào Việt Nam. Máy móc thiết bị không nhập riêng được thì họ lắp sẵn rồi đem cả sang. Tôi có thăm một nhà máy xi-măng do nhà thầu Trung Quốc làm, đến cái bệ xổm trong nhà vệ sinh họ cũng không dùng hàng Việt Nam mà mua hàng Trung Quốc”.

Ông Trần Hồng Mai - Viện phó Viện Kinh tế Xây dựng - góp thêm một thực trạng khi cho biết có thể các nhà thầu Trung Quốc nhận được nhiều hỗ trợ từ phía nước họ, kể cả chính sách thuế, nên giảm mạnh giá bỏ thầu. Vì vậy, họ thường nắm phần thắng khi đấu thầu. Nên các công trình lớn như Đạm Cà Mau, nhà máy điện ở Hải Phòng, khi xây dựng lúc nào cũng có hàng ngàn công nhân Trung Quốc...

Cùng lo ngại như ông Trần Văn Huynh “nếu các công trình lớn đều vào các nhà thầu ngoại sẽ dần triệt tiêu nội lực”, nhiều chuyên gia đề nghị nên có chính sách cụ thể để giúp các doanh nghiệp xây dựng trong nước. Ông Trần Văn Huynh phân tích: “Giá thầu rẻ nhưng chất lượng không cao chưa chắc đã là rẻ, không nên tư duy cứ giá thấp là trúng thầu”. Ông Trần Hồng Mai viện dẫn Luật đấu thầu đã quy định phải ưu tiên doanh nghiệp Việt Nam nhưng nhiều chủ đầu tư Việt Nam lại “quên” điều này. Ông Mai cho rằng Nhà nước cần có chính sách để “nhắc” các chủ đầu tư.

Ngoài ra Đảng và Nhà Nước cũng đã bị khuất phục trước đe dọa của Tàu ở Biển Đông, bất lực trước các vụ ngư dân Việt Nam bị Tàu bắt, đánh đập, đâm thuyền làm chết chìm dưới lòng biển.

Tiến sỹ Nguyễn Thanh Giang đã lên tiếng báo động từ trong nước hôm 01/12/2010:

“Có người cho rằng không chỉ có “Vũ Ngọc Nhạ” trong đầu não Đảng, Quốc hội mà nhan nhản đó đây những tình báo nước ngoài nằm tại các phường, xã của ta. (Chẳng thế mà hacker Tần Thủy Hoàng đâu từ Trung Quốc cũng tích cực tham gia đánh phá các trang web dân chủ tiếng Việt). Xin hãy tỉnh táo. Việc hệ trọng hàng đầu hiện nay là ngăn chặn nguy cơ chui vào rọ ngoại bang đã, để rồi mới còn có thể tiếp tục bàn luận với nhau về những con đường tối ưu tiến tới dân chủ hóa đất nước”.

Cũng nên biết Vũ Ngọc Nhạ, bí danh Hai Long là cán bộ tình báo chiến lược của Quân Đội Cộng Sản miền Bắc được gài vào Dinh Độc Lập từ thời Đệ I Việt Nam Cộng Hòa và chỉ bị phát giác trong cụm tình báo của cộng sản A.22 vào trung tuần tháng 07/1969 thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Ông Nhạ là một trong số 42 cán bộ tình báo nguy hiểm đã bị bắt cùng với Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thúy (tức Thắng), Vũ Hữu Ruật, Nguyễn Xuân Hòe, Nguyễn Xuân Đồng v.v. Vũ Ngọc Nhạ chết năm 2002 với quân hàm Thiếu tướng.

Như vậy thì có phải Đảng CSVN đã ham cầm quyền mà quên mất bổn phận giữ nước, hay trong số lãnh đạo Đảng và Chính phủ cũng đã có khối kẻ nằm vùng cho Trung Cộng như Vũ Ngọc Nhạ?

Phạm Trần

Tháng 12/2010



Lưu Hiểu Ba: Kẻ thù số một của cộng sản Trung Quốc

“…Đối lập không được đánh giá như là lật đổ và thù hận chỉ đè nặng lên lý trí và lương tâm của con người mà thôi…”

Một thủ đô bé nhỏ nằm tại Bắc Âu đang trở thành đích nhắm cho toàn thế giới trong thời gian ngắn vừa qua, nóng bỏng mọi ánh mắt sẽ hướng về đó vào ngày 10/12/2010 lúc 13g khi Ủy ban Nobel sẽ trao giải Nobel Hòa Bình cho ông Lưu Hiểu Ba (54 tuổi), một người tù dân chủ của chế độ cộng sản Trung Quốc. Đây là người thứ hai sau năm 1936 nhận giải Nobel khiếm diện.
 ông Lưu Hiểu Ba đoạt giải Nobel Hòa Bình

Rùm beng trong vài ngày qua khi cộng sản Trung Quốc lôi kéo đồng minh và đám chư hầu vuốt đuôi như cộng sản Cuba, cộng sản Việt Nam, v.v. để đứng giữa làn tên mũi đạn đỡ đòn cho người chủ bất nhân thâm độc. Tạm gọi là theo đám ăn tàn của những kẻ đê tiện và ngu xuẩn.

Tại lục địa Trung Hoa vào sáng ngày 08/10/2010, tin tức ông Lưu Hiểu Ba đoạt giải Nobel Hòa Bình xảy ra giống như một quả bom ngàn cân giáng ngay trên đỉnh đầu của chóp bu lãnh đạo - chính phủ Trung Hoa đã phản ứng giận dữ và đe dọa cả thế giới, nhất là với quốc gia bé nhỏ Na Uy đăng cai trao giải Nobel. Lãnh đạo nhà nước tại Bắc Kinh tố cáo việc trao giải thưởng cho một "tội phạm" quốc gia Lưu Hiểu Ba là sai trái.

Theo lý lẽ giải thích của Ủy ban Nobel tại thủ đô Oslo cho rằng "tự do ngôn luận" ở Trung Hoa chỉ là lý thuyết trên giấy tờ lại làm cho cộng sản Trung Hoa chuyển sang thái độ cứng đầu hơn nữa.

Trong giây phút công bố ông Lưu Hiểu Ba đoạt giải Nobel Hòa Bình thì truyền hình của CNN đang được trực tiếp tại Trung Hoa và liền lúc đó CNN bị nhà nước Trung Hoa cắt hẳn đường dây truyền hình - thay vào đó chỉ còn hiện lên một màn hình tivi màu đen. Cảnh tương tự như trên trong hệ thống xa lộ thông tin internet cũng thế, các từ ngữ tìm kiếm về tên gọi "Lưu Hiểu Ba" đều gặp trở ngại đứt quãng tại nước có 1,3 tỷ dân cư.

Phản ứng đầu tiên như thế của Bắc Kinh để thế giới nhận ra tầm quan trọng của quyết định của Ủy ban Giải thưởng Nobel cho ông Lưu Hiểu Ba, cho phong trào dân chủ tại nước Trung Hoa và qua đó có ảnh hưởng đến dân chúng Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc. Với giải thưởng này cho thấy một nước có một sức mạnh kinh tế vượt bực nhưng quá kém về nhân quyền và được vạch ra cho bàn dân thiên hạ thế giới chiêm ngắm, mặc dù cộng sản Trung Quốc đã cố gắng ngăn chặn điều này với bất kỳ phương tiện xấu nào.

Vài nhận định về ông Lưu Hiểu Ba

• Ông Lưu Hiểu Ba là ai? Ông Lưu Hiểu Ba là người đồng sáng lập và cựu Chủ tịch Hội Văn bút Độc lập Nhà văn Trung Hoa, ông được coi là nhân vật bất đồng chính kiến và có ảnh hưởng nhất tại đây. Nhà phê bình văn học 54 tuổi là một trong những người cầm đầu khởi xướng "Hiến Chương 08": Kêu gọi cải cách chính trị và bầu cử tự do. Chỉ trong một thời gian ngắn qua phương tiện internet bản Hiến Chương 08 đã được nhiều văn hào nhân sĩ đủ mọi tầng lớp trong quần chúng Trung Hoa ký tên vào đó, hơn 10.700 chữ ký.

Ông Lưu Hiểu Ba đã bị giam giữ kể từ đầu tháng 12/2008. Trước đó, vị cựu giảng viên đại học đã bị kết án tù 18 tháng vì tham gia vào các phong trào dân chủ tại Thiên An Môn năm 1989. Năm 1996 ông bị kết án 3 năm trong các trại cải tạo. Bị giam giữ, bị theo dõi và quản thúc tại gia đã thuộc về cuộc sống hàng ngày của ông kể từ đó.

• Tại sao ông Lưu Hiểu Ba xứng đáng nhận được giải thưởng Nobel Hòa Bình? Ông Lưu Hiểu Ba đã can trường đấu tranh hơn 20 năm đòi sự dân chủ tại nước Trung Hoa. Tù đày không làm ông ta chùn bước. Điều này tương ứng với chủ trương của Ủy ban Giải thưởng Nobel năm nay. Ban lãnh đạo Ủy ban Nobel, ông Thorbjorn Jagland cho biết rằng: "Chúng tôi muốn trao tặng giải thưởng cho những người đấu tranh và chấp nhận sự rủi ro".

Một khía cạnh chính trị xã hội, ông Lưu Hiểu Ba gây ra phong trào đòi dân chủ giống như một biểu tượng sức mạnh mà cựu Tổng thống Nelson Mandela đã làm tại Nam Phi.

• Tại sao cộng sản Trung Quốc sợ ông Lưu Hiểu Ba? Ông Lưu Hiểu Ba là một biểu tượng và đầu não tinh thần của phong trào dân chủ tại Trung Hoa. Nhà nước kết án ông đến 11 năm tù giam vào cuối tháng 12/2009, theo nhận định của các quan sát viên thì điều này chỉ làm cho tên tuổi của ông vang dội thêm mà thôi.

Chế độ cộng sản ở Bắc Kinh luôn tìm cách bịt miệng nhà đấu tranh dân chủ và phê bình chế độ này. Chẳng có hiệu nghiệm đối với ông! Người vợ can đảm cùng đồng hành với chồng mình đã cho biết: "Nhiều người phải sống trong hoàn cảnh tù đầy như chồng tôi đang chịu thì có thể đầu hàng, nhưng Lưu Hiểu Ba có ý chí vững mạnh một cách không ngờ. Nếu anh đã xác định mục tiêu thì anh sẽ đi đến đích, ngay cả khi anh đã biết rõ ràng điều đó không bao giờ có thể đạt được. Anh có một cái gì đó không thể ngờ rất cứng đầu".

Trong phiên tòa cuối cùng ông Lưu Hiểu Ba khẳng khái bác bỏ sự kết tội: "Đối lập không được đánh giá như là lật đổ" và "Thù hận chỉ đè nặng lên lý trí và lương tâm của con người mà thôi". Cả tòa án nín thinh.

Nhân dân Trung Hoa ủng hộ ông Lưu Hiểu Ba
Giải Nobel Hòa Bình mang điều gì cho ông Lưu Hiểu Ba và cho phong trào dân chủ? Khi được
 tuyên bố trao giải Nobel Hòa Bình cho ông Lưu Hiểu Ba thì ông đang ngồi trong nhà tù cách xa thủ đô Bắc Kinh hàng trăm cây số, người thăm viếng duy nhất là vợ của ông. Bắc Kinh đã tìm cách cách ly ông với thế giới bên ngoài từ đó, ngay cả vợ ông cũng bị quản thúc tại gia. Ngày mai chiếc ghế danh dự cho người nhận giải Nobel ghi tên Lưu Hiểu Ba sẽ để trống. Người vợ hoặc các nhà dân chủ tại Trung Quốc cũng không được phép xuất ngoại. Giới quan sát quốc tế phỏng đoán có khoảng 100 nhà dân chủ đang bị quản thúc.

Nhà nghệ thuật nổi danh Ngải Vị Vị (Ai Weiwei) mới cho giới báo chí Tây Phương biết rằng ông đã bị chặn lại trước chuyến bay đi Nam Hàn. "Tôi đã đi qua cổng quan thuế và sau đó bị chặn lại ngay cửa cầu thang lên máy bay", ông Ngải Vị Vị (Ai Weiwei) nói: "Điều này chưa bao giờ xảy ra với tôi".

Chỉ cần qua một đêm khoảng 1,3 tỷ người Trung Hoa đã biết tên tuổi của ông Lưu Hiểu Ba. Giải Nobel Hòa Bình làm cho người Trung Hoa trong nước tò mò tìm hiểu về ông và về Hiến Chương 08. Đây là sức bật hiếm có cho các phong trào dân chủ trong nước phát triển.

Tập Đoàn Bắc kinh đã có một kinh nghiệm đau thương về một Nobel Hòa Bình với Đức Dalai Lama. Một người chỉ mang những nụ cười thân thiện cho thế giới nhưng luôn là những chiếc gai trong mắt đảng cộng sản Trung Quốc. Một Tây Tạng đang khó nuốt vì Đức Dalai Lama, bây giờ lại thêm một Nobel Hòa Bình khác với Lưu Hiểu Ba.

Trò hề giải thưởng "Hòa Bình Khổng Tử"

Một trò cười rẻ tiền với giải "Hòa Bình Khổng Tử". Tên gọi rất hay và mục đích rất tốt, nhưng không đúng chỗ và chẳng hợp thời gian trước một ngày trao giải Nobel Hòa Bình. Đấy là chưa nói đến người được nhận giải chẳng biết chi cả về việc trao giải, ông Phó Tổng thống Liên Chiến của Đài Loan cho báo chí biết. Ông Liên Chiến đoạt giải theo cách nhìn một phía của cộng sản Trung Hoa "vì công lao của ông cho sự hòa bình giữa hai bờ eo biển Đài Loan". Một đứa bé gái đứng ra nhận giải. Trò hề nhạo báng thế giới!

Giải thưởng "Hòa Bình Khổng Tử"có giá trị 100,000 Nhân Dân tệ, tương đương 11,370 Euro. Trong khi đó giá trị của Nobel Hòa Bình tương đương khoảng 1,000,000 Euro.

Cộng sản Trung Quốc được bồi thêm một cú sốc trước đó là Hạ Viện Mỹ kiến nghị ủng hộ ông Lưu Hiểu Ba với số phiếu áp đảo tuyệt đối: 402 dân biểu bỏ phiếu thuận, chỉ có 1 phiếu chống. Từ đó, Tổng thống Barack Obama đòi thả tự do cho tù nhân Lưu Hiểu Ba và phải chấm dứt quản thúc tại gia người vợ của ông.

Những người tự do dân chủ Trung Hoa đến thủ đô Oslo và sẽ dâng kiến nghị với 96,000 chữ ký đòi thả tự do cho ông Lưu Hiểu Ba trong buổi trao giải Nobel Hòa Bình.

Giá nào đối với cộng sản Trung Quốc?

Nhìn đến đứa đầy tớ cộng sản Bắc Hàn đói khổ triền miên, thế giới ngán ngẩm anh quan thầy Trung Hoa. Nhìn về Biển Đông thấy ra tham vọng của một đế quốc "người lạ" đang dùng sức mạnh hiếp đáp các quốc gia bé nhỏ chung quanh. Nói về tài nguyên khoáng sản cho thấy một nước Trung Hoa vô trách nhiệm với môi trường chung của nhân loại. Nói về Nobel Hòa Bình, thông thường đó là niềm vinh dự cao quý cho đất nước có người lãnh nhận nó, nhưng những gì cộng sản Trung Quốc đang chủ trương khủng bố bằng lợi nhuận kinh tế đến với các quốc gia dính líu vào nó thì đúng là một cú đá ngược vào khung thành của cộng sản Trung Quốc khi mang danh là một cường quốc kinh tế.

Nobel Hòa Bình cho ông Lưu Hiểu Ba theo cách nhìn của các nhà quan sát quốc tế đang ở Bắc Kinh chính là một điều sỉ nhục cho chế độ cầm quyền tại đây. Thủ đô bé nhỏ Oslo vạch ra cho thế giới thấy sự lạc hậu của một cường quốc về quyền con người. Nước Trung Hoa đã tiến bộ vượt bực về kinh tế trong thập kỷ vừa qua theo nhận xét của Ủy ban Giải thưởng Nobel, thì chính phủ của nước này phải đối diện gắn liền với trách nhiệm mới trên thế giới.

Cùng quan điểm như thế ông Lưu Hiểu Ba dâng hiến sự tôn vinh Nobel Hòa Bình này cho các linh hồn của những người đã bị thiệt mạng của năm 1989. Đối với ông sự tôn vinh này cho cả những binh sĩ đã chết trong biến cố này. Thật sự đối với ông ông Lưu Hiểu Ba những người hy sinh trong cuộc tàn sát Thiên An Môn đang mở ra một cánh cửa dân chủ cho 1,3 tỷ người Trung Hoa. Ông đã từng đề nghị với Ủy ban Giải thưởng Nobel vào năm 2009 dành giải thưởng Nobel Hòa Bình cho các người Mẹ của biến cố Thiên An Môn. Những người mẹ mất con tại Thiên An Môn thật anh hùng đối với ông Lưu Hiểu Ba.

Nhà đoạt giải Nobel Hòa bình 2010 sẽ vắng mặt trong buổi trao giải Nobel long trọng ở Oslo. Bởi vì ông đang ngồi trong một nhà tù của đảng cộng sản Trung Quốc. Nhưng ông Lưu Hiểu Ba qua đó cho thế giới thấy rõ ràng thế nào là quý giá của sự tự do ngôn luận - và thế nào là vĩ đại của sự tự do tinh thần.

Những người tù nhân lương tâm được trao giải Nobel Hòa Bình thường làm nên lịch sử thế giới, thí dụ tù nhân Nelson Mandela của Nam Phi được trao giải năm 1993 và tù nhân Lech Wałęsa của Ba Lan đoạt giải năm 1983. Cả hai nhân vật này đã làm thay đổi vận mạng quốc gia mà tưởng như muôn đời sự kỳ thị chủng tộc, đàn áp, độc tài độc đảng không bao giờ thay đổi được.

Hy vọng ông Lưu Hiểu Ba sẽ nối gót hai bậc vĩ nhân trên để một ngày nào đó chính ông phải lay động 1,3 tỷ người Trung Hoa để trở thành "người quen" thiện hảo cho nhân loại.

Tạm câu kết nói về giặc Phương Bắc mà người viết chưa bao giờ được nghe từ cửa miệng của nhân hào văn sĩ trong nước Việt Nam bằng nhà giáo Phạm Toàn (một trong ba người sáng lập viên của trang Bauxite Việt Nam) vừa mới trả lời rõ ràng và sắc bén trong cuộc phỏng vấn của báo DCVOnline ngày 07/12/2010 khi ông được hỏi về dự án Bauxite Tây Nguyên. Theo ông Toàn: "… những gì liên quan đến dự án Bauxite Tây Nguyên thì chắc chắn là có bàn tay của “nước lớn”, phải chống lại bày tay ấy".

- DCVOnline hỏi tiếp: “nước lớn” hay “nước lạ” ạ?

- Ông Phạm Toàn: Thì Trung Hoa chứ còn đứa chó nào nữa!

Ngày mai, khi theo dõi trao giải Nobel Hòa Bình 2010 cả thế giới phải nhìn thật kỹ vào đứa “nước lớn” này.

Hà Long
Nguồn: VietCatholic News

6/12/10

Cac Tiến sĩ và Giáo sư VN đạo văn

Nguyễn ngọc Ân, Tiến sĩ từ Đại học tư Mỹ, không biết một chữ tiếng Anh. Đảng hỗ trợ y một số tiền 17,000 đôla để mua bằng Tiến sỡi, học trong 3 tháng với trình độ y chưa có bằng tiểu học.
From: Henry Doe <tokyochiba51@yahoo.com>
Subject:Fw: Các Tiến Sĩ Việt Nam bị QuốcTế lên án vì ăn cắp văn bài của Quốc Tế mà nói là do mình viết ra.
Date: Friday, October 29, 2010, 5:05 PM
Các tiến sĩ danh tiếng thuộc hai viện Vật Lý Saigon & Hà Nội bị bắt quả tang ăn cắp .
Tạp chí Khoa Học Quốc Tế vừa gửi thư cảnh cáo và rút bỏ hai bài báo của Lê Đức Thông, Nguyễn Mộng Giao - Viện Vật lý TP.HCM (Tội Phạm
HCM ), N.T.Hung - Viện Vật lý Hà Nội và tiến sĩ Trần Văn Hùng - Trung tâm Nghiên cứu và triển khai công nghệ bức xạ.
Bài viết nghiên cứu mang tên "Was the fine-structure constant variable over cosmological time? " (Hằng số đẹp có giao động đều theo thời gian tương ứng ?) của các tiến sĩ VN vừa bị Tạp chí Khoa Học Quốc Tế EPL xóa bỏ vì "Đạo Văn"
( This paper has been formally withdrawn on ethical grounds because the article contains extensive and repeated instances of plagiarism. EPL treats all identified evidence of plagiarism in the published articles most seriously. Such unethical behaviour will not be tolerated under any circumstance.)
Bài báo nầy được chính thức gỡ bỏ dựa trên cơ bản đạo đức bởi vì bài viết đầy dẫy và lập lại liên tục những chữ ăn cắp. EPL ứng xử các chứng cớ được tìm thấy giả mạo trên các bài viết một cách nghiêm minh . Những thể hiện thiếu đạo đức không thể tha thứ trong bất cứ trường hợp nào .
Lê Đức Thông đã bỏ trốn (tắt điện thoại) sau khi nguồn tin đạo văn được các blogger đưa lên mạng . Viện vật lý thuộc T.P HCM (Tội Phạm HCM) đã chính thức cho Lê Đức Thông thôi việc nhưng hai bài báo nêu trên không phải mình ông Thông đứng tên mà có nhiều tiến sĩ khác . Một trong những người có tên trong bài báo "đạo văn" là ông Giáo Sư tiến sĩ Nguyễn Mộng Giao , nhà vật lý được đào tạo tại Liên Xô (cũ), Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Hùng Vương, Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Vật
lý T.P HCM (Tội Phạm HCM) .
Khi được tờ báo Thanh Niên nêu câu hỏi "Ông có tham gia vào bài báo được đăng trên tạp chí EPL do ông Lê Đức Thông là tác giả thứ nhất
không?" thì ông Giao từ chối "Tôi xin khẳng định, bài báo này không có một chữ nào của tôi mà hoàn toàn là do Thông tự viết, tự ý cho tên tôi vào rồi gửi đăng báo. Có thể nói, Thông đã gửi “chui” bài báo này mà không hề nhận được sự đồng ý của tôi. "
Ai cũng biết là ông Giáo Sư tiến sĩ Nguyễn Mộng Giao biện bạch để tránh nhục nhã khi bị tờ báo Khoa Học Thế Giới cảnh cáo là họ từ đây trở đi sẽ không nhận bất cứ bài viết nào của các ông tiến sĩ nêu trên gửi .
Ông Giao không thể chối vì năm 2009 lúc Viện Năng lượng nguyên tử VN biểu dương bài báo nêu trên thì tiến sĩ Nguyễn Mộng Giao đã ăn mừng vì mình có tên trong danh sách khen tặng nhưng khi "cơm không lành, canh không ngọt" thì đổ hết trách nhiệm cho tiến sĩ Lê Đức Thông , đã vậy ông Giao còn bắt Thông phải viết một thư xin lổi với cớ là Thông tự đề tên Giao vào chứ Giao nào có biết bài ấy ra sao !
Sự nhục nhã mà các ông tiến sĩ Liên Xô làm đã ảnh hưởng không tốt tầm nhìn của tờ Khoa Học Thế Giới đối với người VN, sau nầy họ có thể không dám đăng các bài viết tham khảo của các tiến sĩ mang họ Việt Nam
Lê, Lý, Nguyễn, Trần ... vì sợ chỉ là những đỉnh cao trí tuệ "đạo văn" .
Xuân Nhi

Tang chứng VGCS gỡ cột mốc biên giới sát nhập vào mẫu quốc Tàu

Tang chứng thủ tiêu các cột mốc biên giới VIỆT TRUNG

alt
Diễn Tiến Sự Kiện Thủ Tiêu Cột Mốc Biên Giới TRUNG VIỆT
Chân Mây
Nhận thấy dư luận rất quan tâm về sự kiện thủ tiêu các cột mốc (cũ) phân chia biên giới Trung-Việt, là người đã đăng tải sự kiện kèm theo các hình ảnh đầu tiên trong bài viết “Từ lễ tế Mã Viện đến ngày Đảng CSVN cho Hai Bà Trưng mặc váy” (chuyên mục “Chuyện Phải Nói” của Diễn Đàn TGNV ngày 14.11.2010), Chân Mây sẽ trình bày rõ ràng hơn để giải tỏa các thắc mắc và ngờ vực về tính xác thực của sự kiện này.
Những gì đang xảy ra…
alt
Mốc 18 trên Ải Nam Quan mà Đảng CSVN đã bịa đặt nên câu chuyện bị Trung Cộng
cho xe tăng ủi nát trong chiến tranh biên giới. Thực tế hình ảnh này cho biết mốc 18
vẫn còn tồn tại trong tấm ảnh chụp của quân Trung Cộng năm 1988.
alt
Mốc 19 tại Hà Giang (khu vực núi Đất, tức Lão Sơn) với sự chiếm giữ của
quân đội Trung Cộng năm 1980.

Lãnh thổ bị chiếm đoạt nhưng Đảng CSVN và lực lượng “Quân Đội VN Anh Hùng” đã không dám kháng cự và năn nỉ qua nhiều năm xin đi vào đàm phán.
Năm 1993, hai bên chính phủ CS Trung-Việt bắt đầu đi vào đàm phán các vùng “tranh chấp”. Đến ngày 30.12.1999, hai bên Trung-Việt hoàn thành 16 lần đàm phán và cho ra kết quả là bộ văn bản “Trung Việt Lục Địa Biên Giới Điều Ước” (中越陆地边界条约). Một phần nội dung “nổi” của văn bản này cho biết rằng có 227Km2 diện tích “tranh chấp” trên dường biên giới Trung-Việt được giải quyết sau đàm phán là …chia đôi: 113Km2 thuộc Việt Nam, 114Km2 thuộc Trung Quốc.
Không khác gì văn bản dâng lãnh hải cho Trung Cộng của Phạm Văn Đồng vào năm 1953, những văn bản giải quyết đường biên giới lục địa Trung- Việt của Đảng CSVN là một trong nhiều vết dơ nhục nhã của Đảng CSVN chàm khắc lên tổ quốc của người Việt Nam và họ, những người người lãnh đạo Đảng CSVN, với kết quả giải quyết tranh chấp đường biên giới như trên vẫn vui mừng đặt thành “thắng lợi”.
Khi bộ văn bản “Trung Việt Lục Địa Biên Giới Điều Ước” hoàn thành, hai bên Trung-Việt tiếp tục đi vào công tác giải tỏa các khu vực gài mìn, tức là những vùng đất biên giới trên lãnh thổ Việt Nam. Một cách tự nhiên, những vùng trong qui hoạch gỡ mìn được dựng bảng bằng tiếng Trung và người dân trong khu vực trở thành công dân Trung Quốc.
alt
Lực lượng công binh Trung Cộng đi vào lãnh thổ Việt Nam (Hà Giang) năm 2002
thực hiện chiến dịch gỡ mìn với sự đón chào niềm nở của Quân Đội NDVN Anh Hùng.
Các chữ Trung văn trên đầu xe tải có thể đọc được là: “Vi Nhân Dân Bài Lôi…”
(gỡ mìn cho nhân dân…). Nhân dân nào đây?
alt
alt
alt

alt
alt
Các khu tử thần trên núi đồi Việt Nam (vùng Hà Giang) và vô số nạn nhân nay
đang được chính phủ Trung Quốc bảo hộ.
Lý Văn Vật Hu“Trung Việt Lục Địa Biên Giới Điều Ước” đặt ra 1537 tọa cột mốc biên giới cần thiết lập trên 1347 Km tuyến biên giới Trung-Việt. Vào tháng 9 năm 2002, Cục Đo Đạc Quốc Gia Trung Quốc phái 39 nhân viên kỹ thuật thường trú đến 12 tọa điểm biên giới kết hợp với công binh chính quyền Vân Nam, Quảng Tây và chính phủ CS Việt Nam thực hiện công tác gỡ mìn. Tháng 11 năm 2005 sơ bộ hoàn thành, đến năm 2008 thì tuyên bố hoàn thành công tác gỡ mìn, phân giới, cắm mốc. Ngày 23.2.2009 đặt thành Lễ Hoàn Thành Phân Giới Cột Mốc Trung Việt (Chân Mây đã đưa tin qua bài “Đại Lễ Dâng Ải Nam Quan Cho Trung Cộng”).
Tuy nhiên những điều đó chưa phải là chấm dứt. Vào ngày 14.07.2010, phía Trung Cộng tuyên bố các văn kiện phát sinh hiệu lực là “Trung Việt Lục Địa Biên Giới Khám Giới Nghị Định Thư” (中越陆地边界勘界议定书), “Trung Việt Biên Giới Quản Lý Chế Độ Hiệp Định” (中越陆地边界管理制度协定), và “Trung Việt Biên Cảnh Khẩu Ngạn Cập Kỳ Quản Lý Chế Độ Hiệp Định” (中越边境口岸及其管理制度协定). Theo nội dung pháp luật yêu cầu trong nội dung các văn kiện, thì việc trước hết là phải tiến hành bài trừ ngay tất cả các cột mốc cựu thời. Phía Trung Cộng phát lệnh bài trừ các cột mốc cũ bắt đầu tại đoạn Vân Nam, Hà Khẩu vào ngày 20.07.2010, tại đoạn này có tất cả 22 cột mốc đã được bài trừ, hiện tại được biết có các cột 15, 17, 21 đã mang vào lưu trữ vĩnh viễn tại Phòng Quảnyện Hà Khẩu (河口县文物管理所), số còn lại chuyển lên trung ương quản lý. Căn cứ theo tài liệu “Trung Pháp Điều Ước”, 22 cột mốc quốc giới Việt Nam-Trung Hoa tại đoạn Vân Nam được xây dựng trong 12 năm, từ tháng 8 năm 1885 cho đến tháng 6 năm 1897. Khi Trung Cộng tiến hành bài trừ, trên các cột mốc này vẫn còn rõ các chữ “Trung Hoa” và “An Nam”.
Tiếp theo đoạn Vân Nam, vào ngày 10.08.2010 tỉnh Quảng Tây tuyên bố đã hoàn thành sứ mệnh bài trừ 33 cột mốc cũ, một nữa số do các địa phương sở hữu bảo tồn, nữa số còn lại phân chia vào quản lý tại Bảo Tàng Quốc Gia Trung Quốc (中国国家博物馆) và Bảo Tàng Quảng Tây (广西博物馆)
Hàng trăm trang mạng, báo đài Trung Cộng đang truyền tải sự kiện, nhưng bên Việt Nam thì không ai được biết đến. Vì sao? Không cột mốc cũ nào còn nằm trên lãnh thổ Việt Nam! Đây chính là những chứng cứ không thể chối cãi cho việc mất đất ở biên giới, lãnh thổ bị xâm phạm, mất chủ quyền hàng chục năm và sự đê tiện của Đảng CSVN khi họ vẫn tươi cười bất chấp dư luận!
Chân Mây đã lên diễn đàn Trung Cộng thăm dò và nhận các câu trả lời như sau:
Hỏi: Ni Hao! Có thể cho tôi biết tại sao Chính Phủ Trung Quốc phải loại trừ các bia giới cũ vùng biên giới Trung-Việt?
Đáp: Tồn tại các bia giới cũ là điều không thể chấp nhận được.
Hỏi: Bia giới cũ vẫn còn giá trị lịch sử chứ!
Đáp: Việt Nam cũng như Triều Tiên là phiên thuộc của Trung Quốc từ thời xưa, các bia giới không có giá trị. Ngay cả các cột mốc hiện tại cũng không có ý nghĩa phân chia quốc giới.…
Không như cách trả lời thô thiển của tên Trung Cộng này. Một thực tế man rợ là Đảng CSVN cấu kết với Trung Cộng nhằm xóa mọi dấu tích của đường biên giới cũ!
Tập hợp rất nhiều hình ảnh thu thập từ các trang thông tin, diễn đàn của Trung Cộng sau đây sẽ làm rõ hơn vấn đề. Những hình ảnh có ghi rõ địa chỉ cần tham khảo, tuy nhiên nếu bạn đọc cần thêm chi tiết xin vui lòng dán các chữ Trung Văn sau lên Google để kiểm chứng:
- 中越拆除陆地边界旧界碑工作正式启动 (Trung Việt Sách Trừ Lục Địa Biên Giới Cựu Giới Bài Công Tác Chính Thức Khải Động: Trung Việt chính thức khởi động công tác tháo bỏ mốc bia giới biên giới đất liền)
- 中国云南河口县辖区内的旧界碑开始拆除 (Trung Quốc Vân Nam Hà Khẩu Huyện Hạt Khu Nội Đích Cựu Giới Bài Khai Thủy Sách Trừ: Bắt đầu tháo bỏ bia giới cũ trong địa hạt huyện Hà Khẩu, Vân Nam Trung Quốc).
- 中越边界拆除旧界碑 (Trung Việt Biên Giới Sách Trừ Cựu Giới Bài)
- Hoặc tham khảo hình ảnh nhiều nhất tại diễn đàn sau (truyền tải từ ngày 03.11.2010):
hongdou.gxnews.com.cn/viewthread-5538500.html
alt
Mốc 15 tại Hà Giang
alt
alt
Mốc 17 tại Vân Nam (Hà Khẩu)-Hà Giang
alt
alt
“Tân Kinh Báo” (Quảng Tây) đưa tin tức ngày 13.08.2010
alt
Ảnh tham khảo: “Nhất xứ tam bài” (một nơi có 3 cột mốc) là hiện tượng sau các đợt đặt mốc quốc giới của hai bên Chính phủ CS Trung-Việt. Hình trên là giao giới Trung-Việt tại khu vực Đông Hưng, bờ bên kia sông là mốc mới của quốc giới Việt Nam (mốc 1325). Trên mỗi cột mốc xưa đều chia ra một mặt là Việt Nam, một mặt là Trung Quốc. Tình trạng của mốc mới tạo nên vùng đệm và rõ ràng lãnh thổ Việt Nam đã nằm ngoài đường biên giới xưa.
alt
Biên dân Việt Nam tham gia bài trừ cột mốc dược Trung Cộng gọi trìu mến là
“đồng bào tôi ơi!”.
alt
alt
alt
alt
[IMG]Mốc giới mới (1050) và cũ "Trung Việt Quốc Giới, Khang Anh Ngoại Sách
Số 5" trên đỉnh Bình Cương Lĩnh nay thuộc Quảng Tây. Có cả mốc cũ bị đập bỏ!
alt
alt
alt
alt
alt
Tiêu mốc số 18 đoạn Quảng Tây-Việt Nam vẫn còn rõ hai mặt chữ
"Đại Nam", "Đại Thanh" và năm tạo lập là 1893.
alt
Mốc "Đại Nam Quốc Giới" tại Phòng Thành-Quảng Tây
alt
alt
alt
alt
alt
Khu vực Quảng Tây: Có cái bị đập vụn, có cái bị chôn dưới đất nhờ dân địa
phương chỉ điểm để đào lên. Trơ trọi chiếc lõi cột mốc trăm năm!
alt
alt
alt
Việt Nam tham gia khuân vác cột mốc quốc giới dâng cho Trung Cộng
alt
alt
alt
alt
alt
Đưa lên xe tải phi tang!

Đại úy Trần Ngọc Huế một chiến binh anh dủng và trunh thành với Tổ Quốc

Đại úy Trần Ngọc Huế một chiến binh anh dủng và trunh thành với Tổ Quốc

FALLS CHURCH, Virginia (NV) - “Harry Trần Ngọc Huế là một chiến binh lỗi lạc và ông đã phải trả giá đắt cho sự trung thành với tổ quốc mình trong cuộc chiến Việt Nam.” Ðó là lời mà Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ James Webb (Dân Chủ-Virginia) viết về người cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) này trong một bức thư đề ngày 4 Tháng Tư vừa qua.

Qua một người bạn giới thiệu, tôi được gặp người đàn ông mà nhiều người trong Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, trong đó có Thượng Nghị Sĩ Webb, từng là bộ trưởng Bộ Hải Quân, gọi là “anh hùng của những anh hùng (Hero of the Heroes).”

Tướng cao to, khỏe mạnh, mặc dù tuổi đã ngoài 60, bàn tay trái chỉ còn hai ngón nguyên vẹn, cộng với một vài vết thẹo trên khuôn mặt và phía dưới cằm, ít ai ngờ rằng, con người này đã từng vào sinh ra tử biết bao lần, nhất là cuộc chiến lấy lại Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh và Ðại Nội Huế, hồi Tết Mậu Thân 1968.
Vì những hành động anh hùng của mình, ông Harry Trần Ngọc Huế đã được Hoa Kỳ tặng thưởng một huy chương “Ngôi Sao Bạc” (Silver Star) và một huy chương “Ngôi Sao Ðồng” (Bronze Star). Ngoài ra, ông cũng được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tặng Ðệ Ngũ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương cùng nhiều huy chương cao quý khác. Harry là tên các cố vấn Mỹ đặt cho ông.

Cuộc tái chiếm Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh
Là đại đội trưởng Ðại đội Hắc Báo, lực lượng tổng trừ bị của Sư Ðoàn 1 Bộ Binh QLVNCH, Trung úy Trần Ngọc Huế đã khôn khéo và dũng cảm chỉ huy trận chiến một mất một còn với quân đội Bắc Việt để lấy lại quyền kiểm soát Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1, nơi đầu não chỉ huy tái chiếm lại Huế vào Tết Mậu Thân 1968.

Người cựu chiến binh này kể: “Lúc đó, Ðại đội Hắc Báo của chúng tôi là Lực Lượng Phản Ứng Cấp Thời (Fast Reaction Forces) đóng tại sân bay Thành Nội. Ðêm đó là mùng một Tết và quân đội Bắc Việt đã tấn công nhà đèn, Thiết Ðoàn 7 Thiết Giáp, Phú Văn Lâu, Tòa Hành Chính Tỉnh và Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1. Ngoài đường phố tràn ngập lính Bắc Việt, phi trường bị pháo kích dữ dội...”

Ông kể tiếp: “Chúng tôi có 6 trung đội, sau khi bố trí quân, tôi về nhà nghỉ. Một lúc sau, thấy pháo dữ dội quá, tôi trở dậy, mặc đồ lính đi. Trong đêm tối, tôi thấy đặc công Bắc Việt đi hàng hàng lớp lớp ngoài đường.”

“Lúc đó, tôi rất lưỡng lự, không biết có nên đi hay không vì con gái đầu lòng của tôi mới sinh được một tháng. Tôi có thể trở về nhà với vợ con, nhưng nghĩ lại trách nhiệm của người lính và một chỉ huy. Hơn nữa, nếu nước mất nhà tan, thì chưa chắc gia đình tôi yên ổn. Thế là tôi tiếp tục đi phía sau họ để đến phi trường,” người anh hùng này kể tiếp.
Khi đến sân bay, theo lời ông kể, đặc công Bắc Việt đã tiếp cận bộ chỉ huy Ðại đội Hắc Báo của Trung úy Huế.

“Họ chiến đấu rất hăng say. Họ mặc quần đùi, đeo súng AK bá xếp. Tuy nhiên, các anh em Hắc Báo đã dũng cảm chiến đấu và đánh bật đối phương ra khỏi phi trường. Chúng tôi cứu được hai lính thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, lúc đó có nhiệm vụ bảo vệ phi trường, khỏi tay quân địch,” ông Huế kể tiếp.

Sau đó, đơn vị Hắc Báo lại được lệnh của Trung tá Ngô Văn Chung, trưởng phòng 3, Sư Ðoàn 1, qua giải cứu Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn, đang bị địch vây hãm.

“Liền đó, tôi nghe trên điện đàm tiếng Trung tá Chung nói: Ðây là lệnh của mặt trời (ẩn danh của Tướng Ngô Quang Trưởng). Nếu không thi hành sẽ bị đưa ra tòa án mặt trận”. Ông Huế kể.

Qua hệ thống vô tuyến chỉ huy, ông Huế cũng nghe được lệnh của Trung tá Chung ra lệnh cho Thiết Ðoàn 7, đồn trú tại An Cựu, đưa xe tăng sang cứu Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn.

“Tuy nhiên, Trung tá Chí, thiết đoàn trưởng Thiết Ðoàn 7 Thiết Giáp, cho sư đoàn biết là hiện tại bộ chỉ huy của ông đang bị pháo và đặc công uy hiếp nặng nề,” ông Huế kể tiếp.

Sau khi ổn định tình hình, Trung úy Huế tập trung anh em Hắc Báo lại và ban lệnh hành quân kế tiếp.

Ông kể: “Tôi nói với anh em rằng, một nửa đại đội phòng thủ phía Nam sông Hương đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và tôi đã mất liên lạc. Nay Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn đang bị vây hãm, tình thế thập tử nhất sinh, tất cả đều trông cậy vào Hắc Báo chúng tôi. Vì sự sống còn của anh em và gia đình, vì sự sống còn của đồng bào và thành phố, chúng tôi quyết phải đánh, dù bất cứ giá nào.”
Sau khi nghe đại đội trưởng Huế nói, tất cả đều hô to “Xin thề! Xin thề! Xin thề!” và “Huế ơi, có chúng tôi đây!”

“Ðó là lời thề của các chiến sĩ Hắc Báo trước khi xung trận,” cựu đại đội trưởng Hắc Báo cho biết tiếp.

Nhờ sống ở Huế lâu và rất rành đường đi nước bước trong thành phố, nên ông Huế dễ dàng dẫn quân luồn lách qua những ngả đường, đến nơi mà địch hoàn toàn không biết.

Người cựu chiến binh QLVNCH này say sưa kể: “Khi đến bên này Cầu Kho, tôi thấy bên kia cầu, gần cổng chính vào Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn, địch đang lúc nhúc đào công sự, chuẩn bị tấn công. Bên trong bộ tư lệnh không thể nào ra được. Ngoài nhân viên Việt Nam còn có một số cố vấn Mỹ trong đó. Nếu bộ tư lệnh mà bị chiếm là coi như rắn mất đầu. Thế là chúng tôi phải dốc toàn lực đánh một mất một còn với địch.”

Theo ông Huế, Hắc Báo là đơn vị đầu tiên của Sư Ðoàn 1 có súng M16, được coi là tối tân nhất lúc đó. Họ cũng sử dụng súng phóng hỏa tiễn M72, đại liên 30ly và đại bác 57ly không giật.

“Từ bên này cầu, tôi cho bố trí ba khẩu đại liên bắn trực xạ làm quân địch rối loạn. Cùng lúc đó, chúng tôi dùng cả lựu đạn khói làm địch không thấy đường. Sau khi hy sinh một tiểu đội, chúng tôi chiếm lại cầu và mở đường vào bên trong bộ tư lệnh,” ông Huế kể tiếp như vậy.

Người đầu tiên Trung úy Huế gặp khi vào bên trong bộ tư lệnh là Trung tá Trần Văn Cẩm, tham mưu trưởng sư đoàn. Trung tá Cẩm liền chỉ cho đại đội trưởng đại đội Hắc Báo biết nơi địch quân đang chiếm đóng trong khu vực. Ðó là khu vực Ðại đội 1 Quân Y Sư Ðoàn, bệnh xá và câu lạc bộ.

“Không chần chờ, tôi cho lệnh chiến đấu,” ông Huế kể.

Ðơn vị Hắc Báo dùng lựu đạn đi đến tấn công từng phòng, giết và bắt một số tù binh một cách dễ dàng.

“Chiến thuật của Hắc Báo lúc đó là cận chiến nhằm bắt sống tù binh để khai thác. Nếu không được mới dùng lựu đạn tấn công,” ông Huế cho biết như vậy.

Tôi hỏi: “Làm sao mà đặc công có thể thoát bãi mìn để vào được bên trong bộ tư lệnh nhiều thế?”

“Ðó là một đường cống, lỗ thoát nước. Ðó chính là nơi mà đặc công bò vào,” ông trả lời.

“Sau khi chiếm cửa hậu phía Bắc của thành Mang Cá, tôi thấy một cảnh hãi hùng. Ðịch đang bò lê bò càng dọc theo bên ngoài bờ thành. Thế là các khẩu đại liên của Hắc Báo cứ thế mà ‘quét’ vào. Cuộc chiến bắt đầu từ 10 giờ sáng mà mãi đến 3 giờ chiều mới kết thúc,” ông Trần Ngọc Huế nói.

Ông nói tiếp: “Lúc đó, chúng tôi chiến đấu với tinh thần sống tự do hay là chết.”

Ngay sau đó, ông đã được tặng thưởng huy chương Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Bạc (Gallantry Cross with Silver Star) do chính Tướng Creighton Abrams, tư lệnh Các Lực Lượng Quân Ðội Hoa Kỳ tại Việt Nam, gắn lên ngực áo. Cũng trong dịp này, ông được lên đại úy và chính Tướng Ngô Quang Trưởng gắn lon cho ông.

Ngày 19 Tháng Sáu, 1969, Ngày Quân Lực VNCH, ông Trần Ngọc Huế được thăng cấp thiếu tá.

Viên ngọc của “Huế”

Sinh ra và lớn lên tại Huế, cái tên Trần Ngọc Huế của ông còn có nghĩa là “hòn ngọc của Huế xuất phát từ nhà Trần.”

Năm 12 tuổi ông đã vào trường Thiếu Sinh Quân. Sau khi đậu tú tài, chàng thanh niên Trần Ngọc Huế vào trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, khóa 18. Ra trường năm 1963, ông được điều ngay về Sư Ðoàn 1 Bộ Binh.

Kể từ năm 1969, ông lần lượt làm tiểu đoàn trưởng các tiểu đoàn 1/3, 5/2 và 2/2 thuộc Sư Ðoàn 1 Bộ Binh.

Tháng Ba, 1971, Tiểu Ðoàn 2/2 của ông cùng với các tiểu đoàn khác, dưới sự chỉ huy của Ðại tá Ngô Văn Chung, trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 2, được điều động tham gia cuộc hành quân Lam Sơn 719 với nhiệm vụ đột kích bằng trực thăng vận vào mục tiêu chiến lược Tchepone, Nam Lào. Theo kế hoạch, sau khi hoàn thành nhiệm vụ chiếm và kiểm soát mục tiêu chính của cuộc hành quân, ông Huế sẽ được Tướng Phạm Văn Phú đáp trực thăng xuống gắn lon trung tá và tiểu đoàn của ông sẽ được lệnh hành quân về phía Tây Nam Lào, giải vây cho hai tiểu đoàn 3/3 và 4/3.

Sau khi giải vây được cho tiểu đoàn bạn, Tiểu Ðoàn 2/2 lại bị địch bao vây.

Ông Huế kể: “Lúc đó, pháo bắn vào dữ quá. Tôi bị thương nặng nơi mặt, đầu và cổ. Ban chỉ huy ra lệnh mở đường máu rút lui. Anh em đòi khiêng tôi rút lui, nhưng tôi không chịu. Tôi không muốn anh em bị thiệt hại vì mang tôi đi. Chúng tôi xuống 600 người nhưng chỉ thoát được 50 người. Toàn bộ số còn lại bị bắt hoặc hy sinh. Ðó là ngày 21 Tháng Ba, 1971.”

Sau đó, ông Huế được anh em tù binh khiêng đi dọc đường mòn Hồ Chí Minh về tới Vĩnh Linh. Phía địch quân đưa ông lên xe lửa và mang ra nhốt tại nhà tù Hỏa Lò. Vài tháng sau, ông bị đưa lên nhốt ở các trại tại Sơn Tây, Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, Lạng Sơn và Cao Bằng.

Ông Huế kể tiếp: “Sau khi Hiệp Ðịnh Paris được ký kết hôm 27 Tháng Giêng, 1973, theo quy định, địch phải thả tôi. Lúc đó, tôi đang ở Kỳ Cùng thì địch đưa về Hà Tây. Sau đó, họ đưa tôi cùng một số anh em khác vào bờ sông Thạch Hãn để trao trả tù binh. Nhưng tự nhiên địch chia chúng tôi ra làm hai nhóm, nhóm bị bắt tại các nơi khác và nhóm bị bắt ở Lào. Lúc đó, tôi đã mường tượng một điều gì đó không tốt.”

“Các anh bị bắt ở Lào là thuộc quyền Mặt Trận Lào Yêu Nước,” một cán bộ Bắc Việt nói với ông Huế như vậy, theo lời kể của ông.

Ông kể tiếp: “Thế là họ đưa chúng tôi về ngã ba Ðường Thành, Hà Nội, và giam tiếp. Chúng tôi phản đối bằng cách tuyệt thực và cạo đầu. Thế là chúng còng tay và đánh đập chúng tôi. Sau đó, chúng tôi bị đưa đi Yên Bái và nhốt cách ly. Kế đến, chúng lựa ra 11 người đầu não, trong đó có tôi, đưa lên nhốt ở Cao Bằng.”

“Năm 1974, chúng tôi bị đưa về Nghĩa Lộ làm trại cải tạo chuẩn bị đón thêm tù binh. Sau đó, chúng tôi lại bị đưa trở lại về Yên Bái để làm đường chiến lược Tây Bắc,” ông kể tiếp.

Năm 1978, khi Việt Nam rục rịch chiến tranh với Trung Quốc, ông Huế lại bị đưa về Nam Hà. Ðến Tháng Tư, 1982, ông được chuyển về Hàm Tân. Tháng Bảy, 1983, ông được thả.

Về Sài Gòn, ông bị quản thúc tại gia trong nhiều năm cho đến năm 1991, ông sang Hoa Kỳ diện cựu sĩ quan chế độ cũ.

Cuộc sống mới tại Hoa Kỳ

Hồi ở Tiểu Ðoàn 2, Trung Ðoàn 2 của Sư Ðoàn 1, ông Huế có một người bạn thân là David Wiseman, lúc đó là cố vấn Mỹ. Ông Wiseman cũng từng bị thương ba lần tại Việt Nam và rất cảm kích tinh thần chiến đấu của người bạn Trần Ngọc Huế.

Sau năm 1975, ông David Wiseman không biết người bạn của mình sống chết ra sao. Ông cầm tấm hình của ông Huế đi khắp vùng thủ đô Washington D.C. và đưa cho mọi người xem. Mỗi lần ông đưa tấm hình ra, ông đều nhận được một cái lắc đầu.

Cho đến một hôm, ông Wiseman tham dự một buổi tiệc gây quỹ của Hội Gia Ðình Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam tại Virginia và gặp ông Ngô Ðức Am, em rể của bà Khúc Minh Thơ, chủ tịch hội.

Thật là may mắn cho ông Wiseman vì ông Am chính là người ở chung trại tù với ông Huế.

Sau khi xem tấm hình, ông Am cho ông Wiseman biết ông Huế vẫn còn sống ở Việt Nam. Thế là ông Wiseman tìm cách liên lạc với ông Huế.

Việc đầu tiên là ông Wiseman gởi cho ông Harry một bức thư ngắn trong đó kèm theo năm tờ giấy $20.

Bức thư chỉ có vài hàng: “Harry, tôi biết anh còn sống. Tôi đã tìm anh 20 năm nay. Tôi sẽ tìm mọi cách đưa anh sang Mỹ. Nếu anh qua Mỹ tôi sẽ giúp. Nếu anh muốn ở lại, tôi sẽ gởi tiền về giúp. Anh còn thích hút thuốc Salem không?”

Khi đến Hoa Kỳ năm 1991, chính ông Wiseman là người ra đón gia đình ông Huế tại phi trường Washington National Airport. Sau đó, ông Wiseman lo mướn nhà cho gia đình ông Huế, giúp mua sắm một số vật dụng cần thiết.

Theo ông Huế cho biết, ông Wiseman đã qua đời cách đây bốn năm.

Kể từ khi biết Harry đến Hoa Kỳ, các cố vấn Mỹ, mà nhiều người sau này trở thành bạn thân và coi Harry như anh em ruột, gọi điện thoại và đến thăm tới tấp. Ai cũng muốn giúp ông ổn định cuộc sống mới.

Năm 1994, nhờ bạn bè Mỹ giúp đỡ, cựu chiến binh Trần Ngọc Huế và ba cô con gái, Coco, Vicky và Elly, vào làm cho ngân hàng Navy Federal Credit Union cho đến nay.

Một người lính đầy danh dự

Dù trong hoàn cảnh nào, cựu chiến binh Harry Trần Ngọc Huế luôn giữ được khí tiết và danh dự của một người lính QLVNCH. Vì thế, ông được nhiều người rất kính nể.

“Mỗi người có một cách sống riêng. Bản thân tôi luôn sống với danh dự của một quân nhân QLVNCH. Người ta (các cố vấn Mỹ) đã rời bỏ quê hương sang giúp mình thì mình phải giúp họ hoàn thành nhiệm vụ. Sống với họ phải sống xứng danh quân đội VNCH. Vì thế, tôi có những cảm tình rất khó tin với các cố vấn Mỹ,” ông Huế chia sẻ như vậy.
Ông Ned Devereaux, cố vấn cũ và từng bị thương với ông cố vấn Wiseman và ông Huế ngày 8 Tháng Mười Một, 1970, cho biết: “Khi tôi gặp Harry lần đầu tiên, tôi biết ngay ông là một người lính chuyên nghiệp, một sĩ quan chuyên nghiệp, một người mà khi ra lệnh tôi sẽ theo ngay, không thắc mắc. Harry đã làm tôi cảm thấy mình là một thành viên trong gia đình quân đội của ông. Những gì ông làm đã giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ dễ dàng.”

“Nếu phải viết một câu về Harry, tôi sẽ viết, Harry thật sự là một anh hùng, một người trung thành với tổ quốc, cấp trên, gia đình và binh sĩ của mình và tôi coi Harry như một người anh em cùng huyết thống và thật sự kính nể ông,” ông Devereaux viết như vậy trong email gởi cho tôi.

Ông Thái Quang Ty, một trung sĩ đại đội Hắc Báo tham gia trận đánh lấy lại Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, đang sống tại thành phố Atlanta, Georgia, kể: “Anh Huế là một chỉ huy tài giỏi và mưu lược. Lúc tôi ở cùng đơn vị với anh, Hắc Báo đánh đâu thắng đó, chưa thua một trận nào. Ở mỗi trận đánh, anh đều quan sát trước địa hình trước khi giàn quân. Các chỉ huy khác thường xua binh sĩ đi trước, riêng bản thân anh lúc nào cũng đi sát binh sĩ. Chính vì vậy làm cho tinh thần anh em hăng say.”

Qua điện thoại, ông Richard Weyand, cố vấn đại đội Hắc Báo từ năm 1967 đến 1969 và hiện sống tại thành phố Kenosha, Wisconsin, nói: “Harry là người dấn thân nhất cho cuộc chiến. Cách chỉ huy của ông, sự trung thành của ông và sự can đảm của ông làm tôi tự hào khi được làm việc với ông trong hai năm trời.”

Một cố vấn khác của đơn vị Hắc Báo, ông William Bolt, hiện là trung tướng hồi hưu sống tại thành phố Columbia, South Carolina, kể qua điện thoại: “Trong một trận đánh tại phía Nam thành phố Huế vào cuối năm 1968, chính ông Harry đã cõng ông Richard Weyand ra sau khi ông này bị thương trong một bãi mìn. Harry quả thực là một người can đảm. Ông là một người yêu nước và là người hy sinh nhiều nhất cho đất nước của ông mà tôi được biết.
Khi Giáo Sư Sử Học Andrew Wiest, trường đại học University of Southern Mississippi, chuẩn bị viết tác phẩm “Vietnam's Forgotten Army, Heroism and Betrayal in the ARVN,” ông vô tình biết được Harry Trần Ngọc Huế qua ông Jim Coolican, cựu Ðại Tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ và là cố vấn của ông Huế hồi Tết Mậu Thân 1968.

Giáo Sư Wiest kể: “Tôi sang thăm Việt Nam năm 2000 và thấy rất nhiều. Một điều tôi ít thấy nói đến là QLVNCH. Về Mỹ tôi quyết định viết một cuốn sách về đề tài này. Trong lúc nghiên cứu tìm tài liệu, nhiều người cho tôi biết phải tìm và viết về Harry Trần Ngọc Huế. Thế là tôi nhờ cựu cố vấn Jim Coolican giúp tôi.”

“Tôi nghĩ Harry là một biểu tượng xứng đáng nhất của Việt Nam và Hoa Kỳ. Cũng như bao nhiêu người khác sau chiến tranh, đến Hoa Kỳ với hai bàn tay trắng. Giờ đây, cả ba cô con gái của ông đều tốt nghiệp đại học và có việc làm ổn định. Harry đã thực hiện được giấc mơ Mỹ của mình,” giáo sư này nói tiếp.

Ông kết luận: “Harry là người yêu nước nhất mà tôi gặp từ trước đến nay.”

Vào Tháng Mười Hai tới đây, Giáo Sư Andrew Wiest sẽ cho ra mắt tác phẩm nêu trên.


Ðại úy Harry Trần Ngọc Huế được Tướng Creighton Abrams, Tư Lệnh Quân Ðội Hoa Kỳ tại Việt Nam, gắn huy chương “Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Bạc” (Gallantry Cross with Silver Star), sau trận Mậu Thân 1968


Bàn tay chỉ còn hai ngón nguyên vẹn của Harry Trần Ngọc Huế và những tấm huy chương.


Harry Trần Ngọc Huế: “Lúc đó, chúng tôi chiến đấu với tinh thần sống tự do hay là chết.”


Cựu hắc báo Harry Trần Ngọc Huế đứng cạnh bức hình mà cựu cố vấn David Wiseman đã cầm để đi tìm ông trong một thời gian dài.


Hài cốt nạn nhân của Việt cộng Tết Mậu Thân năm 1968