2/3/11

TOP TEN ẤN TƯỢNG VIỆT 2010

TOP TEN ẤN TƯỢNG VIỆT 2010

1 1- Lễ hội tai tiếng nhất: Đại lễ nghìn năm Thăng Long- Hà Nội được tổ chức một cách quá phô trương, tốn kém, một lễ hội quá nhiều lời ra tiếng vào, trống giong cờ mở, hát hò nhảy múa giữa lúc lũ lụt nhấn chìm miền Trung, vùi chết gần 200 nhân mạng.


 22- Vụ án ồn ào nhất: Vụ án Vinashin, mô hình “quả đấm thép” của nền kinh tế sụp tan thành bọt biển với khá nhiều đồn đoán “nhạy cảm” ồn ào không thua kém vụ PMU 18, ồn và nhạy đến mức nhiều áp lực trước Quốc hội đòi điều tra và bỏ phiếu tín nhiệm Thủ tướng cùng các thành viên Chính phủ.

    43- Nhân vật ấn tượng nhất: Chủ tịch tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô. Ông Tô nổi tiếng nhờ vụ lộ seri ảnh cởi truồng sau khi hành sự với gái gọi. Vì vụ này, ông mất chức Chủ tịch tỉnh và bị sa thải khỏi đảng. Có thể nói ông là “nhân vật của năm” theo nghĩa trừ. Năm 2010, ông nổi tiếng đến mức hầu như không một ai lại không biết đến cái tên Nguyễn Trường Tô sau vụ “cởi truồng” lịch sử này.

 
 4- 3Vụ bắt giữ ấn tượng nhất: Bắt “nhân vật hay kiện” Cù Huy Hà Vũ về tội tuyên truyền chống phá nhà nước khi ông Vũ đang ăn mặc “nhạy cảm” cùng một phụ nữ trong khách sạn và... 2 bao cao su đã qua sử dụng nằm trong sọt rác.
 
 
55- Sáng kiến khùng điên nhất: Đúc tim cho tượng Thánh Gióng và ngựa Gióng. 2 trái tim được đúc rỗng bằng đồng nguyên chất với 2 sợi dây nối tượng trưng cho động mạch và tĩnh mạch, hình dáng giống trái tim thật, đường kính 50cm được đưa vào đặt yểm vĩnh viễn đúng vị trí tim thánh và tim ngựa trên tượng đài Thánh Gióng, Sóc Sơn, Hà Nội.
    6 6- Cuộc thi ấn tượng nhất: Cuộc thi hoa hậu Việt Nam báo Tiền Phong với sự đăng quang của hoa hậu Việt Nam 2010 Đặng Thị Ngọc Hân, một gương sắc được đánh giá là xấu nhất trong lịch sử hoa hậu Việt, thậm chí như là sự phỉ báng cái đẹp!
 
 77- Đại hội bị chửi nhiều nhất: Đại hội Hội nhà văn Việt Nam, một đại hội bị chửi rủa nhiều nhất và nặng nề nhất từ chính các nhà văn trước trong và sau đại hội cùng sự tái vị ngôi chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam của ông Hữu Thỉnh, người được cho là nhà văn không biết dị điển hình bậc nhất của đội ngũ nhà văn Việt đương đại.



8 8- Tấm gương ấn tượng nhất: Ông Hồ Xuân Mãn, Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên- Huế, 1 trong 3 Bí thư tỉnh ủy trong cả nước được tuyên dương vì có thành tích trong phong trào “học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Trong khi báo chí loan tin trước đó ông có hành vi rất khiếm nhã trong quán bia và bị gái tiếp thị cảnh cáo bằng một cái tát như trời giáng vào mặt. Ông cũng chính là “tấm gương” trả lại 3.000 USD hối lộ trong một động thái trả bị dư luận đặt quá nhiều dấu hỏi.
9 9- Clip phản cảm nhất: Clip quay cảnh công an Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh bắt gái mại dâm với những “biện pháp nghiệp vụ” phản cảm và thô bỉ.
 
 

10 10- Pha “lộ hàng” ấn tượng nhất: Trong hàng loạt những pha lộ hàng đình đám nhất của trào lưu khoe hàng thuộc giới ca sĩ, diễn viên, người mẫu thì pha lộ hàng của ca sĩ Đoan Trang được xem là “ấn tượng” nhất.

Chuyện cụ rùa Hồ Gươm

Chuyện cụ rùa Hồ Gươm

curua14
rua Sức khỏe cụ rùa Hồ Gươm có vẻ đến hồi lâm nguy. Các nhà rùa học quýnh lên như nước Việt ni sắp vĩnh viễn mất đi một loài... quốc thú!
          Thậm chí chính quyền thành phố Hà Nội còn đang gấp rút chuẩn bị một hội thảo khoa học tầm quốc tế để bàn cách... chữa mấy vết thương cho cụ rùa. Tôi không am hiểu về rùa học, nhưng cứ trộm nghĩ: rùa nó bị thương thì lôi quách lên bờ rửa cồn, xoa dầu, bôi thuốc đỏ, bó thuốc cho nó- thế là xong. Có gì phải ngoắng lên ỏm tỏi thế nhỉ?
          Không biết xửa xưa có bao nhiêu cụ rùa. Nhưng đến nay có vẻ như trong lòng Hồ Gươm còn độc cụ này. Tính tuổi thì có lẽ nó cũng chả phải là cụ rùa trong truyền thuyết trao- trả kiếm thần cho Lê Lợi. Vậy nhưng nó vẫn được dựng thêu thành rùa thiêng. Thậm chí chữ cụ rùa người ta còn dám viết hoa (Cụ Rùa) như viết hoa chữ “Người” khi nói về Hồ Chí Minh vậy.
          Hồ bẩn, ngột ngạt, rùa phải ngóc đầu nhoi lên mặt nước để thở thì bị gán cho tích này điềm nọ, đến mức báo chí còn thổi rằng đó là cụ rùa thiêng ngoi lên để... chào mừng đại lễ nghìn năm Thăng Long- Hà Nội. Mô Phật! May mà rùa không biết nói!
          Một con rùa già, đến tuổi rồi cũng phải chết. Sao cứ nhắng lên như sắp... mất nước đến nơi thế nhỉ? May mà Bộ Văn hóa- Thể Thao- Du lịch mới đề xuất chọn quốc hoa. Nay mai lỡ tiếp tục đề xuất chọn quốc thú, tôi e người ta lại chọn cụ rùa thì hài hước thay cho cái nước Việt này. Tôi sợ nay mai rùa chết, các nhà rùa học và “Hà Nội học” lại đòi phải tổ chức... quốc tang cho cụ rùa này cũng nên. Nực cười đến mức quá lo cho cụ rùa dưới nước mà quên đi bao nhiêu điều khác đáng lo hơn cho các “cụ rùa” trên bờ, cho cái không gian văn hóa đang hiện hữu trên bờ kia.
          Nhớ chuyện trước Tết người ta bày trò đúc tim cho ngựa Gióng mà phì cười mãi. Thế mà đến cả Chủ tịch nước cũng thân chinh về dự, cúi lạy và ngợi ca “trái tim đồng” nhét trong ruột ngựa.
          Xin đừng dựng tượng đúc tim cho ngựa Gióng, đừng khoác áo thiêng cho một con rùa già trần tục lặn ngụp giữa hồ nước thủ đô. Đừng phỉ báng tới mức mãi tin rằng tổ tông người Việt sinh ra từ bọc trứng...
          Truyền thuyết là tư duy lý giải hoang đường của thời sơ khai mông muội. Dựa níu mãi vào những truyền thuyết thời mông muội đó phải chăng chính là sự khủng hoảng niềm tin, hay là sự lúng túng, bế tắc trong tư duy của người Việt?

Phát ngôn & Hành động: Rào cản, bất cập và… loay hoay!

Năm Tân Mão đã bước những bước đi đầu tiên. Khát vọng một năm mới có chữ Tân (mới) với xã hội chúng ta là gì nếu không phải là sự phát triển? Nhưng xã hội phát triển, thăng hoa hay tụt hậu, từ chuyện lớn quốc kế dân sinh đến sự sống của một sinh linh… lại tùy thuộc ở yếu tố quyết định- con người. Phát ngôn & hành động đầu năm mới mong muốn gửi tới bạn đọc những suy cảm, những lo âu và day dứt về người Việt chúng ta.
Cần phát triển lại... rào cản
Ngày 9-2-2011, VietNamNet có bài viết: Thư gửi tân Trưởng Ban Tổ chức Trung ương- ông Tô Huy Rứa, người nắm giữ khâu trọng yếu quyết định sức mạnh và năng lực lãnh đạo đất nước- đội ngũ cán bộ quản lý các cấp.
Nội dung bức thư của tác giả Quốc Thái đặt ra một loạt những câu hỏi, nhưng là để cuối cùng có một cái kết trả lời ở thực tiễn cho dân an. Đó là làm thế nào đất nước có được một đội ngũ cán bộ cốt cán, quản lý có tầm, có tâm, vì lợi ích dân tộc, lợi ích nhân dân mà hành động? Những câu hỏi đó, xuất phát từ một nỗi lo thường trực, một thực trạng lâu nay -  nhiều cán bộ không những chưa đóng vai trò động lực thúc đẩy xã hội, mà thậm chí có đôi lúc còn là rào cản của sự phát triển.
Lá thư ngắn, nhưng kỳ vọng lớn. Đó cũng chính là kỳ vọng của người dân.
Xã hội ta từng chứng kiến những thăng trầm về tư duy cán bộ.
Trong kháng chiến chống ngoại xâm, người ta coi trọng lý lịch, thành phần gia đình, đến mức thành niềm tin- "người bị bóc lột nhất là người triệt để cách mạng nhất".
Không ai phủ nhận được sự đóng góp của nhiều thế hệ lãnh đạo này trong kháng chiến. Rất nhiều người thực chất đã sống trong sáng, vì lý tưởng thật sự- yêu nước, yêu dân tộc, sống xả thân. Không ít người trong số họ, ngay cả khi hưu trí vẫn sống một cuộc đời thanh đạm. Nếu không có họ, không có nhân dân đi theo họ, dân tộc Việt Nam sao có tự do, độc lập?
Rồi giai đoạn "phá" đi qua, giai đoạn "xây" đã tới. Nhưng không phải "người anh hùng thời đại" nào cũng phù hợp với thời đại mới, với một tư duy tương thích, bởi non sông dễ đổi, bản tính khó dời. Lối tư duy mang nặng ý thức hệ đã để lại không ít hệ lụy, làm thiệt thòi, lãng phí không ít những tài năng lẽ ra có thể giúp ích cho đất nước, cho đời. 
Công cuộc đổi mới buộc tư duy về cán bộ cũng thay đổi - đó là cán bộ phải được đào tạo, có học thức. Đến mức, Thủ đô từng manh nha chủ trương 100% cán bộ cốt cán phải là tiến sĩ.
Thế nhưng, tiêu chí mới này lại tạo ra hệ lụy khác - sự học rởm, bằng thật. Người ta đổ xô đi làm cao học, tiến sĩ để lên chức. Và khi kinh tế thị trường càng phát triển, trong xã hội người ta càng thì thào về một cái chợ âm- dương, ở đó chỉ có mỗi mặt hàng được mua bán - bằng cấp, chức tước. Cái chợ đó không trông thấy, vì không ai biết người mua, kẻ bán là ai, dù nó diễn ra quanh năm. Chỉ có kẻ mua, người bán biết nhau, và tiền mua đích thị không phải hàng vàng mã.
Thực trạng cán bộ ấy, xét cho cùng, dù đã gắng thay đổi, nhưng cốt lõi vẫn là tư duy lựa chọn cán bộ hình thức, quá coi trọng bằng cấp, hư danh. Cách tuyển chọn vẫn chưa đặt tài năng, giá trị và năng lực thực chất con người lên hàng đầu. Thời kia là sự hẹp hòi của bệnh ý thức hệ, thời này là sự hời hợt của bệnh bằng cấp. Khi tư duy về cán bộ trì trệ, sự phát triển xã hội khó mà nhanh.
Đến nỗi, nhiều nhà lãnh đạo lão thành, trước vận mệnh quốc gia đã phải tha thiết: "...Đề nghị chọn vấn đề tổ chức và cán bộ làm khâu đột phá... mà đòi hỏi trước hết là một sự thay đổi lớn về nhận thức và tư duy chọn người".
Có lẽ quá hiểu thực trạng này mà mới đây, tại Hội nghị triển khai kế hoạch bầu cử  đại biểu QH và HĐND, 10/2, Tổng Bí thư - ông Nguyễn Phú Trọng đã phải lưu ý: "Con người là khâu trung tâm. Nên kết hợp thật hợp lý giữa tiêu chuẩn và cơ cấu. Từ tiêu chuẩn mà xây dựng cơ cấu. Chứ không nên quá chú trọng cơ cấu mà quên tiêu chuẩn".
Tiêu chuẩn đã quan trọng. Cách tuyển chọn cũng quan trọng không kém. Bởi như chính Tổng Bí thư đã chỉ ra: "Cuộc bầu cử phải diễn ra dân chủ, đúng pháp luật. Tránh dư luận nhân dân cho rằng có thể đi bầu hộ, một người bầu cho cả gia đình, hoặc chuyện đi bầu chỉ là hình thức vì đã chọn sẵn từ trước".
Chỉ hi vọng rằng, bước vào năm Tân Mão - năm của canh tân, cũng sẽ có sự canh tân thực sự trong tư duy tuyển chọn cán bộ, mà tóm gọn lại là: CÔNG KHAI, DÂN CHỦ, dựa trên thước đo là năng lực và hiệu quả công việc thực tế - như góp ý tâm huyết của nhiều nhà lãnh đạo lão thành và định hướng của người đứng đầu Đảng.
Cần "rào cản" lại... bất cập
Như đã thành lệ, tối Giao thừa Tết Tân Mão vừa qua, hàng triệu khán giả lại say sưa trước màn ảnh nhỏ theo dõi VTV với chương trình Gặp nhau cuối năm khá đặc sắc của các Táo quân, trước khi tiễn năm cũ, đón xuân mới.
Tại tiết mục Táo Idol năm nay, Táo Giao thông (nghệ sĩ Chí Trung) đã làm khán giả cười ngả cười nghiêng về sự hóm hỉnh, sự ngụy biện cãi chày cãi cối của ngành giao thông trước những yếu kém, bất cập của ngành mình.
Nhưng ngay tối mùng 4 Tết Âm lịch Tân Mão, có bao nhiêu người dân ở Đồng Nai đã phải khóc, và hàng triệu người dân cả nước đã bàng hoàng trước tai nạn giao thông đường sắt thảm khốc giữa tàu hỏa và 6 chiếc xe ô tô ở cầu Ghềnh (Đồng Nai), làm 2 người chết, 26 người bị thương. Quả là giữa sân khấu và cuộc đời, bao giờ cũng cách nhau rất xa, thậm chí trái ngược- như nụ cười và nước mắt vậy!
Tai nạn thảm khốc ấy là trái đắng của thói làm việc vô trách nhiệm, sự coi thường luật giao thông...tiếc thay đã thành mãn tính của người Việt Nam. Tại anh, tại ả, tại cả mọi bên.
Những nhân vật chính của vụ việc rồi đây sẽ phải đối mặt với pháp luật: Đó là Nguyễn Văn Túy (lái tàu chính), Nguyễn Xuân Phú (lái tàu phụ của đoàn tàu SE2), 4 nhân viên gác chắn: Bùi Văn Thuấn, Nguyễn Văn Lương, Trần Văn Thời, Trần Viết Hải, nhân viên bảo trì đèn tín hiệu giao thông đường sắt- Tô Quang Toán, tài xế taxi Trần Minh Châu. Riêng tài xế Nguyễn Quốc Hùng - điều khiển xe taxi BKS 56K - 9697 - còn đang được cơ quan chức năng thu thập thêm chứng cứ để xem xét hành vi vi phạm pháp luật của vị này.
Vụ tai nạn tại cầu Ghềnh được lãnh đạo ngành đường sắt cho là 'sự cố hy hữu''
Thế nhưng, còn con đường sắt "ăn nằm" với đường ô tô ở cầu Ghềnh, đang chềnh ềnh ra đó, và ai dám bảo đảm rằng nó sẽ không tiếp tục sinh tai nở nạn, thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm đây? Khi mà công nghệ thì lạc hậu, thái độ làm việc của cán bộ, nhân viên tắc trách, tùy tiện? Chẳng lẽ, ngành giao thông vận tải hoàn toàn vô can? Như lời ráo hoảnh, và nhẫn tâm của Táo Giao thông trong Táo Idol: "Anh nào cố tình đi sai luật, cho... đâm chết luôn!". Khổ thay, vụ tai nạn này "Không chết người trai cầm tay lái. Mà chết người vô tội ngồi sau!"(ý thơ Hữu Loan).
Vậy nhưng, tại cuộc họp báo sau đó, ngày 9-2, trả lời báo giới, ông Nguyễn Văn Doanh, Cục phó Cục Đường sắt (Bộ Giao thông Vận tải) khẳng định, đó chỉ là "sự cố hy hữu". Và giống như Bộ trưởng Tài nguyên- Môi trường Phạm Khôi Nguyên từng trả lời trước đây về các bể chứa bùn đỏ: "Về lý thuyết mà nói, là an toàn...", nay Cục phó Cục Đường sắt Nguyễn Văn Doanh cũng khẳng định kiểu lý thuyết: "Nếu tất cả các khâu vận hành trơn tru sẽ không có tai nạn".
Nhưng thực tiễn rất ít khi dành chỗ cho cái chữ "Nếu" mong manh, thưa bác Nguyễn Văn Doanh! Mà thực tiễn luôn biến động, luôn xảy ra những tình huống phải giải quyết, nhất lại là giao thông. Thực tiễn ấy đòi hỏi cái đầu (tư duy) của người làm giao thông phải... đi trước, chứ không phải 2 cái chân.
Và sự cố cầu Ghềnh có phải hãn hữu không? Tiến sĩ Trần Đình Bá, trong một bài viết về thảm họa cầu Ghềnh trên Tuần Việt Nam đã nêu rõ: "Chưa có nơi nào trên thế giới, thảm họa quốc gia về giao thông giữa ĐS và đường bộ hàng ngày xẩy ra như ở Việt Nam: Tàu hỏa tông xe chở đám cưới, tàu hỏa tông xe cựu chiến binh đi du lịch, tàu hỏa tông xe tải, tàu hỏa tông vào xe gắn máy, tàu hỏa tông vào xe công nông, tàu hỏa tông ô tô chở khách làm chết hàng chục người ..."
Vậy mà Cục phó Cục Đường sắt Nguyễn Văn Doanh, trả lời về trách nhiệm của quản lý Nhà nước, lại chỉ thấy ở... người thi hành, không thấy người quản lý đâu cả: "Người thi hành nếu không thực hiện quy định thì sẽ bị xử phạt theo quy định pháp luật".
Điều không thể hiểu nổi, say sưa "đi tìm giá trị ảo trong siêu dự án ĐSCT 56 tỷ USD" (TS Trần Đình Bá), mà đội ngũ cán bộ có trình độ nghiên cứu khoa học không ít- 300 tiến sĩ- thì khi sự rệu rã của giao thông đường sắt đã nhãn tiền,  Bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng cũng mới chỉ hứa hẹn: "Vấn đề này đang được nghiên cứu".
Lại nhớ đến cái điệp khúc của Táo Giao thông khi đang làm những động tác say sưa - đào bới những con đường tử thần: "Em có một ước ao/ Em có một khát khao: Làm giao thông. Làm giao thông..."
Thì nhân dân cũng chỉ muốn gửi tới ngành giao thông vận tải một điệp khúc khác: "Dân có một ước ao/ Dân có một khát khao: Đừng mất bò mới lo làm chuồng. Đừng chết người mới lo làm đường. Ngành giao thông, ngành giao thông..."
Cần khẩn thiết thì...loay hoay
Có một sinh linh, gắn bó bao đời nay với Hồ Gươm, với người Hà Nội, trở thành biểu tượng của hồ, là niềm tự hào xen lẫn sự kính trọng của người dân, và vì thế được coi như một linh vật, được tôn kính gọi là Cụ. Đó là Cụ Rùa Hồ Gươm.
Nếu những năm xa xưa trước đây, Cụ Rùa luôn đem lại cho người Hà Nội cảm giác an lành, sung sướng mỗi khi người ta được chiêm ngưỡng Cụ oai vệ và chễm chệ bò lên thảm cỏ Tháp Rùa lim dim mắt sưởi nắng. Hoặc tình cờ Cụ ngoi lên mặt nước, như muốn nghiêng ngó trời đất, thư thái ngắm nhìn con cháu Cụ lại qua. Thì những năm gần đây, Cụ lại khiến lòng người Hà Nội vốn yêu quý, kính trọng và ngưỡng vọng Cụ trở nên bất an, lo lắng.
Bất an, lo lắng bởi sức khỏe, và tính mệnh Cụ đang bị de dọa.
Mà lỗi đâu phải tại Cụ. Ngược lại, Cụ đang là nạn nhân của chính con người, của đời sống hiện đại, môi trường ô nhiễm, còn con người thì thờ ơ, vô trách nhiệm, kiểu "sống chết mặc bay, tiền ông bỏ túi"...
Từ lâu, báo chí lên tiếng về hiện tượng Cụ Rùa nổi lên trên mặt nước quá nhiều lần- không còn là bình thường, mà ở góc độ sinh học, là bất thường. Khi đó, Cụ không còn là ngắm phố phường, con cháu lại qua. Mà dường như Cụ đang ngóng con cháu hãy giúp Cụ.
Cụ Rùa đang khẩn thiết kêu cứu
Một chuyên gia về loài rùa như GS Hà Đình Đức, và nhiều người dân Hà Nội kinh hoàng nhận ra, mình Cụ Rùa đầy vết lở loét, dấu hiệu rõ ràng nhất của nước hồ nhiễm bẩn quá nặng. Và họ kinh hãi, tự lúc nào, Cụ phải sống chung với loài rùa tai đỏ, một loài sinh vật được xếp hạng là 1 trong số 206 động vật xâm hại môi trường, vì thói ăn tạp hung dữ, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cân bằng sinh thái bản địa. Những chú rùa bé tí xíu bỗng trở thành mối hiểm nguy cho môi trường sống của Cụ Rùa không lồ và cao niên.
Những bức ảnh của báo chí liên tục chụp được Cụ, lúc thì bị rùa tai đỏ cưỡi trên lưng, như cưỡi thuyền rồng hóng mát, lúc thì Cụ gặm cả dây cao su, lúc Cụ bấu víu vào bờ kè của Hồ Gươm, khắp mình mẩy đầy vết lở loét như bị nấm ăn, trông thật xót thương.
Nhưng GS "Đức rùa" như cách gọi thân ái về ông, và nhiều người dân sốt ruột, lo lắng bao nhiêu về số phận Cụ Rùa, thì cơ quan chức năng dường như lại loay hoay, lúng túng bấy nhiêu.... Cứu bệnh như cứu hỏa, cứu Cụ Rùa còn cần gấp gáp hơn cả cứu hỏa. Vì Cụ không chỉ bị bệnh lở loét, bị thương nặng, mà nhiều chuyên gia nghi vấn, có thể Cụ bị bệnh phổi- xuất phát từ hiện tượng luôn phải nổi lên mặt nước để thở, mà còn vì Cụ là một biểu tượng tâm linh của Hồ Gươm và Hà Nội.
Bàn thảo mãi, người ta cũng được nghe về phương pháp thu gom rùa tai đỏ. Nhưng phải tận tháng 3-2011 cơ! Mà cũng mới chỉ nghe về lý thuyết, chưa biết cách làm có hiệu quả? Mà "về lý thuyết...", thì bao giờ chả hay ho? Chuyện bể chứa bùn đỏ, chuyện đường sắt cao tốc đó. Rồi bây giờ, đến chuyện Cụ Rùa.
Trước sự cấp bách của sức khỏe Cụ Rùa, Sở Khoa học- Công nghệ Hà Nội vừa tổ chức hội thảo quốc tế bàn về các giải pháp cứu Cụ. Nhưng khi Cụ đang cần cấp cứu thì khốn thay, con cháu Cụ lại cứ loay hoay.
Có rất nhiều phương án bàn thảo được đưa ra. Người đòi đưa Cụ lên. Người đòi lọc nước hồ. Người bàn dùng máy bay trực thăng cứu Cụ. Người đòi cho Cụ xơi tam thất. Riêng các chuyên gia nước ngoài cảnh báo, nếu đưa Cụ lên khỏi môi trường, rất nguy hiểm vì có thể Cụ bị sốc.
Giá mà Cụ biết được sự thờ ơ, "Rùa chung không ai khóc", thì Cụ phải "xì- chét" nặng từ lâu!
Cho đến giờ phút này, cũng vẫn chưa có một giải pháp nào được quyết định.
Thương Cụ Rùa quá. Mà cũng tại Cụ. Giá Cụ đổi tên, có khi chuyện cứu Cụ sẽ không "rùa" mà sẽ nhanh hơn. Thế nhưng, có người bảo Cụ có đổi tên chắc cũng không ăn thua.
Bởi ngay tại phiên thảo luận về Dự án Luật Thủ đô của Thường vụ Quốc hội mới đây, Phó Chủ tịch UBND t/p Hà Nội Vũ Hồng Khanh đã phát biểu: "Nhiều người áp trách nhiệm cho lãnh đạo thành phố nếu có vấn đề gì xảy ra với Cụ Rùa, nhưng không có quy định nào như vậy. Có luật mới, những đối tượng như Cụ Rùa sẽ được cả nước quan tâm".
Cứ như khẳng định của Phó Chủ tịch t/p, thì không chỉ dân Hà Nội  phải đợi Luật Thủ đô, mà chính Cụ Rùa cũng "Hãy đợi đấy!" như tên của một bộ phim hài cho trẻ em, nếu Cụ muốn được quan tâm và bảo vệ.
Chúng con cầu mong Cụ Rùa tai qua nạn khỏi. Nhưng nếu hiển linh, cầu mong Cụ phù hộ cho quốc gia, xã tắc không có dáng đi khoan thai như Cụ trong năm mới Tân Mão này.
Và cầu cho đội ngũ cán bộ không còn ai có phong cách làm việc "thiền" như Cụ.
Chỉ nể người dân Việt chúng ta: Xã hội cần phát triển thì gặp... rào cản. Cần rào cản lại... bất cập. Cần khẩn thiết thì... loay hoay. Vậy mà vẫn là một dân tộc có chỉ số lạc quan vào loại nhất nhì thế giới.
Thế thì, năm mới Tân Mão này, mong người dân Việt chúng ta có chỉ số lạc quan mang phong thái Cụ - chầm chậm, mà thực chất!

Rùa Hồ Gươm & Người Hà Nội

Tưởng Năng Tiến
imageSách Lam Sơn Thực Lục của Nguyễn Trãi có ghi:
“Đầu năm 1428, Lê Thái Tổ cùng quần thần bơi thuyền ra hồ Thủy Quân. Ra giữa hồ, có Rùa vàng nổi lên mặt nước, chắn trước thuyền của vua gọi to:
- Xin nhà vua hãy hoàn lại gươm thần cho Long Vương!
Lê Thái Tổ rút gươm trả, rùa vàng ngậm lấy gươm lặn xuống nước đi mất. Từ đó hồ Tả Vọng được đặt tên là hồ Hoàn Kiếm.
Câu chuyện về Cụ Rùa ở hồ Hoàn Kiếm, tất nhiên, không chỉ ngừng ngang đó. Gần 600 năm sau – nhà báo Hải Diệp, trong chuyên đề Nhật Ký Đại Lễ Ngàn Năm Thăng Long – có ghi: “... vào ngày khai mạc Đại lễ  (1/10) cụ đã nổi vào buổi sáng... với người dân Thủ đô, vào dịp Đại lễ sự xuất hiện của cụ Rùa luôn gợi lên một cảm thức linh thiêng bên hồ Gươm huyền thoại”.
Ông Trương Duy Nhất, ngó bộ, không bằng lòng lắm với ghi nhận (vừa nêu) nên lầu bầu phản đối:
“Hồ bẩn, ngột ngạt, rùa phải ngóc đầu nhoi lên mặt nước để thở thì bị gán cho tích này điềm nọ, đến mức báo chí còn thổi rằng đó là cụ rùa thiêng ngoi lên để... chào mừng đại lễ nghìn năm Thăng Long - Hà Nội. Mô Phật! May mà rùa không biết nói!
Thằng chả ăn nói báng bổ, tầm bậy tầm bạ (thấy rõ) vậy mà hoàn toàn... không trật! Đại Lễ Ngàn Năm Thăng Long đã qua nhưng “cụ rùa thiêng (vẫn cứ) ngoi lên để chào mừng” khiến cho ký giả Kỳ Duyên sốt ruột:
Về hiện tượng Cụ Rùa nổi lên trên mặt nước quá nhiều lầnkhông còn là bình thường, mà ở góc độ sinh học, là bất thường. Khi đó, Cụ không còn là ngắm phố phường, con cháu lại qua. Mà dường như Cụ đang ngóng con cháu hãy giúp Cụ.... nhiều người dân Hà Nội kinh hoàng nhận ra, mình Cụ Rùa đầy vết lở loét, dấu hiệu rõ ràng nhất của nước hồ nhiễm bẩn quá nặng”.
Dù chưa bao giờ nhìn thấy Cụ Rùa, và cũng chưa bao giờ có dịp đặt chân đến Hà Thành, tôi cũng “kinh hoàng” chết mẹ (luôn) vì “Chín mươi lăm phần trăm hồ ao Hà Nội bị ô nhiễm” – theo như tường thuật của Hương Thu (VnExpress) vào hôm 19/10/2010:
Trung tâm nghiên cứu và cộng đồng môi trường (CECR) vừa công bố kết quả nghiên cứu về môi trường của 120 hồ, ao, đầm, thủy vực lớn nhỏ của 6 quận trung tâm Hà Nội.Theo đó, chỉ có 6 hồ đạt yêu cầu chất lượng ở tất cả các chỉ tiêu nghiên cứu, chiếm tỷ lệ 5%, phần lớn các ao hồ bị ô nhiễm chất hữu cơ, nồng độ oxy hòa tan dưới mức tiêu chuẩn cho phép. Hơn 80% hành lang bờ bị ô nhiễm, và đang đứng trước nguy cơ bị lấn chiếm để xây nhà, bãi đỗ xe, trở thanh bãi tập kết phế liệu, rác thải sinh hoạt.
“Theo CECR, nguyên nhân gây ô nhiễm chính là do nước thải sinh hoạt và một phần nước thải từ gia đình hoặc cộng đồng tùy tiện thải xuống hồ. Ngoài ra, hiện tượng đổ phế thải xây dựng, đổ đất, lấn chiếm ao hồ… cũng làm giảm đáng kể diện tích ao hồ, nhiều hồ đang dần biến mất”.
Riêng mức độ ô nhiễm của hồ Linh Quang, xem ra, có vẻ (hơi) vượt chỉ tiêu – theo lời nhà báo Hải Hà,
Gần 50 năm nay, hồ Linh Quang chưa một lần được nạo vét. Nước hồ đen đặc bốc mùi hôi thối, mực nước nơi sâu nhất cũng chỉ hơn 1 mét, còn lại toàn là bùn và rác do người dân đổ xuống để lấn chiếm. Vừa qua khi phát hiện các ca tả ở phường Văn Chương, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương đã lấy mẫu nước hồ để xét nghiệm và phát hiện phẩy khuẩn tả cũng như nhiều loại vi khuẩn gây bệnh đường ruột khác...
Cùng với sự “tôi luyện khả năng chịu đựng” sự hôi thối của ao/hồ, sức “chai lỳ” của người Tràng An (trước hệ thống sông cống dơ bẩn và tù đọng) cũng vô cùng đáng nể – theo như (nguyên văn) cách dùng từ của nhà báo Việt Hưng:
Sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Sét, sông Lừ… và còn rất nhiều con sông nữa, trước kia mang dòng nước chảy khắp Hà Nội, cùng với hệ thống các ao hồ đã có tác dụng điều hòa, giảm bớt cái nóng oi bức của miền Bắc.
Giờ đây, với tốc độ phát triển chóng mặt của Hà Nội cả về kinh tế và dân số, các dòng sông này đổi tên thành những cống nước thải , mang đầy rác rưởi và bốc mùi hôi thối khó chịu. Người dân sống gần cống lâu ngày đã tôi luyện khả năng chịu đựng, chai lỳ trước mùi hôi thối và môi trường ô nhiễm. Bằng chứng là họ vẫn cứ đời này qua đời khác sống mạnh khỏe cạnh những dòng sông chết ấy, vẫn quần áo thơm tho ngẩng cao đầu bước đường, bỏ lại sau lưng mùi tanh nồng của nước thải...
clip_image001
Người dân khu Hào Nam ngồi chơi bên cái cống nồng nặc mùi rác thải. Nguồn: Dân trí.
Với hệ thống sông hồ “tanh nồng” như thế, người Hà Nội – tất nhiên – phải dùng nước bẩn. Sự bẩn thỉu được phóng viên Châu Như Quỳnh mô tả là “hãi hùng” khi nhìn thấy ở khu vực Thanh Trì – Hà Nội – trong bát “nước sạch” vừa được xả từ vòi, nhiều con giun màu đỏ, có chiều dài khoảng từ 0,5-1,5cm bơi ngoe nguẩy, hết nổi lên lại lặn xuống.
clip_image003
Giun trong bát nước vừa được lấy từ vòi. Nguồn: Dân trí
Tiến sĩ Trần Văn Nhị (Viện Khoa học & Công nghệ) cho biết:”Ngày ngày, hàng trăm nghìn người dân Hà Nội phải uống nguồn nước chứa những chất độc có khả năng gây ung thư cao mà không biết đến bao giờ mới được sử dụng nước sạch hoàn toàn”.
Để khắc phục tình trạng này, ông đưa ra một lời khuyên (vô cùng) giản dị: “Trong khi chờ đợi phép màu từ phía các nhà chức trách, mỗi hộ dân nên tìm cách tự cứu lấy mình”.
Tự cứu bằng cách nào ?
Cầu Trời mưa xuống chăng?
Việt Nam vốn là nơi xuất xứ của câu thành ngữ “hiền như một ngụm nước mưa” mà, phải không?
Dạ phải nhưng đó là chuyện đã xưa rồi, hồi trào phong kiến hay trào thực dân kìa. Kịp tới khi cách mạng về thì ở xứ sở này không còn cái gì mà hiền (hay lành) được nữa, kể cả nước mưa. Ông Dương Hồng Sơn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Môi trường, tuyên bố:
“Ở Việt Nam, lượng mưa axit đã chiếm 30%, có nơi tới 50% số lần mưa… gây tác hại không nhỏ đối với con người, cơ sở hạ tầng, sản xuất… Những báo cáo của mạng lưới quan trắc quốc gia cho thấy, mưa axit từ nước ngoài vào Việt Nam đang tăng lên…” (Mưa độc có thể tàn phá hệ hô hấp của con người – VnMedia, 23/12/2008).
Nước ngoài là nước nào vậy cà?
Dân chúng Miên, Lào, Miến Điện không mấy ai có “cơ hội” được đụng chạm gì nhiều tới máy móc. Họ đâu có làm gì ra khói, ngoại trừ những lúc họ nướng khoai, sao có thể tạo ra mưa acid được, cha nội?
Vậy thì khói thải ở đâu ra? Phải có lửa ở chỗ nào đó mới được chớ, đúng không?  Không có lửa sao có khói, mấy cha? Lò dò một chặp, tui tìm được xuất xứ của nguồn khói lạ (nguyên nhân gây ra “mưa axit từ nước ngoài vào nước ta”) qua một bài viết ngắn, bằng Anh Ngữ: “Transboundary sulfur pollution & Vietnam”.
Tác giả, một chuyên gia về khí quyển hiện sinh sống tại nước Úc, bày tỏ sự quan ngại rằng ở Ðông Nam Á có những quốc gia chỉ tạo ra những lượng lưu huỳnh rất nhỏ nhưng lại phải chịu nhận sự tích tụ của loại hóa chất này (rất lớn) từ những lân bang. Việt Nam và Nepal là hai “nạn nhân” điển hình, trong vùng, về tệ trạng này.
Tài liệu mà Tiến sĩ Nguyễn Đức Hiệp trích dẫn (R. Arndt, G. Carmichael, J. Roorda – Seasonal source-receptor relationships in Asia, Journal of Atmospheric Environment, Vol. 32, No. 8, 1988, pp. 1937-1406) được phổ biến từ năm 1988 lận. Hơn hai mươi năm sau, ông Dương Hồng Sơn – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Môi trường thuộc Viện Khoa học Khí tượng – mới từ tốn cho công luận biết là  “hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá tổng thể ảnh hưởng của mưa axit,” dù vẫn theo lời ông: “Mưa độc có thể tàn phá hệ hô hấp của con người” (VnMedia 23/12/2008).
Mà dân Việt thì rõ ràng không cần thêm “khói lạ” của ông bạn láng giềng vĩ đại. Khói nhà vốn đã có dư rồi, theo đánh giá của GS TS Vũ Hoan – Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học Kỹ thuật Hà Nội – vào hôm 18 tháng 9 năm 2010:
"Hiện nay tình trạng ô nhiễm môi trường không khí Hà Nội đang ở mức báo động đỏ. Nồng độ bụi lơ lửng ở các quận nội thành đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép 5–6 lần thậm chí có nơi trên 10 lần. Lượng khí thải độc hại như CO2, SO2, CO3, NO, CO… ngày càng gia tăng và tác động tiêu cực tới con người, môi trường".
"Vào giờ cao điểm, nồng độ bụi tính trung bình của riêng TP Hà Nội gấp 4 lần tiêu chuẩn cho phép, nồng độ khí CO cao hơn 2,5 lần, hơi xăng cao hơn 12,1 – 2000 lần tiêu chuẩn cho phép.  Người dân sống quanh các  điểm nóng giao thông có biểu hiện triệu chứng rõ tới sức khỏe như kích thích các hệ cơ quan mắt, mũi, họng, da và thần kinh thực vật..."
Hà Nội phải chịu đựng âm thanh hỗn tạp của còi xe, tiếng động cơ, tiếng ồn tại các công trường xây dựng và hàng loạt tạp âm khác làm cho môi trường không khí trở nên chật chội ngột ngạt.

clip_image004
Bụi mù mịt ở đường Láng - Hòa Lạc. Ảnh: Thu Huyền
Thở không khí bụi bặm và ngột ngạt khói xe, sống bên cạnh sông hồ hôi thối, dùng nước uống không đủ tiêu chuẩn vệ sinh, tiêu thụ những loại thực phẩm độc hại... (chắc) không phải là “độc quyền” của người dân Hà Nội. Tôi e rằng người dân Việt, ở rất nhiều thành phố khác nữa, cũng đang sống trong môi trường (bệnh hoạn) tương tự.
Hà Nội chỉ may mắn hơn những địa phương khác ở chỗ có một Cụ Rùa. Sự xuất hiện bất thường, đều đặn, của sinh vật này – trong thời gian qua – là một tín hiệu (không lành) về tình trạng môi sinh của cả cộng đồng.
Điều không may là “tín hiệu” này không được đánh giá đúng mức. Mọi nỗ lực của UBNDTP Hà Nội đều chỉ chăm chú vào “cá thể” của Cụ Rùa thôi, và cả nước (xem chừng) cũng đều đồng tình như thế cả.
Tại sao người dân Việt lại có thể sống vô tư như vậy? Lý do, tôi trộm nghĩ, có lẽ bởi họ thường xuyên được “ru ngủ ” bởi những “bài ca” êm dịu – đại loại như:
E là đã đến lúc phải tỉnh dậy đi thôi, muộn mất rồi!
T. N. T.

Thư của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên

Trong cuộc “đánh trả tự vệ” Việt Nam năm 1979: Vì sao không chia cắt Việt Nam, thương vong khi rút về lớn hơn khi tấn công?

Dương Danh Dy (lược dịch)
Nhà nghiên cứu Trung Quốc Dương Danh Dy vừa lược dịch bài viết mới nhất của Trung Cộng phân tích về những bài học rút ra từ cuộc tấn công đại quy mô trên toàn tuyến biên giới để xâm lăng Việt Nam, trong cái mà họ gọi là “Đánh trả tự vệ” (Tự vệ phản kích).
Bài báo này thực sự là một bản tuyên bố hùng hồn, phơi bày cái bộ mặt đạo đức giả của Trung Cộng phủ nhung với những lời ngon ngọt “Bốn tốt” và “Mười sáu chữ vàng”, ru ngủ được một số người Việt Nam nhẹ dạ, và tiếp tay cho bọn bán nước Lê Chiêu Thống và Trần Ích Tắc thời nay.
Chúng ta thấy gì qua bài viết này?
Trước hết, chúng ta thấy mức độ lươn lẹo của bọn đế quốc Trung Cộng đã vượt xa tất cả các đế quốc đàn anh trong lịch sử thế giới và tất cả các triều đại phong kiến Đại Hán trong lịch sử Trung Hoa. Tất cả các đế quốc đàn anh và các triều đại phong kiến Đại Hán đều tuyên bố công khai trước thế giới về các cuộc chinh phạt của họ. Còn bọn đế quốc Trung Cộng thì luôn luôn cao giọng bù lu bù loa, cào … “mồm” ăn vạ, là họ “đánh trả Việt Nam” là để tự vệ. Thật là hết sức hài hước: Việt Nam là một đất nước quá nhỏ bé, lúc nào cũng cố gắng cầu hòa bên cạnh tên đế quốc Trung Cộng đứng lừng lững như ông hộ pháp trước cổng chùa. Việt Nam đâu dám lấn chiếm đất đai của họ?
Ngược lại chính họ, chính những tên đế quốc Đại Hán thuộc đủ các triều đại, đều tham ăn tục uống, đã có cả lịch sử ngàn năm xâm lăng Việt Nam, đã hàng ngày hàng giờ lấn chiếm từng tấc đất và biển đảo của Việt Nam bằng những thủ đoạn từ trắng trợn đến đê hèn nhất, đã xúi giục Pôn Pốt đánh phá, tàn sát dân lành suốt vùng biên giới với Việt Nam, buộc Việt Nam phải đánh trả cho chúng đại bại, hơn nữa chính Trung Quốc cũng nhân dịp này đã “tạo cớ” cho quân đội Việt nam tiêu diệt một chính phủ cộng sản diệt chủng tàn bạo nhất trên thế giới này.
Từ trước đến nay, người Việt Nam vẫn tin Đặng Tiểu Bình nói thật, rằng Trung Cộng “chỉ muốn” … “Dạy một bài học cho Việt Nam”, về tội Việt Nam đã tiễu trừ tên tay sai Pôn Pốt của Trung Cộng… Thì ra không phải vậy. Bài báo này đã nói toẹt ý đồ sâu xa của Trung Cộng, đó là Trung Cộng muốn chiếm đóng Việt Nam, muốn chia cắt lâu dài Việt Nam để trị, muốn thiết lập một thuộc quốc Việt Nam, hoặc chí ít là một miền Bắc Việt Nam tay sai của Trung Cộng… Nhưng, cũng qua bài báo, bọn Trung Cộng cũng đã đau đớn nhìn nhận, cuộc chinh phạt Việt Nam lần này đã bị quân đội Việt Nam đánh cho đại bại, và chính chúng đã bị nhân dân Việt Nam phỉ nhổ và góp phần cùng với quân đội đánh cho chúng những đòn ô nhục ê chề.
Chúng ta không thể kể hết những thủ đoạn tinh vi của bọn đế quốc Đại Hán cộng sản trong suốt những năm vừa qua, từ trắng trợn tấn công biển đảo của Việt Nam, đến lén lút di chuyển cột mốc, lẳng lặng kéo dài đầu mối đường sắt của Trung Cộng qua biên giới khi “giúp” Việt Nam phục hồi đường sắt sau chiến tranh, đến “mượn” đất chôn mồ mả bố mẹ ông cha của chúng, rồi tuyên bố xanh rờn: “Mộ Hán Tặc ở đâu, đất của Hán Tặc ở đó”…
Đương nhiên, người Việt Nam không thể nào kể hết những thủ đoạn kinh doanh bẩn thỉu nhằm triệt phá kinh tế của Việt Nam, như mua rễ hồi để triệt phá rừng hồi, mua móng trâu để tiêu diệt sức kéo của nông dân nghèo, mua chè chặt xô phơi vàng để nông dân triệt phá đồi chè v.v., và xuất sang Việt Nam những sản phẩm độc hại, nhằm làm suy yếu sinh lực và nòi giống Việt Nam.
Thế mà, thật là nực cười, khi chúng ta đọc được những lời sau đây của bọn đạo đức giả Trung Cộng: “Khi quân đội chúng ta (Hán tặc) gần gũi và yêu mến dân chúng Việt Nam”, … Trời ơi, những ai đã chứng kiến cái thời Trung Cộng kéo quân sang định xâm chiếm Việt Nam dưới chiêu bài giúp Việt Nam “làm đường” phục vụ chiến tranh, thì đều rõ chúng đã “yêu mến dân chúng Việt Nam” đến mức độ nào (!)… Đến khi người Việt Nam nhận ra bộ mặt xâm lăng bẩn thỉu của chúng, cụ Hồ Chí Minh đã khéo léo cảm ơn Trung Cộng để mời chúng về nước, thì bọn quân đội ấy đã “yêu mến dân chúng Việt Nam” đến mức đập phá hết mọi đồ ăn thức dùng ở những nơi chúng chiếm đóng… Những thứ như bể nước, thùng tôn, … không đập phá được thì chúng hùa nhau tụt quần xả ra những thứ không thể thối tha hơn được để tỏ lòng “yêu mến dân chúng Việt Nam”… Nhưng cũng thú vị là, chỉ ngay vài dòng sau đó, tác giả bài báo đã không thể không thừa nhận: “Dân chúng Việt Nam thù địch Trung Quốc...” (đi xâm lược nước người mà lại muốn người yêu mến mình, khôi hài đến thế là hết cỡ), và đã … “tìm cớ hạ thủ quân đội Trung Quốc, và số quân đội Trung Quốc bị hy sinh bởi phương thức này không thể đếm được…”. Và tác giả bài báo phải ôm hận thốt ra một lời thảm hại: “Có đau thương không?”
Đúng, thừa nhận “Dân chúng Việt Nam thù địch Trung Quốc [xâm lược]”, đó là lời cảnh báo đối với những kẻ đang cố khúm núm níu kéo bọn xâm lăng Đại Hán bằng chính luận điệu “Bốn tốt” và “Mười sáu chữ vàng” mà các nhà lãnh đạo Trung Cộng đang rêu rao. Dân chúng Việt Nam đã không u mê với những lời đường mật của đế quốc Trung Cộng và bọn Việt gian tay sai của chúng.
Chúng ta hãy nghe những lời tuyên bố không úp mở trong bài báo: “Sau khi dựng nên một chính quyền Việt Nam thân Trung Quốc rồi sẽ vũ trang, viện trợ và ủng hộ nó giải phóng toàn Việt Nam, hoặc nhân đó chia ra Nam Bắc để trị, chia cắt Việt Nam thành hai nuớc”.
Chúng ta phải thành thật cảm ơn tác giả bài báo. Họ đã tự lột cái mặt nạ giả nhân giả nghĩa bạn bè đồng chí. Họ đã giúp chúng ta nhìn thẳng vào cái mặt nạ ý thức hệ cộng sản để xâm lăng nước ta. Họ đã khoét sâu cái mặt nạ cộng sản, kích động một số người nhân danh ý thức hệ cộng sản mà họ đang cố lợi dụng để ly gián dân tộc ta, để làm tan rã cộng đồng dân tộc Việt Nam, và cuối cùng là để họ trục lợi trong cái mộng bá quyền xâm lăng của họ.
Bài báo có một gợi ý rất hay cho người Việt Nam chúng ta: Có lẽ đã đến lúc người Việt Nam phải thanh toán món nợ ân oán giang hồ “Trung Quốc giúp Việt Nam trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc”, mà thực chất là tâng bốc Việt Nam làm tiền đồn bảo vệ chủ nghĩa cộng sản ở phía nam Trung Cộng, tạo ra một Việt Nam thân cộng sản Đại Hán, một Việt Nam “thuộc quốc” của Trung Cộng, một Việt Nam con bài đô-mi-nô của Trung Cộng trên con đường bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán cộng sản xuống các quốc gia Đông Nam Á.
Trả lời bài báo này, tôi muốn nhắn nhủ các nhà lãnh đạo Trung Quốc: Từ trong lịch sử, nhân dân Việt Nam luôn mong muốn một quan hệ hòa hảo với Trung Quốc, bản thân tôi vẫn luôn có những người bạn thân thiết và thầy học khả kính người Trung Quốc, nhưng không bao giờ người Việt khuất phục trước chủ nghĩa xâm lăng Đại Hán, dù đó nhân danh cái gì, kể cả khi chúng đeo cái mặt nạ anh em đồng chí cùng ý thức hệ cộng sản.
Có đôi lần tôi được ngồi với một vị sĩ quan rất cao cấp đang tại chức trong quân đội và một vị sĩ quan cũng rất cao cấp đang tại chức trong ngành an ninh. Tôi nói đến sự lo ngại bọn xâm lăng đang đội lốt anh em đồng chí, lo ngại một số vị nào đó vì ngây thơ bảo vệ ý thức hệ anh em đồng chí mà mất cảnh giác trước nguy cơ xâm lược của bọn Hán Tặc, thì cả hai vị sĩ quan cao cấp đáng kính này đã trấn an tôi như sau: “Anh cần nhớ rằng, bất cứ giờ khắc nào, khi Tổ Quốc Việt Nam lâm nguy, thì quân đội và các chiến sĩ an ninh sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ đất nước này”.
Tôi giật mình. Đúng, lịch sử đã chứng tỏ, dù Tổ Quốc ta tồn tại dưới bất kỷ thể chế nào, dù đó là thời phong kiến hàng nghìn năm bị giặc Tàu đô hộ, hay thời Việt Nam Cộng hòa bị tấn công vùng biển đảo Hoàng Sa, hoặc thời nay bị quân xâm lăng cộng sản tấn công toàn diện từ biên giới Tây Nam đến toàn tuyến biên giới phía Bắc, người Việt Nam không bao giờ khuất phục, ngay cả khi quyền lực còn nằm trong tay bọn Lê Chiêu Thống và Trần Ích Tắc giương giương tự đắc.
Cảm ơn nhà nghiên cứu Dương Danh Dy về bản lược dịch bài báo tuyệt vời này và xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc của Bauxite Việt Nam.
Vũ Cao Đàm
Năm 1979, trong trận đánh trả tự vệ Việt Nam, quân đội Trung Quốc với thế nhanh chóng tấn công, quân Việt từng buớc tan rã, quân đội Trung Quốc nhắm thẳng Hà Nội. Sau đó Trung Quốc tuyên bố trận đánh đã đạt mục đích, tự rút quân về nước.
Lâu nay chúng ta luôn tuyên truyền và miêu tả rằng chúng ta đã thắng lợi và Việt Nam đã thất bại, nhưng cùng với thời gian những văn kiện của chính quyền và tư liệu của Việt Nam cho thấy, cuộc chiến này không lạc quan như tuyên truyền trước đây, trong đó có nhiều bài học nặng nề đau đớn khiến chúng ta không thể không phản tỉnh một cách sâu sắc.
Thứ nhất, kỷ luật quân sự nghiêm túc đã làm quân ta phải trả giá trầm trọng.
“Ba kỷ luật lớn, tám điều chú ý” mà quân đội ta giữ nghiêm đã phát huy tác dụng lớn trong cuộc nội chiến Quốc, Cộng là vì qua đó đã thể hiện được chính nghĩa, công bằng của quân đội ta, thế nhưng khi chúng ta vào Việt Nam đánh quân đội và chính quyền Việt Nam mà vẫn thực hiện “ba kỷ luật lớn tám điều chú ý” là tự trói chân trói tay mình lại, hy vọng dùng những cái đó để tranh thủ sự giúp đỡ và ủng hộ của nhân dân Việt Nam thì chẳng khác gì đàn gảy tai trâu, tự chuốc lấy nhục. Nhân dân Việt Nam không phải là công dân Trung Quốc, làm sao họ có thể gần gũi quân đội nước ngoài đánh vào đất nước họ? Khi quân đội chúng ta gần gũi và yêu mến dân chúng Việt Nam, dân chúng Việt Nam thù địch Trung Quốc và quân đội Việt Nam ở lẫn trong đó sẽ tìm cớ hạ độc thủ quân đội Trung Quốc, và số quân đội Trung Quốc bị hy sinh bởi phương thức này không thể đếm được, có đau thưong không?
Chiến tranh là chiến tranh, nhất là chiến tranh giữa các quốc gia, anh không thể hy vọng nhân dân nước khác đánh trống khua chiêng hoan nghênh anh xâm chiếm ngưòi ta, đó chẳng qua chỉ là trò bịt tai đi ăn cắp chuông, tự lừa dối mình và lừa dối người.
Thứ hai, không quân phát triển trì trệ, lạc hậu không có sức công kích.
Đánh trả tự vệ Việt Nam cực kỳ ác liệt, khi bộ đội mặt đất khó tiến công về phia trước, lục quân mong mỏi nhất là có sự chi viện mạnh mẽ của không quân, thế nhưng trong lúc mỏi mắt mong chờ, không quân Trung Quốc vẫn im lặng. Trong khi đó không quân Việt Nam đã khiêu chiến trước nhưng trước số lượng máy bay Trung Quốc đông gấp nhiều lần chúng đã bỏ chạy, ta bắn tên lửa đuổi theo nhưng không trúng. Có bắn rơi máy bay địch nhưng là công của bộ đội mặt đất.
Vì sao không quân Trung Quốc lại quẫn bách như thế? Một mặt không quân chúng ta thiếu thiết bị định vị, không có nó tên lửa không thể bắn trúng mục tiêu. Một mặt là do ảnh hưởng của cách mạng văn hóa lâu dài, không quân không bay đủ giờ bay huấn luyện, khi huấn luyện lại giảm các tiết mục bay khó… cho nên không có phi công giỏi
Thứ ba, hải quân Biển Đông lúc đó còn chưa phát triển.
Cuộc chiến hoàn toàn diễn ra trên lục địa Việt Nam. Đánh Việt Nam vừa để dạy bài học, vừa thu hồi lãnh thổ bị chiếm, vùng gần biên giới trên bộ bị Việt Nam chiếm giữ đã thu hồi hết, cớ làm sao không thu hồi các đảo, bãi trên Biển Đông bị Việt Nam chiếm giữ? Chẳng lẽ lo rằng chiến sự sẽ leo thang vô hạn ư? Chẳng phải là hai nước đã đánh nhau toàn diện rồi ư? Chẳng lẽ đó không phải là đảo, bãi của ta? Thế mà chẳng phải là chúng ta vẫn luôn kêu gào rằng đó là lãnh thổ thần thánh không thể xâm phạm của mình?
Điều giải thích duy nhất là hải quân của chúng ta chưa đủ, không chỉ chưa đủ để đánh lùi hải quân Việt Nam chiếm giữ đảo bãi của ta mà còn khó có thể đóng giữ ở đó, đánh lùi được kẻ địch tới xâm phạm. Điều khiến người ta lấy làm tiếc là các đảo bãi trên Biển Đông dưòng như đã bị các nước láng giềng xung quanh chia nhau chiếm hết rồi. Cho đến nay hải quân của chúng ta vẫn chưa dùng tới sức đã có của mình để giải phòng và bảo vệ các đảo, bãi thiêng liêng đó.
Thứ tư, sức ép bên ngoài thúc giục rút quân, tổn thất trầm trọng.
Khi quân đội ta đã tiến gần Hà Nội, dưới sức ép của thế lực quốc tế đứng đầu là Liên Xô, chúng ta không chỉ tuyên bố đình chỉ tấn công, mà còn công khai tuyên bố lập tức rút quân. Nhà đương cục Việt Nam đang lúc kinh hồn hoảng sợ đã lập tức tuyên bố phản công toàn tuyến, quân đội Trung Quốc đang ở thế vừa công vừa thủ nên so với lúc tấn công đã bị thưong vong nặng nề.
Đó là một sai lầm chính trị và quân sự to lớn, trước khi rút quân đã tuyên bố rút sẽ khiến kẻ thù dễ dàng có thời gian và không gian chuẩn bị phản kích. Địch có chuẩn bị còn ta thì không, địch thong dong mà chúng ta vội vã, không bị thương vong lớn mới là chuyện lạ.
Thứ năm, chia cắt Việt Nam để mất thời cơ tốt.
Đánh Việt Nam chúng ta chỉ muốn dạy cho nhà đương cục Việt Nam một chút, nên quân gần đến Hà Nội đã vội vàng rút quân. Cho dù chúng ta đã đánh vào vùng đất hiểm của Việt Nam, đã là xâm lược rồi sao còn cố sống cố chết giữ lấy cái mặt nạ chính nghĩa, tự cho mình là những đấu sĩ chính nghĩa. Quân đội đã tới gần Hà Nội, một nửa Việt Nam đã ở trong tay chúng ta, giả sử chúng ta không muốn tiếp tục tiến nữa để hoàn toàn tiêu diệt nhà đương cục Việt Nam, thì cũng nên gây dựng một chính quyền Việt Nam thân Trung Quốc. Sau khi dựng nên một chính quyền Việt Nam thân Trung Quốc rồi sẽ vũ trang, viện trợ và ủng hộ nó giải phóng toàn Việt Nam, hoặc nhân đó chia ra Nam Bắc để trị, chia cắt Việt Nam thành hai nuớc.
Một khi điều đó xảy ra, một chính quyền Việt Nam thân Trung Quốc, hoặc một chính quyền Bắc Việt Nam thân Trung Quốc sẽ trở thành láng giềng hữu hảo của Trung Quốc, không chỉ một lần đến tay, có thể giải quyết xong vấn đề lãnh thổ và chủ quyền của Việt Nam mà còn có thể từ một cú đánh, đập tan hành vi bá quyền của Việt Nam tại Đông Nam Á. Đáng tiếc là chúng ta đã không có tính toán đó, không có chiến lược đó, nói làm gì đến chuyện có sự chuẩn bị trước.
Đánh trả tự vệ đã hơn ba mươi năm rồi, cục diện quốc tế đã mấy lần bãi biển nương dâu, bộ mặt Trung Quốc cũng mấy lần đổi mới, Trung Quốc không còn là Trung Quốc ngày xưa nữa.
Thế nhưng cần tổng kết quá khứ, để nghênh đón tưong lai. Từ trong sai lầm lịch sử chúng ta phải tìm ra trí tuệ mới…, xây dựng quốc phòng hùng mạnh, xây dựng một nước Trung Hoa quật khởi và hưng thịnh
DDD
Nguồn: China.com ngày 20/2/2011 (Võng thưọng đàm binh: đối Việt phản kích chi cảm: vi hà bất chi giải Việt Nam, tán thoái tỷ tấn công thương vong đa)
Người giới thiệu gửi trực tiếp cho BVN

Thư của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên

Thư của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ gửi Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 9

BVN nhận được lá thư ngỏ sau đây của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, đề nghị đăng lên trang mạng chúng tôi, nhằm thông qua phương tiện truyền thông internet đề đạt một số ý kiến khẩn cấp của ông đến các vị lãnh đạo cũng như toàn thể Quốc hội khóa XII, nhân kỳ họp thứ 9 sắp diễn ra, đồng thời cũng chuyển tải đến bạn đọc trong ngoài nước để rộng đường dư luận. Xin trân trọng công bố toàn văn lá thư của nhà cách mạng lão thành.
Bauxite Việt Nam
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
--------------------------------
Hà Nội, ngày 20 tháng 02 năm 2011
Kính gửi: - Đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư ban chấp hành TƯ Đảng-
Chủ tịch quốc hội;
- Các đồng chí Phó chủ tịch Quốc hội;
- Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Toàn thể đại biểu Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 9.
Tôi xin trân trọng đề nghị lãnh đạo Quốc hội và toàn thể đại biểu Quốc hội quan tâm đến một vấn đề cực kỳ bức xúc của nhân dân ta hiện nay, đó là vấn đề: “Cần sửa đổi bổ sung một số điều của luật đất đai theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Tôi xin được trình bày như sau:
A. Nước ta rất hẹp, người đông, môi trường, thời tiết, khí hậu, thiên tai, dịch bệnh diễn ra vô cùng phức tạp. Cùng chịu những tác động chung của thế giới nhưng Việt Nam có những nguy cơ riêng biệt, nguy hiểm hơn, đó là dự báo của một số chuyên gia cho rằng nước biển sẽ tràn ngập một phần đồng bằng sông Cửu Long. Cũng tại khu vực này còn có hiểm họa nước ngọt và phù sa sông Mê-kông sẽ cạn kiệt, một trong những nguyên nhân là do các nước trong khu vực thi nhau làm đập thủy điện.
Những hiểm họa này, cộng với việc sử dụng đất đai phung phí, thiếu quy hoạch, làm diện tích đất trồng trọt suy giảm rất lớn qua từng năm, sớm muộn sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến an ninh lương thực của ta – nước đang xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Chúng ta đều biết: An ninh lương thực gắn liền với an ninh chính trị. Hiện nay nhiều quốc gia đang lao đao chính là do phải đối mặt với nguy cơ mất an ninh lương thực và chính trị. Thực chất, nước ta phải nói đúng là vừa xuất vừa nhập lương thực và các sản phẩm nông nghiệp, đó là nhập ngô, đậu tương, chưa kể bột mì. Sản lượng xuất hàng năm đạt khoảng khoảng trên 3,2 tỷ USD. Một câu hỏi đặt ra là không hiểu tại sao, ngành nông nghiệp không tăng mạnh hơn nữa diện tích trồng ngô, đậu tương ở miền núi, Tây Bắc và một số khu vực khác. Có thể bán gạo đồng bằng, mua ngô từ miền núi, giảm bớt nhập khẩu ngô, đậu tương, chủ động cân đối giữa các vùng miền trong nước, giảm bớt nhập siêu.
B. Từ ngày nước ta mở cửa, đổi mới, phát triển đất nước toàn diện, nhà nước và nhân dân ta đã quy hoạch, dành ra một phần đất đai để thực hiện các nhu cầu phát triển mới, đó là điều cần thiết, không cần bàn cãi. Nhưng vấn đề cần bàn là có nơi lợi dụng việc này để sử dụng đất đai phung phí sai mục đích, sai đối tượng, sai địa điểm, sai quy mô. Đặc biệt, nhiều nơi thiếu cân nhắc khi sử dụng đất ruộng lúa. Điển hình có các dạng sai phạm sau đây:
1. Cho nước ngoài thuê đất đai để đầu tư, sản xuất, dịch vụ, có tỉnh có trách nhiệm với đất đai nên quy hoạch đúng vị trí, đúng quy mô, thời hạn; nhưng cũng có những địa phương thiếu cân nhắc thận trọng, dồn làng bản, khu phố lấy ruộng nước cho thuê quá rộng, quá dài, vượt cả quy mô, yêu cầu của dự án, cơ sở sản xuất, dịch vụ dẫn đến có chủ đầu tư đã đầu cơ bán lại đất đai, thu chênh lệch. Ai chiếm được nhiều, bán chênh lệch được nhiều, lại tái đầu tư chiếm thêm các diện tích đất đai khác, cứ như vậy nhanh chóng làm giàu và trở thành các đại gia bất động sản, được tiếng là hoành tráng nhất.
2. Một điều đáng buồn là ở một số thành phố lớn, có những vị trí “vàng”, phong thủy đẹp lại dành cho tư bản nước ngoài thuê dài hạn với giá rẻ để họ xây cất biệt thự, chung cư, bán với giá cắt cổ cho cán bộ, nhân dân ta. Chẳng những thế, họ còn khôn khéo huy động vốn của chính ta bằng mọi cách, như đưa ra quy định bắt người mua phải trả trước, cá biệt còn có cả cách vay tiền từ ngân hàng chúng ta. Đáng ra, những diện tích đẹp như vậy phải huy động các doanh nghiệp trong nước có năng lực đứng ra làm, chắc chắn họ sẽ thiết kế đẹp phù hợp với điều kiện của nước ta. Không nên lấy đất đai – là thành quả của nhân dân – làm giàu cho tư bản nước ngoài (chưa kể các doanh nghiệp nước ngoài luôn tìm cách chuyển giá, khai lỗ giả, chuyển lãi thực về nước, trốn đóng thuế tại Việt Nam) trong lúc người nghèo và cán bộ của ta chưa có chỗ ở. Hiện tượng này gây bức xúc lớn trong dư luận, rất cần chấm dứt, càng sớm càng tốt, sẽ được lòng dân.
3. Có thành phố, có tỉnh cho nước ngoài thuê đất phát triển quá nóng, cho phép xây 7- 8 sân golf, mỗi sân chiếm hơn 100ha đất, thậm chí có nơi chiếm cả đất trồng lương thực.
4. Có nơi cho nước ngoài thuê đất ở vị trí phong cảnh đẹp để mở sòng bạc. Nếu Nhà nước cho mở sòng bạc hiện đại, to lớn, làm sao cấm được nhân dân đánh bạc dù trước mắt có lợi nhuận. Đất nước Việt Nam ta dứt khoát không học theo cách này.
5. Cho nước ngoài thuê đất rừng để trồng cây nguyên liệu với giá rẻ mạt, có nơi Chính phủ đã hạn chế được, nhưng đáng tiếc là có nơi vẫn đang phát triển một cách khó hiểu, đây là sự thách thức lòng dân. Tại sao không đầu tư để nhân dân ta sản xuất?
Tất cả các loại hình cho nước ngoài thuê đất nói trên đều theo cơ chế “nhượng địa” từ 50-70 đến 90 năm, người dân Việt Nam bình thường, không ai được phép vào các khu vực đó!
6. Ở trong nước, mấy năm nay phát triển các khu đô thị quá nóng, ngày càng sa vào đấu thầu, đầu cơ, gây hiện tượng bong bóng đất đai. Một số đại gia và nhiều người làm giàu nhanh chóng bằng cách tước đoạt đất đai của nhân dân với giá rẻ mạt, vay vốn ngân hàng cũng từ tiền của nhân dân để làm giàu cho một số người. Không hiểu đây là cơ chế gì? Việc phát triển các khu đô thị là cần thiết, trước đây chúng ta cũng đã từng xây dựng các khu dân cư 5 tầng, có quy hoạch đồng bộ. Lúc bấy giờ, vật tư thiết bị còn đơn giản nhưng vẫn hình thành căn hộ phù hợp với nhu cầu của nhân dân. Bước sang đổi mới, chúng ta đã có hình mẫu quy hoạch khu đô thị Linh Đàm do Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị (HUD) đầu tư xây dựng, bán theo giá hạch toán sòng phẳng, kết hợp giữa quản lý và sử dụng một cách hợp lý. Phải chăng việc đó đã không duy trì được? Việc phát triển theo cơ chế đấu thầu, đầu cơ gây hiện tượng bong bóng đất đai, nhà cửa khiến cho cán bộ nhân dân nghèo không đủ khả năng mua được nhà. Trong lúc đó, hàng loạt các khu đô thị chiếm đất ruộng, từ Từ Sơn - Bắc Ninh đến Hà Nội và nhiều nơi khác, khu đô thị nào cũng có hàng loạt biệt thự, đất đai hàng chục năm nay vẫn bỏ hoang, rêu phủ cỏ mọc, không biết là của ai, do ai quản lý? Có nhiều nơi bị găm hàng chục ngàn hecta, bỏ hoang để đầu cơ. Việc hao hụt đất đai sai lệch quá lớn.
Có người biện minh: Không sao! Năng suất, sản lượng tăng sẽ bù vào! Năng suất, sản lượng tăng là biện pháp sáng tạo, tích cực nhưng việc đó không thay được tính chiến lược, giá trị của đất đai. Tình trạng này còn tạo nên kẽ hở cho một số người dùng lợi nhuận từ chênh lệch giá trị trên chính đất đai của nhân dân, tích lũy đủ vốn lại khuếch trương lấn chiếm, mở rộng đất đai có giá trị ở nông thôn và các vị trí đắc địa ở các thành phố lớn. Cứ như vậy sẽ dẫn đến hậu quả gì? Cần cho tổng kiểm tra một cách minh bạch!
Đất đai là tài sản vô giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất của nông – công – lâm, là an ninh lương thực, an ninh chính trị. Tình trạng lộn xộn vừa qua đã tạo nên bất bình ngày càng tăng trong nhân dân, các vụ khiếu kiện đông người ngày càng tăng, là nguy cơ “ngấm ngầm” không thể coi thường. Sở dĩ có tình trạng trên là do trong Luật đất đai có sơ hở; Chính phủ phân cấp, phân công quản lý còn có thiếu sót; công tác thanh tra, giám sát còn mang tính hình thức, hiệu lực kém. Không ai dám lên tiếng thẳng thắn, nghiêm túc.
Quốc hội là cơ quan đại diện cho quyền lực cao nhất của nhân dân. Tôi trân trọng đề nghị Quốc hội hãy vì dân, do dân mà xem xét lại Luật đất đai để bổ sung, sửa đổi phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, của đất nước. Trong đề nghị của tôi, nếu có chỗ nào chưa phù hợp, mong Quốc hội lượng thứ.
Trân trọng cảm ơn.
clip_image002
Đồng Sĩ Nguyên
(Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; nguyên đại biểu Quốc hội các khóa I, IV, V, VI; nguyên Phó thủ tướng Chính phủ).
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

HỘI THỀ, MỘT TÁC PHẨM THIẾU TÍNH CHÂN THỰC LỊCH SỬ

Hà Văn Thùy
Tiểu thuyết lịch sử là dòng lớn trong văn chương nhân loại. Trải hàng nghìn năm thực tiễn của dòng văn chương này, người ta rút ra tiêu chuẩn vàng để định giá một tiểu thuyết lịch sử, đó là tính chân thực lịch sử. Không phải sách sử nhưng tiểu thuyết lịch sử thể hiện tinh thần, hồn vía của sự kiện cùng nhân vật lịch sử. Chính vì vậy, có những cuốn tiểu thuyết đạt tới sự chân thực lịch sử hơn bất cứ sách sử nào.
Đem chuẩn mực kinh điển này soi vào Hội thề, ta thấy rất rõ tác phẩm này thiếu tính chân thực lịch sử ở ba phương diện.
Thứ nhất: phản ánh không chân thực tinh thần của một thời đại lịch sử.
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và triều Hậu Lê là một trong những thời đại vĩ đại nhất của lịch sử Việt Nam. Sau muời năm bị dồn tới đáy của cuộc xâm lăng tàn độc nhất trong lịch sử, dưới ngọn cờ của những anh hùng áo vải, toàn dân Việt đã vùng lên trong cuộc giải phóng với chiến công vĩ đại và mở đầu một văn nghiệp vĩ đại. Hội thề Thăng Long cùng với Bình Ngô đại cáo là biểu trưng sáng ngời của chủ nghĩa nhân văn Việt Nam. Đấy phải là hồn là vía của bất cứ tiểu thuyết nào viết về thời kỳ này.
Không phản ánh được tinh thần đó, rõ ràng Hội thề đã không đạt tới sự chân thực lịch sử.
Thứ hai: phản ánh không chân thực nhân vật lịch sử.
Để tránh sơ lược, công thức, tác giả có thể mô tả Thôi Tụ, Hoàng Phúc như trong sách. Nhưng trước hết, ông phải mô tả những nhân vật này là biểu trưng của sự cực tàn, cực ác của cuộc xâm lăng do Minh Thành tổ phát động. Không một dòng nói về sự tàn ác của những nhân vật này, trong khi nắn nót tô điểm vẻ hào hoa phong nhã của chúng, là sự xuyên tạc lịch sử.
Cũng có thể viết về Lê Lợi, Lưu Nhân Chú, Lê Ngân, Lê Sát… như trong sách nhưng trước hết phải mô tả những vị này là anh hùng cái thế, những người từ bần cùng vùng lên đấu tranh giải phóng mình và giải phóng đất nuớc. Qua mười năm gian khó, họ bộc lộ tài năng kiệt xuất cùng khí phách anh hùng mà nếu những yếu tố này không có thì cũng không có công cuộc giải phóng. Không nêu được phẩm chất cao thượng của họ mà chỉ mô tả họ là những con người hẹp hòi, tham lam, thô tục là xuyên tạc lịch sử, là vi phạm nguyên lý mỹ học khi viết tiểu thuyết lịch sử.
Thứ ba: không phản ánh trung thực tâm thức của thời đại lịch sử.
Có thể như cách hiểu của tác giả, cái chết của bà phi Ngọc Trần là hậu quả của âm mưu tranh quyền đoạt vị. Nhưng cái mưu toan này được đan xen, cài đặt tinh vi trong tâm thức Việt thế kỷ XV có đời sống tâm linh mạnh. Tục hiến sinh vẫn còn. Vua nhà Trần hơn một lần phải “gả” vợ cho Hà Bá. Chính Lê Lợi tận dụng tâm thức này đã cho người dùng mỡ viết “Nguyễn Trãi vi quân, Lê Lợi vi thần” lên lá cây nhằm quy tụ nhân tâm. Và đến lượt, có thể có người lợi dụng nó thúc ép Lê Lợi hy sinh người vợ yêu của mình. Nhưng trên đại cuộc, sự việc được bọc trong hào quang hy sinh vì nghĩa lớn. Vì vậy, cái ngôi vị chỉ còn là hệ quả thứ yếu! Do không thấy được tâm thức này mà chỉ nhất nhất cho là mưu toan tranh ngôi giành vị, tác giả hạ thấp ý nghĩa mỹ học của sự hy sinh của bà Ngọc Trần và của chính Lê Lợi.
Cái tâm thức kình chống, coi khinh trí thức của nghĩa quân Lam Sơn trong truyện cũng không thực. Ở triều Trần và tiếp đó, Hậu Lê, Nho giáo Việt Nam cực thịnh. Chỉ ít năm sau Hội thề, vua Thái tông đã tổ chức khoa thi và lập bia Tiến sĩ rồi vua Thánh tông xây dựng văn nghiệp huy hoàng chưa từng có. Nền tảng của nho giáo là kẻ sĩ. Vì vậy, thái độ kỳ thị, khinh khi trí thức như mô tả trong Hội thề hoàn toàn là bịa đặt, không chỉ không có trong khởi nghĩa Lam Sơn mà cũng không hề có trong lịch sử Việt. Nhà Mạc, họ Nguyễn, họ Trịnh cầu Trạng Trình, Quang Trung cầu La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp nói lên vai trò kẻ sĩ trong lịch sử Việt.
Áp đặt tâm thức hiện đại cho tiểu thuyết lịch sử là vi phạm nguyên lý mỹ học sơ đẳng của sáng tạo văn chương.
Chính do đạt tới sự chân thực lịch sử, Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh trở thành cuốn tiểu thuyết lịch sử sáng giá nhất của văn chương Việt Nam đương đại.
Điều không thể hiểu là vì sao Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam trao giải cao cho cuốn sách này?
H.V.T.
Sài Gòn, 28 tháng Hai,

Tại sao nhà nước CSVN lại sợ một ông bác sĩ hiền lành 69 tuổi?

Không phải bất cứ ngày nào những sự thật đăng trong mục quan điểm của báo Washington Post cũng được chứng minh chỉ trong vòng vài giờ sau khi tờ báo phát hành, nhưng tác giả Nguyễn Đan Quế đã có sự lưỡng lự vừa lòng đó vào hôm Thứ Bảy.
Trong số báo ra ngày Thứ Bảy trên tờ Washington Post, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, một nhân vật đấu tranh cho dân chủ khá nổi tiếng ở Việt Nam đã viết, “Trong khi toàn thế giới đang chú tâm vào các biến chuyển ở Trung Đông, thì công cuộc đấu tranh dân chủ vẫn tiếp tục bám rễ ở những nơi khác..”
Chắc chắn là đúng như thế vì chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ là công an mật vụ có mặt ở nhà ông. Họ tịch thu máy tính và điện thoại của ông rồi lôi ông đến trụ sở công an quận.
“Họ đang lo sợ ngọn gió dân chủ ở Bắc Phi và Trung Đông,” người anh của Bác sĩ Quế, ông Nguyễn Quốc Quân, hiện đang sống ở Bắc Virginia cho chúng tôi biết.
Sự kiện nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội bắt giữ Bác sĩ Quế – thêm một lần nữa – quả thực là một dấu hiệu cho thấy họ đang ở thế bị động. Bác sĩ Quế, 69 tuổi, đã trải qua 20 năm tù đày, với ba án tù khác nhau kể từ năm 1978. Trước sau như một, ông luôn luôn cổ xúy việc đấu tranh bất bạo động cho nhân quyền. Trong một lá thư ngỏ được công bố mới đây, ông kêu gọi mọi người hãy xuống đường đòi hỏi “tự do sinh họat chính trị đa nguyên đa đảng để người dân chọn người tài đức lãnh đạo quốc gia.”

Hoa Kỳ luôn thiết tha muốn cải thiện quan hệ với Việt Nam, mặc dầu tình trạng vi phạm nhân quyền của nhà nước Việt Nam ngày càng xấu đi. Nhưng như Bác sĩ Quế đã vạch ra, “Và đối với nhà nước cộng sản ở đây, thì sự thật là chế độ Hà Nội cần Hoa Thịnh Đốn nhiều hơn là Hoa Thịnh Đốn cần Hà Nội. Giới lãnh đạo Việt Nam rồi đây sẽ hối tiếc về việc đã để cho một viên chức người Mỹ bị đối xử thậm tệ. Nhưng hiện nay Việt Nam đang phải đề phòng trước một Trung Quốc đang tái quân sự hóa và vấn đề tranh chấp chủ quyền vẫn đang xảy ra trên Biển Đông, đó là chưa đề cập đến nhiều khó khăn trong nước bao gồm một nền kinh tế ì ạch và một hệ thống giáo dục lỗi thời.”
Vào hôm Chủ Nhật vừa qua, dưới áp lực của các tổ chức nhân quyền và người Việt hải ngoại, công an Việt Nam đã phải trả tự do cho Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, như người anh ruột của ông đã cho chúng tôi biết, nhưng họ đòi hỏi ông phải đến trình diện tại trụ sở công an quận vào hôm Thứ Hai, là nơi mà họ muốn ông giải thích từng trang một, trong tổng số 60.000 tài liệu mà họ tìm thấy trong máy tính của ông. Bác sĩ Quế đã cự tuyệt điều này, khẳng định rằng ông luôn luôn thẳng thắn và công khai khi đưa ra quan điểm của mình.
Không hiểu là ông có đồng ý tái diễn lại cái trò khỉ (làm việc với công an) này vào hôm Thứ Ba hoặc để bị bắt trở lại hay không?
Một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho chúng tôi biết vào tối hôm qua rằng, sự sách nhiễu này “Không thể chấp nhận được. Chúng tôi đang và sẽ tiếp tục bày tỏ những quan tâm sâu xa của chúng tôi đến nhà nước Việt Nam.”
Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, dường như đang học một bài học sai lầm từ Trung Đông, nên hiểu rằng hy vọng tốt nhất cho đất nước họ là phải (để cho người dân) có thêm tự do và cải tổ (chính trị). Hoa Kỳ nên chú ý đến những lời (nhắn nhủ) của Bác sĩ Quế đã được đăng tải trước khi ông bị bắt: “Và nếu Hoa Thịnh Đốn đang tìm kiếm ở Việt Nam một đối tác lâu dài cho hòa bình và ổn định khu vực, thì người Mỹ sẽ thành công hơn nếu họ công khai nhìn nhận rằng chỉ có một nước Việt Nam tự do dân chủ mới có thể giúp được họ..”

@TNTDDC

Những Bí Ẩn Về Nguyễn Tấn Dũng


Sau ngày 30/04/1975 tôi được phân công nhiệm vụ kiểm soát việc tiêu hủy những thứ mà lúc ấy được người ta gọi là “văn hoá phẩm đồi trụy”. Sài Gòn những ngày ấy còn hỗn loạn, bề bộn, lòng người thì hoang mang, bất ổn. Song trong mắt bọn chúng tôi - những kẻ chiến thắng vừa từ rừng núi tiến vào - Sài Gòn đúng thật là “hòn ngọc viễn đông”. Nhà cửa thành phố hiện đại, hàng hoá nhiều vô kể, đặc biệt là sách báo, tranh ảnh, băng đĩa và những thứ sản phẩm bị coi là “tàn dư của chế độ cũ”.

Lúc ấy chúng tôi được ủy ban quân quản bố trí ở tại một ngôi biệt thự bỏ hoang ở khu Phú Thọ. Mặc dù là bỏ không nhưng thật ra đây là một biệt thự mới tinh chưa có người đến ở, chủ nhà có lẽ là một người giàu có, xây dựng mới xong thì bộ đội giải phóng vào nên có thể đã đi di tản hoặc không dám đến nhận nhà. Ngôi nhà có tới 13 phòng, mỗi phòng đều có trang bị đồ dùng đầy đủ và rất sang trọng. Một số những chiến sỹ trẻ lúc ấy thích đọc truyện tranh, truyện tuổi hoa niên thì mang về đầy phòng đủ các loại sách truyện từ Tây Du ký, Tam Quốc chí, đến cả Đát Kỷ - Trụ Vương, rồi chuyện kiếm hiệp không biết cơ man nào. Đối với những người sống ở miền Bắc nghèo khó và những người bao năm hoạt động ở trong rừng núi thiếu thốn thì đúng quả là bị choáng ngợp với các loại sách báo Sài Gòn ngày ấy.

Trong công việc hàng ngày tôi cũng thỉnh thoảng lần giở xem xét một số những cuốn sách cũ, một số tiểu thuyết lịch sử để hiểu thêm về chế độ Việt Nam Cộng Hoà, đặc biệt nhiều nhất là sách viết về nền đệ nhất cộng hoà như cuốn “Bên giòng lịch sử” của linh mục Cao Văn Luận, hay “Những ngày chưa quên” ... Lúc ấy việc đọc sách chẳng qua cũng chỉ để cho dễ buồn ngủ vào mỗi buổi tối chứ thật ra cũng chẳng có ý nghĩa gì. Chúng tôi đều cho rằng đó là những sách báo nhảm nhí, viết không đúng sự thật. Một cuốn sách hình như có tựa đề là “Những bóng ma trong hồng trường” viết về những câu chuyện thâm cung bí sử trong Quảng trường đỏ thời Xô Viết, nói về chuyện dâm ô, loạn luân của các lãnh đạo Xô Viết, lúc bấy giờ đọc những chuyện ấy chỉ xem như những chuyện tiếu lâm, những hư cấu không có thật, chứ tuyệt nhiên không thể tin được.

Thế rồi thời gian thấm thoát trôi qua với bao nhiêu biến chuyển, đổi thay của xã hội. Sài Gòn ngày ấy bây giờ chỉ còn trong ký ức của mỗi con người mà đã gắn bó, đã trải qua vào những giai đoạn lịch sử ấy. Tôi cũng đã luân chuyển qua nhiều vị trí, công việc khác nhau. Trong quá trình công tác tôi có may mắn được làm việc một khoảng thời gian ngắn với cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Khoảng thời gian này không dài nhưng lại là khoảng thời gian rất quý báu đối với tôi bởi vì đã học được nhiều điều và hiểu được nhiều điều từ cơ quan quyền lực cao nhất, từ người đứng đầu bộ máy lãnh đạo Việt nam. Trong đó có những câu chuyện mà qua hàng chục năm giữ kín, “đào sâu chôn chặt”, suy xét, kiểm nghiệm đến ngày hôm nay mới dám nói ra, bởi vì nó có liên quan đến những con người và hoàn cảnh lịch sử của đất nước ta trước đây, ngày hôm nay, và có thể nó sẽ ảnh hưởng đến tương lai dân tộc ngày mai.

Trước khi giữ chức vụ Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt nam cụ Nguyễn Văn Linh đã từng hoạt động và làm việc tại miền Nam gần 50 năm (cụ vào Sài Gòn hoạt động từ 1939), và đã từng đảm nhiệm hầu hết các chức vụ lãnh đạo cao nhất tại miền Nam trước và sau chiến tranh. Vì thế dù sinh trưởng trên quê hương Hưng Yên miền Bắc nhưng cụ đã thực sự như một người con của Nam bộ. Đến khi lên giữ chức Tổng bí thư cụ Nguyễn Văn Linh vẫn rất thường xuyên làm việc tại Sài Gòn, cụ sinh hoạt rất giản dị, khiêm tốn và kín đáo. Cụ ở trong khu vực riêng của Ban quản trị tài chính Trung ương, gọi là T78, khu vực này là một đoạn đường Trần Quốc Toản được đơn vị cảnh vệ ngăn lại hai đầu phố tiếp giáp với đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và đường Trần Quốc Thảo, thành một khu vực riêng biệt, có lối ra thông với đường Lý Chính Thắng (sau này mở thêm khách sạn Dạ Lý Hương). Có những hôm cụ vẫn xuống ăn cơm chung với cánh cán bộ chúng tôi ở nhà ăn tập thể cũng nằm trong khu vực này, cụ ăn uống đơn giản và không đồng ý có thêm bất cứ chế độ đặc biệt gì phục vụ.

Hồi ấy phương tiện đưa đón cụ chỉ là loại xe Vonga đen của Nga sản xuất, mỗi lần xe của cụ đi thì trước đó lại có mấy cậu cảnh vệ mặc thường phục ngồi sẵn trên mấy chiếc xe Honda 67 “xoáy nòng” bí mật chạy trước chạy sau để xem xét, bảo vệ, chứ không phải dùng xe Police “còi hụ” hay xe “bồ câu trắng” bảo vệ như các cán bộ lãnh đạo sau này. Thế mà có lần tôi còn nghe cụ nhắc anh lái xe “chạy chậm chậm một tí không mấy cậu bảo vệ phải đuổi theo lại đụng vào dân thì khổ”, cụ biết và quan tâm đến tất cả những chuyện nhỏ như thế.

Tôi còn nhớ, vào khoảng năm 1988 có lần phải xuống làm việc với đặc khu ủy Vũng tàu (lúc ấy Vũng tàu vẫn còn là đặc khu Vũng tàu-Côn đảo), làm việc xong vào cuối buổi chiều cụ lại muốn đi tắm biển một chút cho khoan khoái. Thế là đám cán bộ địa phương và lực lượng bảo vệ lại phải cuống quýt lo bố trí địa điểm kín đáo, an toàn. Đến khi cụ xuống tắm lại phải bố trí hàng chục cán bộ bảo vệ cùng tắm quanh khu vực, thậm chí có người không kịp chuẩn bị đồ tắm đã phải mặc cả đồ lót đi tắm và mặc luôn đồ ướt đi về. Sau khi biết chuyện ấy cụ mới tự trách : biết các cậu phải lo lắng kỹ lưỡng như vậy thì tôi tắm luôn trong phòng cho xong.

Những ai đã sống trong thời điểm đó thì chắc đều không thể quên được chuyên mục “Những việc cần làm ngay” của cụ viết ký với bút danh N.V.L. Ngay từ khi những sự việc được báo chí đăng tải cụ đã trực tiếp đôn đốc hoặc phân công cho những cán bộ trực tiếp phụ trách theo dõi và phải hàng ngày báo cáo kết quả công việc cho cụ biết. Đúng theo tinh thần “Nói Và Làm”.

Tiếc rằng lãnh đạo đất nước ta từ đó đến nay đã không xuất hiện thêm một ông “Nói Và Làm” nào nữa . Tôi vẫn thường nghĩ rằng nếu các lãnh đạo sau này và các lãnh đạo chính quyền cấp dưới có được quan điểm làm việc, đạo đức và cách sống như cụ thì chắc rằng người dân Việt nam sẽ có được cuộc sống no đủ và công bằng hơn rất nhiều.

Vào khoảng thời gian trước khi về nghỉ, có lẽ nhận thấy sức mình không thể làm thay đổi được cả một bộ máy, một cơ chế cồng kềnh và bảo thủ, cũng lại do hiểu được tính bè phái và sự lộng quyền của những kẻ lãnh đạo cơ hội trong Đảng, cụ càng trở nên trầm tư hơn. Nếu ai có điều kiện lui tới gặp cụ tại nhà riêng thời gian này sẽ nhận thấy sự thất vọng và u uất thể hiện rõ trên khuôn mặt và thái độ của cụ. Ngoài quan hệ công việc tôi lại có quan hệ rất thân tình với cô Bình (Nguyễn Thị Bình) con gái cụ, tôi quen Bình từ lúc còn đang học ở Liên Xô, Bình cũng rất quý tôi, coi tôi như người anh . Có lẽ cũng vì thế mà mỗi lần tôi đến nhà cụ chơi hay có công việc gì đều thấy tự nhiên như người nhà.

Sau này khi cụ Nguyễn Văn Linh thôi giữ chức Tổng bí thư Đảng, tôi không còn được làm việc với cụ nữa, nhưng thỉnh thoảng có dịp ra vào công tác tôi vẫn ghé thăm cụ, hoặc là ghé thăm Bình, vài tháng một lần. Mỗi lần gặp cụ lại hỏi thăm tình hình công việc, tình hình tổ chức nội bộ, tình hình các địa phương. Cụ tỏ thái độ than phiền với những người kế nhiệm và đặc biệt kêu ca về khâu tổ chức cán bộ và quy hoạch lãnh đạo cao cấp.

Vài năm sau đó nữa, lúc này sức khỏe của cụ tỏ ra đã yếu hơn trước rất nhiều, cụ ít đi lại hơn. Một buổi tối tôi đến thăm cụ, thấy cụ có vẻ không được khỏe, tôi không dám nói chuyện nhiều, sau khi hỏi thăm cụ vài câu tôi định đứng dậy ra về, nhưng cụ bỗng khoát tay ra hiệu bảo tôi hãy ở lại chơi và sau đó lại kéo tôi vào buồng trong. Tôi hiểu là cụ muốn trao đổi một chuyện gì đó, chắc là quan trọng hơn.

Vừa ngồi xuống là cụ hỏi ngay : mấy hôm nay cậu có theo dõi vụ Tổng công ty Tracodi mà báo chí vừa đưa tin không ?
Tôi đáp : Dạ, có biết chứ ạ ! Nhưng cũng chưa rõ lắm đúng sai thế nào ?
Cụ lại quay sang hỏi : Thế cậu có biết cái tay Tổng Giám đốc Phan Thanh Nam là người như thế nào không ?

Tôi chợt hiểu ra có điều gì đó quanh vấn đề này, thời gian trước đó đã có dư luận xôn xao quanh chuyện Phan Thanh Nam là con rơi của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, cánh cán bộ văn phòng chúng tôi đều có nghe nhưng vẫn không biết thực hư thế nào, nên cũng chỉ coi như một tin đồn nhảm.

Bỗng cụ ghé sát gần tôi và nói : Những chuyện này mà tao không nói cho các cậu thì sau này sẽ chẳng có ai được biết đến nữa.

Thế là bỗng nhiên tôi trở thành một nhân chứng để ghi nhận những sự kiện ghê ghớm thế này, những sự kiện đã gắn liền với lịch sử Cách mạng Việt nam nhưng không bao giờ được chép trong sử sách và nó là một bộ mặt thật hoàn toàn khác với những gì mà nhân dân được biết về lãnh đạo Việt nam, nhất là về lãnh tụ tối cao nhất : Hồ Chí Minh, con người mà bản thân tôi cũng từng ngưỡng mộ và tôn kính từ khi còn rất bé.

Theo cụ Nguyễn Văn Linh kể thì Bộ chính trị lúc bấy giờ, (tất nhiên đứng đầu là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ chỉ đạo, điều này thì sau này không ai là không biết), biết rằng cụ Hồ gặp những thiếu thốn và khó khăn về tình cảm cá nhân, như chuyện muốn nối lại mối tình duyên với người vợ cũ ở Trung quốc nhưng đã bị phản đối (đây là một câu chuyện có thật đã được phía Trung quốc công bố từ những thập niên 80, 90 của thế kỷ trước. Về việc này tôi lại nhớ về sự kiện bài báo “Bác Hồ có vợ ?” được đăng trên báo Tuổi Trẻ của tác giả Kiến Phước - Trưởng đại diện báo Nhân dân tại TP. Hồ Chí Minh, chính vì bài báo này mà sau đó Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ là Nguyễn Kim Hạnh, cũng chính là vợ ông Kiến Phước, bị mất chức. Sau này có lần đến chơi với hai vợ chồng Kiến Phước – Kim Hạnh ở trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, cũng gần khu T78, nhắc lại chuyện này họ lại buồn và phản ứng ghê lắm). Do vậy sau đó Bộ chính trị có bí mật sắp xếp nhiều người phụ nữ khác để chăm sóc và phục vụ cụ Hồ về mặt sinh hoạt tính dục. Đặc biệt, từ thuở còn thanh niên cụ Hồ đã có một mối tình đầu rất đẹp với một người con gái miền Nam (sự thật này đã được nhà văn Sơn Tùng sưu tầm và công bố trong bài viết “đi tìm Út Huệ”), do vậy cụ Hồ có một ấn tượng và thiện cảm đặc biệt với những người phụ nữ Nam bộ. Biết thế nên Bộ chính trị đã chỉ đạo cho Trung ương cục miền Nam, mà lúc này Nguyễn Văn Linh là Bí thư Trung ương cục, phải kín đáo tìm kiếm trong số những cán bộ, du kích miền Nam một vài cô gái còn trẻ, đẹp để đưa ra miền Bắc phục vụ cụ Hồ và các vị trong Bộ chính trị. Thời điểm đó thì Võ Văn Kiệt đang là ủy viên Trung ương cục được cụ Nguyễn Văn Linh tin tưởng tuyệt đối và giao cho trực tiếp phụ trách nhiệm vụ đặc biệt này. Trong số vài cô gái tuyển lựa được lúc đó đang chuẩn bị bố trí bí mật đưa ra miền Bắc, có một cô còn trẻ và rất sắc sảo họ Phan. Giữa lúc đó thì tình hình chiến sự đang diễn ra khá ác liệt nên không thể đưa các cô đi ngay được và rồi không hiểu thế nào mà ông Kiệt lại quan hệ dan díu với chính cô gái họ Phan kia. Đến lúc sự việc vỡ lở thì cô gái đã có thai được mấy tháng rồi. Thế là cô ta phải ở lại và cái bào thai đó chính là vị tổng Giám đốc Tracodi : Phan Thanh Nam sau này.

Nghe đến đây tôi cảm thấy vô cùng sửng sốt và bỗng thấy rùng mình hết cả người. Rõ ràng người đang kể ra những sự việc đó là một người đã từng giữ trọng trách cao nhất trong Đảng cộng sản Việt nam, một người trong số vài ba người được biết rõ nhất, chính xác nhất về câu chuyện này, một người trong số vài ba người hiếm hoi biết được những chuyện thâm cung bí sử nhất trong Trung ương Đảng cộng sản, một người mà cái tuổi đã vượt quá ngưỡng “cổ lai hy” rồi . Như vậy không thể là nói thiếu chính xác hoặc vô căn cứ được, càng không thể là nói xấu tổ chức Đảng và lãnh tụ được. Như vậy những chuyện tày trời kia là có thật ư ?

Tôi đang bần thần như người ngủ mê và còn chưa biết phải nói thế nào, cụ Linh lại nói tiếp : … cũng không phải chỉ riêng có Sáu Dân đâu (bí danh của Võ Văn Kiệt), mấy ông tướng nhà ta cũng đầy con rơi ra đấy, còn thằng Ba Dũng là con Nguyễn Chí Thanh, rồi thằng Trần Nam là con Trần Văn Trà hiện đang làm bên Học viện lục quân ấy.

Thế là cụ lại kể cho tôi biết thêm những sự thật khác.

Theo cụ Nguyễn Văn Linh thì trong thời gian tướng Nguyễn Chí Thanh làm Bí thư liên khu ủy khu IV khoảng từ năm 1948 đến 1950 đã có quan hệ với một cán bộ phong trào ở đây và sinh ra Nguyễn Tấn Dũng, và cụ còn cho biết là sau Nguyễn Tấn Dũng vẫn còn một người em trai nữa cũng là con của tướng Thanh.

Còn tướng Trần Văn Trà thì có quan hệ với một người phụ nữ quê ở miền Bắc (hình như là họ Hoàng, điều này tôi không còn nhớ rõ) rồi sinh ra Trần Nam, cũng là một sỹ quan quân đội đang công tác tại Học viện lục quân Đà lạt.

Về Trần Nam thì hồi đó tôi không hề được biết một thông tin liên quan nào, chưa hề nghe đến danh tính. Rất gần đây tình cờ đọc báo về vụ công ty Rusalka của siêu lừa Nguyễn Đức Chi rồi hỏi thăm cán bộ ở dưới mới được biết Trần Nam chính là giám đốc công ty Lâm Viên thuộc Học viện lục quân - Bộ quốc phòng, có liên quan đến vụ án này.

Sau buổi tối hôm ở nhà cụ Nguyễn Văn Linh ra về tôi bàng hoàng và băn khoăn nhiều lắm. Như vậy những thứ được gọi là tư cách, đạo đức, mẫu mực của các lãnh đạo cao cấp của Đảng ta thật ra chỉ là những thông tin tuyên truyền thôi ư ? Và những kẻ bày ra những trò này chắc cũng không ngoài mục đích nhằm thao túng cụ Hồ và thao túng cả Bộ chính trị ? Vậy thì đã có biết bao cô gái trẻ đã bị đánh mất tuổi thanh xuân và sự trinh trắng ở đó, và để đảm bảo tuyệt đối bí mật những thông tin này, dứt khoát phải có nhiều người đã bị thủ tiêu hoặc làm cho mất trí nhớ hoàn toàn. Như vậy những câu chuyện đồn thổi về những bóng ma trong quảng truờng Ba đình phải chăng cũng là có thật ? Thật bi thảm và khủng khiếp quá !

Bắt đầu từ câu chuyện đó nên sau này tôi đã cố tìm hiểu thêm những thông tin khác liên quan đến Ba Dũng.

Khoảng năm 2000, trong cuộc trò chuyện với một thiếu tướng Quân đội đã nghỉ hưu có quan hệ khá thân thiết với tôi, ông này có thời gian đã công tác tại liên khu IV và V, ông ta cũng lại khẳng định với tôi rằng Nguyễn Tấn Dũng chính là con của Nguyễn Chí Thanh. Hiện nay vị tướng này vẫn còn sống và là ủy viên của Hội cựu chiến binh Việt nam, để tránh gây phiền phức cho ông nên tôi không dám nêu danh tính cụ thể lên ở đây

Tôi đã tìm xem trong số những tài liệu lưu ở văn phòng có liên quan đến Nguyễn Tấn Dũng nhưng không thấy lộ ra chi tiết nào nói về chuyện này. Thế nhưng nhìn vào lý lịch và quá trình công tác của Ba Dũng rõ ràng có những điều bí ẩn sau đó. Ông ta chỉ là một cán bộ tầm trung bình, không có chuyên môn nghiệp vụ (thật ra được đào tạo làm y tá quân đội), trình độ văn hoá thấp, chưa được đào tạo cơ bản chính quy, không có thành tích đặc biệt, không có năng khiếu gì xuất chúng, thế nhưng lại có quá trình thăng tiến nhanh vượt bậc ( ?).

Sau này, trong những lần làm việc với Nguyễn Tấn Dũng tôi lại càng thấy rõ những điều đó hơn và càng thất vọng rất nhiều. Quả là ông ta là một người năng lực rất kém. Về hình thức bề ngoài, từ trước đến nay ít có lãnh đạo Việt nam nào có được dáng dấp và khuôn mặt sáng láng như Ba Dũng, cái hình thức đó rất dễ làm cho những ai không biết tưởng rằng đó là một người rất thông minh, nhanh nhẹn. Thật ra tương phản với hình thức sáng láng đó là một não trạng rất tối tăm, dốt nát. Hồi mới về Trung ương có những lần nghe ông phát biểu mà mọi người đều không hiểu ông định diễn đạt điều gì, rất lủng củng, tối nghĩa, lại lúng túng, cụt lủn. Nhiều lần tham dự những cuộc họp do Ba Dũng chủ trì, tôi thấy ông ta không dám phát biểu gì, chỉ ngồi nghe các cơ quan cấp dưới phát biểu sau đó ông ta cũng chẳng dám có ý kiến kết luận gì cả. Phải trải qua năm, sáu năm “thực tập” ở cái ghế Phó thủ tướng thì ông ta mới tỏ ra là tự tin, biết chủ trì những cuộc họp lớn của cơ quan Đảng, Chính phủ, nhưng vẫn chỉ là cái kiểu nói lúng túng, nước đôi, nói hùa theo các ý kiến khác chứ không thấy tự tư duy được điều mới mẻ cả. Mặc dù có cả một cơ quan tham mưu giúp việc rất đồ sộ “mớm” cho từng văn bản, từng câu chữ nhưng mỗi lần phải “nói vo” anh ta đều phát biểu rất khó khăn, không có đầu đuôi gì cả. Suốt cả quá trình dài là người đứng đầu Chính phủ và phụ trách tất cả những mảng quan trọng nhất nhưng ông ta chưa làm được một việc gì đáng kể. Đặc biệt, Ba Dũng rất dốt ngoại ngữ, trong cuộc họp mà phát biểu những từ gì tiếng Anh thì toàn nói sai hoặc nói lung tung cho qua. Một con người năng lực yếu kém như vậy mà lại lên đến chức Phó thủ tướng, và nay là Thủ tướng Chính phủ thì quả là không hiểu nổi ? Quả là có một bí ẩn khủng khiếp !

Một dịp may khác ngẫu nhiên đến để tôi được kiểm chứng thêm lời nói của cụ Nguyễn Văn Linh. Đó là khoảng năm 2001, trong một lần tiếp xúc với lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh tại ủy ban thành phố có một vị khách đến làm việc theo lịch đã hẹn, và tôi được giới thiệu người khách đó là Tư Thắng (Nguyễn Tiến Thắng), em ruột Ba Dũng. Người này nhìn bề ngoài giống hệt Ba Dũng, từ chiều cao, dáng người đến nét mặt, mái tóc và kể cả giọng nói, thậm chí kể cả cử chỉ, dáng điệu (Ba Dũng hay có thói quen hất cằm và khuôn mặt ra phía trước). Tư Thắng giống Ba Dũng đến mức chỉ nghe giới thiệu là có thể tin ngay rồi, chỉ khác một chút là nước da đen hơn Ba Dũng một chút và khuôn mặt có vài vết rỗ. Riêng về cách ăn mặc thì ngược hẳn với ông anh, phóng khoáng tự do, thể hiện là người không làm việc trong cơ quan chính quyền. Có lẽ đã nghe tên tôi từ trước, Tư Thắng chủ động tự giới thiệu trước và đưa danh thiếp có số điện thoại cho tôi (tôi vẫn còn giữ danh thiếp ấy và số điện thoại di động là 090845846, lúc ấy ĐTDĐ chỉ có 9 con số, hiện nay đều đã thêm số 3 nên sẽ là 0903845846), sau đó Tư Thắng còn mời tôi lúc nào rảnh rỗi thì đến chỗ anh ta chơi.

Vì muốn tìm hiểu kỹ sự thật, có một buổi chiều sau giờ làm việc tôi đã lững thững đi bộ đến chỗ Tư Thắng. Theo địa chỉ Tư Thắng cho tôi biết thì đó là một căn nhà mặt tiền đường 3/2, gần ngã tư Cao Thắng (phía bên Nhà hát Hoà Bình), đó là một ngôi nhà lớn, vị trí rất đẹp, nhưng sau này tìm hiểu ra tôi mới được biết Tư Thắng có rất nhiều đất đai và biệt thự ở khắp các tỉnh Nam bộ, ngôi nhà này cũng chỉ là chỗ đi lại mà thỉnh thoảng ở Sài Gòn Tư Thắng mới ghé qua. Chính vì Tư Thắng muốn nhờ tôi giới thiệu thêm với một số lãnh đạo để giúp cho các công việc làm ăn của anh ta, tôi mới được biết là có rất nhiều công ty nằm dưới tay anh ta, đa phần là công ty TNHH. Các công ty này đều chỉ dựa vào thế lực và các mối quan hệ của Ba Dũng để tham gia vào rất nhiều lãnh vực khác nhau như : tài chính, ngân hàng, bất động sản, thương mại, xây dựng, tham gia các dự án nhà nước ... Điều làm tôi quan tâm nhất là anh ta có quan hệ với rất nhiều người Đài Loan, đặc biệt trong mạng lưới các chân rết của Tư Thắng có một ngân hàng Đài loan hoạt động chui tại Việt nam là First China Bank (một đàn em tin cậy của ông ta được giao phụ trách việc này cũng tên là Dũng có số ĐTDĐ là 0913950661). Như vậy có thể hiểu được đây chính là những “sân sau” của Ba Dũng, và để tránh đụng chạm với các thế lực khác cạnh tranh, anh em ông Ba Dũng đã nhằm vào địa bàn hoạt động chủ yếu ở miền Trung và Nam bộ, sau đó việc rửa tiền và chuyển ngân lậu được thực hiện qua ngả Đài loan. Liệu có thế lực nào khác và bàn tay của cơ quan tình báo Đài loan nhúng vào những chuyện này không ? Chưa ai biết được chuyện đó !

Như vậy, đường đi và vị thế của ông tân thủ tướng Việt nam quả là có một quá trình đầy bí ẩn, đầy những bàn tay sắp đặt, chắc chắn đứng đằng sau ông ít nhất còn có hai người em là Nguyễn Tiến Thắng và Nguyễn Chí Vịnh (tổng cục trưởng Tổng cục tình báo quân đội, con trai chính thức được thừa nhận của tướng Nguyễn Chí Thanh) để lo thu xếp mọi việc từ tài chính đến an ninh chính trị.

Lại cũng dễ hiểu khi con đường quan lộ của Nguyễn Tấn Dũng rộng mở song hành với sự thao túng và lộng quyền của Tổng cục hai trong tay Nguyễn Chí Vịnh (sự lộng quyền này, trong mấy năm gần đây có rất nhiều cán bộ cao cấp và cán bộ lão thành đã phản ánh đến các cơ quan Đảng). Nó là hai mệnh đề luôn bổ sung và giải nghĩa cho nhau. Từ mệnh đề đó có thể giải đáp được rất nhiều những câu hỏi khác. Sự liên quan và ràng buộc này nếu nhìn trên góc độ thực tế chắc chắn đã và sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu đến tương lai của đất nước. Bởi vì sự bè phái và những âm mưu thâu tóm quyền lực là những nguyên nhân lớn nhất gây nên đổ vỡ tan rã trong Đảng, đây là điều mà Hồ Chí mInh đã cảnh báo từ rất sớm. Trong thực tế chế độ ta chỉ chấp nhận một Đảng duy nhất lãnh đạo, những chia rẽ và yếu kém trong Đảng dứt khoát có nguy hại đến sự phát triển của đất nước, đến đời sống nhân dân. Nhất là trong tình hình hiện nay hai căn bệnh lớn nhất tồn tại trong Đảng đang bị xã hội lên án rất gay gắt và là nguy cơ thật sự , đó là tham nhũng và tranh giành quyền lực.

Nếu những căn bệnh này còn tồn tại, không được giải quyết triệt để, sự tan rã chế độ sẽ là tất yếu. Rồi tập đoàn Dũng - Thắng - Vịnh sẽ đưa đất nước ta đến bờ vực thẳm nào ?

Những sự việc cụ Nguyễn Văn Linh đã kể lại cho tôi chắc chắn cũng phải còn ít nhất là một vài người khác được biết, thế nhưng cho đến nay vẫn chưa có ai dám công khai nêu lên. Trước thực trạng đầy bất ổn của tình hình chính trị đất nước cùng với tấm lòng cảm mến và kính trọng cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, tôi nhận thấy chính mình phải có trách nhiệm nói ra những điều này, tôi xin hoàn toàn đảm bảo về tính trung thực và chính xác của sự việc này. Tôi cũng mong rằng sau khi sự thật này được đưa ra ánh sáng thì sẽ có thêm nhiều bằng chứng khác của các vị lão thành Cách mạng, của những ai có may mắn được biết đến những sự việc trên sẽ bổ sung đầy đủ hơn để bạch hoá hoàn toàn những bí ẩn này.

Thứ nữa, tôi muốn thông báo đến giới trẻ, những người chủ tương lai của đất nước được biết rằng : có rất nhiều những sự thật mà các bạn không có cơ hội được biết đến, mà lẽ ra trong xã hội hiện đại truyền thông đa phương tiện ngày nay các bạn cần phải biết tất cả những sự thật, những điều trắng đen rõ ràng để tự xây dựng cho mình những tư duy sống, những quan điểm tự nhiên chứ không phải những ý thức hệ bị cưỡng bức, những tư tưởng bị chỉ đạo.

Cuối cùng, tôi muốn gửi thông tin này đến tất cả mọi người dân với mong muốn rằng nhân dân chúng ta đều càng ngày càng được cởi mở hơn trong tiếp nhận thông tin, tiếp nhận sự thật. Những sự thật lịch sử cần phải được tôn trọng và dần dần cần được giải mã trước công chúng. Những sự việc gây ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước cần phải được minh bạch và công khai. Từ đó mỗi người dân cần có thái độ và đóng góp trách nhiệm của mình một cách rõ ràng trước những điều hệ trọng của đất nước. Nhân dân cần phải thay đổi thói quen chấp nhận để đời sống chính trị bị lệ thuộc bởi một cá nhân nào, một đảng phái nào, hay một thể chế nào, một chính phủ nào, mỗi người phải có quyền và nghĩa vụ tự quyết định cho riêng mình trong một xã hội văn minh, dân chủ.

Hà Nội ngày 09/10/2006
Hoàng Dũng, Cán Bộ VPTƯ