12/2/11

Kim Chính Nhật, nhà lãnh đạo bí ẩn nhất thế giới

Cho đến bây giờ Kim Chính Nhật vẫn được coi là một trong những nhà lãnh đạo bí ẩn nhất thế giới. Mọi thắc mắc về Kim, dù rất cụ thể và đơn giản về cá nhân, đều không tìm ra lời giải đáp rõ ràng và đáng tin cậy. Người ta không biết ông sinh ra đời ở đâu, học vấn thật sự thế nào, có bao nhiêu bà vợ và tình nhân, mấy đứa con chính thức và không chính thức... Những sở thích bất bình thường của Kim Chính Nhật về xe hơi, điện ảnh cũng như căn bệnh sợ đi máy bay, chỉ có thể xuất ngoại tới Nga hay Trung Quốc bằng đường xe lửa, cũng là những cái được nhiều người bàn tán. Có thể hiểu tất cả mọi điều khó hiểu ở Kim Chính Nhật đều nằm trong một phần của kịch bản mà tất cả mọi nhà lãnh đạo độc tài nào khác, đặc biệt là ở chế độ Độc tài Đảng trị, cần phải tạo nên cho cá nhân mình trong mục tiêu bảo vệ cá nhân và quyền lực.

Do đó không nhà nghiên cứu hay bình luận gia nào dự đoán được Kim Chính Nhật thật sự suy nghĩ, tính toán và mong muốn gì cho đất nước nghèo đói thiếu lương thực của ông ta và nếu ông ta chết sớm mà chưa chuẩn bị đủ cho người kế vị thì tình thế Bắc Hàn sẽ ra sao.

Ngày Thứ Hai vừa qua đài truyền hình YTN dẫn nguồn tin nói là từ giới tình báo cho biết Kim Chính Nhật bị ung thư và không sống quá 5 năm.

Tuy nhiên cơ quan trung ương tình báo Nam Hàn tuyên bố không thể có đủ bằng chứng để xác nhận việc ấy. Tình trạng sức khỏe của Kim đã được nói đến từ mấy năm gần đây, có những lời đồn đại Kim mắc chứng tiểu đường và bệnh tim. Người ta biết rõ ràng nhất là năm ngoái Kim đã một lần bị kích xúc (stroke) sau đó có bình phục nhưng không biết tới mức nào.

Tin tức do truyền hình YTN đưa ra phù hợp với hình ảnh Kim Chính Nhật trên truyền hình nhà nước Bắc Hàn tuần trước. Trong một lần hiếm thấy từ lâu, Kim Chính Nhật như thường lệ mỗi năm xuất hiện trong buổi lễ kỷ niệm ông bố, Chủ Tịch Kim Nhật Thành, mất ngày 8 Tháng Bảy năm 1994. Với thân hình rất gầy yếu so với trước kia, tóc ít hơn, cặp môi hơi méo có lẽ do hậu quả của lần bị kích xúc và bộ mặt kém thần sắc, dư luận tin là Kim Chính Nhật, 67 tuổi, quả thật đang mắc một hay nhiều bệnh trầm trọng.

Tờ Washington Times cho biết theo lời một giới chức yêu cầu không tiết lộ danh tánh thì Kim Chính Nhật không sống quá một năm và có thể chết trước cuối năm nay. Tờ báo cũng nói Kim đã ngưng chữa trị theo Tây y vì không còn hiệu quả và bây giờ đang chỉ còn hy vọng vào dược thảo và đông y cổ truyền. Giáo Sư Toshimitsu Shigemura Ðại Học Waseda ở Tokyo nói với tờ Daily Telegraph rằng với nhiều căn bệnh trầm trọng và biến chứng phức tạp, chưa chắc Kim Chính Nhật qua khỏi mùa Hè này.

Alexander Vorontsov, trưởng phân bộ Bắc Hàn và Mông Cổ thuộc Viện Nghiên Cứu Ðông Phương tại Moscow, tuy nhiên nói với thông tấn xã Nga RIA Novosti rằng, “Nên thận trọng với những tin tức về Kim Chính Nhật. Riêng tôi thấy chưa thể đưa ra một kết luận chắc chắn nào hết.” Theo ông, “Mặc dầu rất ít ra trước công chúng nhưng năm nay ông ta đã có nhiều chuyến đến thăm viếng các nơi trong nước hơn là năm ngoái. Có thể là sức khỏe đã khá hơn hoặc là muốn chứng tỏ ông ta không quá suy yếu như người ta tưởng.” Ông cho là, “Trong quá khứ đã nhiều lần chúng ta nghe những tin tức và dư luận ấy. Tôi tin là báo chí truyền thông Nam Hàn và Nhật Bản quá nhạy cảm với chuyện này và luôn luôn muốn tìm kiếm những sự kiện thu hút sự chú ý của quần chúng. Vì vậy họ đã chôn Kim Chính Nhật nhiều lần rồi ông ta lại từ cõi chết trở về như thường.”

Hiện nay Bắc Hàn không trực tiếp phản bác hay giải thích những tin tức ấy như đã làm mấy lần trước. Tuy vậy một cách gián tiếp, hai ngày sau khi YTN nói Kim bị ung thư, Bình Nhưỡng cho phổ biến hình Kim Chính Nhật đi thăm một xưởng làm ngói mới khai trương “để chỉ đạo tại chỗ cho các công nhân,” theo lời thông tấn xã nhà nước Bắc Hàn KCNA. Trong hình, Kim Chính Nhật có vẻ tươi tốt khỏe mạnh hơn là trên truyền hình tuần trước. Tuy nhiên Bắc Hàn không nói rõ là sự kiện đi thăm nhà máy là vào thời gian nào. Hơn nữa dư luận hoài nghi cho rằng Bắc Hàn đã từng sửa chữa hình ảnh trong mục tiêu tuyên truyền và với kỹ thuật “Photoshop” ngày nay không khó khăn gì để có thể làm điều ấy. Một lần trước kia, tấm hình chụp Bắc Hàn đưa ra cho thấy Kim Chính Nhật đứng giữa hai sĩ quan quan sát một cuộc diễn tập của quân đội, báo chí Tây phương phân tích tấm hình đó nhận thấy chiếc bóng của hai sĩ quan không phù hợp với hướng bóng của Kim Chính Nhật và một chuyên gia hình ảnh cho biết độ phân giải ở hình Kim Chính Nhật khác với toàn bộ tấm hình.

Nhưng vấn đề quan tâm chính của chính quyền Nam Hàn và các giới chính trị quốc tế là Kim Chính Nhật đang chuẩn bị cho người kế vị mình ra sao. Nhiều tin tức dự đoán ông sẽ trao quyền cho người con trai út mới Kim Jong-un mới 26 tuổi. Bắc Hàn chưa bao giờ đề cập đến chuyện này nhưng mới đây có tin Kim Jong-un được trao nhiệm vụ chỉ huy cơ quan tình báo Bắc Hàn. Nhìn về dĩ vãng, trong một chế độ độc tài Cộng Sản như Bắc Hàn sự chuyển giao quyền lực theo kiểu cha truyền con nối từ Kim Nhật Thành qua Kim Chính Nhật không phải là đơn giản và phải qua một quá trình dài phức tạp.


* Trung tâm của sùng bái cá nhân

Kim Chính Nhật đã là trung tâm của một sự sùng bái cá nhân tuyệt đối thừa kế của Kim Nhật Thành, người thành lập Ðảng Cộng Sản và nước Cộng Hòa Nhân Dân Triều Tiên. Kim Nhật Thành đã là “Chủ tịch vĩ đại” còn Kim Chính Nhật trở nên “Lãnh tụ kính yêu” của chế độ. Ngày sinh của Kim Chính Nhật là ngày nghỉ quan trọng nhất nước và những buổi lễ tập họp đông đảo quần chúng được tổ chức khắp nơi vào ngày này.

Nhưng thật ra chẳng ai biết sinh nhật của Kim Chính Nhật thật sự là ngày nào. Theo tiểu sử chính thức, Kim Chính Nhật chào đời tại một trại quân sự bí mật ở núi Baekdu phía bắc triều Tiên ngày 16 Tháng Hai năm 1942. Các sử gia nhà nước còn nói rằng một con chim nhạn đã báo trước ngày trọng đại này và có điềm triệu là một cầu vồng đôi bắc ngang qua núi cùng một ngôi sao mới xuất hiện trên bầu trời.

Tuy nhiên theo tài liệu của Liên Bang Sô Viết thì Kim Chính Nhật sinh tại làng Vyatskoye gần Khabarovsk năm 1942 khi Kim Nhật Thành đang là một tiểu đoàn trưởng ở Lữ Ðoàn 88 gồm những người Triều Tiên và Trung Quốc lưu vong, trong Thế Chiến II chống Ðức Quốc xã. Sống tuổi nhỏ ở Liên Sô, Kim Chính nhật có tên là Yuri Irsenovich Kim.

Theo tài liệu chính thức của nhà nước Bắc Hàn thì Kim Chính Nhật học hết bậc tiểu học và trung học ở thủ đô Bình Nhưỡng. Cũng có tài liệu nói là ông đã đi học ở Trung Quốc và tốt nghiệp Ðại Học Kim Nhật Thành năm 1964.

Kim Chính Nhật được đưa vào Ðảng Lao Ðộng Triều Tiên (Cộng Sản) và dần dần đảm nhận những nhiệm vụ quan trọng theo sự chỉ định của bố trong đó có việc chỉ huy chiến dịch chống các phần tử xét lại, thực chất là những người không trung thành với Kim Nhật Thành. Khoảng 1967-1969, Kim Chính Nhật được chuyển công tác sang lực lượng võ trang mặc dầu ông không bao giờ nhập ngũ. Năm 1974 được bầu vào Bộ Chính Trị Ủy Ban Trung Ương Ðảng.

Ðại hội lần thứ 6 Ðảng Lao động Triều Tiên Tháng Mười năm 1980 là thời điểm Kim Chính Nhật đã nắm được quyền lực với nhiều chức vụ quan trọng trong Bộ Chính Trị, Quân Ủy Trung Ương, Ban Bí Thư và Quốc Hội Nhân Dân. Các quan sát viên quốc tế nhận ra rằng Kim Chính Nhật sẽ đương nhiên là nhà lãnh đạo Bắc Hàn thừa kế sự nghiệp của Kim Nhật Thành.

Cuối năm 1991, Kim Chính Nhật được chỉ định làm tư lệnh các lực lượng vũ trang Bắc Hàn. Ðây là vai trò quyết định nhất vì quân đội là nền tảng của chế độ này. Năm 1984 khi Kim Nhật Thành qua đời, vì chức vị chủ tịch Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên là vĩnh cửu dành cho “lãnh tụ vĩ đại” này nên “lãnh tụ kính yêu” Kim Chính Nhật chỉ có những chức vụ: chủ tịch Hội Ðồng Quốc Phòng Triều Tiên, tư lệnh tối cao Quân Ðội Nhân Dân Triều Tiên, tổng bí thư Ðảng Lao Ðộng Triều Tiên. Vị trí trong Hội Ðồng Quốc Phòng được chính thức tuyên bố là “vị trí cao nhất của quốc gia,” vì vậy trên thực tế Kim Chính Nhật là nguyên thủ quốc gia, và vì không phải là chủ tịch nước nên theo Hiến Pháp không bắt buộc phải qua những cuộc bầu cử để có thể ở chức vụ đến mãn đời.


* Ai là người thay thế?

Ðời sống riêng tư của Kim Chính Nhật là một bí mật và an ninh quốc gia. Người ta chỉ biết một vài chuyện chẳng hạn như ông là người sợ máy bay - có thể lo ngại dễ bị ám sát - cho nên chỉ xuất ngoại qua Nga và Trung Quốc trên một đoàn xe lửa riêng trong toa bọc thép. Kim Chính Nhật là người ưa chuộng xe hơi hạng sang và từng chi 20 triệu dollars để nhập cảng 200 chiếc Mercedes Benz S500. Những người đào thoát khỏi Bắc Hàn nói Kim Chính Nhật có 17 dinh thự và nơi cư ngụ khác nhau, những nhà nghỉ mát trên núi hay bên bờ biển có sân golf riêng.

Không có tài liệu chính thức nào cho biết Kim Chính Nhật có bao nhiêu vợ, nhưng ít nhất người ta biết ông có 3 bà vợ kế tiếp hay cùng lúc. Người vợ thứ nhất con gái của một chỉ huy quân đội cao cấp, sau đó ly thân và có một con gái. Người vợ thứ nhì không chính thức, có một con trai Kim Jong-nam sinh năm 1971, bà này mất năm 2002 ở Moscow. Người vợ thứ ba, chính thức là đệ nhất phu nhân, chết năm 2004, có hai con trai Kim Jong-chul sinh năm 1981 và Kim Jong-un sinh năm 1984. Kim Chính nhật còn có một tình nhân là thư ký riêng của ông từ những năm 1980 và bây giờ sống với bà này.

Kim Nhật Thành đã chuẩn bị và xây dựng sự nghiệp lãnh đạo cho Kim Chính Nhật qua gần 30 năm. Kim Chính Nhật chưa đủ thời gian thực hiện được điều ấy cho con trai thứ ba Kim Jong-un, vì vậy nếu ông ta chết sớm, người ta tin rằng sẽ xảy ra những cuộc đấu tranh giành quyền lực có thể rất khốc liệt tại Bắc Hàn.

Bắc Triều Tiên: Những bí ẩn và Dối trá

Lời người dịch: Bản dịch “Bắc Hàn bên bờ Vực thẳm” của DV đã gợi suy nghĩ của tôi đến đất nước Bắc hàn khốn khổ. Gởi đến các độc giả X cà bài dịch này. Đây là một trích đoạn từ tác phẩm “Nothing to Envy: Real Lives in North Korea” của Barbara Demick.
Tôi sẽ dịch tiếp bài này vào mỗi giờ nghỉ trưa của tôi trong sở làm. Xin độc giả vui lòng chờ đợi.

Câu chuyện kể về một thiên tình sử lén lút, nạn đói tàn bạo và cuộc đào thoát bi thảm khỏi Bắc Triều Tiên, một quốc gia đã rơi ra khỏi thế giới phát triển.

Tác giả: Barbara Demick
Đăng ngày 16 tháng hai 2010

(http://www.telegraph.co.uk/news/worl...-and-lies.html)

Nếu bạn nhìn vào những bức ảnh vệ tinh của vùng Viễn Đông chụp vào ban đêm, bạn sẽ thấy một vùng đen tối mất ánh sang một cách thật đáng tò mò. Khu vực đêm tối này là Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.

Ngay sát cạnh lỗ đen bí ẩn ấy, Nam Hàn, Nhật Bản và Trung Quốc đang tràn ngập ánh sáng của sự thịnh vượng sang giàu. Ngay từ hàng trăm dặm cao, người ta vẫn có thể nhìn thấy các bảng quảng cáo, đèn pha, đèn đường, đèn neon từ những cửa tiệm bán thức ăn nhanh xuất hiện như những chấm trắng nhỏ, mời gọi mọi người đến với cửa hang của họ trong tư cách của những người tiêu dùng thuộc về thế kỷ 21. Rồi thì, giữa tất cả những thứ ấy, là một vùng đen tối rộng gần bằng Anh quốc. Thật là một thất bại, lạc hướng của việc cả một quốc gia 23 triệu dân lại có thể xuất hiện như khoảng trống tựa các đại dương. Bắc Triều Tiên đơn giản quả là một khoảng trống không.

Bắc Triều Tiên phai mờ vào tăm tối từ những năm 1990. Với sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, vốn đã chống đỡ người đồng minh Công sản cũ của mình bằng giá dầu nhiên liệu rẻ, nền kinh tết èo uột kém hiệu quả của Bắc Triều Tiên đã sụp đổ. Các nhà máy điện bị rỉ sét đến mức hủy hoại. Ánh sáng điện tắt ngấm. Ngay cả trong một số khu vực của thủ đô Bình Nhưỡng cố ý muốn khoe khoang, bạn vẫn có thể tản bộ xuống phố trên những con đường chính vào ban đêm mà không thể nhìn thấy những tòa nhà hai bên.

Bắc Triều Tiên không phải chỉ là một nước kém phát triển,đó là một quốc gia đã hoàn toàn rơi ra khỏi thế giới phát triển. Bạn có thể nhìn thấy những chứng tích về những gì đã mất, treo tòng teng trên không, dọc theo bất kỳ con đường lớn nào- những dây kẽm trơ xương của các lưới điện rỉ sét, từng một thời phủ điện năng lên cả nước.

Những người Bắc Triều Tiên quá tuổi trung niên từng nhớ rõ thời họ đã có nhiều điện hơn (thực phẩm) so với người anh em thân Mỹ của mình ở Nam Hàn, những điều ấy giờ trộn lẫn với sự sỉ nhục của việc phải ngồi trong bóng tối của họ. Trong những năm 1990, Hoa Kỳ đã đề nghị giúp đỡ Bắc Triều Tiên các nhu cầu năng lượng của họ nếu họ đã từ bỏ chương trình vũ khí hạt nhân của mình. Nhưng thoả thuận ấy đã đổ vỡ sau khi chính quyền Bush tố cáo Bắc Hàn nuốt lời hứa của họ. Người dân Bắc Triều Tiên phàn nàn cay đắng về bóng đêm, mà họ vẫn đổ lỗi cho các biện pháp trừng phạt của Mỹ.

Nhưng bóng tối ấy có lợi thế của riêng nó. Đặc biệt là nếu bạn là một thiếu niên hẹn hò một ai đó mà không muốn ai nhìn thấy. Khi người lớn đi ngủ, đôi khi sớm nhất là 7:00 giờ tối vào mùa đông, là lúc rất dễ dàng để trốn ra khỏi nhà. Bóng đêm ban cho riêng tư và tự do, điều vốn khó có thể có được ở Bắc Triều Tiên như điện năng.

Tôi đã từng gặp nhiều người Bắc Triều Tiên nói với tôi là họ đã từng cố quen để yêu đêm tối như thế nào, nhưng câu chuyện của một bé gái tuổi dậy thì và người bạn trai của cô bé thực đã tạo ấn tượng cho tôi nhất. Cô bé được 12 tuổi khi gặp được một thanh niên lớn hơn mình ba tuổi từ một thị trấn lân cận. Gia đình cô bé thuộc vào hạng thấp trong hệ thống điều khiển xã hội phức tạp ở Bắc Triều Tiên. Nếu bị nhìn thấy bên nhau giữa công chúng sẽ gây thiệt hại đến triển vọng nghề nghiệp của cậu bé cũng như tiếng tăm của cô bé như một người phụ nữ trẻ, đạo đức. Vì vậy, các cuộc hẹn hò của họ bao gồm tất cả các cuộc tản bộ bên nhau trong bóng tối. Mà thật ra cũng không có gì khác để làm; bởi vào thời gian họ bắt đầu hẹn hò một cách nghiêm túc trong đầu những năm 1990, chả có một nhà hàng hay rạp chiếu bóng nào được mở ra vì thiếu điện.

Họ sẽ hẹn hò sau bữa ăn chiều. Cô gái đã dặn bạn trai mình không phải gõ cửa trước vì có thể khiến gia đình nàng nghi ngờ. Cậu bé tìm được một chỗ đứng sau bức tường, một nơi mà không ai có thể nhìn thấy mình vì ánh sáng ban ngày đã đi khỏi. Cậu sẽ chờ đợi cô bé ở đấy hàng giờ, có khi hai hoặc ba tiếng đồng hồ. Điều ấy không thành vấn đề. Nhịp sống ở Bắc hàn là chậm rãi hơn. Chả có ai sở hữu một chiếc đồng hồ cả.

Cô gái sẽ chỉ xuất hiện một khi cô có thể thoát ra khỏi nhà được. Trước tiên, họ sẽ đi bộ trong im lặng, sau đó tiếng nói của họ dần dần tăng lên thành tiếng thì thào, rồi đến mức độ đàm thoại bình thường khi họ thực sự rời khỏi khu làng và được thoải mái với bóng đêm. Họ đi bên nhau, giữ khoảng cách một sải tay cách nhau cho đến khi chắc chắn mình không bị ai bắt gặp, họ vừa đi vừa noí với nhau về gia đình, bạn học trong trường, những cuốn sách đã đọc - bất kỳ chủ đề nào, đều hấp dẫn và vô tận. Nhiều năm sau, khi tôi hỏi cô gái về những kỷ niệm hạnh phúc nhất của đời sống, cô nói với tôi rằng chính là những đêm đó.

Năm 2004, khi tôi gặp cô bé, cô đã là một người phụ nữ của tuổi 31. Mi-ran (không phải tên thật của cô) đã trốn khỏi Bắc Hàn sáu năm trước đó và hiện đang sống ở Nam Hàn. Tôi đang viết một bài về những người đào thoát và đã mời Mi-ran đi ăn trưa để tìm hiểu thêm về hệ thống trường học của Bắc Triều Tiên. Vì trong những năm trước khi đi đào thoát, cô là một giáo viên mẫu giáo tại một thị trấn khai thác mỏ. Đó là một cuộc nói chuyện nghiêm túc. Các món ăn trên bàn bỏ dở dang không ai muốn ăn nữa, khi cô mô tả việc chứng kiến những học sinh năm sáu tuổi của mình chết vì đói. Khi các học sinh của mình chết, cô lại phải dạy dỗ chúng rằng mình đã may mắn được sinh sống ở Bắc Triều Tiên như thế nào.

Có điều gì đó về tự chủ và thẳng thắn của cô khiến tôi đã hỏi cô thêm một vài điều có tính cá nhân. Phải chăng cô đã có một bạn trai ở đó ?

“Bà hỏi thật là ngộ ghê !” cô trả lời “Tôi vừa có một giấc mơ về anh ta đêm nọ ", Mi-ran cười “Phải mất ba năm chúng tôi mới dám nắm tay. Sáu năm nữa mới dám hôn nhau. Tôi đã chẳng bao giờ mơ đến việc làm bất cứ điều gì hơn thế. Khi rời Bắc Triều Tiên, tôi đã 26 tuổi và đã một giáo viên, nhưng tôi đã không biết em bé được thụ thai như thế nào” .

Mi-ran thừa nhận rằng cô thường xuyên nghĩ về tình yêu đầu đời của mình và cảm thấy một số ray rứt của sự hối tiếc trong cách cô đã bỏ đi. Jun-sang đã là người bạn thân nhất của cô, người mà cô tâm sự những ước mơ và những bí mật của gia đình cô. Tuy nhiên, cô vẫn dấu anh ta điều bí mật lớn nhất của cuộc đời cô. Cô không bao giờ nói với anh là cô từng ghê tởm Bắc Triều Tiên như thế nào, không tin vào sự tuyên truyền mà jàng ngày cô phải truyền đạt cho học sinh của mình như thế nào. Tóm lại, cô không bao giờ nói với anh ta rằng gia đình mình đã nuôi dưỡng một kế hoạch đào thoát. Không phải là cô không tin anh, nhưng bạn sẽ không bao không bao giờ hối tiếc là mình quá cẩn thận.

Láng giềng tố cáo láng giềng, bạn bè tố cáo bạn bè. Nếu ai trong các công an chìm biết được các kế hoạch của gia đình, cả nhà cô ấy có thể đã bị đày đến một trại lao động ở vùng núi.

“Tôi không thể mạo hiểm như thế”, cô ấy nói với tôi “Thậm chí, tôi đã không dám chào tạm biệt anh ấy".

Mi-ran và Jun-sang sống ở ngoại ô của Chongjin, một trong những thành phố công nghiệp ở phía đông bắc của bán đảo, không xa biên giới Nga. Phong cảnh Bắc Triều Tiên hết sức xinh đẹp ở những nơi nào đó, nhưng thiếu vắng các màu sắc. Các ngôi nhà ở rất đơn giản, tiện ích nhưng đơn sắc. Hầu hết các vật liệu nhà ở được xây dựng vào những năm 1960 và 1970 từ các khối xi măng, đá vôi, phát nhỏ giọt cho người dân dựa trên công việc và thứ hạng xã hội của họ. Ở nông thôn, người dân thường sống trong các tòa nhà cao tầng duy nhất gọi là 'Harmonicas', những dãy nhà một phòng, xếp dính với nhau như những cái hộp nhỏ tạo nên các khoang vuông vức của chiếc khẩu cầm.

Năm 1984 George Orwell đã từng viết về một thế giới mà màu sắc duy nhất có thể tìm thấy được ở trên các áp phích tuyên truyền. Đó là trường hợp ở Bắc Triều Tiên. Những bức ảnh của Kim Il-sung được vẽ bằng màu sắc sống động. Từng ánh tia màu vàng và màu da cam hắt ra từ khuôn mặt của ông: ông là mặt trời. Hàng chữ màu đỏ nhảy xổ ra khỏi khung cảnh xám với một sự khẩn thiết: Vạn tuế Kim il-sung. chúng ta sẽ làm những gì Đảng dạy. chúng tôi không có gì để ghen tỵ với thế giới.

Cho đến những ngày đầu của tuổi thiếu niên, Mi-ran không có lý do gì để không tin các bảng hiệu tuyên truyền. Cha cô là một người thợ mỏ. Gia đình cô nghèo, nhưng cũng như là tất cả mọi người cô từng biết. Vì tất cả các ấn phẩm bên ngoài, phim ảnh và các chương trình phát thanh đã bị cấm, Mi-ran cho rằng không có nơi nào khác trên thế giới có con người được sống tốt hơn, và có thể còn tồi tệ hơn nữa. Cô đã nghe nói rất nhiều, rất nhiều lần trên đài phát thanh và truyền hình rằng Nam Triều Tiên rất đáng thương khổ sở, rằng bảng hiệu Công sản bị pha loãng của Trung Quốc đã không thành công hơn là bảng hiệu được đưa ra bởi Kim Il-sung và rằng hàng triệu người Trung Quốc sẽ bị đói. Tất cả trong tất cả, Mi-ran cảm thấy cô là khá may mắn được sinh ra ở Bắc Triều Tiên trong yêu thương chăm sóc của người cha lãnh đạo.

Trong thực tế, các ngôi làng nơi Mi-ran lớn lên đã không phải là một nơi tồi tệ lắm trong thập niên 1970 và 1980. Đó là một khu làng điển hình của Bắc Triều Tiên với khoảng 1.000 dân, nhưng vị trí của ngôi làng này thật tình cờ ngẫu nhiên. Biển Đông (biển Nhật Bản) chỉ cách sáu dặm, do đó người dân địa phương thỉnh thoảng có thể ăn được cá tươi và cua. Làng chỉ nằm ngay ngoài các ống khói của vùng Chongjin và vì thế đã có lợi thế gần thành phố cũng như các vùng trống để có thể trồng rau.

Tae Woo, cha của Mi-Ran, đã lớn lên trong tỉnh Chungchong Nam tại Hàn Quốc. Ông lên 18 khi cộng sản xâm lược vào năm 1950, và ông đã phải đi lính vì không có sự lựa chọn. Quân đội Nam hàn rất yếu kém và đã cần đến bất cứ ai mà họ có được. Ông đã bị bắt làm tù binh chiến tranh, và cuộc sống của mình như là một người Hàn Quốc đã chấm dứt.

Sau hiệp ước đình chiến, đã có một cuộc trao đổi tù nhân, nhưng hàng nghìn người đã không bao giờ được trả về nhà, trong đó có Tae-woo, người đã được đưa đến một vùng mỏ sắt tại Musan, một thị trấn gan góc ở phía Bắc Triều Tiên sát biên giới Trung Quốc. Tại đây ông đã gặp và kết hôn với mẹ của Mi-ran, và Tae-woo đã nhanh chóng đồng hóa vào cuộc sống của Bắc Triều Tiên. Cũng dễ dàng để anh nương náu mình vào. Ngay sau khi lập gia đình, Tae-woo và cô dâu mới của anh được chuyển đến một vùng mỏ gần Chongjin, nơi anh không hề quen biết ai. Không có lý do để ai phải nghi ngờ bất cứ điều gì bất thường trong quá khứ của anh, nhưng chính ngay trong bản chất kỳ lạ của Bắc Triều Tiên, thường có ý nghĩ rằng rằng có một ai luôn luôn biết tất cả mọi thứ.

Sau chiến tranh, Kim Il-sung đã thực hiện công việc đầu tiên của ông ta là loại bỏ những kẻ thù từ trong bạn bè. Ông đã loại bỏ rất nhiều người đồng chí có quyền lực. Họ vốn đã chẳng có giá trị gì trong thời chiến; bây giờ sau khi đã phục vụ mục đích của họ xong, họ có thể loại bỏ đi được. Sao đó, Kim Il-sung chuyển sự chú tâm của mình đến những người dân thường. Năm 1958 ông ra lệnh hình thành một dự án để phân loại tất cả dân Bắc Hàn căn cứ vào mức độ tin cậy chính trị của họ. Mỗi người phải đi qua tám loại kiểm tra quá khứ. Hồ sơ "Songbun" - tên gọi của bản kiểm tra phân loại - xem xét đến nguồn gốc cha mẹ, ông bà và ngay cả anh em họ xa của mọi người. Vì là một người lính Nam Triều Tiên trước đây, Tae-woo đã bị xếp vào hạng dưới cùng của phân loại này. Những người Bắc Triều Tiên thuộc các hàng phân loại thấp đã bị cấm sinh sống ở Bình Nhưỡng hoặc các vùng đẹp hơn của quê hướng về phía Nam, nơi đất đai màu mỡ và thời tiết ấm hơn. Tae-woo không thể mơ đến việc gia nhập Đảng Lao động, một đảng tương tự như Đảng Cộng sản ở Trung Quốc và Liên Xô, kiểm soát ban bố được các công việc ngon ăn.

Người dân thuộc về thứ hạng như anh sẽ luôn bị theo dõi chặt chẽ bởi hàng xóm của mình. Ở Bắc Triều Tiên, không có cách gì một người bị xếp hạng thấp trong phân loại xã hội có thể cải thiện số phận của mình. Bất cứ vết nhơ nguyên thủy nào sẽ cứ ở mãi đó và không thể thay đổi. Và vì tình trạng gia đình là căn cứ vào cha truyền con nối. Tội lỗi của cha mẹ là tội lỗi của trẻ con và đời con cháu. Người Bắc Hàn gọi là những người này là beulsun - nghĩa là "máu bẩn", hoặc không tinh khiết.

Mi-ran và bốn anh chị em của cô sẽ mang vết nhơ ấy trong máu của họ. Cha mẹ cô từng nghĩ là tốt nhất là đừng nói gì cho các con mình biết về nguồn gốc của cha mẹ chúng. Ích lợi gì khi thiêu đốt tâm tư chúng với những loại hiểu biết rằng chúng sẽ bị học ở các trường học tốt nhất và bị cấm làm những công việc tốt nhất, để cuộc đời chúng sẽ sớm đi đến đường cùng ? Chúng còn lo lắng đến việc học hành, tập đàn hát hoặc tranh tài trong thể thao để làm gì nữa ?

Khi trẻ em đến tuổi vị thành niên, những trở ngại đến từ quá khứ của cha mẹ chúng sẽ bắt đầu nở to hơn. Những đứa trẻ không được nhận vào các trường học cao hơn sẽ được giao cho một đơn vị làm việc, một nhà máy, một mỏ than, hoặc tương tự. Nhưng các anh chị em của Mi-ran đều tự tin rằng họ sẽ là những trẻ em được chọn để tiếp tục ăn học. Họ thông minh, nhìn sáng sủa, khỏe mạnh, được giáo viên và các bạn đồng lứa ưa thích. Nếu có ít tài năng, họ có thể bị từ chối dễ dàng hơn.

Cuối cùng, chính người anh của Mi-ran đã buộc sự thật phải lộ diện. Sok-ju đã bỏ ra bao tháng trời nhồi nhét chuẩn bị cho kỳ thi giành chiến thắng để được nhập học vào trường sư phạm làm giáo viên. Anh hiểu rằng mọi câu trả lời đều hoàn hảo. Khi được thông báo là mình trượt, anh đã giận dữ và đối đầu các giám khảo để yêu cầu một lời giải thích.

Sự thật thật là tàn ác. Các em đã bị khắc ghi hoàn toàn trong phiên bản lịch sử này của Bắc Triều Tiên. Bọn Mỹ là hóa thân của cái ác và Nam Triều Tiên là bọn đầy tớ thống thiết của chúng. Biết được cha mình là một người Nam Triều Tiên đã từng chiến đấu với bọn Yankees đã vươt quá mức chịu đựng của mình. Lần đầu tiên trong đời, Sok-ju đã say rượu. Anh đã chạy xa khỏi nhà mình. Ở náu lại trong nhà của một người bạn suốt hai tuần cho đến khi bạn bè thuyết phục anh trở về. Sok-Ju hiểu, như bất kỳ cậu bé Hàn Quốc nào cũng hiểu, rằng mình phải kính trọng cha mình. Anh đi về nhà và quỳ xuống, xin cha mình tha thứ. Đó là lần đầu tiên anh thấy cha mình bật khóc.

Lần đầu tiên khi Miran nhận thấy rằng người dân thành phố đã tham gia vào các chuyến đi đến nông thôn để nhặt rác mà ăn là khi nàng đang học trung học. Khi đạp xe vào Chongjin, nàng nhìn thấy họ, trông như những kẻ ăn xin với bao tải đeo xách trên vai, họ đi đến những vườn cây ăn trái ở hai bên đường. Một số thậm chí còn đi xa hơn đến những cánh đồng bắp kéo dài nhiều dặm về phía nam từ làng của cô ra phía biển.

Nơi Mi-ran ở, các lối hẹp giữa các dãy nhà harmonica được trồng cấy một cách đau đớn với ớt đỏ, củ cải, cải bắp và ngay cả thuốc lá, bởi vì sẽ rẻ hơn để quấn lấy mà hút hơn là đi mua thuốc lá, và hầu như tất cả đàn ông đều hút thuốc. Những người có mái bằng phẳng sẽ mang cả máng, chậu chất lên đó để trồng được nhiều rau quả hơn. Những nỗ lực trồng trọt cá nhân này nhỏ bé đủ để không làm chính quyền Công sản giận dữ. Ít nhất là được thời gian đầu, họ đã ngăn được cơn đói, trước khi sự thiếu hụt lương thực thực phẩm đã tăng trưởng thành một nạn đói.

Ban đầu, các mối quan hệ giữa Mi-Ran và Jun-sang diễn ra trong một chất lượng kiểu tư tín qua lại của thế kỷ 19. Họ giữ liên lạc bằng thư từ. V2o năm 1991 ít người Bắc Triều Tiên từng được sử dụng điện thoại. Bạn phải đi đến bưu điện để gọi điện thoại. Nhưng ngay cả viết một lá thư không phải là một công việc đơn giản. Giấy viết thư khan hiếm. Người dân phả viết ở các rìa báo. Giấy trong các cửa hàng nhà nước được làm bằng trấu sẽ dòn, rách dễ dàng. Và khoảng cách từ Bình Nhưỡng để Chongjin chỉ có 250 dặm, nhưng thư từ phải đến cả tháng mới được chuyển giao đến nơi.

Ở Bình Nhưỡng, Jun-Sang có thể mua giấy tử tế. Anh có riêng một cây bút bi nguyên tử. Anh viết hết trang này qua trang khác, thật dài và lôi cuốn. Thư từ của họ dần dần phát triển từ các lối hình thức khô cứng đến những nội dung hoàn toàn lãng mạn. Anh đã trích dẫn các tiểu thuyết mình từng đọc cho nàng. Anh viết các bài thơ tình yêu.

Những kinh nghiệm của Jun-Sang ở Bình Nhưỡng đã cho Mi-ran một cái nhìn vào một thế giới có đặc quyền ở phía xa. Đồng thời, cũng khó để nghe biết đến mà không có một biểu hiện ganh tỵ. Cô đang ở năm cuối cùng của bậc trung học và cô đang sợ đấy sẽ là chặng cuối việc học của mình. Jun-sang linh cảm được nỗi phiền muộn của cô và cứ thăm dò vào sâu hơn cho đến cuối cùng, cô đã nói với anh những gì cô đang lo lắng. 'Mọi điều đều có thể thay đổi,' Jun-Sang viết cho cô. 'Nếu em muốn có nhiều hơn nữa trong cuộc sống, em phải tin vào bản thân mình và em có thể đạt được ước mơ của mình".

Sau đó Mi-ran đã quý trọng những lời khuyến khích bằng việc thay đổi cuộc đời mình. Từng là một học sinh giỏi, cô đã không để mình bị tụt hạng. Cô húc vào sách vở. Nếu không vào đại học được, cô sẽ không phải đổ lỗi cho chính mình.

Trong một nỗi ngạc nhiên vô cùng, Miran được chấp nhận vào trường cao đẳng sư phạm. Vào mùa thu 1991 cô dọn ra khỏi nhà cha mẹ để vào ở trong ký túc xá nhà trường. Nhưng khi nhiệt độ mùa đông rơi xuống sâu hơn ở Chongjin, cô mới nhận ra rằng tại sao chính nhà trường này lại có khả năng cho mình một chốn ở. Các ký túc xá không có lò sưởi. Mi-ran đã đi ngủ mỗi đêm trong áo choàng của mình, cả vớ dầy và găng tay với cả khắn tắm quấn quanh đầu mình. Khi thức giấc, tấm khăn thường bị đóng băng từ độ ẩm của hơi thở cô. Trong phòng tắm, nơi các cô gái dùng giẻ lau để chùi rửa kinh nguyệt của họ (không ai có khăn vệ sinh tử tế),trời lạnh đến mức những mảnh giẻ lập tức đông cứng trong vài phút sau khi được treo lên cho khô.

Đến năm 1994, khi Mi-ran tốt nghiệp, cô mong muốn chuyển về nhà ở với bố mẹ, vì chế độ phân phối thực phẩm ở Chongjin hoàn toàn chấm dứt. Cô yêu cầu được phân công giảng dạy gần nhà và đã may mắn được gửi đến một nhà trẻ gần vùng mỏ, nơi cha cô làm việc. Lớp mẫu giáo này được đặt trong một tòa nhà đơn tầng bằng bê tông, bao quanh bởi một hàng rào sắt với các hình vẽ các bông hoa hướng dương nhiều màu, hình thành một cổng chào trên lối vào với khẩu hiệu: Chúng ta rất hạnh phúc. Các phòng học đúng tiêu chuẩn với bức chân dung cha và con trai của Kim Il-sung và Kim Jong-il chủ ở phía trên tấm bảng đen. Có một cái tủ sách to nhưng với chỉ một vài cuốn sách, khó đọc, vì đã được chụp lại từ bản gốc rất lâu rồi.

Trẻ em khu làng nghèo khó nhìn thiếu thốn rõ rệt hơn so với các bạn học từ thị thành của mình, hầu hết đi học trong các thứ quần áo cũ pha tạp người khác cho, thường phải quấn trong nhiều lớp bởi vì nhà trường ít được sưởi ấm. Mỗi khi giup úác em tháo bỏ từng lớp quần áo cũ quấn trên người, Mi-ran nhin thấy trong cùng là một cơ thể bé nhỏ trơ xương. Khi nắm tay các em, những ngón tay nhỏ bé nằm gọn trong tay mình như những hạt walnut. Những trẻ em này, năm và sáu tuổi, trông không lớn hơn trẻ ba, bốn tuổi. Mi-ran từng tự hỏi phải chăng các trẻ em này đến trường, chủ yếu để được ăn bữa ăn trưa miễn phí phục vụ trong căn tin, bữa ăn của chút súp loãng nấu bằng muối và lá khô.

Tuy nhiên, cô tiếp cận công việc mới của mình với lòng nhiệt tình. Để là một giáo viên, một thành viên của giai cấp có ăn học và đáng kính, là một bước tiến dài đối với con gái của một người thợ mỏ. Cô náo nức dậy vào mỗi buổi sang, khoác lên người chiếc áo choàng trắng mà cô luôn giữ thẳng nếp nhờ ép dưới nệm giường ngủ qua đêm.

Trường học bắt đầu lúc 08:00. Mi-ran đặt trên trên môi mình một nụ cười kênh kiệu nhất để chào đón các em học sinh khi chúng vào lớp. Ngay sau khi chúng ổn định chỗ ngồi, cô lấy đàn phong cầm (arccodion) của mình ra. Tất cả giáo viên được yêu cầu phải chơi đàn phong cầm accordion – đàn này được mệnh danh là “nhạc cụ của nhân dân” vì nó dễ mang theo trên tay trong những ngày tình nguyện lao động trên các cánh đồng. Trong lớp các giáo viên sẽ hát, “Chúng ta Không có gì để Ghen tỵ với thế giới”, bài hát có một giai điệu quen thuộc với trẻ em Bắc Triều Tiên như bài “Twinkle, Twinkle, Little Star" vậy.

Mi-ran sớm nhận ra rằng mọi thứ trở nên tồi tệ hơn. Mỗi đứa trẻ được yêu cầu mang theo từ nhà mình một bó củi các lò sưởi ở tầng hầm, nhưng nhiều em không mang nổi. Những cái đầu to của các em như nằm uể oải trên cổ gầy gò, lồng ngực mỏng manh nhỏ gầy đến mức cô có thể bao quanh bằng bàn tay mình. Một số đứa đã bắt đầu sưng bụng lên. Miran cũng nhận thấy những mái tóc đen của trẻ bắt đầu nhạt màu dần, chuyển sang màu vàng hoe.

Nhà ăn của trường đã phải đóng cửa vì thiếu lương thực. Các học sinh được yêu cầu phải mang theo một hộp thức ăn trưa từ nhà, nhưng nhiều em đến trường tay không. Khi chỉ mới có một hoặc hai em không mang phần ăn trưa, Mi-ran sẽ lấy từ phần của các em khác, mỗi đứa một muỗng để cho những em không có ăn. Nhưng chẳng bao lâu sau, các bậc cha mẹ có chuẩn bị ăn trưa cho con mình đã khiếu nại. Mi-ran nghe đồn rằng các trường học có thể nhận được một số bánh quy và sữa bột từ một cơ quan viện trợ nhân đạo nước ngoài. Khi phái đoàn ngoại quốc đến thăm một trường học trong khu vực, các trẻ em nào có quần áo lành lặn nhất đã được khoe ra, con đường dẫn đến trường được sửa chữa, sân trường và các lớp học được quét quay dọn dẹp sạnh sẽ. Nhưng cuối cùng không có viện trợ nước ngoài đến. Thay vào đó, các giáo viên đã được trao cho một khu đất nhỏ ở gần đó mà họ đã được lệnh phải trồng ngô. Sau đó, tước bắp khỏi cùi ngô và đun sôi cho đến khi nó phồng lên như bắp rang. Đó là một món ăn để giảm bớt đói cơn đói vật vã của các trẻ em, nhưng nó đã không cung cấp năng lượng đủ để tạo được một sự khác biệt.

Lẽ ra giáo viên không nên thiên vị học sinh nào, nhưng Mi-ran chắc chắn đã lưu tâm đến một em. Bé gái này tên là Hye-Ryung (Nghĩa là: đức độ ngời sáng) và dù chỉ mới sáu tuổi, bé là học sinh đẹp nhất lớp. Bé có đôi mắt tròn sang rạng rỡ và một hàng lông mi dài nhất mà Mi-ran chưa từng thấy một đứa trẻ nào có được. Ban đầu, bé là một đưá trẻ sống động. Bây giờ bé đã hôn mê và đôi khi rơi ngủ quyên trong giờ học.

“Dậy thôi, dậy đi thôi” Một hôm, Mi-ran gọi bé dậy khi cô nhìn thấy bé gái nài nhoài người ra trên bàn học, ép má xuống chiếc bàn gỗ. Mi-ran nâng cằm bé lên. Đôi mắt bé đã khép nhỏ lờ đờ sau mí mắt sưng húp. Bé không còn tập trung được nữa. Tóc bé xõa ra trên tay Miran, những sợi tóc dòn mỏng, không còn dễ chịu khi chạm vào nữa.

Vài ngày sau đó, bé thôi không đến trường. Vì Mi-ran biết gia đình bé ở khu vực lân cận, cô nghĩ rằng cô nên ghé lại để thăm hỏi bé. Nhưng rồi cô cố nén lại không đến. Cô biết rất rõ những gì đã xảy đến với bé Hye-Ryung. Cô không làm gì để thay đổi được.

Rất nhiều học sinh khác trong lớp học của cô rơi vào tình trạng tương tự. Luôn luôn là một tiến trình giống nhau: Trước tiên là gia đình không thể gửi đến trường số lưọng củi được yêu cầu; sau đó là các phần ăn trưa biến mất, rồi các trẻ con sẽ ngủ gục và không tập trung được trong lớp, cuối cùng, trẻ em không đến trường nữa mà không có lời giải thích nào. Sau ba năm, sĩ số học sinh trong lớp mẫu giáo giảm từ 50 xuống còn 15 em. Điều gì đã xảy ra với những trẻ em? Mi-ran đã không dám tìm hiểu quá sâu vì sợ những câu trả lời mà cô không muốn nghe.

Mười năm sau, khi bản thân Mi-ran đã là một người mẹ, giai đoạn này trong cuộc sống của cô nặng như có một hòn đá trong lương tâm của mình. Cô thường cảm thấy đau bệnh vì những hồi tưởng đến những gì mình đã làm và không thể làm để giúp học sinh bé nhỏ của mình. Làm thế nào mà mình lại có thể ăn ngon khi chúng bị đói khát ? Có câu nói cho rằng một cái chết là một thảm kịch nhưng một ngàn cái chết chỉ là một số liệu thống kê. Điều ấy chắc đúng cho trường hợp của Mi-ran. Cái cô không nhận ra được là chính sự trung tính của cô là một kỹ năng sống sót mà cô từng có. Để sống sót qua những năm 1990, người ta đã phải cố cầm nén những thôi thúc muốn chia xẻ thức ăn cho người đói. Để tránh khỏi bị điên loạn, người ta phải học tránh việc nghĩ đến kẻ khác. Khi ấy, Mi-ran đã học đưọc cách đi ngang một xác chết trên đường phố mà không suy nghĩ nhiều nữa. Cô đã có thể đi ngang một đưá bé năm tuổi sắp chết mà không có cảm giác về một nghĩa vụ phải giúp đỡ. Nếu cô lđã không chia sẻ thức ăn của mình với các học sinh cô yêu thích nhất, thì chắc chắn là cô sẽ không cứu giúp một người hoàn toàn xa lạ.

Người ta cho rằng những người từng nuôi dưỡng nên các nước cộng sản không thể tự lo cho chính họ, vì họ mong đợi chính phủ phải chăm sóc họ. Điều này là không đúng đối với nhiều người trong số các nạn nhân của nạn đói ở Bắc Triều Tiên. Con người đã không thụ động đi đến cái chết của mình. Khi hệ thống phân phối chung bị cắt đứt, con người buộc phải bám vào những cái giếng sâu nhất của sự sáng tạo của mình để nuôi sống họ. Họ nghĩ ra cách dung những cái thùng chứa để bẫy bắt những con vật nhỏ ngoài đồng, giăng lưới ngoài cửa nhà để bắt chim sẻ. Họ tước các vỏ cây ngọt bên trong cây thông, xay thành bột để có thể được xử dụng thay cho bột ăn. Họ đập quả đầu (acorns) nhão ra như chất keo để có thể đóng thành các khối vuông mà tan chảy được trong miệng mình.

Người dân Bắc Triều Tiên đã học cách nuốt niềm tự hào của họ xuống và giữ cho lỗ mũi mình nghếch hỉnh lên. Họ đã lựa ra những hạt bắp chưa tiêu hóa từ phân cứt của các động vật nuôi trong trại. Những công nhân làm ở xưởng đóng tàu đã phát triển một kỹ thuật mà họ thể cạo vét được phía đáy của các cargo vận chuyển thực phẩm, mang trải các chất hôi hám ra trên các vỉa hè cho khô để sau đó họ có thể thu nhặt được các hạt gạo nhỏ và các thứ ăn được khác. Trên bãi biển, người dân moi tìm sò ốc từ cát chất đầy các xô chậu của mình với cỏ biển (seaweeds). Vào năm 1995 khi chính quyền dựng hàng rào dọc theo bãi biển (ra vẻ như để canh giữ những kẻ dò thám, nhưng nhiều khả năng là để ngăn chặn người dân đánh bắt cá từ các công ty mà nhà nước muốn kiểm soát), dân chúng đi vào từ những vách đá không có người bảo vệ trên biển với những cây cào dài gắn liền với nhau để vớt cỏ biển lên.

Không ai bảo người dân phải làm gì - chính phủ không muốn nhìn nhận là mình thiếu lương thực thực phẩm - để họ có thể tự lo cho chính mình. Tất cả mọi khôn ngoan đều đã cống hiến cho việc tập hợp sản xuất thực phẩm. Nhưng cuối cùng vẫn không đủ.

Cha của Mi-ran qua đời vào năm 1997 ở tuổi 68. Những tháng trước khi mất, Tae-woo đã nói thêm rõ ràng hơn trước về gia đình mình. Ông nhấn mạnh rằng đứa con trai duy nhất của mình phải nhớ được tên tuổi của tổ tiên dòng họ trong gia phả, một sổ cái mà các gia đình Hàn Quốc ghi chép lại giòng dõi của họ. bản thân ông đã là con trai duy nhất trong gia đình do đó đứa con trai của ông sẽ mang theo dòng máu của gia tộc.

Có một lời ước nguyện cuối cùng khác mà có thể sẽ khó thực hiện. Là Tae-woo muốn gia đình của ông tại Nam Hàn được thông báo về cái chết của ông. Không có dịch vụ bưu chính giữa Bắc và Nam Triều Tiên và cũng không có dịch vụ điện thoại. Do đó, để liên lạc với người thân ở Nam Hàn có lẽ là việc hầu như không thể thực hiện được.

Năm sau, So Hee, người chị của Mi-ran vội vã về nhà. Cô mới vừa nói chuyện được với một người bạn có giấy phép nhập xuất cảnh vào Trung quốc. Anh ấy biết người ở đấy có thể giúp họ liên lạc với gia đình cha của mình. Một khi bạn đã ở trong Trung Quốc, anh cả quyết với So-hee, bạn chỉ cần quay điện thoại để gọi đi Nam Hàn. Vậy gia đình có muốn thử không ?

Ban đầu Mi-ran và So-hee nghi ngờ. Mình không bao giờ có thể tin ai nếu không phải là người trong nhà. Những chuyện kiểu này giống hệt như những cách mà công an thường gài bẫy mình. Sau một vài ngày suy tính, cả nhà đồng ý tin, nhìn nhận rằng người bạn ấy là người chân thành. Anh có thân nhân ở Trung Quốc; anh quen với một ai đó lái xe tải có thể chở anh đến biên giới, anh sẽ hối lộ một viên công an biên phòng để y quay mặt đi chỗ khác. Cả nhà quyết định rằng Mi-ran, So-hee, người anh trai và người mẹ sẽ đi đến Trung Quốc để liên lạc với thân nhân của cha cô tại Nam Hàn. Họ không biết là mình sẽ tìm ra những người thân ở Nam Hàn này ở đâu, và họ cũng không hề dám nghĩ rằng mình sẽ thực đi luôn sang Nam Hàn.

Tất cả các chi tiết kế hoạch sẽ diễn tiến trong một vài tuần. Mi-ran đã phải hết sức khẩn trương để chuẩn bị chuyến đi. Đêm trước khi khởi hành, cô lấy ra khỏi tủ quần áo một gói bọc cẩn thận. Bọc này chứa đựng tất cả các lá thư cô đã từng nhận được từ Jun-Sang. Những lá thư này phải được thủ tiêu. Cô xé vụn mỗi trang thư ra trước khi vứt đi. Cô không muốn bất cứ ai biết được mười năm trời cô và Jun-sang đã trải qua với nhau. Sau khi ra đi, gia đình sẽ bị lên án là những kẻ phản bội. Cô không muốn những tội lỗi của mình có thể làm hại đến Jun-sang. Cuộc sống của anh sẽ cứ bình thường như trước đến nay. Anh có thể tìm được cho mình một người vợ thích hợp, tham gia vào Đảng Lao động, và sẽ trải nốt cuộc đời của anh ở Bình Nhưỡng như là một nhà khoa học. Cô tự nhủ lòng mình, anh ấy sẽ tha thứ cho mình. Mình hành động thế này, tất cả là vì anh ấy.

Sáng hôm sau, Mi-ran ra đi trên chiếc xe đạp của mình với một ba lô nhỏ đeo trên vai. Cô vẫy tay chào tạm biệt mẹ và anh trai như lệ thường. Kế hoạch thu xếp cho tất cả mọi người rời khỏi nhà riêng rẽ để tránh khỏi sự chú ý. Sau đó ngay trong ngày, mẹ của cô sẽ ghé đầu qua cửa trước của một nhà hàng xóm để báo rằng mình cần đi giúp trông em bé cho một trong những cô con gái đã lập gia đình khoảng một hai tuần. Điều đó sẽ kéo dài thêm cho họ một ít thời gian trước khi công an nhận ra rằng họ đã đi mất.

Mi-ran gặp người lái xe tải đưa cô đến Musan, nơi mà cha của Mi-ran từng bị gửi đến như một người tù lao động sau chiến tranh Triều Tiên. Bây giờ ở đây là một thị trấn hoang vắng, mỏ và các nhà máy đã đóng cửa. Nhưng bên dưới bề ngoài không có sự sống này, đầy ắp những kẻ buôn lậu. Thị trấn nằm gần một trong những trải dài hẹp của sông Đồ Môn và đã phát triển thành một trong những trung tâm cho việc xâm nhập bất hợp pháp vào Trung Quốc. Đó là một ngành công nghiệp tăng trưởng, và có lẽ là ngành công nghiệp phát triển duy nhất ở Bắc Triều Tiên. Các tài xế xe tải chuyên môn đưa những người không có hộ chiếu hoặc giấy phép đi đến vùng biên giới.

Nếu có ai nhìn theo, sẽ không ai có thể nghi là họ trốn khỏi nhà. Cả nhà mặc các quần áo tốt nhất bên dưới các y phục thường ngày của mình, để hy vọng mình sẽ không giống như thế những người Bắc Triều Tiên đao khổ khi họ mới đến Trung Quốc. Trang phục của họ cũng sẽ giúp hỗ trợ cho câu chuyện của mình – là họ đi dự một đám cưới người thân ở Musan. Họ mang hành lý chỉ đủ cho một chuyến đi cuối tuần. Nhồi nhét bên trong là một vài bức ảnh gia đình và hải sản khô, cá, mực và cua, các đặc sản của Chongjin. Thực phẩm này được dự trù không phải để dùng mà để hối lộ. Có hai trạm kiểm soát dọc theo tuyến đường 50 dặm đến Musan. Một vài năm trước đó, họ không hề dám lái xe tới Musan mà không có giấy phép; nhưng đây là năm 1998 và bạn có thể mua được bất cứ điều gì bằng thức ăn.

Mi-ran đi một mình. Mẹ, anh trai và em gái cô đã đi trước đó theo như đã sắp xếp. Một người dẫn đường hộ tống cô ra khỏi Musan, xuống một con đường bụi đất chạy song song với con sông. Khi con đường đóng lại ở một cánh đồng bắp, người dẫn đường rời đi. Ông ra dấu cho cô biết là phải đi băng qua cánh đồng và tiếp tục đi về hướng con sông. “Chỉ cần tiếp tục đi thẳng "ông nói.

Nhưng bây giờ cơ thể Mi-ran run lên vì lạnh và sợ hãi. Nếu không có ánh sáng soi đường, thật khó mà đi thẳng tới. Con sông ở hướng nào ? Sau đó, cô suýt và vào một bức tường. Bức tường lù lù cao qua khỏi đầu cô và dài mãi tít tầm mắt, làm bằng bê tông màu trắng, giống như các bức tường xung quanh một nhà tù một hoặc một doanh trại quân sự. Cô lần theo dần bằng đôi tay, đến chỗ bức tường thấp hơn và thấp hơn dần cho đến khi có thể leo qua dễ dàng. Bây giờ cô hiểu được. Đó là một bức ngăn ở kè sông. Cô lao mình xuống nước.

Mùa thu là mùa khô ở Hàn Quốc nên mức nước trên các con sông đặc biệt là thấp, chỉ cao đến đầu gối của cô, nhưng nước rất lạnh khiến chân cô tê dại. Đôi chân cô tựa như làm bằng chì và các huấn luyện viên của cô đang đổ nước vào. Cô chìm vào trong bùn. Cô nhấc một chân, rồi một chân khác. Từng bước như thế cô nhích dần về phía trước, cố gắng để không bị trượt và ngã nhào vào trong nước. Đột nhiên, Mi-ran cảm thấy mức nước tụt đến mắt cá chân của mình. Cô vội kéo mình lên bờ, người ướt đẫm, nhìn quanh. Cô đã ở Trung Quốc, nhưng cô không nhìn thấy gì. Không có ai ở đó. Cô hoàn toàn một mình trong bóng tối. Bây giờ cô đã thực sự hoảng sợ. Cô nhìn về Bắc Triều tiên của mình ở phía sau. Nếu có thể tìm thấy đường đi, cô sẽ có thể cuốc bộ trở lại Musan. Từ đó cô có thể bắt tàu hỏa đến Chongjin và ngày hôm sau, cô sẽ trở về nhà. Cô sẽ trở lại công việc giảng dạy của mình. Jun-sang sẽ không bao giờ biết là cô đã suýt đào thoát. Như thể không có điều gì đã từng xảy ra.

Khi đang loay hoay suy tính nên làm thế nào, cô nghe một tiếng động trong lùm cây. Rồi một giọng đàn ông nói “Nuna ơi, Nuna”.

Đó là tiếng anh trai của cô gọi. Anh dùng từ “nuna”, tiếng Hàn nghĩa là “em ơi”.

Cô vội với tay mình ra nắm lấy tay anh mình và từ đó cô đã rời khỏi Bắc Triều Tiên mãi mãi.

Hết
====================================================
Cám ơn bác Lê Quốc Tuấn đã dịch và giới thiệu bài nầy. Bài rất hay, bác dịch cũng rất hay. Càng đọc càng thấy các nước cộng sản đều được đúc cùng một cái khuôn, đặt nền tảng trên sự dối trá và lừa phỉnh. Thật đáng thương thay cho người dân của họ.
Bác ạ,

Những người CS ở đâu cũng dùng đến các kế sách như nhau, chỉ vì hoàn cảnh thực tế ép buộc mà khác nhau ở mức độ. Một trong các kế sách thường thấy là: ngu dân, tẩy não và triệt để trấn áp.

Liên xô và các nước CS cũ ở Đông Âu cũng đã trải qua các sách lược này. Nay còn Cuba, Bắc hàn, Trung Quốc và Việt Nam.

Thử nhìn qua chi tiết:

1. Ngu dân: Ngày trước, khi phương tiện thông tin giao tiếp còn lạc hậu. Các nước CS dựng lên bức màn sắt, ngăn chặn tất cả sách vở, thông tin từ bên ngoài vào. Đày cả dân tộc vào bóng tối của ngu dốt. Ngày nay, công nghệ thông tin đã chọc thủng bức màn sắt. Các chính quyền CS vẫn đang loay hoay bưng bít thông tin bằng đủ mọi cách. Đối với họ: Dân mà khôn ra thì khó trị, do đó phải giữ cho dân ngu, càng ngu càng tốt.

2. Tẩy não: CS là bậc thầy của nghệ thuật tẩy não. Bằng thủ đoạn tuyên truyền, họ có thể xây dựng nên những thế hệ hoàn toàn bị nhồi sọ đến mức không thể nhìn ra sự thật được nữa. Ở Bắc hàn, đa số dân chúng vẫn tôn thờ hai cha con Kim Jong Il không những như những lãnh tụ mà còn gần như những bận thánh. Tương tự như thế là hình ảnh thiêng liêng của ô Hồ trong tâm tư rất nhiều người lớn lên ở miền Bắc việt nam. Hơn ba mươi mấy năm ở VN sau năm 1975, CS cũng đang thành công phần nào trong công trình tẩy não khi có một bộ phận những thanh niên tin rằng họ đang cai trị đúng, tin rằng đất nước chưa cần đến dân chủ đa đảng.

3. Triệt để Trấn áp: Nghĩa là dứt khoát bóp chết những tiếng nói phản kháng. Bằng mọi giá phải trả, bời vì nếu không trấn áp được thì chính chúng phải ra đi. Do đó, sự trấn áp là triệt để, không khoan nhượng, một mất một còn.

Trở lại câu chuyện Bắc hàn, khi có cơ hội để nhìn vào, chúng ta cảm thương cho những người dân khốn khổ và phẫn uất với thánh phần lãnh đạo phi nhân tính. Nhưng Bắc hàn là một thứ cực đoan ngu xuẩn dễ nhìn thấy. Một lỗ đen ngòm như đại dương trống rỗng, tối tăm hiển nhiên trước mắt lương tri của cả nhân loại nhìn vào. Nhưng được bao nhiêu người dân Bắc hàn hiểu được thân phận của mình ?

Cũng như, trong ngay chính nước VN mình, được bao nhiêu người hiểu ra và thực sự đau đớn rằng mình đang bị tước đoạt mất những quyền lợi cơ bản nhất của quyền làm người ? Hay là một bộ phận khá lớn những người VN hiện nay, cả ở trong và ở ngoài nước lại nhìn ra rằng : Những người lãnh đạo ở Hà Nội đang làm đúng. Dân mình đã có ăn có mặc. Đất nước sẽ dần thay đổi tốt hơn. Lúc này chưa cần đến dân chủ v.v. và v.v...
Trưa nay, đọc đến đây, nhớ lại những ngày đói sau 30/4. Đó là những ngày đầu tiên trong đời làm người tôi biết đến cái đói. Không phải chỉ mình mình đói mà bao nhiêu người chung quanh đều đói.

Đó là những ngày cơm độn, bo bo, khoai mì, khoai lang, củ chuối…Những ngày trẻ con hát “đồng dao” : “Tổ quốc ơi, ăn khoai mì ngán quá. Từ giải phóng vô đây, ta ăn độn dài dài”…

Sau này, khi tôi “phản động” quá, phải được “tập thể giúp đỡ”, đưa đi cải tạo để “học tập” thì còn đói kinh người. Khi nào có dịp, sẽ kể lại những câu chuyện này ở một chỗ khác. Còn ngay bây giờ thì tớ đang đói thật, đến giờ luch rồi !

Đến thế kỷ 21 rồi cũng còn những quốc gia như vậy sao?
Chủ tịch BTT chắc là một con quỷ chứ không phải là con người.
PS: Cái vụ đói sau 30/4 thì em có nghe mẹ em kể lại. Dân miền Nam đói kinh khủng, đói rã rời...

Có đó, chắc bác không coi tấm hình con Kền kền đợi đứa nhỏ (bên châu Phi) chết để ăn thịt. Có điều, châu Phi thì, dân bản xứ cũng như toàn TG đều biết chỗ đó là Địa ngục. Còn bên Bắc Hàn cũng như VN, Tàu hay Cuba, dân lại cho rằng là Thiên đường. Tôi ở miền Bắc, trước năm 75 cũng thương đồng bào miền nam bị đày đọa, bóc lột, kìm kẹp, đói khổ ..., lắm chứ. Với tiêu chuẩn 100g thịt một tháng, tôi nghĩ còn sướng bằng mấy những nơi không được có Đảng CS lãnh đạo. Cô Mi-ran mà còn ở lại trong nước thì vẫn còn cho rằng Nam hàn khổ hơn nhiều.
http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=333&page=2

Những dụng cụ điện tử tối tân đã giúp Biệt kích Nam hàn giải cứu thành công

2011-01-25 10:57

Theo phát ngôn viên chính phủ Nam Hàn : những dụng cụ điện tử tối tân và kế hoạch kỹ lưỡng , đã giúp biệt đội người nhái nam hàn giải cứu con tầu , và đoàn thủy thủ thành công từ tay cướp biển Somalia .

Lực lượng lính tấn công hải quân , đã đổ bộ xuống tầu Sambo Jewelry ( tầu chở hàng 11.500 tấn ) hôm 15 tháng một vùng biển arab , và giải cứu tổng cộng 21 người – Gồm 8 Nam Hàn , 2 Indo , và 11 miến điện (Myanmar ) .


Tám hải tặc bị giết và 5 bị bắt sống , lực lượng tấn công Nam hàn không có ai bị thương , quân biệt kích của Nam Hàn được tung ra từ diệt lôi hạm Choi Yong , tầu này có nhiệm vụ theo dõi bám sát đám hải tặc này .

Hải quân nói : Khi 15 lính biệt kích Nam Hàn , leo lên tầu chở hàng vào lúc tờ mờ sáng , các nhân viên quân sự ở Nam Hàn ( cách đó vài ngàn cây số ) theo dõi từ cử động của họ nhờ vào máy thu hình gắn trên mũ , và súng của các lính biệt kích



Nhân viên hải quân này nói với phóng viên AFP : “ Với những hình ảnh tuyền đi trực tiếp của hệ thống , những nhân viên quân sự ở bộ tổng tham mưu tại Seoul , cũng như các trung tâm quân sự khác ở các nơi trên Nam Hàn theo dõi sát những gì đang xảy ra trên tầu chở hàng “.

Theo phóng viên báo JoongAng Ilbo , thì Hải quân đã xử dụng máy phá sóng radar , cũng như làm rối loạn tần số liên lạc các máy truyền tin của cướp biển .

Phát ngôn viên quân sự nói thêm : Sự rối loạn máy radar khiến cướp biển không có thể khám phá ra trực thăng và tầu cao tốc của lính biệt kích hải quân tiến gần tới tầu chở hàng .


Nhân viên bộ quốc phòng từ chối xác nhận chuyện làm rối loạn sóng radar (the radar jamming ) , nhưng một phát ngôn viên bộ trưởng quốc phòng nói là chiến thắng này hoàn toàn dựa vào các dụng cụ điện tử tối tân .

Để giúp cho lính biệt kích thông thạo đường lối trên con tầu bị cướp . Ban quân sự Nam Hàn chụp hình con tầu tương tự , rồi gởi đến diệt lôi hạm Choi Young có nhiệm vụ theo dõi và gỉai cứu . Dựa vào đó họ tung ra những cuộc đổ bộ giả bằng tầu cũng như bằng trực thăng , để làm đám cướp biển mệt mỏi , cho đến khi lính biệt kích tung ra cuộc đổ bộ lên tầu thật , thì đám hải tặc không còn hơi sức nữa .



Lực lượng của mỹ xử dụng máy bay tiền thám P-3C giúp đỡ lực lượng biệt kích Nam Hàn , bằng cách theo dõi và tìm ra các vị trí của các tên hải tặc trên tầu .

Thủy thủ đoàn không ai bị thương , trừ một người hoa tiêu ( người hướng dẫn đường đi của Tầu chỏ hàng kêu là hoa tiêu ) bị đạn của hải tặc bắn vào bụng , nhưng sinh mạng vẫn được bảo toàn .

Việc thành công này làm tăng tinh thần chiến đấu của quân đội Nam Hàn , sau những sự việc xảy ra trên bán đảo Đại Hàn do quân miền bác hàn bán chìm tầu và bán vào đảo nhỏ của Nam Hàn .

Tổng thống Nam Hàn Lee Myung-Bak là người chấp nhận và ra lệnh tấn công này , cũng được dân chúng và thành phần đối lập chính phủ ca ngợi quyết định này . Bộ trưởng quốc phòng Nam Hàn loan báo sẽ xét xử 5 tên Hải Tặc tại Nam Hàn vào ngày gần đây .


Có hành động tương tự , lính biệt kích Mã Lai cũng tung ra cuộc giải cứu thành công con tầu chở dầu và 23 thủy thủ đoàn của mình tại vịnh Aden .



(AFP)
http://www.koreaherald.com/national/...20110125000399

11/2/11

CSVN ĐÃ NÔ LỆ TRUNG CỘNG TỪ HƠN 80 NĂM TRƯỚC

Trong năm 2010, nhiều bài vở trên báo chí, truyền thanh, truyền hình đã vạch rõ bộ mặt bán nước của Nhà cầm quyền CS, đứng đầu là HCM. Cuốn DVD “Sự thật về HCM” do Lm Nguyễn Hữu Lễ và bạn hữu thực hiện đã đưa những sự kiện lịch sử để dẫn chứng về sự bán nước này, và đã được dư luận khắp nơi ủng hộ. Một số phần tử lưng chừng ở VN, sau khi xem xong cuốn phim này đã thay đổi hẳn thái độ và đứng về phía các nhà Dân chủ mà đấu tranh chống lại nhóm cầm quyền độc tài bán nước CSVN. Ông Nguyễn Văn Văn, một nhà Dân chủ ở Hà Nội, qua cuộc phỏng vấn của đài Little Saigon Radio, thứ năm ngày 22 tháng 7 năm 2010, cho biết: “Từ hơn 30 năm nay, tôi vẫn tin tưởng ở ĐCS, cho mãi đến khi xem cuốn DVD Sự Thật về HCM, tôi mới tỉnh ngộ và bắt đầu chiến đấu chống lại cái đảng bán nước này.”
Tuy nhiên, tất cả những lời tố cáo trên đều do những người ở về phía đối lập với Bắc Bộ Phủ, cho nên cũng chưa được thành công tối đa, vì nhiều người đọc, người xem, và người nghe cho rằng đó là những điều tuyên truyền của những người chống Cộng cực đoan và những thành phần thuộc chế độ cũ. Giờ đây, đọc cuốn hồi ký “Ghi chép về việc đoàn cố vấn quân sự TQ viện trợ VN chống Pháp” do NXB Lịch sử ĐCSTQ, Bắc Kinh ấn hành năm 2002 và được dịch bởi Trần Hữu Nghĩa và Dương Danh Dy, toàn bộ diễn tiến nô lệ Trung Cộng đã được phơi bày một cách rõ ràng. Qua cuốn hồi ký viết bởi những nhân vật cao cấp của Trung ương ĐCSTQ này, người đọc mới hiểu tại sao HCM và thuộc cấp đã không thể nào không cúi đầu trước sự chỉ đạo của Trung Cộng, và không thể nào không dâng đất cho Trung Cộng để trả ơn cứu trợ từ những năm xưa. Điểm đáng nói là cuốn sách được xuất bản đúng thời điểm mà Trung Cộng từng bước thôn tính VN, từ biển Đông, tới Tây Nguyên, và miền cực Bắc VN. Có lẽ đây là một lời cảnh cáo các kẻ cầm quyền VN: “Đừng quên là CSVN đã từng nợ đàn anh TQ từ khi còn Pháp thuộc. Nếu không có đàn anh TQ viện trợ, thì ĐCSVN đã không tồn tại mà tham tham nhũng nhũng, sống huy hoàng phè phỡn như hôm nay.” Và cũng có lẽ đây là một lời trần tình về âm mưu thôn tính VN của CSTQ, nhằm giải thích cho dư luận biết tại sao mà Trung Cộng muốn coi VN như cái sân sau của Trung  Cộng.
Qua cuốn hồi ký này, người đọc mới thấy rõ mối giây liên lạc chặt chẽ giữa hai ĐCS : VN và TQ, đúng như lời mà các đảng viên CSVN vẫn luôn đọc như đọc thần chú: “ VN – TQ, núi liền núi, sông liền sông” và “TQ và VN như môi với răng, môi hở thì răng lạnh”, thêm 16 chữ vàng: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”.
Cũng qua những tác giả của cuốn tư liệu này, như La Quý Ba, Trương Quảng Hoa, Độc Kim Ba, Vu Hóa Thầm, Trần Canh, Như Phụng Nhất, những nhân vật lừng lẫy trong Trung ương ĐCSTQ, người ta biết nhiều mốc quan trọng :
- Năm 1924, HCM từ Moscow đến Quảng Châu, học tập lý luận Mác Lê.
- Năm 1930, HCM thành lập đảng CS Đông Dương tại Hồng Kông.
- Năm 1938, HCM đến Diên An, tăng cường quan hệ hợp tác giữa hai nước.
Sau đó, mối quan hệ song phương càng ngày được phát triển. Tháng 10 năm 1940 HCM đến Quế Lâm, và 1941 sát nhập VN Độc Lập Đồng Minh Hội của Cụ Hồ Học Lãm (đã có từ 1935) với VN Cách Mệnh Đồng Chí Hội của Trương Bội Công – Nguyễn Hải Thần thành Mặt trận VN Độc Lập Đồng Minh. Trên danh nghĩa thì Mặt trận VN Độc Lập Đồng Minh, gọi tắt là Việt Minh, được hoàn toàn “độc lập” theo như tinh thần của bản tuyên ngôn, nhưng thực tế vẫn Độc Lập dưới sự chỉ đạo của Trung Cộng!
Tháng 1 năm 1950, HCM đóng giả vai người già bị  thương, đầu quấn khăn mặt, tay chống gậy, sang cầu viện Tàu Cộng. Trần Đăng Ninh, một cán bộ lão thành trong đảng CS hộ tống và đôi khi cõng HCM sang qua cửa Thủy Khẩu thuộc Long Châu, Quảng Tây. Sau đó, HCM mới được đưa sang diện kiến Trung ương ĐCSTQ. Lưu Thiếu Kỳ tiếp HCM tại Trung Nam Hải. Phía Trung Cộng có Chu Đức, Đồng Tất Vũ, Lưu Bá Thừa, Nhiếp Vinh Trần, Lý Duy Hán. Phía Việt Minh có Trần Đăng Ninh, Hoàng Văn Hoan. Sau mấy buổi họp đầu tiên không mấy thành công, HCM muốn đi Liên Xô cầu viện. Vì cũng chưa sẵn sàng yểm trợ cho HCM, nên Lưu Thiếu Kỳ báo cáo với Mao Trạch Đông về việc này, và dàn xếp cho HCM đi theo Mao Trạch Đông đến Liên Xô. Chuyến đi thất bại. Stalin không chịu viện trợ cho HCM chống Pháp, mặc dù Mao Trạch Đông giới thiệu và năn nỉ, vì trong suốt chuyến đi, HCM đã biểu diễn thành công màn kịch là một tay đàn em khả tín, biết quỵ lụy và vâng phục. Vì thế, khi về đến Trung Nam Hải, Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ quyết định giúp HCM bằng một phái đoàn Cố Vấn tối cao do Vi Quốc Thanh, nguyên Phó Tư Lệnh Lực Lượng Công An Trung Cộng làm trưởng đoàn qua VN. Nhóm Cố Vấn này được HCM ra lệnh cho toàn thể đảng viên gọi là “Các đồng chí Cố Vấn Vĩ Đại TQ.”
Đồng thời với việc gửi đoàn Cố Vấn Vĩ Đại sang VN mở đầu chiến dịch giúp HCM, Trung Cộng viện trợ 150,000 khẩu súng, hơn 3,000 khẩu pháo, và đạn dược, xe cộ, quần áo, lương thực, đồ dùng hàng ngày như bát ăn cơm tráng men, khăn bông. (Trích bài viết của Trương  Quảng Hoa, một Cố Vấn Vĩ Đại của HCM).
Ngày 2-9-1945, Nước VN Dân chủ Cộng Hòa được thành lập nhưng không được nước nào công nhận, trừ Trung Cộng. Staline mới đầu từ chối không công nhận cho đến khi Trung Cộng công nhận rồi, mới chịu thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Minh.
Thực hiện tích cực việc yểm trợ cho CSVN, Trung Cộng đã chỉ đạo, giúp đỡ vũ khí, lương thực, Cố vấn, chiến lược cho Việt Minh đánh Pháp. Mở đầu là Chiến dịch Biên giới đánh Đông Khê (Thất Khê, Cao Bằng) năm 1950. Các trận đánh này đều do các Cố Vấn Trần Canh, Nhiệm Cùng, Vân Dật, Thiên Hựu, Quí Ba, Kiếm Anh, Phương Phương, Quốc Thanh định đoạt. (Trích thư của HCM gửi đảng CS TQ ngày 14-10-1950).  
Từ đó, các thắng lợi khác với quân Pháp cũng đều do Cố vấn TQ chỉ đạo. Những cố vấn này lại nhận chỉ thị trực tiếp của Lưu Thiếu Kỳ vì Mao Trạch Đông giao cho Lưu Thiếu Kỳ trách nhiệm điều khiển Việt Minh.
Chiến dịch viện trợ vĩ đại nhất mà Trung Cộng giúp Việt Cộng là trận Điện Biên Phủ. Thắng lợi có tính quyết định là do Cố vấn Vi Quốc Thanh chỉ huy. Trước trận chiến quyết định này, có một số trận đánh khác nhằm để tiêu hao lực lượng quân Pháp. Từ ngày 20 tháng 01 năm 1954, các chiến lược tấn công từ Tây Bắc xuống đến phía Nam như Kontum, Pleiku, Tây Nguyên, Phú Yên… đều do Vi Quốc Thanh hoạch định. Võ Nguyên Giáp chỉ biết thi hành theo chiến thuật. Sau khi thắng lợi được vài trận, Vi Quốc Thanh quyết định nhận lời đánh Điện Biên Phủ theo lời năn nỉ của Võ Nguyên Giáp. Mới đầu, vì quân Pháp không nắm vững được tin tức về sự chỉ huy của Vi Quốc Thanh, nên còn gửi thư thách thức Việt Minh. De Castries, tư lệnh quân Pháp ở Điện Biên Phủ, viết thư cho Võ Nguyên Giáp :
“Tôi biết bộ đội của ông đã bao vây Điện Biên Phủ, nhưng vì sao không tấn công? Tôi đã kiên nhẫn chờ đợi. Nếu ông có gan dám mở tấn công, thì xin bắt đầu đi. Tôi đang chờ đón những thách thức của ông, quyết một phen thắng bại với ông”.
Thư được trình lên Vi Quốc Thanh, hắn cười nói :
“Lão De Catries này ngông cuồng lắm! Hãy đợi đấy! Đến lúc chiến dịch mở màn, là lúc hắn khóc.”
Người phiên dịch báo cáo :
“De Castries là một danh tướng của Lục quân Pháp là cấp dưới cũ của Navarre , đã qua trường Quân sự, là học viên ưu tú. Hắn vốn quân hàm Đại Tá, gần đây vừa được phong Thiếu Tướng.”
Vi Quốc Thanh nói :
“Thế thì hãy để xem chúng ta học được cái gì ở học viên ưu tú này, xem họ có tài chỉ huy đến đâu!”
Và thế là mọi kế hoạch tấn công Điện Biên Phủ đều do Vi Quốc Thanh chỉ đạo. Từ HCM đến Võ Nguyên Giáp đều im re, nghe lệnh của Vi Quốc Thanh.
Sau khi thắng trận, Hồ chí Minh mở tiệc chiêu đãi Vi Quốc Thanh, và ôm hôn tay Đại Cố Vấn này. HCM còn làm một bài thơ chữ Hán tặng Vi Quốc Thanh :
Bách Lý tầm xuân vi ngộ quân
Mã đề đạp toái lĩnh đầu văn
Quy lai ngẫu quá sơn mai thụ
Nhất phiến hoàng hoa nhất điểm xuân
(Trăm dặm tìm bạn không gặp, vó ngựa dẫm nát mây đỉnh núi, Quay về tình cờ gặp cây mai rừng, mỗi đóa hoa vàng một điểm xuân). (Tài liệu của đại cố vấn Vương Chấn Hoa tức Vu Hóa Thầm).
Từ đó, cho đến 30-4-1975, nhất cử nhất động đều do Đại Cố Vấn TQ chỉ huy và yểm trợ. Ngoài việc viện trợ súng đạn và lương thực, Trung Cộng còn cung cấp nhân sự. Các binh lính Trung Cộng đều trá hình làm lính hậu cần.
Trong thời gian giúp cho Việt Cộng thành công việc cưỡng chiếm miền Nam, Trung Cộng đã để lộ dã tâm muốn đòi nợ chiến tranh bằng lãnh thổ. Khi Nixon dội bom Bắc Việt, Trung Cộng cho thiết lập giàn rada phòng không từ bên trong đất Bắc VN. Sau khi chiến tranh chấm dứt, Trung Cộng không rút về, mà biến thành đất của TQ luôn. Dàn phòng không này, hiện nay, được biến cải thành pháo đài vừa phòng không vừa có thể phóng hỏa tiễn tấn công, lại được dùng để khống chế Việt Cộng. Bộ Chính Trị CSVN tuy biết là Trung Cộng xâm lăng một cách âm thầm, nhưng vì nợ ơn nhiều quá, nên phải im lặng, vả lại cũng biết rằng, nếu chỉ một câu nói gây bất bình cho các đại cố vấn, thì tình hình nguy ngập liền.
Trận chiến năm 1979 xảy ra không phải vì Việt Cộng muốn đấu lại “cha đỡ đầu” (God Father) Trung Cộng mà vì Trung Cộng bực tên đàn em đã xua quân qua chiếm Campuchia mà không xin phép đàn anh, nên mới “dạy cho VN một bài học”. Sau trận này, Việt Cộng khiếp hãi, không bao giờ dám làm mất lòng đàn anh nữa.
Hiện nay, dọc biên giới phía Bắc VN, Trung Cộng chiếm hết các đỉnh cao để đặt rada, thêm vài ngàn cây số vuông cưỡng chiếm bằng cách dời cột mốc, cộng với tất cả các rừng đầu nguồn, dưới danh nghĩa là “cho thuê miễn phí 50 năm” tại 18 tỉnh đã lên đến 300 ngàn hecta rồi. Tại cửa “khẩu”, hàng hóa Tàu và hàng giả mạo quốc tế tự do tràn vào VN không thể kiểm soát nổi, không đóng thuế. Công An Việt Cộng đứng hút thuốc lá Tàu, nhìn dân “cửu vạn” Việt khiêng hàng Tàu vào ào ạt và đành chấp nhận cho những hàng dỏm, hàng Tàu này giết chết hết hàng nội địa VN.
Đau đớn và ô nhục nhất là ngày 14-9-1958, Việt Cộng đã dâng cho Trung Cộng 2 quần đảo Hoàng Sa (hơn 10 đảo) và Trường Sa (hơn 100 đảo, hiện nay VC lật lọng đang gắng chiếm giữ hơn 10 đảo) trong khi lính chế độ Sài Gòn đang canh giữ, bằng một công hàm bán nước do Thủ tướng Phạm Văn Đồng VC ký, theo lệnh của HCM !!!
Tại Tây Nguyên, Trung Cộng vừa khai thác Boxit, vừa thiết lập hệ thống phòng không thứ hai, và đặt máy trinh thám, theo dõi các hoạt động của Bộ Chính Trị và quân đội. Đặt bảng chỉ dẫn bằng tiếng Tàu, cấm người Việt vào. Chung quanh các khu vực Trung Cộng khai thác này, người dân Việt phải tuân theo luật lệ của lính Tàu, nếu không muốn bị bắt, đánh đòn, và nộp tiền chuộc mạng. Lính Tàu đội lốt công nhân, bắt cóc gái Việt, cưỡng bức lấy chúng, hoặc cưỡng hiếp. Những đứa trẻ sinh ra bởi các cuộc hôn nhân cưỡng hiếp này được khai sinh dưới tên Tàu. Dần dần chúng biến dân Việt thành dân Tàu qua thẻ CMND, được hưởng quyền lợi đặc biệt hơn dân Việt. Nếu dân làng phản đối, lính Tàu có thể tung hàng trăm người tràn vào làng, dùng gậy phá nhà, đánh đập dân chúng trong khi Ủy Ban Nhân Dân và công an Việt Cộng bỏ chạy. Nhiều nhà nghiên cứu cho biết, thực ra, Trung Cộng cũng cần có bôxít để làm nhôm, nhưng mục tiêu chiếm lĩnh VN quan trọng hơn nhiều. Do đó, cho đến nay, tháng 7 năm 2010, vẫn chưa thấy ký lô nhôm nào xuất xưởng.
Trung Cộng cũng “trúng thầu” khai thác con đường xuyên Bắc Nam, đi dọc theo những tỉnh thành quan trọng. Bên cạnh con đường đó là tất cả các dịch vụ phục vụ cho văn hóa Tàu. Ngoài biển Đông, Trung Cộng khống chế vùng biển, dành quyền khai thác thủy sản, bắt ngư dân Việt phải theo luật lệ của chúng, nếu không, sẽ bị bắt, bị đánh, bị giết, bị tịch thu tàu và các phương tiện đánh cá, ngoài ra, phải nộp tiền chuộc mạng.
Nhìn chung, VN ngày nay là cái sân sau của Trung Cộng. Những tên Thái Thú Trung Cộng này văn minh hơn xưa, không bắt dâng nộp gái tơ, ngà voi, tê giác, ngọc trai như xưa, nhưng tha hồ mua gái Việt với giá rẻ như bèo, hưởng thụ tài nguyên và nhân lực VN không tốn một viên đạn. ĐCSVN hiện nay, luôn rêu rao là đang thực hiện đúng đắn những phương châm lãnh đạo đất nước là “Đảng lãnh đạo, Nhà Nước quản lý, Nhân Dân làm Chủ”.  Họ chỉ dấu đi hai chữ “Trung Cộng” sau những nhóm chữ đó. Nhóm chữ này, nếu viết đầy đủ, sẽ là : “Đảng CSTQ lãnh đạo, Nhà Nước VN quản lý, Nhân Dân TQ làm chủ kinh tế, lãnh thổ và nhân sự VN”. @@@
Chu Tất Tiến – 7-2010
@   ?
CAO TRÀO DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN ĐA ĐẢNG VIỆT NAM
& CAO TRÀO TOÀN DÂN VIỆT NAM CHỐNG GIẶC TÀU
Kính mời toàn thể Đồng bào Việt Nam,
nhất là giới trẻ, sinh viên, học sinh :
Mỗi người một dụng cụ viết :
ống sơn, viên phấn, cây bút, que than,
múi trái cau tươi*, cành cây có mủ*,…
(*lúc viết chữ mờ, lát sau lộ rõ)
để viết lên mặt đường, cột đèn, thành cầu,
ga tàu xe, khu vực chợ, vách trụ sở, cổng cơ quan,
bất cứ chỗ nào có thể viết được 3 từ :
Dân Là Chủ
để đòi Dân Chủ thật sự văn minh bằng mô hình
Dân Chủ Đa Nguyên Đa Đảng cho Tổ quốc Việt Nam.
Ÿ Và viết 3 từ hoặc 3 cụm từ :
Chống Giặc Tàu
HS.TS.VN hoặc Hoàng Sa-Trường Sa-Việt Nam
để báo động quốc nạn
Giặc Tàu Cộng cưỡng chiếm Việt Nam,
bằng nhiều thủ đoạn tinh vi ngày càng lộ liễu,
làm Dân tộc Việt Nam :
mất văn hóa, mất đất, mất rừng,
mất biển, mất đảo, mất việc, mất Nước.
Kính mời Đồng bào hưởng ứng và tiếp tay.
Chúc đồng tâm-hiệp lực và thành công.
Xin cảm ơn.
Cao trào Dân Chủ Đa Nguyên Đa Đảng Việt Nam.
Và Cao trào Toàn Dân Việt Nam Chống Giặc Tàu.

Bốn phe phái trong nền chính trị Việt Nam

Việt Nam

Nền chính trị Việt Nam có những phe phái chính nào? Điều gì là đặc trưng cho những động lực của nền chính trị ấy? Nó sẽ như thế nào trong vài năm tới? Bài viết này cố gắng trả lời các câu hỏi trên. Bài đưa ra ý sau đây: Nền chính trị Việt Nam có thể được hình dung như một trò chơi giữa bốn phe phái chính. Nếu chính phủ được định nghĩa là nơi tập trung quyền lực chính trị của một nước, thì Chính phủ Việt Nam trước hết được hiểu là chế độ của phe bảo thủ, phe hiện đại, phe trục lợi và Trung Quốc. Mỗi phe là một khối các nhân vật khác nhau có chung khuynh hướng hay mục tiêu chiến lược cao nhất.
Sự khác biệt của ba khối cùng là người Việt này cần được giải thích sâu hơn. Tiêu chí để xếp ai đó vào một khối là sự ưu tiên hay khuynh hướng của người ấy trước một số vấn đề cơ bản như ý thức hệ (đất nước nên mở hay đóng cửa trước các tư tưởng tự do từ phương Tây) và quan hệ của Đảng Cộng sản (ĐCS) với dân tộc (Đảng ở cao hơn hay thấp hơn dân tộc). Phe bảo thủ là một khối thiên về lựa chọn chính sách “khép cửa” và “Đảng là số 1”; phe cấp tiến chọn lựa chính sách mở cửa và vì tiền đồ của toàn dân tộc; phe trục lợi hướng đến bất kỳ cái gì mang lại cho họ nhiều lợi ích nhất.
Trong các bài diễn văn, giới lãnh đạo thường sử dụng ngôn từ hàng ngày, tuy nhiên cách họ nhấn mạnh những điểm nào đó sẽ bộc lộ lập trường của họ. Một nhân vật bảo thủ như nguyên Tổng Bí thư Đảng Lê Khả Phiêu có thể nhấn mạnh các ý “dân chủ trong nội bộ đảng”, “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” và Việt Nam như “một quốc gia hiện đại”, một “đối tác hữu nghị đáng tin cậy với những nước khác”. Nhưng cách nhấn mạnh của ông Phiêu là dựa trên bản chất giai cấp, tương phản với bản chất của toàn dân tộc, nó vì những lợi ích cốt lõi của đảng, duy trì đặc tính “xã hội chủ nghĩa” của đất nước, và mâu thuẫn với phương Tây “tư bản và đế quốc. Hiện đại hoá, cải cách, dân chủ và hội nhập quốc tế, nếu được thực thi, chỉ là phương tiện để đi tới một mục đích cao hơn, và nếu cần, có thể hy sinh những phương tiện này. Mục đích cao hơn ấy là sự tiếp tục chế độ cộng sản (1).
Một người thuộc phe cấp tiến, như cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, có thể cam kết duy trì “vai trò lãnh đạo của đảng” và xây dựng “chủ nghĩa xã hội” nhưng tầm nhìn của ông về đảng và chủ nghĩa xã hội hoàn toàn khác những người bảo thủ. Ông Kiệt và những nhân vật cấp tiến khác trong ĐCS muốn một đảng coi lợi ích của toàn dân tộc là lợi ích của chính nó và định nghĩa xã hội chủ nghĩa là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Chủ nghĩa yêu nước, chứ không phải chủ nghĩa Mác-Lênin, là lý tưởng ràng buộc và dẫn đường cho phe cấp tiến. Trong khi phe bảo thủ như các tổng bí thư Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh đều quả quyết rằng “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” (nghĩa là biệt lập khỏi những ảnh hưởng tự do, ảnh hưởng phương Tây, đồng thời duy trì các đặc trưng cộng sản và sự cai trị của cộng sản) là những nguyên tắc cơ bản của chính sách Việt Nam. ông Kiệt trong một lá thư mật gửi tới Bộ Chính trị ĐCS vào tháng 08/1995 đã thay thế những cụm từ ấy bằng “dân tộc và dân chủ” (2). Mặc dù những nhân vật tinh hoa theo phe cấp tiến không thể tán thành dân chủ đa đảng vì đây là điều cấm kỵ, nhưng phe này ủng hộ cải tổ chính trị nhiều hơn, sâu hơn nhằm mở rộng dân chủ và tăng cường tính hiệu quả.
Phe trục lợi là những nhà cơ hội, tìm kiếm lợi ích tối đa thường có được nhờ những đặc quyền do chính phủ ban cho; không quan tâm tới khái niệm lợi ích dân tộc dù là theo định nghĩa của phe bảo thủ hay phe hiện đại. Như phần sau sẽ chỉ ra, phe trục lợi ở Việt Nam là một nhóm đặc biệt gồm những người mưu tìm lợi nhuận, và họ mạnh hơn phe hiện đại cũng như phe bảo thủ nhờ có một thế lực độc quyền hậu thuẫn.
Cả ba khối này – bảo thủ, hiện đại và trục lợi – đều hiện diện ở cả trong và ngoài đảng cầm quyền và chính phủ. Họ hiện diện ở mọi cấp bậc hoạch định chính sách. Những con đường sai lầm mà họ chọn trải dài qua nhiều thế hệ, khu vực và định chế. Phần lớn các nhà lãnh đạo Việt Nam thường giữ lập trường ít nhiều thống nhất trong một khối. Nhưng cũng có một số người chuyển từ phe này sang phe khác và những người khác thì khó nhận biết hơn. Những nhân vật bảo thủ nổi bật gồm các Tổng Bí thư Đỗ Mười (1991-97), Lê Khả Phiêu (1997-2001), Nông Đức Mạnh (2001 đến nay), và nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh (1992-1997). Phe cấp tiến hiện diện mạnh mẽ hơn trong đội ngũ lãnh đạo cao cấp thông qua các gương mặt như cố Bộ trưởng Ngoại giao Nguyên Cơ Thạch (1982-1991), cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (1991-1997) và nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An (2001-2006), và các nhân vật ít tạo dấu ấn hơn như cựu Chủ tịch nước Võ Chí Công (1987-1992) và nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải (1997-2006). Nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương (1997-2006) có thể coi là thuộc phe trục lợi. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (1986-1991) đã thay đổi, chuyển từ phe hiện đại sang phe bảo thủ vào năm 1989. Và Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (2006 đến nay) là người khó nhận biết là theo phe nào.
Chính trị Việt Nam diễn ra trên bốn bình diện lớn – kinh tế, chính trị trong nước, quan hệ nhà nước-xã hội, và quan hệ đối ngoại. Động lực (tức yếu tố kích thích sự thay đổi – ND) của nó trong mỗi lĩnh vực ấy đều có một đặc trưng riêng biệt. Trên mặt trận kinh tế, động lực ấy là sự khủng hoảng của mô hình phát triển kiểu Việt Nam. Ở trung tâm của nền chính trị trong nước, động lực ấy là một hợp lưu giữa ba dòng: tiền, quyền và tác động từ thế giới, hoặc nói một cách tao nhã hơn, đó là ba dòng lợi ích, quyền lực và tiền đồ bên ngoài. Sự nổi lên của xã hội dân sự, đặc biệt là khối dân sự tinh hoa dòng chính thống, ngày càng tạo nên một xu thế trong quan hệ nhà nước-xã hội. Trong lĩnh vực địa chính trị, tâm điểm của chính trị Việt Nam nằm ở những nỗ lực hòng đạt được sự tự lực tự cường trên vùng sân sau của Trung Quốc.
Năm 2009 đã ghi nhanh tình hình chính trị Việt Nam với bốn phe chính và những đặc điểm của các động lực trong nền chính trị ấy. Phần thảo luận tiếp sau đây sẽ phác thảo nên một số nét của chính trị Việt Nam thông qua việc xem xét bốn phe phái chính cùng bốn đặc điểm, được minh họa bằng những sự kiện và quá trình trong suốt năm 2009.
Nơi hội tụ của Lợi ích, Quyền lực, và Tiền đồ
Từ khi khởi động phong trào đổi mới vào năm 1986, Việt Nam đã thể nghiệm một sự pha trộn chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản. Thử nghiệm này là một cuộc chung đụng đầy mâu thuẫn giữa hai đường lối chủ đạo do hai khối theo đuổi, hai khối này có thể gọi là “phe bảo thủ” và “phe cấp tiến”. Tôi gọi họ như thế bởi lẽ mục tiêu trọng tâm của phe bảo thủ là duy trì chế độ cộng sản trong khi mục tiêu của phe cấp tiến là hiện đại hóa đất nước bằng cách đưa vào các yếu tố tư bản và tự do chủ nghĩa (3). Mặc dù có một thực tế là hai khối này đại diện cho hai đường lối chủ đạo cùng cai trị đất nước, nhưng nền chính trị Việt Nam không phải chỉ gồm hai phe bảo thủ và hiện đại. Quá trình “chung đụng” đã tạo ra một khối thứ ba, tận dụng cái hỗn hợp nói trên và có khả năng thích ứng cao với môi trường “nước lợ”. Khối thứ ba nỗ lực duy trì hỗn hợp tư bản-cộng sản chủ nghĩa để hậu thuẫn cho đường lối của họ. Vì chủ nghĩa tư bản đem đến cơ hội kiếm tiền, còn chủ nghĩa cộng sản mang lại độc quyền quyền lực, nên hỗn hợp của cả hai sẽ tạo điều kiện vừa có lợi cho việc dùng tiền để mua quyền, vừa có lợi cho việc dùng quyền để kiếm tiền. Khối thứ ba này, có thể được gọi bằng cái tên “phe trục lợi”, dùng tiền để thao túng nền chính trị, và một khi đã có cửa vào vị trí quyền lực trong ĐCS, họ sẽ sử dụng độc quyền về chính trị để tạo siêu lợi nhuận (4). Không giống như phe bảo thủ và phe cấp tiến, phe trục lợi không theo chủ trương đường lối nào; họ chỉ đi theo động cơ lợi nhuận.
Khi sự đồng tồn tại chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản trở thành đặc trưng của nền chính trị Việt Nam, thì bằng trực giác, có thể nghĩ rằng hầu hết xung đột chính trị ở Việt Nam đều diễn ra dọc cái trục bảo thủ chống cấp tiến. Tuy nhiên, mô hình như vậy không chính xác. Không chính xác bởi vì nó đã bỏ qua phe trục lợi, mà trong nhiều trường hợp đó mới là những nhân vật chủ chốt. Hơn nữa, mô hình trên chỉ coi đám ấy như những kẻ mưu kiếm tiền – những người mà theo suy luận thông thường, hẳn phải thích chủ nghĩa tư bản hơn chủ nghĩa cộng sản. Và nếu thế thì trong mô hình này, phe trục lợi có xu hướng ngả về phía phe cấp tiến hơn là ngả về phe bảo thủ. Tuy vậy, trên thực tế, các nhân vật thuộc phái trục lợi ở Việt Nam có xu hướng đi cùng phe bảo thủ khi nào cần tiếp tục độc quyền lãnh đạo của ĐCS, và đi cùng phe hiện đại khi nào cần cho phép các đảng viên sở hữu những tài sản lớn và điều hành công ty tư bản. Phe trục lợi là một loài chuyên sống ở “vùng nước lợ” – chủ nghĩa trọng thương dưới chế độ cộng sản. Được độc quyền lãnh đạo của ĐCS hậu thuẫn, họ rõ ràng mạnh hơn hẳn những người chỉ mưu kiếm tiền thuần túy. Với sự tồn tại của phe thứ ba này, nền chính trị Việt Nam, ở một chừng mực nào đó, là sự tranh chấp giữa phe bảo thủ và phe hiện đại. Nhưng ở một chừng mực khác lại là ngã ba hợp lưu ba dòng lợi ích, quyền lực, và tiền đồ (5).
Năm 2009 chứng kiến hợp lưu ba dòng lợi ích, quyền lực, và tiền đồ qua một vài vụ việc, trong đó hai vụ có thể nói là rất nổi bật. Vào ngày 19/11, Tòa phúc thẩm tỉnh Cần Thơ tuyên y án sơ thẩm hồi tháng 8 đối với bị cáo Trần Ngọc Sương – được biết đến với tên gọi “bà Ba Sương” – vì tội lập quỹ giao dịch ngoài sổ sách. Là cựu giám đốc Nông trường quốc doanh Sông Hậu, từng được Chính phủ trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, bà Sương bị kết án 8 năm tù, buộc bồi thường 4,3 tỷ đồng (tương đương 240.500 USD). Bản án gây phẫn nộ trong dư luận, vài quan chức cấp cao và nhân vật có danh phận lên tiếng ủng hộ bà Sương. Nguyên phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, một nhà bảo thủ, nói bản án đối với bà Sương là “bất công” bởi bà Sương đã “cống hiến cả đời mình cho cuộc sống của hàng nghìn nông dân” và bà “lập quỹ không vì mưu lợi cá nhân”, một chân dung từng được những tờ báo có tư tưởng đổi mới dựng nên và còn được xác nhận bởi nhà báo Huy Đức, người đã viết bài về Nông trường Sông Hậu và bà Sương trong nhiều năm. Báo chí cũng viết rằng Nông trường Sông Hậu được Chính phủ tặng hai Huân chương Lao động và coi như một điển hình của chủ nghĩa xã hội – nơi nhà nước giữ quyền sử dụng đất nhưng cung cấp phúc lợi tương đối tốt.
Mặc dù cơn thịnh nộ của công chúng được khuấy lên chủ yếu do khía cạnh đạo đức của vụ việc, nhưng người ta cũng hy vọng rằng chính quyền xã hội chủ nghĩa sẽ can thiệp để cứu lấy một vị anh hùng trong sự nghiệp của chế độ. Nhưng chính quyền đã không làm thế. Trên thực tế, đại diện của bà Sương tại tòa án là những luật sư có tư duy đổi mới và sự ủng hộ của công chúng dành cho bà cũng do cánh báo chí đổi mới huy động. Còn chính quyền đã làm gì? Tòa án nhận chỉ thị từ lãnh đạo đảng ủy Cần Thơ, và sau vài tuần đưa tin ồ ạt, giới truyền thông được lệnh phải chấm dứt nói về vụ án bà Sương. Trước đó, trong hậu trường, cơ quan chính quyền tỉnh Cần Thơ vốn đã có quyết định phân bổ đất của Nông trường Sông Hậu cho một dự án khu công nghiệp và khu đô thị. Phó Bí thư tỉnh ủy Cần Thơ Phạm Thành Vận được ghi âm đã nói câu này với bà Sương: “Chị sẽ về hưu và hạ cánh an toàn nếu chị trả lại đất của nông trường [cho thành phố]” (6).
Vụ việc thứ hai liên quan đến Jetstar Pacific Airline (JPA), một liên doanh giữa Công ty Đầu tư Vốn Nhà nước (SCIC) với hãng hàng không Qantas của Australia, trong đó doanh nghiệp nhà nước (DNNN) phía Việt Nam sở hữu 70% cổ phần, chiếm đa số. Cuối năm 2009, tranh cãi bùng nổ sau khi một cuộc điều tra của Cơ quan Kiểm toán Nhà nước cho thấy các giám đốc điều hành của JPA gây thua lỗ tới 31 triệu USD trong một thương vụ mua xăng, thế nhưng họ lại có mức lương cao hơn giám đốc điều hành của các DNNN tương tự. Tranh cãi cũng kéo theo một số nghi vấn về mức lương cao bất thường của các giám đốc điều hành SCIC. Đầu tháng 12, ông Lương Hoài Nam, nguyên giám đốc điều hành JPA kiêm quan chức cấp cao của SCIC, bị công an bắt vì có dính líu vào thương vụ mua xăng, trong khi hai giám đốc điều hành người Úc của JPA bị cấm xuất cảnh khỏi Việt Nam.
Tiền thân của JPA là Pacific Airlines (PA), một liên doanh trong nước, trong đó hãng vận tải quốc doanh Vietnam Airlines (VNA) nắm phần lớn cổ phần. Được thành lập năm 1990, PA là hiện thân cho nỗ lực của phe hiện đại muốn tạo ra một mức độ cạnh tranh nhất định trong ngành hàng không của Việt Nam. Tuy nhiên, duy trì yếu tố cạnh tranh này tỏ ra là một việc khó. Sau 10 năm hoạt động, PA công bố lỗ chồng chất tới hơn 10 triệu USD (7). Mặc dù là công ty con của VNA, song có tin PA không được công ty mẹ chào đón lắm.
Vị thế độc quyền của hãng vận tải quốc doanh này trở thành một thực tế khó nhằn đối với công ty kế nhiệm PA. Có thể thấy hợp lưu ba dòng lợi ích, quyền lực và tiền đồ trong vụ này, theo một bài báo trên tờ Herald Sun: [Vào giữa năm 2009]. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng buộc phải can thiệp khi nguồn cung xăng máy bay bị cắt đứt do Vietnam Airlines không cho đội xe của mình tiếp tế nhiên liệu cho Jetstar Pacific. Loạt rắc rối mới nhất với Jetstar Pacific bắt đầu tháng 7 năm đó khi công ty báo cáo tháng đầu tiên có lợi nhuận sau suốt 18 năm vận hành (mà hồi ban đầu là dưới tên gọi Pacific Airlines). Khi ấy, Bộ Giao thông Vận tải liền ra lệnh cho Qantas bỏ tên Jetstar và bỏ thương hiệu màu cam nổi bật khỏi hạm đội 6 chiếc Jetstar, họ bảo như thế “Úc quá” (8).
Nhà quan sát kỳ cựu Carlyle Thayer phân tích:
Vấn đề nảy sinh từ sự thành công của Jetstar Pacific vào giữa năm 2009, khi hãng này lại làm ăn có lãi sau khi đã cắt giảm chi phí và tăng thị phần (18% lên 25%) làm Vietnam Airlines phải thua thiệt. Hoạt động đẩy mạnh một cách quyết liệt việc bán vé giá rẻ của Jetstar Pacific đã làm người ta khó chịu. Tôi nhìn thấy một sự tương đồng với vụ ANB-AMBRO năm 2006 khi một ngân hàng quốc doanh để thua lỗ trong những vụ đổi tiền. Ở đây, trong vụ Jetstar Pacific thì Tổng Công ty Đầu tư Vốn Nhà nước thua lỗ vì một thương vụ thực hiện phòng ngừa rủi ro về xăng dầu (fuel hedging). Trong cả hai vụ việc, an ninh điều tra/công an đã hình sự hóa hoạt động quản trị kinh doanh và hình sự hóa việc ra những quyết định sai lầm. Người Hà Lan đã trả vài triệu để thoát trách nhiệm (trong vụ ANB-AMBRO). Và tôi hồ nghi việc Qantas/Jetstar sẽ phải chi một khoản phạt hay bồi thường nào đó. Do vậy SCIC, một doanh nghiệp nhà nước, sẽ không được miễn thuế… Rõ ràng là có một nhóm lợi ích thuộc doanh nghiệp nhà nước trong công việc. Đây là chuyện phải lấy được tiền ra khỏi Qantas khi các nhân viên trong nước của họ tiến hành nghiệp vụ hedging và thua lỗ vì giá xăng. Điều này ảnh hưởng tới Tổng Công ty Đầu tư Vốn Nhà nước, vốn là cổ đông chính trong Jetstar (9).
Khủng hoảng mô hình tăng trưởng
Trong hai thập niên qua, hợp lưu ba dòng lợi ích, quyền lực, và tiền đồ, ở một nước Việt Nam thời kỳ đổi mới đã tạo ra một đường lối kinh tế làm lợi nhiều nhất cho phe trục lợi. Trong giai đoạn đầu của nó, con đường do đồng tiền dẫn dắt này đi song song với con đường do lao động dẫn dắt, và đã trình diễn những mô hình tăng trưởng đáng chú ý. Vào năm 2005, ấn tượng trước các thành tựu tăng trưởng của Việt Nam trong thập niên trước đó, Goldman Sachs đã coi Việt Nam là một trong “11 Quốc Gia Kế Tiếp” có tiềm năng tạo được ảnh hưởng giống như khối BRIC trong việc cạnh tranh với G7 (10). Nghiên cứu của Goldman Sachs cho rằng vào năm 2025 Việt Nam có thể trở thành nền kinh tế lớn thứ 17 trên thế giới và vào năm 2050 thì đứng vị trí thứ 15. Những dự báo này dựa trên tiền đề “các nền kinh tế đó có thể tiếp tục đi con đường hiện tại của họ” (11). Nhưng chẳng bao lâu sau khi các báo cáo được công bố, mô hình tăng trưởng của Việt Nam đã bộc lộ nhiều dấu hiệu cho thấy các vấn đề nghiêm trọng. Suốt trong năm 2008, tỷ lệ lạm phát tăng vọt lên mức hơn 20%, buộc chính phủ phải hãm phanh đối với chính sách ưu tiên tăng trưởng và đổi số sang chương trình chống lạm phát. Rất tương ứng với dự đoán của chúng tôi trong bài này, các bong bóng vỡ tung khi cơn sốt đầu tư tiếp nối việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và va đập với các nút cổ chai của hệ thống hành chính, các thiết chế, cơ sở hạ tầng, và giáo dục của đất nước (12). Nổi bật hơn tất cả là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, bắt đầu cùng vào năm ấy.
Là một nền kinh tế mà giá trị ngoại thương nhiều hơn tổng sản phẩm quốc nội xấp xỉ 1,5 lần, Việt Nam bị ảnh hưởng rất nặng từ cuộc khủng hoảng toàn cầu. Đầu tư nước ngoài sa sút mạnh và thị trường nước ngoài cho sản phẩm của Việt Nam bị thu nhỏ. Khối lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được cấp phép trong năm 2009 là 21,5 tỷ USD, thấp hơn 70% so với năm trước đó. Lượng FDI được giải ngân trong năm 2009 ước đạt 10 tỷ USD, giảm 13% so với năm 2008. Xuất khẩu của Việt Nam năm 2009 ước tính đã sụt giảm 9,7% xuống còn 56,6 tỷ USD, trong khi nhập khẩu giảm 14,7% xuống còn 68,8 tỷ USD. Phần đáng kể trong mức suy giảm xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2009 là do những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của đất nước bị giảm giá bán, như dầu, gạo, cà phê, than. Kim ngạch xuất khẩu dầu thô của Việt Nam, vốn chiếm 11% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, ước tính đã giảm 40% mặc dù khối lượng xuất khẩu chỉ giảm có 2,4%. Năm 2009, Việt Nam ghi nhận kỷ lục về xuất khẩu gạo và một mức tăng trưởng 25,4% cả năm về khối lượng, nhưng giá trị, chiếm 4,8% trong tổng xuất khẩu, đã giảm 8%. Cũng vậy, xuất khẩu cà phê, chiếm 3% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 10,2% về khối lượng nhưng giảm 19% về giá trị, và xuất khẩu than, chiếm 2,3%, giảm 4,5% về giá trị bất chấp mức tăng 29,9% về khối lượng (13).
Khủng hoảng kinh tế gây ra một cuộc tranh cãi mới về định hướng chủ đạo trong các chính sách kinh tế của Việt Nam. Đối với phe bảo thủ, khủng hoảng hiện tại là bằng chứng rõ ràng cho thấy vai trò giám sát và kiểm soát của Nhà nước có tính quyết định đối với sự vận hành của nền kinh tế. Phe bảo thủ cũng ca ngợi tính ưu việt của hệ thống độc đảng trong việc vượt qua khủng hoảng. Họ lập luận rằng độc đảng giúp huy động tối đa nguồn lực và tạo sự đồng thuận vào thời điểm những điều này là cần thiết nhất mà lại thường khó đạt được nhất. Các quan điểm như vậy được bộc lộ chẳng hạn trong những phát biểu của ông Tô Huy Rứa, Trưởng ban Tuyên giáo của Đảng, tại hội nghị lý luận lần thứ năm giữa hai đảng cộng sản Trung-Việt, tháng 12/2009. Nhưng nhà tuyên truyền hàng đầu của Đảng, người đã được bầu vào Bộ Chính trị tại phiên họp toàn thể lần thứ 9 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng hồi tháng 1/2009, không phải là nhân vật đại diện cho các quan điểm của riêng phe bảo thủ. Lặp lại lời của phe cấp tiến, ông Rứa công nhận rằng khủng hoảng đem lại một cơ hội tái cấu trúc nền kinh tế và ông ta đoán chắc rằng việc tái cấu trúc phải nhằm hướng tới một mô hình tăng trưởng mới dựa vào “lợi thế cạnh tranh năng động” và đưa vào khái niệm “phát triển bền vững”. Tư duy mới này về phát triển là nhằm giảng hòa giữa ba mục tiêu tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội, và thân thiện với môi trường (14).
Bề ngoài, để tránh các vấn đề gây nhiều tranh cãi, diễn văn của ông Rứa không nhắc gì tới vai trò của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), vốn là điểm mấu chốt trong cuộc tranh cãi giữa phe bảo thủ và phe cấp tiến. Phe bảo thủ muốn giữ vai trò chủ đạo của khu vực nhà nước trong nền kinh tế. Họ chủ trương rằng, nền kinh tế quốc dân phải dựa vào các DNNN như là trụ cột. DNNN nào lớn nhất thì sẽ đóng vai trò như “quả đấm thép” của quốc gia – cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường quốc tế và là một công cụ quản lý hùng mạnh, cả trong kinh tế lẫn trong chính trị. Không như các đơn vị tư nhân, DNNN phải tuân lệnh Đảng và Nhà nước, và phải đáp ứng những nhiệm vụ chính trị do Đảng và Nhà nước đặt ra. Đổi lại, các DNNN có được sự ưu đãi về chính sách, tín dụng, đất đai và các nguồn lực khác mà Nhà nước sở hữu. Sự nhập nhằng giữa Nhà nước và các công ty riêng của nó thể hiện trong việc các vị quan chức trong tập đoàn (conglomerate) Nhà nước lớn nhất đều là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng – cơ quan mà, xét về địa vị, vốn là cơ quan chính sách có quyền lực cao nhất nước giữa hai kỳ đại hội Đảng (15).
Tuy vậy, phe cấp tiến lại coi các tập đoàn nhà nước như “những con khủng long trong một nền kinh tế vị thành niên” (16). Họ chỉ ra rằng các doanh nghiệp này đã thất bại trong việc trở thành những quả đấm thép của quốc gia – không vươn lên mạnh mẽ trong cạnh tranh quốc tế mà cũng chẳng hoàn thành nhiệm vụ chính trị. Thay vì thế, chúng ra sức tận dụng và duy trì những đặc quyền đặc lợi và địa vị độc quyền được Nhà nước thừa nhận – vì lợi nhuận của riêng chúng. Hậu quả là, chúng trở thành những nhà sản xuất kém hiệu quả và tham nhũng (17). Tái cấu trúc các DNNN, do đó, là vấn đề trung tâm trong chương trình nghị sự của phe hiện đại. Cụ thể, phe hiện đại đòi thay đổi cấu trúc sở hữu của SOE (State Owned Entreprise) theo hướng tư nhân hóa nhiều hơn. Đánh giá tình hình hiện nay, phe cấp tiến lập luận rằng mô hình tăng trưởng của Việt Nam đã đạt tới đỉnh và tái cấu trúc là chìa khóa để vượt qua khủng hoảng cũng như tránh cái bẫy thu nhập trung bình. Nhiều người theo phe cấp tiến nhất trí rằng đây phải là một cuộc tái cấu trúc toàn diện bao gồm cả biến đổi cơ cấu sở hữu các DNNN, lẫn cải cách các định chế và điều lệ kinh tế, tái cấu trúc thị trường và doanh nghiệp nội địa (18).
Chính phủ cố gắng kết hợp quan điểm của cả hai phe hiện đại và bảo thủ. Tuy nhiên, họ tập trung chủ yếu vào giải quyết các vấn đề ngắn hạn có thể đe dọa quyền lực của mình. Khi khủng hoảng toàn cầu nổi lên, chính phủ nhanh chóng sang số từ chống lạm phát qua chống suy thoái (tháng 12/2008). Phản ứng chủ đạo của họ là thực hiện một gói kích cầu với chi phí lên tới 8 tỷ USD. Khi nền kinh tế bộc lộ những dấu hiệu hồi phục và bóng ma lạm phát có nguy cơ quay lại, chính phủ phá giá tiền đồng xấp xỉ 5% so với đô-la Mỹ, làm tăng lãi suất chuẩn của ngân hàng trung ương lên 8%, và chấm dứt chương trình kích cầu sớm hơn dự định (cuối tháng 11, đầu tháng 12/2009) (19). Với tỷ lệ tăng trưởng 5,32%, Việt Nam nổi bật, cùng với Trung Quốc, Indonesia và Campuchia, như một trong số rất ít nền kinh tế ở Đông Á tăng trưởng hơn 2% trong năm 2009.
Tuy nhiên, Việt Nam đã phải trả một cái giá cao cho thành công ngắn hạn của mình. Việt Nam là một trong số ít nước vừa có thâm hụt ngân sách vừa bị thâm hụt cán cân vãng lai (20). Nhất là, chính phủ lại chịu thâm hụt ngoại thương khổng lồ suốt hơn một thập niên. Cùng lúc đó, như chính Thống đốc Ngân hàng Trung ương Việt Nam thừa nhận, nợ nước ngoài của Việt Nam đã tăng mạnh vào năm 2009 so với các năm trước đó. Quỹ Tiền tệ Quốc tế đánh giá nợ nước ngoài của Việt Nam ở mức một phần ba tổng sản phẩm quốc nội (GDP), còn Ủy ban Ngân sách và Tài chính của Quốc hội cho rằng tổng nợ của chính phủ chiếm tới 44,6% GDP (21). Sự hội tụ tất cả các yếu tố này gây ra một tình thế lưỡng nan cho chính phủ. Thâm hụt cả ba mặt gây áp lực khổng lồ khiến đồng tiền quốc gia (VND) suy yếu. Sự mất giá thê thảm của VND có thể làm tăng xuất khẩu và giảm nhập siêu nhưng cũng có thể gây những tác động tâm lý tiêu cực và làm các khoản nợ nước ngoài lớn thêm. Nhưng duy trì giá trị danh nghĩa cao của tiền đồng quá lâu có thể vắt kiệt dự trữ ngoại tệ vốn đã eo hẹp. Các nhà phân tích ước tính lượng đô-la bán ra trong năm 2009 nhằm ổn định VND đã thu hẹp dự trữ ngoại tệ của Việt Nam xuống còn 16,5 tỷ USD, chỉ đủ cho không đầy ba tháng nhập khẩu. Bên ngoài khu vực, các láng giềng của Việt Nam như Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan thì đã tăng đáng kể dự trữ của họ (22).
Tỷ lệ tăng trưởng tương đối cao của Việt Nam làm bộc lộ những điểm kém hiệu quả đáng buồn nản. Năm 2009, hệ số sinh lời từ gia tăng vốn đầu tư (ICOR), chỉ số đo độ kém hiệu quả của chi tiêu đầu tư, tăng vọt lên mức 8,05 so với mức 6,92 của năm 2008 và 4,76 của 2007 (23). Những con số này cao hơn hẳn so với những nước tăng trưởng nhanh khác trong giai đoạn đầu tư trước khi tới đỉnh của họ. Ví dụ, ICOR của Nhật Bản vào thập niên 1960 và của Hàn Quốc vào thập niên 1980 chỉ hơn 3. Gần đây hơn là Trung Quốc, ICOR của họ tăng từ 3 trong những năm 90 của thế kỷ trước lên gần 4, mức trung bình của giai đoạn từ 2001 tới 2008, và được dự đoán là khoảng 6,7 vào năm 2009 (24). Chỉ số ICOR quá cao của Việt Nam cho thấy mức tăng trưởng kinh tế của quốc gia được dẫn dắt chủ yếu nhờ mở rộng vốn đầu tư, chứ không phải do tăng năng suất. Nếu Việt Nam tiếp tục đi con đường hiện nay, không chắc nền kinh tế sẽ cất cánh được như dự án của Goldman Sachs đã nói, và suy sụp là rất có thể.
Alexander L. Vuving
(Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á-Thái Bình Dương)
Đan Thanh chuyển ngữ
Nguồn: Viet-Studies
Chú thích:
Tác giả cảm ơn Ben Kerkvliet, Steven Kim, Daljit Singh, và Carlyle Thayer vì những nhận xét có giá trị của họ, và cảm ơn sự giúp đỡ hiệu quả của Kylee Kim. Các quan điểm thể hiện trong bài này là của tác giả.
(1) Lê Khả Phiêu, “Đảng Cộng sản Việt Nam tám mươi xuân”, Nhân Dân, 03/02/2010.
(2) Võ Văn Kiệt, “Thư gửi Bộ Chính trị “, 09/08/1995, Diễn Đàn, số 48 (tháng 01/1996): 16-25. Về sự kiên định của ông Phiêu theo đường lối “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, xin xem bài viết của ông, đã dẫn.
(3) Trong các bài viết trước đây, tôi gọi hai đường lối chủ lực của Việt Nam là “chống đế quốc” và “hội nhập”. Những tên gọi này muốn nói đến định hướng chính sách đối ngoại trung tâm của hai đường lối lớn đó. Tôi đặt tên như vậy bởi lẽ các bài viết trước đây của tôi chủ yếu nói về chính sách đối ngoại của Việt Nam.
(4) Trục lợi là một hành vi tìm kiếm lợi ích đặc biệt, tạo ra lợi ích chủ yếu nhờ đặc quyền đặc lợi và các luật lệ có ảnh hưởng do chính phủ ban hành.
(5) Tham khảo một thảo luận khác về sự giao thoa giữa lợi ích và quyền lực ở nước Việt Nam cộng sản: Bill Hayton, “Vietnam’s New Money”, Foreign Policy, 21/01/2010.
(6) Thông tin nền, xem “As Clamor against Suong Verdict Grows, Officials Vow to Dig for Truth”, VietNamNet Bridge, 27/11/2009.
; “NA Committee May Intervene in Labour Hero Case, Security Minister Orders Report”, VietNamNet Bridge, 24/11/2009.
; Huy Đức, “Sau bà Ba Sương là các nông trường viên”, Blog Osin, 01/12/2009.
(7) Dinh Thang, “Pacific Airlines thành Jetstar Pacific: Nhiều lận đận”, Tien Phong, 11/01/2010.
(8) Geoff Easdown, “Power Struggle Strands Execs”, Herald Sun (Australia), 11/01/2010.
(9) Thông tin cá nhân, 16/01/2010.
(10) Goldman Sachs Global Economic Group, BRICs and Beyond (Goldman Sachs, 2007), p. 131. BRIC là chữ viết tắt do Goldman Sachs đưa ra để chỉ một nhóm các nền kinh tế lớn đang nổi lên, gồm Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc.
(11) Ibid., pp. 139, 140.
(12) Alexander L. Vuving, “Vietnam: Arriving in the World — and at a Crossroads”, Southeast Asian Affairs 2008, biên tập Daljit Singh và Tin Maung Maung Than (Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 2008), pp. 375-77.
(13) Tổng cục Thống kê Việt Nam, “Tình hình kinh tế xã hội năm 2009”, 12/2009.
(14) Tô Huy Rứa, “Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam”, Nhân Dân, 14/12/2009.
(15) Tham khảo một thảo luận về vai trò của DNNN, xem Vũ Quang Việt, “Vietnam Economic Crisis: Policy Follies and the Role of State-Owned Conglomerates”, in Southeast Asian Affairs 2009, biên tập Daljit Singh (Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 2009), pp. 389-417.
(16) Phan Thế Hải, “Đàn khủng long của nền kinh tế vị thành niên”, TuanVietNam, 12/11/2009.
(17) Phạm Minh Trí, “Muốn chủ đạo phải tự thân”, TuanVietNam, 9/11/2009 ; Huy Đức, “Vẫn chưa hết những trở ngại cũ”. Phỏng vấn cựu Bộ trưởng Thương mại Lê Văn Triết, Sài Gòn Tiếp Thị, 25/05/2009.
(18) Hoàng Phương, “Không tái cấu trúc quản lý, mọi nỗ lực khác là vô nghĩa”, TuanVietNam, 19/05/2009.
(19) Vu Trong Khanh và Patrick Barta, “Hanoi Tightens Reins on Credit”, Wall Street
Journal
, 3/12/2009, p. A13.
(20) James Hookway và Alex Frangos, “Vietnam Devalues Its Currency”, Wall Street
Journal
, 26/11/2009, p. 23.
(21) “Vietnam Acknowledges Growing Foreign Debt”, Deutsche Presse-Agentur, 17/11/2009.
(22) Hookway và Frangos, “Vietnam Devalues”.